Phần “Sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác” đề cập đến sự cần thiết của việc sử dụng tài liệu tham khảo ngoài sách giáo khoa trong dạy học lịch sử.. Khóa luận tốt nghiệp
Trang 1Sinh viên thực hiện : Lê Thị Hồng Chuyên ngành : ư phạm Lịch sử
gười hướng dẫn : ThS Nguyễn Mạnh Hồng
Đà Nẵng, 05/2016
Trang 2Sau quá trình thu thập tài liệu, tìm hiểu, mặc dù gặp một số khó khăn nhưng đến nay khóa luận của tôi đã hoàn thành Để có được một bài khóa luận hoàn chỉnh như ngày hôm nay, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ nhiều phía cá nhân, đơn vị
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Hồng, người đã trực tiếp hướng dẫn, theo sát tôi trong suốt quá trình để hoàn thành khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, phòng học liệu, các thầy cô giáo bộ môn trong khoa đã tận tình chỉ bảo tôi tránh được những sai sót và có sự bổ sung cho khóa luận hoàn chỉnh
Do điều kiện về thời gian và trình độ của bản thân, khóa luận của tôi còn nhiều thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận được những góp ý của quý Thầy, Cô và các bạn
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016
SVTH: Lê Thị Hồng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 2
3 ối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 hương pháp nghiên cứu 4
5 óng góp của đề tài 5
6.Cấu trúc khóa luận 5
NỘI DUNG 6
ƯƠ 1 6
Ơ Ở LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤ Ư ỆU CA DAO TRONG D Y L CH SỬ 6
1.1 ơ sở lý luận 6
1.1.1.Nguồn tư liệu văn học dân gian nói chung, tư liệu ca dao nói riêng trong dạy học lịch sử 6
1.1.1.1.Tư liệu văn học dân gian 6
1.1.1.2.Tư liệu ca dao trong dạy học lịch sử 9
1.1.2.Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 10
1.1.2.1.Về giáo dưỡng 11
1.1.2.2.Về giáo dục 12
1.1.2.3.Về phát triển 13
1.2 ơ sở thực tiễn 14
ƯƠ 2 CA DAO PHỤC VỤ NỘI DUNG D Y H C L CH SỬ ƯƠ , ỚP 12 ( ƯƠ Ì UẨN) Ở ƯỜNG THPT 16
2.1.Nội dung cơ bản trong chương “Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954” sách giáo khoa lớp 12 (chương trình chuẩn), ở trường THPT 16
2.1.1.Bài 17: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946 16
2.1.2.Bài 18: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 -1950) 17
2.1.3.Bài 19: Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 - 1953) 17
Trang 42.1.4.Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 -
1954) 17
2.2 ác tư liệu ca dao được sử dụng để dạy học các bài lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) sách giáo khoa lớp 12, trường THPT 18
ƯƠ 3 ƯU ẦM VÀ SỬ DỤNG CA DAO GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤ ƯỢNG D Y H C L CH SỬ VIỆT NAM (1945 - 1954) ( ƯƠ TRÌNH CHUẨN) Ở ƯỜ Ê A BÀN THÀNH PHỐ
N NG 30
3.1.Những nguyên tắc chung đối với việc sử dụng tư liệu ca dao để dạy học các bài lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) 30
3.1.1.Phải nắm vững yêu câu chương trình và nội dung môn học 30
3.1.2.Đảm bảo tính Đảng và tính khoa học 31
3.1.3.Phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động nhận thức lịch sử 33
3.2.Các hình thức và biện pháp sử dụng tư liệu ca dao để dạy học các bài lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp (1945- 1954) sách giáo khoa lớp 12, trường THPT 34
3.2.1.Sử dụng ca dao để giới thiệu bài mới gây hứng thú cho học sinh ngay từ đầu 34
3.2.2.Đưa vào bài giảng một câu, một bài ca dao nhằm minh họa những sự kiện đang học, làm cho nội dung bài học thêm phong phú, giờ học thêm sinh động 35
3.2.3.Sử dụng ca dao kết hợp với đồ dùng trực quan 38
3.2.4.Sử dụng ca dao để củng cố nội dung bài học ở cuối bài 39
3.2.5.Sử dụng ca dao trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 40
3.2.6.Sử dụng ca dao để tổ chức trò chơi lịch sử 41
3.3.Thực nghiệm sư phạm 42
3.3.1.Mục đích và yêu cầu của việc thực nghiệm sư phạm 42
3.3.2.Nội dung và phương pháp thực nghiệm 42
3.3.2.1.Nội dung thực nghiệm 42
3.3.2.2.Phương pháp thực nghiệm 42
3.3.3.Đối tượng thực nghiệm 43
3.3.4.Kết quả thực nghiệm sư phạm 43
KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 49
Trang 5MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử nhân loại đã bước sang thế kỉ XXI, với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, đã làm nền móng cho sự phát triển của kinh tế tri thức Sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục trong nhà trường, đồng thời đòi hỏi giáo dục phải cung cấp được nguồn nhân lực có trình độ cao
Đại hội XI của Đảng đã xác định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu
Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp ”
Cùng với công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi giáo dục phổ thông phải phải tạo ra những con người phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Thông qua việc học tập bộ môn lịch sử, học sinh
có cái nhìn đúng đắn, khách quan về quá khứ, định hướng tương lai Với đặc trưng riêng của mình, bộ môn lịch sử góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục và đào tạo Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, bộ môn lịch sử ở trường phổ thông chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng giảng dạy còn thấp, chưa có nhiều chuyển biến tích cực Kết quả của các bài kiểm tra, các kì thi chuyển cấp, tốt nghiệp và thi đại học, cao đẳng đã và đang phản ánh thực trạng lịch sử, học sinh học lịch sử chỉ để đối phó Chính vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nói riêng đang là vấn đề rất cần thiết
Trong dạy học lịch sử, kiến thức trong sách giáo khoa là nội dung cơ bản mà học sinh phải nắm, nhưng nếu giáo viên chỉ thụ động dạy một cách máy móc với những kiến thức đó sẽ khiến cho bài học trở nên khô khan, nhàm chán, học sinh không có hứng thú để tiếp nhận kiến thức Để mở rộng kiến thức và tăng hứng thú trong học tập cho học sinh, đòi hỏi người giáo viên phải thường xuyên trau dồi, tìm kiếm tài liệu thành văn ngoài sách giáo khoa để đưa vào bài giảng, trong đó có tư liệu ca dao Việc sử dụng tư liệu ca dao có ý nghĩa vô cùng to lớn và quan trọng Việc sử dụng tư liệu ca dao giúp học sinh hiểu hơn về lịch sử dân tộc đã đi vào
Trang 6trong nhân dân, trong lịch sử với những câu từ rất giản dị nhưng hàm chứa một ý nghĩa to lớn và sâu sắc, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho học sinh, giúp các em có động cơ học tập
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 là thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp đầy khó khăn và gian khổ đồng thời cũng đã thu được những thắng lợi vẻ vang Việc sử dụng tư liệu ca dao sẽ có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong việc dạy học, tạo hứng thú học tập, hình thành tri thức lịch sử cho học sinh
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: “ ưu tầm và sử dụng ca dao góp
phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam (1945 - 1954) ( hương trình chuẩn) ở trường THPT” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Sử dụng tư liệu ca dao trong dạy học lịch sử có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học bài Chính vì vậy vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu lý luận dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Liên quan tới đề tài trước đây có một số công trình nghiên cứu
Cuốn sách “Chuẩn bị giờ học như thế nào?” của Tiến sĩ Đairi, xuất bản năm
1793 Tiến sĩ đã đưa ra một sơ đồ (sơ đồ Đairi) thể hiện mối quan hệ giữa sách giáo khoa - bài giảng và tài liệu bổ sung Theo Tiến sĩ Đairi, ngoài sách giáo khoa, tài liệu tham khảo có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong việc làm phong phú kiến thức lịch
sử đang học, hiểu sâu quá khứ, tạo bải giảng hấp dẫn sinh động, có sức lôi cuốn học sinh Nhưng trên thực tế, Đairi chưa đi vào trình bày cụ thể phương pháp sử dụng như thế nào để đạt hiệu quả
