1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng nông thôn trong tiểu thuyết sống nhờ của mạnh phú tư

83 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 687,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu trong giai đoạn đầu 1930- 1935, văn học lãng mạn với thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết đều đạt được những thành tựu quan trọng thì giai đoạn 1936- 1939 văn học hiện thực cả truyện ngắn,

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

TRẦN THỊ THANH HOÀI

HÌNH TƯỢNG NÔNG THÔN TRONG TIỂU

THUYẾT SỐNG NHỜ CỦA MẠNH PHÚ TƯ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo - TS Bùi Thanh Truyền đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn quý thầy, cô giáo khoa Ngữ văn trường Đại học

Sư phạm Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, ủng hộ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Xin cảm ơn sự ủng hộ, động viên của gia đình và bạn bè tôi để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2012

Người thực hiện

Trần Thị Thanh Hoài

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo - TS Bùi Thanh Truyền

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2012

Trần Thị Thanh Hoài

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong dòng chảy của nền văn học hiện đại Việt Nam, giai đoạn 1930-

1945 là một đỉnh cao với rất nhiều tác giả, tác phẩm sáng giá Nếu xem tiến trình văn học là một chuỗi dài với những hướng đi khác nhau thì giai đoạn này như một mắt xích quan trọng mà ai muốn đi vào tìm hiểu những bước đi của nó hầu hết đều phải dừng chân ở chặng này Đây là thời kỳ tình hình chính trị, xã hội có những chuyển biến sôi động, đời sống nhân dân bị đẩy vào vòng xoáy lầm than, cơ cực Bắt nhịp với những nỗi thống khổ của nhân dân cũng như tình hình chính trị của đất nước trào lưu văn học hiện thực đã ra đời Các nhà văn đã dùng ngòi bút lên tiếng vạch mặt thực trạng mất nhân tính của chế độ thực dân phong kiến đương thời

Nếu trong giai đoạn đầu 1930- 1935, văn học lãng mạn với thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết đều đạt được những thành tựu quan trọng thì giai đoạn 1936-

1939 văn học hiện thực cả truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự cũng có những bứt phá ngoạn mục với những gương mặt nổi trội như: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Lan Khai,…Tiếp sức cho các nhà văn này những cây bút trẻ, họ tiếp tục đem lại những cống hiến có giá trị tiêu biểu như: Tô Hoài, Nam Cao, Trần Tiêu, Bùi Hiển,…Trong dàn “đồng ca” rầm rộ đó, Mạnh Phú Tư cũng cất cao giọng nói của mình để góp phần tạo sự phong phú và đa dạng cho dòng văn học này

Một trong những tác phẩm tiêu biểu và có giá trị của Mạnh Phú Tư là

Sống nhờ Cuốn sách ra đời trong giai đoạn xã hội đang ngột ngạt khó thở,

đang phải quằn quại lột xác để đổi thay Nhân dân ta đang nháo nhác trong

mớ bùn nhùn và chà đạp lên nhau để tìm cho mình sự sống Cùng với các nhà văn cùng thời, Mạnh Phú Tư đã dám nhìn thẳng vào sự thật, dám lên tiếng góp tiếng nói của mình trước những cảnh đau lòng ấy Thông qua tiểu thuyết

Trang 5

Sống nhờ, Mạnh Phú Tư đã dẫn dắt người đọc đi vào hiện thực cuộc sống

Một nơi rất gần gũi thân quen với người đọc đó là mảnh đất nông thôn dân dã, bình dị, một bức tranh điển hình của nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám

Khám phá Sống nhờ, chúng ta sẽ thấy được bản chất của xã hội thực dân

thời bấy giờ và số phận của những con người mà Mạnh Phú Tư bó buộc trong một gia đình để phản ánh cả xã hội ấy Ở đó, những tập tục lạc hậu, những cái xấu xa, tàn bạo được lưu giữ hàng nghìn năm đã trở thành sợi dây vô hình trói buộc lấy cuộc sống của con người và đẩy họ vào những số phận éo le cay đắng, họ bị đau khổ về tinh thần và quằn quại về thể xác Nhất là những người phụ nữ và trẻ em

Sống nhờ hiện lên là một bức tranh nông thôn sinh động với tất cả

những vấn đề phức tạp của cuộc sống Điều đó đã tạo sức hấp dẫn cho người đọc, giới nghiên cứu Cách xây dựng truyện mới mẻ cùng với ý nghĩa lớn lao của tác phẩm cũng đã thu hút chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài này Đây là nguồn tư liệu quý giá giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về cuộc đời cũng như sáng tác của Mạnh Phú Tư Đặc biệt, hiểu sâu hơn về hình tượng nông thôn Việt Nam trước cách mạng Ngoài ra, đây còn là tư liệu quan trọng cho chúng tôi trong học tập, trong cuộc sống Đó là những lý do giúp chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài này

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu về Mạnh Phú Tư nói chung

Mạnh Phú Tư xuất hiện trên văn đàn như một nguồn gió lạ mang luồng sinh khí mới cho văn học hiện thực phê phán Việt Nam Những tác phẩm của ông đã cho người đọc thấy được một phong cách rất riêng và mới mẻ, ông như chiếm giữ một mảnh vườn riêng trong sự nghiệp sáng tác của mình Không chỉ thế, cuộc đời của Mạnh Phú Tư cũng có những điểm đặc biệt cuốn

Trang 6

hút biết bao nhà nghiên cứu vào cuộc tìm tòi, khám phá Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về ông và để lại những tư liệu rất quý giá Tiêu biểu với công trình của:

Nguyễn Đăng Mạnh – Bùi Duy Tân – Nguyễn Như Ý (2004), trong cuốn

Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường, Nxb Đại

học sư phạm Hà Nội đã có cái nhìn xuyên thấu về cuộc đời bất hạnh của Mạnh Phú Tư Đồng thời các tác giả cũng thấy được trong quá trình sáng tác nhà văn này đã chiếm cho mình “một mảnh vườn và một phương pháp riêng”

để từ đó đem đến cho người đọc một bức tranh với tất cả những trần trụi của cuộc sống và những nỗi niềm trăn trở của ông “so với các cây bút hiện thực nổi tiếng khác ông có một mảnh vườn và một phương pháp riêng Đóng góp của ông chủ yếu ở thể loại tiểu thuyết tự truyện và tiểu thuyết tâm lý xã hội”,

“Mạnh Phú Tư phản ánh sự thật ấy trên tinh thần phê phán sâu sắc lòng nhân đạo nồng nàn Ở đó biết bao yêu thương trăn trở của ông dồn tụ vào số phận của người phụ nữ và trẻ em” [tr.262]

Vũ Ngọc Phan (2000), với cuốn Những năm tháng ấy, Nxb Hội nhà văn đã

cung cấp những thông tin rất giá trị về cuộc sống đời thường của Mạnh Phú

Tư Thông qua công trình này, Mạnh Phú Tư được người đọc biết đến là một con người giản dị, thẳng thắn Điều đó thể hiện rõ cả trong lời nói, hành động của ông Những ưu, nhược điểm trong con người Mạnh Phú Tư đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sáng tác “Những ưu khuyết ở con người Mạnh Phú Tư thể hiện cũng rất rõ ở những tác phẩm của anh Ở ngay những tác phẩm hay nhất của anh, người ta vẫn thấy sót lại những cái cẩu thả, đôi khi nông cạn”[10;tr.402] Từ đây, Vũ Ngọc Phan cho người đọc thấy rõ hơn về nhà văn Mạnh Phú Tư, ông không chỉ thành thật trong cuộc sống đời thường mà còn thành thật cả trong sáng tác nữa

Trang 7

Nhà xuất bản Thanh Niên với cuốn Mạnh Phú Tư tuyển tập văn xuôi, năm

2010 đã giới thiệu cho bạn đọc những tác phẩm của Mạnh Phú Tư, đồng thời bày tỏ quan niệm nghệ thuật trong xây dựng truyện của ông Không cầu kì, không trau chuốt, tô vẽ nhiều như các nhà văn khác nhưng Mạnh Phú Tư đã

mở ra cho người đọc thấy được những cảnh đời éo le, bất hạnh của con người Trong xã hội thực dân phong kiến, cuộc sống là cả một thế giới phức tạp không đơn giản chút nào “Mạnh Phú Tư không đi tìm những đề tài, những cốt truyện, khốc liệt, gay cấn mà ông lấy ngay những sự việc (Nhạt tình) những cuộc đời bình thường của mỗi con người (Làm lẽ, sống nhờ), trong xã hội thậm chí gặp ngay trong chính gia đình của mình để đặt chúng dưới “lăng kính nghệ thuật” cho ta được “chiêm ngưỡng” và nhận ra rằng cuộc sống là cả

một thế giới phức tạp không đơn giản như ta tưởng” [19;tr.4]

Vũ Ngọc Phan (2005), với cuốn Nhà văn hiện đại, Nxb Văn học đã đi sâu

tìm hiểu về những sáng tác của Mạnh Phú Tư và có những nhận xét rất tinh tế trong cách hành văn của ông “Những tiểu thuyết của ông đều có tính cách Việt Nam đặc biệt Trong ấy, bao giờ ông cũng lấy gia đình làm đề mục Ông không hề xướng lên những thuyết cải tạo gia đình, ông không hề đem những

hủ tục trong gia đình ra bài bác hay chế giễu; ông cũng không hề đội lốt một nhân vật nào để đứng vào địa vị chủ quan mà phê phán; người ta nhận thấy ông phân tích rất bình tĩnh gia đình Việt Nam, mà những gia đình ấy là những gia đình cần cù ở thôn quê hay những gia đình trung lưu ở thành thị”[11;tr.229] Cái tài của Mạnh Phú Tư là giàu tưởng tượng, biết cách dàn xếp, điều khiển các sự việc trong truyện “Đọc tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư, người ta nhận thấy ông là một nhà tiểu thuyết giàu tưởng tượng Trong các truyện của ông, việc rất nhiều; ông dàn xếp và điều khiển có thứ tự”[11;tr.242]

Trang 8

Ngoài những công trình trên còn nhiều công trình khác cũng đi vào nghiên cứu cuộc đời Mạnh Phú Tư và những sáng tác của ông Do những yếu

tố khách quan và chủ quan chúng tôi chỉ liệt kê một số công trình có phục vụ cho quá trình nghiên cứu Đây là cơ sở vững chắc giúp chúng tôi mạnh dạn đi sâu tìm hiểu đề tài của mình

2.2 Những ý kiến về tiểu thuyết Sống nhờ

Trước cách mạng tháng Tám Mạnh Phú Tư cho ra đời hàng loạt cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn và hồi ký đã làm xôn xao dư luận, nhưng có lẽ đến lúc

Sống nhờ ra đời mới thực sự gây tiếng vang lớn và thu hút sự chú ý của giới

độc giả, giới nghiên cứu Có nhiều ý kiến, nhận xét đưa ra giúp người đọc nhìn nhận được độ chín muồi trong sáng tác của ông

