Thương nhân Hà Lan do không có liên quan đến Thiên chúa giáo, lại có công giúp đỡ chính quyền Edo trong việc dập tắt khởi nghĩa ở Shimabara nên đã được tiếp tục ở lại quan hệ buôn bán và
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khu vực châu Á thế kỉ XVI, XVII có những chuyển biến quan trọng về nhiều mặt Các nước trong khu vực đang tiến tới các quốc gia phong kiến thống nhất hùng mạnh Đây cũng là khoảng thời gian mà các nước châu Á chịu sự nhòm ngó, xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây, nguy cơ mất độc lập của các nước châu Á là rất lớn Vì vậy có thể coi là khó khăn, thách thức lớn nhất mà các nước châu Á gặp phải Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó quan hệ giữa một số nước châu Á với thực dân phương Tây vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển
Nằm trong khu vực Đông Bắc Á, Nhật Bản thế kỉ XVII đã là một quốc gia thống nhất và đang trong thời kì nắm quyền của Tướng quân Tokugawa Ieyasu Đây là điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản tiến hành khôi phục và xây dựng nền kinh
tế trong nước, mở rộng ảnh hưởng đối với các quốc gia trong và ngoài khu vực Giới cầm quyền Nhật Bản đã chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế nên đã tích cực trong việc thiết lập mối quan hệ với các nước bên ngoài Đặc biệt là tạo mọi điều kiện cho những mối quan hệ với phương Tây
Đối với các nước phương Tây, Nhật Bản luôn đề cao cảnh giác trước những
âm mưu xâm lược của họ Hầu như mọi quan hệ chỉ diễn ra trong lĩnh vực thương mại Chính vì vậy, khi phát hiện thương nhân của Bồ Đào Nha có liên quan đến việc truyền đạo Thiên chúa giáo và có âm mưu xâm lược Nhật Bản, chính quyền Tokugawa đã ra lệnh trục xuất những thương nhân ngoại quốc và phát lệnh “Tỏa quốc” (Sakoku, 1639) Thương nhân Hà Lan do không có liên quan đến Thiên chúa giáo, lại có công giúp đỡ chính quyền Edo trong việc dập tắt khởi nghĩa ở Shimabara nên đã được tiếp tục ở lại quan hệ buôn bán và trở thành thương nhân
có vai trò quan trọng đối với Nhật Bản trong thời kì tỏa quốc cho tới khi Mỹ buộc Nhật Bản phải mở cửa (1853) Như vậy, nhờ có thương nhân Hà Lan mà trong suốt hơn 250 năm đóng cửa Nhật Bản vẫn không bị cô lập, không bị lạc hậu mà ngược lại đó lại là điều kiện tốt cho Nhật duy trì được sự hòa bình, ổn định của đất nước Thời kì Tokugawa (1603 - 1868) trở thành một giai đoạn phát triển cao nhất
Trang 3của chế độ phong kiến ở Nhật Bản Là nền tảng vững chắc cho công cuộc Minh Trị duy tân thời kì cận, hiện đại
Như vậy, việc nghiên cứu “Quan hệ Nhật Bản - Hà Lan thời kì Tokugawa (1603 - 1868)” là một điều hết sức cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đó cũng là lý do mà chúng tôi quyết định chọn đề tài này làm khóa luận tốt nghiệp cuối khóa học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi tìm hiểu về Nhật Bản có rất nhiều chủ đề để cho các nhà sử học nghiên cứu Trong đó có một vấn đề về quan hệ giữa Nhật Bản với các nước phương Tây thời cận đại Trong thời kì đó có quan hệ của đất nước Nhật Bản với các thương nhân Hà Lan dưới thời Tokugawa (1603 - 1868) được coi là một vấn đề hay nhưng
“khó” “Khó” bởi nguồn tài liệu, “khó” bởi các nhà nghiên cứu chưa khai thác được những nguồn tài liệu gốc liên quan trực tiếp tới mối quan hệ này Tuy nhiên qua tìm hiểu chúng tôi cũng đã tìm thấy được một số bài viết của các nhà nghiên cứu liên quan tới vấn đề như sau:
Tác giả Nguyễn Văn Kim có bài nghiên cứu Người Hà Lan - những năm đầu ở Nhật Bản Bài viết cho chúng ta thấy được một số hoạt động của người Hà
Lan trong những năm đầu ở Nhật Bản từ việc xin đặt quan hệ, lập thương điếm đến giành được quyền buôn bán chính ở Nhật Bản cùng với Trung Quốc Tuy nhiên bài viết mới chỉ đề cập quan hệ Nhật Bản - Hà Lan ở giai đoạn đầu từ 1600 đến khi Tokugawa ra lệnh “tỏa quốc” mà chưa nghiên cứu mối quan hệ này ở những giai đoạn sau cho tới hết thời Tokugawa
Hay công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hoàn: Nhật Bản trong dòng chảy lịch sử thời cận thế Trong đó cũng có một số bài viết về quan hệ
thương mại và giao lưu văn hóa của Nhật Bản với Hà Lan Tuy nhiên, có bài viết chủ yếu trình bày về các mặt hàng buôn bán mà Nhật Bản có ưu thế như vàng, bạc, sứ chứ chưa trình bày được một cách toàn diện về quan hệ Nhật Bản - Hà Lan thời Tokugawa Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về Nhật Bản từ
khởi thủy đến hiện đại của các nhà sử học khác như: Lịch sử Nhật Bản của Phan
Trang 4Ngọc Liên; Lịch sử Nhật Bản của Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên); hay Nhật Bản cận đại của Vĩnh Sính Trong đó các tác giả cũng đã có đề cập tới quan hệ của
Nhật Bản - Hà Lan một cách khái quát nhất
Trong các tạp chí nghiên cứu Lịch sử, tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và
Đông Bắc Á của các tác giả: Nguyễn Văn Kim: “Nhật Bản 3 lần mở cửa - 3 sự lựa chọn” ; Hoàng Anh Tuấn : “Mậu dịch tơ lụa của công ty Đông Ấn Hà Lan với Đàng Ngoài 1637 - 1670” Các bài viết đã cung cấp một số thông tin liên
quan đến quan hệ Nhật Bản - Hà Lan thời Tokugawa Thế nhưng các tư liệu cũng còn khá ít ỏi
Bên cạnh đó còn có một luận văn Thạc sĩ Sử học và khóa luận tốt nghiệp
Cử nhân Lịch sử viết về quan hệ Nhật Bản với phương Tây như: Quan hệ Nhật Bản với các nước phương Tây thời Tokugawa (1603 - 1868) của Trần Văn Đạt; Vai trò của thương nhân Hà Lan, Trung Quốc trong mối quan hệ kinh tế Nhật Bản với Việt Nam (1635 - 1786) của Nguyễn Tuấn Anh Đây là những công trình
nghiên cứu một cách khái quát về quan hệ Nhật Bản với các nước phương Tây và vai trò của thương nhân Hà Lan trong quan hệ của Nhật Bản với Việt Nam Tuy vậy các công trình này cũng chưa đi vào cụ thể quan hệ Nhật Bản - Hà Lan thời
Tokugawa
Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết nghiên cứu về Nhật Bản và quan hệ Nhật Bản với phương Tây - Hà Lan nhưng vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về quan hệ Nhật Bản - Hà Lan thời Tokugawa ( 1603 - 1868 )
3 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên các tư liệu sưu tầm được, mục đích của đề tài là nhằm tái hiện lại một cách trung thực, khách quan bối cảnh lịch sử của Hà Lan và Nhật Bản trước khi quan hệ với nhau Từ đó nghiên cứu mối quan hệ của hai nước trong thời kì Tokugawa (1603 - 1868) Đây là giai đoạn mà quan hệ của hai nước được coi là tốt đẹp nhất cho đến trước khi Nhật Bản mở cửa với các nước phương Tây
Trang 5Thông qua đó tác giả muốn tái giúp cho người đọc nhận diện một cách chân thực, chính xác những thăng trầm, những kết quả tốt đẹp qua các lĩnh vực trong mối quan hệ của Nhật Bản và Hà Lan
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ của hai nước Nhật Bản và Hà Lan trong thời kì Tokugawa (1603 - 1868) trên các phương diện: tiền đề, nội dung, kết quả, đặc điểm, vai trò Tuy nhiên, quan hệ của Nhật Bản - Hà Lan chịu sự ảnh hưởng và chi phối của tình hình chính trị Nhật Bản từ đầu thế kỉ XVII đến giữa thế
kỉ XIX Do đó, chúng tôi còn tìm hiểu thêm về bối cảnh lịch sử xã hội của Nhật Bản để từ đó thấy được sự tác động qua lại của bối cảnh đối với quan hệ Nhật Bản
- Hà Lan dưới thời Tokugawa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đề cập đến mối quan hệ giữa Nhật Bản với Hà Lan trong thời Tokugawa được thể hiện thông qua các lĩnh vực quan hệ trao đổi buôn bán và giao lưu về văn hóa, khoa học kĩ thuật Mặc dù phạm vi thời gian là dưới thời Tokugawa của Nhật Bản, nhưng chúng tôi vẫn có những nghiên cứu về mối quan
hệ qua lại giữa Hà Lan với Nhật Bản nhằm làm rõ hơn đề tài cần nghiên cứu
5 Các nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp chính của chuyên ngành Lịch sử như: phương pháp lôgic, phương pháp lịch sử kết hợp với
sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợp; thống kê, mô tả; so sánh, đối chiếu, Sử dụng các phương pháp và thao tác đó, chúng tôi thực hiện đề tài theo ba bước sau:
Bước một: Sưu tầm và tìm kiếm tài liệu Sau khi xác định tên, đối tượng và giới hạn của đề tài, chúng tôi tiến hành sưu tầm các tài liệu có liên quan như: sách, tạp chí nghiên cứu về Nhật Bản và quan hệ của Nhật Bản Thực hiện điều này chúng tôi tìm kiếm và sử dụng các tài liệu được lưu trữ tại thư viện Đại học Sư phạm Đà Nẵng, phòng tư liệu khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng,
Trang 6Thư viện Đại học Sư phạm Huế, phòng tư liệu khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Huế, Thư viện Đại học Khoa học Huế,
Bước 2: Trên cơ sở những tài liệu thu thập, tìm kiếm được chúng tôi tiến hành phân tích để tổng hợp nên những nội dung trong quan hệ của Nhật Bản với
Hà Lan thời Tokugawa (1603 - 1868) và đối sánh với quan hệ của Nhật Bản với các nước khác trong cùng giai đoạn
Bước 3: Sau khi trình bày các lĩnh vực trong quan hệ của Nhật Bản - Hà Lan, tôi làm nổi bật lên vai trò và đặc điểm của mối quan hệ đối với chính trị, kinh
tế, xã hội lúc bấy giờ
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ cung cấp nguồn tư liệu có tính hệ thống giúp cho chúng ta hiểu được một cách tương đối, rõ ràng, mạch lạc về quan hệ của Nhật Bản với Hà Lan thời kì Tokugawa (1603 - 1868) bao gồm những nội dung gì và diễn ra như thế nào trong giai đoạn thống trị của chính quyền phong kiến Tokugawa Bên cạnh đó, còn cho thấy mối quan hệ này có đặc điểm gì và vai trò của nó như thế nào đối với sự ổn định và phát triển của cả hai nước, đặc biệt là trong thời kì Nhật Bản thực hiện chính sách “đóng cửa” đất nước
Trên cơ sở tìm hiểu những đặc điểm trong quan hệ của Nhật Bản với Hà Lan trong hơn hai thế kỉ để cho chúng ta có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ này và cũng từ đó rút ra được những bài học lịch sử về quan hệ giữa các nước Nhận thức được sự gắn liền và luôn tồn tại tương trợ lẫn nhau giữa quan hệ ngoại giao, thương mại và các mối quan hệ khác Qua đó có thể vận dụng vào mối quan