Cuốn sách “Phương pháp dạy học lịch sử” do giáo sư Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, xuất bản năm 2002 Phần “Sử dụng sách
giáo khoa và các tài liệu học tập khác” đề cập đến sự cần thiết của việc sử dụng tài
liệu tham khảo ngoài sách giáo khoa trong dạy học lịch sử Tác giả đã đề cập đến việc cần thiết phải sử dụng tài liệu văn học dân gian, trong đó có ca dao Theo tác
giả “Các loại hình văn học dân gian không chỉ góp phần minh họa những sự kiện
lịch sử mà còn làm cho bài giảng thêm sinh động, tạo được không khí gần gũi với bối cảnh lịch sử sự kiện đang học Nó phản ánh những hiểu biết về các sự kiện lịch sử sử dụng tài liệu văn học dân gian, giáo viên có thể tiến hành có kết quả việc
Trang 7giáo dục tư tưởng, đạo đức nói chung, giáo dục truyền thống dân tộc nói riêng” [9,
tr.156 - 157]
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phan Thị Ái Liên, Trường Đại học Sư
phạm Huế (1988) với đề tài “Sử dụng ca dao, hò, vè dân gian phục vụ việc giảng
dạy lịch sử” đã đề cập một số tư liệu ca dao được sử dụng phù hợp trong giảng dạy
lịch sử và đưa ra một số biện pháp, hình thức sử dụng ca dao một cách hợp lý và hiệu quả
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên dù ở những góc độ nghiên cứu khác nhau đều đề cập tới việc vận dụng tư liệu ca dao trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Tuy nhiên trên thực tế chưa có công trình nào giải quyết một cách cụ thể, đầy đủ về phương pháp sử dụng tư liệu ca dao trong dạy học lịch sử phần kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) Đề tài mà tôi nghiên cứu sẽ cố gắng làm rõ các nhiệm vụ mà các tài liệu trên chưa giải quyết được, mặt khác góp phần
bổ sung thêm nguồn tài liệu cần thiết để dạy học lịch sử phần kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) ở trường THPT
3 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 ối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Sử dụng tư liệu ca dao nâng cao chất lượng dạy học lịch sử trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), sách giáo khoa lịch sử lớp 12 (Chương trình chuẩn) ở Trường trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng được xác định như trên, đề tài không nghiên cứu sâu lí luận về khái niệm ca dao, nhưng đi sâu tìm hiểu, phân tích nội dung các câu ca dao để tiến hành vào dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954, có hiệu quả tốt
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Xác định nội dung, hình thức và biện pháp sư phạm cần thiết để sử dụng tư liệu ca dao có hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy - học phần kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) về giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
Trang 84.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài là:
- Tìm hiểu chương trình, SGK lớp 12 (chương trình chuẩn)
- Tiến hành điều tra cơ bản việc sử dụng tư liệu ca dao trong dạy học lịch sử phần kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945 - 1954 ở trường THPT hiện nay
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc sử dụng tư liệu ca dao trong dạy học lịch sử nói chung và ý nghĩa của việc sử dụng ca dao
- Lựa chọn được hệ thống tư liệu ca dao phù hợp để vận dụng vào giảng các bài lịch sử phần kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)
- Đưa ra được những biện pháp và hình thức sử dụng tư liệu ca dao trong dạy học lịch sử phần Kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) lớp 12 (Chương trình chuẩn) ở trường THPT có hiệu quả
- Tiến hành thực nghiệm giáo dục để kiểm tra, đánh giá tính khả thi của đề tài
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện khóa luận này, chúng tôi sử dụng các tài liệu từ các sách chuyên khảo, một số công trình nghiên cứu, các tài liệu trên các trang wed liên quan đến phương pháp lịch sử, cũng như nhiều tài liệu tham khảo khác
5.2 hương pháp nghiên cứu
Là một đề tài thuộc phạm trù khoa học giáo dục liên quan đến khoa học lịch
sử, tôi chọn các phương pháp sau:
5.2.1 hương pháp sưu tầm và nghiên cứu tài liệu
Tiến hành sưu tầm và nghiên cứu, lựa chọn và sắp xếp các loại tài liệu cần thiết cho đề tài, sau đó tiến hành tập hợp, so sánh, đối chiếu chọn lọc nội dung chính xác, khách quan, khoa học phù hợp với chương trình và đối tượng nhận thức của học sinh ở trường THPT để sử dụng
5.2.2 hương pháp điều tra cơ bản
Để nắm rõ thực tiễn việc sử dụng tư liệu ca dao trong dạy học lịch sử ở trường THPT, tôi sẽ tiến hành điều tra về tình hình sử dụng tư liệu ca dao của giáo viên dạy
sử ở trường THPT và điều tra nhận thức của học sinh qua trao đổi, quan sát giờ dạy
và qua hệ thống câu hỏi trắc nghiệm
Trang 95.2.3 hương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học và đặc biệt là các nhà giáo giàu kinh nghiệm về phương pháp dạy học nhằm góp phần hoàn thành tốt đề tài và đưa các biện pháp sư phạm vào thực tế dạy học
Đề tài hoàn thành sẽ góp phần sưu tầm được một hệ thống các câu ca dao phục
vụ cho việc giảng dạy phần lịch sử Việt Nam (1945 - 1954) Đồng thời đề tài cũng đưa ra một số phương pháp để sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử phần kháng chiến chống Pháp, qua đó góp phần khắc sâu kiến thức, làm phong phú hơn bài giảng về lịch sử Việt Nam giai đoạn này
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm 3 chương, tài liệu tham khảo và phụ lục:
hương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng ca dao trong dạy học
lịch sử
hương 2: Ca dao phục vụ nội dung dạy học lịch sử phần kháng chiến chống
Pháp (1945 - 1954), SGK lớp 12 (Chương trình chuẩn)
hương 3: Sưu tầm và sử dụng ca dao góp phần nâng cao chất lượng dạy học
lịch sử Việt Nam (1945 - 1954) (Chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 10NỘI DUNG
ƢƠ 1
Ơ Ở LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤ Ƣ
LIỆU CA DAO TRONG D Y L CH SỬ
cứu Xô Viết cho rằng: “Tư liệu lịch sử là tất cả những gì phản ánh trực tiếp quá
trình lịch sử và cho ta khả năng nghiên cứu quá khứ của xã hội loài người Nghĩa là tất cả những di sản của xã hội loài người dưới dạng các hiện vật của nền văn hóa vật chất, cho phép ta nhận thức về đạo đức, tập quán và ngôn ngữ của dân tộc”
Trong các nhóm tư liệu lịch sử, việc sử dụng văn học dân gian có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu, nhận thức và giảng dạy lịch sử
Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay
Ở Việt Nam, 3 thuật ngữ sau đây được xem là tương đương: Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ (folkore văn học)
Một số khái niệm xuất hiện trước những năm 50 của thế kỉ XX như văn học (văn chương) bình dân, văn học (văn chương) truyền khẩu (truyền miệng), văn học (văn chương) đại chúng Những khái niệm này nay không dùng nữa
Về khái niệm folklore:
Thuật ngữ folklore do nhà nhân chủng học người Anh, ông William Thoms dùng trong bài báo đăng trên tờ Athenaeum, ngày 22/8/1846, với ý nghĩa là những
di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là di tích của nền văn hoá tinh thần như phong tục, đạo đức, tín ngưỡng, những bài dân ca, những câu chuyện kể của cộng
Trang 11đồng Sau khi xuất hiện, thuật ngữ này được hiểu với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, liên quan tới đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là văn hóa dân gian với những ý nghĩa sau:
Nghĩa rộng: bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do dân chúng sáng tạo (folk culture) Theo cách hiểu này, văn hoá dân gian là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời nó cũng là đối tượng nghiên cứu của văn hoá học