Vũ Tuấn Anh – Bích Thu(chủ biên), với cuốn Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, Nxb Văn học, năm 2001 Sau khi tóm tắt tiểu thuyết Sống nhờ, các tác giả đã đưa ra những ý kiến đánh như sau: “Tiểu thuyết có ý nghĩa xã hội

trong việc tố cáo chế độ phong kiến đã chà đạp lên quyền sống của con người Mạnh Phú Tư đã tỏ ra am hiểu phong tục tập quán của người dân thôn quê Ông có những quan sát tỉ mỉ, những nhận xét tinh tế cùng một giọng văn

thành thực và xúc động”, “Nghệ thuật trong Sống nhờ đã đến độ chín khi thể hiện thế giới nội tâm phong phú và phức tạp của con người Sống nhờ là tiểu

thuyết nổi trội hơn cả trong số những sáng tác của Mạnh Phú Tư Với sống nhờ, nhà văn đã tạo được vị trí nhất định trong dòng văn học hiện thực Việt Nam”[1; tr.893]

Nguyễn Đăng Mạnh – Bùi Duy Tân – Nguyễn Như Ý (2004), trong cuốn

Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội lại cho rằng, tiểu thuyết Sống nhờ có liên quan chặt chẽ đến tuổi thơ của Mạnh Phú Tư “Sống nhờ là tác phẩm tiêu biểu nhất của

Mạnh Phú Tư Nó có liên quan chặt chẽ với cuộc đời tác giả Tuổi thơ của

Trang 9

ông được tái hiện rõ nét trong đó, hệt như một cuốn “tự truyện”” [9;tr.263] Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn thấy được ý nghĩa của cuốn tiểu thuyết Nó không chỉ tái hiện về tuổi thơ của Mạnh Phú Tư mà còn thông qua đó để phản

ánh về những số phận con người bị chà đạp “Sống nhờ là một bản cáo trạng

đẫm nước mắt về quyền sống bị chà đạp của con người, nhất là phụ nữ và trẻ

em Người phụ nữ (như mẹ Dần) bị thắt chặt trong vòng tam tòng tứ đức” [9;tr.263]

Ý kiến phát biểu củaVũ Ngọc Phan trong cuốn Những năm tháng ấy, Nxb

Hội nhà văn, năm 2000 đã mở đường cho những công trình nghiên cứu tác

phẩm Sống nhờ “ở con người anh, như tôi đã nói trên, cái chất nông thôn còn

nhiều hơn thành thị, nên anh chưa nhìn rõ được người thị dân Riêng tập sống nhờ của anh cung cấp cho chúng ta những tư liệu quý giá về đời sống ở nông

thôn Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám” [10;tr.403]

Hay trong cuốn Nhà văn hiện đại, Nxb Văn học, năm 2005 với ý kiến của

mình Vũ Ngọc Phan cũng đã chỉ hướng đi cho những ai muốn đi vào khám

phá tác phẩm Sống nhờ của mạnh Phú Tư “Cái hay của tập sống nhờ ở những

điều quan sát tỷ mỷ, những sự xét nhận tinh tế và cả giọng thành thật nữa”[11;tr.236]

Xung quanh tiểu thuyết Sống nhờ còn có nhiều ý kiến nhận xét, đánh giá

của các nhà nghiên cứu nhưng chúng tôi chỉ đưa ra một số ý kiến làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu Tuy chỉ là những lời đánh giá, nhận xét về tác phẩm, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể nhưng trên đây cũng là nguồn tư liệu quý giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu đề tài của mình Nghiên cứu

đề tài “Hình tượng nông thôn trong tiểu thuyết Sống nhờ của Mạnh Phú Tư”

chúng tôi muốn hiểu sâu hơn cuộc sống ở nông thôn trước cách mạng và hiểu hơn về nhà văn Mạnh Phú Tư Chúng tôi cũng hy vọng đem lại một phần nào

đó những tư liệu về nhà văn này cho mọi người được biết

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng tìm hiểu trong đề tài này là Hình tượng nông thôn trong tiểu thuyết “Sống nhờ” của Mạnh Phú Tư

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Ngoài việc tiến hành khảo sát, tìm hiểu tiểu thuyết Sống nhờ, trong quá

trình nghiên cứu, chúng tôi còn liên hệ, so sánh, đối chiếu với những tác phẩm của những nhà văn cùng thời như Ngô Tất Tố, Nam Cao,… Nhưng các vấn đề

có liên quan được đề cập, khai thác cũng chỉ để phục vụ cho mục đích chính của đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

4.1 Phương pháp đọc, ghi chép tài liệu: Đây là thao tác rất cần thiết để

lấy thông tin và tài liệu tham khảo cho quá trình nghiên cứu đề tài

4.2 Phương pháp khảo sát, thống kê: Để nhận diện những phương

diện, tần suất cơ bản của hình tượng nông thôn được tác giả xây dựng trong tác phẩm

4.3 Phương pháp so sánh: Để thấy phong cách riêng của nhà văn và

những đóng góp quan trọng của ông trong văn xuôi viết về đề tài nông thôn trước cách mạng tháng Tám

4.4 Phương pháp phân tích – tổng hợp: Sau khi đã xác định được

những luận điểm chính, chúng tôi tiến hành phân tích và tổng hợp nhằm tạo tính thuyết phục trong lập luận của mình

Trang 12

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

MẠNH PHÚ TƯ – NHÀ VĂN TIÊU BIỂU CỦA VĂN XUÔI HIỆN THỰC PHÊ PHÁN GIAI ĐOẠN 1930-1945

1.1 Những nét chung về văn học hiện thực phê phán 1930-1945

Có thể nói rằng văn học được bén rễ từ bản chất cuộc sống của con người

Đó là mảnh đất màu mỡ để văn học hấp thụ và phát triển Ngược lại, văn học đảm nhận được sứ mệnh của mình khi nó biết thâm nhập và phản ánh thực tiễn Mác đã từng nói rằng: “Vũ khí phê phán dĩ nhiên không thể thay thế sự phê phán bằng vũ khí, và phải có lực lượng vật chất mới đánh đổ lực lượng vật chất, nhưng ngay cả lí luận nữa cũng trở thành lực lượng vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng” Văn nghệ sẽ góp phần sáng tạo ra thế giới khách quan bằng cách tác động vào hoạt động thực tiễn của quần chúng Văn học hiện thực phê phán ra đời dựa trên những biến động, thăng trầm của cuộc sống giai đoạn 1930- 1945 Bằng cách tác động vào thực tiễn đời sống, nó đã phần nào thực hiện được nhiệm vụ của mình

Đất nước ta trong giai đoạn 1930-1945 diễn ra biết bao sóng gió, thăng trầm Các thế lực thù địch với những âm mưu thủ đoạn để cướp nước ta, nhân dân sống trong cảnh lầm than, cơ cực, xã hội nảy sinh những mâu thuẫn, ung nhọt ngày càng trầm trọng Đứng trước những vấn đề cấp bách đó, văn đàn Việt đã xuất hiện một dòng văn học hiện thực phê phán để đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân

Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, đế quốc pháp đã hai lần khai thác thuộc địa, đẩy nhân dân ta lún sâu hơn nữa vào cảnh bần cùng Chúng tăng cường bóc lột sức người, sức của để bù đắp những thiệt hại do cuộc khủng hoảng trầm trọng đã đẩy lùi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Song song với chính sách

Trang 13

bóc lột kinh tế nhằm bần cùng hóa nhân dân chúng đã tiến hành chính sách khủng bố trắng để đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta

Dựa vào đặc điểm tình hình của đất nước, văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945 được chia thành ba thời kỳ nhỏ: 1930-1935, 1936-1939, 1940-1945

Trong thời kỳ đầu 1930 – 1935, ở trong nước mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc Đứng trước tình hình đó phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống khuynh hướng lãng mạn tiêu cực xuất hiện và chiếm ưu thế trên đàn văn học công khai Tuy nhiên, văn học hiện thực phê phán vẫn khẳng định được vị trí của mình với sự xuất hiện của các nhà văn như Nguyễn Công

Hoan với tập truyện ngắn Ngựa người người ngựa (1935), Kép tư bền (1935), tiểu thuyết Lá ngọc cành vàng (1935), Ông chủ (1935); Ngô Tất Tố với Dao cầu thuyền tán (1935) Mở đầu cho thể phóng sự trong văn học hiện thực phê phán như: Tam Lang với Tôi kéo xe (1932); Vũ Trọng Phụng với Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy tây (1934); Dân biểu và dân biểu (1935),…

Bước sang thời kỳ 1936-1939, thời kỳ mặt trận dân chủ với những bước biến chuyển trong phong trào cách mạng Sự hoạt động công khai và nửa công khai của Đảng cộng sản, trên thế giới cũng có nhiều biến chuyển có lợi cho cách mạng Với bước ngoặt quan trọng đó, văn học hiện thực phê phán đã phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết Sự ảnh hưởng những tác phẩm của nền văn

học hiện thực xã hội chủ nghĩa Liên Xô như Người mẹ của Gorki, Chiến bại

của Phađêep,…cũng đã tác động mạnh đến quá trình sáng tác của các nhà văn tiến bộ của nước ta Trong giai đoạn này, lực lượng sáng tác ngày càng xuất hiện đông đảo hơn Ngoài những nhà văn đã xuất hiện từ trước như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Tú Mỡ, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang,…còn xuất hiện những cây bút khác như: Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp, Bùi Huy Phồn, Mạnh Phú Tư,…các nhà văn cách mạng đã sử dụng chủ nghĩa hiện

Trang 14

thực phê phán như một vũ khí trên đàn văn học công khai Đó là thứ vũ khí nhạy bén có thể thọc sâu vào những tội ác, nhơ nhuốc của thế lực thù địch trong và ngoài nước Giai đoạn này, Tiểu thuyết hiện thực đã có những tác

phẩm lớn của các nhà văn như: Ngô Tất Tố với Tắt đèn (1937), Lều chõng (1939),… Nguyễn Công Hoan Bước đường cùng (1938); Vũ Trọng Phụng với Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ (1936); Nguyên Hồng với Bỉ vỏ (1938),… Những

tác phẩm của các nhà văn này đã thể hiện sự bứt phá ngoạn mục trong việc phê phán hiện thực, đạt đến trình độ điển hình hóa rất cao, xây dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình theo giới thuyết về chủ nghĩa hiện thực của Ăngghen

Ở giai đoạn này, những cây bút hiện thực có điều kiện tung hoành thoải mái hơn trước và nhiều nhà văn tài năng có điều kiện để thể hiện hết mình như những bông hoa đang gặp mùa nở rộ Tác phẩm của các nhà văn như tiến sát với bản chất cuộc sống, vạch trần những cặn bã, nanh vuốt đang hoành hành trên quê hương, đất nước Đó là những thủ đoạn áp bức bóc lột, những hành động thương luân bại lí của bọn cường hào, địa chủ, tư sản,… Đồng thời, đó cũng là lòng nhân đạo hướng về cuộc đời cùng khổ của nhân dân lao động

Chiến tranh thế giới thứ hai 9/1939 bùng nổ và lan rộng ở Châu Âu, Châu

Á đã tác động mạnh mẽ đến sự chuyển biến trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại Đất nước ta dưới ách thống trị của đế quốc Nhật, Pháp, Đảng cộng sản Đông Dương rút lui vào hoạt động bí mật, chúng kiểm duyệt gắt gao các hoạt động yêu nước của ta Chúng vây bắt những người yêu nước, sách báo tiến bộ bị đóng cửa, tịch thu

Văn học hiện thực phê phán- sức mạnh chiến đấu của cách mạng đã bị bóp nghẹt không đủ sức để hoạt động công khai mà phải len lỏi vào nhiều dòng văn học suy đồi, bế tắc để tồn tại, phát triển Những cây bút trụ cột thời kỳ

