Là một nhà văn lớn trong nền văn học Việt Nam đương đại, với hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ và có giá trị như tác phẩm đầu tay Vang bóng một thời – t
Trang 1KHOA NGỮ VĂN -
HOÀNG THỊ NĂM
PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
CỦA NGUYỄN TUÂN QUA CHÙA ĐÀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Đà Nẵng, tháng 05/2014
Trang 2KHOA NGỮ VĂN -
PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
CỦA NGUYỄN TUÂN QUA CHÙA ĐÀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Người hướng dẫn:
PGS.TS Nguyễn Phong Nam
Người thực hiện:
HOÀNG THỊ NĂM (Khóa 2010 -2014)
Đà Nẵng, tháng 05/2014
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng:
Công trình này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên – PGS.TS Nguyễn Phong Nam Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong công trình này
Đà Nẵng, ngày 30 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Hoàng Thị Năm
Trang 4Xin được ghi lại nơi đây lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Phong Nam, người đã hết lòng động viên, khuyến khích và hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, cán bộ nhân viên Thư viện trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Đà Nẵng, ngày 30 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Hoàng Thị Năm
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Bố cục khóa luận 7
CHƯƠNG 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CHÙA ĐÀN - NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA PHONG CÁCH NGUYỄN TUÂN 8
1.1 Nguyễn Tuân – người nghệ sĩ đa tài 8
1.1.1 Cuộc đời 8
1.1.2 Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân 10
1.2 Chùa Đàn – sự kết hợp độc đáo của nhiều đề tài 15
1.2.1 Đề tài yêu ngôn 15
1.2.2 Đề tài người chiến sĩ cách mạng 17
1.3 Nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật 19
1.3.1 Hình tượng con người tài hoa, tài tử 19
1.3.2 Hình tượng tác giả trong Chùa Đàn 26
1.4 Không gian đậm chất “liêu trai” trong Chùa Đàn 30
1.4.1 Không gian quá vãng 30
1.4.2 Không gian ngoại cảnh hư thực 33
CHƯƠNG 2 PHONG CÁCH NGUYỄN TUÂN QUA NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN TRONG CHÙA ĐÀN 36
2.1 Nét độc đáo của cốt truyện Chùa Đàn 36
2.1.1 Cốt truyện mang đậm chất truyền kỳ dân gian 36
2.1.2 Cốt truyện có tính chất luận đề 37
Trang 62.2.2 Giọng điệu trang nghiêm, cổ kính 40
2.2.3 Giọng điệu triết lí 42
2.3 Ngôn từ nghệ thuật giàu sức biểu hiện 43
2.3.1 Ngôn từ uyên bác 43
2.3.2 Ngôn từ giàu tính tượng thanh, tượng hình 46
2.4 Yếu tố kì ảo trong Chùa Đàn 48
2.4.1 Không gian – thời gian kì ảo 48
2.4.2 Chân dung nhân vật kì ảo, dị thường 52
2.4.3 Cách sử dụng mô típ kì ảo trong Chùa Đàn 55
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 7viết tài hoa để làm nên những tác phẩm như: “Chữ người tử tù – là một trong
những áng văn vào hàng đẹp nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại” [1, tr.137] hay “một trong những truyện ngắn cổ điển trong lịch sử văn học Việt Nam” [5, tr.251] Tác phẩm văn chương đạt đến trình độ, chỗ đứng như vậy thì chỉ có ở những nhà văn tài năng, bản lĩnh Và Nguyễn Tuân chính là một trong những tài năng hiếm có của văn học Việt Nam
Là một nhà văn lớn trong nền văn học Việt Nam đương đại, với hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ và có giá trị
như tác phẩm đầu tay Vang bóng một thời – tác phẩm báo hiệu một tài năng xuất chúng đã ra đời, Thiếu quê hương, Tóc chị Hoài, Chùa Đàn, Đường vui,
Sông Đà, Ký… Từ đấy Nguyễn Tuân tạo được một phong cách riêng độc đáo
Ông chọn cho mình một con đường sáng tác, một lối đi riêng để rồi khi đọc những tác phẩm của ông thì chúng ta thấy không có sự trộn lẫn với những nhà văn đương thời Bởi Nguyễn Tuân lúc sinh thời là một người nghiêm chỉnh tuyệt đối trong công việc, quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình Đối với ông, nghệ thuật là một hình thức lao động nghiêm túc, thậm chí là “khổ hạnh”