hệ song phương và đa phương trong giai đoạn đất nước đang mở cửa hiện nay
Đồng thời vấn đề mà đề tài đề cập còn là một nội dung trong lịch sử quan
hệ quốc tế thời kì cận đại cho nên đề tài còn là nguồn tư liệu tham khảo cho sinh viên các nhóm ngành: Lịch sử, Đông Nam Á, Đông phương học, Quốc tế học và những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề này
Trang 77 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm có hai chương:
Chương 1: Cơ sở để xác lập quan hệ Nhật Bản - Hà Lan thời Tokugawa (1603 - 1868)
Chương 2: Mối quan hệ giữa Nhật Bản và Hà Lan thời Tokugawa (1603 - 1868)
Trang 8NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở để xác lập quan hệ Nhật Bản - Hà Lan thời Tokugawa
(1603 - 1868) 1.1 Tình hình của Nhật Bản và Hà Lan đầu thế kỉ XVII
1.1.1 Nhật Bản những năm đầu thế kỉ XVII
1.1.1.1 Quá trình thống nhất Nhật Bản
Đầu thế kỉ XVII, ở phương Đông nói chung và Nhật Bản nói riêng vẫn tồn tại chế độ phong kiến Nền kinh tế kém phát triển hơn so với các nước phương Tây và có thể coi là vẫn nằm trong tình trạng “lạc hậu” hơn Bên cạnh đó, các nước phương Đông lại là những miền đất hứa đối với các nước phương Tây Vì vậy, sau những cuộc phát kiến địa lý vào cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, phương Tây dần tìm đến với lục địa xa xôi này Các đoàn thuyền buôn và thuyền chiến phương Tây xuất hiện ngày càng nhiều trên vùng biển châu Á đã tác động mạnh đến quan hệ các nước trong khu vực Năm 1511, Bồ Đào Nha xâm chiếm Malacca, đây là nước thực dân đầu tiên có mặt tại Á châu và cũng là sự khởi đầu cho hàng loạt hành động tranh giành ảnh hưởng, cướp đoạt của các nước phương Tây đối với nhiều dân tộc châu Á nói chung Tiếp sau Bồ Đào Nha là Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh cũng lần lượt tìm đến châu Á, trong đó có Nhật Bản
Trong khi đó, ở Nhật Bản vào nửa sau thế kỉ XVI dưới thời Mạc phủ Muromachi, đất nước chia thành hai miền Nam - Bắc triều và chiến tranh xảy ra thường xuyên làm cho đời sống của nhân dân đói khổ Trong khi đó, bọn phong kiến thường huy động nông dân tham gia vào quân đội của chúng làm cho nông dân bắt đầu có thói quen sử dụng vũ khí và ít nhiều có những hiểu biết về quân sự,
ở nhiều nơi nông dân còn tự động kết thành từng nhóm để bảo vệ xóm làng, khi có việc thì đánh chuông triệu tập hội nghị dân làng để triệu tập Bên cạnh đó do sự áp bức bóc lột ngày càng nặng nề của giai cấp phong kiến và do những điều kiện thuận lợi mới như vậy nên kể từ đầu thế kỉ XV đã có hàng loạt các cuộc đấu tranh
Trang 9và khởi nghĩa của nông dân chống lại chính quyền Mạc phủ làm cho chính quyền Mạc phủ suy yếu Đến nửa sau thế kỉ XVI, sự nghiệp thống nhất đất nước của các
vị anh hùng trong lịch sử Nhật Bản bắt đầu Mở đầu là nhà lãnh đạo quân sự Oda Nobunaga (1534 - 1582), tiếp đến là vị anh hùng Toyotomi Hideyosi (1536 - 1598), và hoàn thành sự nghiệp thống nhất Nhật Bản là Tướng quân Tokugawa Ieyasu (1542 - 1616)
Nobunaga là một Daimyo nhỏ ở vùng Oda, gần Nagoya thuộc trung bộ đảo Hanshu Ông đã tổ chức một đạo binh mạnh và áp dụng kĩ thuật mới nên đã nhanh chóng đánh bại Mạc phủ Muromachi vào năm 1573 rồi nắm lấy chính quyền trung ương, nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra trung thành với Thiên hoàng nên không xưng tướng quân Tuy nhiên, đến năm 1582, Nobunaga bị bộ hạ của mình là Akechi Mitsuhide làm phản, ám sát trước khi thực hiện giấc mộng bá quyền của mình
Người kế thừa sự nghiệp của Nobunaga là Tướng quân Toyotomi Hideyoshi Sau khi giết chết Akechi Mitsuhide báo thù cho chủ tướng, ông lần lượt đánh bại các bộ tướng khác của Nobunaga thống nhất chính trị trên toàn cõi năm 1590 Tuy nhiên ông chỉ xưng là Kampaku (quan bạch) như Tể tướng của triều đình, nhưng thực tế nắm hết mọi quyền bính trong tay Ông đã đưa thành phố Osaka trở thành trung tâm chính trị và kinh tế của cả nước Về mặt đối ngoại, ông
đã hai lần đưa quân sang đánh Triều Tiên vào các năm 1592 và 1597 Đến năm
1598, Hideyoshi chết đột ngột đã làm cho mộng xâm lược bành trướng ra bên ngoài của Hideyoshi không thực hiện được
Sau khi chết, Hideyoshi để lại vương quyền cho con trai là Hideyori nhờ Tokugawa Ieyasu và bốn daimyo phò tá Trong đó Tokugawa Ieyasu là người có thế lực nhất, vốn đã xây đắp thành Edo nay là Tokyo để chờ thời cơ Năm 1600, Ieyasu đánh tan liên minh của những Daimyo này ở Sekigahara, rồi xưng là
“Tướng quân” lập Mạc phủ ở Edo, gọi là “Mạc phủ Tokugawa” Sau đó được Thiên hoàng phong chức “Chinh Di Đại Tướng Quân” (1603), bắt đầu thời kì hòa bình thịnh trị kéo dài trong suốt hơn 250 năm Như vậy, Nhật Bản đến thời kì
Trang 10Tokugawa đã hoàn thành xong quá trình thống nhất đất nước Từ đây đất nước Nhật Bản có điều kiện phát triển kinh tế xã hội
Trong suốt thời kì cai trị của mình Tướng quân Tokugawa Ieyasu đã thi hành nhiều biện pháp nhằm củng cố Mạc phủ và chế độ phong kiến Nhật Bản Trước tiên, ông thiết lập và bảo đảm hoạt động cho cơ chế vận động song song giữa một bên là Mạc phủ, đứng đầu là Tướng quân Tokugawa đóng ở Edo và một
bên là các daimyo cai trị khoảng trên 260 lãnh địa Cơ sở tồn tại của chế độ này đó
chính là dựa trên lòng trung thành tuyệt đối của đẳng cấp võ sĩ và sự cân bằng trong cơ cấu quyền lực giữa trung ương với các địa phương ở cả hai vấn đề kinh tế
và chính trị Đồng thời, Ieyasu tiếp tục xây dựng cơ sở của chế độ phong kiến
bằng cách dựa vào các daimyo Dựa trên tiêu chuẩn ai đứng về phía mình trước khi trận Sekigahara kết thúc để chia các daimyo làm ba loại: Shimpan, Fudai
daimyo và Tozanma daimyo Trong đó, Shimpan là họ hàng, con cháu của gia tộc Tokugawa, gồm có 23 lãnh chúa Fudai daimyo gồm 145 lãnh chúa vốn là đồng minh với Tokugawa từ trước năm 1600 Tozanma daimyo gồm 97 lãnh chúa, là những người chỉ chịu khuất phục Tokugawa sau khi thua trận
Tiếp đến, năm 1615, Ieyasu cho ban hành bộ luật “Buke Shohato” (Bộ luật
vũ gia, được sửa đổi năm 1635) để kiểm soát các daimyo và thiết chế hóa bộ máy
hành chính Nội dung của bộ luật quy định:
“(1) Cấm các daimyo xây thêm thành quách, nếu cần tu sửa thì phải có sự đồng ý của Bakufu; (2) cấm các daimyo trở thành thông gia hay kết nghĩa đồng minh; (3) luật lệ hóa chế độ sankin kotai, bắt buộc các daimyo phải để vợ con ở Edo làm con tin, và các daimyo cử mỗi năm ở han của mình phải lên Edo túc trực một năm; (4) cấm đóng tàu lớn” [30, tr 53] “Bộ luật Vũ gia” do Tokugawa
Ieyasu ban hành trước khi mất một năm và 20 năm sau thì được Shogun thứ ba chỉnh lý, hoàn thiện hơn Bộ luật này đã góp phần củng cố chính quyền trung ương
ở Edo và ràng buộc hơn nữa các chư hầu
Đối với Thiên hoàng ở Kyoto, Mạc phủ Tokugawa vừa nâng cao uy tín của
Thiên hoàng lại vừa tìm cách tách rời và kiểm soát Thiên hoàng với các daimyo
Trang 11nhằm phòng ngừa các daimyo có thể nhờ sự giúp đỡ của Thiên hoàng mà chống
lại mình
Để phân biệt địa vị xã hội, chính quyền còn quy định tỉ mỉ, khắc nghiệt đối với nông dân như: không cho họ được ăn gạo ngon, mặc đẹp, diễn kịch vui chơi Thực hiện “ngũ liên gia” để bắt họ phải quản lí và giám sát và chịu trách nhiệm hành chính lẫn nhau Từ đó, Tokugawa vừa trở thành lãnh chúa lớn nhất, vừa là người cai trị thực tế đất nước Làm cho Thiên hoàng không còn thực quyền, đó là nguyên nhân của sự mâu thuẫn giữa Shogun với Thiên hoàng và việc các công quốc phía Nam ủng hộ Thiên hoàng sau này
Từ những chính sách trên của chính quyền Tokugawa đã làm dấy lên những cuộc khởi nghĩa của nông dân mà Mạc phủ không thể dập tắt được Tiêu biểu trong đó có cuộc khởi nghĩa ở Shimabara (1637) với 3 vạn người tham gia Mạc phủ đã đàn áp hết sức dã man và tăng cường hơn sự kiểm soát với nhân dân Tuy vậy, lại càng làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng trầm trọng hơn
Như vậy, sau khi trải qua các cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của
ba nhà lãnh đạo quân sự tài ba, Nhật Bản đã được hoàn toàn thống nhất dưới sự cai trị của chính quyền Tokugawa Ieyasu Bằng những chính sách cai trị đất nước của mình, tướng quân Tokugawa Ieyasu đã xây dựng nên một đất nước Nhật Bản thống nhất và phát triển cao nhất của chế độ phong kiến Nhật Bản
1.1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa Nhật Bản sau khi đất nước thống nhất
Ở đầu thế kỉ XVII, sau khi Nhật Bản được thống nhất, kinh tế - xã hội, văn hóa Nhật Bản cũng có những bước tiến nhất định
Nông nghiệp được chú trọng, mở rộng diện tích, sản lượng tăng lên và loại hình sản phẩm cũng phong phú hơn Kết quả là diện tích đất canh tác từ 950.000
ha vào giữa thế kỉ XV tăng lên 1.640.000 ha vào năm 1600 Cùng với mở rộng
diện tích, sản lượng lương thực của Nhật Bản đã tăng lên rõ rệt Cũng năm 1600,
tổng sản lượng lương thực đạt 19,7 triệu koku Ngoài lúa là cây lương thực chính,
nông dân Nhật còn trồng kê, lúa mì, đậu tương, khoai lang, ngô Ấn Độ, đậu
Trang 12Pháp… Ngoài ra, trong nông nghiệp Nhật Bản còn hình thành nên các khu chuyên canh Từ đó tạo nên nguồn sản phẩm hàng hóa phong phú và cung cấp nguyên liệu cho các công xưởng thủ công Nhờ vậy, mà có một số nông dân giàu có vừa thâm canh vừa kết hợp sản xuất thủ công nghiệp hoặc chế biến sản phẩm bán ra thị trường, đã trở thành địa chủ mới
Thủ công nghiệp cũng được phát triển để đáp ứng nhu cầu của giai cấp phong kiến Có nhiều mặt hàng nổi tiếng như giấy của xứ Mino, rượu của xứ
Nisino Miya, hàng dệt của vùng Kyoto Bên cạnh đó, vào thế kỉ XVII, “bắt đầu xuất hiện một số công trường thủ công trong việc khai mỏ, luyện kim, thương mại, ngân hàng, những chủ kinh doanh lớn như Metsui, Yamanaga” [23, tr 82]