Trang 15

1936 -1939 đã có sự chùng xuống, có một số không còn tiếp tục sáng tác, một

số ít có sáng tác nhưng đã rẽ theo hướng khác như Nguyễn Công Hoan với

Thanh Đạm, Danh tiết Đứng trước cơn trở dạ đầy đau đớn của lịch sử cùng

với Nguyên Hồng - một cây bút kiên trì của văn học hiện thực đã có sự nổi lên một loạt cây bút tiểu thuyết trẻ để tiếp sức đảm nhận nhiệm vụ của sứ

mạng đất nước, như Mạnh Phú Tư với Làm lẽ, Nhạt tình, Sống nhờ, Một thiếu niên, Tô Hoài với Quê người, Giăng thề, Xóm giếng ngày xưa, Dế mèn phiêu lưu ký, Bùi Hiển với Ma đậu, Nằm vạ, Nam Cao với Chuyện người hàng xóm, Đời thừa, …Tác phẩm của những cây bút này tuy không trực tiếp bóc trần

những mâu thuẫn giai cấp đối kháng trong xã hội và ca ngợi tinh thần đấu tranh của quần chúng nhưng cũng đã gìn giữ, duy trì được bản lĩnh của dòng văn học hiện thực phê phán, đã có cái nhìn xuyên thấu vào cuộc sống đời tư của con người, đi sâu bám rễ vào những số phận ngang trái bị chi phối bởi tình hình chính trị, xã hội của đất nước

Bên cạnh những thành tựu mà văn học hiện thực phê phán thời kỳ này đã đạt được vẫn còn mắc những nhược điểm trong quá trình phản ánh như: lẩn tránh mâu thuẫn cơ bản để đi vào những mâu thuẫn thứ yếu, những cảnh sinh hoạt gia đình, những phong tục tập quán địa phương Nhân vật trong truyện thường là nạn nhân của xã hội, ít sức sống, thiếu sức vùng dậy Tính chiến đấu của tác phẩm có phần giảm sút so với thời kỳ trước

Như vậy, trong thời gian mười lăm năm, văn học hiện thực phê phán đã có những đóng góp đáng kể Nó đã lên án và lập hồ sơ về nhiều mặt một chế độ

xã hội tàn nhẫn, bất công Để làm tròn nhiệm vụ của mình văn học giai đoạn này đã phát triển cao hơn những thể loại của giai đoạn trước như truyện ngắn, truyện dài, kịch và dùng thêm một số thể loại như Phóng sự, thơ, phê bình nhân vật Có thể nhận định rằng văn học hiện thực phê phán Việt Nam là một

Trang 16

hiện tượng không thuần nhất, trong quá trình phát triển đôi lúc nó bị pha trộn bởi những khuynh hướng lãng mạn và tự nhiên chủ nghĩa

Tuy nhiên văn học hiện thực phê phán Việt Nam được nhìn nhận là đã trưởng thành trong không khí đấu tranh mà Đảng của giai cấp công nhân đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo Văn học vừa kế thừa những truyền thống tốt đẹp của khuynh hướng văn học hiện thực trước nó, vừa khắc phục những nhược điểm còn tồn tại trong thế giới quan và phương pháp biểu hiện của các nhà văn quá khứ Chính vì thế, văn học ở thời kỳ này đã phát triển rầm rộ và đạt đến đỉnh cao

1.2 Mạnh Phú Tư – tuổi thơ bất hạnh và “những đứa con" khai sinh từ hiện thực lầm than

Mạnh Phú Tư xuất hiện trên văn đàn vào những chặng cuối của văn học hiện thực phê phán Việt Nam Ông đã đem đến một luồng sáng mới lạ soi chiếu một “mảnh vườn riêng” để rồi biết bao người đã có cái nhìn mới và muốn thả hồn trong “mảnh vườn” đó để trở về với cuộc sống bình dị, dân dã như cái bình dị mà Mạnh Phú Tư đã khắc họa trong từng tác phẩm của ông

Mạnh Phú Tư sinh ngày 9-11-1913 và mất ngày 24-2-1959 Tên thật là Phạm Văn Thứ, quê gốc của ông ở làng Kim Can, xã Thanh Lang, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Ông mất tại Hà Nội

Trở về với tuổi thơ của Mạnh Phú Tư là trở về với biết bao đắng cay và đau khổ Đó là một quãng đời rải đầy gai góc mà một bàn chân nhỏ nhắn, non nớt phải đi qua Nhắc đến tuổi thơ chắc ai cũng muốn được sống lại những ngày tháng ngọt ngào và những kỷ niệm đáng yêu của những ngày tháng đầu đời Nhưng đối với Mạnh Phú Tư, đó là những ngày tháng với những dữ kiện

đè nặng tâm khảm, một thời thơ ấu đầy bất hạnh và thương đau Ông mồ côi cha ngay từ trong bụng mẹ, năm sáu tuổi mẹ đi thêm bước nữa và vài năm sau thì bà lại qua đời Cuộc đời của Mạnh Phú Tư như được định đoạt ngay từ

Trang 17

trong bụng mẹ và rơi vào vòng xoáy ngay khi chập chững bước vào đời Suốt quãng đời niên thiếu, Mạnh Phú Tư phải “sống nhờ” từ người này sang người khác như quả bóng được chuyền đi chuyền lại giữa các tay chơi Ông lúc sống với bà nội, khi với bà ngoại hoặc các chú, các cậu Mặc dù sống trong vòng tay của những người máu mủ, ruột thịt nhưng Mạnh Phú Tư luôn bị ngược đãi, đối xử tàn tệ Con người thiếu vắng tình thương ấy đã sớm có sự phản kháng và khao khát một cuộc sống tự do, công bằng Ông đã chứng minh điều

đó trong quá trình sáng tác và hoạt động cách mạng của mình sau này Tuổi thơ với sự thiếu vắng tình phụ mẫu, thiếu vắng tình thương của những người xung quanh, lại phải sống vất vả, bị bóc lột sức lao động một cách tàn nhẫn đã hình thành và nuôi dưỡng trong tâm hồn con người ấy với bao khát khao cháy bỏng và cũng hình thành tính cách rất đặc biệt của Mạnh Phú Tư sau này Thực ra, khi cha ông chết đi đã để lại cho ông chừng ba mẫu ruộng nhưng lợi dụng ông còn nhỏ tuổi và mồ côi cha mẹ nên các chú, các cậu của ông đã bắt ông làm quá sức và hành hạ đủ điều Ông đã có ý thức phản kháng bằng cách

bỏ nhà bà nội sang nhà bà ngoại và ngược lại Ý chí đó càng ngày càng lớn dần trong ông Ngay cả trong tình yêu, hôn nhân của nhà văn sau này cũng đã thể hiện rất rõ điều đó Ông đã đề cao luyến ái tự do, luôn phê phán những tệ tục hôn nhân phong kiến Cuộc tình duyên của ông là một điển hình Ông yêu một cô hàng Xén ở Kim Can nhưng bố vợ tương lai lại chê ông hoang tàng, lông nhông vì một lần thấy ông hút thuốc “con lạc đà” và quyết định gả con cho một gã nhà giàu trong làng Nhưng Mạnh Phú Tư đã quyết lấy cô gái bằng được bằng cách rủ cô gái bỏ theo ông giữa lúc đêm khuya khi đám cưới

cô gái đang diễn ra Cuối cùng, đôi trai gái cũng được sống cùng nhau hạnh phúc Ý chí phản kháng đó chắc Mạnh Phú Tư đã được rèn ngay từ thuở thiếu thời

Trang 18

Khi lớn lên, Mạnh Phú Tư đi học ở Hải Phòng, sau đó lên Hà Nội theo học trường trung học Thăng Long nhưng việc học cũng dở dang giữa chừng Ông thất nghiệp, sống chật vật bằng nghề dạy học trong các gia đình rồi viết báo, viết văn

Kháng chiến nổ ra, Mạnh Phú Tư đã tham gia cách mạng tháng Tám ở quê hương, là phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến huyện Thanh Hà, từng là phân hội trưởng phân hội văn nghệ Việt Nam tỉnh Thanh Hóa

Sau cách mạng tháng Tám, ông trở thành một cán bộ văn nghệ cách mạng, tích cực sáng tác, phục vụ kháng chiến Năm 1954, ông về Hà Nội làm việc tại tuần báo văn nghệ cho đến khi qua đời Mạnh Phú Tư mất ở độ tuổi còn sung sức, hứa hẹn với những tài năng trong sáng tạo nghệ thuật

Quá trình sáng tác của Mạnh Phú Tư có thể khẳng định ông là người góp phần tạo nên diện mạo văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, một trong những cây bút xuất sắc trong dòng văn học hiện thực trước 1945 Hàng loạt những tác phẩm của Mạnh Phú Tư như được phiên bản từ bản chất hiện thực cuộc sống Ông lấy ngay những sự việc, những cuộc đời bình thường của mỗi con người, mỗi gia đình mà ai cũng đã từng gặp, từng biết trong cuộc sống, trong xã hội, thậm chí gặp ngay trong gia đình của mình để đưa chúng vào

“ống kính nghệ thuật” Chính vì thế những tiểu thuyết của ông đều có tính cách Việt Nam đặc biệt

Tiêu biểu những tác phẩm của Mạnh Phú Tư đã được xuất bản như:

Làm lẽ (tiểu thuyết - 1939), Gây dựng (tiểu thuyết - 1941), Một cảnh sống (tiểu thuyết - 1941), Nhạt tình (tiểu thuyết - 1942), Sống nhờ (tiểu thuyết - 1942), Một thiếu niên (tiểu thuyết - 1942), Người vợ già (tập truyện ngắn - 1942), Tôi làm cậu giáo (hồi ký - 1943), Lo toan (tiểu thuyết - 1943), Rãnh cày nổi dậy (truyện ngắn -1946), Nhẹ bước (truyện ngắn- 1946), Người chiến

sĩ cụt tay (truyện ngắn - 1946), Anh hồi sinh (truyện ngắn - 1946), Quyết

Trang 19

chiến (truyện ngắn - 1946) Mạnh Phú Tư là nhà viết tiểu thuyết xã hội được

độc giả hoan nghênh trước cách mạng tháng Tám Trong những tác phẩm của

ông Làm lẽ là tiểu thuyết tiêu biểu được giải thưởng của Tự lực văn đoàn năm

1939

Không giống những cây bút hiện thực nổi tiếng khác, Mạnh Phú Tư có một mảnh đất và một phương pháp riêng để “canh tác” như GS Hoàng Mai

nhận định trong lời tựa cuốn Nhạt Tình: “So với các cây bút hiện thực nổi

tiếng khác Mạnh Phú Tư có địa hạt riêng và nhất là một phương pháp riêng Nguyễn Công Hoan sở trường về những mảnh sống trào lộng Vũ Trọng Phụng thiên về những ung nhọt xã hội Ngô Tất Tố tìm những bóng tối của cuộc đời Nguyên Hồng quen với thế giới của bọn tội lỗi Chỗ đứng để nhìn của Mạnh Phú Tư gần với Nam Cao hơn- không phải Nam Cao của Chí Phèo

vì Chí Phèo dù sao cũng là một hiện tượng đặc biệt, Nam Cao của sống mòn những cuộc đời bình thường hàng ngày” Mạnh Phú Tư đi sâu vào số phận con người trong quan hệ gia đình bị chi phối bởi những phong tục, những thành kiến hủ bại Mạnh Phú Tư đã khắc họa đậm nét bức tranh về đời sống nông thôn với tất cả những gì là vốn dĩ của nó: gần gũi, giản dị, mộc mạc ông