Chùa Đàn – một tác phẩm được Nguyễn Tuân viết như rút từ xương
thịt mình Hoàng Như Mai cho rằng: “Chùa Đàn ấy là tất cả nhà văn Nguyễn
Tuân, một Nguyễn Tuân toàn vẹn, tinh hoa tư tưởng, tài hoa văn chương” [2,
Trang 8tr.241] Một tác phẩm từ khi ra đời và đứng trên diễn đàn văn học luôn tạo được vị trí khó phai Nó độc đáo về cả tư tưởng, nội dung, cốt truyện, ngôn ngữ… nhưng lại ít người nghiên cứu một cách trọn vẹn mà chỉ dừng lại ở
phần Tâm sự nước độc Với mong muốn nghiên cứu toàn bộ nét độc đáo của truyện Chùa Đàn để thấy được phong cách nghệ thuật độc đáo nên chúng tôi chọn đề tài: “Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua Chùa Đàn” để
nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyễn Tuân là tác gia tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại với khối lượng tác phẩm đồ sộ và có phong cách nghệ thuật độc đáo Con người và văn chương Nguyễn Tuân luôn là đề tài gây được sức hấp dẫn cho giới độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm Trong số các nhà nghiên cứu tâm huyết với nhà văn Nguyễn Tuân thì phải kể đến Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh Bên cạnh đó thì các nhà nghiên cứu như: Giáo sư Phong Lê, Giáo sư Phan Cư Đệ, Giáo sư Trương Chính, nhà văn Vũ Ngọc Phan, các nhà nghiên cứu Ngọc Trai, Vương Trí Nhàn, Hà Văn Đức cũng nghiên cứu một cách bao quát về Nguyễn Tuân từ cuộc đời, sự nghiệp văn chương đến những hồi ức, kỉ niệm của họ đối với nhà văn Nguyễn Tuân… Thực hiện đề tài này thì chúng tôi đã tập hợp những tư liệu về nhà văn Nguyễn Tuân và chia ra làm ba xu hướng chính xung quanh việc nghiên cứu về Nguyễn Tuân:
Thứ nhất là các bài viết về cuộc đời và tác phẩm nói chung Đó là những bài viết của người thân, bạn bè, những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình từng gặp gỡ, tiếp xúc, có thời gian sống cùng Nguyễn Tuân hoặc làm công tác nghiên cứu về ông Kể đến như:
Vợ nhà văn Nguyễn Tuân – Vũ Thị Tuệ là người tuy không thể kề vai sát cánh trên những chặng đường phiêu du lãng tử của chồng nhưng lại là người chăm lo từng chút chi li về thức ăn, nước uống, từng sở thích khi người
Trang 9nghệ sĩ này dừng chân ở nhà và những tháng ngày cuối đời Vũ Thị Tuệ là người phụ nữ rất tần tảo, chịu thương chịu khó Lấy được bà, có lẽ là may mắn rất lớn với nhà văn Nguyễn Tuân Với sự chăm sóc, quan tâm chu đáo thì
bà đã chỉ ra những thói quen ăn uống của Nguyễn Tuân trong bài Chồng tôi:
“Nhà tôi hay ăn vặt, ít ăn cơm Bữa nào cũng chỉ khoảng một bát rồi một ít cơm cháy Nhà tôi cũng ăn uống cầu kì, nhưng nhiều khi khá đơn giản, thích
ăn trứng với ăn cơm Hàng ngày nhà tôi ăn gì cũng được, nhiều khi một đĩa rau luộc cũng xong Nhưng bát đũa phải đẹp, nhất định phải đẹp, phải sạch” [16, tr.309]
Trong cuốn sách Nguyễn Tuân cây bút tài hoa và độc đáo mà Phương
Ngân tuyển chọn và biên tập với sự tham gia của nhiều tác giả nghiên cứu, phê bình về nhà văn Nguyễn Tuân thì trong đó có tác giả Sỹ Ngọc trong bài
Nhớ nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng: “Anh sống và viết từ lúc bắt đầu cho đến
sau này chỉ nhằm mục đích cho cái chân lí, cái đẹp, cái thiện Anh căm ghét
sự giả dối, bọn cơ hội, bọn nịnh nọt, bọn tham quan ô lại dù dưới lốt gì, dưới
nhãn hiệu gì” [16, tr.392] Còn tác giả Vũ Bằng trong bài Quên làm sao được
đã nhận xét về hành động lập dị của Nguyễn Tuân như sau: “Trong khi người
ta mặc quần Tây, anh mặc gấm huyền, đội khăn; mùa nực, cầm cái quạt đánh chó phải chết để phẻ phây; nói thì rấm rẳng, đang vui câu chuyện ngừng phắt lại, nhăn cái mũi cười rồi thôi, không nói nữa; đi ăn thì lè khè nhấm nháp, lấy hai ngón tay nhón cái chân chim bồ câu bỏ lò, ăn chậm như rùa mà chỉ ăn có