Đầu thời Tokugawa, có một điểm mới đó là sự ra đời của các thành phố và thương nghiệp Trong thời kì Tokugawa đã có tới hơn 200 thành phố, thị trấn Trong đó có thành phố lớn với trên 100.000 dân Ở đó tập trung các phường hội độc quyền sản xuất một loại hàng hóa, là trung tâm sản xuất thủ công nghiệp cung cấp cho thị trường Quyền lực của chế độ Shogun được củng cố, việc cai trị tập trung, công nghiệp và nghề thủ công phát triển mạnh mẽ, giao thông được cải thiện, đem lại sự thịnh vượng cho buôn bán và thương mại nội địa Các thị trấn cũng mọc lên ngày càng nhiều và rất hưng thịnh
“Sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa - tiền tệ phát triển đã tác động to lớn đến xã hội Tokugawa Càng củng cố thêm chế độ phong kiến và mối quan hệ chặt chẽ phụ thuộc lẫn nhau giữa nhà sản xuất, thương nhân, cho vay lãi Quan hệ sản xuất mới tư bản chủ nghĩa thâm nhập vào xã hội phong kiến song không phá
vỡ xã hội này” [23, tr 83] Đặc điểm này sẽ chi phối đến tiến trình đưa Nhật Bản
tiến theo con đường tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ chế độ phong kiến
Ở những năm đầu của thế kỉ XVII, cũng là thời kì hoạt động sôi nổi của các đoàn thuyền buôn Nhật Bản Họ mang theo những giấy phép Châu ấn và buôn bán
ở khắp nơi, có mặt tại hầu hết các thương cảng lớn ở vùng biển Nội Á, như: Siam (Thái Lan), Batavia (Indonexia), Tonkin (Đại Việt)… Hoạt động của các thương hội càng phát triển, khi Tokugawa đóng cửa với thương nhân châu Á Những
Trang 13thương nhân lớn có vai trò, ảnh hưởng trong thương hội có quyền quyết định giá
cả, tỉ giá hối đoái trong cả nước
Như vậy, đầu thế kỉ XVII, nông nghiệp là cơ sở kinh tế căn bản của đất nước Nhật Bản Sau này, kinh tế công nghiệp và thương nghiệp hình thành ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Về xã hội để ổn định chính trị, chính quyền Tokugawa dựa trên quan niệm của Khổng giáo chia xã hội thành 4 đẳng cấp: Sĩ, nông, công, thương Trong đó, đẳng cấp vũ sĩ là có địa vị lớn nhất, chiếm từ 6% đến 10% của toàn dân số Nông dân là đẳng cấp thứ 2, chiếm khoảng 80% dân số tuy được coi trọng hơn công và thương nhưng thực tế chịu số phận hẩm hiu hơn cả, phải phục dịch, cung cấp thóc
gạo cho vũ sĩ Hai đẳng cấp công và thương được gọi chung là chonin, có địa vị
thấp nhất trong xã hội, không được coi trọng bởi quan niệm trọng nông ức thương
Chonin chiếm khoảng 6% đến 7% dân số, sinh sống ở thành phố và ngày càng có
thế lực, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế và văn hóa của cả nước Đẳng cấp vũ sĩ phải dựa vào họ trong các nghiệp vụ kinh tế: chuyên chở gạo và các nông sản khác
ra thị trấn, làm người môi giới và đổi tiền để bán các sản phẩm địa phương Riêng thương nhân bị coi là đẳng cấp có địa vị thấp nhất Tuy nhiên, càng ngày thì vai trò của họ càng quan trọng hơn, chi phối việc sản xuất, buôn bán Đồng thời họ cũng trở thành chỗ dựa tài chính của các lãnh chúa, nên họ cũng được bảo vệ về chính trị cũng như được tạo điều kiện để phát triển kinh tế
Trong xã hội Nhật Bản, ngoài bốn đẳng cấp chính thức còn có một số
người, khoảng 38 vạn vào cuối thời Ieyasu, bị xem như là semmin (tiện dân) Có
thể, tổ tiên của họ là những người đã thất trận trước khi Tokugawa Ieyasu lên nắm chính quyền, hoặc là những người làm các nghề không được kính trọng như buôn bán thịt thà hay đồ da Như vậy, ta thấy chế độ đẳng cấp ở Nhật Bản khá gay gắt, quyền lực tập trung trong tay của đẳng cấp vũ sĩ, các đẳng cấp khác bị xem thường Nó cũng gần giống với chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ thời cận đại này Đó là một sự phân chia đẳng cấp hết sức phức tạp, nghiêm khắc Đẳng cấp cao nhất là Vua, tăng lữ và quý tộc quân sự, tương tự đẳng cấp võ sĩ ở Nhật Bản Trong xã hội
Trang 14cũng có một bộ phận bị khinh rẻ nhất Tuy nhiên, đối với xã hội Nhật Bản thương nhân bị coi là có địa vị thấp nhất, không được coi trọng thì ở xã hội Ấn độ, nhà buôn, thương nhân được đứng ở vị trí thứ hai, sau Vua, tăng lữ và quý tộc quân sự
Đó là sự khác nhau lớn trong phân chia đẳng cấp ở hai nước Điều này phụ thuộc
vào những quan niệm đối với mỗi đẳng cấp là khác nhau Ngoài ra, semmin (tiện
dân) của Nhật Bản mặc dù là đẳng cấp bị khinh rẻ nhất trong xã hội nhưng nó không bị coi là những con người quá “ghê tởm”, không ai thèm đụng tới như những người Paria ở Ấn Độ Họ vẫn còn được “sống” trong con mắt của những kẻ khác Mặc dù vậy, chế độ đẳng cấp ở cả hai nhà nước đều được bảo vệ nghiêm ngặt, là nguồn gốc cho những sự bất công trong xã hội
Đời sống của người dân có những tiến bộ hơn, phong phú hơn “Xóm làng
ở nông thôn quy hoạch khá ngăn nắp, có đường đi rộng, thẳng, những dòng nước tưới cho đồng ruộng Ở thành thị được xây dựng to lớn đẹp đẽ, dân cư đông đúc Bên cạnh đó, văn học nghệ thuật phát triển, đặc biệt là sân khấu, người Nhật rất thích xem “Kabuki”, một loại hình sân khấu múa rối Kĩ thuật sắp chữ in được truyền bá rộng rãi” [23, tr 84]
Ngoài ra, văn hóa thời Tokugawa cũng có hai xu hướng chính: văn hóa của
vũ sĩ và văn hóa của chonin Dưới sự bảo trợ của chính quyền Tokugawa, đẳng
cấp vũ sĩ chú trọng đến việc nghiên cứu Nho học và tư tưởng đạo đức của vũ sĩ
Chonin trên thực tế là đẳng cấp thấp nhất nhưng là người sáng tạo chủ yếu của văn
hóa thời Tokugawa với nhiều thể loại: tranh khắc gỗ, thơ Haiku, truyện văn xuôi, tuồng Kabuki Ngoài Nho học, còn có hai học phái: Kokugaku (Quốc học) và Rangaku (Lan học), nhờ vậy mà nước Nhật tránh được sự độc tôn của Nho học và
có những dự bị sơ bộ cần thiết trong khi đối phó với những thử thách của Tây phương sau này, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng
Như vậy, kinh tế - xã hội và văn hóa ở Nhật Bản vào nửa đầu thế kỉ XVII
đã có một sự phát triển nhất định, là điều kiện tốt để Nhật Bản duy trì sự ổn định
và phát triển của đất nước trong suốt thời kì Tokugawa Từ đó là điều kiện để Nhật Bản dễ dàng học tập văn minh phương Tây và đi kịp phương Tây sau này
Trang 151.1.1.3 Chính sách ngoại giao của Nhật Bản đầu thế kỉ XVII
Đến thế kỉ XVII, trên cơ sở kế thừa những thành quả trong chính sách kinh
tế của Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi, Tokugawa Ieyasu chủ trương tiếp tục mở rộng quan hệ ngoại thương và muốn xây dựng Nhật Bản thành một cường quốc kinh tế trong khu vực Ông cũng muốn dựa vào quan hệ ngoại thương để tăng cường nguồn lực tài chính cho Mạc phủ:
“Khi mới lên cầm quyền, Chinh Di Đại tướng quân lấy giao dịch với ngoại
quốc làm phương tiện tất yếu bổ xung tài chính quốc gia, lấy ưu đãi ngoại kiều Tây âu để có người hướng dẫn kĩ thuật chế tạo cho người bản quốc Cho nên, ở những năm đầu, ông ta săn sóc đến cả những giáo sĩ Thiên chúa lẫn thương nhân
da trắng và nâng đỡ những người Nhật xuất ngoại” [44, tr.235] Chính vì vậy mà
các quan hệ của Nhật Bản với Tây, Bồ, Mễ, Anh, Hòa diễn ra thuận lợi hơn và đạo công giáo phát triển mạnh
Sau khi được phong chức Shogun, Tokugawa Ieyasu đã cử người làm đại diện ở Nagasaki để củng cố và thiết lập lại trật tự trong hoạt động buôn bán quốc
tế tại thương cảng này Bên cạnh mối quan hệ với các nước phương Tây, Nhật Bản cũng chủ động cử nhiều đoàn thương thuyền đi buôn bán trực tiếp với bên ngoài
Do nạn giặc biển hoành hành khắp nơi, nên để bảo vệ những thương thuyền khỏi bị ngộ nhận mà bị tấn công lầm bởi những đoàn thủy quân tuần tiễu của mấy quốc gia Trung, Hàn hay của chính những thủ lĩnh Đại Danh, Mạc phủ đặt lệ cấp chứng chỉ cho những thuyền ấy Trong đó ghi rõ ngày xuất dương và các địa điểm vãng lai gọi là Go Shuin Jo (Ngự chu ấn trạng) và thuyền được cấp chứng chỉ gọi
là Go Shuin Sen (Ngự chu ấn thuyền) Sau này, do sự tiện lợi của chứng chỉ đó nên các thương nhân Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh-Cát-Lợi và Hòa Lan có giao dịch với Nhật Bản cũng đều xin Mạc phủ cấp cho để được gia nhập Châu Ấn
thuyền “Theo Iwao Seichi, một chuyên gia về quan hệ thương mại Nhật Bản thời cận thế, thì trong khoảng thời gian 30 năm (từ năm 1604 - 1635), Mạc phủ Edo đã cấp tổng cộng 365 giấy phép (shuinjo) cho phép 105 chủ thuyền gồm: 65 thương
Trang 16nhân, 10 lãnh chúa, 5 võ sĩ, 12 người Âu, 11 người Trung Quốc và 2 phụ nữ đi buôn bán với nước ngoài” [20, tr.158]
Dưới thời Tokugawa Ieyasu, việc giao tế và mậu dịch mở rộng với hầu khắp các đại trấn lục địa Trung Quốc, Đại Hàn, Đài Loan, Việt Nam ở châu Á; với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hòa Lan, Anh Cát Lợi ở châu Âu và Mễ Tây Cơ
ở châu Mĩ Tuy nhiên, đến những năm 30 của thế kỉ XVII, trước những vấn đề chính trị phức tạp trong nước và quốc tế, Mạc phủ đã từng bước ban hành chính sách hạn chế ngoại thương rồi đi đến quyết định “tỏa quốc” (Sakoku) vào năm
1639
Lệnh “bế quan tỏa cảng” được thực hiện triệt để từ năm 1639, toàn bộ người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và thương nhân các nước khác còn sót lại đều bị đuổi về hết, cắt đứt buôn bán với các nước này Chỉ còn lại người Hà Lan, Trung Hoa là được ở lại buôn bán tại đảo Dejima thuộc hải cảng Nagasaki Từ đó cho đến hơn 200 năm sau khi đô đốc M Perri mang đại bác đến gõ cửa Nhật Bản thì Dejima chính là cánh cửa sổ cỏn con duy nhất để người Nhật nhìn ra thế giới bên ngoài
Ngoài trừ việc cấm truyền bá tôn giáo, nguyên tắc căn bản trong chính sách đối ngoại của chính quyền Edo là ủng hộ và đảm bảo an toàn cho thuyền buôn các nước đến Nhật Bản, ngăn chặn tình trạng bất bình đẳng trong quan hệ thương mại,
áp đặt giá Khoảng 20 năm đầu thế kỉ XVII, chủ trương đối ngoại của chính quyền Edo tương đối rộng mở cho tới trước khi chính quyền này phải đương đầu với những vấn đề chính trị, kinh tế phức tạp