đã phản ánh sự thật trên tinh thần phê phán sâu sắc lòng nhân đạo nồng nàn Những sáng tác của Mạnh Phú Tư có vai trò quan trọng và xứng đáng được ghi nhận bởi ông đã cung cấp cho chúng ta những tư liệu quý giá về đời sống

ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám

Như vậy, nhắc đến Mạnh Phú Tư là nhắc đến một thời thơ ấu đầy bất hạnh Nhắc đến một số phận với những éo le, thương cảm Những sự kiện trong cuộc đời và trong cuộc sống gần gũi đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sáng tác của ông Những “đứa con” ông khai sinh ra hầu hết đều mang dáng dấp rất chân thực từ cuộc sống gần gũi quanh ông

Trang 20

1.3 Sống nhờ - cuốn “tự truyện” được “tiểu thuyết hóa”

Sống nhờ là cuốn tiểu thuyết nổi trội hơn cả trong số những sáng tác

của Mạnh Phú Tư bởi nó là kết tinh sâu sắc về tài năng nghệ thuật của ông

Nhà nghiên cứu Bích Thu cho rằng “Sống nhờ đã đến độ chín khi thể hiện thế

giới nội tâm phong phú và phức tạp của con người” Ngay nhan đề truyện đã gợi cho người đọc với những điều bí ẩn thôi thúc mở cửa khám phá nội dung bên trong tác phẩm

Sống nhờ được in lần thứ nhất trên Phổ thông bán nguyệt san, là một

loại tự truyện, một loại tiểu thuyết – hồi ký được kể bằng ngôi thứ nhất có liên quan chặt chẽ với cuộc đời tác giả Tuổi thơ của ông như được tái hiện rõ nét

ở trong đó Sự hiện diện của nhân vật chính tên Dần cũng là hình ảnh của Mạnh Phú Tư thời niên thiếu Chú bé Dần mồ côi cha, mẹ đi bước nữa sống nhờ họ hàng ruột thịt mà phải chịu bao cảnh bất công, ngang trái, bị hành hạ đánh đập không thương tiếc Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại, tập

2 đã nhận xét: “Nếu tác giả không thuật rõ hẳn cuộc đời của tác giả thì tác giả cũng đã đặt vào đó một phần Sự tô điểm cố nhiên không tránh được nhất là đối với cái quá khứ của mình, tác giả đã “tiểu thuyết hóa” ít nhiều rồi” Toàn

bộ cuốn tiểu thuyết như thuật lại một quãng thời niên thiếu của chính tác giả,

ở đó ông đã ít nhiều hư cấu, tưởng tượng làm cho câu chuyện sâu sắc hơn,

đậm sắc thái hơn Điều này đã khiến Sống nhờ trở thành một bản cáo trạng

đẫm nước mắt về quyền sống bị chà đạp của con người Dẫu trong dạng tự truyện xen hồi ức, nhưng Mạnh Phú Tư vẫn rất biệt tài trong tạo dựng các cảnh đời và khắc họa các chân dung nhân vật trong truyện như: ông chú, bà

cô, ông cậu, bà mợ,… Nguyễn Đăng Mạnh đã nói: “Sống nhờ là một tự truyện

hay một thứ tiểu thuyết– hồi ký Ý nghĩa xã hội của tác phẩm rộng hơn và sâu

hơn Làm lẽ, Sống nhờ đi sâu vào những mối bất hòa triền miên không sao dàn

xếp nổi trong gia đình nông dân do chế độ tư hữu sinh ra những quyền lợi ích

Trang 21

kỉ, những tính toán thu va thu vén của mỗi gia đình đã làm tiêu ma biết bao tình cảm tốt đẹp giữa mẹ và con, anh và em, những người làm cha, làm chú

với con cháu mình”

Chúng ta đã từng tiếp xúc tự truyện của một số nhà văn như Kim Lân

với truyện ngắn Đứa con người vợ lẽ, Nam Cao với truyện ngắn Cái mặt không chơi được và tiểu thuyết Sống mòn Nhưng có lẽ tự truyện Sống nhờ đã đem đến sự sắc nét và thiết tha hơn cả Sống nhờ đã kết đọng mười năm tuổi

thơ của một người giàu nhận xét, giàu xúc cảm Khi soi vào những trang chữ

có thể cảm nhận được hết cái dư vị chua xót và cũng đầy chất thơ trong một hồi tưởng và hình dung Có thể nói những cuốn tự truyện này không phải là những lời kể lể về cuộc đời đầy gian khổ của các tác giả mà qua đó để phản ánh sinh động hiện thực xã hội thuộc địa nửa phong kiến của những năm trước cách mạng tháng Tám

Sống nhờ được dàn dựng dựa trên câu chuyện có thật từ thời thơ ấu của

chính tác giả Diễn biến của truyện cũng là diễn biến những ngày tháng thiếu thời của Mạnh Phú Tư Cuộc đời của Dần chính là hiện thân của chính cuộc đời tác giả Đó là một tác phẩm tự truyện nhưng đã được “tiểu thuyết hóa” đôi phần làm cho nó sinh động hơn, giàu sức truyền cảm hơn và phản ánh sâu sắc

về một xã hội đầy ngang trái và tăm tối

Trang 22

CHƯƠNG 2

HÌNH TƯỢNG NÔNG THÔN TRONG SỐNG NHỜ

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Làng quê với những hủ tục hà khắc, lạc hậu

2.1.1 “Tam tòng tứ đức”- cái còng chung thân của người phụ nữ

Có ai đó đã từng nói rằng “người phụ nữ là một nửa thế giới” nghĩa là người phụ nữ đóng vai trò rất quan trọng Thực tế trong xã hội ngày nay người phụ nữ không chỉ có vị trí trong gia đình mà còn ngoài xã hội Họ được nhìn nhận là: “Đằng sau thành công của người đàn ông luôn có bàn tay của người phụ nữ” Không những thế có nhiều phụ nữ còn nắm những trọng trách

về chính trị, là những người lãnh đạo tài ba Nhưng ngược dòng thời gian trở

về với thời phong kiến, người phụ nữ luôn chịu thiệt thòi về mọi mặt Họ bị thu mình vào khuôn khổ của mình ốc với đạo lý cương thường hà khắc “Tam tòng tứ đức” Những hình ảnh nhỏ bé đầy éo le, thương cảm đã đi vào từng trang viết của các văn sĩ trong dòng chảy từ xưa đến nay Dừng lại ở những trang viết của Mạnh Phú Tư chúng ta được bắt gặp lại những hình ảnh quen thuộc đó, những thân phận “liễu yếu” bị đày đọa, bị gắn cái án “chung thân” ở một làng quê bó hẹp

Dưới thời phong kiến, Đạo lý “tam tòng tứ đức” ngấm sâu vào máu thịt của mỗi người Việt Nó như là sợi dây ràng buộc những người phụ nữ và vô hình chung số phận của những người phụ nữ đều bị bó buộc trong chuẩn mực

đã được quy định đó Trải qua nỗi đau và chứng kiến số phận của những người phụ nữ chính trong gia đình mình, trong dòng họ rồi xung quanh mình, Mạnh Phú Tư đã lập một bản cáo trạng đẫm nước mắt về quyền sống của phụ

nữ bị chà đạp

Trang 23

Hình ảnh những người phụ nữ nhỏ nhoi, bất hạnh bị chà đạp dưới những phong tục hủ bại được Mạnh Phú Tư đặt trong không gian bó hẹp của một làng quê để phản ánh, bởi làng quê là nơi ảnh hưởng mạnh nhất phong tục

này Qua Sống nhờ ông đã diễn trình cảnh khổ nhục của những người phụ nữ

góa bụa Với sự xuất hiện của bà nội Dần, người bác dâu rồi mẹ của Dần,… chính là nạn nhân của tập tục hủ bại đó

Khi chồng mất đi, bà nội Dần phải sống trong cảnh khi ở với đứa con trai này lúc ở với con trai khác Bà nội của Dần trở thành một người “sống nhờ” phụ thuộc và đôi lúc lại lấm lét sợ hãi Bà bị con la mắng, đối xử không ra gì như một người đi ở đợ và mặc cho người ta mắng chửi Bà của Dần cũng có con gái nhưng có lẽ nền văn hóa ngàn năm đã không cho phép bà ở với những người con gái đã lấy chồng Bà cứ sống chui rúc khổ sở trong ngôi nhà luôn

bị chửi mắng, nói năng hỗn xược của những người con trai Sống với con gái

có lẽ là một điều cấm kị, mặc dù bị đuổi đi tàn nhẫn nhưng bà có thể xin ở nhờ một nhà láng giềng nhưng không thấy đả động tìm đến với những người con gái “Bà tôi đưa tôi sang một người láng giềng Bà tôi ngỏ lời muốn xin sang ở nhờ người hàng xóm… tôi có phải là dại mặt không?” [19; tr.349] Còn với mẹ Dần, đây là nhân vật bất hạnh nhất trong tác phẩm Sau khi chồng chết, mẹ bé Dần trở thành một người sống thừa trong gia đình nhà chồng và ở vào hoàn cảnh không có lối thoát Ở vậy trong gia đình nhà chồng,

mẹ Dần bị những người trong gia đình chồng khinh bỉ, hắt hủi, bạc đã “Ngày

mẹ tôi sa vào cảnh góa bụa là ngày bà tôi bắt đầu hắt hủi mẹ tôi…Cả đến các chú, các thím tôi cũng tỏ vẻ ghét bỏ mẹ tôi” [19; tr.295] Đi bước nữa lại bị lễ giáo phong kiến ràng buộc Trước mắt mẹ Dần là hình ảnh của người mẹ chồng luôn cảnh báo không được phép đi thêm bước nữa, phải ở vậy nuôi con Ở nhà quê, nàng dâu trẻ góa chồng là người mà mẹ chồng chú ý nhất Chú ý không phải là thương xót mà là sợ người quả phụ không giữ trọn trinh

Trang 24

tiết với con trai mình Con mắt mẹ chồng luôn để ý vào nàng dâu và bà của Dần đã trở thành một tên mật thám đa nghi Đôi mắt ấy vẫn dõi theo mẹ Dần

trong những lúc đêm khuya “Có một buổi tối về mùa đông, hai mẹ con nằm

trên chiếc giường rải rơm và đắp trên người hai chiếc chiếu cói…Bà tôi cất tiếng hỏi:

- Ấy có thân thì giữ” [19; tr.297-298]

Bà nội Dần luôn tìm cách để giữ chân mẹ Dần ở độ tuổi góa bụa mười bảy, mười tám Qua lời bà nội Dần có thể thấy được bản chất ích kỉ, hẹp hòi của con người, một bản chất đặc trưng của xã hội phong kiến Những lời chửi mắng của bà Dần rồi các chú của Dần như từng mũi kim xuyên thâu da thịt của con người Một lối hành hạ tinh thần thật đau đớn: “Giữ lấy để mà trang điểm vào thân xác có phải không? Để mà làm mồi rử trai phải không? Rõ cái nòi giống đi tàn đi tán là người ta thấy ngay!”, “Giữ của để đến lúc bỏ con đi lấy chồng còn kiếm vốn lo liệu giang san nhà chồng chứ! Cái nhà này thì chỉ

là ăn gửi nằm nhờ, còn ai thiết gì đến”[19;tr.295]

