Trong suốt thời kỳ cổ đại đã diễn ra sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia trong khu vực phương Đông và phương Tây nhưng từ năm 334 TCN khi Alexander cất quân, ông đã nhanh chóng xây dựn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Giao lưu văn hóa” là hiện tượng phổ biến của nhân loại, quy luật vận động,
phát triển của mọi nền văn hóa Không chỉ là lí luận mà thực tế đã chứng minh rằng
không một nền văn hóa nào luôn ở mãi trong trạng thái tĩnh và “một nền văn hóa đứng im là một nền văn hóa chết” Chính vì vậy, các nền văn hóa trong quá trình
phát triển thì tất yếu phải diễn ra sự giao lưu, tiếp thu và chịu ảnh hưởng lẫn nhau Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều muốn tự xây dựng cho mình một truyền thống văn hóa riêng nhưng nếu bên cạnh mỗi quốc gia, dân tộc đó có những nền văn hóa, văn minh phát triển rực rỡ hơn, thì tất yếu sẽ dẫn đến sự giao lưu, tiếp thu, dù
đó là chủ động hay thụ động
Thời kỳ cổ đại đã hình thành hai khu vực văn hóa lớn của thế giới đó là phương Đông và phương Tây Từ khoảng đầu thiên niên kỷ thứ IV TCN, phương Đông đã xây dựng nên những quốc gia đầu tiên của mình và hình thành lên 4 trung tâm văn minh lớn là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc Với những thành tựu văn hóa rực rỡ, phương Đông sớm trở thành cái nôi của nền văn minh nhân loại Xuất hiện muộn hơn phương Đông khoảng chừng hai thiên niên kỷ nhưng ở phương Tây cũng đã xuất hiện hai nền văn hóa, văn minh lớn và phát triển rực rỡ là Hy Lạp
và La Mã, nơi đây cũng đã trở thành cội nguồn của nền văn minh châu Âu sau này
Rõ ràng, phương Đông, phương Tây là hai khu vực văn hóa lớn của thế giới nhưng ra đời vào thời điểm khác nhau, cách xa về địa lý, khác nhau về mặt chủng tộc Chính vì thế, khi nói đến Đông - Tây, trước hết người ta thường nói đến sự khác biệt giữa hai khu vực văn hóa ấy, như nhà văn người Anh R.Kipling trong câu
đầu của bài thơ Đông - Tây ông cho rằng “Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ” [37] Vậy, có thật phương Đông và phương Tây không
bao giờ gặp nhau không? Trên thực tế chúng ta có thể khẳng định rằng: những quốc gia thuộc hai khu vực Đông - Tây không hoàn toàn biệt lập mà có sự gặp gỡ, giao lưu, cùng nhau phát triển Còn đối với R Kipling những câu thơ tiếp theo cũng đã
khẳng định: “Cho đến một khi Đất và Trời chưa về ngày phán xử Nhưng sẽ chẳng
có Đông và Tây, không quê hương, bộ tộc, giống nòi Khi hai người đàn ông lực
Trang 3lưỡng từ đường biên mặt đối mặt không thôi” [37] Trên con đường phát triển của
mình qua các con đường giao lưu với những hình thức khác nhau (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) giữa văn hóa phương Đông và phương Tây đã có sự gặp gỡ, tiếp xúc
và ảnh hưởng lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực, khía cạnh văn hóa từ hàng nghìn năm nay
Trong suốt thời kỳ cổ đại đã diễn ra sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia trong khu vực phương Đông và phương Tây nhưng từ năm 334 TCN khi Alexander cất quân, ông đã nhanh chóng xây dựng kinh đô mới tại Ai Cập mang tên mình
chẳng bao lâu sau nó đã biến thành “ốc đảo” cực lớn của văn minh Hy Lạp tại
phương Đông Thời kỳ lịch sử kéo dài từ năm 334 TCN đến năm 30 TCN đã được
các sử gia gọi là thời kỳ “Hy Lạp hóa” Đó là thời kỳ lịch sử xúc tiến mạnh mẽ nhất
sự giao lưu kinh tế và văn hóa Đông - Tây Đồng thời cũng là thời kỳ truyền bá mạnh mẽ văn hóa Hy Lạp ra thế giới bên ngoài và chủ yếu là phương Đông mà trung tâm là Ai Cập Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề giao lưu văn hóa Đông - Tây
thời kỳ “Hy Lạp hóa” sẽ giúp làm sáng tỏ quá trình giao lưu văn hóa diễn ra trong
một thời kỳ lịch sử nhất định Đặc biệt, khẳng định vai trò, sự ảnh hưởng và truyền
bá mạnh mẽ của văn hóa Hy Lạp (cội nguồn văn minh châu Âu sau này) đối với nền văn hóa phương Đông cũng như vị trí của các nền văn hóa ở phương Đông trong cuộc giao lưu văn hóa này
Ngày nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa, sự giao lưu văn hóa ngày càng được tăng cường, không một dân tộc nào tồn tại tách biệt mà không có sự giao lưu văn hóa với các dân tộc khác Bởi vì, trong xã hội hiện đại, vấn đề văn hóa và việc giao lưu học hỏi luôn là vấn đề mang tính lý luận cần thiết đáp ứng cho nhu cầu
thực tiễn cuộc sống Nhất là trong bối cảnh hiện nay vấn đề “xung đột” giữa các
quốc gia dân tộc đang diễn ra phức tạp Sự giao lưu văn hóa đã trở thành nhu cầu nội tại của sự phát triển văn hóa Chính vì vậy, tìm hiểu về cội nguồn văn hóa của các dân tộc hiện đang là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả đặc
biệt vấn đề “tiếp xúc”, “giao lưu” văn hóa
Với tất cả những lý do đã nêu, trên cơ sở kế thừa nguồn tài liệu của các học giả
đi trước, tôi chọn đề tài: Giao lưu văn hóa Đông - Tây trong thời kỳ “Hy Lạp hóa”
(334 - 30 TCN) làm khóa luận tốt nghiệp
Trang 42 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu về lịch sử văn hóa thế giới trong thời kỳ cổ trung đại cũng được nhiều học giả trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu với nhiều công trình lớn,
đồ sộ và ở nhiều góc độ khác nhau Nhưng cho đến nay, nghiên cứu về giao lưu văn
hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa” vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào
Nhìn chung, có thể thấy, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề dưới ba cấp
độ sau:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về văn hóa phương Đông, phương Tây
có đề cập đến giao lưu văn hóa Đông - Tây tiêu biểu là công trình Lịch sử văn hóa thế giới cổ trung đại của Lương Ninh chủ biên (1998) hay cuốn Lịch sử văn hóa thế giới
của X Carpusina & V Carpusin (2004), đã trình bày những nét đặc trưng văn hóa truyền thống của các quốc gia thuộc khu vực Đông - Tây bên cạnh đó kết hợp đan xen với vấn đề giao lưu giữa các nền văn hóa với nhau
Ngoài ra còn có các công trình khác như: Văn minh phương Tây của Cranebrinton (1998); Lịch sử văn minh nhân loại của Vũ Dương Ninh (1997); Lịch sử thế giới cổ đại tập I của Thôi Liên Trọng (2002); Một số chuyên đề lịch sử thế giới do Vũ Dương Ninh chủ biên (2006); Triết lý trong văn hóa phương Đông của Nguyễn Hùng Hậu (2004); Văn minh châu Âu lịch sử thành tựu hệ giá trị của Lương Văn Kế (2010); Lịch sử Trung Cận Đông của Nguyễn Thi Thư (2009) v.v cũng đã đi vào trình bày một cách
khái quát và tổng hợp về văn hóa Đông - Tây, còn về giao lưu văn hóa cũng chỉ mới đề cập một cách sơ lược
Thứ hai, những công trình nghiên cứu từng quốc gia cổ đại có đề cập đến giao lưu văn hóa Đông - Tây hay giữa các quốc gia dân tộc cụ thể: Cuốn Lịch sử văn minh Trung Hoa; Lịch sử văn minh Ả Rập, Lịch sử văn minh Ấn Độ của tác giả Will Durant (2006) do Nguyễn Hiến Lê dịch; Người Hy Lạp cổ đại của Hansraihadt (2000); Văn hóa Trung Hoa của Đặng Đức Siêu (2005); Triết học Hy Lạp cổ đại của Đinh Ngọc Thạch (1999); Công trình nghiên cứu của Lê Khoa (2010), Lịch sử loài người - quyển 2 nền văn minh Ba Tư và Hy Lạp; Các nền văn minh thế giới La Mã của Brian Wiliam;
Đây là những công trình tập trung đi sâu nghiên cứu, làm rõ văn hóa của mỗi quốc gia nhất định, trong đó có ít nhiều đề cập đến vấn đề ảnh hưởng, và giao lưu giữa văn hóa của quốc gia đó với các quốc gia, khu vực khác
Thứ ba, những công trình nghiên cứu bước đầu đề cập đến giao lưu văn hóa Đông
- Tây trong thời kỳ “Hy Lạp hóa” cụ thể như: Trong cuốn Almanach những nền văn
Trang 5minh thế giới của nhiều tác giả (2007) Đây là công trình tri thức tổng hợp lớn nhất về
nhiều lĩnh vực (tự nhiên và xã hội) thuộc nhiều bình diện và đa phương của nền văn hóa - văn minh nhân loại Khi giới thiệu về các trung tâm văn minh lớn như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ, Trung Quốc các tác giả đã đề cập sơ lược đến giao lưu văn hóa
Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa” nhưng ở góc độ chung chứ chưa đi vào chi tiết từng
vấn đề giao lưu văn hóa
Công trình “Giới thiệu văn hóa phương Đông” của Trường ĐHKHXH&NV của
khoa Đông Phương Học do Mai Ngọc Chừ chủ biên (2006) Tác giả đã trình bày khái quát về văn hóa phương Đông, những thành tựu của các nền văn hóa và ảnh hưởng đến các nền văn hóa thế giới Đặc biệt đã đề cập đến sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa với Hy
Lạp và La Mã thời kỳ “Hy Lạp hóa” Tuy nhiên, vẫn chưa vạch rõ về vấn đề giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa”
Công trình của Trần Mạnh Thường (2010), Những nền văn hóa lớn của nhân loại
đã trình bày một cách khái quát về các nền văn hóa cổ xưa, trong đó mỗi nền văn hóa
đi vào những thành tựu cụ thể và có đề cập sơ lược đến giao lưu văn hóa Đông - Tây
thời cổ đại trong đó có thời kỳ “Hy Lạp hóa”; Con đường tơ lụa quá khứ và tương lai
của Nguyễn Minh Mẫn và Hoàng Văn Việt (2007) là công trình nghiên cứu sâu sắc
nhất trình bày về con đường tơ lụa, con đường giao thương quan trọng giữa phương Đông và phương Tây và giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa” cũng diễn
ra trên con đường này Phần lớn nội dung đề cập đến giao lưu văn hóa Đông - Tây thời
Cổ trung đại, trong đó xen kẽ đề cập đến giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa”…
Ngoài ra còn có các công trình: Sử kí thanh hoa của E Vayrac do Nguyễn Văn Vĩnh dịch (2011); Các nền văn hóa thế giới tập I, II của Đặng Hữu Toàn (2005); Lịch
sử thế giới cổ đại tập II của Chiêm Tế (1977); Lịch sử văn minh phương Tây của
Mortimer.Chambers (2006) cũng đã đi vào trình bày một cách khái quát và tổng hợp
về văn hóa Đông - Tây, còn về giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa”
cũng chỉ mới đề cập một cách sơ lược
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết ở các cấp độ trên đây đã có đề cập ít nhiều đến vẫn đề giao lưu văn hóa Đông - Tây nhưng còn mang tính chất đại cương, sơ lược Trong các công trình ấy, không có một công trình chuyên khảo nào
trực tiếp nghiên cứu về vấn đề “giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ Hy Lạp hóa”
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, tôi thu thập tài liệu,
Trang 6tổng hợp và đi sâu nghiên cứu, làm rõ hơn vấn đề “Giao lưu văn hóa Đông - Tây trong thời kỳ Hy Lạp hóa”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là giao lưu văn hóa phương Đông và phương Tây thời cổ đại trong đó tập trung đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu giao lưu văn hóa Đông - Tây
trong thời kỳ “Hy Lạp hóa” (334 TCN - 30 TCN)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Bao gồm lãnh thổ các quốc gia thuộc phương Đông và phương Tây trong thời kỳ Cổ đại Tuy nhiên, các quốc gia Hy Lạp hóa sau khi đế chế Alexander tan rã là trọng tâm nghiên cứu trong quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây
thời kỳ “Hy Lạp Hóa”
- Thời gian: Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu giao lưu văn hóa Đông - Tây
trong một giai đoạn lịch sử nhất định là thời kỳ “Hy Lạp hóa” Thời kỳ lịch sử này
được tính từ khi Đại Đế Alexander Macedonia cất quân Đông chinh từ năm (334 TCN) cho tới khi vương quốc Ptolemies của Ai Cập bị La Mã xâm chiếm và trở thành một tỉnh của đế quốc La Mã năm (30 TCN)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ sự gặp gỡ, giao lưu giữa hai khu vực văn hóa lớn của thế giới là