hai cái chân thôi còn cả con chim thì lấy ta ngoắt phổ ky lại” [16, tr.374]
Trong cuốn sách Đến với Nguyễn Tuân của Ngô Viết Dinh tuyển chọn
và biên soạn có một bài viết của nhà văn Kim Lân – một người đồng nghiệp đồng thời là người bạn với Nguyễn Tuân đã nhận xét: “Anh vốn là người yêu hoa, quý hoa Trong phòng viết của anh quanh năm không lúc nào không có hoa” [1, tr.69]
Trang 10Nguyễn Tuân thích đi, đi để thoát những cảnh đời tù túng, để tìm những cảm hứng lạ, để tự giải thoát Bà Vũ Thị Tuệ đã khẳng định: “Điều vui thú nhất của nhà tôi là được đi Cho đến nay, đã ngoài 70 tuổi, nhà tôi vẫn thích đi” [16, tr.308]
Qua những lời tâm sự, nhận xét về Nguyễn Tuân ta phần nào thấy được
cá tính, sở thích… trong con người Nguyễn Tuân Giữa cuộc đời và tác phẩm cũng có sợi dây vô hình kết nối với nhau Các tác phẩm của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám đều thể hiện vẻ đẹp “vang bóng một thời”, “chủ
nghĩa xê dịch” và “đời sống truy lạc” Vang bóng một thời là một cuốn sách
khi ra đời đã gây được tiếng vang lớn trong làng văn, mang lại danh tiếng và hoàn chỉnh một bút pháp cho ngòi bút Nguyễn Tuân Vũ Ngọc Phan nhận định tác phẩm đầu tay của Nguyễn Tuân: “văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ông và những ý kiến cùng tư tưởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh bạc” [14, tr.37] Trương Chính cũng cho rằng, “ông là nhà văn độc lập và độc đáo về hành văn cũng như về mặt tư tưởng, (…) Nguyễn Tuân là nhà văn chủ quan nhất trong các nhà văn, chưa
có một người nào chuyên nói về mình một cách lộ liễu, không che giấu như thế (…) Truyện ngắn, truyện dài của ông tất thảy đều là những thiên tùy bút trá hình Vì vậy, nói đến tác phẩm Nguyễn Tuân là nói đến con người ông” [14, tr.53]
Sau Cách mạng tháng Tám 1945 Nguyễn Tuân đã trải qua một cuộc
“lột xác” đầy gay go Bắt đầu từ đây, nội dung và tư tưởng trong tác phẩm văn chương của Nguyễn Tuân bước sang một ngã rẽ mới, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc Các tác phẩm thành công của
Nguyễn Tuân trong giai đoạn này phải kể đến như: Đường vui (1949), Tình
chiến dịch (1950), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972)
Trang 11Thứ hai là những bài nghiên cứu về phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân
Tác phẩm Chữ người tử tù được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là áng văn hay nhất trong tập Vang bóng một thời Đồng thời Chữ người tử tù và
Bữa rượu máu là hai truyện ngắn thể hiện rõ tinh thần dân tộc của nhà văn
Nguyễn Tuân Thành công được như vậy chính là việc nhà văn đã xây dựng nên hệ thống nhân vật: “Đó là những con người tài hoa hoạt động trong những hoàn cảnh môi trường đặc biệt phi thường Ông phát hiện, miêu tả cái
vẻ đẹp bên ngoài và bên trong của nhân vật” [1, tr 178] theo nhận định của Nguyễn Đức Quyền
Hay trong bài luận văn nghiên cứu về Phong cách nghệ thuật Nguyễn
Tuân qua Yêu ngôn của Nguyễn Phạm Ngọc Thủy, tác giả đã cho rằng: “Nói
đến Nguyễn Tuân là nói đến một phong cách sống, một phong cách viết độc đáo, tạo dựng một thế giới riêng của ông” [23, tr.40]
Thứ ba là các bài viết nghiên cứu về tác phẩm Chùa Đàn Chùa Đàn
theo đánh giá của Giáo sư Nguyễn Như Mai: “là tác phẩm đặc sắc nhất của nhà văn” Đồng quan điểm với Giáo sư thì tác giả Trọng Đạt trong bài viết
Chùa Đàn – truyện quái dị cuối cùng của Nguyễn Tuân đã khẳng định: “Chùa Đàn là truyện ma quỷ của Nguyễn Tuân viết vào năm 1945 đã được một số
nhà phê bình coi như tác phẩm đặc sắc nhất của ông, có thể nói đã đạt tới tột đỉnh của nghệ thuật” [2, tr.1]
Tuy nhiên, tác phẩm này theo một số nhà nghiên cứu thì nó gặp những