Bên cạnh những lời nhiếc mắng, hắt hủi mà mẹ Dần phải chịu đựng có những lúc mẹ Dần cũng nghe những lời dịu dàng, ngon ngọt Nhưng những lời ngon ngọt ấy đáp lại vẫn là những tiếng thở dài của mẹ Dần bởi những áp lực cứ dồn dập ập đến Đó là đạo lý của một người làm mẹ, đạo lý của một người làm dâu, đạo lý cả người chồng đã khuất và cuộc sống ở hiện tại Tất cả như ập đến vây lấy và hành hạ đầu óc lẫn thân xác của người phụ nữ nhỏ bé tội nghiệp “Gái góa cũng vạn người, người ta ở vậy nuôi con lấy Có gan một

Trang 25

tí là được Cái hạng người mà chưa chôn xong chồng đã tấp tểnh đi lấy chồng, chẳng trời nào chứng cho đâu”, “Những lúc đi đây đi đó, phải có ý có tứ mà giữ gìn Ăn uống cái gì của ai cho phải cẩn thận Nhỡ mà nó bỏ thuốc thì rồi

lại mẹ một nơi con một nẻo sớm” [19; tr.297]

Ngoài mẹ Dần, bác dâu của Dần cũng là một người góa bụa Sợ con dâu tái giá bà nội Dần ra sức, gắng công dỗ dành để quy chùa thành “bà vãi” Việc tái giá đối với người phụ nữ góa bụa là một hành động không thể chấp nhận được Bởi thế, mẹ Dần khi tìm cách tái giá để thoát khỏi cái “vòng kim cô” thì bị dư luận cho là “đánh đĩ”, “theo giai” và luôn bị quở trách của họ nội Dần Họ cắt đứt quan hệ với mẹ Dần và từ đó Dần và mẹ Dần cũng bị ngăn cấm không cho gặp mặt, tình cảm mẹ con bị chia lìa đôi ngả Không muốn bác dâu đi theo con đường của mẹ Dần, bà nội của Dần hết nước hết cái dùng lời lẽ để thuyết phục “Rõ khéo! Ai cười! đi quy chùa chứ đánh đi theo giai gì

mà người ta cười…Mình chẳng già cũng lấy làm già Trời bắt góa bụa nhưng cũng đã bù đậy cho được mụn con giai rồi.” [19; tr.323]

Biết làm sao được trước số phận bọt bèo của người phụ nữ Chế độ hà khắc như lưỡi dao hai mặt tác động đến họ nhưng có lẽ nó đem đến sự đau đớn, tủi nhục, nó hành hạ những người phụ nữ nhiều hơn là đem đến niềm hạnh phúc Nó ép chặt người phụ nữ trong khuôn khổ của “cái còng chung thân” nên làm cho người phụ nữ ngột ngạt, khó thở Sức mạnh của phản kháng chỉ có thể là nước mắt lăn dài trên đôi gò má của họ “Ở giường bên này, lúc đó tôi mới dám bắt đầu thở đều Mẹ tôi sụt sịt khóc, nước mắt ướt đầm cái cánh tay gối…Nhất là khi bà tôi đi đâu về hãy còn ở đằng xa mà thân hình chưa rõ, chỉ mới như một cái bóng cử động” [19; tr.298]

Mạnh Phú Tư khắc họa rất đậm nét hình ảnh những người phụ nữ dưới thời phong kiến Ông đã thấy được nỗi khổ của họ và thấy được những khắt khe của lễ giáo phong kiến đối với người đàn bà ở nông thôn Tập tục được

Trang 26

lưu truyền từ đời này sang đời khác buộc họ phải gắng sức giữ gìn và thực hiện đúng phẩm tiết của mình Gái lấy chồng phải theo chồng, chồng chết thì thờ chồng nuôi con “Tôi không thấy ai lại như bà Con gái đâu lại gả chồng hai lần…Phải dạy nó thờ chồng nuôi con chứ! Ai lại đi nối giáo cho giặc”[19;tr.299]

Trong tác phẩm Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng chúng ta đã

từng gặp số phận của một người phụ nữ cũng bị chà đạp dưới âm hưởng nặng

nề của lễ giáo phong kiến Một người mẹ phải sống nhẫn nhục bên người chồng già nghiện ngập, bệnh tật mà bà không yêu Khi chồng chết bà đã trót

có con với người khác khi tang chồng chưa đoạn Khi đã không giữ được phẩm giá bà cũng bị gia đình chồng cấm cửa và cảnh mẹ lìa con đau xót không khác gì mẹ Dần và Dần Hay chúng ta từng bắt gặp người bà, người

mẹ, người vợ của anh giáo Thứ trong Sống mòn của Nam Cao đều là những

cuộc đời tù động Mạnh Phú Tư cũng như Nguyên Hồng, Nam Cao,…đều muốn lên tiếng đòi quyền sống cho những người phụ nữ, cũng muốn cứu vớt tình mẫu tử bị đứt đoạn, xa cách đến đáng thương Hình ảnh những người phụ

nữ trong Sống nhờ của Mạnh Phú Tư là một bản cáo trạng đẫm nước mắt mà

Mạnh Phú Tư đã tiếp sức những nhà văn trước như Nguyễn Du với hình ảnh nàng Kiều, Hồ Xuân Hương với phận “làm lẽ”,…để đòi quyền sống cho những người phụ nữ Nhưng ở Mạnh Phú Tư đã đi theo một hướng mới, đã khắc họa được người phụ nữ trong cuộc sống với những lo toan đời thường Người phụ nữ dưới gánh nặng ở làng quê, ở nông thôn với tập tục phong kiến

đã ngấm sâu đến tận xương tủy

Với hình ảnh những người phụ nữ trong Sống nhờ Mạnh Phú Tư đã thể

hiện được niềm trăn trở xuất phát từ tấm lòng bao dung của mình Những người phụ nữ trong tác phẩm đã bao quát được tất cả những người phụ nữ cùng chung cảnh ngộ trong xã hội ấy Họ bị đặt trong khuôn khổ không thể

Trang 27

cựa mình được Phẩm tiết của người phụ nữ đã trở thành cái “còng” chung thân mà xã hội ấy đã định đoạt cho những người phụ nữ vô tội

2.1.2 Hôn nhân – tập tục phong kiến hủ bại

Làng quê là nơi lưu giữ những câu ca tiếng hát ngọt ngào, nơi cánh cò trắng tung bay trên cánh đồng bát ngát mênh mông, nơi giữ gìn văn hóa bao đời để lại Có lẽ, chính mảnh đất của những con người giản dị, mộc mạc, chất phác nên đã tiếp nhận và lưu giữ lâu bền nền văn hóa bao đời Không thể phủ nhận những nét đẹp ở làng quê đã góp phần tạo nên sự đa dạng phong phú cho nền văn hóa chung của dân tộc Nhưng một thời gian dài nơi đây cũng ấp

ủ những phong tục cổ hũ nặng nề đã ràng buộc, chi phối đến đời sống của nhân dân Một trong những phong tục hủ bại đã ăn mòn trong đời sống làng quê Việt Nam là tục hôn nhân phong kiến Nếu như từ trước tập tục này đã đi vào những bài ca dao, tục ngữ, đi vào từng trang viết của các nhà văn thì giờ đây, Mạnh Phú Tư tiếp tục khơi mào và lên án một cách mạnh mẽ

Mạnh Phú Tư dựng lên một bức tranh làng quê với tất cả muôn vẻ của nó, các thế hệ nối tiếp trong việc nối dõi duy trì nòi giống, một phong tục dường như nghìn năm không đổi Xoay quanh việc dựng vợ, gả chồng ở một vùng nông thôn ở Hải Dương Mạnh Phú Tư như đưa chúng ta tiến gần tệ nạn trong hôn nhân của xã hội thời phong kiến

Qua các cuộc hôn nhân của các thế hệ như ông, bà nội - ngoại Dần, bố mẹ Dần, cô, chú, bác đến cậu, dì,…rồi những người hàng xóm của Dần đã hiện lên đậm nét phong tục từ đời xưa Tục hôn nhân phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nặng nề trong đời sống của nhân dân ở vùng nông thôn Cái đạo lý

“Tam cương ngũ thường” không những được duy trì mà còn ăn sâu trong tiềm thức của mỗi người dân Việc hôn nhân là việc hệ trọng nên việc dựng vợ gả chồng cho con phải có khuôn phép Câu của miệng trong hôn nhân xưa “Cha

mẹ đặt đâu con ngồi đó”, “môn đăng hộ đối” vẫn được duy trì rộng rãi Làng

Trang 28

quê trong Sống nhờ, việc hôn nhân không chỉ là việc của con cái, của gia đình

nữa mà trở thành việc chung của gia tộc Bởi vậy, định vợ gả chồng cho con

là quyền quyết định của cha mẹ Vợ chồng trẻ chỉ có nghĩa vụ đối với tổ tiên, dòng họ là truyền giống về sau để “vĩnh truyền tông tộc”, người phụ nữ làm tròn nghĩa vụ dâu gia, giữ phẩm tiết làm vợ, làm mẹ Vì thế, người vợ không những phải sinh con đẻ cái nối dõi tông đường mà còn phải làm lụng và coi sóc việc nhà cho gia đình chồng Một làng quê bao trùm là cảnh hôn nhân cổ

hũ ấy Trai gái không có quyền trong tự do yêu đương “Cô thứ hai bà tôi gả cho một người ở tận cuối làng… Người cô thứ nhất, bà tôi đổi cho một gia đình khác gần ngay bên nhà để lấy mẹ tôi về Cái lối đổi con lấy dâu như thế thường có ở mấy làng vùng tôi Khi hai bên có con gái đã lớn và lại đều là hai gia đình cùng ngang hàng thì đôi bên đổi con gái cho nhau Điều thứ nhất để tránh sự phí tổn về tiền nộp cưới Điều thứ hai cốt để gây sự liên lạc chặt chẽ của đôi bên dâu gia và cũng để tránh cảnh nàng dâu mẹ chồng Nếu người này hành hạ nàng dâu, người kia cũng dễ có điều kiện trả thù lại” [19; tr.290] Lối

gả con không chỉ “môn đăng hộ đối” mà họ còn nghĩ đến quyền lợi của nhau nữa Hôn nhân trở thành “món đồ” đổi chác, trao đi đổi lại giữa hai bên Lối tính toán này không chỉ sự ích kỷ trong hôn nhân đối với con cái, phản ánh tình trạng không có quyền tự do trong yêu đương mà còn phản ánh tình trạng hôn nhân long loàn Mẹ của Dần được đổi với cô ruột của Dần Hai anh em trong một gia đình lấy vợ, lấy chồng cùng một gia đình Hôn nhân người ta thường nói đến hạnh phúc, tình yêu nồng đượm để đi đến hôn nhân, hai người cùng chung chí hướng tìm đến niềm vui để xây dựng tương lai, nhưng có lẽ, hôn nhân dưới chế độ xưa là để làm đúng trọng trách của một đời người Là một vụ lợi mà hai bên cùng tính toán đi đến quyết định thay con Cha của Dần qua đời, bà ngoại của Dần lại nhờ mối lái tìm kiếm cho con một người khác

“Ngay từ khi mẹ tôi còn ở với bà nội tôi, cũng đã có người mối manh nói với

Trang 29

bà ngoại tôi xin lấy mẹ tôi…Sau đó người ta cứ hỏi tin tức mãi và cách ít lâu người mối lại ngỏ lời xin ăn hỏi”[19; tr.298-299]