phương Đông và phương Tây trong một thời kỳ lịch sử đặc biệt - thời kỳ “Hy Lạp hóa”, trên các lĩnh vực cụ thể
- Thực hiện đề tài còn giúp tôi lĩnh hội thêm những kiến thức về lĩnh vực lịch sử - văn hóa thế giới thời kỳ cổ đại góp phần nâng cao trình độ hiểu biết để phục vụ cho công tác giảng dạy sau này Đồng thời giúp liên hệ với thực tiễn việc giao lưu văn hóa Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những khái niệm, thuật ngữ có liên quan
- Khái quát về văn hóa phương Đông, phương Tây và đặc trưng văn hóa của mỗi khu vực
- Vạch ra và làm sáng tỏ các con đường giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ
“Hy Lạp hóa”
Trang 7- Làm sáng tỏ giao lưu văn hóa Đông - Tây trong thời kỳ “Hy Lạp hóa”, vạch ra
được sự giao lưu đó diễn ra trên các lĩnh vực nào và được thể hiện như thế nào? Trên
cơ sở đó đưa ra được những nhận xét, đánh giá khách quan về sự gặp gỡ, giao lưu đó
- Rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng vào thực tiễn việc giao lưu văn hóa của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay
5 Nguồn tư liệu
Để tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài, tôi dựa vào nguồn tư liệu sau:
+ Các công trình nghiên cứu về, lịch sử, văn hóa phương Đông, phương Tây thời
kỳ Cổ đại dưới dạng văn bản gốc của các tác giả trong và ngoài nước, tài liệu dịch, tài liệu chuyên khảo, phê bình
+ Tạp chí, báo thuộc chuyên ngành lịch sử, văn hóa
+ Các bài viết có liên quan đến văn hóa phương Đông, phương Tây, sự giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa” trên các website của các cá nhân và tổ chức
có liên quan
6 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp luận: Để thực hiện đề tài, tôi đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp luận biện chứng của sử học mác-xít
+ Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic với các phương pháp cụ thể như: thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp
7 Đóng góp của đề tài
Đề tài đạt được mục đích nghiên cứu sẽ có những đóng góp sau:
- Cung cấp một hệ thống tư liệu tương đối đầy đủ về sự giao lưu văn hóa Đông -
Tây trong thời kỳ “Hy Lạp Hóa”
- Rút ra một số nhận xét, đánh giá về sự giao lưu văn hóa Đông - Tây trong thời thời kỳ đó, qua đó thấy được mối quan hệ giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây; vị trí, vai trò và ảnh hưởng của từng khu vực trong quá trình giao lưu và phát triển
- Góp phần rút ra được những bài học kinh nghiệm cho các quốc gia (trong đó có Việt Nam) trong mỗi cuộc tiếp xúc, giao lưu Đông - Tây hiện nay
- Là tài liệu tham khảo cho các chuyên đề về Lịch sử văn hóa thế giới thời kỳ Cổ trung đại; Lịch sử văn minh thế giới và cho những ai quan tâm đến vấn đề này
8 Bố cục đề tài
Trang 8Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo đề tài gồm hai chương: Chương 1: Tổng quan về văn hóa phương Đông, phương Tây và những nhân tố thúc đẩy giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa”
Chương 2: Giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa”
NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG, PHƯƠNG TÂY
VÀ NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY GIAO LƯU VĂN HÓA ĐÔNG – TÂY
THỜI KỲ “HY LẠP HÓA”
1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan
1.1.1 Giao lưu văn hóa
Khái niệm “giao lưu văn hóa” đã được rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra
những ý kiến khác nhau, cụ thể như:
Theo Hồ Sĩ Vịnh, “Giao lưu văn hóa là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người, là quy luật vận động, phát triển của mọi nền văn hóa Giao lưu văn hóa phản ánh sự học hỏi và tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực, trước hết là những thành tựu về trí tuệ, khoa học công nghệ, về kinh nghiệm tổ chức, quản lý nhà nước” [33; tr.11]
Nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng, “Giao lưu văn hóa là khái niệm chỉ sự giao tiếp, tiếp xúc giữa các cộng đồng thuộc các dân tộc, quốc gia có nền văn hóa khác nhau Giao lưu văn hóa là sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng, góp phần tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa, tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú, đa dạng Trong quá trình giao lưu sẽ có sự trao đổi, tiếp nhận các mặt tốt mà người ta thường gọi là tiếp thu tinh hoa văn hóa ” [41]
Khái niệm giao lưu văn hóa được dịch từ những thuật ngữ như: Cultural contacts, cultural exchanges… để chỉ một quy luật trong sự vận động và phát triển văn hóa của các dân tộc
Có thể thấy rằng, giao lưu văn hóa xảy ra khi những nhóm người (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau tiếp xúc với nhau trong cùng một giai đoạn, một thời
Trang 9kỳ lịch sử tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc nhiều nhóm Giao lưu văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng Ở đó có sự
kết hợp giữa các yếu tố “nội sinh” và yếu tố “ngoại sinh” tạo nên sự phát triển văn
hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn
1.1.2 Thời kỳ “Hy Lạp hóa”
Theo từ điển Thuật ngữ lịch sử phổ thông, “Thời kỳ Hy lạp hóa là giai đoạn cuối cùng trong lịch sử Hy lạp cổ đại, kéo dài từ đầu thế kỉ IV TCN khi hoàng đế Alexander Đông chinh (334TCN) đến đầu thế kỉ I TCN, khi quốc gia Hy Lạp hóa Ptolemies (Ai Cập) bị Roma thôn tính (30 TCN) Đây là thời kỳ tan rã của quốc gia
Hy Lạp cổ đại, đồng thời cũng là thời kỳ truyền bá mạnh mẽ văn hóa Hy Lạp ra thế giới bên ngoài, cả phương Đông và Ai Cập và ảnh hưởng, tác động lớn đến các quốc gia đó” [13; tr.237]
Theo Chiêm Tế, thời kỳ “Hy Lạp Hóa” là: “Thời kỳ bắt đầu từ khi Alexander cất quân Đông chinh (năm 334 TCN) đến khi quốc gia Hy Lạp hóa Ptolemies (Ai Cập) bị đế quốc La Mã xâm chiếm và biến thành một tỉnh của nó (năm 30 TCN) Thời kỳ Hy Lạp hóa cũng là thời kỳ xúc tiến mạnh mẽ nhất sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa phương Đông và phương Tây” [24; tr.107]
Như vậy, xét về mặt thời gian, thời kỳ lịch sử kéo dài từ năm 334 TCN đến
năm 30 TCN đã được các sử gia gọi là thời kỳ “Hy Lạp hóa” Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu có những ý kiến không thống nhất về thời gian bắt đầu thời kỳ “Hy Lạp hóa” Đại đa số ý kiến cho rằng, từ khi Alexander bắt đầu cất quân Đông chinh (từ năm 334 TCN) thì chính là lúc bắt đầu thời kỳ “Hy Lạp hóa” Mặt khác, có những ý kiến cho rằng, thời kỳ “Hy Lạp hóa” bắt đầu từ khi Alexander chết và đế chế của ông tan rã thành các quốc gia “Hy Lạp hóa” (từ năm 323 TCN) Chẳng hạn như theo nhà sử học G.J Droysen, thời kỳ “Hy Lạp hóa” hoặc thời đại “Hy Lạp hóa” “mô tả giai đoạn lịch sử tiếp theo sau những cuộc chinh phục của vua Alexander Đại đế [40] Ông đã đặt cho giai đoạn này cái tên là “Hy Lạp hóa”
(Hellenistic)
Khi tìm hiểu về quá trình giao lưu văn hóa trong thời kỳ này chúng tôi cho
rằng, từ khi Alexander cất quân Đông chinh đã bắt đầu thời kỳ “Hy Lạp hóa” Vì
khi đoàn quân Đông chinh của ông đi đến đâu, chiếm được vùng đất mới ông đều
Trang 10cho quân lính của mình tiếp xúc với cư dân bản địa ở nơi đó hoặc đem dân Hy Lạp đến định cư ở vùng đất mới Ông còn dùng nhiều chính sách, biện pháp để truyền bá văn hóa Hy Lạp đến với các dân tộc ở phương Đông Điều đó đã chứng tỏ rằng, từ
khi còn sống Alexander đã thực hiện công cuộc “Hy Lạp hóa” chứ không phải đến khi ông qua đời, các quốc gia “Hy Lạp hóa” hình thành mới bắt đầu quá trình “Hy Lạp hóa”
Về mặt không gian, thời kỳ “Hy Lạp hóa” diễn ra trên lãnh thổ của các quốc
gia phương Đông bao gồm Ai Cập, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Trung Hoa, Syria, Phenici,
Ba Tư, Lybia… và phương Tây bao gồm Hy Lạp và La Mã Nhưng trên thực tế, quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây diễn ra mạnh mẽ nhất là giữa Ai Cập và Hy Lạp tại trung tâm Alexandria ở Ai Cập
Xét nội hàm của khái niệm “Hy Lạp hóa”, có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau Theo quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu, “Hy Lạp hóa” được hiểu là
ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp đến văn hóa của các nước phương Đông là tuyệt đối hóa, chỉ thiên về một hướng Văn hóa phương Đông đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ
của văn hóa Hy Lạp, đến mức “Hy Lạp hóa” Tuy nhiên, theo các sử gia, “đây là thời kỳ xúc tiến mạnh mẽ sự giao lưu kinh tế và văn hóa Đông - Tây Văn hóa của
Hy Lạp đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn hóa của nhiều quốc gia phương Đông Nhưng ngược lại người Hy Lạp cũng tiếp thu được nhiều kinh nghiệm sản xuất, tậ p quán sinh hoạt, phong cách nghệ thuật độc đáo và những thành tựu khoa học kỹ thuật của phương Đông” [24; tr.108] Theo Lương Ninh, thời kỳ “Hy Lạp hóa” “là thời kỳ có sự giao lưu của nền văn hóa Đông - Tây mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”
[16; tr.188] Điều đó đã chứng tỏ rằng, không chỉ phương Đông chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp mà văn hóa Hy Lạp cũng nhận được rất nhiều từ phương Đông Vậy, đây là mối quan hệ biện chứng, sự tác động qua lại hai chiều
1.1.3 Phương Đông, phương Tây
Thuật ngữ phương Đông, phương Tây đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử, cụ thể là xuất phát đầu tiên ở vùng Balkan cổ đại Lúc đó con người chưa tìm ra Tân lục địa nên người Hy Lạp gọi khu vực mặt trời lặn so với họ là phương Tây, các vùng đất còn lại (châu Á, châu Phi) gọi là phương Đông
Trang 11Trong tiến trình lịch sử, khái niệm phương Đông và phương Tây lại được hiểu một cách linh hoạt dựa trên các tiêu chí khác nhau như thời gian hình thành, nhân chủng, văn hóa, kinh tế, chính trị, địa lý Sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối và chỉ là sự quy ước của con người mà thôi, ví dụ như:
Theo từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, “phương Đông là từ chỉ chung các nước ở phương Đông, đứng ở vị trí Tây Âu mà nói; phương Tây là từ chỉ các nước
ở châu Âu, theo vị trí địa lí đối với châu Á, thường bao hàm ý nghĩa nói về các nước
tư bản, đế quốc Tây Âu, Bắc Mĩ” [13; tr.337] Cách phân chia này được sử dụng khi
nói về phương Đông và phương Tây thời kỳ hiện đại
Trong thời cổ đại, theo phạm vi nghiên cứu của đề tài này thì phương Đông bao gồm châu Á và Đông Bắc châu Phi là nơi sinh ra các nền văn hóa cổ kính: Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ Còn phương Tây bao gồm Hy Lạp và La Mã, hai bán đảo ở phía Bắc của Địa Trung Hải
1.2 Văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây
1.2.1 Cơ sở hình thành
Về điều kiện tự nhiên, nếu như, văn hóa phương Đông được hình thành trên
cơ sở gắn liền với các dòng sông lớn thì văn hóa phương Tây lại hình thành trên những bán đảo và vùng ven biển
Phương Đông, nơi phát nguyên những nền văn minh cổ kính nhất của loài người Các quốc gia cổ đại phương Đông được hình thành trên cơ sở tan rã của chế
độ công xã nguyên thủy và sự phân chia xã hội thành giai cấp Mặc dù xuất hiện trên những vùng đất khác nhau, ở vào thời điểm sớm muộn khác nhau, nhưng các quốc gia cổ đại phương Đông đều có một điểm chung là xây dựng trên lưu vực các