Như vậy, đầu thế kỉ XVII chính sách đối ngoại ban đầu của Nhật Bản là chủ trương mở rộng quan hệ ngoại thương với tất cả các nước nhưng về sau chuyển sang chính sách “sakoku - tỏa quốc” Từ đây, cánh cửa bên ngoài bị khóa chặt trước người Nhật và cánh cửa bước vào Nhật Bản cũng đóng lại trước mặt người châu Âu, châu Á (trừ Hà Lan, Trung Hoa, Triều Tiên và một số quốc gia Đông Nam Á khác) Nhờ có những nước được vào Nhật Buôn bán nên dù thực hiện chính sách “tỏa quốc” nhưng Nhật Bản không vì thế mà bị lạc hậu hơn so với
Trang 17các nước Trung Quốc, Việt Nam cũng thực hiện “bế quan tỏa cảng” như Nhật Bản
1.1.2 Vài nét về Hà Lan đầu thế kỉ XVII
1.1.2.1 Tình hình chính trị - xã hội, văn hóa
Cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, ở phương Tây vừa diễn ra các cuộc phát kiến địa lý lớn, mà đi đầu là thương nhân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Hệ quả đưa lại là rất lớn đối với tất cả các nước phương Tây Trước hết, tìm ra được nhiều con đường sang phương Đông buôn bán, làm cho thương nghiệp, nghề hàng hải và công nghiệp của nhiều nước châu Âu phát triển mạnh mẽ, nhiều sản phẩm mới lạ được đưa vào châu Âu, các trung tâm thương nghiệp mới xuất hiện ở châu Âu, trung tâm giao dịch giữa Đông - Tây chuyển từ Địa Trung Hải sang Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và sau nữa là Thái Bình Dương, từ đó trung tâm kinh tế thương mại ở Tây Âu chuyển sang cho thành phố Amxtecđam vào thế kỉ XVII Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha nhờ tìm ra được những nguồn hàng hải mới mà nhanh chóng trở thành những cường quốc công nghiệp Từ nửa đầu thế kỉ XVI, vàng và bạc của châu Mĩ ùn ùn chở về Tây Ban Nha và từ đó tràn đến các nước châu Âu khác Do đó, giá cả mọi hàng hóa tăng lên nhanh chóng, bạc vàng nhiều nên mất giá Vì vậy, đã mở ra quá trình khám phá, xâm nhập của các nước châu Âu sang những phần đất xa xôi ở châu Á, châu Phi và Mĩ La Tinh để kiếm lợi nhuận Bên cạnh đó, hầu hết các nước phương Tây cũng vẫn còn sự tồn tại của chế độ quân chủ phong kiến Thế nhưng, ở trong lòng xã hội phong kiến đó đều đã và đang có mầm mống xuất hiện của một nền sản xuất mới, tiến bộ hơn - nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Hai phương thức sản xuất này đối lập với nhau, đòi hỏi của thời đại là phải xóa bỏ cái cũ, xây dựng cái mới Từ đó dẫn đến hàng loạt các cuộc cách mạng tư sản - một loại cách mạng xã hội diễn ra ở các nước châu Âu, do giai cấp
tư sản lãnh đạo, nhằm xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi quốc gia Cuộc cách mạng tư sản đầu tiên nổ ra trên thế giới là cách mạng tư sản Nedeclan vào cuối thế kỉ XVI, kết quả đưa đến sự ra đời của nước Cộng hòa Hà Lan
Trang 18Hà Lan là một quốc gia nằm trong phạm vi lãnh thổ của xứ Nedeclan - một địa danh có nghĩa là “Xứ thấp” vì phần lớn đất đai ở đây thấp hơn mặt nước biển Năm 1566, cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới nổ ra - cách mạng Nedeclan do sự áp bức mang tính chất dân tộc của phong kiến Tây Ban Nha, mâu thuẫn giữa nhân dân Nedeclan với bọn thống trị ngoại lai này đã phát triển đến mức cực kì gay gắt Đồng thời, trong xã hội Nedeclan còn tồn tại mâu thuẫn giữa quan hệ tư bản chủ nghĩa mới ra đời với chế độ phong kiến dẫn đến bùng nổ cuộc đấu tranh Đây cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa của tất cả các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ ở châu Âu
Cuộc cách mạng diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt và kết thúc với thắng lợi ở miền Bắc thành lập Đồng minh Utơrết - Đồng minh này chính là cơ sở cho việc thành lập nước cộng hòa tư sản ở miền Bắc Nedeclan gọi là nước Cộng hòa Liên tỉnh, về sau gọi tên theo tên tỉnh lớn nhất và quan trọng nhất là Hôlan - Hà Lan (1581) Sau khi tuyên bố nền Cộng hòa, Hà Lan ký hiệp ước liên minh với Anh, Pháp để chống lại Tây Ban Nha Cuộc đấu tranh còn kéo dài nhiều năm, gây tổn thất nặng nề cho Tây Ban Nha Cuối cùng năm 1609, Tây Ban Nha phải ký với Hà Lan một hiệp ước hòa bình trong vòng 12 năm, thừa nhận sự độc lập của Hà Lan Sau khi hiệp định hết hạn, chiến tranh lại tiếp tục và dần dần hòa vào cuộc chiến tranh 30 năm với sự tham gia của các nước ở châu Âu Mãi đến năm 1648, Tây Ban Nha mới chính thức thừa nhận nền độc lập của Hà Lan Chính trị của Hà Lan
ở đầu thế kỉ XVII sau khi giành được độc lập có những nét chính:
“Trong bảy tỉnh của Hà Lan vẫn giữ nguyên hệ thống chính quyền địa phương và gửi các đại biểu đến quốc hội có tính cách một hội nghị ngoại giao hơn
là cơ quan lập pháp trung ương Mỗi tỉnh có cơ quan hành pháp đứng đầu là một Stadholder, nhưng đôi khi nhiều tỉnh cùng bầu một người Sau cuộc hưu chiến năm 1609, Maurice vương hầu Orange được năm trên bảy tỉnh chọn làm Stadholder Những khác biệt tôn giáo cũng chia rẽ nước Hà Lan Có một thiểu số Thiên chúa tương đối đông đảo, còn đa số Tin lành thì bị chia thành hai phái, chính thống Canvanh và phái ôn hòa Armimius” [6, tr.403]
Trang 19Như vậy, với thắng lợi trong cuộc cách mạng tư sản Nedeclan, Hà Lan trở thành nước Cộng hòa tư sản đầu tiên trên thế giới, mở ra con đường phát triển nhanh chóng về mọi mặt, đưa Hà Lan thành “một nước tư bản kiểu mẫu trong thế
kỉ XVII” Kể từ đây, Hà Lan cũng trở thành một nước thực dân đi xâm lược, cùng với các nước thực dân châu Âu khác tiến hành xâu xé thuộc địa ở các châu lục Á, Phi, Mĩ la tinh và bắt đầu có những mối quan hệ quốc tế với các nước tư bản khác trên thế giới
Về lĩnh vực văn hóa, ở giai đoạn này Hà Lan cũng là một nước tiên tiến Đầu thế kỉ XVII, Hà Lan có tới 6 trường đại học nổi tiếng Các ngành nghề khác như nghề in và nghề xuất bản cũng sớm phát triển, trong đó có những trung tâm quan trọng như Amxtecdam và Layden Đây cũng là nước có lĩnh vực báo chí ra đời sớm nhất, không chỉ đưa tin tức thế giới mà còn đăng các bìa xã luận và bình luận về các vấn đề chính trị và tôn giáo Bên cạnh đó, về khoa học kĩ thuật, triết học, sử học, hội họa… cũng có nhiều thành tựu nổi bật với nhiều nhà khoa học, học giả nổi tiếng như nhà vật lý Huyghen đã phát minh ra đồng hồ quả lắc, nhà triết học Xpinôda với việc đề xướng quan điểm duy vật và chủ nghĩa vô thần, họa
sĩ Frăng Han với những sáng tác nổi tiếng về hiện thực…
Như vậy, vào thế kỷ XVII, Hà Lan là một trong những cường quốc tiên tiến
ở châu Âu, đóng một vai trò quan trọng trong các vấn đề quốc tế Là thời kỳ mà
Hà Lan thâu tóm được nhiều thuộc địa Nhưng từ nửa sau thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII, các cuộc chiến tranh giữa Hà Lan với các nước khác ở châu Âu như chiến tranh với Anh vào năm 1651, chiến tranh với Pháp vào năm 1672 - 1678 đã làm cho Hà Lan suy yếu dần và mất nhiều thuộc địa
1.1.2.2 Tình hình kinh tế
Sau thắng lợi của cách mạng Nedeclan, đất nước Hà Lan được thành lập
mở ra một con đường phát triển nhanh chóng về mọi mặt, đưa Hà Lan trở thành
“một nước tư bản kiểu mẫu trong thế kỉ XVII” Nổi bật lên là sự phát triển của nền
kinh tế với nhận định: “Người Hà Lan là những nhà kinh doanh giỏi nhất thế giới” [6, tr.403]
Trang 20Trước hết, trong công nghiệp nhờ xóa bỏ được sự kìm hãm của các thế lực phong kiến ngoại tộc và trong nước, thu hút được nhiều thợ thủ công lành nghề từ miền Nam và từ Pháp tới nên công nghiệp Hà Lan vốn đã có nền tảng nay càng có điều kiện để phát triển hơn Có nhiều ngành nghề thủ công nổi tiếng khắp châu Âu như dệt len dạ, làm đồ thủy tinh, làm giấy, mài kim cương, nấu rượu, trồng hoa Tuylip đều đem tiền bạc và danh tiếng đến cho các tỉnh Hà Lan Nghề đóng thuyền cũng đã vượt xa các nước khác về quy mô sản xuất và kĩ thuật đóng tàu đi biển
Trong kinh tế thương nghiệp Hà Lan đã biết sử dụng thế mạnh của mình là một quốc gia ven biển, cửa khẩu của 3 con sông lớn ở Tây Âu và giữa các cường quốc kinh tế Anh, Pháp, Đức để phát triển các ngành dịch vụ hàng hải, cảng, vận tải sông, công nghiệp chế biến, hoá dầu… Vì vậy Hà Lan chủ yếu quan hệ với các nước ở châu Âu nhất là Bắc Âu và Trung Âu, thậm chí việc buôn bán ở vùng biển Bantích và Bắc Hải chủ yếu nằm trong tay người Hà Lan, số thuyền buôn Hà Lan lui tới ở biển Bantích chiếm tới 70% Hơn nữa hoạt động thương nghiệp của Hà Lan còn mở rộng đến tận châu Phi, Trung Cận Đông, Ấn Độ, Đông Nam Á và
châu Mĩ Chính vì vậy, “vào thế kỉ XVII Hà Lan được gọi là “anh phu xe trên biển”, các thương gia của Hà Lan đã lũng đoạn sự mậu dịch đối với những vùng đất thực dân ở hải ngoại của nước Anh, qua đó đã thu được món lợi kếch xù” [40,
tr 64] Họ có một đội thương thuyền khổng lồ, chỉ riêng thuyền đánh cá cũng đã
có 6400 chiếc Họ nhảy vào nghề rượu nho ở Pháp, vào việc đánh cá tận Bắc Băng Dương
Với mục đích để cho việc buôn bán ở những vùng đất xa xôi diễn ra có tổ chức và đạt hiệu quả cao Hà Lan đã cho thành lập Công ty Đông Ấn Độ vào năm
1602 Công ty này ngoài chức năng thương mại, còn sở hữu quyền lực chính phủ,
có khả năng mở các cuộc chiến tranh, thương lượng hiệp ước, đúc tiền và thành lập thuộc địa Công ty Đông Ấn Hà Lan là một công ty buôn bán quan trọng trên thế giới trong hai thế kỷ, giữ vị trí quan trọng trong việc buôn bán ở phương Đông, thường xuyên đóng góp 18% lãi xuất hàng năm trong vòng 200 năm Thay mặt
Trang 21cho chính phủ Hà Lan đặt quan hệ và buôn bán với tất cả các nước Về sau Công
ty Đông Ấn Hà Lan cũng là lực lượng đại diện cho quan hệ của Hà Lan với Nhật Bản Năm 1626, Hà Lan lại thành lập Công ty Tây Ấn Độ để buôn bán với châu
Mĩ
Ngoài ra, “Ngân hàng Amxtécđam (1509) đúc lấy tiền Florin, sau thành bản vị châu Âu Người Hà Lan phát minh ra việc bảo hiểm sinh mạng và biến nó thành một thương nghiệp lớn” [6, tr 403]
Nửa đầu thế kỉ XVII, Hà Lan cũng đã tích cực tìm kiếm đất thực dân ở những nơi mà họ đến buôn bán Ở phương Đông cũng đã có một số cứ điểm của