Mợ của Dần xe duyên cùng cậu của Dần cũng qua mối lái, ép buộc của cha mẹ “Mợ tôi là con một ông Hương, có nhiều người bảo mợ tôi đẹp nhất làng và trước khi bà tôi tới hỏi cho cậu tôi, đã có bao nhiêu người mối manh Một ông lí trưởng, một ông chánh tổng và bao nhiêu người có chức tước khác…người mẹ mợ tôi đành ép gả cho cậu tôi” [19; tr.366]

Cuối cùng người chịu thiệt thòi nhất vẫn là phụ nữ Họ phải gánh những sức ép trong cuộc sống Những người như mẹ Dần, cô Dần, mợ Dần,…là minh chứng cho hậu quả đó

Bên cạnh tập tục dựng vợ gả chồng theo kiểu mối lái, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, rồi đổi chác còn có tệ nạn khác thường xảy ra ở làng quê mà Mạnh Phú Tư phản ánh rõ nét đó là nạn tảo hôn Nạn tảo hôn được duy trì trải dài từ thế hệ này qua thế hệ khác như là một văn hóa truyền thống của làng Cha mẹ của Dần lấy nhau từ lúc còn là hai đứa trẻ Nếu như theo luật pháp hiện nay thì hai người chưa đến tuổi để được phép kết hôn “Cha tôi và mẹ tôi khi mới lấy nhau hãy còn như hai đứa trẻ:chồng mười bảy, vợ mười lăm Những cặp

vợ chồng trẻ như thế, hiện nay ở vùng tôi cũng hãy còn có rất nhiều bởi thế, khi thấy người đã bắt đầu già yếu, bà tôi chỉ nghĩ tới sự kiếm đủ vợ cho các con” [19; tr.294-295] Hôn nhân đối với họ chỉ là để thêm đông đúc, có người giúp đỡ các công việc, để kiếm đủ vợ chồng cho các con Tình trạng này không chỉ diễn ra trong một gia đình mà gia đình nào cũng vậy Lấy chồng, lấy vợ sớm trở nên phổ biến và bình thường trong cuộc sống ở làng quê Đến

độ tuổi ấy mà chưa có chồng thì bị người làng chê cười và lấy làm trò mỉa mai, chế giễu “Trẻ con gì, mười sáu, mười bảy tuổi đầu rồi! Không thằng nào

nó rước đi cho còn cứ ở nhà làm mẹ già mãi Cái hạng ấy rồi không khéo lại

Trang 30

đi đánh đĩ sớm” [19; tr.361] Một quan niệm lạc hậu thể hiện sự non yếu trong nhận thức của con người trong xã hội ấy

Đến thế hệ của Dần, Dần và những người bạn của Dần cũng nảy sinh tình cảm và bày tỏ yêu đương khi chưa vượt tuổi vị thành niên Thằng ở về ở giúp việc cho chú hai Dần dù còn nhỏ nhưng đã tính đến chuyện vợ chồng “Tớ không làm gì cả…Tớ chỉ lấy vợ thôi Lấy vợ, để vợ đi vớt bèo nuôi

lợn”[19;tr.330] Rồi cuộc tình duyên của thằng Nhắng với cô Ngùng Nhắng

yêu Ngùng với một tình yêu trong trắng, thơ ngây Tình yêu trở thành một mối gắn kết và cái chết của Ngùng đã làm Nhắng đau xót biết nhường

“Những người đi xem mới bắt đầu cười nó Nhưng thấy nó khóc thật và có vẻ thương xót, ai cũng ái ngại Ngày hôm ấy chúng tôi bỗng nhiên thành sợ nó

Nó đưa ma người tình nhân ra tận mộ Nó ra công vác đất đổ xuống lỗ Cứ được vài ôm đất nó lại ngồi khóc Nước mắt ròng ròng” [19; tr.375] Đến cô hàng xóm con ông Bá mối tình đầu của Dần cũng đi lấy chồng từ độ tuổi còn

vị thành niên Ngay cả Dần chỉ trong một thời gian ngắn đã trải qua ba cuộc tình Đó là cuộc tình với con ông Bá, với cô Đào Thúy Nga làm kép hát rồi đến cô nữ sinh cùng trường học ở Hải Phòng Mặc dù mọi người vẫn còn gọi Dần là “thằng nhãi”, “thằng bé”,…và trong quá trình đi chơi hay bày tỏ tình cảm với bạn gái Dần vẫn còn thể hiện tính cách rất trẻ con nhưng những cuộc tình của Dần vẫn nồng đượm Có lẽ tình yêu hay hôn nhân của bọn trẻ chưa vượt qua tuổi vị thành niên đã ảnh hưởng mạnh mẽ từ các thế hệ đi trước

Từ những tập tục ở làng quê, Mạnh Phú Tư đã khắc họa đậm nét bức tranh với tập tục bao đời còn ảnh hưởng sâu đậm ở vùng nông thôn Qua đây Mạnh Phú Tư đã lên tiếng đề cao luyến ái tự do, khát khao được quyền tự do trong yêu đương, đồng thời cũng phê phán những tệ tục hôn nhân phong kiến lạc

hậu, hủ bại Qua hình ảnh mẹ Dần và những phụ nữ ở thôn quê trong Sống nhờ, Mạnh Phú Tư còn phê phán tập tục đối xử hà khắc, ích kỷ với những

Trang 31

người phụ nữ Chế độ “trai ba thê bảy thiếp gái chỉ duyên một chồng” vẫn còn nặng nề ở xã hội thời ấy Quyền lợi người phụ nữ bị hạn chế, bó buộc Người phụ nữ có tư tưởng đi thêm bước nữa thì bị coi là “theo giai”, “đánh đĩ”,… Mạnh Phú Tư đã bó hẹp trong một gia đình ở vùng nông thôn để nói về chế

độ hôn nhân thời bấy giờ Ở đây, Nhà văn đã mượn hình ảnh bé nhỏ để nói đến cái lớn lao Không chỉ phê phán bó hẹp trong một gia đình ở làng quê mà Mạnh Phú Tư muốn lên án những tập tục phong kiến hủ bại nghìn năm không thay đổi, chuyển biến ở những vùng nông thôn Việt Nam Đây là bản cáo trạng sâu sắc đầy nhân đạo của Mạnh Phú Tư Vừa đề cao yêu đương tự do nhưng ông cũng lên án nhũng tập tục hà khắc, lạc hậu

2.1.3 Chế độ tư hữu - lối tính toán vị kỉ của người nông dân

Nếu như trong thời đại bao cấp dưới chế độ cộng sản nguyên thủy không cho phép ai có của riêng Mọi người đều làm chung và hưởng chung thì dưới thời đại xã hội mới mỗi người dân đều được phân chia tài sản riêng “làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu” Với việc ban hành quy luật mới này đã tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển biến của xã hội Nhưng từ đây trong trong đời sống con người lại nảy sinh những vấn đề phức tạp Vì “miếng cơm manh áo”

vì lợi ích riêng đã làm thay đổi đức tính của mỗi người dân Cùng sống với những người lao động Mạnh Phú Tư đã am hiểu sâu sắc bản chất này trong đời sống của những người ở thôn quê thời bấy giờ

Dưới chế độ tư hữu đã sinh ra những thói xấu xa, ích kỷ đối với những người nông dân mà vốn dĩ họ là những người tốt bụng, hiền lành, chất phác Mạnh Phú Tư đã vạch rõ sự thay đổi này đúng như bản chất của nó ở thôn quê Mong muốn cầu lợi riêng đã sinh ra những con người tính toán ích kỷ, hẹp hòi Cha của Dần mất đi mẹ Dần đau khổ, lùi lũi một mình với đứa con Nếu có tấm lòng bao dung, độ lượng gia đình bên nội của Dần sẽ an ủi động viên, thông cảm tạo điều kiện để mẹ Dần đi tìm một hạnh phúc mới Nhưng

Trang 32

ngược lại mẹ Dần lại bị hắt hủi, bị coi không ra gì, mẹ chồng luôn giám sát sợ con dâu đi thêm bước nữa Lối tính toán theo những quyền lợi riêng đã đánh mất tấm lòng bao dung, độ lượng của một người mẹ Con người trở nên độc

ác, tàn bạo hơn trong từng lời nói, trong từng hành động Việc đối xử giữa người với người trở nên cay nghiệt, hà khắc hơn Bởi vậy mà Dần và mẹ Dần phải chia ly không được gặp mặt Cháu thiếu thốn tình cảm của mẹ, mẹ nhớ nhung, đau đớn khi phải xa con Không những thế, những người trong gia đình họ cũng tính toán với nhau Dẫu anh em trong cùng một nhà nhưng ai cũng có một tính toán riêng Người này sợ người kia hơn mình dẫn đến những cuộc cãi vả, chửi bới lẫn nhau Không khí trong gia đình luôn nặng nề, u ám

“ai cũng muốn cầu lợi riêng về mình cả nên có sự cãi lộn nhau luôn Hai chị

em dâu chửi bới nhau Hai anh em can thiệp Người nào bênh vợ người ấy

Ăn chung, làm chung nhưng họ vẫn là thù địch của nhau Thứ nhất hai thím tôi ganh tị nhau từng tí chẳng bao giờ có sự nhường nhịn lẫn nhau”[19;tr291] Những cuộc cãi vả diễn ra triền miên như không bao giờ dứt được Ai cũng muốn có tài sản riêng, ai cũng sợ mình gò lưng làm cho người khác ăn nên trong thâm tâm mỗi người luôn muốn được ở riêng, ăn riêng “Cứ chia cửa chia nhà rồi ai làm người ấy ăn Chẳng việc gì mà cứ phải chung đụng mãi”[19;tr.293] “Trong lúc bà tôi buồn bực về nỗi cô tôi chết, các chú, các thím tôi vẫn cãi cọ nhau và vẫn nói đến việc ra ở riêng Bà tôi đành chiều ý để

được yên nhà”[19;tr.315] Tính ích kỷ của con người dẫn đến sự đố kị từ

những việc nhỏ nhen đến những việc lớn ngay cả trong gia đình, họ hàng đến những người trong làng xóm Thím của Dần thấy mẹ của Dần múc cho Dần miếng canh ăn trước thì ra chiều ghen tức

“ - Nuông con lắm vào rồi sau nhớn chỉ tổ mất dạy

- Bằng ngay cái hạt tiêu ấy mà sáng nào cũng ăn trước cả nhà” [19;tr.301]

Trang 33

Khi đã chia tài sản minh bạch nhưng các chú của Dần vẫn tị nạnh lẫn nhau Ai cũng muốn ruộng đất về mình phần nhiều hơn nên các cuộc cãi vả, xỉa mói lẫn nhau lại tiếp diễn Họ hành hạ nhau gây ra những bi kịch căng thẳng một cách ngu xuẩn mà vốn dĩ họ cũng chẳng thích thú gì “Gay go nhất vẫn là sự xô xát giữa chú lớn và chú hai tôi Ông em ra vẻ ganh tị với anh Nhưng ông chỉ tìm chuyện lôi thôi với bà tôi:…

- Ái chà! Ăn với nói, thế mà cũng mở mồm ra! Thiên hạ! Ai là thiên hạ Tao có cấy của bà lão mấy sào, của thằng bé mẫu ruộng tao cũng phải trả thóc thuế chứ có dễ ăn không được đấy!” [19; tr.318]

Thói ích kỷ đố kị như bao trùm cả làng quê, điều đó không chỉ xảy ra đối với những người trong gia đình với nhau mà còn diễn ra giữa những người làng xóm gây ra những mối bất hòa, giận dữ rồi nghĩ đến sự trả thù lẫn nhau