hạn chế Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Đọc lại Chùa Đàn của
Nguyễn Tuân: “Hai mạch văn được kết lại trong một tác phẩm Nhưng sự kết
hợp quả đã không lấy gì làm nhuần nhuyễn lắm” [16, tr.267] Trên vấn đề
nghiên cứu về tác phẩm Chùa Đàn, tác giả trẻ Nguyễn Kiều Trang cũng đã đưa ra nhận xét của mình trong bài Yếu tố kì ảo trong Chùa Đàn của Nguyễn
Trang 12Tuân: “Dựng và Mưỡu cuối không thực sự ăn nhập với Tâm sự của nước độc
khi ông đưa nhân vật Lãnh Út trở thành cán bộ cách mạng tên Lịnh (Dựng) và
kêu gọi cô Tơ – nay là sư thầy Tuệ Không – vứt bỏ kinh kệ, trở lại với cuộc
đời (Mưỡu cuối)” [19, tr.594]
Và các nghiên cứu về tác phẩm Chùa Đàn chỉ dừng lại nghiên cứu phần Tâm sự nước độc, bởi nó là cốt lõi Đồng thời nó có thể tồn tại độc lập
mà không cần hai phần kia Để khi nhắc đến Chùa Đàn người ta nghĩ ngay nó
như là một minh chứng cho cốt truyện yêu ma đầy hư ảo
Như vậy, có thể thấy các nhà nghiên cứu cũng rất quan tâm và chọn
nhiều đề tài về Nguyễn Tuân để nghiên cứu Tác phẩm Chùa Đàn là truyện
hay tuy nhiên các nhà nghiên cứu chỉ dừng lại nghiên cứu ở một số khía cạnh nhất định như yếu tố kì ảo, hệ thống nhân vật… Ở đề tài này chúng tôi xin
chọn: “Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua Chùa Đàn” để nghiên
cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu về “Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua Chùa Đàn”,
chúng tôi sẽ đề cập đến những nét độc đáo thuộc phong cách nhà văn Nguyễn
Tuân qua tác phẩm Chùa Đàn như: thế giới nghệ thuật, cốt truyện, ngôn từ,…
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác phẩm Chùa Đàn mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu ở luận văn nằm trong Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 2, NXB Văn học, Hà Nội của tác giả
Lữ Huy Nguyên
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp tiểu sử
- Phương pháp phân tích
Trang 14CHƯƠNG 1
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CHÙA ĐÀN – NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA
PHONG CÁCH NGUYỄN TUÂN
1.1 Nguyễn Tuân – người nghệ sĩ đa tài
1.1.1 Cuộc đời
Nhà văn Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 tại phố Hàng Bạc –Hà Nội Nguyễn Tuân chịu ảnh hưởng rất lớn từ truyền thống của gia đình, đặc biệt là từ người cha – ông Tú Hải Văn, một nhà nho tài hoa đậu khoa thi Hán học cuối cùng, nhưng suốt đời phải chịu bất đắc chí dưới chế độ phong kiến Nhắc đến Nguyễn Tuân người ta thường nghĩ đến cái bệnh xê dịch của ông Cái bệnh xê dịch ấy, Nguyễn Tuân đã tự nhận là mình có, mà
nó là một bệnh di truyền nữa Nó di truyền từ người ông nội đến người cha đáng kính của mình Tính xê dịch này đã thấm sâu vào máu của người lãng tử Nguyễn Tuân
Tuy sinh ra ở Hà Nội nhưng thuở nhỏ Nguyễn Tuân theo gia đình sống nhiều ở các tỉnh miền Trung: Khánh Hòa, Phú Yên, Hội An, Đà Nẵng, Huế,
Hà Tĩnh, nhất là Thanh Hóa Những tháng ngày đó đã tạo nên sự “xê dịch” ngay từ thời thiếu niên Chưa đầy 20 tuổi, bố mẹ đã cưới vợ cho Nguyễn Tuân, đó là bà Vũ Thị Tuệ – người con gái Hàng Đào đảm đang, chăm chỉ
Bà rất quý và phục Nguyễn Tuân Bà không muốn làm phiền ông vì vậy bà tự nuôi dạy và chăm sóc các con Một mực tin chồng và để chồng dồn tâm trí vào công việc, sở thích riêng tư của mình Chính nhờ vậy mà ông đã có thời gian để được đi đây đi đó thỏa chí xê dịch và có thời gian vào sáng tác của mình Ngoài ra thì thiên hướng giai cấp và gia đình khiến ông chú ý nhiều hơn đến phong tục hưởng lạc đài các của tầng lớp quý tộc phong kiến
Trang 15Nguyễn Tuân còn chịu ảnh hưởng rất lớn của nền văn hóa cổ truyền dân tộc, những phong tục tập quán, nề nếp thời xưa nhưng đang tàn dần và biến đổi vì sự xâm nhập của văn minh máy móc và văn hóa phương Tây đang