dòng sông lớn “Đó là lưu vực sông Nile ở Ai Cập, lưu vực Lưỡng Hà tạo nên bởi hai con sông Tigris và Euphrate chảy ra vịnh Ba Tư, lưu vực hai con sông Ấn và sông Hằng, bồi đắp nên đồng bằng Bắc Ấn Độ, và lưu vực hai con sông Hoàng Hà
và Trường Giang tạo nên vùng đồng bằng Hoa Bắc rộng lớn và phì nhiêu” [23;
tr.63] Tại lưu vực các dòng sông lớn này, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho cuộc sống của con người Chính những dòng sông đã tạo nên những đồng bằng rộng lớn,
phì nhiêu là nơi quần tụ đông đúc của cư dân như “đồng bằng sông Nile ở Ai Cập; đồng bằng ở vùng Trung Hạ lưu Lưỡng Hà; đồng bằng ở miền Bắc Ấn Độ; đồng
Trang 12bằng Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa Nam ở Trung Quốc” [35; tr.31] Hàng năm cứ vào
mùa mưa hay khi có khí tuyết tan, nước từ thượng nguồn đổ về các dòng sông tràn ngập lên các vùng đất rộng, phủ lên các chân ruộng thấp một lớp phù sa màu mỡ làm cho đất đai mềm, tơi xốp, rất tốt cho sản xuất nông nghiệp
Không chỉ bồi đắp phù sa, các con sông còn cung cấp nước tưới cho đồng ruộng, nước dùng trong sinh hoạt hàng ngày của con người Cũng từ các con sông,
cư dân thời cổ có thể khai thác được một lượng lớn thủy sản, cung cấp thức ăn hàng ngày cho con người Sông ngòi còn là con đường giao thông huyết mạch của các quốc gia cổ đại Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi những dòng sông này cũng mang lại tai họa như bão, lũ Chính vì thế, để có thể sinh sống và sản xuất thì họ đã sớm biết làm thủy lợi Thủy lợi đóng vai trò quan trọng là điều kiện để gắn kết các công xã nông thôn lại với nhau tạo nên các liên minh công xã để sớm hình thành nên nhà nước Như vậy, có thể thấy rằng, những trung tâm văn hóa, văn minh lớn của phương Đông cổ đại mặc dù thời gian xuất hiện khác nhau nhưng cùng có chung đặc điểm đó là hình thành trên lưu vực các con sông lớn
Muộn hơn so với phương Đông, văn hóa phương Tây cổ đại nền tảng là văn hóa Hy Lạp và La Mã đã hình thành và phát triển trên những cơ sở điều kiện tự nhiên đặc biệt bao gồm nhiều bán đảo và biển Hy Lạp và La Mã là hai bán đảo ở phía Bắc của biển Địa Trung Hải Hy Lạp cổ đại bao gồm nhiều thành bang, với phần lãnh thổ không rộng lớn, gồm bán đảo Balkan và nhiều đảo trên biển Egiee, vùng ven biển Tiểu Á Còn bán đảo Italia (Roma) dài và hẹp, lãnh thổ lớn hơn Hy Lạp Ngoài ra còn có đảo Sicile, đảo Coorse và đảo Sarden Như vậy, cả Hy Lạp và
La Mã đều ở vị trí tương đối thuận lợi trong việc tiếp xúc giao lưu kinh tế, văn hóa với các nền văn minh lớn của phương Đông cổ đại như Ai Cập, Lưỡng Hà… Ở Hy Lạp có những đồng bằng nhỏ hẹp như Attic, Beoxi còn ở La Mã có những đồng bằng lớn hơn như đồng bằng sông Po và đồng bằng sông Tibre
Cả hai quốc gia này đều có bờ biển dài, nhiều vũng vịnh sâu và ít gió, biển lại hiền hòa, ít giông bão nên rất thuận lợi cho tàu thuyên đi lại Địa hình của hai bán đảo này thường bị chia cắt bởi các dãy núi, đồi và cao nguyên Với đặc điểm địa hình như trên đã tạo điều kiện cho nền kinh tế công thương nghiệp phát triển Cả
Hy Lạp và La Mã đều được tạo hóa ưu đãi cho nên rất giàu có về tài nguyên khoáng
Trang 13sản Ở Hy Lạp có nhiều mỏ đất sét để làm đồ gốm Ngoài ra, còn có các mỏ vàng ở Thrace, mỏ bạc ở Attic, mỏ sắt ở Laconi… ở La Mã có nhiều mỏ đồng, chì, sắt…
Như vậy, điều kiện tự nhiên của Hy Lạp và La Mã mặc dù không được ưu đãi như phương Đông nhưng với những đặc điểm riêng về vị trí địa lý cũng như địa hình đã là cơ sở hình thành lên nền văn minh phương Tây cổ đại với nhiều thành tựu rực rỡ Và điều kiện tự nhiên cũng là một yếu tố quan trọng đã mang nền văn minh phương Tây cổ đại truyền bá khắp thế giới bằng nhiều con đường khác nhau
Về dân cư, cùng với những điều kiện tự nhiên, dân cư cũng là một nhân tố
quan trọng, họ chính là chủ thể của các nền văn hóa cổ kính phương Đông và phương Tây cổ đại
Ở phương Đông, trên cơ sở những điều kiện tự nhiên thuận lợi, ở lưu vực các dòng sông cư dân đã xuất hiện từ rất sớm, họ cư trú từ thời đại đồ đá cũ khoảng
3500 - 2000 năm TCN Họ đã tập trung theo từng bộ lạc trên các thềm đất cao gần
sông Ở Ai Cập, cư dân bản địa đầu tiên là người Negroide, “đó là những thổ dân của châu Phi hình thành trên cơ sở hỗn hợp rất nhiều bộ lạc” [16; tr.35], sau đó có
một nhánh người Hamites ở Tây Á sang định cư ở đồng bằng sông Nile Và hai cộng đồng người này tự nhận mình là con cháu của thần Osiris và được gọi
là Egypt - người Ai Cập Ở Ấn Độ chủ nhân của nền văn minh sông Hằng là người Aryan sống du mục có nguồn gốc từ vùng thảo nguyên Trung Á thiên di xuống Ấn
Độ Khoảng giữa thiên niên kỷ II TCN, có ý kiến cho rằng, họ đã chinh phục người Dravida, tàn phá nền văn minh sông Ấn, sau đó xây dựng nền văn minh sông Hằng Ngoài ra Ấn Độ còn nhiều tộc người khác đến định cư và sinh sống như người Hy Lạp, Mông Cổ, Ả Rập Ở Trung Hoa khối dân cư đầu tiên cư trú vùng đồng bằng Hoa Bắc (lưu vực Hoàng Hà) là người Hoa Hạ Họ gọi các dân cư cư trú ở khu vực phía Bắc, Tây, Nam và Đông là người Địch, Nhung, Man, Di Cuối thiên niên kỷ II TCN, họ chinh phục người Địch và Nhung ở phía Bắc và Tây Sau đó họ tiến xuống phía Nam chinh phục và đồng hóa khối dân cư Bách Việt ở khu vực Trường Giang, đến thời nhà Tần các khối dân cư này được gọi chung là người Hán - chủ nhân của nền văn minh Trung Hoa Có thể thấy rằng, các tộc người đầu tiên xuất hiện ở ven các dòng sông của mỗi quốc gia đều có vai trò quan trọng trong việc hình thành lên nền văn minh của họ
Trang 14Phương Tây, với khung cảnh tuyệt đẹp của vùng biển, sông, núi ở vùng Địa
Trung Hải cùng với khí hậu ấm áp, trong lành nên ngay từ sớm các bộ lạc đã quần
tụ, sinh sống ở trong các thung lũng Từ thời kỳ đồ đá mới ở lục địa Hy Lạp và một
số đảo trên biển Egiee đã có dấu vết của cư dân bản địa sinh sống Chính họ đã sáng
tạo ra nền văn minh tối cổ trong lịch sử Hy Lạp - văn minh Crete, Mycene “Từ thiên niên kỷ thứ III TCN, những cuộc di cư của các bộ lạc phương Bắc xuống kéo dài hơn 1.000 năm, đã làm xáo trộn và hình thành nên những tộc người Những tộc người Eolien, Ionien, Dorien… chiếm cứ chủ yếu vùng lục địa và các đảo của Hy Lạp” [27; tr.86] Cư dân cổ đại Hy Lạp gọi vùng đất mình chiếm cứ là Acaioss rồi
Ddanaos Nhưng đến khi người La Mã xuất hiện, đất của người Hy Lạp được gọi là Hellas (Hy Lạp) và người Hy Lạp được gọi là Hellen Đến đầu thiên niên kỉ I TCN tất cả các khối dân cư này đều nhận mình là con cháu của thần Hellen và họ tự gọi mình là Hellas, là chủ nhân của nền văn minh Hy Lạp
Ở La Mã khoảng thiên niên kỷ III TCN đã có người Ligua sinh sống Sau đó
có nhiều tộc người Italiote khác cũng thiên di tới đây và định cư ở vùng Latium, Borutium… Những cư dân sinh sống ở vùng Latium gọi là người Latinh Đầu thiên niên kỷ I TCN, có người Etrusque xâm nhập vào miền Bắc và người Hy Lạp đến sống ở miền Nam Italia Sau cùng là người Galia Trong đó người Latinh sống ở hạ lưu sông Tibre đã có công lao lớn trong việc xây dựng thành Roma và đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình phát triển của lịch sử Roma
Như vậy, các tộc người ở trên những vùng cư trú của Hy Lạp và La Mã đã cùng nhau xây dựng nên lịch sử các quốc gia thành thị Hy Lạp, La Mã Họ đã sáng tạo ra nền văn hóa chung cho dân tộc mình
Về kinh tế, trong khi văn hóa phương Đông được hình thành trên nền tảng
kinh tế nông nghiệp thì văn hóa phương Tây hình thành dựa trên nền kinh tế hàng hóa phát triển
Ở phương Đông, lưu vực những con sông đã tạo nên những đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu, rất phù hợp với sự phát triển của nông nghiệp Với những điều
kiện thuận lợi, đó là: “thuỷ lượng cao, khí hậu ấm áp, đất đai màu mỡ, dễ canh tác”
[7; tr.12] Cho nên, ngay từ rất sớm, cư dân phương Đông đã bước vào nền văn minh nông nghiệp Nhờ có điều kiện tự nhiên thuận lợi, công cụ lao động ngày càng
Trang 15được cải tiến cùng với những tiến bộ về kĩ thuật và làm thủy lợi với quy mô ngày càng lớn nên từ sớm cư dân phương Đông đã thu hoạch được hai vụ lúa mỗi năm Cũng do vai trò của nông nghiệp mà ruộng đất trở thành một tư liệu sản xuất quan trọng Ở các quốc gia cổ đại phương Đông, hầu hết là ruộng đất chung của công xã, được chia ra thành từng khoảng cho các gia đình cày cấy Mặc dù mức độ khác nhau nhưng những hình thức ruộng công như thế đã tồn tại và được bảo tồn ở tất cả các vương quốc
Bên cạnh trồng trọt thì các gia đình còn chăn nuôi gia súc và gia cầm, một số làm nghề thủ công như sản xuất nông cụ, dệt vải, làm đồ gốm… Tuy nhiên, kinh tế nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo đối với mỗi quốc gia ở phương Đông Trên
cơ sở phát triển các ngành kinh tế, người ta đã tiến hành buôn bán, trao đổi sản phẩm giữa các vùng với nhau Những thành tựu của nền kinh tế nông nghiệp đã tạo điều kiện cho con người sản xuất ra của cải vật chất và sáng tạo ra những thành tựu văn hóa của dân tộc mình
Khác với phương Đông nền kinh tế Hy - La mang tính chất hàng hóa cổ điển, trong đó phát triển mạnh các lĩnh vực thủ công nghiệp, thương nghiệp Chế độ tư hữu ruộng đất rõ rệt, quá trình phân công lao động xã hội hình thành, lực lượng sản xuất chính là nô lệ Nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi đã tách thành hai ngành riêng biệt Đất đai ở Hy Lạp - La Mã không phù hợp trồng cây lương thực nhưng lại thích hợp để trồng nho và ôliu Những sản phẩm này là nguyên liệu chính cho một
số ngành thủ công nghiệp Bên cạnh đó ngành chăn nuôi cũng khá phát triển, sản phẩm khá cao và lượng sản phẩm cũng phong phú
Thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp, phát triển khá đa dạng về ngành nghề với quy mô lớn (khai khoáng, mỏ) Thương nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo, đặc biệt là mậu dịch hàng hóa, sớm mang tính quốc tế Hàng năm hai quốc gia này mang bán những sản phẩm như rượu nho, dầu ôliu, kim loại, đồ gốm, vải Còn mua
về những sản phẩm: lương thực, giấy, hương liệu, gia vị, và đặc biệt là nô lệ Với sự xuất hiện của đồng tiền sớm giúp cho người Hy Lạp - La Mã có thể sử dụng để trao đổi buôn bán ở nhiều vùng đất khác
Sự phát triển về kinh tế, đặc biệt là thương nghiệp hằng hải đã tạo ra một nền kinh tế giàu mạnh cho các quốc gia phương Tây cổ đại Cùng với sự phát triển cực
Trang 16thịnh của chế độ chiếm nô, phương thức sản xuất chiếm nô đạt đến mức hoàn chỉnh
và cao nhất của nó trong xã hội phương Tây cổ đại Sự phát triển của chế độ chiếm
nô đã tạo điều kiện sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần của nền văn minh phương Tây Nhìn chung, nền kinh tế Hy Lạp - La Mã cổ đại phát triển mạnh mẽ Lao động nô lệ phổ biến làm cho quý tộc thoát ly khỏi lao động chân tay và có điều kiện hoạt động, sáng tạo ra các thành tựu văn hóa rực rỡ của mình
Về chính trị - xã hội, văn hóa phương Đông được hình thành trên cơ sở sự ra
đời sớm của thiết chế chính trị, nhà nước còn phương Tây bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước muộn hơn
Sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp đã giúp cho cư dân phương Đông sớm bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước ngay từ buổi đầu của thời đại đồ đồng Bởi vì, ở phương Đông nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, khi nông nghiệp phát triển thì tổ chức xã hội cũng phát triển, dẫn đến việc xã hội sớm phân hoá thành giai cấp và hệ quả là nhà nước sớm ra đời Từ thiên niên kỷ thứ IV đến thiên niên kỷ III TCN, xã hội có giai cấp và nhà nước đều đã được hình thành ở lưu
