1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của việt nam từ đổi mới đến nay

63 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 706,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chuyển đổi mô hình kinh tế là tất yếu đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, xung quanh vấn đề này còn có các công trình nghiên cứu sau: Phạm Thị uý

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

Người hướng dẫn : TS Đinh Thị Phượng Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp : 13 SGC

Đà Nẵng, năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất cứ hình thức nào trước đây Những tư liệu, số liệu, và nhận định được sử dụng để phục vụ trong bài khóa luận được tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong tài liệu tham khảo và trích dẫn chú thích nguồn rõ ràng

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung bài khóa luận của mình

Tác giả đề tài

Nguyễn Thị Ngọc Diệp

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với mong muốn được làm bài khóa luận tốt nghiệp cuối khóa đề nâng cao kiến thức cũng như kỹ năng cho bản thân, và được sự đồng ý của Cô hướng dẫn TS Đinh Thị

Phượng tôi đã thực hiện đề tài “Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam

từ đổi mới đến nay” Để công trình khóa luận này hoàn thành đúng tiến độ và khoa

học, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô đã quan tâm hướng dẫn, nhắc nhở, giúp đỡ tận tình, chu đáo trong suốt quá trình tôi thực hiện

Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị - trường Đại học Sư phạm Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành được đề tài này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song, do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên bản thân còn hạn chế về kinh nghiệm cũng như kiến thức nên chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô, các bạn và những người có kinh nghiệm để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2017

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc Diệp

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Bố cục của đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

B NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY 7

1.1 Bối cảnh lịch sử chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam 7

1.1.1 Bối cảnh trong nước 7

1.1.2 Bối cảnh quốc tế 10

1.2 Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Đảng 14

1.2.1 Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Đảng từ đại hội IV đến Đại hội VIII 14

1.2.2 Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Đảng từ đại hội IX đến Đại hội XII 18

1.3 Thực tiễn chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam 23

1.3.1 Quá trình chuyển đổi ở địa phương 23

1.3.2 Thành công trên phạm vi cả nước 34

CHƯƠNG II THÀNH TỰU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM 39

2.1 Thành tựu đạt được 39

2.2 Hạn chế của quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam từ đổi mới đến nay 47

2.3 Một số vấn đề đặt ra trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Vệt Nam hiện nay 48

C KẾT LUẬN 54

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hơn ba mươi năm đổi mới đất nước, thực tiễn đã chứng minh đường lối kinh tế của Đảng là đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới, phù với với đặc điểm riêng của Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân đã nỗ lực phấn đấu, đưa đất nước vượt qua khó khăn, thử thách Ngày nay, Việt Nam có diện mạo hoàn toàn mới: Thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng; đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện; thiết lập mối quan hệ với nhiều nước lớn trên thế giới, địa vị và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao

Nhìn lại lịch sử, khi đất nước còn chiến tranh, cơ chế tập trung, bao cấp đã huy động được tối đa nguồn nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến Nhân dân trong không khí hào hùng của dân tộc,với khát vọng độc lập, tự do đã đem sức người, sức của phục

vụ cho Cách mạng, cùng Đảng tham gia kháng chiến, thống nhất nước nhà Sau khi miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng (4 - 1975) và đất nước thống nhất (năm 1976), trong không khí phấn khởi, tràn đầy hi vọng, cả nước bắt đầu ngay vào việc thực hiện kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế với hai kế hoạch 5 năm - (1976

- 1980) và (1981 - 1985) để tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, kế hoạch này vẫn giữ mô hình kinh tế tập trung, bao cấp như trước khi giải phóng Sau thời gian ngắn áp dụng, mô hình này bộc lộ những hạn chế yếu kém, kiềm hãm phát triển của lực lượng sản xuất, nghiêm trọng hơn, làm cho nền kinh tế nước ta đứng trên bờ vực khủng hoảng, suy thoái, sản xuất đình trệ, tăng trưởng chậm, tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm diễn ra khắp nơi, ngân sách thiếu hụt, hàng hóa tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng, nạn lạm phát tăng nhanh, nạn đói nghèo bao trùm làm đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, còn ở miền Nam là một nền kinh tế hỗn hợp giữa sản xuất hàng hóa nhỏ đa sở hữu do thời kỳ thực dân Mỹ thống trị hơn 20 năm để lại

Đường lối và chính sách đổi mới trong Đại hội VI (1986) như một làn gió mới, tia hy vọng mới, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng Đây là kết quả của quá trình tìm tòi thử nghiệm, bám sát thực tiễn, vừa làm tổng kết kinh nghiệm của Đảng.Từ chỗ không thừa nhận sự tồn tại của kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, kinh tế tư nhân đến

Trang 6

thừa nhận; từ rập khuôn theo mô hình kinh tế của Liên Xô đến lựa chọn mô hình kinh

tế riêng phù hợp với đặc điểm của Việt Nam là bước đột phá rất lớn của Đảng và nhân dân ta Chính đột phá này là chìa khoá quan trọng của thành tựu hơn 30 năm đổi mới đất nước Từ Đại hội VI, Đảng ta xác định đúng tầm quan trọng của mô hình kinh tế thị trường trong bối cảnh đất nước hiện tại Trải qua 15 năm tìm tòi đổi mới tư duy và dựa vào thực tiễn, được đúc kết lại trên cơ sở kiểm điểm, đánh giá và rút ra các bài học lớn tại các kỳ Đại hội Đảng, đến Đại hội lần thứ IX khẳng định mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đây thực chất là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Và đây là mô hình kinh tế hoàn toàn mới, chưa có trong tiền lệ lịch sử, chưa từng được đề cập đến trong tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph Ăngghen, V.Lênin, cũng chưa từng có dân tộc nào xây dựng và làm mẫu Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam là nền kinh tế mở phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế uốc tế Với nhiều hình thức sở hữu và cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều thành phần, trong đó sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất là chủ yếu và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đã tạo ra động lực và điều kiện thuận lợi cho giải phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng trong và ngoài nước Nhờ đó, cải thiện đời sống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội đưa Việt Nam ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp

và bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình

Ngày nay, Việt Nam được thế giới biết đến là một nước có nền kinh tế tăng trưởng cao, nền kinh tế năng động, từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sự nghiệp đổi mới vẫn đang được tiếp tục hướng tới xây dựng và hoàn thiện

mô hình kinh tế năng động và cơ chế tự điều chỉnh linh hoạt Nhìn lại quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế từ tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chặng đường có nhiều khó khăn thử thách Đặc biệt đứng trước những biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới, sự sụp đổ của Liên Xô, suy thoái kinh tế toàn cầu, và những thay đổi trong quan hệ giữa các nước lớn; hay xu thế toàn cầu hoá ngày càng mở rộng đặt ra nhiều cơ hội và thách thức cho quá trình chuyển đổi mô hình kinh

tế của Việt Nam Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi quyết định chọn “Quá trình

Trang 7

chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam từ đổi mới đến nay” làm hướng nghiên cứu

chính đề tài khóa luận

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua phân tích bối cảnh lịch sử những năm 80 cua thế kỷ XX và đột phá

tư duy kinh tế của Đảng, đề tài tập trung làm sáng tỏ quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế Việt Nam từ kế hoạch, bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời đề tài còn rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế ở nước ta

