1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về hiếu trong triết học phật giáo và giá trị của nó đối với giáo dục gia đình ở thành phố đà nẵng hiện nay

62 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (6)
  • 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (7)
  • 3. Phạm vi nghiên cứu (7)
  • 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (7)
  • 5. Bố cục của khóa luận (8)
  • 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu (8)
  • Chương 1: TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT LÝ VỀ “HIẾU” (11)
    • 1.1 Khái quát về triết học Phật giáo (11)
    • 1.2 Nội dung “ Hiếu” trong triết học Phật giáo (19)
    • 1.3 Giá trị của “Hiếu” trong triết học Phật giáo với giáo dục gia đình ở Việt Nam hiện nay (28)
  • CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ HIỆN THỜI CỦA “HIẾU” TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VỚI GIÁO DỤC GIA ĐÌNH Ở ĐÀ NẴNG (33)
    • 2.1 Khái quát về Đà Nẵng và giáo dục ở Đà Nẵng hiện nay (33)
      • 2.1.1. Mộ t số vấ n đ ề về đi ề u kiệ n kinh tế -xã hộ i-văn hóa – con ngư ời thành phố Đà N ẵng (33)
      • 2.1.2. Những nhân tố ả nh hư ởng đ ế n giáo dục gia đình ở thành phố Đà N ẵng hiệ n nay (35)
      • 2.1.3 Những yêu cầ u đ ặt ra trong giáo dục gia đình ở thành phố Đà N ẵng hiệ n nay (43)
      • 2.2.1 Giá trị về lý luậ n (49)
      • 2.2.2 Giá trị thực tiễ n (51)
  • KẾT LUẬN (56)

Nội dung

Cũng xuất phát từ lẽ đó hay hoàn cảnh của từng con người, nhóm người, khu vực, dân tộc … Nảy sinh nhiều giáo phái khác nhau như đạo Kito, Tin lành, Bà la môn, Nho Giáo, Phật giáo … Song

Tính cấp thiết của đề tài

Theo suốt thời gian mọi sự vật hiện tượng đều luôn vận động và biến đổi, xã hội con người cũng chuyển biến từ chế độ này sang một chế độ mới tiến bộ hơn, nhu cầu vật chất dần được cải thiện thì người ta lại đòi hỏi thêm về sự an lành trong tâm hồn nghĩa là nhu cầu tinh thần cũng được chú trọng nhiều hơn Tôn giáo được hình thành và phát triển theo nhu cầu của con người, đó cũng là nhu cầu chính đáng của quyền con người Cũng xuất phát từ lẽ đó hay hoàn cảnh của từng con người, nhóm người, khu vực, dân tộc … Nảy sinh nhiều giáo phái khác nhau như đạo Kito, Tin lành, Bà la môn, Nho Giáo, Phật giáo …

Song khi nhắc đến phương Đông, người ta nghĩ nhiều đến sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với con người, sự truyền bá giáo lý một cách sâu rộng củaPhật giáo đã giúp tinh thần con người được an ủi một phần nào Trong rất nhiều tôn giáo nói trên mục đích sau cùng cũng là giải thoát con người đến cõi an lạc nhưng trước đó đa phần đều dựa trên thần học, duy tâm siêu hình để nhìn nhận đánh giá sự vật điều đó cũng chỉ thực hiện chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo Tuy nhiên khi nghiên cứu về Phật giáo người ta thừa nhận rằng đây không phải là tôn giáo hữu thần, các giáo lí củaPhật giáo mang âm hưởng của trường phái duy vật chất phát, sơ khai … Phật giáo đã bàn đến tất cả mọi lĩnh vực của xã hội, những vấn đề của con người đang gặp phải, những giá trị sống và những quan hệ giữa người với người, với việc đối nhân xử thế của con người và trong đó phải đề cập đến quan niệm về “ Hiếu” của triết học Phật giáo

Trong các tôn giáo, chữ “ Hiếu” cũng được hệ thống khá cụ thể song vẫn loanh quanh về quan niệm thường tình của nhân sinh Bởi lẽ phận làm con thì việc “ hiếu” với cha mẹ là lẽ thường tình Điều này cũng là quy luật của cuộc sống Tuy nhiên không phải là không có quan niệm, tư tưởng nào vượt lên trên quan niệm thường tình đó

Thật vậy, đối với bàn về “ Hiếu” thì quan niệm, tư tưởng của triết học Phật giáo đã triển khai và phát huy đưa giá trị về “ Hiếu” đến với sự hoàn bị của nó Bởi lẽ, theo tư tưởng Phật giáo thì chữ “ Hiếu” không đứng trong phạm vi

2 chật hẹp của tình mẫu tử trong cuộc đời này, mà chữ hiếu còn liên quan đến các vấn đề của nhân loại, liên hệ đến cả vũ trụ nhân sinh

Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học- kĩ thuật, con người với nhịp sống hối hả tất bật, mức sống ngày càng được cải thiện, trình độ dân trí được nâng cao, song thay vào đó những giá trị đạo đức tốt đẹp nhất là triết lý về

“ Hiếu” đang dần bị lãng quên giữa cái nhịp sống hiện đại, bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, duy vật chất Đặc biệt hơn gia đình là tế bào của xã hội, việc phát huy được những truyền thống tốt đẹpvề đạo đức của con người Việt Nam thể hiện qua việc giáo dục gia đình của người Việt nói chung và mỗi vùng miền khác nhau nói riêng hết sức cần thiết, bắt kịp được điều đó tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu về triết học Phật giáo bởi tôi tìm hiểu được rằng bàn về “ Hiếu” không thể bỏ qua triết học Phật giáo, đã trình bày rất sâu sắc lại phù hợp với đời sống nhân sinh nơi tôi sinh sống.Vì vậy tôi chọn đề tài “ Quan niệm về “ Hiếu” trong triết học Phật giáo và giá trị của nó đối với giáo dục gia đình ở thành phố Đà Nẵng hiện nay ”làm khóa luận tốt nghiệp.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

+ Nghiên cứu về triết học Phật giáo

+ Nghiên cứu triết lý về “ Hiếu” trong triết học Phật giáo đối với giáo dục gia đình ở thành phố Đà Nẵng hiện nay.

Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài gồm có 2 chương và 5 tiểu tiết

Chương 1: Triết học Phật giáo và triết lý về “Hiếu” trong triết học Phật giáo

Chương 2: Giá trị của “Hiếu” trong triết học Phật giáo với giáo dục gia đình ở Đà Nẵng

TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT LÝ VỀ “HIẾU”

Khái quát về triết học Phật giáo

1.1.1 Sự hình thành và phát triể n củ a Phậ t giáo

Phật giáo ra đời từ cuối thế kỉ thứ VI trước công nguyên tại một vùng đất thuộc phía Bắc Ấn Độ, người sáng lập ra là Thái tử Xicdata (Bubbha) pháp hiệu là Thích Ca Mâu Ni Sự hình thành và phát triển của Phật giáo được chia làm hai giai đoạn: Thứ nhất từ thế kỉ thứ VI trước công nguyên đến giữa thế kỷ thứ IV trước công nguyên là thời kì hình thành Phật giáo,thứ hai từ thế kỷ IV trước công nguyên đến công nguyên là thời kỳ bắt đầu Phật giáo chia làm nhiều tông phái khác nhau trong đó có hai tông phái lớn là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ

Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII là thời kỳ Phật giáo Đại thừa đối lập với Phật giáo Tiểu thừa Sau thế kỷ thứ VIII Phật giáo đi vào suy tàn trước sự tấn công của Hồi giáo cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Phật giáo từng bước được khôi phục và trở thành tôn giáo của Ấn Độ

Giai đoạn thứ nhất: thời kì hình thành Phật giáo vào khoảng năm 566 đến năm 485 trước công nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ lúc đó tại thành Ca tỳ la vệ nằm giữa Ấn Độ và Nepan ngày nay, thái tử Tất Đạt Ma được sinh thành, phụ thân ngài là Tịnh Phạn, mẫu thân ngài là Ma Gia Thái tử tức Đức Phật được thụ thai một cách rất thần kì trong giấc mơ, bà Ma Gia thấy con voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết rằng con bà sẽ trở thành một vị vua vĩ đại hoặc một nhà hiền triết cao quý Quả nhiên, tiên tri ứng nghiệm ngài được sinh thành tại thành với sự thanh tịnh qua lời nói “ Ta đã đến nơi” cùng với sự qua đời của mẫu thân ngài ngay sau đó

Thời thiếu niên, đức Phật hiện sinh trong thái tử có một cuộc sống hoan lạc, có sách cũng kể lại rằng ngài cũng lập gia đình và có một người con trai, mãi đến năm hai mươi chín tuổi, người rời bỏ cuộc sống hoàng cung và trở thành nhà hành khất lang thang đây đó

Thấy được sự khổ đau mà con người phải trải qua nhưng chưa tìm được lời giải, ngài quyết định đi tu để tìm ra chân lý về nỗi khỗ và cách giải thoát nỗi

7 khổ Ngài ngồi thiền dưới một gốc cây bồ đề trong vòng sáu năm và đã tìm ra chân lý của nỗi khổ đau cũng như con đường để giải thoát nỗi khổ đau của con người Khi sao mai vừa rạng ngài đã chứng quả vị giải thoát, ngài đã đi chu du khắp xứ thuyết pháp độ sinh, trải qua 49 năm hoằng hóa, năm 80 tuổi ngài nhập cõi niết bàn

Ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước CN ở miền Bắc Ấn Độ, với những tư tưởng tiến bộ và tích cực, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng, trở thành ngọn cờ đầu của phong trào cách tân tư tưởng và xã hội ở Ấn Độ cổ đại Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, do cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các trường phái triết học, tôn giáo khác nhau, cũng như sự thay đổi của cuộc sống, Phật giáo cũng có sự thay đổi, được hoàn chỉnh dần để thích nghi Qua quá trình này, đặc biệt là qua các cuộc kết tập kinh điển, Phật giáo phân ra thành nhiều phái khác nhau, với sự khác nhau về giới luật, triết học, giáo lý, nghi thức mà điển hình là hai bộ phái Tiểu thừa và Đại thừa

Tiểu thừa (Hinayana), hay Cỗ Xe Nhỏ, nhấn mạnh đến sự giải thoát cá nhân, trong khi Đại thừa (Mahayana), hay Cỗ Xe Lớn, chú trọng đến việc tu tập thành một vị Phật toàn giác để phổ độ chúng sinh một cách hoàn hảo nhất Mỗi nhánh lại có nhiều phân nhánh Tuy nhiên, hiện nay, ba hình thức chính còn tồn tại: một là Tiểu thừa, được biết như Theravada, ở Đông Nam Á, và hai nhánh Đại thừa, đó là các truyền thống Phật giáo Trung Quốc và Tây Tạng

Truyền thống Tiểu thừa lan rộng từ Ấn Độ đến Sry Lankavà Myanmar vào thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, và từ đó đến Vân Nam phía Tây Nam Trung quốc, Thái Lan, Lào, Cao Miên, miền Nam Việt Nam và vùng biển phía nam (Do người Trung Quốc đặt cho phía nam TQ mà đặc biệt là vùng Đông Nam Á) Không lâu sau đó, những chiếc túi của các thương nhân người Ấn Độ theo đạo Phật đã được tìm thấy ở vùng duyên hải Bán Đảo Ả Rập, và thậm chí xa hơn như Alexandria, Ai Cập Các hình thức khác của Tiểu thừa cũng lan đi từ thời đó đến Pakistan, Kashmir, Afghanistan vùng phía Đông và duyên hải của Iran, Uzbekistan, Turkmenistan và Tajikistan ngày nay Đây là những tiểu bang cổ xưa của Gandhara, Bactria, Parthia và Sogdia Từ căn cứ này ở vùng Trung

8 Á, các hình thức đạo Phật Tiểu thừa này lan rộng hơn vào thế kỷ thứ hai sau công nguyên đến phía Đông Turkistanvà xa hơn vào Trung Quốc, rồi đến Kyrgyzstan và Kazakhstan vào cuối thế kỷ thứ bảy Các hình thức Tiểu thừa sau đó được kết hợp với những nét đặc trưng của Đại thừa cũng đến từ Ấn Độ, để cuối cùng truyền thống Đại thừa trở thành hình thức chiếm ưu thế của Phật giáo tại hầu hết vùng Trung Á

Hình thức Đại thừa của Trung Quốc sau này lan đến Đại Hàn, Nhật Bản và Bắc Việt Nam Một làn sóng khác sớm hơn của Đại thừa, kết hợp với các hình thức Shaivite của Ấn Độ giáo, lan truyền từ Ấn Độ đến Nepal, Nam Dương, Mã Lai và các vùng ở Đông Nam Á, bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ năm Truyền thống Đại thừa Tây Tạng, bắt đầu từ thế kỷ thứ bảy, kế thừa toàn bộ lịch sử phát triển của Phật giáo Ấn Độ, trải rộng khắp các vùng Hy Mã Lạp Sơn và đến Mông Cổ, Đông Turkistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, phía Bắc Nội Trung Hoa, Mãn Châu, Siberia và vùng Kalmyk thuộc Mông Cổ gần biển Caspian, thuộc phần Châu Âu của nước Nga

Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII là thời kỳ Phật giáo Đại thừa đối lập với Phật giáo Tiểu thừa.Sau thế kỷ thứ VIII Phật giáo đi vào suy tàn trước sự tấn công của Hồi giáo cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Phật giáo từng bước được khôi phục và trở thành tôn giáo của Ấn Độ

1.1.2 Phật giáo với tư cách là một trường phái triết học

“Không có giai cấp trong cùng dòng máu đỏ, trong cùng một nước mắt,

… Mọi đẳng cấp đều hòa tan trong tôn giáo của ta cũng như mọi con sông chảy về biển cả Cũng như biển cả chỉ có một mùi vị - mùi vị của muối học thuyết của ta chỉ có một mục đích đối tượng là giải thoát khỏi sự đau khổ” (Trích Phật Thích Ca)