vực sông Nile, sông Tigris, Euphrate, sông Ấn, sông Hằng và Hoàng Hà “Ra đời sớm nhất là nhà nước chiếm hữu nô lệ ở Ai Cập và Lưỡng Hà (thế kỉ thứ IV TCN), sau đó mới đến các nhà nước ở khu vực sông Ấn, sông Hằng và Hoàng Hà, Dương
Tử (thế kỉ thứ III TCN)” [7; tr.l2] Xã hội có giai cấp và nhà nước được hình thành
từ liên minh bộ lạc, tức là nhiều bộ lạc có quan hệ thân thuộc với nhau, liên kết do nhu cầu trị thủy Từ đó nhà nước được hình thành để quản lý xã hội Bộ máy nhà nước phương Đông mang tính chất của một nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền, đứng đầu nhà nước là vua Sự xuất hiện của xã hội có giai cấp và nhà nước không chỉ dẫn đến áp bức, bóc lột, đấu tranh giai cấp mà còn là biểu hiện của thời đại văn minh Trong đó con người không chỉ sản xuất ra của cải vật chất nhiều hơn
mà còn sáng tạo ra rất nhiều những thành tự văn hóa tinh thần
Ở phương Tây, do đất đai khô cằn, ít màu mỡ nên các quốc gia cổ đại bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước muộn hơn nhiều so với các quốc gia ở phương Đông Nhà nước Hy Lạp - La Mã hình thành trong khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I TCN, trên cơ sở tan rã của các thị tộc Ở phương Tây đã xuất hiện nhiều hình thức nhà nước khác nhau như thành bang, đế chế, cộng hòa, quân chủ Nếu như các quốc
Trang 17gia cổ đại phương Đông có chế độ chiếm nô phát triển không thành thục, không rõ rệt, điển hình thì các quốc gia cổ đại ở vùng Địa Trung Hải lại phát triển chế độ chiếm nô tới mức điển hình, thành thục Đây là giai cấp chính của xã hội cổ đại Hy Lạp - La Mã Sự phát triển cao về chính trị - xã hội của Hy Lạp - La Mã đã làm cơ
sở cho sự ra đời và phát triển rực rỡ của văn hóa phương Tây
1.2.2 Thành tựu và đặc điểm
Trong khi văn hóa phương Đông xuất hiện sớm nhất trong lịch sử loài người, các quốc gia cổ đại phương Đông đã cống hiến cho nhân loại những thành tựu văn hóa đầu tiên có giá trị thì, văn hóa phương Tây ra đời muộn hơn so với phương Đông nhưng lại phát triển rực rỡ, đa dạng, toàn diện và phong phú
Ngay từ rất sớm các quốc gia cổ đại phương Đông đã sáng tạo ra những thành tựu văn hóa đầu tiên của nhân loại trên tất cả các lĩnh vực: chữ viết, văn học,
sử học, nghệ thuật, khoa học… Người Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại đều sáng tạo ra
chữ viết từ rất sớm, khoảng thiên niên kỉ IV TCN Ở Trung Quốc, “vào thời Ân - Thương cũng đã xuất hiện văn tự bằng chữ giáp cốt, một loại văn tự ghi trên mai rùa, xương thú” [35; tr.43] Ở Ấn Độ, khoảng thế kỷ V TCN các loại chữ viết cũng
đã xuất hiện tiêu biểu là chữ Sanskrit (chữ phạn) Những tác phẩm văn học đầu tiên
cũng đã xuất hiện ở phương Đông như Hai anh em, Thuyền gặp nạn của Ai Cập, hai
bộ sử thi Mahabharata, Ramayana của Ấn Độ; ở Trung Quốc cũng nổi tiếng với hai tập Kinh Thi, và Sở Từ Ở mỗi quốc gia cổ đại phương Đông đều có một nền nghệ
thuật ra đời từ rất sớm và phát triển phong phú, toàn diện và mang màu sắc dân tộc như: cung điện, đền đài, chùa hang, lăng mộ, kim tự tháp… Khoa học tự nhiên bao gồm các lĩnh vực thiên văn, toán học, vật lý, y học, hóa học,… được hình thành từ
rất sớm: “Cư dân phương Đông từ rất sớm đã quan sát bầu trời, các nhà thiên văn
Ai Cập đã phát hiện ra các chòm sao và soạn ra bản đồ các thiên thể, xác định vị trí của các chòm sao…” [35; tr.48] Như vậy, sự xuất hiện sớm của xã hội có giai
cấp và nhà nước đã giúp cho cư dân phương Đông không chỉ sản xuất ra của cải vật chất mà còn sáng tạo ra rất nhiều những thành tựu văn hóa bao gồm chữ viết, văn học, nghệ thuật và nhiều tri thức khoa học khác Tất cả đã trở thành những giá trị đầu tiên cống hiến cho nền văn minh của nhân loại
Trang 18Nền văn hóa Hy Lạp - La Mã ra đời muộn nhưng đã đạt đến đỉnh cao của nền văn hóa cổ đại, nhiều thành tựu của nó vẫn còn nguyên giá trị cho tới ngày nay
Về văn học, thơ ca, thần thoại Hy Lạp thật dồi dào và vô tận Hệ thống các thần cũng đa dạng và phong phú Mỗi thành bang, mỗi ngành kinh tế đều có một vị thần riêng bảo hộ Thần thoại Hy Lạp và La Mã đều mang tính nhân văn, vẻ đẹp của cuộc sống lao động và chiến đấu, ngợi ca ước vọng chinh phục và chiến thắng thiên nhiên Ngoài Home thì Hy Lạp còn nhiều nhà văn, nhà thơ vĩ đại khác như: Xapho, Etsin, Ơpơrit, Aristophan… Văn học La Mã cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Hy Lạp và đạt được những thành tựu rực rỡ Về sử học, Hy Lạp có nhiều sử gia nổi tiếng như: Herodot tác giả của cuốn lịch sử chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư Tuyxidit tác giả cuốn lịch sử cuộc chiến tranh Pelopon… ở La Mã có Polibiuxo, Tituxo Liviuxo ngoài ra còn nhiều những sử gia khác
Về khoa học tự nhiên thì cả Hy Lạp và La Mã đều có những thành tựu nổi tiếng về toán, lý, hóa, y dược… Ở lĩnh vực nào cũng có những nhà bác học uyên
bác và tài năng Về toán học, vật lý học có Thalet, Pithagoe, Ơcolit, Asimet… họ
đã phát minh ra những định lý, định luật về toán học và vật lý rất nổi tiếng vẫn còn
áp dụng cho tới ngày nay Cả Hy Lạp và La Mã đều là quê hương của nền triết học phương Tây Nền triết học này được hình thành và phát triển trên cơ sở của nền kinh tế công thương, mậu dịch hằng hải phồn vinh và xã hội chiếm nô phát triển
Họ đã sáng tạo ra những tư tưởng triết học với những xu hướng và trường phái khác nhau Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cũng đạt được những thành tựu đáng kể, đó
là hệ thống nhà cửa, lâu đài, nhà hát, đấu trường… tất cả đều nguy nga và tráng lệ
Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với các quốc gia cổ đại phương Đông nhưng với một nền kinh tế hàng hóa phát triển, cùng với chế độ chiếm nô phát triển cực
thịnh đã tạo điều kiện cho phương Tây sáng tạo ra những thành tựu văn hóa phát
triển rực rỡ, đa dạng, toàn diện và phong phú
Văn hóa phương Đông mang đậm chất nông nghiệp và điều đó đã dẫn đến tư duy chủ toàn, tổng hợp, tính cộng đồng cao và cách ứng xử mềm dẻo, linh hoạt Còn văn hóa phương Tây thuộc cội nguồn của văn hóa gốc du mục và thương nghiệp nên thiên về chủ biệt, tư duy phân tích, coi trọng cá nhân và lý tính
Trang 19Thứ nhất, xã hội phương Đông là xã hội nông nghiệp Nền sản xuất cổ truyền của xã hội phương Đông về cơ bản đều là nền sản xuất nông nghiệp Có thể nói, ngay từ đầu phương Đông đã là nền văn minh nông nghiệp và đây được coi là đặc
trưng tiêu biểu nhất của văn hóa phương Đông “Tính chất nông nghiệp - nông thôn được thể hiện ở rất nhiều bình diện văn hóa và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển của các nền văn hóa phương Đông” [7; tr.29] Trong đời sống vật chất
của cư dân phương Đông cũng gắn liền với nông nghiệp Nguồn lương thực chính của con người là lúa gạo và ngũ cốc do nền sản xuất nông nghiệp tạo ra Người phương Đông thường ăn cơm với các loại thực phẩm mang tính tự cung tự cấp như rau, cá và một số loại thịt gia cầm Các loại gia vị hương liệu như ớt, tiêu, rau thơm, cari…vốn là sản phẩm của sản xuất nông nghiệp cũng được dùng phổ biến ở nhiều nơi Cách mặc của cư dân phương Đông cũng phù hợp với công việc sản xuất nông nghiệp, thường thì mặc ấm về mùa Đông, mát về mùa hè, ăn mặc gọn gàng, tiện lợi (khố, váy) Cư dân phương Đông sống chủ yếu trong ngôi nhà cố định đó có thể là
nhà “nửa nổi nửa chìm”, tức là đào sâu xuống lòng đất, hoặc là ngôi nhà sàn tiện lợi
về mọi mặt Do sống chủ yếu ở vùng sông nước nên phương tiện đi lại của cư dân chủ yếu là thuyền
Trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng và các hình thức sinh hoạt dân gian luôn luôn gắn với cuộc sống cư dân nông nghiệp, phản ánh sâu sắc nhịp điệu lao động và đời sống tinh thần phong phú của người dân Trong các tín ngưỡng bản địa tồn tại thì tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là phổ biến nhất Gắn liền với tín ngưỡng
“sùng bái tự nhiên” là hàng loạt các lễ hội nông nghiệp như lễ hội té nước, lễ hội
cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ tịch điền… Bên cạnh tín ngưỡng sùng bái tự
nhiên là “tín ngưỡng phồn thực”, tín ngưỡng này mang triết lý sống điển hình cho
cư dân nông nghiệp luôn luôn hướng tới sự sinh sôi nảy nở là ước mong duy trì và phát triển sự sống Như vây, cả trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân phương Đông đều đậm chất nông nghiệp
Tính chất nông nghiệp đã làm cho văn hóa phương Đông thiên về “chủ toàn”
và “tổng hợp” Khi nhìn nhận vấn đề, xem xét một sự vật, hiện tượng, người
phương Đông thường chú trọng đến tính toàn diện, toàn thể, toàn cục và xem nó như một hệ thống cấu trúc hoàn chỉnh, ở đó các yếu tố tạo nên quan hệ với nhau,
Trang 20ràng buộc và quy định lẫn nhau Đồng thời, văn hóa phương Đông còn nặng về tính
“cộng đồng” và cách ứng xử “tình cảm, mềm dẻo” Người ta sống với nhau bằng
tình cảm yêu thương, bằng tinh thần cộng đồng, vì vậy sẵn sàng giúp đỡ nhau lúc
hoạn nạn, khó khăn theo tinh thần “lá lành đùm lá rách” Tóm lại, cả hai phẩm chất
này cũng do loại hình văn hóa gốc nông nghiệp chi phối
Đối với phương Tây, cả Hy Lạp và La Mã đều không có những dòng sông lớn và dài như ở các quốc gia phương Đông, không có những đồng bằng lớn mà chỉ
có những đồng bằng nhỏ hẹp như Atich, Beoxi và đều có bờ biển dài, nhiều vũng vịnh sâu kín gió Cả hai xứ sở này đều có chung một đặc điểm là điều kiện phát triển mậu dịch hằng hải rất thuận tiện Khoảng đầu thiên niên kỉ I TCN, cư dân vùng Địa Trung Hải bắt đầu biết chế tạo công cụ bằng sắt Nhờ công cụ bằng sắt, diện tích canh tác tăng hơn, việc trồng trọt cũng đã có kết quả Tuy nhiên, đất đai ở đây chỉ thuận tiện cho việc trồng các loại cây lưu niên, có giá trị cao như: nho, ôliu, cam, chanh,… Sự phát triển của thủ công nghiệp đã dẫn đến xuất hiện nhiều thợ giỏi, khéo tay họ làm ra những sản phẩm nổi tiếng như đồ gốm, với đủ các loại bình, chum, bát bằng gốm tráng men trang trí hoa văn có màu sắc và hình vẽ đẹp Những thành tựu này đã làm cho sản xuất hàng hóa tăng nhanh, quan hệ thương mại được mở rộng Người Hy Lạp và La Mã đem các sản phẩm của mình như rượu nho, dầu ôliu, đồ mĩ nghệ, đồ dùng kim loại, đồ gốm,… đi bán ở mọi miền ven Địa Trung Hải Sau đó mua về các sản phẩm là lúa mì, súc vật, lông thú từ vùng Hắc Hải, Ai Cập và tơ lụa, hương liệu, xa xỉ phẩm từ các nước phương Đông Như vậy, trong suốt thời cổ đại, kinh tế công thương mậu dịch hằng hải còn nông nghiệp chỉ
là thứ yếu Việc sử dụng công cụ bằng sắt và sự tiếp xúc với biển đã mở ra cho cư dân Địa Trung Hải một chân trời mới, nâng lên một trình độ cao hơn về sản xuất và buôn bán trên biển Đó cũng là cơ sở để họ sáng tạo ra nền văn hóa đạt tới đỉnh cao của mình Có thể nói, văn hóa Hy Lạp - La Mã đã tồn tại, phát triển trước hết và chủ yếu trên nền tảng sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nhất là kinh tế công thương nghiệp và mậu dịch hằng hải
Thiên nhiên không được ưu ái như ở phương Đông, nó khắc nghiệt hơn nhiều Với lối sống du mục thì họ luôn có mục tiêu là chinh phục tự nhiên và nó đã sinh ra tư duy lý tính, không tin vào sức mạnh của thiên nhiên Họ luôn không bằng