Nghĩa hẹp: Những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, văn hóa dân gian gồm ba thành tố: Nghệ thuật ngữ văn dân gian (tức văn học dân gian), nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật diễn xướng dân gian
Nghĩa chuyên biệt: folklore là văn học dân gian, theo đó tác phẩm folklore là hình thức ngôn từ gắn với nhạc, vũ, kịch do tập thể dân chúng sáng tác Cũng có thể dùng thuật ngữ folklore văn học để chỉ văn học dân gian đồng thời phân biệt nó với các đối tượng khác cũng thuộc phạm trù folklore - văn hoá văn dân gian
* ặc trƣng cơ bản của văn học dân gian
Tính nguyên hợp của văn học dân gian
Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở sự hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại của nó Có thể nói rằng, văn học dân gian là bộ bách khoa toàn thư của nhân dân Tính nguyên hợp về nôi dung của văn học dân gian phản ánh tình trạng nguyên hợp về ý thức xã hôi thời nguyên thuỷ, khi
mà các lĩnh vực sản xuất tinh thần chưa được chuyên môn hoá Trong các xã hội thời kỳ sau, mặc dù các lĩnh vực sản xuất tinh thần đã có sự chuyên môn hoá nhưng văn học dân gian vẫn còn mang tính nguyên hợp về nội dung Bởi vì đại bộ phận nhân dân, tác giả văn học dân gian, không có điều kiện tham gia vào các lĩnh vực sản xuất tinh thần khác nên họ thể hiện những kinh nghiệm, tri thức, tư tưởng tình cảm của mình trong văn học dân gian, một loại nghệ thuật không chuyên
Về loại hình nghệ thuật: Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở chỗ: Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có
Trang 12ngay từ khi tác phẩm mới hình thành Một bài dân ca trong đời sống thực của nó, không chỉ có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát
Biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn Văn học dân gian có ba dạng tồn tại: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian), tồn tại cố định (tồn tại bằng văn tự), tồn tại hiện (tồn tại thông qua diễn xướng) Tồn tại bằng diễn xướng là dạng tồn tại đích thực của văn học dân gian Tuy nhiên, không thể phủ nhận hai dạng tồn tại kia; bởi vì như vậy sẽ dẫn tới phủ nhận khoa học về văn học dân gian và công việc giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường Trở lại vấn đề, chính trong biểu diễn, các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp Sự kết hợp này một mặt là biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn tại của tính nguyên hợp
Tính tập thể của văn học dân gian
Văn học dân gian là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác giả của văn học dân gian Cần chú ý vai trò của cá nhân và quan hệ giữa
cá nhân với tập thể trong quá trình sáng tác, biểu diễn, thưởng thức tác phẩm văn học dân gian
Tính tập thể thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác phẩm Vấn đề quan trọng ở chỗ nó được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay không, nó đã đạt mức thành tựu hay không Trong quá trình đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm
Quan hệ giữa truyền thống và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa cá nhân
và tập thể Truyền thống văn học dân gian một mặt là cái vốn giúp nghệ nhân dân gian ứng tác (sáng tác một cách chớp nhoáng mà không có sự chuẩn bị trước) dễ dàng, một mặt quy định khuôn khổ cho việc sáng tác Ứng tác đến lượt nó sẽ cung cấp những đơn vị làm giàu cho truyền thống
Hai đặc trưng cơ bản vừa nêu trên có liên quan chặt chẽ với các đặc trưng khác của văn học dân gian như: tính khả biến (gắn với việc tồn tại các dị bản của tác phẩm), tính truyền miệng, tính vô danh
Trang 13Văn học dân gian - một loại nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt của nhân dân
Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân Sinh hoạt nhân dân là môi trường sống của tác phẩm văn học dân gian Tác phẩm văn học dân gian có tính ích dụng Bài hát ru gắn với việc ru con ngủ - một hình thức sinh hoạt gia đình; Ngược lại, việc ru con ngủ thường không thể thiếu lời ru Tương tự, những bài dân ca nghi lễ, các truyền thuyết gắn với tín ngưỡng, lễ hội Từ đặc trưng này mà văn học dân gian có tính đa chức năng, trong đó, đặc biệt
là chức năng thực hành sinh hoạt
1.1.1.2 ƣ liệu ca dao
Ca dao là một bộ phận của văn học Nó không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật dân gian mà còn tâm thức của dân gian về những hiện tượng lịch sử, xã hội nhất định Ca dao phản ánh lịch sử trực tiếp hoặc gián tiếp, ở những góc độ, những cung bậc khác nhau Kí ức dân gian về các sự kiện, hiện tượng lịch sử trong ca dao thì thường không được ghi rõ về mốc thời gian, nhưng nó rất dễ nhớ bởi nó thường được diễn đạt bởi thể thơ lục bát, bằng những hình ảnh sinh động và phản ánh rất chân thực cái nhìn của dân gian về các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà nhân dân quan tâm
Tóm lại, ca dao là bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, có vần điệu, theo thể thơ lục bát, lục bát biến thức hay thơ bốn chữ, thơ năm chữ
Ca dao là thi ca truyền miệng, mô tả phong tục tập quán, về thời tiết, về kinh nghiệm thiên văn học của người xưa
Ca dao của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền đều có âm điệu, phong cách riêng biệt Từ bao đời nay, ca dao gắn bó với đời sống văn hóa, tinh thần của các dân tộc trên khắp đất nước Việt Nam
Người ta thường dựa vào chức năng và hệ thống đề tài mà phân chia thành: ca dao ru con, ca dao tình yêu, ca dao về tình cảm gia đình, ca dao trào phúng, ca dao than thân…
Có thể coi ca dao là tiếng hát trái tim của người lao động, là thơ trữ tình dân gian Đây là thể loại tiêu biểu về số lượng và chất lượng Ca dao có hàng mấy chục
Trang 14vạn bài và vẫn đang được tiếp tục sưu tầm Với hình thức ngắn, gọn, có vần điệu, nó
dễ nhớ, dễ thuộc dễ đi vào quần chúng
Ca dao có sự gắn bó trực tiếp với đời sống lao động của xã hội, có sự gắn bó rất khăng khít giữa nhạc và lời và có tính chất phiến đoạn Nó tồn tại như một mảnh cảm xúc, được cất lên trong hoàn cảnh nhất định, do ngẫu hứng mà sáng tác tại chỗ nên hồn nhiên, tươi mát
Nội dung của ca dao rất phong phú Giống như văn học dân gian nói chung, ca dao phản ánh toàn bộ cuộc sống của nhân dân lao động nhưng nghiêng về phản ánh đời sống tình cảm là chủ yếu Vì vậy có thể nói, ca dao chính là thể loại trữ tình tiêu biểu nhất của dân gian Ngoài việc phản ánh một cách tinh tế đời sống tâm hồn phong phú của người lao động, ca dao còn đề cập đến một cách khá toàn diện đời sống sinh hoạt và tinh thần đấu tranh chống bất công xã hội, tinh thần yêu nước đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân
Việc sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử, không chỉ làm cho bài học trở nên mềm mại, bớt sự khô khan, đơn điệu mà còn giúp học sinh rất dễ nhớ, dễ hình dung
về các sự kiện hiện tượng lịch sử được cung cấp trong bài học
Vì vậy, chúng ta cũng có thể khai thác ca dao như là một nguồn tư liệu bổ ích phục vụ cho các bài giảng lịch sử
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu ca dao trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó: “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” Sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử là một phương
pháp dạy học tích cực nhằm phát huy đầy đủ cả về giáo dục, giáo dưỡng và phát triển cho học sinh
Trang 15Ca dao ra đời từ cuộc sống thường nhật của người dân, nó phản ánh một cách chân thực, mộc mạc những gì xảy ra hằng ngày, viết theo lối lục bát, có vần tứ giúp cho câu ca dao dễ đọc, dễ ghi nhớ, tạo được hứng thú cho học sinh, học sinh nắm bắt được kiến thức dễ dàng và không bị nhàm chán
Ví dụ: Khi dạy bài 17, mục II 3 để minh họa cho việc giải quyết nạn dốt, giáo
viên đọc một số câu ca dao:
“Ru con con ngủ đi thôi,
Mẹ còn đi học kiếm đôi ba vần
Muốn tròn bổn phận công dân,
Mà không biết chữ trăm phần xấu xa.”