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng do mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp áp dụng trong hai kế hoạch 5 năm lần hai (1976 - 1980) và lần ba (1981 - 1985) không còn phù hợp với bối cảnh đất nước hiện tại, quan hệ sản xuất đã lỗi thời làm kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Trong khi đó, thế giới trong thời gian này phát triển theo những xu hướng sau: Xu hướng xung đột và đối đầu đang từng bước thay đổi sang xu hướng hợp tác và cạnh tranh; sự trỗi dậy mạnh mẽ và vươn lên thành những con rồng của các nước trong khu vực Đông Nam Á ; công cuộc cải tổ không thành công dẫn đến sụp đổ ở Liên Xô; tiếng vang của những thành tựu công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc theo hướng thị trường; xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ Từ chính bối cảnh đó, để hoàn thành mục tiêu trên, đề tài có các nhiệm vụ làm rõ các vấn đề cụ thể như sau:

- Phân tích Cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế Việt Nam từ đổi mới đến nay

- Thành tựu và một số vấn đề đặt ra trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; quan điểm đổi mới tư duy kinh tế của Đảng, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp logic lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát

Trang 8

hóa, hệ thống hóa các tài liệu lý luận về mô hình kinh tế chỉ huy, kế hoạch hóa và mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trên có sở đó phân tích, so sánh, tổng hợp các tài liệu về quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế trước đổi mới và sau đổi mới để chọn được những tài liệu phù hợp, phục vụ cho quá trình nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam từ mô hình kinh tế kế hoạch, bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Chuơng 2: Thành tựu và một số vấn đề đặt ra trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh

tế ở Việt Nam

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chuyển đổi mô hình kinh tế là tất yếu đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, xung quanh vấn đề này còn có các công trình nghiên cứu sau:

Phạm Thị uý “chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam, thực trạng và kinh

nghiệm”, xuất bản năm 2002, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội, công trình khẳng định về

quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam là chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Đây chính là một cuộc cải cách sâu rộng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Nó bắt nguồn

từ khát vọng nội tại của nhân dân cùng với tư duy đổi mới của Đảng lãnh đạo, nhằm xóa bỏ cơ chế quản lý trì trệ, xây dựng cơ chế mới năng động phù hợp hơn với xu thế

của thời đại Trong “Tư duy kinh tế Việt Nam: Chặn đường Gian nan và ngoạn mục”,

xuất bản năm 2008, Nxb Tri thức, Hà Nội Đặng Phong phân chia những chặn đường đổi mới tư duy kinh tế theo các thời kì cụ thể: 1975 - 1979, 1979 - 1986, 1986 - 1989

và dừng lại ở mỗi chặng là những dấu mốc cụ thể, những cá nhân nổi bật và những

Trang 9

quyết sách táo bạo đem lại những biến chuyển “thay da đổi thịt” cho cả nền kinh tế đất nước Đó là quá trình tìm tòi, đúc kết kinh nghiệm của nhiều ý tưởng, nhiều trăn trở Trong quá trình đó có những bộ óc bức phá nhưng cũng có những quan điểm trì trệ Tất cả những ý tưởng đó trải qua quá trình đấu tranh, tìm tòi, đúc kết kinh nghiệm, gian nan và ngoạn mục để tiến tới sự đồng thuận cao trong tư duy kinh tế cho Việt

Nam Đặng Phong trong “Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới”, xuất bản năm

2009, Nxb Tri thức, Hà Nội, xoay quanh vấn đề kinh tế của Việt Nam Trong thực tế, trước đó nhiều năm đã có hàng loạt mũi đột phá can đảm, gian nan, trầy trật, mưu trí, sáng tạo, mà theo cách gọi thời đó là những cuộc “phá rào” Đại hội Đảng lần thứ VI

là thời điểm bắt đầu đổi mới Cuốn sách này là góp phần dựng lại một bức tranh sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ trong thời kỳ “phá rào” Tác giả Huỳnh

Bửu Sơn với “Giấc mơ hóa rồng”, xuất bản năm 2016, Nxb Thế giới, là lời kể lại

chặng đường 25 năm mà chuyên gia kinh tế đã trải qua và ghi chép lại về công cuộc đổi mới đất nước, từng bước thoát khỏi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, từng bước khôi phục nền kinh tế thị trường, đa thành phần sở hữu và một cơ chế quản

lý thông thoáng Đó là niềm mơ ước và trăn trở của ông và cũng là của biết bao thế hệ người Việt, những ai mong muốn đưa đất nước thoát khỏi vòng xoáy nghèo khổ, lạc hậu đều mong ước một ngày đất nước mình trở nên phát triển, lớn mạnh trong khu vực

và thế giới Và đổi mới chính là chính sách thể hiện khát vọng to lớn ấy nhằm thay đổi

bộ mặt đất nước toàn diện, đi đến tương lại thịnh vượng, đáp ứng mong mỏi của hàng

triệu người dân Tác giả Mạnh Hùng với “Kinh tế xã hội Việt Nam, thực trạng xu thế

và giải pháp”, xuất bản năm1996, Nxb Thống kê, Hà Nội, cho chúng ta biết thêm về

tình hình kinh tế ở Việt Nam những năm đầu của quá trình chuyển đổi mô hình kinh

tế, đặc biệt là giai đoạn 1991 - 1995 Ngoài việc phân tích, đánh giá chung về tình hình kinh tế, xã hội ở nước ta, tác giả còn đi sâu và phân tích các ngành, lĩnh vực cụ thể như: nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ…qua đó, phân tích số liệu thống kê

để chỉ ra tình hình kinh tế nước ta lúc bấy giờ và đề ra mục tiêu, hoạch định đường lối chính sách, xây dựng qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong mười năm tới

Cuốn sách “Những vấn đề kinh tế Việt Nam”, xuất bản năm 2015, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, của Võ Đại Lược đã đi vào các vấn đề kinh tế của Việt Nam đã đạt được

từ đổi mới cho đến nay với các vấn đề chủ yếu như gồm những vấn đề như: Đổi mới

Trang 10

tư duy, quan điểm và định hướng phát triển Việt Nam, đổi mới và hoàn thiện chế độ sở hữu, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tế Việt Nam, tăng trưởng kinh

tế và bất bình đẳng xã hội, tình hình kinh tế Việt Nam Góc nhìn của tác giả chú trọng vào các vấn đề của sự phát triển kinh tế Việt Nam và từ đó đề xuất các giải pháp cần thiết Thực tế đến nay cho thấy các kiến giải và giải pháp mà tác giả đề xuất đã phù hợp với thực tế và phù hợp với các chính sách của Đảng và Nhà nước đã được áp dụng Tuy nhiên, cũng còn có những đề xuất cần thời gian nghiên cứu và ứng dụng cụ

thể Cuốn sách Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam, xuất bản năm 2013, Nxb Tri

thức, Hà Nội Đây là tuyển tập những bài viết tâm huyết của Trần Văn Thọ, tác giả đã nghiên cứu rất nghiêm túc những giác độ khác nhau của kinh tế Việt Nam bằng việc nhìn lại chằn đường 40 năm kể từ ngày giải phóng đất nước Chỉ ra với những căn cứ xác đáng các mặt yếu kém, các cơ hội và thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt Không chỉ có giá trị khoa học và thực tiễn vững chắc, cuốn sách này cũng cảnh báo những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, trong đó nguy cơ chưa giàu đã già

là đáng lo nhất Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến mặt trái của việc sử dụng kéo dài nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, của chinh sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và việc xuất khẩu lao động Để Việt Nam phát triển xứng đáng với tiền năng đang có, tác giả đề cao tư duy phát triển và kỳ vọng thế hệ lãnh đạo mới của Việt nam

sẽ có khát vọng và quyết tâm chính trị để đưa đất nước Việt Nam phát triển mạnh mẽ Đưa ra những thách thức hiện tại, đổi mới tư duy và tầm nhìn chiến lược cho 20 năm tới

Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề kinh tế ở nước ta, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ nghiên cứu ở từng vấn đề trong kinh tế, nhìn nhận ở từng góc độ của quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam từ đổi mới đến nay Thiết nghĩ, đây là một vấn đề quan trọng, then chốt trong phát triển kinh tế của đất nước

Vì vậy, để tiếp nối mạch nghiên cứu của nhiều công trình trên, trong quá trình làm khóa luận tốt

nghiệp, dưới sự định hướng của giảng viên hướng dẫn, tác giả chọn đề tài “ Quá trình chuyển

đổi mô hình kinh tế của Việt Nam từ đổi mới đến nay” làm hướng nghiên cứu chính

khóa luận tốt nghiệp của mình

Trang 11

B NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUÁ TRÌNH

CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

1.1 Bối cảnh lịch sử chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam

1.1.1 Bối cảnh trong nước

Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới, cả nước độc lập, thống nhất, bước vào quá trình khôi phục và phát triển đất nước và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội

Ở miền Bắc, do sự tàn phá của chiến tranh, kinh tế vẫn trong tình trạng hết sức nghèo nàn và lạc hậu, sản xuất nhỏ với lao động thủ công là phổ biến Năng xuất lao động thấp, sản xuất chưa đảm bảo nhu cầu đời sống và tích lũy; công nghiệp còn nhỏ

bé, chưa đồng bộ, chưa đủ sức làm nền tảng vững mạnh cho nền kinh tế quốc dân; sản xuất nông nghiệp chưa đủ cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hóa xuất khẩu; lực lượng lao động xã hội chưa được phân bố và

sử dụng hợp lý Nền kinh tế bước đầu có phát triển nhưng bị mất cân đối nghiêm trọng Trong quan hệ sản xuất, kinh tế quốc danh và kinh tế tập thể chiếm vị trí tuyệt đối, kinh tế tư nhân bị xóa bỏ, kinh tế cá thể tuy còn tồn tại nhưng không đáng kể, chủ yếu là trong khu vực nông nghiệp, tiểu thủ thương nghiệp và buôn bán nhỏ

Ở miền Nam, do chính sách thực dân mới của Mỹ, kinh tế bước đầu phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, kinh tế phát triển hơn ở miền Bắc Sau ngày giải phóng,

mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp ở miền Bắc được áp dụng trên phạm

vi cả nước Trong không khí vui tươi của ngày giải phóng, cả nước phấn khởi, bắt tay bước vào xây dựng lại nền kinh tế với kế hoạch năm năm lần thứ hai và thứ ba Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980) với nhiệm vụ hàng đầu là tập trung lực lượng sản xuất nông nghiệp một cách toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc Với các chỉ tiêu kinh tế kế hoạch quá cao về xây dựng cơ bản về phát triển sản xuất như: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, đưa nền kinh tế ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa

Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp

và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một

cơ cấu công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương, vừa xây dựng kinh tế địa phương; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập, hoàn thiện quan hệ sản xuất

Trang 12

mới” [37] Kế hoạch đã được vạch ra nhằm nhanh chóng xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, kế hoạch này đã không coi trọng đúng mức việc khôi phục

và sắp xếp lại nền kinh tế, thiên về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, không tập trung sức giải quyết căn bản để vấn đề lương thực, thực phẩm, phát triển sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Mặc dù trong kế hoạch này có

sự đầu tư khá lớn nhưng phần lớn các chỉ tiêu đều không đạt được

Mặc khác, trong thời gian này, quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô Và các nước Đông Âu) không còn nguồn viện trợ không hoàn lại như trước nữa mà trên cơ sở hai bên cùng có lợi Nguồn vốn vay từ các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng giảm sút “Trước hết là khoản viện trợ của Trung Quốc, trước đây thường vào khoảng 300 - 400 triệu USD/năm Từ sau ngày giải phóng, do nhiều diễn biến phức tạp trong qua hệ quốc tế, nguồn hàng này giảm mạnh

và đến năm 1977 thì chấm dứt hoàn toàn Năm 1978, Việt Nam tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), phải chấp nhận mọi thiết chế của khối kinh tế đó, trong đó có thiết chế về giá Do vậy, nguồn hàng nhập khẩu trong khối SEV cao hơn khoảng 2,5 -

3 lần so với mức giá hỗ trợ hữu nghị của các nước xã hội chủ nghĩa dành cho Việt Nam Trong khi đó Mỹ tiếp tục bao vây cấm vận kinh tế” [23, tr.29] Chúng ta biết rằng, nguồn hàng phong phú ở miền Nam chủ yếu là do nhập khẩu Mỗi năm, miền Nam phải nhập khẩu khoảng trên dưới một tỷ USD, thông qua hệ thống viện trợ Mỹ Nguồn này chấm dứt đột ngột sau ngày giải phóng làm đảo lộn cả quá trình sản xuất cũng như tiêu dùng Hơn nữa, chiến tranh biên giới phía Bắc và chiến tranh biên giới phía Tây năm 1978 - 1979 gây ra những đảo lộn lớn trong nền kinh tế nước ta Do vậy,

từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng

Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981 - 1985) tiếp tục thực hiện tiêu mà Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976 đề ra Đó là tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, đồng thời tăng thêm trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác và chuẩn bị cho sự phát triển mạnh

mẽ hơn nữa của công nghiệp nặng Hoàn thành công cuộc cải tại xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cũng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả nước Kết quả là nền kinh tế càng rối ren và

Trang 13

khủng hoảng trầm trọng hơn: Các ngành sản xuất, dịch vụ bị đình trệ, nền kinh tế mất cân đối, phân phối lưu thông rối ren, thâm hụt lớn về thương mại và ngoại tệ Thiếu hụt trong cán cân thanh toán quốc tế, nhập siêu ngày càng lớn, nợ nước ngoài tăng Thất nghiệp tràn lan, nạn lạm phát tăng nhanh, giá cả leo thang Cơ chế tập trung, bao cấp ngày càng nặng nề hơn

Như vậy, sau hai kế hoạch 5 năm kể từ khi thống nhất đất nước (1976 -1985), nền kinh tế đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng : “Từ năm 1976 đến năm