Trang 21lòng với những gì đã có sẵn mà luôn cải tạo, biến đổi nhằm thay đổi, lật ngược nó cho phù hợp với thực tại Như vậy, điều kiện tự nhiên khắc nhiệt cùng với một nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đã đã tác động đến phương thức sống của người phương Tây Người phương Tây thường chú ý đến việc phân tích từng yếu
tố, đi sâu vào các chi tiết Trong quan hệ ứng xử, phương Tây thiên về cá thể, trọng
lý Đối với phương Tây con người cá nhân được đề cao Điều này đã phát huy cao
độ sức sáng tạo cá nhân, lối ứng xử trọng lý giúp con người sống theo pháp luật một cách có ý thức Đặc biệt trái với phương Đông, phương Tây trọng động, hướng ngoại và luôn cởi mở
Ngoài ra có thể thấy rõ, văn hóa phương Tây còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa phương Đông Một học giả người Anh Spalding “đã coi văn minh
Hy Lạp cổ đại là sự kế thừa không trọn vẹn thành tựu của nền văn minh Ai Cập huy hoàng” [12; tr.35] Điều đó có đúng chăng? Như chúng ta đã biết, khi nền văn hóa
phương Tây hình thành và phát triển thì các quốc gia cổ đại phương Đông đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa đầu tiên của mình Chính vì thế mà các quốc gia cổ đại phương Tây đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa phương Đông Các quốc gia cổ đại phương Tây có vị trí địa lý và địa hình tương đối trở ngại về giao thông đường bộ nhưng lại có sự thuận lợi tuyệt vời với con đường giao thông trên biển, bờ biển có nhiều cảng, vịnh, thuận lợi cho tàu bè hoạt động Từ đây, người phương Tây
có thể dễ dàng tới vùng Tiểu Á, Bắc Hải và các quốc gia khác ở phương Đông để giao thương Điều đó càng tạo điều kiện cho văn hóa phương Tây tiếp xúc với văn hóa phương Đông trên tất cả các lĩnh vực
Những thành tựu của nền văn hóa cổ đại phương Đông được Hy Lạp - La Mã tiếp thu bao gồm tất cả các lĩnh vực: chữ viết, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, khoa
học Ví dụ như “người Hy Lạp đã tiếp thu hệ thống chữ cái a, b, c của người Phenici, cùng nhiều thành tựu khoa học khác của người Ai Cập và người Lưỡng Hà; người Rôma cũng tiếp thu đạo Kito từ Palextin…” [18; tr.80] Những tri thức
thiên văn học, toán học của người Ai Cập, Lưỡng Hà, những kiểu dáng đền tháp ở
Ai Cập, nghệ thuật tạc tượng, điêu khắc của người Atsiria, hệ thống chữ cái của người Phenici… đã được Hy Lạp - La Mã tiếp thu, bổ sung, chỉnh lý và nâng lên một trình độ mới, cao hơn Như vậy, với việc sớm tiếp thu những thành tựu của nền
Trang 22văn minh phương Đông cổ đại Hy Lạp và La Mã đã sáng tạo ra những thành tựu văn hóa độc đáo và rực rỡ, đóng góp cho sự phát triển của nền văn minh phương Tây và cho nhân loại nói chung
1.3 Khái quát về giao lưu văn hóa Đông - Tây trước thời kỳ “Hy Lạp hóa”
Mặc dù thời gian hình thành nên xã hội có giai cấp và nhà nước khác nhau, nhưng ngay từ rất sớm hai khu vực văn hóa phương Đông và phương Tây đã có sự gặp gỡ, tiếp xúc với nhau trên nhiều lĩnh vực như kinh tế - văn hóa đặc biệt là văn hóa Xuất phát từ đặc điểm riêng, thuận lợi về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của phương Đông, các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây đã bắt đầu có ý thức về việc mở rộng giao lưu buôn bán với nhau, thông qua đường thủy và đường
bộ Hai khu vực văn hóa này đã sớm tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhau
Vào khoảng năm 1450 TCN, xứ giả của người Crete và Mycenae mang tặng vật đến triều đình Ai Cập Và khi người Hy Lạp theo chân người Mycenae cập bến
Ai Cập thì “họ choáng ngợp trước trình độ văn hóa, trước các đô thị, đền đài, trước đời sống buôn bán nhộn nhịp, trước thành lũy biên thùy hùng mạnh của nó Văn hóa Crete và Mycenae đã đóng vai trò trung gian giữa Hy Lạp cổ đại với thế giới phương Đông” [4; tr.70]
Tiếp theo, vào các thế kỉ VIII - VII TCN, những chuyến vượt biển tìm đất và việc trao đổi buôn bán thường xuyên với các nước phương Đông, nhất là với Ai Cập, Babylon, làm cho Hy Lạp có dịp tiếp xúc, học hỏi và hòa hợp với các nền văn hóa khác lâu đời hơn Hy Lạp rất nhiều Trong sự phát triển rực rỡ của văn minh phương Đông cổ đại chắc chắn không chỉ là sự tự thân phát triển của mỗi quốc gia,
mà còn bắt nguồn từ sự “giao lưu” giữa các trung tâm văn minh lớn của nhân loại
Thông qua những hoạt động về ngoại thương, “những tri thức thiên văn học, toán học của người Ai Cập, Lưỡng Hà, những kiểu dáng đền tháp ở Ai Cập, nghệ thuật tạc tượng, điêu khắc của người Atxiri, hệ thống chữ cái của người Phenici …
đã được người Hy Lạp tiếp thu, bổ sung, chỉnh lý và nâng lên một trình độ mới, cao hơn” [4; tr.33] Mặt khác, với con đường tơ lụa thì đồ gốm sứ, trà, giấy, kim khí của
Trung Quốc truyền sang phương Tây và ngược lại ngọc quý, lạc đà, sư tử, sừng tê,
ngà vôi, trầm hương, hồ tiêu, pha lê… cũng được du nhập vào phương Đông “Nhà
Trang 23Đường của Trung Quốc còn có quan hệ với quốc gia Ba Tư, La Mã, Ấn Độ ” [14;
tr.85]
Vào thế kỉ VII - VI TCN, quan hệ buôn bán giữa Ai Cập và Hy Lạp cổ đại đã phát triển và củng cố khá vững chắc Các thương nhân Hy Lạp đến hoạt động dài ngày tại Ai Cập, còn chiến binh Hy Lạp làm lính đánh thuê trong quân đội của Pharaoh Vua Ai Cập gửi tặng quà biếu và lời chúc phúc cho các thánh địa và đền thờ ở Hy Lạp Ngài còn cưới một công chúa Hy Lạp làm vợ để thắt chặt thêm mối quan hệ bang giao Các nhà triết học và bác học Hy Lạp còn đến Memphis học hỏi
sự thông thái của Ai Cập Tại đô thị này còn có trường dậy nghề y nổi tiếng trên toàn thế giới cổ đại, có cả người Hy Lạp và La Mã học ở đây Các kiến trúc sư Hy Lạp nghiên cứu kinh nghiệm phong phú của người Ai Cập về xây dựng các đền thờ
và cung điện, kĩ thuật sử lý đá, phương pháp dựng vòm mái và trần bằn đá “Ảnh hưởng của Ai Cập còn thấy trong các bích họa bình hoa Hy Lạp, đặc biệt là trong bút pháp thể hiện nhạc công, vũ nữ và ca sĩ” [4; tr.70]
Bên cạnh đó, thông qua những vùng đất thực dân mà các đế quốc phương Tây chiếm được khiến cho mối quan hệ về văn hóa vật chất và tinh thần giữa Hy Lạp - La Mã với các nước phương Đông được thắt chặt thêm Người Hy Lạp - La
Mã đã tiếp thu được rất nhiều thành tựu văn hóa cũng như chữ viết, thơ ca, triết học, nghệ thuật chạm đúc và các ngành khoa học của phương Đông làm cho văn hóa phương Tây phát triển ngày càng phong phú
Như vậy, có thể thấy rằng, ngay từ rất sớm khi các nền văn hóa được hình thành thì đã bắt đầu có sự gặp gỡ giao lưu văn hóa Đông - Tây chứ không phải mãi
đến thời kỳ “Hy Lạp hóa” mới xúc tiến Chính sự giao lưu văn hóa thời kỳ này đã
làm cơ sở, nền móng đầu tiên cho cuộc những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc lâu dài hơn giữa hai khu vực văn hóa lớn của thế giới trong những giai đoạn tiếp theo mà tiêu
biểu trong thời kỳ cổ đại là thời kỳ “Hy Lạp hóa”
1.4 Nhân tố thúc đẩy sự giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa”
1.4.1 Chiến tranh
1.4.1.1 Cuộc Đông chinh của Alexander
Macedonia, nằm ở miền Bắc Hy Lạp, đã xuất hiện như một vương quốc hàng đầu, dưới sự cai trị của một ông vua đầy tham vọng và thủ đoạn là Philip II, trị vì từ
Trang 24năm 359 đến năm 336 TCN Với khả năng chính trị sắc sảo, Philip đã phát triển vương quốc của mình, xây dựng một đạo quân hùng mạnh và đã lập kế hoạch chinh phục các nước khác Trước khi Philip khởi binh tấn công Ba Tư thì ông đã bị sát hại vào khoảng năm 336 TCN
Ngay sau khi Philip chết, đế quốc do ông xây dựng đã chuyển giao cho con trai là Alexander III (trị vì từ 336 - 323 TCN), được tôn xưng là Alexander Đại đế Alexander là một ông hoàng chiến binh trẻ đã biết tận dụng tốt các cơ hội mà cha ông để lại và thực hiện nó có hiệu quả hơn Suốt trong triều đại ngắn ngủi của mình, Alexander đã tạo nên một đế chế rộng lớn nhất chưa từng có trong thời cổ đại, gánh trách nhiệm bành trướng thế giới Hy Lạp về phía Đông
Sau khi đã củng cố được nền thống trị của Macedonia ở Hy Lạp, mùa xuân năm 334 TCN, Alexander Đại Đế đã thống lĩnh liên quân của Macedonia và các thành bang Hy Lạp, như vũ bão tràn vào Tiểu Á mở đầu công cuộc Đông chinh bằng việc lật đổ ách thống trị của Ba Tư ở đây Đế quốc Ba Tư thời ấy, tuy rằng đất rộng, người Đông, nhưng thế nước đã suy yếu, Từ sau cuộc thất bại trong chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư Nên, với sức mạnh của đội quân nhà nghề, chỉ trong một trận Alexander đã đánh tan đạo quân Ba Tư đồn trú ở Tiểu Á
Năm 334 TCN, Alexander đã vượt qua eo Hellespont tiến vào Tiểu Á, đánh bại Darius tại sông Granicus Năm 333 TCN, Alexander thừa thắng tiến lên đánh tan đại quân Ba Tư do vua Darius III trực tiếp chỉ huy tại vùng Issos ở Bắc bộ Syria, Alexander kiểm soát phần phía tây của đế quốc Ba Tư Alexander đã giải phóng toàn bộ tiểu Á khỏi ách thống trị của Ba Tư và được những người Hy Lạp sinh sống
ở đó nồng nhiệt chào đón
Sau khi giải phóng toàn bộ vùng Tiểu Á, Alexander tiến xuống phía nam, đánh chiếm xứ Phenici và phá hủy hoàn toàn thành Troy Mùa Đông năm 332 TCN Alexander vượt qua eo biển Suez, xâm nhập Ai Cập Alexander đã đánh đuổi quân
Ba Tư ra khỏi Ai Cập, vùng đất mà họ đã chiếm đóng suốt hai thế kỷ Sau đó,
Alexander đã chiếm đóng các thành phố trên bờ Thebes và Ai Cập “Dân Ai Cập đã chào đón ông như vị anh hùng giải phóng và đã công nhận ông là vua của họ ” [5;
tr.108] Cũng trong thời gian này, Alexander đã cho xây dựng thành phố Alexandria
và có ý định “sử dụng thành phố này làm cầu nối giữa Macedonia và vùng thung
Trang 25lũng sông Nile, và ông đã cho bố trí nó theo mẫu mạng lưới điển hình của sự quy hoạch thành phố của Hy Lạp” [5; tr.108]
Mùa xuân năm 331 TCN, khi đã bổ sung thêm lực lượng cho quân đội, Alexander từ Ai Cập đem quân sang chinh phục phương Đông, đến tận cao nguyên Acbela thuộc miền Bắc lưu vực Lưỡng Hà Ở đây, ông đã tiêu diệt hoàn toàn chủ lực quân của Darius, rồi tiến vào nội địa của Ba Tư như vào chỗ đất vắng người Alexander chiếm lĩnh Babylon, rồi chiếm luôn cả hai thành phố của Ba Tư là Suze
và Persepolis Đế quốc Ba Tư cường thịnh trên hai trăm năm đến đây đã bị diệt vong
Sau khi đã lật đổ đế quốc Ba Tư, Alexander liền thống lĩnh quân đội vượt qua cao nguyên Iran, chiếm miền Nam biển Caspien, rồi vượt qua sông Amou- Daria, dọc theo cao nguyên đến tận sông Syr - Daria Miền Sogdiane và Bactriane ở Trung Á cũng đều bị Alexander dùng vũ lực chinh phục Alexander tiếp tục kéo
quân từ Afganixtan về phía Nam Đầu năm 326, “ông vượt sông Indus, vừa đánh vừa tiến từ từ xuống phương Nam và phương Đông, qua các xứ Taxila và Rawalpindi Ông gặp và đánh tan đạo quân của vua Porus gồm 30.000 bộ binh,
4000 kị binh, 300 chiến xa và 200 thớt voi, giết 12.000 quân của Porus ” [8;
tr.108-109], xâm nhập miền Ngũ Hà (Penjab) ở Tây Bắc Ấn Độ Sau đó, Alexander muốn tiếp tục tiến quân sang lưu vực sông Hằng, nhưng vì quá mệt mỏi trên những nẻo đường chinh nên binh sĩ của ông đã mỏi mệt không chịu tấn công nữa Năm 325 TCN, Alexander buộc lòng phải rút quân về sau khi đã để lại một lực lượng đồ n trú tại Penjap Cuộc Đông chinh của Alexander đến đây chấm dứt