Ví dụ: khi dạy bài 17, mục II 1 để minh họa cho học sinh thấy được công cuộc
xây dựng chính quyền cách mạng, giáo viên đọc bài ca dao:
“Tổng tuyển cử đã đến rồi
Vì quyền vì lợi mấy lời nên ghi Đồng bào thận trọng lá thăm Lựa người định rõ mà chăm bỏ vào
Để giành quyền lợi tối cao Mới an số phận đồng bào Việt Nam”
[28, tr.64]
Trang 16Sau khi đọc bài ca dao, giáo viên có thể hỏi học sinh, bài ca dao trên liên quan đến vấn đề gì của nước ta sau năm 1945? Qua đó giúp các em thấy được khó khăn của đất nước và biện pháp cấp bách trước tiên của Đảng và Nhà nước là xây dựng chính quyền cách mạng Các em nhận thấy được tính ưu việt của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Như vậy, sử dụng ca dao vào dạy học lịch sử không chỉ góp phần minh họa sự kiện lịch sử, giúp học sinh hiểu được bản chất của sự kiện mà chính ca dao là nguồn
sử liệu giúp các em hiểu sâu hơn về sự kiện đó Đồng thời nó làm cho vốn tri thức của học sinh thêm sinh động và phong phú Góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho học sinh
1.1.2.2 Về giáo dục
Trong quá trình giảng dạy ngoài việc truyền đạt kiến thức giáo viên còn phải lồng ghép nội dung giáo dục tư tưởng, tình cảm, đó là tình yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc, tự hào về truyền thống đấu tranh của dân tộc nhưng thực ra người dạy không cần nói nhiều, đôi khi lại gây tác dụng ngược lại Nếu giáo viên biết khéo léo sử dụng ca dao để giáo dục tư tưởng thì hiệu quả đem lại sẽ cao hơn, học sinh dễ nắm bắt hơn
Ví dụ: khi dạy bài 20, mục IV 1 “Nguyên nhân thắng lợi”, giáo viên có thể sử
dụng bài ca dao sau:
“Sông Gianh nước chảy mấy dòng Lòng em có khác chi lòng anh đâu Hai ta lương giáo mặc dầu, Cùng chung Tổ quốc, cùng sầu nước non Một ngày nhiệm vụ chưa tròn Một ngày dân tộc hãy còn thương đau Hai ta quyết sát vai nhau, Xông ra chiến địa đuổi mau quân thù”
[28, tr.86]
Qua bài ca dao trên giúp các em biết được, nhận thấy được sự đoàn kết, gắn bó
là một trong những nguyên nhân giúp nhân dân ta vượt qua bao khó khăn, đánh thắng kẻ thù xâm lược Qua đó góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em và giúp các em nhận ra trong bất cứ thời đại nào, đoàn kết cũng luôn tạo nên sức mạnh
Trang 17to lớn, từ đó gắn kết thêm tình cảm, sự đoàn kết của các em trước hết là đối với bạn
bè cùng lớp và sau đó là tất cả mọi người
1.1.2.3 Về phát triển
Sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử Việt Nam không chỉ cung cấp kiến thức
cơ bản về khoa học lịch sử, giáo dục tư tưởng tình cảm mà còn góp phần phát triển năng lực tư duy lôgic, tư duy lịch sử và rèn luyện phương pháp khoa học cho học sinh khi xem xét các hiện tượng lịch sử
Phương pháp giáo dục là phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say
mê học tập và ý chí vươn lên Sử dụng ca dao vào dạy học lịch sử sẽ giúp các em bồi dưỡng năng lực tự học, tự tìm kiếm và phát huy khả năng của mình, kĩ năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh trong học tập
Ví dụ: khi nói đến công lao của chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo viên có thể trích
Với tất cả ý nghĩa về giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, sưu tầm và sử dụng
ca dao vào dạy học lịch sử ở trường THPT góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học, học tập lịch sử ở trường THPT Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vận dụng phương pháp mà người giáo viên cần phải lựa chọn, kết hợp với các phương pháp và lựa chọn hình thức như thế nào cho phù hợp với từng nội dung của bài học cụ thể để đem lại hiệu quả cao Không nên vận dụng một cách máy móc, rập khuôn gây ra sự nhàm chán cho người học, để đạt dược mục tiêu giáo dục đề ra theo hướng phát triển học sinh một cách tích cực, năng động, sáng tạo, toàn diện cả về tri thức, phẩm chất đạo đức cũng như năng lực tư duy
Từ những ý nghĩa đó, việc sử dụng tài liệu văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng trong dạy học lịch sử có ý nghĩa lớn đối với việc nhận thức quá khứ,
Trang 18giáo dục tư tưởng, tình cảm, hành động cho học sinh cũng như phát triển năng lực nhận thức cho học sinh
1.2 ơ sở thực tiễn
Từ thực tế giáo dục hiện nay đòi hỏi phải có những phương pháp mới trong dạy học lịch sử nhằm đưa lại kết quả cao hơn, chất lượng tốt hơn mà trước tiên phải tạo không khí học tập mới cho học sinh để tránh lối học thầy đọc trò chép và suy nghĩ lịch sử là một môn học khô khan, nhàm chán mà thay vào đó là sự hứng thú của các em trong mỗi tiết học, phát huy được khả năng tư duy của học sinh Nhận thấy được ý nghĩa và vai trò của việc sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử Việt Nam, dựa trên những điều rút ra từ cơ sở lí luận, chúng tôi đi vào tìm hiểu tình hình sưu tầm và sử dụng ca dao góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 ở hai trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
* Về phía học sinh, tôi xây dựng 10 câu hỏi trắc nghiệm (xem phụ lục 2) để
kiểm tra 180 học sinh ở hai trường THPT (Đà Nẵng): Trường THPT Thanh Khê và THPT Thái Phiên vào học kỳ 1 năm học 2015 - 2016 với mục đích như sau:
- Tìm hiểu về sự hiểu biết về ca dao lịch sử của học sinh (câu 2; 4; 5) (phụ lục 2)
Qua kết quả điều tra (phụ lục 4), tôi thấy rằng học sinh ở các trường THPT
biết rất ít về ca dao lịch sử và phần đa các em biết đến ca dao thông qua các trang tìm kiếm trên internet
- Điều tra mức độ hứng thú và hiểu bài của các em học sinh như thế nào khi sử dụng ca dao vào giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 (câu 1, 3, 8)
(phụ lục 2)
Từ kết quả điều tra (phụ lục 4), chúng tôi nhận thấy rằng việc sử dụng ca dao
trong dạy học lịch sử đã tạo cho các em hứng thú hơn với bài học, tuy nhiên số lượng này chưa cao
- Điều tra học sinh góp phần xác định xem phương pháp dạy học của giáo viên
có phù hợp với đặc trưng bộ môn hay không? (câu 6, 7, 9, 10) (phụ lục 2)
Thông qua điều tra (phụ lục 4), tôi thấy rằng việc sử dụng ca dao trong dạy
học lịch sử của giáo viên chưa được áp dụng thường xuyên và phương pháp áp dụng
Trang 19chưa thực sự phù hợp Điều này cũng đã dẫn đến chất lượng học tập môn lịch sử chưa đạt được kết quả cao
Như vậy, từ kết quả điều tra, chúng tôi thấy được thực trạng sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử ở trường THPT còn rất hạn chế Học sinh chưa hiểu biết về ca dao trong giai đoạn 1945 - 1954
* Về phía giáo viên, chúng tôi xây dựng 10 câu hỏi (phụ lục 3) để thăm dò ý
kiến của 15 giáo viên theo 3 nội dung sau:
- Tìm hiểu tình hình sưu tầm và sử dụng ca dao của giáo viên trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954
- Tìm hiểu quan điểm của giáo viên về sự cần thiết của việc sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954
- Tìm hiểu về biện pháp sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử của giáo viên nhằm mục đích gì?