Hà Lan như Ấn Độ, Indonexia, Đài Loan… Ở Tây bán cầu chiếm được một vùng đất ở Bắc Mĩ và đặt tên là “Hà Lan mới” Cũng năm 1626, họ dựng lên một thành phố gọi là “Amxtécđam mới” Về sau hải cảng Amxtécđam này trở thành một thành phố sầm uất, đồng thời là thủ đô kinh tế của Hà Lan và ở đầu thế kỉ XVII thì đây là thành phố buôn bán có tính chất quốc tế
Nhưng khi Hà Lan đang dẫn đầu thế giới về mậu dịch thực dân trong thế kỉ XVII, thì hai nước Anh và Pháp cũng quật khởi đoạt lấy bá quyền của người Hà Lan Quốc gia đầu tiên xung đột với Hà Lan là Anh, đưa tới những cuộc giao tranh giữa hai nước vào giữa và cuối thế kỉ XVII Tuy vậy, Hà Lan thất bại trước thế lực của Anh, phải kí kết “Điều lệ hàng hải” do Anh công bố Hà Lan chẳng những bị mất quyền bá chủ trên biển mà còn bị mất vùng đất thực dân ở Bắc Mĩ Từ đó trở
đi thế lực của Hà Lan không còn vươn lên được nữa, trên vũ đài quốc tế họ đành chấp nhận địa vị là người bạn hàng nhỏ của nước Anh
1.1.2.3 Chính sách ngoại giao của Hà Lan đầu thế kỉ XVII
Với thắng lợi trong cuộc cách mạng tư sản Nedeclan vào cuối thế kỉ XVI, nước Cộng hòa Hà Lan được thành lập, bắt đầu ổn định và phát triển đất nước đi theo con đường TBCN Đầu thế kỉ XVII, Hà Lan đang trên con đường trở thành
một nước tư bản kiểu mẫu có sự ổn định về chính trị và sự phát triển về kinh tế,
văn hóa, xã hội Để có được những thành tựu vượt bậc như vậy, Hà Lan đã thực
Trang 22hiện những chính sách đối ngoại đúng đắn và phù hợp với bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ
Trước hết đối với các nước phương Tây, Hà Lan tham gia vào cuộc chiến tranh 30 năm (1618 - 1648) ngay sau khi kí Hiệp định đình chiến 12 năm với Tây Ban Nha Cuộc chiến diễn ra giữa một bên là Pháp, Đan Mạch, Thụy Điển, Anh,
Hà Lan… và các vương hầu Tân giáo ở Đức với một bên là Hoàng đế Đức và các vương hầu Cựu giáo Tây Ban Nha Sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1648, nền độc lập của Cộng hòa Hà Lan chính thức được công nhận với Hội nghị đình chiến Vétphalen ở Đức Kể từ đây Hà Lan tập trung vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Bắt đầu tham gia vào cuộc chiến thương mại với các đối thủ nặng kí như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Anh
Nhằm phát huy thế mạnh ven biển, Hà Lan thực hiện chính sách phát triển kinh tế thương nghiệp tích cực, chủ động mở rộng quan hệ buôn bán với nhiều nước ở châu Âu nhất là Bắc Âu và Trung Âu Bên cạnh đó còn tiến hành mở rộng buôn bán sang châu Phi, Trung Cận Đông, Ấn Độ, Đông Nam Á và châu Mĩ Thành lập công ty lớn để tiến hành buôn bán với những miền xa xôi một cách có
tổ chức hơn, đó là Công ty Đông Ấn Hà Lan vào năm 1602 Chính vì vậy, Hà Lan bắt đầu tìm hiểu và xâm nhập các thị trường ở châu Á, lập thương điếm đặt quan
hệ lâu dài ở đây, trong đó có thị trường Nhật Bản, mặc dù sự gặp gỡ giữa hai đất nước này là một sự ngẫu nhiên Nhưng việc đặt quan hệ với Nhật Bản cũng là nằm trong chủ trương chính sách đối ngoại của Chính phủ Hà Lan Vì vậy, dù không có yếu tố ngẫu nhiên thì mối quan hệ giữa hai nước vẫn sẽ được xác lập
Bên cạnh chính sách tích cực và mở rộng trong quan hệ buôn bán thương
mại, trở thành “người đánh xe ngựa trên biển”, Hà Lan còn tích cực tìm kiếm đất
thực dân ở nơi họ đến buôn bán Cùng với Anh và Pháp nhảy vào công cuộc tạo lập thế giới Mục đích trở thành một đế quốc thực dân giàu có và nhiều thuộc địa, làm bá chủ mặt biển, bá chủ châu Âu và thế giới Chính vì vậy, Hà Lan rất tích cực trong công cuộc mở rộng buôn bán và mở rộng xâm lược
Trang 231.2 Quá trình xâm nhập của các nước phương Tây vào Nhật Bản
Ở châu Á, người phương Tây đầu tiên có mặt chính là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha từ thế kỉ XVI Ở Nhật Bản, trong tình hình chính quyền Tokugawa đang phải chống đỡ với những cuộc khởi nghĩa của nông dân thì sự xâm nhập của tư bản phương Tây cũng bắt đầu Mối quan hệ giữa Nhật Bản với phương Tây đã có
từ rất sớm và Bồ Đào Nha là nước đặt quan hệ đầu tiên Trong cuốn Lịch sử Nhật Bản, GS R.H.P.Mason & J.G.Caigre có viết:
“Người Bồ Đào Nha đến Nhật Bản vào những năm đầu thập kỉ 1540 Họ cho người Nhật thấy là ngoài nền văn minh Đông Á còn có một nền văn minh khác Từ thế kỉ XV, những người miền cực Tây của châu Âu đã đi qua những vùng biền từ trước chưa có ai thăm dò để đến những lục địa lạ vì lí do buôn bán và với
ý muốn cháy bỏng truyền đạo Gia-Tô Tuy vậy, họ, những nhà phiêu lưu gan dạ và những đoàn truyền giáo tận tâm, cũng đã gặp những người khô ng thua kém họ, những nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Nhật Bản trong thời đó” [5, tr.192]
Cũng theo nghiên cứu của nhà sử học Phan Ngọc Liên:
“Năm 1543, trên thuyền buôn Trung Quốc có 3 người châu Âu đã chính thức cập bến Tanegasima, phía nam Kyushu Sáu năm sau (1549) giáo sĩ dòng Jeduyt, Phorangxoa Xavie, từ Goa đến truyền đạo ở Nhật Bản Năm 1594, người Tây Ban Nha cũng đến Nhật Bản Đến cuối thế kỉ XVI, người Hà Lan và người Anh đã đến Nhật Bản” [23, tr.79]
Còn đối với sự xuất hiện của Hà Lan ở Nhật Bản thì Vĩnh Sính trong cuốn
Nhật Bản cận đại đã cho biết:
“Năm 1600, cùng với việc Tokugawa Ieyasu giành được quyền lực thực tế tại Nhật Bản, tàu buôn Hà Lan đã đến Nhật Bản và hai năm sau Công ty Đông Ấn
Hà Lan được thành lập Và cũng từ đó, Hà Lan là một trong số rất ít quốc gia vẫn
có thể duy trì quan hệ thương mại liên tục với Nhật Bản trong điều kiện chính quyền Edo (1600 - 1868) theo đuổi chính sách tỏa quốc (1639 - 1853)” [30, tr.47 -
48]
Trang 24Nước Anh cũng rất quan tâm đến việc mở rộng quan hệ buôn bán với phương Đông Năm 1600, công Ty Đông Ấn Anh được thành lập ngay sau đó lập thương quán ở Ban Tam, đến năm 1613, tàu buôn Anh cũng đến Nhật Bản và thiết lập cơ sở thương mại ở Nagasaki, thương cảng quốc tế lớn nhất ở Nhật Bản Đan Mạch cũng thành lập Công ty Đông Ấn vào năm 1616 và hướng trọng tâm vào quan hệ với hai thị trường lớn trong khu vực là Trung Quốc và Nhật Bản Thế nhưng, trước khi các nước phương Tây đến Nhật Bản thì họ đã được biết đến về một vùng đất có tên là “Zipangu” qua những thông tin trong cuốn “Viễn chinh” của Marco Polo Những nguồn lợi hấp dẫn từ vùng đất này đã khiến cho nhiều tàu buôn không chỉ của Bồ Đào Nha mà còn là của nhiều nước thực dân phương Tây quyết tâm tìm đến vùng đất này Trong quá trình trao đổi buôn bán với Nhật Bản, các lái buôn châu Âu không chỉ buôn bán hàng hóa, súng đạn mà còn đóng vai trò
là trung gian trong mậu dịch giữa Nhật Bản với một số nước châu Á như: Việt Nam (Đàng trong, Đàng ngoài), Trung Quốc, Thái Lan Nhưng cái mục đích lớn nhất mà các nước phương Tây mong muốn ở Nhật Bản chính là những nguồn lợi
về kinh tế
“Theo gót chân các thương nhân châu Âu, các giáo sĩ Thiên chúa giáo cũng tìm đến Nhật Bản, sớm nhất là giáo sĩ Francis Xavier, người Tây Ban Nha, đến Nhật Bản năm 1549” [10, tr.100] Các giáo sĩ vừa đi truyền đạo và ở một số
nơi họ xây dựng nên các trường học, bệnh viện nhằm phục vụ dân chúng nên đã được rất nhiều giáo dân tin sùng Năm 1582, đạo Thiên chúa đã phát triển suốt từ vùng Tây Nam qua Cantô đến Ôtu, với 75 giáo sĩ, 200 giáo đường và 15 vạn tín
đồ “Tín đồ theo đạo Thiên chúa đã tăng từ 30 vạn năm 1600 lên 70 vạn năm 1610” [30, tr 58] Về sau, khi Thiên chúa giáo lộ rõ âm mưu về chính trị, có liên
quan đến âm mưu xâm lược Nhật Bản thì Thiên chúa giáo trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến chính sách bế quan tỏa cảng của chính quyền Tokugawa
Trong giai đoạn đầu của mối quan hệ đã diễn ra rất tốt đẹp do mục đích mua súng đạn của Mạc phủ, bởi vì thời kì đó Nhật Bản đang diễn ra cuộc nội
Trang 25chiến nên đã tạo điều kiện cho thương nhân châu Âu buôn bán và nhờ người châu
Âu huấn luyện quân sự, để tăng cường sức mạnh quân sự của mình Nhưng đến thời Hideyosi, các giáo sĩ Tây phương đã lộ rõ âm mưu là kẻ dọn đường cho một
sự xâm lược và một số daimyo lại câu kết với giáo hội Thiên chúa để chống lại
công cuộc thống nhất nên năm 1587, Hideyosi đã ra lệnh cấm đạo
Dưới thời các Mạc phủ Tokugawa tiếp theo, do nhu cầu phát triển kinh tế nên cũng đã làm ngơ với việc truyền đạo và có nhiều chính sách ưu đãi các thương nhân nước ngoài như cho họ được lập nghiệp và mở các cửa hàng ở Nhật để buôn bán, đồng thời miễn thuế nhập nội cho thương nhân một số nước như Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha, cho nhập quốc tịch Nhật và lấy người Nhật Tuy nhiên, do Thiên chúa giáo có sự nguy hiểm cho chính quyền nên Mạc phủ thi hành chính sách cấm đạo:
“Đến năm 1639, chính thức ra lệnh đóng cửa, cấm chỉ việc buôn bán với nước ngoài, lái buôn và giáo sĩ nước ngoài phải rời khỏi Nhật Bản chỉ trừ lái buôn của Trung Quốc và Hà Lan còn được lui tới buôn bán ở Nagasaki mà thôi”
1.3 Sự gặp gỡ ngẫu nhiên của Nhật Bản và Hà Lan
Với những hệ quả mà các cuộc phát kiến địa lý mang lại, trong đó có việc tìm ra nhiều con đường mới đi đến phương Đông Đã đưa đến một phong trào xâm nhập phương Đông diễn ra mạnh mẽ trong các nước phương Tây Và đó là một xu thế không thể tránh khỏi trong bối cảnh cảnh đó Bởi nhu cầu về nguyên nhiên liệu, về nhân công, về thị trường tiêu thụ của kinh tế tư bản chủ nghĩa Vì vậy, đó
Trang 26cũng là một trong những lý do dẫn đến mối quan hệ được mở rộng đối với tất cả các nước trên thế giới
Trước khi có sự xuất hiện của người Hà Lan ở Nhật Bản thì người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha cũng đã sớm xuất hiện tại đây Năm 1543, ba thương nhân người Bồ Đào Nha đã trở thành những người châu Âu đầu tiên đặt chân đến xứ sở mặt trời mọc này do bị bão thổi dạt vào Tanegashima, một hòn đảo nhỏ cực nam Kyushu Đến 57 năm sau, một cơn bão khác đã đưa chiếc tàu Hà Lan đầu tiên tới Nhật Bản Đem lại cho người Hà Lan một nguồn thị trường mới đầy hấp dẫn Trong khi đó tham vọng muốn giành ưu thế buôn bán tại các vùng biển ở châu Á