Họ trở thành những con người bon chen muốn mình hơn hẳn người khác Còn đâu nữa những đức tính hiền lành, chất phác Giờ đây, họ chỉ còn nghĩ đến sự tranh đua, đối xử tàn tệ, độc ác với nhau Họ dùng những lời lẽ không mấy tốt đẹp, những lời cay độc để chửi bới, nguyền rủa lẫn nhau Ông ngoại Dần và ông Lý Vọng cùng giữ chức tước vào hạng nhất nhì trong làng nhưng luôn nói kháy nhau, cãi lộn với nhau Một đoạn đối thoại sau đã thể hiện được bản chất của mỗi người: “ Ông tôi nói kháy:- Cái hạng đi lau nhà, pha cà phê cho một thằng chủ tây đen hơn cột nhà cháy bây giờ về làng người ta cho ăn trên ngồi trốc tử tế lắm rồi còn xoen xoét cái gì! Hai ông đã hăng hái ném bát, ném đĩa lẫn nhau, đến nỗi bị thương” [19; tr.431]

Do xu thế của xã hội, do chế độ làm công ăn riêng “vườn nhà ai rào nhà ấy” đã sinh ra những thói đời xấu xa điều khiển lý trí con người Làm tiêu ma biết bao tình cảm tốt đẹp giữa những người thân trong gia đình, giữa những người làng xóm láng giềng đã từng “tối lửa tắt đèn” có nhau Con người trở nên tham lam một cách khó hiểu và chỉ biết thu va thu vén cho gia đình của

Trang 34

mình thôi Vì những lợi ích của riêng mình mà con người đã quên đi những tình cảm thiêng liêng, quên đi đạo lý làm người Bởi vậy, chúng ta thường bắt gặp những cảnh chú, dì, cậu, thím,…đối xử tàn tệ với người cháu mồ côi đáng thương “cái thằng cu Dần rồi mày xéo đi đâu thì xéo! Không ai có gạo mà nuôi mày mãi Cút đi với cái con mẹ mày” [19; tr.346]

Họ chửi bới mẹ đẻ một cách bất hiếu Chỉ vì ruộng vườn, tiền bạc,…mà những con người nhẫn tâm chửi bới, mắng, đuổi cả người mẹ già đã từng chắt chiu nuôi con khôn lớn và gắng sức giũ gìn cơ nghiệp cho con “chú tôi lại trách móc bà tôi về nỗi chỉ ăn mà không làm được việc gì Bởi vậy, trừ việc

bế cháu, bà tôi còn phải làm thêm nhiều việc khác nữa, hái rau, quét nhà, thổi cơm,…” [19; tr.334] Để gia đình của mình hơn hẳn người khác ai cũng có những cầu lợi riêng, họ luôn tính toán, tìm cách để thu vén cho gia đình của mình Họ tính toán ngay cả trong hôn nhân của cả một đời người “Bà ngoại tôi đã muốn người bố dượng tôi sẽ là người gần gũi quan trên để giúp đỡ bà tôi” Họ đổi chác cả con gái để lấy cô dâu khỏi tốn kém chi phí cưới hỏi và có

cơ hội để trả thù khi gia đình bên kia hành hạ con mình Những tính toán của người nông dân đã làm cho họ trở thành những con người hà tiện đến một cách đáng sợ “Ông tôi ít khi đi đây đi đó, hoặc chơi bời nhà nọ nhà kia … Nhờ có sự tằn tiện đó mà khi chết đi ông tôi đã có được một ít vườn ruộng để lại”[18; tr.288-289]

Không những thế, cũng là người với nhau, cùng sống trên mảnh đất của làng quê tay cuốc tay cày nhưng họ đã lừa gạt lẫn nhau để cướp lấy ruộng đất cấy cày, cướp lấy tiền bạc của nhau để làm giàu thêm cho gia đình của mình

“Qua lá thư bà nội tôi cho tôi biết lão chánh tổng đã chê những xào ruộng của

bà ngoại tôi viết cho vợ tư hắn là xấu quá, hắn đòi phải bồi thêm tiền … Chẳng hiểu tại sao cái số ruộng ấy, lão chánh tổng cũng lại được nhận để phạt canh, theo như người trưởng bạ trong làng báo cho bà tôi biết”[18;tr464-465]

Trang 35

Qua bức tranh về nông thôn, Mạnh Phú Tư đã phơi trần lối sống tư hữu trong nhiều gia đình ở nơi đây Với lối sống này đã biến họ trở thành những con người ích kỷ, độc ác, tham lam luôn đố kỵ với người khác Họ trở thành con người giàu thủ đoạn để thu vén cho gia đình của mình Cảnh sống ấy đã bào mòn lối sống tốt đẹp vốn có ở làng quê Việt Nam

2.2 Con người với cuộc sống tàn lụi, héo mòn

2.2.1 Những cảnh túng quẫn, giằng xé lẫn nhau của con người

Nông thôn là đề tài muôn thuở đã đi vào từng trang sách Ở đây, người ta khám phá trên mọi phương diện đời sống của những người nông dân Đã có những cây bút khắc họa đậm nét cuộc sống cơ hàn, bần cùng của những người nông dân thôn quê Những hoàn cảnh tưởng chừng như không thể sống nổi,

họ là những người tận cùng của cái khổ đầy đọa Hình ảnh gia đình chị Dậu

trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Lão Hạc trong Lão Hạc của Nam Cao,…là

những hình ảnh điển hình của con người lao động cần cù bị rơi vào cuộc sống quẩn quanh, bế tắc Mặc dù suốt ngày đầu tắt mặt tối nhưng cái túng quẫn vẫn

vây lấy họ và đẩy họ vào đường cùng Giờ đây, tìm hiểu Sống nhờ của Mạnh

Phú Tư ông cho ta một cái nhìn mới về cuộc sống của những người nông dân nghèo quanh năm suốt tháng phải vật lộn với miếng cơm manh áo Họ luôn luôn sống trong tình trạng túng quẫn và để giải thoát cái khổ và những nỗi bực nhọc trong lòng họ đã giằng xé lẫn nhau Họ lôi nhau ra để chì chiết, chửi mắng

Bao trùm cuốn tiểu thuyết Sống nhờ hiện lên là những cảnh giằng xé lẫn

nhau của các nhân vật, của những thành viên trong gia đình Cái nghèo, cái túng quẫn đã không để họ tôn trọng, giữ gìn cho nhau Cả một gia đình trở nên lộn xộn, không ai phân biệt tôn ti trật tự, không ai còn nghĩ đến kính trên nhường dưới nữa mà họ lôi nhau ra xới móc nhau để chì chiết, nhiếc mắng nhau Mẹ chửi con, con chì chiết đuổi mắng mẹ, cậu, thím, chú, dì đuổi đánh

Trang 36

cháu Cả một dòng họ hàng, cả một làng quê luôn trong cảnh giằng xé lẫn nhau gây cho nhau thêm đau khổ “Thôi, trời thí cho mấy người đấy, cứ giết chết hết cả đi rồi mà ăn cả cho nó sướng cái lỗ mồm!” [19; tr.311]

Họ có sung sướng gì khi chà đạp lên nhau, gieo cho nhau thêm đau đớn

Có lẽ cuộc sống ngột ngạt, khó thở họ đã vùng dậy giải thoát khỏi cơn quằn quại, đau khổ bằng cách cấu xé lẫn nhau “Xô xát nhau về những công việc hàng ngày, xô xát nhau vì các đồ ăn thức dùng Bát đũa nhà này sang nhà khác rồi nghi ngờ lấy lẫn của nhau Cãi nhau về một chén mắm, một đĩa rau

Có khi nào mà ở gần nhau đến như vậy lại từ chối nhau một bát gạo những lúc xẩy ra có nhà chưa xay được thóc” [19; tr.318]

Khi vui vẻ, hòa đồng với nhau thì người ta khen nhau hết lời, họ nói với nhau bằng những lời vui tai, mát ruột Họ mang cho nhau cả bát cháo chè, miếng cá kho Họ thi nhau đối xử tử tế với nhau Cảnh hòa thuận ấy cứ nghĩ không bao giờ bị phá vỡ Nhưng hoàn cảnh đã chỉ lối đưa đường, đã làm cho

họ thay đổi trong chốc lát về tính cách Mà khi đã trở mặt nhau thì trăm cái xấu xa, nghìn cái nhỏ mọn họ cũng lôi ra để chửi rủa nhau Cái tốt hàng ngày đều trở thành cái xấu để họ mang ra mỉa mai, xâu xé “Nhưng cái cảnh luyến

ái ấy chỉ được một hai ngày Rồi đâu lại hoàn đấy Lại cãi nhau, chửi bới nhau Và lúc đó người ta lại càng có dịp để kể những điều hay người ta đã làm lẫn cho nhau Ai cũng tưởng mình hiền lành tử tế hơn người khác Người này bảo mình cho nhiều hơn Người khác kể cái món ăn thiu thối rồi mới gọi cho nhau ăn” [19; tr.318] Sống trong cùng một gia đình đều là những người nông dân suốt ngày lam lũ nơi ruộng đồng Vất vả cả ngày, quần quật làm việc từ buổi tinh mơ nhưng cái ăn cái mặc vẫn cứ thiếu thốn Cuộc sống tạo cho họ trở nên ích kỷ, hẹp hòi Những việc nhỏ mọn trong cuộc sống hàng ngày cũng trở thành tâm điểm cho họ chửi bới lẫn nhau “Cuộc cãi lộn tay ba bắt đầu Chú tôi không nể lời, bác dâu tôi cũng gớm, bà tôi không chịu Cái cảnh sống

Trang 37

gần nhau mà bao giờ cũng như hắt hủi nhau, coi nhau như kẻ thù ấy khiến hết mọi người đều xa lạ cả” [19; tr.324] Cái nghèo đã hành hạ thân xác họ đến khô quắp nhưng chưa hết cái khổ họ lại tự hành hạ lẫn nhau, gây cho nhau những áp lực về tinh thần Sự va chạm nhau trong hàng ngày đã dẫn đến những mâu thuẫn rắc rối Để tháo gỡ mâu thuẫn đó họ dùng những lời lẽ cay nghiệt để đối đáp nhau Sở dĩ vậy, nhiều lúc họ không còn nhìn mặt nhau, sống với nhau mà không nói nửa lời “Bà tôi mắng lại Chú tôi không nể lời Lại có chuyện cãi nhau và trong nhà lại có sự xo xát khiến người này hiềm thù người khác Có khi cả ngày chẳng ai hỏi nhau nửa lời”[19; tr.338-339] Cuộc sống hàng ngày đã làm tha hóa bản chất vốn tốt đẹp của những người lao động chân chất Họ vô lễ với cả người mẹ Họ không còn tôn trọng những người bậc trên, thể hiện đạo lý của một người làm con Con trai cũng như con dâu đã lên mặt dùng những lời lẽ hỗn xược để cãi lại mẹ, chửi mắng

cả mẹ Họ cào cấu ngay với mẹ của mình “Tôi thế nào kệ mẹ tôi! Không việc

gì đến nhà bà” [19; tr.320]