Mười năm chinh chiến đầy chiến tích, bằng vũ lực Alexander đã thiết lập nên một đế quốc rộng lớn, bao gồm lãnh thổ của nhiều vùng, nhiều quốc gia có trình độ kinh tế, chính trị khác nhau, nhiều trung tâm văn hóa của thế giới cổ Đó là lãnh thổ rộng lớn nhất thời cổ đại, có biên giới phía Bắc đến tận vùng Iran, Trung Á, phía Nam đến vùng Bắc châu Phi, phía Tây đến bán đảo Bankan, phía Đông tiếp giáp với miền Tây Bắc Ấn Độ Lãnh thổ đó bao gồm các nước… Alexander đã chọn Babylon làm kinh đô của đế quốc mới Rõ ràng, càng về sau, cuộc viễn chinh của Alexander mang tính chất xâm lược, cướp bóc cực kỳ dã man đối với những vùng đất phía Đông Tuy nhiên, về khách quan, cuộc viễn chinh ấy đã có tác dụng xúc
Trang 26tiến cuộc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Hy Lạp và các nước phương Đông Alexander cho rằng mình có sứ mệnh truyền bá văn minh Hy Lạp đến với các dân tộc ở phương Đông Ông đã xây dựng lên rất nhiều thành thị mới ở những miền đất
bị chinh phục Những thành thị ấy trở thành nơi cư trú của người Hy Lạp - Macedonia và là những trung tâm truyền bá văn hóa Hy Lạp ở vùng đất mới chinh phục
Như vậy, công cuộc Đông chinh của Alexander cùng với những mục đích và
ý đồ của ông đã là một trong những tác nhân quan trọng nhất thúc đẩy mạnh mẽ đến
quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa”
1.4.1.2 Sự bành trướng thế lực của đế chế La Mã
Hy Lạp và La Mã là hai bán đảo lớn trên bờ Địa Trung Hải Thành Roma
theo truyền thuyết, “được xây dựng vào năm 753 TCN, ban đầu chỉ là một thành thị nhỏ nằm bên bờ sông Tibre ở miền Trung Italia” [15; tr.67] Nhưng từ cuối thế kỉ
thứ IV TCN trở đi La Mã liên tiếp tiến hành các cuộc chiến tranh bành trướng mở rộng lãnh thổ Đến năm 275 TCN, đã hoàn thành việc chinh phục thống nhất toàn
bộ Italia nhưng do sức đang mạnh, thế đang lên nên dù đã chinh phục toàn bộ đất Italia nhưng giới chủ nô La Mã vẫn chưa hài lòng Chính vì thế, trong các thập niên tiếp theo, người La Mã đã tiếp tục các cuộc xâm lăng của họ cho tới khi họ làm chủ
toàn bộ Địa Trung Hải Thành bang Carthage có một vị trí quan trọng vì, “việc mua đồng bạc ở Tây Ban Nha, ngà voi ở châu Phi, xa xỉ phẩm ở Ai Cập và Hy lạp cũng như việc mua bán nô lệ, đều lấy Carthage làm trung tâm giao dịch” [24; tr.158] Vì
thế, sau khi chinh phục được các thành bang ở Hy Lạp thì La Mã tiến tới đặt chân lên đảo Sicile nhưng do mâu thuẫn về quyền lợi thực dân và thương nghiệp khiến quan hệ giữa La Mã và Carthage ngày càng trở nên căng thẳng Từ năm 264 đến
146 TCN, La Mã và Carthage đã ba lần đánh nhau rất ác liệt, chiến tranh kéo dài gần 120 năm và được lịch sử gọi là ba lần chiến tranh Punic Trải qua những trận chiến ác liệt, cuối cùng thế lực La Mã đã hạ được thành Carthage (năm 146 TCN), thành Carthage bị tàn phá còn thế lực La Mã ngày càng lớn mạnh La Mã trở thành trung tâm của Địa Trung Hải với kinh thành tráng lệ, rất nhiều đền đài, cung điện nguy nga và đấu trường đồ sộ
Trang 27Đồng thời với việc chiếm toàn bộ vùng Địa Trung Hải, La Mã cũng lần lượt thôn tính vùng Tiểu Á Vào nửa sau thế kỉ thứ I TCN, La Mã tiếp tục tấn công chinh phục xứ Galia, Tây Ban Nha, đảo Anh và cả Ai Cập mở rộng đường biên giới của
mình đến giới hạn cuối cùng: “Châu Âu đến bờ sông Ranh và sông Đanuyp, châu Á đến Acmenia và Lưỡng Hà, châu Phi đến Ai Cập” [15; tr.68] Như vậy, trải qua trên
200 năm bành trướng bằng vũ lực, La Mã đã thống nhất toàn bộ khu vực Địa Trung Hải bao gồm bán đảo Italia, Tây Ban Nha, Macedonia, Hy Lạp, Tiểu Á, Xiri, Ai Cập
Sự bành trướng của thế lực La Mã đã thúc đẩy nền văn hóa La Mã phát triển tới đỉnh cao trên cơ sở tiếp thu nền văn hóa của Hy Lạp và đặc biệt là các nền văn hóa cổ xưa của khu vực phía Đông mà La Mã đã bành trướng được Khi làm chủ vùng Địa Trung Hải với sự thuận lợi về giao thông, đế quốc La Mã đã ra sức mở mang giao thương Những con đường buôn bán lớn nối liền các khu vực giàu có hoạt động buôn bán nhộn nhịp, khối lượng hàng hóa tăng nhanh với đủ sản phẩm ở
nhiều nơi Địa Trung Hải trở nên tấp nập hơn cả và có thể gọi là “thị trường quốc tế” Ở đó, sự tiếp xúc giao lưu văn hóa giữa phương Đông và phương Tây được xúc
tiến mạnh mẽ
1.4.2 Hoạt động thương mại
Sự hình thành và phát triển của mối quan hệ giao lưu văn hóa thời cổ đại nói
chung và thời kỳ “Hy Lạp hóa” nói riêng có sự đóng góp không nhỏ của các hoạt
động thương mại Thương mại chính là cầu nối giữa các quốc gia, khu vực trên thế giới với nhau Việc phát triển của các con đường thương mại không chỉ mang ý nghĩa về mặt trao đổi hàng hóa mà nó còn là cơ sở để các quốc gia trên thế giới có
cơ hội để giao lưu văn hóa lẫn nhau
Phương Tây với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho ngoại thương phát triển nên
từ sớm đã trao đổi buôn bán các sản phẩm như dầu ôliu, rượu nho, sản phẩm thủ công nghiệp là đồ dùng bằng kim loại, đồ trang sức, đồ da,…với các nước phương Đông để đổi lấy lương thực, hương liệu, tơ lụa, đá quý Hy Lạp và La Mã lần lượt trở thành những thế lực thương mại hùng mạnh kiểm soát một vùng rộng lớn khắp Địa Trung Hải nên hoạt động thương mại giữa các nước trong khu vực theo đó cũng
Trang 28hết sức nhộn nhịp “Suốt chín tháng trong một năm, biển Địa Trung Hải thực sự sôi động, tàu thuyền Hy Lạp chuyên trở hàng hóa từ đầu này đến đầu kia ” [3; tr.24]
Các quốc gia ở phương Đông cũng có một vị trí thuận lợi trong hoạt động
thương mại, ngay cả Alexander khi đặt chân đến vùng đất mới chinh phục đã “hiểu ngay đây là một nơi quan trọng, là chính chỗ ngã tư của mấy con đường đi từ Ba
Tư mà thông sang Ấn Độ và Trung Hoa Ngài bèn đem ngay người Hy Lạp đến thực dân ở đó, để tiện cách giao thông của nước ngài với miền Đông Á Bởi vậy, ngài đi đến đâu là mở ra thành thị rất nhiều…” [35; tr.437]
Trong hệ thống các con đường thương mại thì con đường tơ lụa cũng đóng
một vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây “Từ Đông sang Tây, con đường tơ lụa dài hơn 7000 km đã được thiết lập, là nhịp cầu của quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây” [14; tr.30] Con đường tơ lụa trên bộ bắt đầu từ
Trường An, Trung Quốc đi xuyên qua vùng Trung Á, tiếp tục về hướng Tây đến Hy Lạp, La Mã và Địa Trung Hải Chính vì thế, nó được coi như cầu nối giữa hai nền văn minh Đông và Tây Thị trường tơ lụa ở phương Tây đa số là do thương nhân ở
Ả rập và Ấn Độ cung cấp
Trên đường đi, tại những thương cảng sầm uất, khách buôn từ các nơi khác nhau tụ họp, ca hát, kể cho nhau nghe về phong tục tập quán xứ mình, về kiến thức khoa học, triết lý, tôn giáo, thế giới quan Từ một hoạt động thuần tuý trao đổi hàng
hóa, những “thương lái đường dài” này đã trở thành cầu nối của những nền văn hóa khác nhau Đặc biệt, khi các quốc gia “Hy Lạp hóa” được hình thành sau sự tan rã
của đế chế Alexandria, cũng đã phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh tế và thương
mại cũng rất phồn vinh “Thành phố Alexandria ở Ai Cập cũng đã trở thành trung tâm mậu dịch chuyên mua bán tơ lụa Nữ hoàng Ai Cập cũng rất thích dùng tơ lụa
để may y phục” [14; tr.32] Tiêu biểu đó là thành phố Alexandria dưới vương triều
Ptolemis, là một thương cảng lớn nhất trong thời bấy giờ Tại đây đã xuất khẩu những hàng hóa như lương thực, hàng dệt, giấy, đồ dùng bằng phalê và nhập khẩu các mặt hàng khác từ nước ngoài như hàng tơ lụa của Trung Quốc, ngà voi, trân châu, hương liệu của Ấn Độ, đá quý của Arập Họ còn nhập những hàng hóa này rồi đem bán lại cho những vùng khác để lấy lợi nhuận
Trang 29Như vậy, thông qua hoạt động thương mại thì các quốc gia đã không chỉ trao đổi về kinh tế mà còn trên lĩnh vực văn hoá Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động thương mại đã trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy đến quá trình giao lưu văn hóa
Đông - Tây trong thời kỳ “Hy Lạp hóa”
1.4.3 Di dân
Di dân là một tác nhân quan trọng thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa trong lịch sử Thời cổ đại, các cuộc di dân thường được mở ra sau sự xâm chiếm các vùng lãnh thổ mới và vì vậy, có thể đồng nhất với công cuộc thực dân hóa của kẻ đi xâm chiếm đến các nước bị xâm chiếm Một hiện tượng phổ biến là sau khi chiếm được một vùng đất mới thì một bộ phận tướng lĩnh, binh sĩ ở lại đó hoặc một bộ phận cư dân ở chính quốc được đưa đến sinh sống chung với dân bản xứ Trong quá trình sinh sống ở đây, văn hoá của cư dân bản địa và những người mới đến sẽ có sự tiếp
xúc, thậm chí là “pha trộn”, “đồng hóa” lẫn nhau
Trong thời kỳ “Hy Lạp hóa”, các cuộc chiến tranh, chinh phạt diễn ra liên
miên giữa các quốc gia dân tộc, tiêu biểu là cuộc viễn chinh của Alexander hay sự bành trướng lãnh thổ của người La Mã sang phía Đông Thắng lợi trong các cuộc chiến tranh đã tạo ra những vùng đất mới để họ di dân đến định cư, trú ngụ Đồng thời với cuộc Đông chinh của Alexander, ở các vùng đất mới chiếm đóng được
Alexander đều cho xây dựng các thành phố mới Ví dụ như: ở Ấn Độ, “ngài mở ra mười hai thành, nơi chính là Bactria; ngài đem một vạn bốn nghìn người Hy Lạp đến ở tại đó, mà truyền bá văn minh trong đất hẻo lánh như vậy ” [30; tr.439]
Những thành thị ấy đã trở thành nơi cư trú của người Hy Lạp - Macedonia Cũng chính sự trị vì của Alexander trên đất phương Đông với thời gian khá dài như thế thì không tránh khỏi sự tiếp xúc giữa người Tây với người Đông và các cuộc di dân đã xảy ra Bên cạnh đó, những người dân bản địa phải chịu cảnh nô lệ và còn bị đưa sang châu lục khác làm nô lệ và lính đánh thuê Cụ thể như trường hợp của dân Ba
Tư được đưa sang Hy Lạp huấn luyện quân sự, làm lính đánh thuê và phần đông là làm nô lệ Dù điều đó nằm trong ý đồ của kẻ thắng cuộc nhưng cũng đã thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây
Thời kỳ này cũng chứng kiến sự di dân của người Do Thái Dưới sự thống trị của vương triều Antiochus, người Do Thái không chấp nhận văn hóa Hy Lạp nhưng
Trang 30Antiochus vẫn quyết tâm “Hy Lạp hóa” người Do Thái Khi quân đội của Antiochus
tấn công Palestine, nhiều người Do Thái đã bị giết, nhiều người khác chạy trốn lên đồi núi hay sang Ai Cập Dưới sự bành trướng của các đế chế từ Ba Tư, Hy Lạp đến
La Mã thì lịch sử của dân tộc này cũng rất đau thương: “Nhiều quốc gia đẩy dân Do Thái vào đời nô lệ và những người con của Israel di cư đến tất cả các châu lục”
[33; tr.97] Nhất là trong cuộc bành trướng của các thế lực La Mã về phía Đông cư
dân Do Thái lại di chuyển theo những con đường di cư từ thời xa xưa “Họ đi về phía Tây và phía Nam, mang theo những kĩ thuật chế tạo đồ sắt, cũng như những tín ngưỡng và những mảnh văn minh tương đối gắn kết của mình ” [22; tr.24]
Trong thời kỳ Hy Lạp chiếm đóng Ấn Độ, vùng giáp ranh giữa Trung Á và
Trung Quốc có nhiều tộc du mục Trong số đó, “một tộc người ở Trung Quốc gọi là
“Nhục Chi”, người châu Âu gọi là Sito (Scythes), bị người Trung Quốc xây thành ngăn và dồn đẩy họ” [16; tr.106-107] Một bộ phận gọi là Tiểu Nhục Chi ở lại miền
Tây Tạng, còn nhóm Đại Nhục Chi tìm đường thiên di về hướng Tây Sau đó họ cũng đã thành lập một quốc gia đứng lên lật đổ vị vua cuối cùng của người Hy Lạp
là Hippostratos giành lấy quyền lực cho vương triều của mình trên toàn bộ lãnh thổ
cũ của Bactria Người Nhục Chi cũng đã chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Ấn Độ và đặc biệt là của Hy Lạp