ồ ạt truyền vào Việt Nam Ông được học tập, đắm mình trong cái nền văn hóa của dân tộc Với văn chương của các bậc nhà nho đi trước như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Trần Tú Xương Vì vậy mà trong các tác phẩm của ông sau này
có phảng phất tư tưởng, hình tượng của các nhà nho như: cái dọc ngang không khuất phục trước số phận, cuộc đời, xã hội của Cao Bá Quát; nụ cười châm biến mỉa mai của Tú Xương vào những sự thật đang phơi bày trong cuộc sống hằng ngày Hay đó là một Nguyễn Du với một tài năng xuất chúng viết về kiếp người nghệ sĩ phải đứng trước cái mệnh và cái tài Vì vậy mà nhiều nhà văn, nhà phê bình đã nhận xét về văn Nguyễn Tuân vừa có vẻ trang nhã cổ kính vừa sắc bén, hiện đại Và cái hiện đại này một phần nào được Nguyễn Tuân tiếp thu từ vốn hiểu biết, được học hành, tiếp xúc đến nơi đến chốn từ văn học phương Tây Cũng như các nhà văn cùng thời, Nguyễn Tuân cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của văn học Pháp và Nga đang du nhập và thịnh hành ở nước ta trong giai đoạn đó Và nhà văn ảnh hưởng trực tiếp đến Nguyễn Tuân phải kể đến là Gide – một nhà văn với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hư vô Ngoài ra, Sêkhốp và Đôtxtôiépxki là hai nhà văn gần gũi và ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân sau này
Năm 1929, Nguyễn Tuân bị đuổi học và không được nhận vào bất cứ công sở nào vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam
Năm 1930, ông cùng một số bạn học “xê dịch” vượt biên giới qua Lào
và sang Thái Lan, đến Băng Cốc thì bị bắt đưa về giam tại Thanh Hóa Hết hạn tù, ông lại tiếp tục một cuộc hành trình vào Nam bộ nhưng mới vào đến Vinh thì bị bắt và đưa ra quản thúc tại Thanh Hóa
Trang 16Nguyễn Tuân đi nhiều, ông đi đến những vùng đất xa xôi nhất của đất nước như Tây Bắc, đi trên những vùng trung du, núi rừng, đồng bằng Bắc Bộ, Khu III, Khu IV Đến những trận tuyết bom lửa ở Vĩnh Linh, để rồi có những cảm xúc, những kinh nghiệm, tư liệu cho các tác phẩm kí sự, tùy bút của mình Tác giả còn vào đến tận mũi Cà Mau năm 1976, tham quan Côn Đảo
1977, đi Hà Tuyên 1978…
Ông tham gia hoạt động văn học nghệ thuật tai Hội nhà văn cho đến lúc mất vào ngày 28/07/1987 tại Hà Nội
1.1.2 Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân bắt đầu sự nghiệp cầm bút, ông bước vào nghề làm báo
và viết văn Ông viết các bài viết trên báo Trung Bắc Tân Văn, Đông Tây, An
Nam tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy với các bút danh như: Ngột Lôi Quật, Thanh
Hà, Nhất Lang, Tuân, Tuấn Thừa Sắc Ông sáng tác với nhiều thể loại như truyện ngắn, kí, thơ, hát nói… Nguyễn Tuân thật sự để lại tiếng vang trên văn
đàn vào năm 1938 khi tập Vang bóng một thời được in và xuất bản Những năm tiếp theo ông đã sáng tác nên nhiều tác phẩm như: Thiếu quê hương, Nhà
Nguyễn, Đôi tri kỉ gượng, Tàn đèn dầu lạc, Chiếc lư đồng mắt cua…
Người ta biết đến Nguyễn Tuân là một người tài tử mắc cái bệnh ham
mê thanh sắc, thích chiêm nghiễm chắt chiu cái đẹp và nhắm nháp những cái đẹp mới lạ Vì vậy quan điểm duy mỹ có trong ông là một lẽ tất yếu Và ông
là một trong những môn đồ của thuyết “nghệ thuật vị nghệ thuật” Chỉ chú trọng cái đẹp hình thức không cần nội dung, ông quan niệm “viết văn không khuynh hướng”, muốn đặt nghệ thuật đứng trên mọi thứ thiện ác ở đời Vì vậy
mà quan điểm nghệ thuật này tách rời hiện thực xã hội, không chịu gánh lấy một trách nhiệm xã hội nào
Cái đẹp được Nguyễn Tuân khai thác từ các khía cạnh là những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc Hầu hết các tác phẩm trước Cách mạng được
Trang 17Nguyễn Tuân gửi vào đó hồn của văn hóa dân tộc, đó là những cái đẹp thanh cao, tao nhã hay đó là cái đẹp thoát ly của một kẻ giang hồ lữ thứ trước bạ cuộc đời của mình vào địa dư của trái đất Ngoài ra thì có cái đẹp hư cấu, ma quái được đưa đến tuyệt cùng của nghệ thuật cũng có trong các tác phẩm của Nguyễn Tuân Bởi không tìm được cái đẹp hiện hữu trong cuộc đời thực, Nguyễn Tuân quay trở về tìm kiếm nét đẹp xưa của một thời vang bóng Ông