và đất thuộc địa sớm đã hình thành trong con người Hà Lan:
“Những chuyến tàu buôn thăm dò đầy ắp hàng hóa từ Giava và Sumatra trở về có tác dụng như những liều thuốc kích thích cho người Hà Lan chuẩn bị những chuyến đi tiếp theo đến Viễn Đông Năm 1598, 22 chiếc tàu Hà Lan nhổ neo hướng về phương Đông Một trong số tàu đó là tàu de Liefide (Bác Ái) do Jacob Quaeckerneek làm thuyền trưởng và viên hoa tiêu người Anh William Adams điều khiển đã bị bão lớn thổi dạt vào Bungo, bờ biển phía Đông Kyushu ngày 19/04/1600” [14, tr 54] Họ đã trải qua những ngày sống trên tàu hết sức
khổ sở Đồng thời những thủy thủ này còn bị thương nhân và giáo sĩ Bồ Đào Nha buộc tội là gián điệp bắt giam lại Trong thời gian này Ieyasu đang ở gần đó nên biết sự tình về những kẻ có súng đạn hiện đại đã cho triệu tập tới gặp Sau khi xét hỏi, Ieyasu đã cho số thủy thủ người Hà Lan về nước Chỉ còn giữ lại có Jan Joosten ( Hà Lan) và William Adams làm cố vấn chính trị, ngoại giao và giao nhiệm vụ trung gian giao dịch thương mại giữa Nhật Bản với hai nước Anh và Hà Lan:
“Bản thân W Adams được Ieyasu trọng dụng trong các công việc như đóng tàu, hướng dẫn sử dụng vũ khí, giảng giải những vấn đề về hàng hải cũng như báo cáo tình hình các nước châu Âu Năm 1601, tin tức về các thủy thủ Hà Lan ở Nhật Bản đã truyền về Rotterdam Nguồn tin này đã làm dấy lên mối quan tâm của
Trang 27chính giới và các nhà kinh doanh Hà Lan về khả năng mở mang quan hệ với phần đất xa xôi châu Á” [14, tr 55] Hai nước Nhật - Hà bắt đầu quan hệ từ đấy
Như vậy, do quá trình xâm nhập mang tính tất yếu của các nước phương Tây đến phương Đông và sự gặp gỡ rất ngẫu nhiên giữa thương nhân Hà Lan với Nhật Bản mà mối quan hệ giữa hai nước đã từng bước được thiết lập và quan hệ thân thiết với nhau Người Hà Lan cũng không phải mất nhiều công sức để tìm kiếm vùng đất xa xôi này Ngược lại đã đặt được mối quan hệ hết sức tốt đẹp với chính quyền Nhật Bản, có điều kiện mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực
Là tiền đề cho mối quan hệ bền lâu sau này của hai nước
Trang 28Chương 2: Mối quan hệ giữa Nhật Bản và Hà Lan thời Tokugawa
(1603 - 1868) 2.1 Tiến trình của quan hệ Nhật Bản - Hà Lan từ (1603 - 1868)
Khi nói về tiến trình trong quan hệ giữa Nhật Bản - Hà Lan từ năm 1603 đến năm 1868, chúng ta có thể chia thành 3 giai đoạn với những mốc đánh dấu quan trọng trong quan hệ của hai nước Giai đoạn 1 từ 1609 - 1641, giai đoạn 2 từ
1641 - 1853 và giai đoạn 3 từ 1853 - 1868
2.1.1 Giai đoạn 1 từ 1609 - 1641
Đây là thời kì bước đầu đặt ngoại giao, lập thương điếm và buôn bán trong mối quan hệ với tất cả các nước khác tại Hirado - Nhật Bản Sau cuộc gặp gỡ mang tính chất ngẫu nhiên của thương nhân Hà Lan với mảnh đất Nhật Bản, được
sự giúp đỡ và trọng dụng của Tokugawa Ieyasu, đồng thời với đó là chủ trương khuyến khích phát triển ngoại thương, cho phép tàu buôn nước ngoài vào Nhật buôn bán của Ieyasu, mùa xuân 1605, J Quaeckerneek đã trở về quê hương đem theo giấy phép của Mạc phủ đồng ý cho Hà Lan đến giao thương Cuối năm 1607, một hạm đội tàu Hà Lan trên đường Amsterdam đến Ấn Độ có nhiệm vụ phải đưa
được ít nhất một tàu tới Nhật Bản Ngày 6 tháng 7 năm 1609, “hai chiếc tàu Roode Leeuw met Pijlen và Grinffoen đã buông neo gần một làng đánh cá nhỏ ở Hirado Những người đi trên tàu được Nhật Bản quan tâm giúp đỡ và chuyển ngay thư lên Tokugawa Ieyasu Năm 1609, Hà Lan chính thức mở thương điếm ở Nhật Bản” [14, tr.55] Như vậy, bước đầu tiên Hà Lan đã giành được thắng lợi, họ
đã hoàn thành chuyến đi từ Roteerdam đến Hirado của Nhật Bản, trước cả quan hệ chính thức giữa Nhật với Tây Ban Nha (1610) và Anh (1613) Đồng thời, Hirado lại là một hòn đảo có vị trí thuận lợi trong giao thương với Đài Loan và Trung Hoa Hơn nữa, hầu hết các thương nhân ngoại quốc giàu có đều sinh sống gần đây, quanh khu vực cảng Nagasaki Vì vậy, Hirado là một địa điểm thuận lợi cho việc
mở thương điếm và buôn bán Cũng từ đó cho đến năm 1641, trước khi bị di dời đi nơi khác thì “Hirado đóng vai trò quan trọng trong lịch sử quan hệ quốc tế ở Viễn Đông không chỉ vì nó là cơ sở thương mại và chiến lược của Công ty Đông Ấn Hà
Trang 29(VOC) mà còn vì nó là trạm dừng chân quan trọng nhất của người Hà Lan với vùng quyền lợi cực bắc này” [14, tr.55]
Sau khi thiết lập được thương điếm tại Hirado thì quan hệ Nhật Bản - Hà Lan bắt đầu có những hoạt động buôn bán Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, ở Nhật Bản còn có sự góp mặt từ trước của thương nhân hai nước Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Vì vậy, các nước này liên tục gây mâu thuẫn với nhau nhằm mục đích loại đối thủ ra khỏi thị trường Nhật Bản, để độc chiếm buôn bán Thương nhân Hà Lan để không bị loại khỏi “cuộc chiến” này họ phải tỏ ra là người rất khôn khéo trong ứng xử với chính quyền Mạc phủ Họ chứng minh rằng, mình không phải là một đất nước của Thiên chúa giáo và cũng không có tham vọng đối với lãnh thổ Nhật Bản Nhờ vậy, họ ngày càng có mối quan hệ gắn kết với Nhật Bản hơn Năm
1611, Hà Lan viết thư tố cáo thương nhân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có âm mưu lôi kéo tín đồ Thiên chúa giáo để chống lại chính quyền Tuy nhiên, lời cáo buộc này của Hà Lan là không có căn cứ Mặc dù vậy, Hà Lan cũng đã từng bước
“tống cổ” hầu hết người ngoại quốc ở xung quanh bờ biển của Nhật Bản đi, chiếm hai thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha từ đó đã nắm được độc quyền trong khu vực Đối với Pháp, Đan Mạch và một số nước Đông Nam Á có quan hệ buôn bán lâu đời với Nhật Bản cũng dần dần bị hải quân Hà Lan đuổi đi Như vậy, buôn bán với Nhật Bản đã dần do thương nhân Hà Lan nắm giữ Từ năm 1600 đến
1700, người ta tính được rằng, “đã có khoảng 1768 chiếc tàu chở 324.000 người
Hà Lan đến các nước châu Á” [14, tr.56]
Trong khoảng hai mươi năm đầu tiên, người Hà Lan được tự do đi lại trên lãnh thổ và tự do tiếp xúc với người Nhật, để từng bước làm quen với sự mới mẻ ở vùng đất mới này Ngay tại tại hòn đảo Hirado, người Hà Lan đã xây dựng một xưởng đúc và hầm mỏ Làm việc trong xưởng đúc và hầm mỏ đó bao gồm cả người Hà Lan và phần lớn người Nhật Tuy nhiên, trong thời kì đầu này việc buôn bán ở Nhật Bản đã không mang lại được nhiều lợi nhuận cho Hà Lan, bởi sự xa cách, không dễ dàng tiếp xúc giữa thương điếm Hà Lan ở Hirado với các thương điếm khác của VOC ở châu Á Hơn nữa, ở thị trường Trung Quốc người Hà Lan
Trang 30cũng chưa có được một thương điếm để thông thương, mua bán mặt hàng lụa, chưa có khả năng cung cấp đủ lụa cho thị trường Nhật Bản lúc bấy giờ Mặc dù vậy, thương nhân Hà Lan vẫn nhận được sự ưu ái của chính quyền Tokugawa Bởi
vì, thứ nhất, Hà Lan đến Nhật Bản chủ yếu là để buôn bán chứ không phải là để truyền đạo như người Bồ Đào Nha và người Tây Ban Nha; thứ hai, thế kỉ XVII,
Hà Lan là một quốc gia đang có sự phát triển mạnh mẽ và sức mạnh quân sự to lớn, khi Hà Lan đến buôn bán ở Nhật Bản sẽ giúp Nhật Bản thoát khỏi sự o ép trong buôn bán với người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha Bởi để có được nguồn lợi thương mại thì chính quyền Nhật Bản cũng đã phải nhân nhượng cho hai nước này trong cả việc truyền đạo và buôn bán Giờ đây khi có Hà Lan, Nhật Bản sẽ dùng
Hà Lan làm đối trọng với hai đế quốc phong kiến đó Tuy vậy, Hà Lan vẫn chưa thể có được một nguồn lợi nhuận khổng lồ ở Nhật Bản như Bồ Đào Nha đã có trước đó
Từ năm 1612 đến năm 1624, những chỉ dụ, sắc lệnh cấm đạo và cấm người Tây Ban Nha được ban ra, người Anh cũng đã rút khỏi Nhật vào năm 1623 do không thu được những nguồn lợi thương mại như mong đợi Do vậy, chỉ còn Hà Lan ở Hirado và Bồ Đào Nha ở Nagasaki mà thôi
Sau khi Tokugawa Ieyasu mất, những quyền lợi mà trước đây vị Tướng quân này ban cho thương nhân Hà Lan bị đe dọa Vì vậy, người Hà Lan do nôn nóng đã đánh mất đi sự thận trọng vốn có trong quan hệ với Nhật Bản Với ý định giành độc quyền ở Formosa (Đài Loan), năm 1628, Hà Lan đã tịch thu cột buồm
và bánh lái của hai tàu Nhật Bản khi họ cập bến Zeelandia trên đường đến Đông Dương, làm cho hai tàu này bị mất cơ hội đi theo gió mùa Hành động này đã bị chính quyền Edo ra lệnh trừng phạt Cho tịch thu một số tàu Hà Lan, đình chỉ buôn bán của Hà Lan ở Hirado và bắt Pieter Nuyts - kẻ chủ mưu Đồng thời, Hà Lan phải bồi thường bằng cách nộp lại Zeelandia cho Nhật Bản Năm 1633, Edo ra lệnh buộc thương nhân Hà Lan phải bán toàn bộ tơ sống của họ với giá ấn định và không được bán các mặt hàng khác khi chưa được làm giá Tiếp đó, Hà Lan còn phải bán tất cả các hàng nhập khẩu trong năm cho dù với giá rẻ, không được mang
Trang 31vũ khí, ngay cả việc mổ thịt động vật Như vậy, sự trừng phạt là quá nghiêm khắc đối với Hà Lan, khiến các thương nhân ngột ngạt, khó thở Tuy nhiên, do tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp trong quan hệ phía trước của hai nước nên họ vẫn tỏ ra hòa nhã, kiên nhẫn chờ đợi thời cơ để cải thiện tình hình Cơ hội đó chính là giúp
đỡ chính quyền Nhật Bản trong việc đàn áp cuộc khởi nghĩa ở Shimabara Do không đủ sức dẹp nhanh cuộc khởi nghĩa và không muốn bạo loạn lan tràn, chính quyền đã yêu cầu sự giúp đỡ của đại bác Hà Lan Hành động giúp đỡ này không những đã cải thiện được quan hệ Hà Lan - Nhật Bản mà còn loại bỏ được đối thủ
Bồ Đào Nha - bởi họ bị coi là kẻ chủ mưu trong cuộc nổi dậy này
Sau khi kết thúc cuộc nổi dậy này, chính quyền Mạc phủ đã ban hành đạo luật nhằm ngăn cấm việc truyền bá của đạo Giato và sự xuất hiện của thương nhân