Như vậy, qua các cuộc di dân ở những mức độ khác nhau của các sắc dân khác nhau, hai khu vực văn hóa lớn phương Đông và phương Tây đã có sự giao lưu học hỏi, tiếp thu văn hóa của nhau, bổ sung và hoàn thiện làm phong phú nền văn hóa của dân tộc mình, góp phần thúc đẩy phát triển văn minh nhân loại
1.4.4 Du hành, du học
Trước khi cuộc Đông chinh của Alexander diễn ra thì đã có rất nhiều những nhà khoa học, bác học, vật lý học,… đã từng sang phương Đông để học tập, tiếp thu những thành tựu văn minh đầu tiên mà mà loài người đã sáng tạo ra Về sau, sự có mặt của những người đi du học, du hành tại Ai Cập trở nên rõ rệt hơn do những người lính đánh thuê của Hy Lạp phục vụ trong các đạo quân Ai Cập và những thương nhân tạo ra các
trạm buôn bán tại nhiều thành phố ở vùng châu thổ “Các nhà triết học, sử học và địa lý
Hy Lạp đi theo bước chân những người lính đánh thuê đó, choáng ngợp trước nền văn minh Ai Cập với các đền đài khổng lồ, những tín ngưỡng và tri thức của người Ai Cập ”
[20; tr.607] Trong đó tiêu biểu như nhà toán học, thiên văn học Thales, nhà triết học
Trang 31Pythagoras, nhà sử học Herodot… các ông đều có điều kiện đi chu du ở nhiều nơi như
Ai Cập, Babylon và quen biết nhiều nhà bác học ở phương Đông
Đặc biệt khi Alexander cất quân Đông chinh thì trong đoàn hộ giá của ông có
các họa sĩ, kỹ thuật gia, các nhà tự nhiên học, địa lý Alexander “mang theo các nhà khoa học để nghiên cứu cây trồng, động vật sống và biểu đồ địa hình”
[50] Họ đã theo bước chân đoàn viễn chinh để học tập, khám phá những điều mới mẻ,
trau dồi kiến thức mới của nhân loại Trong thời kỳ “Hy Lạp hóa” cũng có nhà toán học
rất nổi tiếng là Euclides sống vào khoảng thế kỷ thứ III TCN (sinh vào khoảng năm
330 TCN) sống tại thành Athenes, sau đó đến Alexander của Ai Cập dưới triều vua
Ptolemy đệ nhất “Tại đây Euclides đã thành lập một trường học và giảng dạy các nguyên tắc cơ bản về môn hình học” [27; tr.168] Ngoài ra còn có rất nhiều các nhà
khoa học nổi tiếng khác như nhà vật lý học Archimedes, nhà giải phẫu học Herophin, nhà thiên văn học Aristarque, Eratosthene, Hipparque… cũng du hành tại những nơi xứ
sở của nền văn minh nhân loại (Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ…), để khám phá những điều
họ còn đang tò mò và muốn học hỏi Chính những chuyến đi và khám phá, trải nghiệm cùng những tác phẩm của họ đã trở thành những tác nhân không kém phần quan trọng tác động đến cuộc giao lưu văn hóa giữa phương Đông và phương Tây
Trang 32Chương 2: GIAO LƯU VĂN HÓA ĐÔNG - TÂY THỜI KỲ
“HY LẠP HÓA”
2.1 Quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây thời kỳ “Hy Lạp hóa”
2.1.1 Giai đoạn đầu của thời kỳ “Hy Lạp hóa” (334 - 323 TCN)
Giai đoạn đầu của thời kỳ “Hy Lạp hóa” được bắt đầu từ khi Alexander cất
quân Đông chinh cho tới khi ông qua đời và đế chế do ông xây dựng đã tan rã thành
các vương quốc “Hy Lạp hóa”
Kế tục sự nghiệp của cha, Alexander tiếp tục gánh trách nhiệm bành trướng thế giới Hy Lạp về hướng Đông Cuộc bành trướng sang phía Đông của Alexander
đã để lại nhiều hậu quả nặng nề cho các dân tộc ở các quốc gia ông xâm chiếm Nhiều thành thị bị cướp bóc sạch, thậm chí chỉ còn lại là đống gạch vụn Hàng nghìn, hàng vạn dân bị sát hại hoặc bị bắt đem đi làm nô lệ Tuy nhiên, về mặt khách quan cuộc xâm lược của Alexander cũng tạo được sự giao lưu đối với các mặt kinh tế, văn hóa giữa Đông và Tây Những vùng bị Alexander chiếm đóng đều được ông cho xây dựng thành quách bảo vệ Lúc đầu nó chỉ là những địa điểm quan trọng về mặt quân sự nhưng về sau dưới sự cai trị của Alexander thì nó dần trở thành những trung tâm kinh tế và văn hóa
Tiến hành Đông chinh bằng những cuộc chiến tranh chinh phục bất bại,
Alexander đã xây dựng lên một đế quốc rộng lớn chưa từng có: “Lãnh thổ của nó bắt đầu từ Hy Lạp ở phía Tây, chạy dài đến lưu vực sông Ấn Độ ở phía Đông Tại
Trang 33phía Nam bao gồm Ai Cập chạy đến vùng Trung Á ở phía Bắc” [29; tr.307] Để
thống trị một lãnh thổ rộng lớn như vậy, Alexander đã thiết lập chế độ dân chủ theo truyền thống ở các quốc gia - thành thị Hy Lạp Mặt khác Alexander đã tiếp thu, kế thừa sự thống trị của Ba Tư, tiếp nhận một số bộ phận quý tộc, chính sách cai trị của
Ba Tư trong chế độ cai trị của mình Alexander đã sử dụng người Ba Tư làm người cai trị Ở mỗi địa phương ông thiết lập một tỉnh, do một thống đốc và một trưởng quan về quân sự chia nhau quản lý về hành chính cũng như quân sự tại địa phương Ngoài ra, ông còn đặt các quan viên có trách nhiệm thu thuế ở trong tỉnh Theo chủ trương của ông, những thanh niên Ba Tư được đào tạo theo các khuôn phép của Macedonia và thậm chí họ còn được tham gia vào các trung đoàn Macedonia Những biện pháp trên của Alexander nhằm mục đích củng cố đế chế của ông
Để làm dịu bớt mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị với các quốc gia ông chinh phục được, Alexander đã dùng một số quý tộc tại phương Đông đưa lên làm quan viên thống trị ở địa phương, tuyển dân bản xứ vào lực lượng quân đội của ông Ví
dụ như khi cai trị ở Ai Cập “Alexander đã bổ nhiệm hai người Ai Cập cai quản đất nước, cùng với một người Hy Lạp quản lý tài chánh; ông đã theo mẫu phân chia quyền hành này ở khắp vương quốc của ông” [5; tr.107-108] Hay ở Babylon ông
giao quyền cai quản cho một người Ba Tư có tên là Mazaeus
Trong thời gian ở Ai Cập ông đã tự xưng mình là thần Amôn tức thần mặt trời - một trong những vị thần được người Ai Cập tôn sùng Ông đã lợi dụng lòng tín ngưỡng tôn giáo cố hữu và dựa vào giai cấp tăng lữ ở Ai Cập để duy trì nền thống trị của y ở đó Alexander còn trưng dụng nhân lực, vật lực của Ai Cập để xây dựng lên một hải cảng mới ở vùng tam giác châu sông Nile, và lấy tên mình đặt tên cho thành này gọi là Alexandria Về sau Alexandria phát triển phồn thịnh và trở thành trung tâm thương nghiệp và văn hóa phồn vinh nhất của miền Đông Địa Trung Hải
Để đẩy mạnh công cuộc “Hy Lạp hóa” các miền Trung, Cận Đông,
Alexandre đã truyền bá văn minh Hy Lạp đi khắp đế quốc của ông và đồng hóa dân bản xứ bằng cách thực hiện chính sách cho người Macedonia, và người Hy Lạp kết hôn với người các nước phương Đông Bản thân ông cũng cưới một công chúa Ba
Tư làm hoàng hậu “Những tướng sĩ thuộc hạ của y kết hôn với đàn bà, con gái
Trang 34người Châu Á có đến hàng vạn người” [24; tr.104] Ngoài ra, “ông còn bắt ba vạn thanh niên Ba Tư đem về Macedonia cho huấn luyện quân sự và giáo dục theo kiểu
Hy Lạp” [24; tr.104] Alexander còn có ảo tưởng “thống nhất nhân loại và đang cố gắng thiết lập một đế chế trong đó các dân tộc khác nhau sống chan hòa như trong một gia đình” [5; tr.109] Đặc biệt sau khi Alexander mất thì các quốc gia Hy Lạp
hóa được hình thành thì quá trình giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ hơn
Nhìn nhận về những việc làm của Alexander, dù ước vọng của ông không thành nhưng cuộc Đông chinh và việc thực hiện bước đầu những việc làm trên đã
mở đầu, đặt tiền đề cho quá trình “Hy Lạp hóa” diễn ra mạnh mẽ sau đó
2.1.2 Giai đoạn ra đời và phát triển của các quốc gia “Hy Lạp hóa”
2.1.2.1 Vương triều Antiochus (276 - 168 TCN)
Sau khi Alexander chết, quyền thống trị Macedonia và Hy Lạp đã rơi vào tay Antipater, một tướng lãnh ở lại giữ Macedonia trước kia Về sau, các bộ tướng của Alexander đã dùng vũ lực để tranh giành ảnh hưởng ở đây Cuối cùng Macedonia rơi vào tay của Demetrius và ông đã giao quyền cai trị lại cho con trai là Antiochus Nhân cơ hội các thành bang của Hy Lạp đang chiến thắng các bộ tộc ở miền trung
Hy Lạp, năm 277 TCN, Antiochus đã dẫn quân đón và đánh vào quân xâm chiếm
để giành thắng lợi cuối cùng Sau sự kiện này, ông đã được tôn lên làm vua của nước Macedonia, xây dựng lên vương triều Antiochus (tồn tại từ năm 276 đến 168 TCN), thống trị được hơn 100 năm cho tới khi bị người La Mã chinh phục mới chấm dứt
Về thiết chế chính trị, “Antiochus là một vương quốc hỗn hợp giữa chế độ cộng hòa và chế độ thành bang” [29; tr.309] Vương triều này thống trị toàn bộ vùng lãnh thổ cũ của Macedonia và các thành bang của Hy Lạp “rộng khoảng 75.000 cây số vuông và có dân từ 3 đến 4.000.000 người” [29; tr.309], nhưng không
hình thành một vương quốc thống nhất Để xây dựng vương triều vững mạnh và củng cố bá quyền của mình tại Hy Lạp, Antiochus một mặt đàn áp các phong trào chống Macedonia, mặt khác giành quyền khống chế khu vực biển Aegea với các vương triều khác ở Ai cập và Syria Bên cạnh đó, họ còn liên tục tiến hành chiến tranh chinh phục Eubaca và Magalopolis và các thành bang ở phía nam của Hy Lạp
Trang 35Những cuộc chiến tranh diễn ra liên miên cùng với việc di dân đã làm cho ngành mậu dịch phát triển, nền kinh tế của Macedonia có nhiều thay đổi Nông nghiệp có nhiều điểm mới, chế độ sở hữu ruộng đất phát triển nhanh tuy nhiên, ruộng đất chủ yếu nằm trong tay của nhà vua và quý tộc người nông dân vẫn không
có đất canh tác Cùng với nông nghiệp thì thương nghiệp cũng rất phát triển Bên cạnh những hải cảng cũ còn xuất hiện thêm các hải cảng mới Các hải cảng ở thành thị thì ngày càng thịnh vượng hơn Các hải cảng xuất khẩu đi những mặt hàng như lương thực, gỗ… và nhập khẩu những sản phẩm ở hải ngoại, trở thành trung tâm thương nghiệp nối liền với biển Aegea và biển Adriatic
Có thể thấy rằng, vương triều Antiochus có một lãnh thổ rộng lớn, nhưng thiết chế chính trị không vững chắc nên không thể hình thành một vương quốc thống nhất Chính vì thế, vương triều đã thiếu cơ sở để thống nhất về kinh tế cũng như văn hóa
2.1.2.2 Vương triều Seleucus (305 - 64 TCN)
Vương triều thứ hai được thành lập sau sự tan rã đế chế của Alexander là vương triều Seleucus do bộ tướng khác của Alexander nắm giữ Vào năm 312 TCN,
bộ tướng của Alexander là Seleucus chiếm cứ vùng Syria, địa vị ngày càng được củng cố Đến năm 305 TCN Seleucus xưng vương lấy hiệu là Seleucus I cai trị từ năm 305 đến 280 TCN mở đầu sự thành lập một vương triều mới - vương triều Seleucus Đại bộ phận lãnh thổ của vương quốc này là của đế quốc Ba Tư trước đây
ở châu Á mà trung tâm đóng ở Syria Sau khi lên nắm chính quyền, Seleucus đã tiến hành xâm lược Ấn Độ, rồi lại tiến hành bành trướng thế lực đến phía Tây Tiểu Á
Lãnh thổ của Seleucus ngày càng mở rộng, “đường biên giới của vương quốc Seleucus là rộng rãi nhất ở châu Á chỉ sau đế quốc Alexander xưa kia Toàn bộ những vùng đất từ Phrygia tới Ấn Độ đều là thần dân của Seleucus” [42] Với lãnh
thổ rộng lớn được bao quanh bởi các điều kiện tự nhiên đã cho phép các vua Seleucus thực hiện chính sách thống nhất các dân tộc mà Alexander Đại đế đã làm trước đó Vương quốc Seleucus tiếp tục thành lập các thành phố Hy Lạp và truyền
bá văn minh Hy Lạp đến các dân tộc sinh sống trong lãnh thổ của họ
Vương quốc Seleucus tổ chức xây dựng bộ máy nhà nước theo chính thể chuyên chế của đế quốc Ba Tư Vua nắm mọi quyền hành, được thần thánh hóa và