Với tư cách là một trường phái triết học, toàn bộ nội dung của giáo lý nhà Phật xoay quanh các vấn đề về nhân sinh, Những tư tưởng ấy thấm đượm triết lý sâu sắc về cuộc sống, về con người do đó dễ dàng ảnh hưởng đến nhận thức của con người Nhắc đến thế giới quan triết học của Phật giáo được chia thành bốn luận thuyết cơ bản bao gồm thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân duyên

9 và thuyết nhân quả Các luận thuyết này đều mang màu sắc giải thích những trăn trở, suy tư mà con người chưa lí giải được về tâm linh, về cuộc đời, về những gì không biết được khi con người mất đi

Nội dung “ Hiếu” trong triết học Phật giáo

Phật giáo là một trong những tôn giáo luôn đề cao vai trò của “ hiếu đạo” là luôn tôn trọng cha mẹ ở mức độ cao nhất “ Thờ trời đất quỷ thần, không bằng có hiếu với cha mẹ, vì cha mẹ là vị thần minh cao nhất trong các thần minh” (Kinh Tứ Thập nhị Chương) Theo Hán Việt “ Hiếu” có nghĩa là biết ơn, phận làm con thì phải hiếu thảo với cha mẹ ngoài ra đồ tang phục cũng được xem là hiếu, đạo làm con khi cha mẹ mất đi phải hết lòng thờ kính thể hiện qua tang phục Phật giáo xem chữ hiếu là giới hạn cao nhất, là điều thiện tối cao và bất hiếu là điều ác lớn nhất “ Điều thiện tối cao không gì hơn hiếu, điều ác, ác nhất không gì hơn bất hiếu” ( Kinh Nhẫn Nhục) Phận làm con cái phải hiếu kính với cha mẹ, phụng dưỡng ơn sinh thành nuôi nấng dạy dỗ từ khi lọt lòng mẹ đến khi tập đi, tập nói không ai khác chính cha mẹ đã cho ta hình hài và hiếu đạo với cha mẹ cũng là lẽ tự nhiên

Mặt khác, Phật giáo cũng chỉ ra rằng “ Hiếu” cũng phải được phận làm con hướng dẫn chamẹ mình không vướng vào tham thân sân si tức là phải sống tu tâm dưỡng tính tròn đạo đức của con người như trong kinh vu lan bồn, Mục Kiền Liên đã giải thoát mẹ mình bởi sự thức tỉnh cũng với tấm lòng đạo hiếu của mình Đấy chính là hiếu hạnh của người xuất gia, trong các kinh của Phật chỉ ra rằng để làm tròn bổn phận làm con phải thực hiện hiếu hạnh, hiếu đạo, hiếu dưỡng và hiếu tâm đối với đấng sinh thành

Hiếu hạnh tức là biết giữ mình sống phải đạo phải phép không phải là gò bó, sống để không hổ thẹn với mình với mọi người mà đặc biệt là với đấng sinh thành, không làm gì để mọi người chê trách ảnh hưởng đến cha mẹ mình như vậy chính là hiếu hạnh

Hiếu dưỡng tức là phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già khi ốm đau bệnh tật, món ngon vật lạ kính cha mẹ đầu tiên

“ Làm con đối với cha mẹ, khi đem dâng vật dụng cho cha mẹ, dù nhỏ đi nữa thì được phước vô lượng Khi làm điều bất thiện đối với cha mẹ, dù một chỉ một phút thì tội cũng vô lượng” (Kinh Tập Bảo Tạng) Đức Phật, bậc giác ngộ,

15 bậc thấy của tất cả cõi trời và người, bậc Đại trí tuệ, bậc được khắp sáu cõi Tôn Kính, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác … Sau khi thành đạo đã thể thiện lòng từ hiếu của mình đối với phụ vương, mẫu hậu, kế mẫu vừa theo thường pháp vừa đúng Chính pháp

Với những giáo lý được Phật giáo đem lại từ hình ảnh Đức Phật vượt ngàn dặm đường xa trở về thăm phụ thân khi sắp lâm chung, để thể hiện lòng hiếu kính Đức Phật đã tự khiêng một góc linh sàng của cha ngài Bên cạnh việc thể hiện chữ hiếu thoe thướng pháp, lòng hiếu của đức Phật còn nhằm hướng tất cả chúng sinh đến việc hiểu và hành chính pháp Quan niệm “ Hiếu” được Phật giáo chỉ ra nhằm thể hiện sự từ bi, hiếu đạo Dùng chính những giáo lý, học thuyết ấy để đưa con người trải qua những tăm tối đến nơi ánh sáng, những giá trị đạo đức của con người được khơi dậy trong tiềm thức để từ đó mà nung nấu, rèn luyện hoàn thiện những giá trị tốt đẹp ấy cho mỗi con người