Bồ Đào Nha trên đất Nhật Bản Cũng trong năm 1639, lệnh đóng cửa đất nước (sakoku - tỏa quốc) được ban hành Hà Lan từ đây được chọn là người phương Tây duy nhất tiếp tục được buôn bán với Nhật Bản cùng với những bạn hàng truyền thống của Nhật là Trung Hoa và Ryukyu Như vậy, người Hà Lan đã chứng minh được rằng họ không có liên quan gì đến thứ “Tôn giáo của ma quỷ” - Giato giáo Mà đạo Tin Lành của họ rất hiền hòa Họ đến đây chỉ là để buôn bán, không
có âm mưu về chính trị hay tôn giáo Họ cũng tỏ ra là những người dễ bảo hơn so với thương nhân Bồ Đào Nha Việc Nhật Bản đã lựa chọn Hà Lan là thương nhân phương Tây duy nhất được phép buôn bán tại Nagasaki, là một sự lựa chọn thông
minh, chính xác: “là sự lựa chọn một khả năng an toàn cao nhất của Nhật Bản nhằm bảo đảm an ninh và duy trì các mối quan hệ kinh tế cần thiết trong bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ” [45, tr.112] Từ đó Hà Lan trở thành một mạch nguồn, một
sợi dây kết nối chính yếu giữa Nhật Bản và thế giới
Mặc dù vậy, chính quyền Edo vẫn e dè và kiểm soát đối với Hà Lan bởi sự phát triển mạnh mẽ của Hà Lan trong thế kỉ XVII này có thể sẽ nguy hại cho dân tộc Nhật Bản Vì vậy, ngày 24 tháng 7 năm 1640, chính quyền Tokugawa đã yêu cầu Hà Lan phải di dời từ Hirado đến Dejima (xuất đảo) nằm ở bên trong vịnh Nagasaki Tại đây, trong suốt hơn 200 năm đã diễn ra cuộc gặp gỡ kéo dài giữa
Trang 32một đại diện tiêu biểu của văn minh phương Tây với một nền văn hóa điển hình của phương Đông
Trong giai đoạn đầu này, hoạt động thương mại trên biển giữa Hà Lan và Nhật Bản thông qua thương điếm của Công ty Đông Ấn Hà diễn ra nhộn nhịp
Năm 1634, giá trị buôn bán tại thị trường Nhật Bản là 740.000 gulden, đến năm
1640 đạt 6,3 triệu gulden hàng nhập vào Nhật Bản và 3,9 triệu gulden xuất khẩu Nhờ vậy, VOC trở nên thịnh vượng trong mối quan hệ này Nghiên cứu cho thấy:
“Trong vòng 31 năm (1609 - 1641) tổng cộng đã có 190 chiếc thuyền buôn Hà Lan đến Nhật Bản Chỉ tính riêng trong 16 năm (1624 - 1640), số tàu buôn Hà Lan đến Nhật Bản là 117 chiếc, trung bình có 7,3 chiếc/năm, nhiều gấp đôi so với
55 tàu buôn của Bồ Đào Nha” [10, tr.65]
Bảng 1: Số lượng tàu buôn Hà Lan đến Nhật Bản (1609 - 1640)
(Nguồn: Nguyễn Văn Kim: Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời k ì Tok ugawa – Nguyên nhân và hệ
quả, NXB Thế giới, Hà Nội, 2000, tr.299)
Những con số này cho thấy, quan hệ thương mại Hà Lan ở Nhật Bản đã phát triển tương đối thịnh đạt ngay trước khi Nhật Bản thi hành chính sách đóng cửa đất nước Đặc biệt là vào năm 1621, đã có tới 14 tàu Hà Lan được cử đến Nhật
Trang 33Bản Nhiều hơn gấp ba lần so với số tàu Bồ Đào Nha khi được cử đến Nhật Bản trong thời kì nhiều nhất cũng chỉ từ 3 đến 4 chiếc Năm 1640, trước khi bị dời thương điếm thì lợi nhuận mà Hà Lan thu được trong buôn bán ở Nhật Bản lên đến
4 triệu gulden Tuy vậy, nó cũng cho thấy sự thay đổi về số lượng tàu ở mỗi năm
cũng là sự lên xuống trong quan hệ hai nước ở những năm đó Bởi trong thời kì này, ở Nhật Bản còn có nhiều thương nhân của nhiều nước khác, quan hệ giao thương vẫn đang được diễn ra rộng rãi và Hà Lan vẫn chưa phải là thương nhân phương Tây duy nhất ở đây Vậy nên, đó cũng là đã thể hiện sự phát triển trong quan hệ hai nước trong giai đoạn đầu tại thương điếm Hirado này
2.1.2 Giai đoạn 2 từ 1641 - 1853
Theo yêu cầu của chính quyền Nhật Bản, Hà Lan phải chuyển thương điếm
từ Hirado đến Dejima vào năm 1641 Đảo Dejima được xây dựng phía bên trong cảng Nagasaki, có hình dạng giống như chiếc quạt đang xòe ra Theo bác sĩ
Kaempfer làm việc tại thương quán Hà Lan, đến Dejima vào năm 1690, thì “chiều dài lớn nhất của hòn đảo là khoảng 263 bước chân, chiều rộng khoảng 82 bước, tổng diện tích có khoảng 14.876m 2 Lối vào hòn đảo được bao quanh bởi một hàng rào ván gỗ với hai hàng cọc sắt nhọn ở bên trên Bờ phía đông đảo là lối vào cảng, chỉ được khai mở khi các con tàu Hà Lan cập bến Hòn đảo được nối với đất liền bằng một cây cầu đá, trên cây cầu một trạm gác được xây dựng để kiểm soát việc ra vào” [8, tr.15]
Người Hà Lan sinh sống ở đây không được thoải mái như ở Hirado Bởi Nagasaki do bakufu trực tiếp cai trị nên ở đây pháp luật mới được thi hành khá
nghiêm ngặt Họ phải trả tiền thuê khu đất cư trú là 55 kan bạc mỗi năm Nước
sinh hoạt cũng phải mua vì nó được vận chuyển từ Nagasaki đến Đối với những nhân viên trong thương điếm này không được đi sâu vào nội địa và cũng không
được phép ở lại lâu nếu như chưa được sự cho phép của bakufu Tướng quân quy
định về quyền hạn, nghĩa vụ của người đứng đầu thương điếm Hà Lan, số lượng hàng hóa buôn bán và kể từ năm 1652, đại diện thương điếm Hà Lan ở Nhật Bản phải trình tướng quân ít nhất một lần trong một năm… Nhìn chung, người Hà Lan
Trang 34từ khi bị bắt buộc di chuyển đến đây thì cuộc sống của họ trở nên hết sức ngột ngạt Và nếu không vì những nguồn lợi trong thương mại chắc hẳn họ đã rời bỏ nơi đây Chỉ có những dịp khi có tàu từ Hà Lan cập bến thì những người Hà Lan sinh sống ở đây mới trở nên vui vẻ khi họ được hỏi han về những thông tin của quê hương và từ những vùng đất thuộc địa
Vậy thì nguyên nhân nào đã khiến cho nhà cầm quyền Nhật Bản nghiêm khắc với Hà Lan như vậy? Lý do đầu tiên, nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của các nhà truyền giáo theo tàu Hà Lan vào Nhật Bản; thứ hai, để phòng ngừa nạn buôn lậu của Hà Lan; thứ ba, để Mạc phủ giữ được độc quyền trong buôn bán nội địa, tránh tình trạng bị o ép như thương nhân Bồ Đào Nha trước đây Ngoài ra, đó còn
là do tư tưởng xem thường thương nhân trong xã hội Nhật Bản Nên thương nhân
Hà Lan cũng không thể tránh khỏi suy nghĩ đó
Ngoài ra, trong quan hệ với Hà Lan, Tướng quân còn quy định đại diện thương điếm Hà Lan ở Nhật Bản phải trình tướng quân ít nhất một lần trong một năm… Ngày 7 tháng 2 năm 1652, đại diện thứ mười hai của thương điếm Hà Lan
ở Nhật Bản là Adrian van der Burg đã được Tướng quân đón tiếp Về sau quy định này vẫn còn và vẫn có đại diện đến trình Tướng quân nhưng không được ghi tên lại cụ thể Những cuộc hành trình đến Edo thực sự là những cơ hội để thương nhân
Hà Lan hiểu thêm về xã hội Nhật Bản ở bên ngoài Nagasaki và cũng là cơ hội để người Nhật biết thêm về những người ngoại quốc và thế giới phương Tây Tổng cộng từ năm 1633 đến năm 1850, đã có 186 chuyến đi tới Edo Từ năm 1764 đến năm 1790 khoảng cách giữa các chuyến đi là hai năm một lần và đến năm 1790, Mạc phủ lại quy định từ năm này trở đi đại diện Hà Lan ở Dejima gặp tướng quân
5 năm 1 lần, chuyến đi cuối cùng được thực hiện vào năm 1850
Trong những lần thăm viếng đó, Công ty Đông Ấn Hà luôn có những tặng phẩm đắt giá và độc đáo dành cho Tướng quân và quan lại cao cấp Nhật Bản Đó
là kính viễn vọng, dụng cụ y học, quả địa cầu, các loại động vật như ngựa vằn, lạc
đà, khỉ, chùm đèn treo làm bằng đồng… Ngoài ra còn có các cuốn sách về khoa học cũng đặc biệt thông dụng Chính quyền Mạc phủ tặng lại cho Hà Lan đó là
Trang 35những bộ Kimono bằng lụa đắt tiền và một số sản vật đặc trưng khác từ giới quan
chức Nhật Bản Đồng thời, mỗi lần đó, chính quyền Tokugawa còn yêu cầu Hà Lan viết một bản báo cáo chi tiết (fusetsugaki - Phong thuyết thư) để báo cáo cho Tướng quân Ban đầu, nội dung trong báo cáo chỉ là cung cấp cho Nhật Bản những thông tin về Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha kể từ khi hai nước này dời khỏi Nhật Bản Về sau, chính quyền Mạc phủ yêu cầu Hà Lan phải báo cáo về tình hình của tất cả các nước châu Âu, Trung Hoa, Ấn Độ Trong đó phải trình bày rõ những thay đổi và biến động lớn đang diễn ra trên thế giới Từ giữa thế kỉ XIX, do sự gia tăng áp lực của bên ngoài đối với chính sách đóng cửa của Nhật Bản, người Hà
Lan cũng gửi cho Nhật Bản báo cáo đặc biệt gọi là Betsudan Fusetsugaki (Biệt
đoạn phong huyết thư) đề cập đến sự thay đổi về chính trị ở các nước lớn, sự tăng cường về sức mạnh hải quân… để từ đó chính quyền Nhật Bản có những chính sách đúng đắn để bảo vệ đất nước
Như vậy, ở giai đoạn đầu này quan hệ giữa hai nước còn có những hạn chế
Từ những năm 1650 trở đi mối quan hệ được cải thiện và phát triển hơn Vai trò của Nhật Bản đối với Hà Lan và vai trò của Hà Lan đối với Nhật Bản đều trở nên quan trọng Trong thời kì tỏa quốc, Nhật Bản phải nhờ đến thương nhân ngoại quốc để cung cấp hàng hóa cho đất nước và để xuất khẩu hàng hóa trong nước ra bên ngoài Đặc biệt, ở đây chỉ có mình Hà Lan là thương nhân châu Âu nên trước hết Hà Lan được độc quyền thương mại trên tuyến Nhật Bản - phương Tây Đồng thời, đối với Nhật Bản thì Hà Lan là nguồn tin quan trọng không thể thiếu để người Nhật biết về Tây phương Còn Hà Lan, với những nguồn lợi không thể đánh mất ở thị trường Nhật Bản họ cũng phải gìn giữ mối quan hệ này
Trong suốt thời kì Nhật Bản “tỏa quốc”, Nhật Bản và Hà Lan không chỉ quan hệ với nhau trên lĩnh vực thương mại Mà nó còn được diễn ra trong lĩnh vực văn hóa Kể từ năm 1720, sau cải cách Kyoho, một phong trào dịch thuật được ra
đời và lan rộng mạnh mẽ Phong trào Hà Lan học (Rangaku) Thực chất đây là một
phong trào học tập khoa học kĩ thuật phương Tây thông qua người Hà Lan và
Trang 36ngôn ngữ Hà Lan Trong đó nổi bật lên trước hết là vai trò của bộ phận thông dịch viên tiếng Hà Lan và sau đó là vai trò của thương nhân Hà Lan
Phong trào Hà Lan học phát triển mạnh mẽ, hiệu quả trên nhiều lĩnh vực y học, địa lý, thiên văn… Đặc biệt, nhờ có sự ra đời và phát triển của phong trào này
mà quan hệ hai nước Nhật Bản - Hà Lan trở nên bền chặt hơn Cũng chính từ phong trào này, Nhật Bản đã có được một nội lực lớn trong nước là tiền đề cho sự thành công trong công cuộc cải cách Minh Trị và phong trào tích cực học tập phương Tây sau này
Thế kỉ XVIII, ở châu Âu đang bị đe dọa của Đế chế Napoleon Hà Lan năm