1985, thu nhập quốc dân bình quân mỗi năm chỉ tăng 3,7%; nông nghiệp là ngành then chốt, chiếm khoảng 50% thu nhập quốc dân, nhưng những năm 1976 - 1985, bình quân mỗi năm chỉ tăng 3,8% Sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính chất độc canh lúa, sản lượng lương thực năm 1985 là 18,2 triệu tấn, bình quân đầu người là 304 kg Sản xuất nông nghiệp được tăng đầu tư vốn lớn nhưng tốc độ tăng rất thấp và không ổn định Bình quân mỗi năm trong những năm 1975 - 1985, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp chỉ tăng 5,2% Sản xuất không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của người dân Hầu như toàn bộ tích lũy và nhu cầu tiêu dùng phải dựa vào viện trợ và vay

nợ nước ngoài Trong những năm 1976 - 1980, vay nợ và viện trợ nước ngoài chiếm 38,2% tổng thu nhập trong nước và bằng 61,9% tổng số thu trong nước Số liệu tương ứng trong thời kỳ 1981 - 1985 là 22,4% và 28,9% Đến năm 1985, nợ nước ngoài lên tới 85 tỷ rúp và 1,9 tỷ đôla” [25, tr.18] Trong khi đó ngân sách vẫn thâm hụt và phải

bù đắp bằng phát hành Nhiều loại sản phẩm bình quân đầu người năm 1985 còn thấp hơn năm 1976 do sản xuất không đủ tiêu dùng nên hầu hết các loại hàng hóa đều phải nhập khẩu, kể cả một số mặt hàng trong nước có thể sản xuất được như gạo, vải “Lạm phát tăng nhanh, chỉ số lạm phát đến đỉnh cao vào năm 1986 là 776,9%” [25, tr.19] Đời sống nhân dân khó khăn gay gắt Do đó đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, nhất là công nhân viên, lực lượng vũ trang và một bộ phận nông dân Tiêu cực và bất công xã hội tăng lên Trật tự xã hội bị giảm sút, lòng tin của nhân dân vào Đảng bị lung lay

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng khủng hoảng trì trệ một mặt do nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp, nền kinh tế lạc hậu với nông nghiệp và sản xuất nhỏ là chủ yếu, công nghiệp mới bắt đầu hình thành Hơn nữa, 30 năm chiến tranh ác liệt đã tàn phá nền kinh tế hết sức nặng nề, phải đối phó với cuộc

Trang 14

chiến tranh biên giới, viện trợ từ bên ngoài giảm so với thời kỳ chiến tranh Mặt khác, trong công cuộc cải tạo chủ nghĩa xã hội, chúng ta có những biểu hiện nóng vội, muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh, nhưng thực tế cho thấy lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu mà cả trong trường hợp quan hệ sản xuất không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Cải tạo một cách gò ép, chạy theo số lượng không coi trọng chất lượng, buông lỏng quản lý Cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp được duy trì quá lâu Nhiều chính sách thể chế lỗi thời chưa được bãi bỏ Một số cải tiến được đưa ra nhưng mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ, không ăn khớp thậm chí trái ngược nhau Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã là sức cản lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội, bộc lộ rõ những hạn chế nhất định

Trong 10 năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975 - 1985), do chủ quan, muốn sớm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã vi phạm quy luật khách quan là quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Kết quả là kinh tế suy thoái nghiêm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn Việc thừa nhận kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản mà

là sự phát triển khách quan của nền kinh tế hàng hóa Mỗi nền kinh tế muốn phát triển cần phải sử dụng hiệu quả nền kinh tế thị trường phù hợp với đặc điểm, điều kiện, mục tiêu Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam đứng trước những thách thức to lớn Vì vậy, thực tiễn đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ cấp thiết phải nghiên cứu, tìm tòi thay đổi

mô hình cũ bằng mô hình mới phù hợp hơn để đưa nền kinh tế đất nước khỏi khủng hoảng và từng bước hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới

1.1.2 Bối cảnh quốc tế

Bước vào những năm 80 của thế kỷ XX, thế giới đã diễn ra những biến đổi to lớn, sâu sắc: Những cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tồi tệ nhất, bên cạnh đó, toàn cầu hóa là hiện tượng nổi bật Sự phát triển vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại cùng với sự phát cao của nền kinh tế đã tác động to lớn đến nền kinh tế

thế giới

Xu thế từ chiến tranh chuyển sang hòa bình là xu thế chung của nhân loại Trên bình diện thế giới, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, các nước tập trung

Trang 15

khắc phục hậu quả của chiến tranh, tập trung xây dựng và phát triển kinh tế Ở hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa đã bắt đầu tiến hành điều chỉnh, thích ứng và sử dụng thành quả của khoa học công nghệ vào đời sống, nhất là lĩnh vực kinh tế Hướng điều chỉnh

là phát triển các ngành có hàm lượng khoa học - kỹ thuật cao, thực hiện điều tiết kinh

tế thông qua các công cụ và chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, tăng cường vai trò kinh tế tư nhân Các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong giai đoạn này đã thực hiện cải cách kinh tế và trở thành khu vực kinh tế năng động của thế giới Thực hiện liên tục cải cách cơ cấu, xác định chiến lược đúng đắn để cạnh tranh và phát triển theo các xu hướng như: Ổn định chính trị là tiền

đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội Lựa chọn chiến lược xuất khẩu, hướng ra thị trường thế giới, điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nâng cao trình độ dân trí, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, phát triển nhân tài Thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường liên kết kinh tế quốc tế, khuyến khích xuất khẩu Khai thác triệt để nguồn lao động dồi dào và rẽ nhưng có tay nghề cao Từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ở các nước xã hội chủ nghĩa như Liên

Xô, các nước Đông Âu, Trung uốc cũng tiến hành cải cách kinh tế theo hướng thị trường Các cuộc cải cách ở các nước này diễn ra ở thời điểm khác nhau và có kết quả khác nhau nhưng nhìn chung là nhằm khắc phục những hạn chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mang lại Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, cuộc cuộc cải cách ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã không đạt được kết quả mong muốn, dần dần dẫn đến khủng hoảng và mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước này bị sụp đổ Ngược lại với các nước trên, công cuộc cải cách ở Trung Quốc vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX lại mang thành tựu to lớn: Nền kinh tế ổn định và tăng trưởng nhanh, mức sống của nhân dân được nâng lên đáng

kể, xã hội chủ nghĩa được cũng cố vững chắc

Bên cạnh hai xu thế trên thì toàn cầu hóa đang trở thành một làn sóng mạnh mẽ, hệ thống kinh tế thị trường càng phát triển theo hướng mở, không bị giới hạn bởi các đường biên giới và ranh giới dân tộc, chủng tộc và tôn giáo Đó là môi trường thuận lợi cho quá trình tự nhiên xích lại gần nhau của các cộng đồng dân cư trên toàn thế giới Toàn cầu hoá phản ánh một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau Giai đoạn từ cuối

Trang 16

thập kỷ 80 đến nay vẫn là một giai đoạn toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế nổi

rõ nhất với những đặc trưng sau đây: Chấm dứt chiến tranh lạnh và sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã kết thúc thời kỳ thế giới hai cực, chấm dứt sự đối đầu giữa hai hệ thống, mở ra thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu thực sự với sự chuyển đổi của các quốc gia từng là xã hội chủ nghĩa, các nước đang phát triển sang kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế; xu thế hoà bình, hợp tác phát triển đã trở thành xu thế chính của thời đại Từ cuối thập kỷ 80, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, hầu hết các nhà nước quốc gia đi theo kinh tế kế hoạch từ chối mở cửa hội nhập quốc

tế đã bắt đầu thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường mở cửa hội nhập quốc tế Các nhà nước quốc gia nói chung cho đến nay đã chấp nhận toàn cầu hoá và Hội nhập kinh

tế quốc tế, do vậy đã tham gia IMF, WB và WTO, và các tổ chức kinh tế khu vực Sự bùng nổ của thị trường tài chính toàn cầu: Vào nửa cuối thập kỷ 80, tốc độ và quy mô giao dịch tài chính toàn cầu đạt mức độ cao hơn chưa từng thấy Sự phát triển mạnh

mẽ của các công ty xuyên quốc gia: Các công ty xuyên quốc gia kinh doanh toàn cầu