Phật giáo cũng đã chỉ ra rằng con người tồn tại trên cuộc đời này đều có sự tương quan tương duyên với nhau gọi là lý nhân duyên Thứ nhất đó chính là sự tương quan trong mối quan hệ huyết thống giữa cha mẹ, ông bà, tổ tiên dường như luôn có một sợi dây vô hình rang buộc bao thế hệ, bao con người với tổ tiên dòng họ đấy người ta gọi là truyền thống hoặc là nghiệp “Tích nhà Phật cũng đã kể lại rằng, trong một lần đi dạo thế sự nhân gian ĐứcThế Tôn bắt gặp hai cụ già vừa thấy ngài họ đã vội ôm chầm và khóc lóc gọi con ơi, các tỳ kheo lấy làm ngạc nhiên và kéo họ ra, song ngài không cho phép, ngài bảo rằng hãy để họ tự nhiên, đấy chính là cha mẹ ta từ kiếp trước trong lúc quẫn cùng đã nhìn thấy được ta” Điều đó cho thấy rằng, mỗi người trong chúng ta đều có sự liên hệ với những con người, khi ta còn sống đó chính là sự liên hệ huyết thống khi ta mất đi vãn sanh lại kiếp khác và lại một nơi nào đó ta bắt gặp lại mỗi con người mnag tiền kiếp là đấng sinh thành ta hóa ra tương quan tương duyên Thứ hai đó là sự liên hệ giữa con người với xã hội, con người khó mà sống tách biệt khỏi xã hội đây cũng được xem là một tư tưởng rất duy vật Thứ ba, Phật giáo cho rằng con người còn có sự liên hệ với các đấng bồ tát Như vậy phận làm con phải có ý thức trách nhiệm đến công nuôi dưỡng sinh thành của cha mẹ, trải qua bao

16 nhiêu năm tháng cho chúng ta hình hài, nuôi dưỡng giáo dục chúng ta bao đêm lo lắng bao ngày vất vả mưu sinh chỉ mong sao cho ta khôn lớn, khỏe mạnh Công ơn ấy lớn như trời bể, làm sao chúng ta có thể quên được

Vậy nội dung “ Hiếu” trong triết học Phật giáo được thể hiện qua những kinh Phật Chữ Hiếu chính là sự biểu hiện đức tính cao thượng của con người trong hầu hết các văn hóa của nhân loại Đó là thái độ sống bày tỏ sự biết ơn, nhớ ơn công đức sinh thành dưỡng dục đối với ông bà, cha mẹ hiện tại và trong vô lượng kiếp này sang kiếp khác Hiếu cũng chính là sợi dây thân ái nối kết giữa mọi người, gia đình, thần tộc và tình dân tộc Như vậy nói đến hiếu là nói đến sự đáp đền ân nghĩa là một cách nói Thực sự, nếu cuộc sống và con người là thiêng liêng vô giá thì hiếu đạo cũng thế, là nghĩa sống cao đẹp, do các nền văn hóa khác nhau nên quan niệm về chữ hiếu và hình thức báo hiếu cũng khác nhau Trong kinh Phật có trích “ Hiếu là trên hết, hiếu là tất cả, là Mẹ của tất cả công đức lành, Mẹ của tất cả những phương pháp tu hành để thành Phật”

Hiếu được đặt thành Kinh, đủ thấy tính chất của hiếu vô cùng quan trọng, hiếu không còn hạn hẹp trong vấn đề “ Tận tâm kính dưỡng phụ mẫu” Theo tinh thần Phật giáo, hiếu thảo với cha mẹ hiện đời cũng như cha mẹ trong quá khứ, đúng nghĩa nhất là phải biết kính trọng, vâng lời cha mẹ Khi cha mẹ còn sống, phải tranh thủ khoản thời gian quý báu này để ân cần chăm lo săn sóc, thăm viếng Như thế gọi là đúng lúc, nếu bằng không thì khi cha mẹ chết đi sẽ không còn cơ hội nào nữa Lúc ấy dù cho ta có hối hận, có tổ chức làm lễ, cúng giỗ to lớn đến thế nào đi nữa cũng không còn ý nghĩa gì “ Phụng dưỡng cha mẹ là vận may tối thượng” (Kinh Hạnh Phúc) Trong sách Đạo đức người xuất gia do tác giả Nguyên Hùng viết rằng “ Muốn báo ân đức dưỡng dục cao dày của cha mẹ, việc nhỏ thì tận tâm tận lực phụng thờ cha mẹ, khá hơn một chút thì làm cho cha mẹ được vui, còn xa hơn nữa thì làm cho cha mẹ phát khởi tâm Bồ Đề, hướng dẫn tâm thức của cha mẹ đi vào chính pháp” “Hiếu” trong đạo Phật cũng được biểu hiện qua hai phương diện là vật chất và tinh thần Về vật chất, con cái phải chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ, nhất là khi cha mẹ già yếu Về tinh thần, người con phải biết làm cho cha mẹ an vui qua hành vi thái độ cư xử tốt đối với cha mẹ