- Tìm hiểu nguyên nhân khiến cho việc sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử
bị hạn chế
Thông qua việc xử lí và tổng hợp các phiếu điều tra thu được (phụ lục 5)
Chúng tôi nhận thấy rằng: các thầy (cô) đều cho rằng việc sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng giúp học sinh tái tạo lại những hình ảnh của các sự kiện đã xảy ra Tạo nên sự nhận thức cụ thể về các sự kiện, sự phát triển đi lên của lịch sử dân tộc Để nâng cao hiệu quả dạy học, các giáo viên muốn sử dụng ca dao vào dạy học lịch sử gặp những điều kiện khách quan và chủ quan nên hiệu quả vẫn chưa cao Thực tế cho thấy rằng thời gian học dành cho môn lịch sử là rất ít, chưa được phụ huynh và học sinh xem
là một môn học chính trong các kì thi Bên cạnh đó thời gian trên lớp dành cho 1 tiết học sử lại rất ít trong khi kiến thức lịch sử lại quá nhiều, cũng như thái độ của các em đối với môn học chưa cao, điều đó đã gây khó khăn cho việc dạy học môn lịch sử
Trang 20ƢƠ 2 CA DAO PHỤC VỤ NỘI DUNG D Y H C L CH SỬ ƢƠNG III, SGK LỚP 12 ( ƢƠ Ì UẨN)
bản Hiệp định Sơ bộ Với bản Hiệp định Sơ bộ là một chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng Đây là một thắng lợi lớn của ta về mặt chính trị ngoại giao, tránh được cuộc chiến đấu cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù và đẩy nhanh 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc và bọn tay sai ra khỏi nước ta
Sau Hiệp định Sơ bộ, Thực dân Pháp tiếp tục gây xung đột vũ trang ở Nam kì
và với việc thất bại trong cuộc đàm phán giữa hai bên chính phủ ở Phôngtennơblô (6/7/1946) Trước tình hình đó ngày 14/9/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với Mutê - đại diện Chính phủ Pháp - Bản Tạm ước, tiếp tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế - văn hóa ở Việt Nam Bản Tạm ước đã tạo điều kiện cho ta kéo dài thời gian hòa hoãn để xây dựng, củng cố lực lượng để bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp không thể tránh khỏi
Trang 212.1.2 Bài 18: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 -1950)
Nội dung cơ bản của bài là trình bày nguyên nhân cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ 19/12/1946 Do thực dân Pháp bội ước, đẩy mạnh chuẩn bị xâm lược nước ta Trước tình thế khẩn cấp đã buộc Đảng, Chính phủ đã có quyết định tạm thời Ngày 12/12/1946 Ban thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị toàn dân kháng chiến Từ ngày 19/12/1946 nhân dân ta đã bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp xâm lược (1946 - 1954) với niềm tin tất thắng Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến (1946 - 1954), ta đã xây dựng lực lược mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài và bước đầu giành thắng lợi quan trọng với chiến thắng Việt Bắc thu - đông năm 1947 và Biên giới thu - đông năm 1950
2.1.3 Bài 19: Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 - 1953)
Nội dung của bài là bước sang giai đoạn từ 1951 đến 1953, cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, có sự giúp đỡ của đế quốc Mĩ được đẩy mạnh đã vạch
ra kế hoạch Đờ - Lát Đơ -Tát - xi - nhi làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta, đặc biệt là vùng sau lưng địch gặp nhiều khó khăn Trước tình hình đó, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (2/1951) đã được triệu tập Đại hội đã thông qua hai bản báo cáo quan trọng và những quyết định trọng đại Bên cạnh đó lực lượng kháng chiến của ta đã trưởng thành về mọi mặt, quân dân ta giành nhiều thắng lợi to lớn và toàn diện, tiếp tục giữ vững quyền chủ động trên chiến trường
2.1.4 Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953
- 1954)
Nội dung cơ bản của bài là bước vào đông - xuân 1953 - 1954, Pháp - Mĩ đã
đề ra kế hoạch Nava âm mưu giành một thắng lợi quân sự quyết định nhằm “kết thúc chiến tranh trong danh dự” Trong bối cảnh đó, quân ta mở cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ Đây
là một thắng lợi lớn nhất, oanh liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta Thắng lợi này được ghi vào lịch sử dân tộc như một Chi Lăng, một Đống Đa của thế kỉ XX Chiến thắng Điện Biên Phủ đã buộc Pháp kí Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương
Trang 222.2 ác tư liệu ca dao được sử dụng để dạy học các bài lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) sách giáo khoa lớp 12, trường THPT
Bài 17: ước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946
Mục Kiến thức lịch sử cơ bản a dao được sử dụng
“ngàn cân treo sợi tóc”
- Bên cạnh những khó khăn, nước ta cũng có một số thuận lợi cơ bản
- Sử dụng bài ca dao để nói về nạn hạn hán:
“Hạn hán như lửa cháy nhà Lửa rơi giữa ruộng, lửa sa đầy đồng Nhìn thân cây lúa ngậm đòng Lúa ơi, lúa hỡi đau lòng lắm thay”
[9, tr.18]
=> Giáo viên sử dụng đoạn ca dao trên để giúp học sinh thấy được khó khăn về thiên tai và đây cũng là một trong những khó khăn lớn của nước ta sau khi giành được độc lập
- Sử dụng bài ca dao :
“Tổng tuyển cử đã đến rồi
Vì quyền, vì lợi mấy lời nên ghi Đồng bào thận trọng lá thăm Lựa người định rõ mà chăm bỏ vào
Để giành quyền lợi tối cao, Mới an số phận đồng bào Việt Nam”
[28, tr.64]
=> Sử dụng đoạn ca dao để làm rõ sự kiện cổ động Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 để củng cố chính quyền của cách mạng
Trang 23và lâu dài để giải quyết nạn đói
- 8/9/1945, thành lập “Nha bình dân học vụ”
- Phong trào xóa nạn mù chữ
- Sử dụng bài ca dao để nói về biện pháp trước mắt giải quyết nạn đói là lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm”:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Theo gương Bác Hồ cả nước đồng tâm” [28, tr.63]
- Biện pháp lâu dài là tăng gia sản xuất:
“Anh đi ra trận diệt thù
Em về vun xới một khu vườn nhà Trồng khoai, trồng đậu trồng cà Tăng gia sản xuất nuôi gà nuôi heo”
[28, tr.67]
=> Sử dụng những câu ca dao trên thể hiện rõ cho học sinh biết được những biện pháp mà chính phủ ta đề ra để giải quyết nạn đói và nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân
- Sử dụng bài ca dao để nói về lớp học bình dân học vụ:
“Lớp “bình dân” mở không xa, Cách một lối rẽ, cách ba dặm trầu
Ta học quốc ngữ cho thông Kẻo mà hổ thẹn, cùng chồng ai ơi”
[28, tr.65]
- Phong trào xóa nạn mù chữ:
“Anh ơi bỏ nón tôi ra
Để tôi đi chợ kẻo mà chợ trưa Chợ trưa thì mặc chợ trưa
Ai chưa biết chữ thì chưa cho vào”
[28, tr.63]
Trang 24=> Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, phong trào đã được đông đảo quần chúng nhân dân nhiệt tình hưởng ứng
- Sử dụng câu ca dao:
“Hỡi những tư gia có bạc vàng, Làm sao giúp ích được giang san Quốc gia trong lúc đang cần thiết Mình giữ tư trang lại ích gì”
[28, tr.65]
=> Giáo viên sử dụng đoạn ca dao này để nói lên tinh thần chiến đấu của nhân dân Nam Bộ Từ Bắc Bộ và Trung Bộ, Những đoàn quân Nam tiến hăng hái lên đường vào Nam để cùng Nam Bộ kháng chiến
Trang 25Bài 18: : Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 -1950)
Mục Kiến thức lịch sử cơ bản a dao đƣợc sử dụng
và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế
- Thu - đông năm 1947, Pháp huy động 12000 quân
Âu - Phi tinh nhuệ tấn công lên Việt Bắc
- Sử dụng bài ca dao:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một loài Đôi ta nào phải người ngoài
Vì quân hiểm độc toan bài phân chia Lời thề còn đó trơ trơ, Nước non chung sức dựng cờ vinh quang”
[7, tr.23 ]
=> Giáo viên sử dụng bài ca dao để nói rõ về phương châm kháng chiến toàn dân
- Sử dụng bài ca dao:
“Ai qua phố cũ Đoan Hùng, Hỏi rằng còn nhớ voi gầm sông Lô? Rừng xanh khói lửa mịt mù, Nước sông đỏ máu quân thù chưa phai Luyện quân cố luyện cho tài Lập công voi xé một vài ca nô, Dòng sông nước đục lờ đờ, Bên kia bãi cát, nấm mồ thực dân”
[28, tr.64]
=> Giáo viên sử dụng bài ca dao để giúp học sinh thấy được cuộc tấn công lên Việt Bắc với âm mưu loại
bỏ đầu não khnags chiến của ta, nhanh chóng kết thúc chiến tranh Nhưng cuộc tấn công này của TDP
đã bị bẻ gãy Việt Bắc trở thành mồ chôn quân Pháp Hai trận lớn tiêu
Trang 26Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo và động viên bộ đội chiến đấu
- Sau khi quyết định mở chiến dịch Biên giới, bộ đội hăng hái lên đường ra trận
biểu là ở đường số 4 (trận Bông Lau) và trên Sông Lô (trận Đoan Hùng)
- Sử dụng bài ca dao:
“Nhớ xưa gậy trúc dép đen
Đi thăm mặt trận, Bác lên đỉnh đèo Đường rừng khúc khuỷu cheo leo, Bác đứng trên đồi, vẫy gọi con lên”
ra mặt trận, giúp cho học sinh hiểu hơn về hoàn cảnh, vai trò của chiến dịch và của Bác Hồ
Trang 27=> Giáo viên sử dụng bài ca dao để miêu tả cảnh bộ đội hăng hái lên đường ra trận “Vệ” ở đây là từ chỉ
bộ đội (Vệ quốc đoàn)
Bài 19: Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951- 1953)
Mục Kiến thức lịch sử cơ bản a dao được sử dụng
- 12/1950, Pháp cử Đờ - Lát Đờ Tát - xi - nhi sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương
thề với núi sông”
[28, tr.82]
=> Cho đến những năm 1950, cuộc trường kì kháng chiến của ta đã có những chuyển biến mạnh, giành nhiều thắng lợi quan trọng Cùng đường, thực dân Pháp phải cầu viện
đế quốc Mĩ Đế quốc Mĩ bắt đầu can thiệp vào Đông Dương Giáo viên sử dụng câu ca dao để nói lên tình thần kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Trang 28=> Giáo viên sử dụng câu ca dao với mục đích chế giễu Đờ - Lát Đờ Tát
- xi - nhi trong sự kiện 12/1950 sau khi thất bại nặng tại biên giới Việt – Trung, Chính phủ Pháp cử Đờ - Lát
Đờ Tát - xi - nhi sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương
- Tiếp tục cải cách giáo dục
Cả hai người hăng hái thi đua, Quanh năm sản xuất có thừa, Lại nhiều kinh ngiệm cày bừa, chăn nuôi”
[28, tr.77]
- Giáo viên sử dụng bài ca dao:
“Đi sâu gợi khổ, ba cùng Muốn bắt rễ tốt xin đừng có quên Phát động tư tưởng thường xuyên
Làm rễ vững bền đẩy mạnh đấu tranh,
Ai mà mù chữ tên la khắp làng”
Trang 29- Công tác vệ sinh phòng bệnh, thực hiện đời sống mới, bài trừ mê tín dị đoan ngày càng có tính chất quần chúng rộng lớn
[28, tr.76]
=> bài ca dao giúp học sinh thấy rõ tinh thần học tập của quần chúng nhân dân vẫn được duy trì và phát triển
- Sử dụng câu ca dao:
“Em là con gái thôn tư,
Em quyết không để tiếng hư cho chồng
- 3/1951, chiến dịch Hoàng Hoa Thám (chiến dịch đường số 18)
- Sử dụng bài ca dao:
“Bắc thang lên hỏi ông trời, Sao không đi ngủ cho tôi đánh đồn Trời nghe trời bỗng cười ròn,
Tớ chưa đi ngủ cậu còn thời gian Chớ nên hấp tấp vội vàng,
Có chuẩn bị kĩ mới tan đồn thù”
[28, tr.82]
=> Trong chiến dịch này bộ đội ta tiến công vào hệ thống phòng ngự địch ở Vĩnh Yên, Phúc Yên
- Sử dụng bài ca dao:
“Hờ ớ ơ ! Chiều hành quân mình gài áo lá, Xuống đồng bằng rừng cả núi theo Chữ rằng: “gánh vác giang sơn”,
Trang 30Tôi gánh để anh xung phong, Vai tôi, tay bạn tấm lòng nhân dân”
[28, tr.83]
=> sử dụng bài ca dao để kể lại cho học sinh thấy được đường hành quân của bộ đội trong chiến dịch đường
số 18 Trong chiến dịch này, bộ đội tiến công địch ở khu vực từ Phả Lại đến Uông Bí
- Sử dụng bài ca dao:
“Đường dài hun hút quanh queo, Voi theo lệch kệch cũng nhiều gian truân
Hò ơ ơ !
Đố ai cản được mưa rừng,
Mưa giăng chẳng thể làm ngừng dân ta
Anh đi trời đất là nhà,
Em đội mưa nắng theo ra chiến trường
Hò ơ ơ !”
[28, tr.83]
=> Sử dụng bài ca dao để miêu tả lại cảnh bộ đội, dân công lên đường đi chiến dịch
Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)
Trang 31Mục Kiến thức lịch sử cơ bản a dao đƣợc sử dụng
- Mục II 1
Cuộc tiến công
chiến lược Đông
- Xuân 1953 -
1954
- 1953, Pháp cử Na - va sang Đông Dương và triển khai kế hoạch Na - va
Nhưng cuối cùng đã bị phá sản, quân Pháp phải bị động đối phó với ta ở nhiều nơi
- 2/1954, quân ta tiến công địch ở Bắc Tây Nguyên
- Sử dụng bài ca dao:
“Na - va địch đánh lung tung, Súng ta đã nổ đì đùng khắp nơi Miền Trung ta đánh liên hồi, Kon Tum giải phóng giặc thời
Mà bởi vì lòng dân ao ước chờ mong,
Sông Re nước vẫn xuôi dòng,
Dập dìu bộ đội vượt sông phá đồn”
- Sử dụng bài ca dao:
“Căm thù quân giặc ghi sâu,
Quyết tâm kéo pháo cho mau hòa bình
Mau lên hỡi bạn xe thồ,
Đường đi rầm rập vui mô cho bằng
Qua rừng, qua núi băng băng,
Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù”
[28, tr.85]
=> sử dụng bài ca dao để nói lên
sự chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, kéo pháo, vận chuyển lương thực
- Sử dụng bài ca dao:
“Thằng Tây ở đất Điện Biên, Mặt mày nhếch nhác van xin đầu hàng Một bầy quân tướng huênh hoang, Giỏi đánh giặc mồm, lại giỏi giơ tay,
Trang 32- 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi
Thằng Tây nuôi lính thực tài, Cái bện chạy dài dễ chẳng ai hay”
[28, tr.85]
=> Giáo viên sử dụng bài ca dao
để nói rõ việc sau khi tiêu diệt nhiều cứ điểm phía đông của địch, bộ đội ta dùng cuốc và xẻng cán ngắn ngày đêm liên tục đào giao thông hào để tiến sâu vào phía sân bay Mường Thanh và hầm chỉ huy của tường Đờ Cát ở lòng chảo Điện Biên
- Sử dụng bài ca dao:
“Nước non hàng vạn anh tài,
Võ tài ông Giáp văn hay ông Đồng Ông Giáp đánh giặc nhiều công, Tây gặp ông Đồng Tây cũng phải thua”
[28, tr.85]
=> Sử dụng bài ca dao để ca ngợi công lao của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người đã chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi Và ông Phạm Văn Đồng, trưởng đoàn ngoại giao nước ta tại Hội nghị Giơnevơ (1954)
- Mục III 2
Giơnevơ
- 21/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được kí kết
Trang 33kí kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng Ngày 10/10/1954, bộ đội
ta tiến về tiếp quản thủ đô
- Mục IV 1
Nguyên nhân
thắng lợi
- Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng
- Toàn dân đoàn kết
- Sử dụng bài ca dao:
“Đếm sao cho hết lá rừng,
Đo sao cho hết được lòng Đảng ta
Trời cao biển rộng bao la,
Rộng sao bằng Đảng cho ta chủ quyền,
Ngẫm ngày rồi lại ngẫm đêm,
Nghĩ nhờ ơn Đảng mới nên áo lành”
[28, tr.87]
=> Sử dụng bài ca dao để giúp học sinh thấy được, sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định đảm bảo kháng chiến thắng lợi,
bà ca dao cũng thể hiện được niềm tin của nhân dân cả nước vào sự lãnh đạo của Đảng
- Sử dụng bài ca dao:
“Đố ai quét sạch lá rừng,