1795 cũng đã bị người Pháp chiếm giữ Vua Hà Lan giờ đây là một người ngoại quốc, em của Napoleon Bonaparte - Loui Năm 1810, Hà Lan bị sát nhập vào lãnh thổ nước Pháp Trong thời gian thuộc Pháp từ 1795 đến 1813, hoạt động thương mại của Hà Lan ở chính quốc bị đình đốn nghiêm trọng Chiến tranh Anh - Pháp diễn ra ác liệt trên biển, tàu buôn Hà Lan không thể ra vào cảng vì sợ bị đánh đắm, chấp nhận thực tế không thể buôn bán Sau đó, nước Anh tiến hành đánh chiếm các thuộc địa của Hà Lan, trong đó có Nhật Bản Tuy nhiên, tại Dejima người Anh
đã không thể chiếm giữ, do sự phản ứng quyết liệt của Hendrick Zuff - đang là trưởng đại diện của thương điếm Hà Lan tại Nhật Bản Vì vậy, tại đây cờ của Hà Lan vẫn tung bay và người Hà Lan vẫn còn giữ được cơ sở tương đối độc lập duy nhất Như vậy, trong thời gian này quan hệ giữa Hà Lan với Nhật Bản bị gián đoạn, nhưng không bị chấm dứt Tàu buôn của Hà Lan không thể đi từ Hà Lan sang Nhật Bản Hoặc nếu có thì số lượng không vượt quá một hoặc hai chuyến mỗi năm Chỉ có các tàu Hà Lan ở các thương điếm khác đến buôn bán với Nhật Bản và lực lượng Hà Lan đang sinh sống ở Dejima mà thôi Nhờ có những người
Hà Lan ở Dejima này mà quan hệ Hà Lan với Nhật Bản không bị cắt đứt Tuy nhiên, do những nguyên nhân trên mà trong 20 năm đầu thế kỉ XIX, Công ty Đông
Ấn Hà ngày càng bị suy tàn nhanh chóng ở khắp khu vực châu Á và về sau là
đứng yên Thay thế vai trò của VOC là Công ty thương mại Hà Lan - Nederlandse
Trang 37Handel Maatschappij Các hoạt động buôn bán thương mại vẫn tiếp tục được diễn
ra giữa Nhật Bản và thương nhân Hà Lan
Quan hệ giao lưu, buôn bán giữa hai quốc gia Hà Lan và Nhật Bản diễn ra tương đối bình lặng như thế trong thời gian suốt hai trăm năm Kể từ đầu thế kỉ XIX, cánh cửa “đóng kín” của Nhật Bản bắt đầu bị nhòm ngó và đe dọa Đồng thời Hà Lan cũng đã đánh mất uy thế trên biển trong khi sức mạnh của Mĩ và Anh ngày càng được tăng cường Trước áp lực đe dọa của các nước phương Tây vào
“cánh cửa kín” của Nhật Bản, với tư cách là quốc gia có quan hệ lâu năm với Nhật, Hà Lan đã nhiều lần khuyên chính quyền Tokugawa mở cửa nhưng không thành
Đến “năm 1844, Hoàng đế Hà Lan là Wiliam II đã phải cử phái viên chính thức là H.F Coops đem quốc thư đến Edo yêu cầu Nhật Bản mở cửa Bức thư đã thẳng thắn khuyến cáo Chính quyền Nhật Bản nên sớm thức thời mở cửa đất nước
để tránh lặp lại bài học đau đớn của Trung Quốc sau cuộc chiến tranh thuốc phiện” [21, tr.54] Bức thư này cũng đã làm ảnh hưởng tới giới cầm quyền Nhật
Bản nhưng chính quyền Tokugawa vẫn tiếp tục giữ vững chính sách đóng cửa đất nước Trước nguy cơ xâm nhập của hải đoàn gồm mười chiến thuyền do Đại tá Matthew Perry từ Mĩ, Vua của Hà Lan thông qua Donker Curtius - đại diện thương điếm Hà Lan từ năm 1852 cũng đã báo trước cho các quan chức ở Edo tìm cách đối phó nhưng quan chức Nhật Bản đã không có sự chuẩn bị Năm 1853, hạm đội “những con tàu đen” của đề đốc Mỹ M.Perry xuất hiện đã làm cho nhà cầm quyền Nhật Bản phải khiếp sợ
Đến đây, quan hệ giữa Nhật Bản và Hà Lan mặc dù vẫn được tiếp diễn, nhưng nó có thể coi như bắt đầu bước sang trang khác Mặc dù vậy, trong quan hệ hai nước Nhật Bản và Hà Lan thì giai đoạn từ 1641 đến 1868 vẫn được coi là giai đoạn quan trọng nhất, trên nhiều phương diện nhất và thể hiện sự sâu sắc nhất, hiệu quả nhất
2.1.3 Giai đoạn 3 từ 1853 - 1868
Trang 38Sau khi hạm đội “hắc thuyền” của Mĩ đến Nhật Bản vào năm 1853, chính quyền Edo buộc phải mở cửa và kí kết các hiệp ước với Mĩ Theo đó, Hà Lan vốn
là nước có quan hệ lâu năm với Nhật Bản cũng đã giành được nhiều ưu đãi về thương mại Trong các bản hiệp ước mà chính quyền Tokugawa đã kí với các nước phương Tây, họ đã chấp nhận cho tàu của bốn nước phương tây được vào 6 cảng: Cảng Hakodate, Shimoda, Kanagawa, Niigata, Hiogo và Nagasaki Quy định đối với tàu Hà Lan chỉ được vào hai cảng là cảng Hakodate và cảng Nagasaki vốn đã có thương điếm buôn bán nhiều năm Mạc phủ lần lượt kí kết các hiệp ước mang tính bất bình đẳng với các nước đế quốc thực dân khác, trong đó Mĩ là nước
có ảnh hưởng lớn nhất Qua đó cho thấy, “thay thế cho vị trí của Hà Lan, đến giữa thế kỉ XIX, Mĩ đã trở thành trọng tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển quân
sự, ngoại giao của Nhật Bản” [21, tr.56] Vai trò độc quyền của Hà Lan chấm dứt,
mặc dù mối quan hệ thân thiện giữa hai quốc gia vẫn được duy trì Giờ đây, Nhật Bản đã cử các học giả trực tiếp sang châu Âu và Mỹ để học tập, nghiên cứu Đồng thời mời các chuyên gia nước ngoài đến Nhật Bản để giúp đỡ công cuộc cận đại hóa đất nước Hà Lan cũng được Nhật Bản kêu gọi giúp đỡ Nhật Bản trong khoa học quân sự và đóng tàu, trong y học và dược khoa, nhất là trong khoa xây dựng công trình, đô thị Đã có các kĩ sư Hà Lan đến Nhật và để lại nhiều công trình tên tuổi ý nghĩa như: C.J van Doorn, Johanis de Rijke… Cùng với mời các chuyên gia Hà Lan đến Nhật Bản, chính quyền Mạc phủ cũng đã cử nhiều học giả tới học tập ở Hà Lan trong giai đoạn này Như Nishi Amane và Tsuda Mamichi đã được
cử đến trường Đại học Leiden - Hà Lan vào năm 1862 để học tập
Sau năm 1853, chính quyền Edo yêu cầu Donker Curtius cung cấp cho Nhật Bản loại tàu chạy bằng hơi nước Chính quyền Hà Lan đã gửi tặng một chiếc
thuyền đi biển lớn mang tên “Soembing” tên tiếng Nhật là Kanko maru, về sau
Mạc phủ yêu cầu thêm chiếc tàu thứ 2, Hà Lan tặng chiếc tàu tên “Japan” tên tiếng
Nhật là Karin maru Ngày 23 tháng 12 năm 1855, Nhật Bản kí với Hà Lan hiệp
ước hữu nghị và đến ngày 10 tháng 8 năm 1858, hiệp ước thương mại giữa Nhật Bản với Hà Lan mới được kí kết
Trang 39Sau khi Nhật Bản phải mở cửa đất nước, thì quan hệ giữa hai nước Nhật Bản và Hà Lan vẫn được đề cao và được chính thức hóa bằng sự thành lập Tòa lãnh sự quán Hà Lan đầu tiên ở Yokohama vào năm 1859 Tiếp đó năm 1868 thành lập Tòa công sứ ở Tokyo (Edo) và lãnh sự quán ở Kobe Mặc dù vậy, quan
hệ Nhật - Hà từ sau khi Nhật mở cửa đất nước đã không còn là mối quan hệ duy nhất giữa Nhật Bản với phương Tây nữa Vì vậy, nó cũng không còn được sâu sắc như trước kia
Như vậy, tiến trình quan hệ Nhật Bản - Hà Lan được bắt đầu từ những năm đầu thế kỉ XVII đến nửa sau thế kỉ XIX, trải qua 3 giai đoạn tương ứng với những mốc lịch sử quan trọng Giai đoạn trước khi Mạc phủ “đóng cửa”, sau khi Mạc phủ “đóng cửa” và cuối cùng là khi chính quyền Tokugawa bắt buộc phải “mở cửa” đất nước Trong đó, giai đoạn mà Nhật Bản thực hiện chính sách “tỏa quốc” thì mối quan hệ giữa hai quốc gia được diễn ra sâu sắc và quan trọng nhất Đến giữa thế kỉ XIX trở đi, quan hệ Nhật Bản - Hà Lan đã bị giảm sút nghiêm trọng Bởi Hà Lan không còn là trọng tâm chiến lược trong quan hệ đối ngoại của Nhật Bản nữa Vì vậy, trên cả lĩnh vực thương mại hay giao lưu văn hóa đều có sự giảm sút Tuy nhiên, vai trò của Công ty Đông Ấn Hà Lan và những nhân viên thương quán Hà Lan để lại trong lịch sử Nhật Bản là không thể phủ nhận không chỉ trong thời kì Nhật Bản tỏa quốc mà còn ở cả những giai đoạn về sau
2.3 Các lĩnh vực quan hệ của Nhật Bản - Hà Lan thời Tokugawa (1603 - 1868)
2.3.1 Lĩnh vực thương mại
2.3.1.1 Các mặt hàng trao đổi chủ yếu của Nhật Bản và Hà Lan
Sau khi Hà Lan đặt được quan hệ với Nhật Bản đã mở ra một mối quan hệ giao thương bình đẳng giữa hai quốc gia thông qua một số mặt hàng chủ chốt như vàng, bạc, đồng, tơ lụa và gốm sứ diễn ra trong suốt các thế kỉ từ XVII đến XIX, đặc biệt là trong hai thế kỉ XVII và XVIII
Sản phẩm đầu tiên có giá trị lớn nhất đó chính là Vàng Vàng chính là thứ màu nhiệm mà thương nhân châu Âu tìm đến Nhật Bản Theo suy nghĩ chung của
Trang 40chúng ta, Nhật Bản là một quốc gia quanh năm chỉ có động đất, núi lửa và sóng thần, nghèo tài nguyên thiên nhiên Thế nhưng, theo như ghi chép của các nhà thám hiểm thì có sự khác biệt:
“Ngay từ thế kỉ XVII, các nước phương Tây đã biết đến Nhật Bản qua những ghi chép của Marco Polo (1254 - 1324) về hòn đảo có tên gọi là Zipangu nằm phía đông ngoài khơi châu Á, nơi chất đầy vàng và nguồn của cải đó không bao giờ cạn kiệt Những ghi chép và lời tường thuật đó đã thổi bùng cơn khát vàng của người phương Tây trong giai đoạn quá độ từ chế độ phong kiến lên chủ nghĩa
tư bản” [10, tr.191] Chính vì vậy, người phương Tây đã nhanh chóng đến lập
quan hệ với vùng đất đầy tiềm năng này - đã thu được những nguồn lợi lớn thông qua việc đẩy mạnh quan hệ thương mại với Nhật Bản Hà Lan cũng không nằm ngoài những cuộc mua bán vàng bạc đó
Vào giữa thế kỉ XVI, ở Nhật Bản phát hiện được 50 mỏ vàng, 30 mỏ bạc và đều được khai thác Bạc của Nhật có thể coi là có trữ lượng khá lớn, tương đương với những mỏ bạc ở Peru hay ở Nam Mĩ vốn là thuộc địa của Tây Ban Nha Đây cũng là loại bạc được đánh giá là tinh chất nhất, rất được ưa chuộng ở thị trường trong nước và thế giới lúc bấy giờ Những năm 1590 - 1630, đã có nhiều công trường khai khoáng của các lãnh chúa lớn xuất hiện, như khai thác vàng ở đảo
Sado (vùng Hokuriku), bạc ở Ikuno… Hằng năm Nhật khai thác được: “200 tấn bạc, chiếm 1/3 tổng sản lượng khai thác bạc toàn thế giới” [10, tr.198] Điều này còn được thể hiện trong tác phẩm Quan hệ Nhật Bản với các nước Đông Nam Á thế kỉ XV - XVII của Nguyễn Văn Kim, cho biết: Vào thập kỉ thứ hai của thế kỉ XVII: ”trung bình mỗi năm Nhật Bản xuất khẩu khoảng 150 tấn bạc”[20, tr.231]
Qua đó cho thấy Nhật Bản là một đất nước có số lượng bạc lớn Vì vậy, bạc trở thành một mặt hàng buôn bán chính và đem lại nguồn lợi lớn nhất cho Nhật Bản
trong thời cận đại
Trước khi có quan hệ buôn bán vàng, bạc với thương nhân Hà Lan thì Nhật Bản cũng đã có những mối quan hệ thương mại với thương nhân Bồ Đào Nha
Vào đầu thế kỉ XVII, “mỗi năm Mạc phủ Edo đã cho nhập về 4.000 talels vàng từ