Trang 36được thần dân sùng bái Bộ máy chính quyền trung ương là hệ thống quan chức do chính nhà vua đặt ra trong đó quan trọng nhất là viên đại thần phụ tá cho nhà vua Ngoài ra còn có một hội đồng Ngự tiền do những tướng lĩnh thân cận của vua tổ chức Tất cả những việc quốc gia đại sự đều do hội đồng này thảo luận trước rồi mới trình lên nhà vua Ở địa phương, vương quốc được chia thành hơn hai chục tỉnh, mỗi tỉnh có một viên thống đốc cai quản Tầng lớp thống trị của vương quốc Seleucus là người Hy Lạp và Macedonia, đã tạo ra mâu thuẫn gay gắt giữa những người bản địa và người Hy Lạp Vì vậy, để tăng cường sức mạnh và khả năng khống chế của vương triều, họ đã tiếp tục thi hành những chính mà trước đây Alexander đã thực hiện Cùng với những hoạt động chính trị thì vương triều còn cho xây dựng lên các thành phố mới như Antioch, Seleu, Uruk, Babylon…
Vương quốc Seleucus rộng lớn, nhất là vùng đất thuộc lưu vực Lưỡng Hà có đất đai phì nhiêu thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Nhà sử học cổ đại
Strabo từng ghi chép lại rằng: “Trên địa cầu này không có quốc gia nào sản xuất được nhiều đại mạch như ở Babylon Tương truyền sự thu hoạch của họ nhiều gấp
300 lần số lượng hạt giống của họ gieo xuống” [29; tr.335] Sự trao đổi và học tập
cách làm kinh tế của cư dân bản địa ở phương Đông đã giúp người Hy Lạp biết cách trồng lúa và sản xuất ra nhiều đại mạch và tiểu mạch Không như những vương triều khác, chế độ ruộng đất của vương triều này rất phức tạp bao gồm nhiều loại hình sở hữu khác nhau Trong thời kỳ này chế độ nô lệ cũng có bước phát triển mới Việc mua bán nô lệ rất thịnh hành, số lượng nô lệ nhiều và giá nô lệ cũng rất rẻ mạt Điều đó đã tạo ra mâu thuẫn xã hội chủ yếu trong vương triều là chủ nô với nô lệ và ách thống trị của người Hy Lạp với dân bản xứ
Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp mậu dịch cũng rất phát triển Không chỉ đáp ứng nhu cầu hàng hóa cho Syria, Seleucus còn là nơi xuất khẩu nhiều hàng hóa ra Địa Trung Hải để đến Hy Lạp, Ai Cập, Hắc Hải và phía Tây Địa Trung Hải Hệ thống đường giao thông trên bộ của Seleucus thuận tiện để đi về phía Tây, qua vùng phía Bắc Arập đến Syria và Palestine đồng thời cũng có thể liên
hệ với vùng Tiểu Á Con đường tơ lụa nổi tiếng thời bấy giờ cũng đi qua vương quốc Seleucus Những thuận lợi trên đã tạo điều kiện cho các quốc gia giao lưu, trao
Trang 37đổi với nhau về mặt kinh tế đặc biệt dẫn đến sự tiếp xúc về mặt văn hóa của các dân tộc
Vương quốc Seleucus với lãnh thổ rộng lớn, mức độ phát triển kinh tế giữa
các vùng khác nhau, hơn nữa lại có nhiều dân tộc sinh sống “người Hy Lạp, người Armenia, người Ba Tư, người Mada, người Asyria, người Do Thái” [42] nên không
thể thống nhất được Trong nội bộ vương quốc đầy rẫy những mâu thuẫn, bên ngoài lại thường xuyên xảy ra xung đột với Ai Cập, Macedonia để giành quyền bá chủ ở phía Đông Địa Trung Hải Đặc biệt khi thế lực La Mã bành trướng lãnh thổ sang phía Đông, Seleucus đã nhiều lần chiến đấu với La Mã, kết quả lãnh thổ của vương quốc Seleucus ngày càng thu hẹp Từ giữa thế kỷ thứ II TCN trở về sau do nội bộ vương triều Seleucus liên tục mâu thuẫn, không còn vững vàng như trước Năm 127 TCN, Seleucus không còn khống chế được vùng đất phía Đông của lưu vực Lưỡng
Hà nữa Năm 64 TCN, quân đội của La Mã tràn tới vùng Tây Á, Syria bị chiếm đóng và trở thành một tỉnh của La Mã, đánh dấu sự chấm dứt của vương triều Seleucus
2.1.2.3 Vương triều Ptolemies (305 - 30 TCN)
Sau khi Alexander chết, đế quốc do ông cai trị đã bị chia cắt, Ai Cập bị bộ tướng Ptolemies chiếm cứ Năm 305 TCN, Ptolemies chính thức xưng vương và được gọi là Ptolemy I (305-283 TCN), mở đầu vương triều Ptolemies trong lịch sử
Ai Cập và nhân dân Ai Cập lại bắt đầu sự thống trị của một thế lực ngoại tộc Thế kỉ III TCN được xem là thời kỳ toàn thịnh của vương triều Ptolemies Lãnh thổ của vương quốc này được mở rộng thông qua cuộc chiến với các vương triều khác Ngoài Ai Cập, lãnh thổ của vương quốc này còn bao gồm Cyerene, Cyprus, Palestine, phía Nam Syria, vùng phía Tây và phía Nam Tiểu Á, Thrace, vùng ven biển của Hellespont và một số đảo trên biển Aegean, rộng 120.000.000 cây số vuông, với dân số 10.000.000 người
Sau khi xưng vương, Ptolemy I xây dựng vương triều của mình theo chế độ chính trị truyền thống của các Pharaoh Ai Cập, tức thực hiện chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Vua là người có quyền lực tối cao nắm mọi quyền hành về chính trị, tư tưởng, tài chính, quân sự trong cả vương quốc Ở địa
phương được chia thành hai vùng thượng và hạ: “Thượng Ai Cập lấy Thebes làm
Trang 38trung tâm còn Hạ Ai Cập lấy thủ đô Alexandria làm trung tâm Đơn vị hành chính lớn nhất ở địa phương là châu, bên dưới có huyện, thôn xã” [29; tr.326]
Tính chất nổi bật của quốc gia Ptolemies là chiếm đóng đất đai và tước đoạt tài sản bằng quân sự Bộ máy tổ chức nhà nước quân chủ trung ương tập quyền được củng cố vững chắc từ trung ương đến địa phương Ptolemies đã đặt những
chức quan cụ thể với theo từng nhiệm vụ: “trưởng quan về quân sự và tài chính thì
có địa vị quan trọng Quan chức tối cao tại trung ương của quốc gia là Tài vụ đại thần… Ở cấp châu cũng đặt một quan chức về tài chính có quyền to, quản lý ruộng đất của vương thất…” [29; tr.326] Lúc đầu các loại quan chức trong vương triều
Ptolemies đều do người Hy Lạp, người Macedonia độc chiếm, nhưng đến giai đoạn sau thì đã có sự cộng tác của cả người Ai Cập thuộc những tầng lớp trên Như vậy,
có thể thấy rằng trong cách tổ chức bộ máy nhà nước cùng với sự cai trị cũng đã có
sự trao đổi, kết hợp giữa người Ai Cập và Hy Lạp Đây thực ra là một thủ đoạn chính trị khôn ngoan, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của tầng lớp quý tộc, tăng lữ Ai Cập cho sự thống trị của một vương triều ngoại tộc Tuy vậy, sự kết hợp giữa người
Ai Cập và Hy Lạp trong chính thể, trong tổ chức cai trị sẽ ảnh hưởng to lớn đến quá trình giao lưu văn hóa giữa Đông và Tây trên lãnh thổ Ai Cập
Trong thời kỳ tồn tại của vương triều Ptolemies, ở Ai Cập đã xuất hiện một
số thành thị do người Hy Lạp và Macedonia sinh sống, như Alexanderia và Maucratis Những thành phố này đều là thành thị thực dân của người Hy Lạp trước
kia “Kiểu thành thị Hy Lạp này, dưới sự thống trị của vương triều không phải hoàn toàn độc lập như một thành bang mà chỉ được quyền tự trị” [29; tr.326] Tất cả
những chính sách đều có sự ưu đãi đối với quan lại, những nhà thực dân Hy Lạp
Dưới vương triều Ptolemies, kinh tế của Ai Cập tiếp tục phát triển dựa trên những nền tảng cũ và đạt được những thành tựu mới, trong đó kinh tế nông nghiệp đóng vai trò quan trọng Việc xây dựng các công trình thủy lợi, trị thủy với quy mô lớn góp phần giải quyết những vấn đề nước tưới cho cây trồng Kĩ thuật sản xuất
nông nghiệp cũng có nhiều tiến bộ như: “dùng gia súc để kéo cày, kéo xe quạt nước, việc trồng lúa tiểu mạch cũng mở rộng thêm diện tích chiếm chừng 80% trong toàn
bộ các loại ngũ cốc Có một số vùng mỗi năm trồng được hai mùa Do vậy, Ai Cập trong thời kỳ này được gọi là vựa lúa của Đông Địa Trung Hải” [29; tr.327] Ruộng
Trang 39đất cũng đóng vai trò quan trọng và được nhà vua phân cấp rõ ràng theo từng loại đất Thời kỳ trị vì của vương quốc Ptolemies số lượng ruộng đất nhiều lên đáng kể Tuy nhiên, phần lớn ruộng đất thuộc về giai cấp thống trị, do giai cấp thống trị quản
lý, còn phần lớn bộ phận nông dân không có đất canh tác Những người nông dân cũng bị bóc lột như tá điền
Chế độ nô lệ dưới thời vương triều Ptolemies có sự phát triển mới Thời bấy giờ việc buôn bán nô lệ diễn ra rất phổ biến, đồng thời xuất hiện những thị trường
nô lệ với qui mô lớn Thuế buôn bán nô lệ là một trong những thu nhập quan trọng của vương triều Những pháp lệnh do nhà nước ban hành có những qui định rõ ràng trong việc thu thuế buôn bán nô lệ qua đó thấy rằng quyền sở hữu nô lệ đối với chủ
nô đã được pháp luật thời bấy giờ bảo vệ Ví dụ: “Viên đại thần phụ trách Tài vụ dưới triều vua Ptolemee II, ngoài số ruộng đất lớn tại Fayum đã cho nông dân thuê, ông ta còn lại một phần do chính bản thân ông ta thuê nhân công cũng như sử dụng
nô lệ của mình để canh tác” [29; tr.328] Những chủ nô thời đó thường là người Hy
Lạp nhưng cũng có người Ai Cập Việc phân biệt đẳng cấp giữa người tự do và nô
lệ rất rõ ràng, qua nhiều tài liệu ghi chép lại cho thấy tầng lớp nô lệ thời kỳ này đã phải chịu ách áp bức nặng nề họ không được tôn trọng và bảo vệ
Trong thời kỳ Ptolemies, ở Ai Cập các ngành thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển hơn trước Những sản phẩm gồm có hàng dệt bằng sợi, châu báu, những chế phẩm bằng kim loại… trong số đó cũng có nhiều sản phẩm được đưa ra thị trường bên ngoài Thế lực thương nghiệp của Ai Cập đã vươn đến bờ biển Bắc châu Phi, các đảo trên biển Aegea, ven vùng biển Tiểu Á và Hắc Hải Thành phố Alexandria là một thương cảng lớn nhất trong thời bấy giờ Tại đây đã xuất khẩu những hàng hóa ra ngoài như lương thực, hàng dệt, giấy, đồ dùng bằng phalê Thay vào đó là việc nhập khẩu các mặt hàng khác từ nước ngoài như hàng tơ lụa của Trung Quốc, ngà voi, trân châu, hương liệu của Ấn Độ, đá quý của Arập Họ còn nhập những hàng hóa này rồi đem bán lại cho những vùng khác để lấy lợi nhuận
Tầng lớp quý tộc và chủ nô của Hy Lạp và Macedonia đã bóc lột tầng lớp nông dân và nô lệ thậm tệ, tàn nhẫn đã đưa họ đến con đường cùng kiệt Đến cuối thế kỉ III TCN, mâu thuẫn xã hội ở Ai Cập thời kỳ trị vì của vương triều Ptolemee ngày càng trở nên gay gắt, hàng loạt những cuộc khởi nghĩa của nông dân và nô lệ
Trang 40đã nổi dậy Trong đó tiêu biểu là khởi nghĩa vào năm 165 - 164 TCN nổ ra ở thành phố Alexandria do người Ai Cập lãnh đạo; năm 88 TCN, tại phía Nam Ai Cập lại bùng nổ cuộc khởi nghĩa lấy thành Thebes làm trung tâm… Tất cả những cuộc khởi nghĩa nói trên đã đánh mạnh vào sự thống trị của vương triều Ptolemee, khiến vương triều này dần bị suy yếu Vào năm 30 TCN, Ai Cập đã bị La Mã thôn tính đánh dấu sự chấm dứt của vương triều này Dưới sự thống trị của vương triều
Ptolemee thì Ai Cập trở thành một quốc gia “Hy Lạp hóa” và phát triển khá phồn
vinh mà tiêu biểu là sự phát triển của cảng thị Alexandria Ptolemee cũng là vương
triều phát triển mạnh mẽ và tồn tại lâu dài nhất trong số các vương triều “Hy Lạp hóa”
Như vậy, sau cái chết của Alexander Đại đế, đế quốc Đông chinh tan rã thành nhiều vương quốc, trong đó có ba vương quốc lớn là Antiochus, Ptolemies, Seleucus phát triển mạnh mẽ Các vương quốc tồn tại dài ngắn khác nhau, có số phận lịch sử khác nhau, phát triển trước những thăng trầm khác nhau nhưng có một
điểm chung là địa bàn ghi dấu ấn đậm nét các quốc gia “Hy Lạp hóa” và giao lưu
văn hóa Đông - Tây, cụ thể là giữa Hy Lạp với phương Đông
2.2 Biểu hiện của giao lưu văn hóa Đông - Tây trong thời kỳ “Hy Lạp hóa” 2.2.1 Các thành thị “Hy Lạp hóa”
Công cuộc bành trướng của Alexander đã đem lại những kết quả nhất định
Đế quốc do Alexander thành lập, phía Tây bắt đầu từ Macedonia và bán đảo Hy Lạp, phía Đông đến tận lưu vực sông Ấn, phía Nam đến Ai Cập, Lybi, phía Bắc đến Capcaz và miền Trung Á Để thực hiện tham vọng to lớn của mình, trên suốt chặng đường chinh phục, Alexander đã xây dựng lên rất nhiều thành thị mới ở nhiều miền
bị chinh phục Những thành thị ấy đều mang tên ông và chúng đã trở thành “điểm tựu trung về sinh hoạt tinh thần và kinh tế của vùng đất ấy ” [21; tr.47] Trong số đó
có một thành phố mang tên ông nằm trên bờ sông Nile của Ai Cập là Alexandria thuộc vương quốc Ptolemies nổi tiếng và phồn thịnh nhất