Đố ai ngăn nổi sức toàn dân ta Toàn dân ta muôn người một dạ, Cùng đứng lên tất cả như nhau”
[28, tr.86]
Trang 34ƯƠ 3 ƯU ẦM VÀ SỬ DỤNG CA DAO GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤ ƯỢNG D Y H C L CH SỬ VIỆT NAM (1945 - 1954) ( ƯƠ Ì UẨN) Ở ƯỜNG THPT
Song muốn phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ của bộ môn trong việc giáo dục học sinh phải nâng cao hiệu quả dạy học Đồng thời việc sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
3.1.1 Phải nắm vững yêu câu chương trình và nội dung môn học
“Căn cứ vào mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường phổ thông, chúng ta có thể khẳng định, hiệu quả dạy học ở trường phổ thông là kết quả đích thực đạt được sau một quá trình, nó thể hiện trên cả ba mặt: hình thành kiến thức, kết quả giáo dục và phát triển toàn diện của học sinh.” [5, tr.51]
Vì vậy để đạt được điều đó, người giáo viên cần nắm vững yêu cầu chương trình và nội dung môn học Khi tiến hành giảng dạy lịch sử, trước hết cần xác định
rõ ràng mục đích của bài học trong sự thống nhất giữa các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ chung của toàn bộ chương trình, khóa trình
Về mặt giáo dưỡng, từ những bài ca dao đó có thể cung cấp cho học sinh
những kiến thức cơ bản của lịch sử dân tộc Trên cơ sở đó mà hình thành cho học sinh về một thế giới quan khoa học, giúp các em nhìn nhận vấn đề đúng quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Qua đó, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, giáo dục truyền thống dân tộc Giúp các em có một cách nhìn nhận và hoạt động đúng
Trang 35Về giáo dục: Việc sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử phải bảo đảm việc bồi
dưỡng, hình thành trong các em những phẩm chất đạo đức tốt, biết trân trọng và biết
ơn đối với thế hệ cha anh đi trước, quên mình hi sinh vì Tổ quốc Có tinh thần đoàn
kết, và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc “Dạy sử phải khơi dậy
được lòng tự hào của dân tộc Việt Nam, của con người Việt Nam, làm cho học sinh hiểu được truyền thống, ý chí tự lập, tự cường của dân tộc là phải khắc sâu vào trí nhớ của học sinh những tình cảm cách mạng, ý chí dời non lấp biển và những thành tựu huy hoàng của nhân dân ta trong lao động sản xuất, trong sự nghiệp xây dựng cuộc đời tự do, độc lập của mình, chứ không phải chủ yếu khắc vào đây những năm tháng, những sự kiện của một bài học lịch sử” [14, tr.93]
Về phát triển: thông qua sử dụng ca dao trong dạy học lịch sử, rèn luyện cho
các em khả năng tìm kiếm tài liệu, bổ sung tài liệu, làm phong phú thêm giờ học Rèn luyện kĩ năng phân tích, so sánh, đánh giá các nhân vật, sự kiện lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử để vận dụng kiến thức vào bài học và thực
tế cuộc sống
Xuất phát từ những yêu cầu đó, người giáo viên không được lạm dụng tài liệu
về cả liều lượng và phương pháp khai thác (phân tích, cảm thụ ), phải lựa chọn những câu ca dao phù hợp với nội dung bài học Để sử dụng ca dao vào dạy học lịch
sử đạt hiệu quả, cần áp dụng công thức Đairi trong dạy học lịch sử nhằm giải quyết mối quan hệ giữa nội dung sách giáo khoa và bài giảng của giáo viên, ở đây chính
là giữa nội dung sách giáo khoa và các bài ca dao mà giáo viên đưa vào nhằm làm
rõ vấn đề
3.1.2 ảm bảo tính ảng và tính khoa học
Dạy học lịch sử phải đảm bảo tính Đảng, tính Đảng thể hiện trong việc quán
triệt đường lối, quan điểm của Đảng để tạo ra những con người mới Bởi “Lịch sử
là kinh nghiệm sâu rộng về nhiều mặt của loài người, sự gặp gỡ của các con người trong các thế kỉ Nếu sự gặp gỡ này diễn ra một cách thân thiện thì nó có lợi biết bao cho cuộc sống, cho khoa học” [13, tr.4] Với mục tiêu của giáo dục hiện nay là
“giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất và thẩm mĩ và các
kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm của công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
Trang 36động, tham gia xây dựng bảo vệ Tổ quốc” [22, tr.31] Vì vậy trong quá trình day
học lịch sử lớp 12 giai đoạn (1945 - 1954) cần phải đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng
và nhà nước để nhận thức đúng lịch sử hiện đại Đấu tranh chống lại những luận điểm lịch sử sai lầm, xuyên tạc lịch sử
Khi sử dụng ca dao vào dạy học lịch sử, giáo viên cần có lập trường chính trị đúng đắn, kiên định với đường lối của Đảng, giáo viên cần tránh trường hợp sử dụng sai lệch với chuẩn kiến thức và lệch với mục tiêu giáo dục Vận dụng quan điểm sử học Mácxít, tư tưởng Hồ Chí Minh vào dạy học lịch sử, từ đó giúp học sinh nắm vững tri thức lịch sử
Sử dụng ca dao vào dạy học lịch sử phải đảm bảo tính khoa học Các bài ca dao được sử dụng phải cụ thể, phản ánh được sự thật lịch sử đã diễn ra, không bóp méo,
xuyên tạc lịch sử, “cần xác định đúng thời gian và không gian của các sự kiện lịch
sử vì sự kiện lịch sử không được xếp vào thời gian và không gian nhất định, chỉ là
tập hợp một đống tư liệu ngổn ngang, không có ý nghĩa” [20, tr.147] Do đó, khi sử
dụng ca dao phải phù hợp với mục đích, yêu cầu của bài giảng, khi sử dụng phải loại bỏ các yếu tố hư cấu, thần thoại để tiếp cận với tri thức lịch sử Bên cạnh đó, người giáo viên cần phải thường xuyên nghiên cứu và cập nhật những thành tựu khoa học giáo dục, khoa học lịch sử có như vậy thì việc lựa chọn và sử dụng tài liệu mới phát huy được vai trò và tác dụng của nó
Các sự kiện, nhân vật lịch sử không phải chỉ trình bày là học sinh hiểu ngay được một cách đúng đắn và thấu đáo bởi tính phức tạp và nhạy cảm của nó, đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh ngày càng phát triển hơn trước
nhiều, có cái nhìn sâu hơn Vì vậy mà “Tính khoa học của nội dung bài học gắn
chặt với tính vừa sức đối với việc lĩnh hội của học sinh về khối lượng kiến thức và đảm bảo việc giáo dục quan điểm, tư tưởng chính trị và phẩm chất đạo đức cho học
sinh” [20, tr.148]
Tính sư phạm là một nguyên tắc hết sức cần thiết trong dạy và học Với thời gian dạy học trên lớp chỉ 45 phút, giáo viên cần lựa chọn, khai thác và lồng ghép ca dao phù hợp với trình độ, yêu cầu hiểu biết của học sinh THPT Bên cạnh đó, cần phải chú trọng nhiều đến khả năng phân tích tổng hợp sự kiện, đánh giá sự kiện, rút
ra bài học lịch sử
Trang 373.1.3 Phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động nhận thức lịch sử
Phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động nhận thức là một nguyên tắc, nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên trong dạy học lịch sử Tính tích cực của học sinh trong nhận thức lịch sử đó là học sinh không chỉ biết mà hiểu lịch sử, nắm bắt được những quy luật tự nhiên, xã hội Trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng hoạt động tiếp nhận của học sinh đó là tiếp nhận những tri thức khoa học của loài người và vận dụng những tri thức vào hoạt động trong cuộc sống thực tiễn Nếu nắm bắt kiến thức một cách máy móc theo kiểu học thuộc lòng sẽ không biết vận dụng vào thực tế Ngược lại nếu không nắm bắt kiến thức một cách
cụ thể, không có tri thức sẽ không giải quyết được vấn đề mà cuộc sống đặt ra Cả hai yêu cầu đó chỉ có thể giải quyết thông qua việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học