đã gia tăng nhanh chóng và ngày càng trở thành những chủ thể cơ bản chi phối nền kinh tế toàn cầu Các tổ chức xã hội dân sự ngày càng có vai trò lớn hơn trong nền kinh tế toàn cầu: Các tổ chức xã hội dân sự gồm các hiệp hội tự nguyện, các loại quỹ

từ thiện, các thể chế tôn giáo, hoạt động đa dạng bên ngoài các phạm vi chức năng của gia đình và Nhà nước, nghĩa là các tổ chức này làm những gì mà Nhà nước và các gia đình không làm và có ích cho con người Những tổ chức này đang gia tăng hoạt động trên phạm vi toàn cầu: uỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức

thương mại thế giới (WTO) Toàn cầu hóa, cải cách kinh tế đã trở thành làn sóng lan

rộng khắp các nước trên thế giới từ cuối những thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế

kỷ XX

Như vây, tình hình trên khiến cho đổi mới trở thành một nhu cầu hết sức cấp bách,

là đòi hỏi bức thiết của cuộc sống đặt ra và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đổi mới

ở Việt Nam Đó là xu hướng hợp tác và cạnh tranh trên thế giới đang từng bước thay đổi xu hướng đối đầu và xung đột Tình huống này buộc các quốc gia phải định hướng lại tư duy về các vấn đề phát triển, nhất là phát triển kinh tế Khác hẳn với trước đây, trong hoàn cảnh phát triển mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế thành nhu cầu tự thân bên trong đối với nền kinh tế nông nghiệp vốn mang đậm chất khép kín, tự cấp, tự

Trang 17

túc ở nước ta Tiếp đến là thành công của các nước công nghiệp mới ở Đông Nam Á đưa ra những gợi ý cho nước ta về cách thức và giải pháp phát triển đối với những nước vốn xuất phát từ những nước nông nghiệp, về chiến lược phát triển như: phát huy mạnh nội lực, mở cửa thị trường, hướng vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài Sự không thành công của công cuộc cải tổ dẫn tới sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô

và nhiều nước Đông Âu là bài học phản diện Đó là bằng chứng về sự thất bại của con đường cải tổ “phủ định sạch trơn”, giải quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình cải tổ Hay sự thành công nổi bật của cuộc cải cách kinh tế ở Trung uốc theo hướng thị trường Tiếng vang của những thành tựu mà cuộc cải cách

mang lại đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Toàn cầu hoá tạo ra cho Việt Nam những thách thức to lớn, những thách thức về kinh tế sẽ tăng lên gấp bội, nguy cơ tụt

hậu xa hơn về kinh tế là nguy cơ thực tế Bản thân nguy cơ này có bị loại trừ hay không, điều đó phụ thuộc vào sự thành công của công cuộc đổi mới và sự chuẩn bị các

nguồn lực cho quá trình hội nhập tiếp theo của nền kinh tế Kéo theo đó là nạn thất

nghiệp và thiếu việc làm, sự phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội và tội phạm có xu hướng tăng, sự lo ngại về mất bản sắc, sự đồng hoá văn hoá và sự huỷ hoại văn hoá dân tộc v.v Con đường để vượt qua những thách thức đó không phải là đóng cửa lại

để sống biệt lập với thế giới, mà trái lại, phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, bồi dưỡng và giáo dục con người nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm công dân, trách nhiệm với Tổ quốc

Những tình hình biến đổi của thế giới ấy vừa ảnh hưởng đến Việt Nam, vừa gợi ra những bài học kinh nghiệm quý báu mà Việt Nam có thể tham khảo với các mức độ khác nhau Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12 - 1986) đã chính thức khởi sướng sự nghiệp đổi mới, bắt đầu quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế, đem lại khởi sắc mới, diện mạo mới cho đất nước Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, công cuộc chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam là sản phẩm của chính mình, do các yếu tố trong nước quyết định

Trang 18

1.2 Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Đảng

1.2.1 Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Đảng từ đại hội IV đến Đại hội

VIII

Xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của đất nước, từ khát vọng đổi mới của nhân dân, từ những trăn trở, suy tư giữa một bên là mô hình kinh tế tập trung với một bên là lợi ích của nhân dân, sự tồn tại và phát triển của đất nước, Đảng Cộng sản luôn nung nấu, suy tư trăn trở để tìm ra mô hình kinh tế mới phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới Quan trọng hơn là mô hình kinh tế mới phải là mô hình cứu vãn được tình hình khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân thấp kém vào những năm 80 của thế kỷ trước

Ở Việt Nam, quá trình tìm tòi, thử nghiệm mô hình kinh tế mới đã manh nha xuất hiện trong điển hình sản xuất ở các địa phương Trên cơ sở những tìm tòi, sáng tạo ở địa phương, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổng kết, khái quát thành các chủ trương, đường lối, chính sách cụ thể, áp dụng rộng rãi trong toàn xã hội, đó cũng là quá trình vừa làm vừa bổ sung và hoàn thiện Trong Đại hội IV (12 - 1986) Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới tư duy, và đặc biệt nhấn mạnh đổi mới

tư duy kinh tế, sau khủng hoảng kinh tế xã hội trong những năm 1981 - 1985 Từ thực tiễn, Đại hội nhấn mạnh trong những năm qua việc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước đã có nhiều thiếu sót Do vậy đã dẫn đến nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế Đại hội đã phân tích đúng đắn nguyên nhân của thực trạng yếu kém của nền kinh tế nước ta là do nhận thức phiến diện về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, khuynh hướng thiên về nền kinh tế thị trường Nhận thức được cơ chế tập trung, bao cấp dẫn đến tình trạng quan liêu từ nhiều năm đã không còn tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội Đại hội VI đã khẳng định: “Phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh

tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất có quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định” [4, tr.36] Nếu như trước đổi mới, chủ trương xây dựng cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp tiên tiến, hiện đại thì đến Đại hội VI đã điều chỉnh theo hướng

Trang 19

thiết thực, phù hợp, phấn đấu vượt qua tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội Đó là tập trung xây dựng và thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: chương trình sản xuất lương thực, thực phẩm; chương trình sản xuất hàng tiêu dùng; chương trình sản xuất hàng xuất khẩu Đại hội VI cũng đã khẳng định: “Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp

về căn bản chưa bị xoá bỏ Cơ chế mới chưa được thiết lập đồng bộ Nhiều chính sách, thể chế đã lỗi thời chưa được thay đổi, một số thể chế quản lý mới còn chắp vá, không

ăn khớp, thậm chí trái ngược nhau Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời những hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật cũng khá phổ biến” [4, tr.18] Đại hội cũng đưa ra phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã được khẳng định là xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế và thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Tại Đại hội này, Đảng ta đã xác định kinh tế thị trường

là thành tựu của văn minh nhân loại mà chúng ta cần sử dụng để xây dựng chủ nghĩa

xã hội Hội nghị Trung ương 6 (3 - 1989), khóa VI phát triển thêm một bước, đưa ra quan điểm phát triển kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần Khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, đảm bảo cho mọi người tự do làm ăn theo pháp luật; các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất vốn có bản chất riêng nhưng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh không ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình hỗn hợp, đan kết với nhau; kinh tế quốc dân cần có lực lượng đủ sức chi phối thị trường, song không nhất thiết phải chiếm tỷ lệ lớn trong mọi ngành nghề, những ngành nghề, loại hoạt động nào mà kinh tế hợp tác xã, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân có thể làm tốt, có lợi cho nền kinh tế thì nên tạo điều kiện cho các loại hình kinh tế ấy phát triển Phát triển quan điểm kinh tế của Đại hội VI, Hội nghị lần thứ 6 (8 - 1989) của Ban chấp hành trung ương khẳng định về việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là một chủ trương, chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chính sách này được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và đã