17 và qua lối sống đạo đức của bản thân Cao hơn, người con phải biết hướng cha mẹ đến với thiện pháp

1.2.1 Cơ s ở hình thành quan niệ m về Hiế u trong triế t họ c Phậ t giáo

Xuất phát từ những triết lý nhân sinh cơ bản mà Phật giáo mang lại cụ thểlà những giáo lý cơ bản làm nên những bộ kinh có giá trị nhân văn sâu sắc Kinh sách Phật rất nhiều, thế nhưng giáo lý đạo Phật có một nguyên tắc căn bản, do Đức Thế Tôn chứng ngộ, đó là đạo lý duyên sinh chi phối vũ trụ và nhân sinh Duyên sinh là nhân duyên sinh ra Các hiện tượng vũ trụ và nhân sinh đều do nhiều mối quan hệ kết hợp với nhau mà sinh ra những giáo lý này thể hiện một phần nào tư tưởng Phật giáo đem lại cho nhân sinh Đặc biệt trong các tư tưởng ấy Phật giáo rất chú trọng về đạo đức của con người mà cụ thể là đạo hiếu Sở dĩ như vậy, Phật giáo cho rằng đối với công ơn sinh thành, dưỡng dục tạo nên hình hài cho con của cha mẹ là trời biển và phận làm con phải làm tròn đạo hiếu của mình Từ những giáo lý trên, Phật giáo có những bộ kinh hết sức tiêu biểu đó là Kinh Vu Lan Bồn vàKinh Báo Ân cha mẹ, đó cũng được xem là cơ sở hình thành quan niệm về hiếu trong triết học Phật giáo Đức Phật đã chỉ ra rằng công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con cái như trời, như biển cho nên không thể nào lấy của cải vật chất để bù đắp lại được.Và phải chăng, mọi của cải vật chất, đều vô thường biến hóa, nay còn mai mất, không có giá trị trường cửu Trái lại, cha mẹ không có lòng tin đối với Tam Bảo, đối với chính pháp, mà con cái biết hướng dẫn, khuyến khích cha mẹ có được lòng tin; nếu cha mẹ làm điều ác, mà con cái biết hướng dẫn, khuyến khích cha mẹ làm điều lành, nếu cha mẹ keo kiệt, tham lam mà con cái biết hướng dẫn, khuyến khích cha mẹ bố thí; nếu cha mẹ có ác kiến, tà kiến và sống theo ác kiến, tà kiến mà con cái biết hướng dẫn, khuyến khích cha mẹ từ bỏ ác kiến; tà kiến có được chính tri kiến và sống theo chính tri kiến thì con cái đó đã làm đủ và trả ơn đủ cho cha và mẹ

Tất nhiên, con cái muốn làm được như vậy, tự mình phải có đức tin chân chính, tin ở Tam Bảo, tin ở chính pháp; tự mình phải là người tốt lành và làm các điều tốt lành, tự mình thực hành các pháp bố thí: bố thí tài sản, bố thí pháp,

18 bố thí vô úy (tức là sẵn sàng bảo vệ và giúp đỡ người khác để họ khỏi sợ hãi), và bố thí tùy hỉ (tức là luôn luôn làm cho người khác vui vẻ và chia sẻ niềm vui với họ), tự mình học, tu đúng pháp để có trí tuệ chân chính, hiểu biết chân chính, khuyến khích cha mẹ bỏ điều ác làm điều lành, hoan hỷ bố thí và có trí tuệ chân chính, một người con như vậy được Đức Phật tán thưởng là đã trả ơn đủ cho cha và mẹ

Chúng ta cần chú ý là: Tự mình không tin thì làm sao xây dựng được lòng tin cho cha mẹ hay người khác được? Tự mình không làm điều lành, không bố thí, không có trí tuệ thì làm sao khuyến khích cha mẹ và người khác làm điều lành, bố thí và có trí tuệ được? Đó cũng chính là những điều đức Phật hướng đến mong mọi người hướng thiện và làm tròn đạo hiếu của mình

1.2.2 Nộ i dung “ Hiế u” trong quan ni ệ m củ a triế t họ c Phậ t giáo

Hiếu thảo với cha mẹ là một đức tính tốt đẹp của mỗi con người, đức tính ấy như nền tảng cho mọi đức hạnh, là nhân tố quan trọng để xây dựng đời sống hạnh phúc cho cá nhân gia đình và xã hội Đối với đạo Phật, thực hành hiếu thảo là con đường giải thoát của chính pháp, là con đường của người phật tử Không hiếu thảo với cha mẹ thì không thể trở thành người phật tử chân chính được