Tính tích cực của học sinh chỉ được phát huy dưới tác động của phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là công cụ của giáo viên để trang bị cho học sinh các kiến thức và tổ chức quá trình nhận thức Như vậy, học sinh có phát huy được tính tích cực trong hoạt động nhận thức hay không trước hết là phụ thuộc vào phương pháp dạy học của giáo viên Trong một bài học, nếu giáo viên chỉ bám vào sách giáo khoa và không liên hệ, mở rộng kiến thức trong các tài liệu ngoài sách giáo khoa sẽ dẫn đến hiện tượng nhàm chán, không tạo được không khí và hứng thú học tập cho học sinh Ngược lại giáo viên tổ chức dạy học theo quá trình nhận thức, liên
hệ, mở rộng kiến thức, tích hợp sẽ tạo được sự hứng thú học tập của học sinh và qua
đó phát huy tính tích cực
Có nhiều con đường, phương pháp khác nhau để phát triển các hoạt động nhận thức của học sinh như vận dụng trao đổi, đàm thoại, dạy học nêu vấn đề vì vậy tùy thuộc vào nội dung từng bài cụ thể, giáo viên có thể vận dụng những phương pháp khác nhau để phát triển hoạt động nhận thức của học sinh
Ví dụ: khi nói về tinh thần quyết tâm kháng chiến của nhân dân ta trong kháng
chiến chống thực dân Pháp, giáo viên có thể sử dụng bài ca dao nói về tình cảm quân dân, một biểu tượng sinh động:
“Bao giờ bộ đội về đây,
Có ao rau muống, có đầy chum tương”
[28, tr.66]
Trang 38Qua câu ca dao giúp học sinh phát huy trí tuệ, năng lực tư duy của mình, giúp
học sinh ghi nhớ lâu, hiểu rõ hơn về tình cảm quân dân ta lúc bấy giờ
3.2 Các hình thức và biện pháp sử dụng tư liệu ca dao để dạy học các bài lịch
sử cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) sách giáo khoa lớp 12, trường
THPT
Trong quá trình dạy học, mỗi loại bài có nội dung, nhiệm vụ riêng biệt, đòi hỏi
phải có phương pháp tiến hành phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả bài học Việc sử
dụng ca dao để dạy học lịch sử Việt Nam (1945 - 1954)
3.2.1 Sử dụng ca dao để giới thiệu bài mới gây hứng thú cho học sinh
Thay cho cách giới thiệu bài mới thông thường bằng phương pháp thuyết trình,
giáo viên có thể sử dụng một hoặc một số câu ca dao để dẫn dắt học sinh vào bài
mới
Ví dụ 1: trước khi dạy bài mới, bài 17: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau
ngày 2 - 9 - 1945 đến trước ngày 19/12/1946 Giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh:
em hãy tìm một số câu ca dao nói về tình hình của nước ta sau cách mạng tháng 8
năm 1945? Học sinh trình bày, giáo viên bổ sung:
“Hạn hán như lửa cháy nhà Lúa rơi giữa ruộng, lúa sa đầy đồng
Nhìn thân cây lúa ngậm đòng Lúa ơi, lúa hỡi đau lòng lắm thay!
Chống hạn như đánh thằng Tây Phải nhanh, phải chóng, chung tay, góp lòng”
[9, tr.18]
Sau khi tạo được hứng thú cho học sinh, giáo viên tiếp tục đặt câu hỏi: “bài ca
dao trên nói lên điều gì? Chỉ định học sinh trả lời, sau đó giáo viên nhận xét và kết
luận: bài ca dao trên thể hiện khó khăn của nước ta sau cách mạng tháng 8 Bên
cạnh khó khăn về kinh tế, nhân dân ta còn phải chiến đấu với quân giặc (Pháp) Vậy
để biết được sau cách mạng tháng 8, tình hình nước ta như thế nào?, có những thuận
lợi và khó khăn gì và Đảng, Nhà nước đã làm gì để khắc phục những khó khăn đó,
chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm nay
Trang 39Ví dụ 2: Để giới thiệu bài 18: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp (1946 - 1954), giáo viên có thể sử dụng câu ca dao:
“Nhớ xưa gậy trúc dép đen
Đi thăm mặt trận, Bác lên đỉnh đèo, Đường rừng khúc khuỷu cheo leo, Bác đứng trên đồi, vẫy gọi con lên”
[28,tr.80] Giáo viên đặt câu hỏi: “bài ca dao nói về điều gì?” Học sinh trả lời, giáo viên nhận xét, kết luận: Bài ca dao nói về hình ảnh Bác Hồ đích thân ra thăm chiến dịch, điều đó cho thấy đây là một chiến dịch rất quan trọng Vậy để biết được đó là chiến dịch nào, chiến dịch đó xảy ra như thế nào chúng ta cùng tìm hiểu bài học ngày hôm nay
Ví dụ 3: giới thiệu bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết
thúc (195 - 1954) Giáo viên có thể sử dụng câu ca dao:
“Súng vang trên khắp chiến trường, Điện Biên súng đã mở đường tiến công”
[28, tr.83]
Chín năm kháng chiến chống Pháp, lịch sử nước ta đã để lại những trận đánh có
ý nghĩa to lớn Và không thể không nhắc đến chiến dịch Điện Biên Phủ, một thắng lợi to lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp, buộc Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ (1954) chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương Để biết được cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta kết thúc như thế nào, ý nghĩa ra sao, chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm nay
3.2.2 ƣa vào bài giảng một câu, một bài ca dao nhằm minh họa những sự kiện đang học, làm cho nội dung bài học thêm phong phú, giờ học thêm sinh động
Tài liệu văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng được sử dụng để làm
rõ, chứng minh cho các luận điểm, sự kiện lịch sử trong bài Sự kiện lịch sử thường khô khan, khó nhớ Vì vậy, để giúp các em tái hiện lại sự kiện một cách sinh động thì sử dụng ca dao là một biện pháp để các em có thể khơi dậy trong đầu về sự kiện lịch sử đã xảy ra
Trang 40Ví dụ: khi dạy bài 17: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2 - 9 -
1945 đến trước ngày 19/12/1946 Trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” với nhiều khó khăn, Đảng, Chính phủ ta đã đề ra các biện pháp về xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt Để giúp học sinh tái hiện được sự kiện nhân dân
cả nước thi đua chống giặc đói, giặc dốt, giáo viên có thể đưa vào một số câu ca dao
để nói về việc thực hiện các biện pháp giải quyết khó khăn như:
“Ru con con ngủ đi thôi,
Mẹ còn đi học kiếm đôi ba vần, Muốn tròn bổn phận công dân,
Mà không biết chữ trăm phần xấu xa”
[28, tr.64]
Bài ca dao, giúp học sinh thấy được tinh thần hưởng ứng giải quyết khó khăn của nhân dân ta Mỗi nguời dân Việt Nam, giúp đất nước thoát khỏi khó khăn là bổn phận, trách nhiệm Qua đó nói lên tinh thần yêu nước của toàn thể nhân dân Việt Nam Đồng thời giáo dục cho các em lòng yêu nước, ý chí phấn đấu trong cuộc sống
Hay để đẩy lùi giặc đói, nhân dân cả nước hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa !”
“Vì chưng giặc đói hoành hành, Nên dân cả nước đồng lòng tăng gia”
[28, tr.63]
* Sử dụng ca dao để giải thích sự kiện, hiện tƣợng lịch sử
Để giúp học sinh hiểu được bản chất của sự kiện, nguyên nhân vì sao có sự kiện đó chúng ta có thể sử dụng ca dao để đưa học sinh vào những tình huống có vấn
đề, nhằm hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa để khai thác được nội dung bài học, hiểu được bản chất của từng sự kiện để có thể đánh giá một cách chính xác
Ví dụ: Khi dạy Bài 17, Mục III 1 Kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở
lại xâm lược ở Nam Bộ Giáo viên có thể sử dụng bài ca dao:
“Quân giải phóng đang vào Nam Bộ Hiệp đồng bào đánh đổ ngoại xâm Thương ai một chữ đồng tâm Thanh niên, phụ nữ, gươm cầm, súng mang