đi nhanh vào cuộc sống, phát huy quyền làm chủ của nhân dân về kinh tế, khơi dậy nhiều tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo thêm

Trang 20

việc làm cho người lao động và tăng sản phẩm cho xã hội, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trường

Đến Đại hội VII của Đảng (6 - 1991), Đại hội tổng kết 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội VI, nêu lên thành to lớn có ý nghĩa hàng đầu đó là khắc phục được tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng Đại hội cũng đưa ra những hạn chế, yếu kém như nền kinh tế vẫn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp còn nhỏ bé, kết cấu hạ tầng kém phát triển Kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác chậm đổi mới

Cơ chế thị trường còn đang ở giai đoạn sơ khai, mang nhiều yếu tố tự phát Hiệu lực quản lý nhà nước còn thấp, chưa phát huy đầy đủ sức mạnh của cơ chế thị trường, chế

độ phân phối còn bất hợp lý, thực hiện tùy tiện và không thống nhất; nguyên tắc phân phối theo lao động chưa được tôn trọng Theo tinh thần của Đại hội, Đảng tiếp tục khẳng định thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, đồng thời nêu rõ,

cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác Khuyến khích tính năng động sáng tạo đi đôi với thiết lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế Phát huy lợi thế tương đối, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, đáp ứng tốt nhu cầu của sản xuất và đời sống, hướng mạnh về xuất khẩu thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả Mở rộng quan hệ kinh tế với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội Thành tựu về đổi mới kinh tế trong giai đoạn này là buớc đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận dụng theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Sử dụng thị trường trong phạm vi cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch, có thể nói, từ chỗ nhiều năm tẩy chay, kỳ thị thị trường đến chỗ sử dụng cơ chế thị trường để điều hành nền kinh tế là một bước tiến lớn trong nhận thức, trong tư duy kinh tế của Đảng ta Đại hội VII (6 - 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục làm rõ chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam và khẳng định: “Tiếp tục xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế mới, kiên trì chuyển đổi sang cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước” [4, tr.302]

Đại hội VIII (6 - 1996) diễn ra trong thời điểm có ý nghĩa lịch sử quan trọng, đó

là công cuộc đổi mới toàn diện mở đầu từ đại hội VI đến nay đã trãi qua gần 10 năm

Trang 21

Đại hội VIII có nhiệm vụ kiểm điểm kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII

và tổng kết 10 năm đổi mới, nêu lên những ưu điểm cũng như hạn chế của quá trình đổi mới, đồng thời, đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân trong thời kỳ mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước mà nhiệm vụ trung tâm

đó là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tại đại hội này, Đảng đã đề cập đến đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới chính trị: “Kết hợp chặc chẽ ngay từ đầu đồi mới kinh tế gắn với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” [4, tr.331] Tiếp tục khẳng định “xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [4, tr.332] Bên cạnh đó, Đại hội cũng đưa ra chính sách đối với các thành phần kinh tế như: Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng; thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp nguồn lực khác vào kết quả sản xuất, kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội; tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước Đảng đã rút ra một số kết luận mới về mối quan hệ giữa sản xuất hàng hóa và chủ nghĩa xã hội, giữa kế hoạch hóa và thị trường, giữa thị trường trong nước và quốc tế, giữa quyền quản lý của Nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp, về phân phối và lấy đó làm cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, tiếp tục tạo lập đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội VIII của Đảng xác định: Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng Nhưng tại thời kỳ này Đảng ta cũng mới bàn đến kinh

tế hàng hóa, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm kinh tế thị trường

Tóm lại, từ đại hội Đảng VI đến đại hội Đảng VIII (1986 - 2000), đây là giai đoạn hình thành tư duy của Đảng về mô hình kinh tế thị trường Đảng đã chuyển đổi

Trang 22

từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang thừa nhận mô hình kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước So với thời kỳ trước đổi mới, nhận thức của

Đảng về mô hình này có sự thay đổi sâu sắc Thứ nhất, Đảng khẳng định kinh tế thị

trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của phát triển nhân loại Lịch sử phát triển sản xuất xã hội cho thấy sự sản xuất và trao đổi hàng hóa là tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trường Thị trường giữ vai trò là một công cụ phân bổ các nguồn lực kinh tế Trong một nền kinh

tế khi các nguồn lực kinh tế được phân bổ bằng nguyên tắc thị trường thì người ta gọi

đó là kinh tế thị trường Kinh tế thị trường đã có mầm móng từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao trong chủ nghĩa tư bản Kinh tế thị trường và hàng hóa đều dựa trên cơ sở phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất làm cho những người sản xuất vừa độc lập vừa phụ thuộc vào nhau Thứ hai, kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội Tại Đại hội VII (1991), Đảng xác định cơ chế vận hành kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là “cơ chế thị trường

có sự quản lý của nhà nước” Đại hội Đảng VIII đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành

theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Kinh tế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội Kinh tế thị trường là thành tựu của văn minh nhân loại, bản thân kinh tế thị trường không có thuộc tính xã hội Vì vậy, kinh tế thị trường có thể được sử dụng ở các chế độ xã hội khác nhau

1.2.2 Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Đảng từ đại hội IX đến Đại hội

XII

Đại hội lần thứ IX họp vào thời điểm quan trọng, thế kỷ XX đã kết thúc, thế kỷ XXI bắt đầu Toàn Đảng, toàn dân đã trãi qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, phát huy những kết quả đổi mới đạt được, sau nhiều năm nghiên cứu tìm tòi, tổng kết lý luận - thực tiễn, Đại hội IX (4 - 2001) chính thức đưa ra khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận

Trang 23

động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [4, tr.459]

Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc Chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về tư liệu sản xuất chủ yếu từng bước được xác lập và sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về cơ bản Và cũng từ đại hội này, Đảng xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời làm rõ một số khía cạnh liên quan đến nội hàm của mô hình kinh tế này: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; đều được khuyến khích phát triển trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển Nhà nước quản

lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế

và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân

Bên cạnh đó, Đảng khẳng định, để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành thông suốt cần tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường; đổi mới

và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước theo hướng hình thành về cơ bản

và vận hành thông suốt, có hiệu quả thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

Trang 24

nghĩa với các nhiệm vụ thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, triệt để xoá bỏ bao cấp trong kinh doanh; đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư theo hướng giảm mạnh, tiến tới xoá bỏ sự phân biệt về chính sách và pháp luật giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

Như vậy, mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội về cơ bản vẫn kế thừa những nội dung trước đó, nhưng nội hàm đã được mở rộng hơn Có thể nói, chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước phát triển mới về tư duy lý luận kinh tế của Đảng, quan niệm về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất - từ nhận thức kinh tế thị trường như một công cụ, một cơ chế quản lý, sang nhận thức kinh tế thị trường như một chỉnh thể, là cơ sở kinh tế của sự phát triển trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Đến Đại hội X (4 - 2006), trên cơ sở kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010, nhìn lại 20 năm đổi mới, cùng những thuận lợi và khó khăn trong tiến trình đổi mới đặt ra Đảng tiếp tục khẳng định mô hình kinh tế đã được lựa chọn đồng thời nhấn mạnh, để đi lên chủ nghĩa xã hội, phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế với các nhiệm vụ chủ yếu sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường

cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh; phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò lãnh đạo; thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp, xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo

Trang 25

hình thức sở hữu, định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch

và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường; phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh, trong đó kinh

tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 6 khoá X (01 - 2008), Đảng đã đưa ra một số kết luận mới về kinh tế thị trường, khả năng sử dụng kinh tế thị trường làm phương tiện xây dựng chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời xác định mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp “tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế thành công, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa” [4, tr.163]

Các quan điểm nói trên về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được Đại hội XI (01 - 2011) của Đảng khẳng định và cụ thể hóa thêm trên một

số phương diện gắn với việc giải quyết các nhiệm vụ cấp bách của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay và mục tiêu phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Đại hội khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội” [4, tr.810] Bên cạnh đó, Đảng cũng chỉ

rõ, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phải tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh

mẽ, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đồng bộ và hiện đại Đổi mới, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới trên cơ sở tôn trọng và vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật và cơ chế vận hành của kinh tế thị trường

Trang 26

Phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội Mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh

và văn minh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Tiếp tục thể chế hóa các quan điểm của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh

tế

Đại hội XII (01 - 2016) của Đảng tiếp tục thống nhất nhận thức về mô hình kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Theo đó, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước “Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [12, tr.102] Đại hội xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội” [12, tr.103]

Như vậy, cho đến nay, quan niệm về vai trò, chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước đã được đổi mới một cách căn bản, từ quan niệm Nhà nước trực tiếp chỉ huy toàn

bộ nền kinh tế theo một kế hoạch tập trung, thống nhất mang tính pháp lệnh từ trên xuống chuyển sang phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng

Trang 27

quản lý kinh doanh, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công thuộc về Nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thuộc về doanh nghiệp Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, phủ nhận vai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và trên bình diện vĩ mô, còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh

Từ chỗ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính chuyển sang quản lý bằng pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết vĩ mô khác trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường

1.3 Thực tiễn chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam

1.3.1 Quá trình chuyển đổi ở địa phương

Mô hình kinh tế tác động sâu sắc đến hiệu quả phát triển của nền kinh tế quốc dân Từ khi giải phóng, mô hình kế hoạch hóa tập trung, bao cấp được áp dụng trên phạm vi cả nước Là mô hình kinh tế mà chính phủ kiểm soát tất cả các nguồn lực của kinh tế và phân bổ các nguồn lực này thông qua hệ thống kinh tế tập trung Hay nói cách khác, chính phủ đưa ra mọi quyết định về sản xuất và phân phối Cơ quan kế hoạch của chính phủ quyết định sẽ sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào, và phân phối cho ai Sau đó, các hướng dẫn cụ thể sẽ được phổ biến tới các hộ gia đình và các doanh nghiệp Mô hình kinh tế thời kỳ này với các đặc điểm như: Về chức năng quản

lý, Nhà nước can thiệp quá sau vào các lĩnh vực của hoạt động kinh tế, tập trung trong tay mình ba loại quyền: Quyền quản lý Nhà nước về hành chính kinh tế, quyền chủ sở hữu nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp và quyền điều hành sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp Hình thức sở hữu cơ bản của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp đó là sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước Sở hữu tập thể bao gồm sở hữu của các hợp tác xã sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng Tài sản thuộc sở hữu tập thể là tài sản không nằm trong diện sở hữu tuyệt đối của Nhà nước và được sử dụng để tiến hành các hoạt động sản xuất tương ứng hay phục vụ các nhu cầu sản xuất, văn hóa, đời sống của các thành viên trong tập thể Sở hữu toàn dân là hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Nó bao quát những tư liệu sản xuất chủ chốt quyết định sự phát triển của nền kinh tế Tài sản thuộc sở hữu toàn dân là tài sản chung

Trang 28

của toàn xã hội Chủ thể của sở hữu này là toàn thể nhân dân mà Nhà nước là đại diện Nhà nước với tính cách là đại diện chủ sở hữu của toàn dân định đoạt tài sản của Nhà nước, thực hiện thẩm quyền của nhân dân đối với tài sản đó Nhà nước là chủ thể thống nhất và duy nhất đối với tất cả tài sản thuộc sở hữu Nhà nước Nhà nước giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho các tập thể, cá nhân sử dụng theo quy định của pháp luật và hiệu quả Về nguyên tắc quản lý, thực hiện nguyên tắc tập trung cao độ Điều này dẫn đến tệ nạn quan liêu, cửa quyền của nhà nước và tính thụ động, ỉ lại, nạn hối

lộ, móc ngoặc của các đơn vị kinh tế Về hình thức quản lý, đó là nền kinh tế hiện vật theo kiểu cấp phát - giao nộp bằng hiện vật các nguyên liệu đầu vào và các sản phẩm đầu ra Thực hiện cơ chế xin - cho về tài chính Về phương pháp quản lý, dựa chủ yếu vào mệnh lệnh hành chính Về công cụ quản lý, chủ yếu sử dụng công cụ kế hoạch pháp lệnh mang tính áp đặt từ trên xuống trong việc giao nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh bằng hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh

Dưới chế độ bao cấp thì hình thức phân phối sản phẩm cũng được thực hiện theo sự quản lý phân phối của Nhà nước qua các hình thức như:

Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực với chúng trên thị trường Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực tích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều

đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin - cho” Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì cơ chế này có tác dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Nhưng nó lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học - công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai

Trang 29

đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện tại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; trong đó có nước

ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng

Như vậy, mô hình kinh tế tác động sâu sắc đến hiệu quả phát triển của nền kinh

tế quốc dân, trước đổi mới, mô hình kinh tế nước ta là kế hoạch hóa tập trung có đặc trưng cơ bản là mọi hoạt động kinh tế xã hội đều theo một kế hoạch thống nhất từ trung tâm, nhấn mạnh quan điểm hiện vật, không coi trọng các quy luật kinh tế, xem nhẹ hoạch toán kinh doanh

Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế là quá trình dần phá vỡ những quy tắc, quan hệ trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp trước đây uá trình chuyển đổi mô hình kinh tế ở nước ta là một bước ngoặt của cả dân tộc Việt Nam, đó là cả một chặng đường dài của những tư tưởng, những trăn trở để đổi mới đất nước của những cá nhân, tập thể luôn hết mình nỗ lực vì sự phát triển của đất nước uá trình đổi mới luôn đi liền với tư duy đổi mới Đó một cá nhân dám đi đầu đổi mới, luôn trăn trở làm sao để làm sao người dân không đói kém, làm sao để nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng Đó là tập thể luôn ủng hộ, đồng tình, cùng nhau xây dựng, chung tay đổi mới Và công cuộc chuyển đổi mô hình kinh tế bắt đầu từ những con người như vậy