Mẹ giằn vặt con rồi đến con chửi, nói những lời bốp chát với mẹ tạo cho một gia đình không ra một thể thống gì nữa Ngay cả đứa con côi như Dần cũng bị chú thím, cậu, dì…nhiếc mắng, chửi bới không thương tiếc Họ đã đầu độc đứa trẻ bằng những lời lẽ cay nghiệt, độc ác “quanh tôi người nào cũng hắt hủi tôi Cả đến bà tôi, tôi cũng thấy luôn luôn đánh mắng tôi Tôi thành chán nản quá và tôi cũng đã sinh ghét hết mọi người trong

nhà”[19;tr.331] Họ hành hạ người mẹ già và đứa cháu côi không một chút áy

náy hay thương xót Không làm được việc gì cho họ thì họ nhiếc mắng, bóng gió đủ điều Hai bà cháu trở nên sống chui lũi, lén lút trong căn nhà của các chú Cảnh sống leo lét ấy đến thật thương tâm “Cả ngày tôi chỉ loanh quanh bên bà tôi làm đỡ bà tôi những việc vặt Hai bà cháu hì hục bận bịu cả ngày bên nhau Mọi công việc trong nhà đều được trôi chảy, đâu ra đấy Tuy vậy,

Trang 38

chú tôi và cả thím tôi cũng vẫn tìm cớ để có chuyện lôi thôi, giày vò bà tôi

Mà mỗi khi nói đến bà tôi, chú tôi lại nói chằng cả đến tôi” [19; tr.334]

Cảnh ngày càng túng bấn, sa sút làm cho con người trở nên ích kỷ, nhỏ mọn hơn nữa Họ không chỉ chửi bới, nguyền rủa nhau, hành hạ lẫn nhau mà

họ còn tranh giành nhau từng thước đất, họ tị nạnh nhau từng đồng một Các cuộc ẩu đả giữa những người thân trong gia đình thường xuyên xảy ra Cái khốn khó làm cho họ nảy sinh biết bao cái xấu xa, ích kỷ “Sự túng thiếu trong gia đình đã khiến cho mọi người sinh ra ích kỉ Các chú tôi cũng như các cậu tôi tranh giành nhau từng thước đất, tị nạnh nhau từng món tiền con con của hai bà tôi bỏ ra cấp dỡ”[19; tr.463]

Với ngòi bút của Thạch lam đưa chúng ta đến với những mặt tốt đẹp của người lao động Ông không chấp nhận cái cách gán cho nhân vật của mình

“những đức tính và tật xấu mà người dân quê thực không có” Chính vì thế,

chúng ta thường bắt gặp hình ảnh mẹ Lê trong truyện ngắn Nhà mẹ Lê, hay hình ảnh người phu xe trong Một cơn giận là những con người lam lũ, chịu

khó nhưng trong họ vẫn giữ lại những phẩm chất tốt đẹp của mình Mạnh Phú

Tư cũng viết đề tài về nông thôn nhưng Mạnh Phú Tư đã có một cái nhìn khác Bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp vốn có của những người nông dân ông còn đi vào khai thác cận cảnh thường nhật của con người trong những ngày tháng bị cảnh túng quẫn chi phối Mỗi người có một cái nhìn riêng nhưng có lẽ họ đã gặp tại một tâm điểm là “tự cày bừa lấy trang sách, nói về người nhà quê, vạch một luống cày thẳng thắn và mạnh bạo trên đất màu và không chịu cho những ý tưởng bên ngoài ảnh hưởng…phải biết quan sát bề trong và đi sâu vào những bí mật của những tâm hồn ấy” [2; tr.590]

Mạnh Phú Tư khắc họa hình ảnh của những người nông dân qua đó bày tỏ nỗi cảm thông, chia sẻ Ông muốn nhắc nhở mọi người đừng vì một giây phút khổ cực của cuộc sống mà đối xử tàn tệ với nhau, giằng xé lẫn nhau vì điều

Trang 39

đó làm con người sẽ khổ thêm ra Con người sẽ đánh mất những tình cảm thiêng liêng khó mà lấy lại được Đây là tấm lòng nhân đạo nồng nàn mà Mạnh Phú Tư đã giành cho những người nông dân tay lấm chân bùn, suốt đời

“bán mặt cho đất bán lưng cho trời” mà vẫn khốn khó, cái nghèo vẫn giai giẳng đeo bám lấy họ

2.2.2 “Miếng ăn là miếng lớn” nặng hơn tình người

Gấp cuốn tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư lại chúng ta như khó thở trước không khí ngột ngạt của một làng quê Đằng sau lũy tre ấy có biết bao cảnh đời trớ trêu, mỗi con người là một số phận bị đày đọa bởi sự khốn khổ của cuộc sống Cái cơ cực đã đẩy con người đến những vùng tăm tối, họ quay lại cắn xé lẫn nhau và coi miếng ăn là tất cả Nhân vật Thứ từng thốt lên rằng:

“Chừng nào mà người còn phải giành giật của người từng miếng ăn thì mới

có ăn, chừng nào một số người còn giẫm lên đầu của người kia để nhô lên thì loài người còn phải xấu xa, bỉ ổi, tàn nhẫn và ích kỷ Chất độc ở ngay trong sự sống Người nọ người kia không đáng cho ta ghét; đáng ghét, đáng nguyền rủa ấy là cái lối sống lầm than, nó bắt buộc người ích kỉ, nó tạo ra những con

người tàn nhẫn và tham lam”[2;tr.489]

Cuộc sống là cái đẹp và cũng là nòng độc hủy hoại bản tính của con người Sống lâu ngày ở nhà quê và trải qua nhiều nỗi đắng cay trên đồng ruộng Mạnh Phú Tư mới biết rõ ngọn ngành cuộc sống của những người dân nơi đây Từ thực tiễn, ông mới biết đối với người dân quê miếng ăn là miếng lớn

Họ coi miếng ăn to quá nên những tình nghĩa ngay cả trong gia đình họ cũng không xem ra gì Vợ chồng khinh rẻ lẫn nhau, con không coi mẹ ra gì, chú, thím, cậu, cô, dì,…không giành một chút tình thương nào cho đứa cháu mồ côi Họ sống với nhau nhưng sống chỉ là để hạ nhục lẫn nhau, tạo ra không khí oi bức để tàn hại lẫn nhau

Trang 40

Sống nhờ ra đời trong thời gian xã hội Việt Nam chao đảo, ngột ngạt và

tìm cách lột xác Ông đã nhìn thấu nỗi thống khổ của những người dân thôn quê trong tìm kiếm miếng cơm manh áo Ông đã bày tỏ tấm lòng yêu thương nhân đạo và sự hiểu biết sâu sắc về con người, đời sống ở thôn quê Ông đã đi vào phân tích một cách rất bình tĩnh về gia đình Việt Nam trong bối cảnh xã hội ấy Xây dựng nên bức tranh của người nông dân trong quá trình tìm kiếm miếng ăn không phải để ông lên án hay phê phán họ mà ông cho người đọc biết được về cảnh làng quê heo hút, một thực trạng ở nông thôn đang trong thời kỳ quằn quại lột xác đến đau đớn

Điển hình cho bức tranh ấy là cảnh Dần- chú bé mồ côi luôn bị nhiếc mắng, hắt hủi rồi bị hành hạ một cách thương tâm Ai cũng tỏ vẻ không giành cho Dần một chút yêu thương nào mà luôn tìm cách để chửi mắng, đáng đập, bắt làm việc quá sức Người ta thường nói “chết cha còn chú, sẩy mẹ bú dì” nhưng với Dần cả chú lẫn dì đều hắt hủi, hành hạ Dần bắt Dần làm lụng mệt nhọc Tuổi thơ của Dần bị nhấn chìm trong những lời nhiếc mắng, hắt hủi lạnh lùng của những người thân và những công việc mà Dần chưa đáng phải làm “Cứ buổi chiều tới, khi tôi dắt trâu ở đồng về, chú tôi lại giữ lại, không cho tôi dắt nó vào chuồng vội Chú tôi đưa tay vỗ vỗ trên bụng con trâu Tôi

lại lủi thủi đứng khóc ở đầu nhà”[19; tr.322] Đến dì cũng hành hạ Dần không

thương tiếc, mặc cho thân hình bé nhỏ đơn côi Vì miếng ăn bỏ miệng mà dì đáng phải thay chị chăm sóc cháu, bù đắp tình cảm thiếu thốn cho cháu thì lại dùng cú đánh, lời nhiếc để giành cho Dần “Tôi sợ nhất là những buổi say thóc Dì tôi giao cho một thùng thóc đầy có ngọn … Ngoài cái nạ xay kia, tôi còn sợ một cái nạn nữa là phải theo dì tôi ra ruộng để móc cua đồng”[19;tr.356] Tất cả những hành động đối xử của mọi người đã hằn sâu trong tâm trí của Dần điều đó trở thành một nổi ám ảnh vây lấy cuộc sống của Dần “Ai sẵn lòng mến tôi đôi chút thì nói hay cho tôi, ai ghét bỏ tôi thì đổ vào

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh – Bích Thu (chủ biên) (2001), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh – Bích Thu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
2. Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu – Nguyễn Trác – Nguyễn Hoành Khung – Lê Chí Dũng – Hà Văn Đức (2009), Văn học Việt Nam (1900- 1945),Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900- 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu – Nguyễn Trác – Nguyễn Hoành Khung – Lê Chí Dũng – Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
3. Nguyễn Đăng Điệp (2005), Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
5. Phương Lựu (chủ biên) (2002), Lí luận văn học, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học, tập 1
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2002
6. Phương Lựu (Chủ biên) (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
7. Huỳnh Lý- Hoàng Dung- Nguyễn Hoành Khung (1978), Lịch sử văn học Việt Nam, tập 5, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam, tập 5
Tác giả: Huỳnh Lý- Hoàng Dung- Nguyễn Hoành Khung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1978
8. Nguyễn Đăng Mạnh (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 7, quyển 2, Văn học giai đoạn 1900 – 1945, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 7, quyển 2, Văn học giai đoạn 1900 – 1945
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
9. Nguyễn Đăng Mạnh – Bùi Duy Tân – Nguyễn Như Ý (2004), Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường , Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh – Bùi Duy Tân – Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
10. Vũ Ngọc Phan (2000), Những năm tháng ấy, tập 2, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những năm tháng ấy, tập 2
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000
11. Vũ Ngọc Phan (2005), Nhà văn hiện đại, tập 2, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại, tập 2
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
12. Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1998
13. Ngô Văn Phú – Phong Vũ – Nguyễn Phan Hách (2000), Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX, tập 7, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX, tập 7
Tác giả: Ngô Văn Phú – Phong Vũ – Nguyễn Phan Hách
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000
15. Bùi Việt Thắng (Biên soạn) (2000), Bàn về tiểu thuyết, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tiểu thuyết
Tác giả: Bùi Việt Thắng (Biên soạn)
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2000
16. Phan Trọng Thưởng – Nguyễn Cừ - Vũ Thanh – Trần Nho Thìn (2007), Mười thế kỷ bàn luận về văn chương, Nxb Giáo dục, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười thế kỷ bàn luận về văn chương
Tác giả: Phan Trọng Thưởng – Nguyễn Cừ - Vũ Thanh – Trần Nho Thìn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
17. Trần Mạnh Tiến (2001), Lí luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
Tác giả: Trần Mạnh Tiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
18. Mạnh Phú Tư (1983), Sống nhờ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống nhờ
Tác giả: Mạnh Phú Tư
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1983
19. Mạnh Phú Tư (2010), Tuyển tập văn xuôi, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn xuôi
Tác giả: Mạnh Phú Tư
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2010
14. Trần Đình Sử - Phương Lựu – Nguyễn Xuân Nam (1986), Lí luận văn học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w