ca ngợi, lý tưởng hóa cuộc sống của ông nghè, ông cử sống với một cuộc sống thanh đạm, với những thú vui rất tao nhã như uống trà, đánh thơ, thả thơ… Đó là những thú tiêu dao, hưởng lạc của những con người ở thời ấy Ông hết sức nâng niu, trân trọng và than tiếc những giá trị cổ xưa của dân tộc
đã qua, và Nguyễn Tuân đã cố sức làm sống lại một thời xưa cũ đã qua trong
các tác phẩm của tập Vang bóng một thời
Những chiếc ấm đất, Hương cuội, Chén trà trong sương sớm những tác
phẩm này được Nguyễn Tuân tái hiện lại cái thú uống trà của các cụ ngày xưa, đó không phải chỉ một cử chỉ ăn uống tầm thường, mà đó là tất cả những
lễ nghi, nhịp điệu, có bài bản, phảng phất tinh hoa trà đạo của Nhật Bản qua cách uống
Đến truyện Thả thơ ta còn khâm phục tài năng của Nguyễn Tuân khi
lột tả được thần thái, phong cách tài hoa của những con người trước những đam mê tao nhã về văn chương Và ta có thể mượn một đoạn mà Văn Tâm đã
đánh giá ngắn gọn về cái đẹp cổ truyền trong tập Vang bóng một thời để diễn
tả hết những gì mà Nguyễn Tuân đã cố đi tìm trong khoảng lặng của thời đã
qua: “uống đẹp (Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm); nhắm đẹp (Hương cuội); chơi đẹp (Thả thơ, Đánh thơ, Đèn đêm thu tức một cảnh thu
muộn); ứng xử đẹp (Ngôi mã cũ); hoa tay đẹp (Trên đỉnh non Tản), tài nghệ
đẹp (Những người bất đắc chí) và nhân cách đẹp (Chữ người tử tù)” [16,
tr.243]
Trang 18Cái đẹp còn được Nguyễn Tuân chú trọng và đề cập đến nhiều trong các tác phẩm của mình đó là những con người tài hoa, tài tử Một Huấn Cao
“nghĩa khí”, “ngoài cái tài viết chữ tốt còn có tài bẻ khóa và vượt ngục”, một người đã lấy tài năng của mình ra để thức tỉnh thiên lương của một con người
chọn nhầm nghề (Chữ người tử tù) Đó là cảnh chém treo ngành sành điệu, ngoạn mục của tên đao phủ (Bữa rượu máu) hay cái đẹp của bọn cường hào với nghệ thuật “ném bút chì” (Một đám bất đắc chí)
Với những tác phẩm nằm trong thể tài “yêu ngôn”, Nguyễn Tuân đã xây dựng nên những nhân vật tài hoa mang một nét đẹp pha chút hiện thực
lẫn ma quái Cô Dó (Xác ngọc lam) vốn là cô tiên, là thần cây dó, trót yêu cậu
Năm nhà họ Chu nên đã rời bỏ chốn non ngàn xuôi với dòng sông Tô Lịch, với làng Hồ Khẩu, về làm bạn với người trần và trở thành linh hồn nghề giấy nhà họ Chu Cậu Năm trăm tuổi đi rồi, chỉ còn lại cô Dó với tiếng hát buồn
“Chu Ngũ Lương Hoài Nhân Khúc” mênh mang, u uẩn trên sóng nước Hồ Tây những đêm quạnh vắng Vì tình yêu với cậu Năm, cô không quay về đại ngàn, mà quyết ở lại giúp lũ con cháu của cậu Năm giữ nghề, cho đến khi
“dân trung châu hạ bạn tuyệt nghề làm giấy” Đời này qua đời khác, nguồn sống của người đàn bà chung tình ấy là đêm đêm phả hồn vào những trang giấy quáy và hát những “tiếng tương tư thê thảm” vì nhớ chồng Số phận đẩy đưa, cô lọt vào tay một kẻ ô trọc, cô chết vì người trần đó không biết giả ngọc, cô chết vì đã mặc trên mình chiếc áo màu lam nhưng đã “xé xơ ra cho
nó thành tấm áo trảm thôi và mớ tóc tang rối như xơ dó vấn vội”, trên tay vẫn cầm tập “Chu Ngũ Lương Hoài Nhân Khúc”, miệng “ngậm kín một khóe cười chưa kịp nở hết”, đó phải chăng là một nụ cười hạnh phúc vì cuối cùng cô cũng được đến thế giới của người chồng đã mất cả trăm năm
Năm 1943, ông tiếp tục cho xuất bản tập Tùy bút II, Tóc chị Hoài Và trong thời gian này thì loạt truyện yêu ngôn ra đời
Trang 19Năm 1945, tác phẩm Chùa Đàn – kiệt tác nghệ thuật ra đời đánh dấu sự
thành công vang dội của tác giả
Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân thực sự “lột xác”, các tác phẩm của ông đã có sự chuyển hướng về chủ đề, tư tưởng, nội dung Cuộc chuyển biến tư tưởng, thay đổi tư duy nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của
Nguyễn Tuân là cả quá trình phức tạp và đầy gian khổ Các tác phẩm: Đường
vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Tùy bút kháng chiến và hòa bình (tập I –
1953, tập II – 1956), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972)… đánh
dấu những chặng đường của một cây bút độc đáo và tài hoa trên con đường nghệ thuật gắn bó với dân tộc, với nhân dân và đất nước Từ đó, ông thoát khỏi những bế tắc của cuộc sống và sáng tác nghệ thuật, đem đến cho ông một nguồn cảm hứng sáng tạo mới và ông thực sự cảm thấy mình được hòa chung trong mọi người và niềm vui của dân tộc: “Mê say với những ánh sáng trắng vừa được giải phóng, tôi đã là một dạ lữ khách không mỏi quên ngủ của một đêm phong hội mới Ban ngày nếu không đi biểu tình thì đi Hàng Đào xem người ta dọn hàng đỏ đông cứ như họp chợ Cờ nhớn, cờ nhỏ Phố Hàng Đào đã mang tên là phố Hàng Cờ, đỏ rực một góc trời (…) Lòng khỏe chưa
đủ Thân hình cũng phải khỏe nữa Tôi liền đi cạo râu Tình cờ gặp lại anh bạn cũng vừa đi cạo phăng bộ râu quai nón xanh rậm mọi ngày Chúng tôi đã
ôm nhau mà mừng ra nước mắt như hai con bệnh già mới uống liều thuốc cải
lão hoàn đồng” (Ngày đầu tuổi cách mạng)
Sau Cách mạng, Nguyễn Tuân vẫn còn mang trong mình nghệ thuật cái đẹp của ngày trước, nhạy cảm với cái đẹp và nhìn sự thật nghiêng về góc độ thẩm mỹ Nhưng tác giả đã nhìn cái đẹp dưới ánh sáng của quan niệm giai
cấp, dưới góc độ của những vấn đề xã hội Tác phẩm Xòe đã thể hiện rõ cái đẹp sau Cách mạng Với tác phẩm này, Nguyễn Tuân lại tập trung ghi “một
số cảm xúc nặng nề về mặt xã hội hơn là kĩ thuật vũ đạo và vũ thuật” Đó là
Trang 20điểm chuyển biến, đổi mới trong sáng tác của Nguyễn Tuân sau Cách mạng
Nếu như trước đây trong tác phẩm Chùa Đàn, Nguyễn Tuân đã xây dựng
nhân vật Bá Nhỡ đã đánh đổi cuộc đời của mình cho nghệ thuật, “bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay”, kẻ dám đến tận cùng nghệ thuật, kẻ xẻ gan thịt mình trong tiếng đàn, dùng mạng đổi lấy tiếng đàn, đã chịu cực hình tùng xẻo để
tiếng đàn của mình đạt tới tuyệt đỉnh nghệ thuật Còn cô gái trong Xòe bây
giờ mỗi lần múa là một lần chân cô gái xòe rỏ máu, người con gái dẫm lên máu tươi của mình mà múa “nó buồn hơn cả cái tiếng vật mình của cái cối nước giã gạo đêm”…
Tác giả còn tìm cái đẹp trong những con người sống vì cách mạng, hi sinh vì lí tưởng của xã hội, những con người đang hăng say xây dựng đất nước Đó là anh tự vệ sao vuông hồi đầu kháng chiến, chọc chọc lưỡi lê
xuống ánh trăng nơi vũng nước hầm đào, mà mắng yêu chị Nguyệt (Đường
vui), là anh bộ đội chống Pháp trên chiến trường Tây Bắc ngụy trang bằng
hoa anh đào và đuổi giặc giữa rừng đào (Tình chiến dịch) là người Hà Nội
đánh Mỹ bằng tất cả đặc tính của mình cũng như bằng tất cả tâm hồn, tình cảm mình Do đó Hà Nội đánh Mỹ cũng có một vẻ riêng, hơi “tài tử”, rất
dũng cảm nhưng cũng lại mưu trí (Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi), hay đó là mẹ
Suốt gan dạ, vui tính, giản dị, không nghĩ đến thành tích của mình: “ui cha cha, bữa đó hắn bắn bay hàng bầy như chuồn chuồn”
Ông còn tìm được cái đẹp trong cội nguồn cả dân tộc, đó là bản sắc, con người dung dị, phát hiện ra những vẻ đẹp mang đậm đà màu sắc Việt Nam trong ngôn ngữ quần chúng, trong điêu khắc cổ, trong các tranh lợn gà, tranh truyện cổ tích của làng Hồ, trong tiếng đàn bầu, đàn tranh, dân ca quan
họ Bắc Ninh… Nguyễn Tuân đã làm cho chúng ta tự hào về cái vốn âm nhạc phong phú, về những màu sắc độc đáo của văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình và các phong tục sinh hoạt văn hóa Việt Nam