Vĩnh Phúc là tỉnh đầu tiên “đi ngược” lại với chủ trương của trung ương, trái với đường lối hợp tác hóa nông nghiệp của Đảng để rồi có những thành công không thể chối cãi Đó là tư duy từ những năm 1966, bắt đầu từ trăn trở của bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc, ông Kim Ngọc Và chắc chắn trong giai đoạn đó thì khoán ở tĩnh Vĩnh Phúc bị lên án nặng nề, một phần vì điều kiện đất nước thời chiến, một phần lúc đó chúng ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiên định với chủ nghĩa Mác-lênin, với mô hình kinh tế của Liên Xô “Cũng có thể nói thêm rằng, vào thời điểm này, việc lựa chọn mô hình cho nông nghiệp vẫn còn trong quá trình mò mẫn, tìm tòi để thử nghiệm Ngay trong Đảng, kể cả ở những cương vị lãnh đạo cấp cao, cũng vẫn có nhiều ý kiến khác nhau Có thể nói, đa số những bộ óc lãnh đạo trong Đảng tuy đồng tình với việc hợp tác hóa, nhưng cũng còn rất trăn trở trong việc tìm tòi ra giải pháp để tạo hiệu quả thực tế của mô hình hợp tác hóa” [23, tr.187]

Trang 30

Sau tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Phòng cũng là tỉnh đi tiên phong trong đổi mới mô hình nông nghiệp cũ Ngay từ năm 1962, tức là hai năm sau khi hoàn thành hợp tác hóa ở miền Bắc và bốn năm trước khi có khoán Vĩnh Phúc (1966), ở một số huyện ngoại thành Hải Phòng như Tiên Lãng, An Lão (từ 1963 sáp nhập về Hải Phòng) đã thấy cách tổ chức lao động tập thể là không có hiệu quả Vì thế, có một vài hợp tác xã bắt đầu thực hiện chế độ khoán đối với cây công nghiệp và một số hoa màu Nhưng trong thực tế thì ngay từ năm 1977, nền kinh tế cả nước đã bắt đầu lâm vào khủng hoảng Các cuộc cải tạo nông nghiệp và công thương nghiệp không những không giúp cải thiện được tình hình, mà còn làm cho sự thiếu hụt càng thêm nghiêm trọng “Đến năm 1980 thì sản lượng lúa chỉ đạt hơn 11,64 triệu tấn, tức là còn thụt lùi so với năm

1976 Khả năng bao cấp của Nhà nước càng cạn kiệt thì mô hình kinh tế hợp tác xã nông nghiệp càng lộ rõ tính giả tạo và thiếu sức sống của nó” [23, tr.198] Tại nhiều địa phương, một số lớn hợp tác xã không những không thực hiện nổi nghĩa vụ lương thực với Nhà nước, mà hằng năm còn phải xin Nhà nước cấp lương thực cho nông dân Nhiều vùng đã xuất hiện nạn đói - chính người sản xuất lương thực lại bị đói Khoán ở Hải Phòng bắt đầu từ năm 1974 theo sự đề nghị, mong muốn của tất cả các xã viên ở xã Đoàn Xá Trước đây, với mô hình hợp tác xã, người dân chẳn mấy mặn mà với ruộng đồng, người ta có cố gắng làm thì cũng không đem lại cho họ cuộc sống no

nủ, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, “cha chung không ai khóc” là thực trạng của mô hình hợp tác xã lúc bấy giờ Và đó cũng là tình trạng chung của cả nước Thế là khoán ruộng ở Đoàn Xá, Hải Phòng đến từng hộ dân được bắt đầu thực hiện Thỏa thuận cứ một sào ruộng thì người dân phải nộp cho hợp tác xã là 70kg thóc, còn lại người dân được hưởng Thế là mọi người bắt tay vào công việc, “xã viên nhận khoán đã chủ động, không quản ngày đêm, cày hết đất, cấy kín hết diện tích Cấy xong thì ngày đêm lo nước, lo phân, lo làm cỏ Khi lúa chín thì gặt ngay, không để rụng, để rơi Trong cơ chế làm ăn tập thể, năng suất chỉ đạt 60 - 70 kg/sào Từ khi cho khoán, năng suất mỗi sào 1,4 - 1,5 tạ Sau khi nộp cho hợp tác xã, mỗi sào cũng còn ngót 1 tạ” [23, tr.200] Thật bất ngờ với kết quả đạt được, người dân từ đấy mà vui vẻ, phấn chấn, yên tâm vì đã có cái ăn và có cả của để dành Thực tế cho thấy kết quả không thể phủ nhận là vậy nhưng lại sai đường lối, thế là đến năm 1976 cán bộ về thanh tra và tất

Trang 31

nhiên là bị kiểm điểm và đình chỉ vì sai đường lối Một sáng kiến mang luồn sinh khí đem lại sức sống cho người dân vừa hé nở lại bị vùi dẹp

Vì nguyên nhân khách quan và chủ quan, năm đó, Đoàn Xá lại bị mất mùa, người dân càng khốn khổ Lần thứ hai người lãnh đạo lại nghĩ về khoán hai năm trước,

và khoán tiếp tục được áp dụng ở địa phương này Đương nhiên kết là cũng là thành công hơn sự mong đợi “Kết quả đầu tiên thật rõ rành rành: Vụ Mùa năm 1977, Đoàn

Xá trúng sản lượng gấp 6 lần mức bình thường, gấp 36 lần vụ Đông Xuân vừa thất bát trước đó Chỉ tiêu nộp thuế và bán lúa nghĩa vụ cho Nhà nước được hoàn thành rất sớm Nông dân mừng rỡ Làng xóm nhộn nhịp Từ đây, lãnh đạo nói - dân tin, ra lệnh - dân nghe Sang vụ Đông Xuân 1978, Đoàn Xá đã sắm thêm được nhiều xe, thuyền, cày, bừa, rộn ràng bước vào mùa mới Lại do tận dụng tối đa khả năng lao động của địa phương nên đất đai lại trở nên thiếu, chứ không còn cảnh đề hoang như trước Ngoài việc sử dụng được hết đất đai hiện có, dân Đoàn Xá còn lấn biển thêm được hơn

66 ha” [23, tr.205] Một lần nữa, thông tin lan truyền đến huyện, và cử đoàn cán bộ xuống điều tra Nhưng lần này thì khác với lần trước, thay vì dấu diếm thì ban lãnh đạo xã nói rõ, nói thật, trình bày một cách thẳn thắn kết quả mà họ đạt được nhờ khoán

hộ Từ đây, ta thấy rằng, muốn đổi mới, muốn đột phá trong sản xuất thì cần có sự đồng thuận của tất cả mọi người, từ cơ sở đến trung ương Và điều quan trọng hơn nữa

là có con người quyết tâm đổi mới tư duy đến cùng Và trăn trở của người lãnh đạo là làm sao để tìm ra sự đồng tình từ địa phương đến cả nước Cuộc hành trình đi tìm ra con đường đổi mới cho đất nước bắt đầu từ những con người ấy

Vào những năm đầu thập kỷ 80, tuy cả nước đã đứng trước tình hình rất khó khăn về sản xuất nông nghiệp, nhưng về quan điểm thì vẫn còn rất lúng túng trong tình trạng giằng co giữa cơ chế cũ cơ chế mới Đối với khoán, các ý kiến của các ngành, ban, giới cũng ở trong tình trạng năm bè bảy mối: Ban Nông nghiệp Trung ương thì phản đối khoán, coi như thế là chệch hướng, là mất lập trường, mất chủ nghĩa xã hội

Bộ Nông nghiệp thì ủng hộ khoán “Khoán tuy sai chủ trương nhưng chắc chắn có gạo

ăn, có lúa nộp và giữ được hợp tác xã Do đó, ông quyết định ủng hộ khoán Trong ban lãnh đạo, những người phụ trách nông nghiệp cũng đều muốn cho khoán Các đội trưởng muốn khoán Chủ tịch xã đồng tình Nhưng Bí thư Đảng ủy thì do dự Các cán

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w