Giá trị của “Hiếu” trong triết học Phật giáo với giáo dục gia đình ở Việt Nam hiện nay

Chữ hiếu là nền tảng của đạo đức Gia đình là nền tảng của xã hội Trong gia đình chữ hiếu là nền tảng để xây dựng hạnh phúc, đem đến sự an vui, an lạc cho tất cả mọi người

Con cái có hiếu với cha mẹ, ngoài việc mang lại niềm hạnh phúc chung trong gia đình, còn mang đến cho chính mình sự an lạc, bình an Mỗi cá nhân, mỗi gia đình trong xã hội, mỗi công dân của một quốc gia có an lạc, bình an thì xã hội, quốc gia đó mới có an lạc bình an, và mỗi xã hội, mỗi quốc gia có an lạc bình an thì thế giới của chúng ta mới được an lạc, bình an

Không có tình yêu thương kính trọng vô điều kiện đối với cha mẹ thì không thể có tình yêu thương thật sự đối với người khác Một xã hội không có những cá nhân có tình yêu thương thật sự, chỉ có những cá nhân, mà lòng yêu thương trong họ chỉ tồn tại khi các điều kiện xuất phát từ lòng tham dục đã được thỏa mản, nếu không đúng theo sự ham muốn, nếu trái với ý muốn, thì tình thương đó sẽ tan biến, dể biến thành sự khinh khi, đố kỵ, ganh ghét và hận thù Như thế thì xã hội đó, sẽ không thể có được sự an lạc, sự an bình thật sự

Phong tục tập quán của các dân tộc, giáo lý của các tôn giáo đều khuyên dạy, đề cao và hướng con người đến việc nhận thức và thể hiện lòng hiếu hạnh của mình đối với đấng sinh thành Đặc biệt nước ta với nền văn minh phát triển từ rất lâu, văn hóa Nho-Phật-Lão đã ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội ngay từ

24 thời lập quốc Chữ hiếu đã hình thành và tồn tại trong từng cá nhân như là bản tính tự nhiên vốn có từ khi chúng ta mới chào đời

Gia đình là trường học đầu tiên với những bài học sống động Học đường là nơi phát triển con người về văn hóa, tri thức, tình cảm… nhưng tất cả những gì mà lớp trẻ học ở trường chỉ là nối tiếp công việc giáo dục của gia đình Mặc dù gia đình không có một hệ thống lớp như ở trường, nhưng lại có một nền giáo dục đạo đức rất hữu hiệu, chính nhân cách của cha mẹ và hành động của cha mẹ là tấm gương giáo dục lý tưởng thiết thực, luôn khắc sâu vào ký ức của tuổi trẻ

Vì thế giáo dục gia đình là yếu tố rất cần thiết cho đứa trẻ đủ can đảm bước vào đời Từ khi cơ cấu kinh tế có sự thay đổi thì gia đình cũng có sự thay đổi Xã hội có những tác động lên môi trường bao nhiêu thì gia đình cũng ảnh hưởng lên đời sống con cái bấy nhiêu Nếu một gia đình ổn định, trong đó các thế hệ cùng chung sống hòa thuận với nhau, thì con trẻ sẽ ít có những sự thay đổi về giá trị đạo đức, hay nói cách khác, giới trẻ sống trong gia đình đó sẽ huân theo lối sống của ông cha họ Gia đình nào sống hạnh phúc, trong đó cha mẹ và con cái sống hài hòa với nhau, thì người trẻ sẽ cảm nhận những giá trị cao đẹp như: hạnh phúc, lắng nghe nhau, tha thứ cho nhau, chấp nhận những khác biệt của nhau, yêu thương nhau, nâng đỡ nhau, v.v Còn những gia đình nào không có hạnh phúc thì con cái sẽ không có nhận định đúng đắn về những giá trị đạo đức như: yêu thương, nâng đỡ, hòa thuận…Từ chỗ đó, họ dễ rơi vào tình trạng chán đời, thất vọng: bỏ nhà đi bụi, sốngbê tha, sống bất cần đời, v.v

Tục ngữ Việt Nam có nhiều câu nói về ảnh hưởng của cha mẹ gia đình đến con cái, mang tính răn dạy như:

“Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”

“Họ nhà công, không giống lông cũng giống cánh”

Vai trò của bậc làm cha mẹ trong giáo dục con cái xưa cũng như nay, đời cũng như đạo, đều được đánh giá rất cao, không những chỉ có liên quan đến hạnh phúc gia đình, xã hội được yên vui trật tự, mà còn ảnh hưởng đến sự tiến thân trong sự nghiệp của con cái mình ngoài xã hội ở tương lai nữa Đức Phật đã thấy rõ tầm quan trọng của sự giáo dục trong gia đình nên đã dạy các bậc làm

25 cha mẹ đương thời phải dùng lý trí trong tình thương yêu dạy dỗ con cái, để con cái có mối quan hệ gần gũi và yêu mến cha mẹ nhiều hơn

“Cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo 5 cách:

Ngăn chặn con làm điều ác

Khuyến khích con làm điều thiện ”

Người Việt Nam, vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo và Phật giáo, coi đạo Hiếu là đạo lí cơ bản của con người, là gốc của nhân cách và là nền tảng của đạo đức xã hội “Không trọn đạo với cha mẹ không đáng làm người” (Mạnh Tử) Trong cuộc sống đã có biết bao tấm gương hiếu thảo làm động lòng cả trời đất, song cũng có nhiều kẻ bất hiếu, vô luân làm lương tri xã hội nhức nhối Người xưa có câu: “Kính già, già để phúc cho” Người già là đối tượng cần được xã hội quan tâm chăm sóc, thương yêu Xã hội và mỗi gia đình, mỗi người cần quan tâm hơn đến người già để những người đã cống hiến, hi sinh cả cuộc đời cho xã hội, cho con cháu được sống thanh thản, hạnh phúc trong buổi hoàng hôn của cuộc đời Làm gì để giữ gìn, chấn hưng đạo Hiếu và những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc trong xã hội công nghiệp hoá với sự lấn lướt của tâm lí thực dụng, chủ nghĩa cá nhân và lối sống hưởng thụ đang là mối quan tâm chung của xã hội

Nguyên nhân con cái không có ý thức thực hiện đạo Hiếu có nhiều, trong đó có nguyên nhân chủ quan là do giáo dục đạo đức trong gia đình chưa được coi trọng Nhiều gia đình các bậc cha mẹ chưa thật chú trọng giáo dục đạo Hiếu cho con Có hiện tượng cha mẹ thiếu gương mẫu, không dành nhiều thời gian cho con cái, dung túng hành vi tham lam ích kỷ, ngang ngược của con cái Khi con cái có biểu hiện chưa tốt thì ít khuyên nhủ, nặng về trách mắng Nhiều con trẻ không nhận được sự dạy bảo quan tâm chăm sóc thường xuyên của cha mẹ nên bỏ học, chơi bời lêu lổng Sự buông lỏng giáo dục đạo đức gia đình của các bậc cha mẹ dẫn đến sự bất ổn trong cuộc sống gia đình

Giáo dục đạo đức nói chung và đạo Hiếu nói riêng trong nhà trường cũng không được coi trọng Nhà trường hiện nay nặng về truyền dạy kiến thức văn hóa, mà chưa chú ý nhiều đến luân lý đạo đức Tình trạng xuống cấp đạo đức

26 trong học sinh có chiều hướng gia tăng đến mức báo động Nhiều học sinh chỉ biết đòi hỏi, hưởng thụ mà không quan tâm tới người khác, thái độ dửng dưng đến vô cảm trước những người xung quanh trong đó có ông bà, cha mẹ không phải là ít Một bộ phận học sinh, sinh viên quen lối sống buông thả, xa dần các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp; hình thành tư tưởng cá nhân ích kỷ, thói ăn chơi đua đòi và sa vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm, nghiện hút, trộm cướp, thậm chí giết người khiến các bậc cha mẹ đau lòng, cả xã hội nhức nhối

Tình hình đó khiến các bậc cha mẹ, các nhà quản lý giáo dục và cả xã hội không thể làm ngơ Vấn đề đặt ra là cần phải làm thế nào để giảm bớt và đi tới chấm dứt các hiện tượng suy thoái đạo đức lối sống nhằm phát huy giá trị đạo Hiếu trong xã hội hiện nay Đã đến lúc cả hệ thống chính trị phải vào cuộc trong sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức gia đình trong đó có giáo dục đạo Hiếu cho lớp trẻ

Từ đó cho thấy được vấn đề giáo dục gia đình hiện nay cần có kết hợp của nhiều tư tưởng truyền thống và đặc biệt đó chính là quan niệm của Hiếu trong triết học Phật giáo, quan niệm đó không bị mai một theo thời gian, không gian Đặt trong bối cảnh đất nước việt nam hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của đất nước, nhu cầu vật chất dần được cải thiện vô tình bỏ qua những giá trị tốt đẹp về mặt tinh thần để rồi làm toát lên cái giá trị to lớn mà Phật giáo đem lại- chính là giá trị về Hiếu

GIÁ TRỊ HIỆN THỜI CỦA “HIẾU” TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VỚI GIÁO DỤC GIA ĐÌNH Ở ĐÀ NẴNG

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w