Trang 21Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đã thực sự lột xác và hành trình lột xác đó tuy trải qua những dằn vặt, suy nghĩ, nhiều vật lộn đầy khó khăn nhưng cuối cùng cũng đã làm thay đổi một Nguyễn Tuân từ ngông, ngang tàn, bất chấp xã hội, cuộc sống đương thời để thỏa mãn những thú vui,
để vị kỷ Và bây giờ, ông đã sống trong cái vui của dân tộc, sống những ngày lam lũ, cực khổ của người dân Tất cả đều được ông trân trọng và nâng niu, ông thiết tha với quê hương, đồng cảm và sẻ chia với cuộc đời
1.2 Chùa Đàn – sự kết hợp độc đáo của nhiều đề tài
1.2.1 Đề tài yêu ngôn
Mỗi tác phẩm văn học đều có đề tài nhất định, nó phản ánh một khía cạnh của đời sống khách quan, song lựa chọn đề tài lại mang đậm dấu ấn chủ quan của tác giả Xuyên suốt trong các tác phẩm của Nguyễn Tuân, có hai chủ
đề gắn liền với sự nghiệp sáng tác của ông đó là cảnh sắc, hương vị quê hương, đất nước và người tài hoa, tài tử Các chủ đề này chứa đựng một hệ thống đề tài mang đậm phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân Và “yêu ngôn”
là mảng đề tài quan trọng trong số những đề tài Nguyễn Tuân viết trước Cách
mạng Đó là một quá trình thử nghiệm từ Vang bóng một thời và đạt đến thành công đỉnh điểm trong Chùa Đàn
Bối cảnh lịch sử xã hội đã tác động vào tư duy Nguyễn Tuân khiến ông ngột ngạt, cảm thấy lạc lõng giữa thời đại, “sinh lầm thế kỷ” Với chủ nghĩa độc đáo trong sinh hoạt, với lối ăn chơi ngông nghênh, ngạo mạn tất yếu dẫn đến lối sống lập dị, lối ăn nói phóng túng khiến cho ông có được những giây phút xuất thần, để viết lên những trang yêu ngôn
Ngoài ra, Nguyễn Tuân đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các nhà văn lớn, đặc biệt là Bồ Tùng Linh và Edgar Allan Poe Edgar Allan Poe là một thi sĩ, nhà văn lớn của Mỹ (1809 – 1849) với nhiều đoản thiên quái đản nổi tiếng thế giới; còn Bồ Tùng Linh (1614 – 1715) đã đặt một dấu ấn kinh dị, quái đản
Trang 22đầy màu sắc phương đông với tác phẩm Liêu trai chí dị Trong dòng chảy văn
học Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, yếu tố kì ảo đã góp phần tạo nên
những nét độc đáo riêng Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ với những câu
chuyện ma quái, hoang đường, kì ảo đã tác động vào tư duy Nguyễn Tuân Và tác phẩm này đã khơi gợi cảm xúc và mạch nguồn cho những cảm hứng sáng tạo của nhà văn Cùng đi vào khai thác mạch truyện yêu ngôn này trong giai
đoạn 1930 – 1945 còn có Khai Lan với Truyện đường rừng, Thế Lữ với Trại
Bồ Tùng Linh (1930), Vàng và máu (1943), Đái Đức Tuấn với Ai hát giữa rừng khuya (1940), Thanh Tịnh với Ngậm ngái tìm trầm (1943)… Nhưng có
thể thấy rằng các tác phẩm viết theo đề tài yêu ngôn đều mang lại cảm giác rùng rợn, gợi trí tò mò và hiếu kì nhưng ở mỗi nhà văn lại khám phá, lựa chọn những chi tiết, hình ảnh ma quái khác nhau Riêng đối với Nguyễn Tuân, ông viết thế giới yêu ma vừa hư vừa thực, một thế giới nữa người nữa ma đan xen, với không gian là sự hòa nhập với nhau tạo nên những gam màu và âm thanh vừa sống động nhưng cũng rất tinh tế Ta có thể khẳng định rằng những nhân vật ma quái, quái dị trong truyện ông có điểm chung đó là những con ma tài
tử, tài hoa, đó là những hồn ma thánh thiện, mang trong mình những tình yêu thương chung thủy, biết hi sinh vì nhau
Chùa Đàn (1946) là thiên truyện cuối cùng trong mạch truyện yêu ngôn
và là đỉnh cao của tài năng, của tư duy sáng tạo độc đáo của Nguyễn Tuân
Chùa Đàn gồm 3 chương: Dựng, Tâm sự nước độc, Mưỡu Trong đó cái phần
cốt lõi nhất, có giá trị nghệ thuật nhất lại thuộc về Tâm sự nước độc với mạch truyện yêu ngôn, mang âm hưởng của truyện liêu trai Truyện Chùa Đàn viết
về không gian ma quái, kì lạ của ấp Mê Thảo gắn liền với sự kiện là cái chết của một người vợ đẹp nhưng xấu số mà người chồng – ông chủ Lãnh Út đã khiến nơi này tách biệt khỏi đời sống bên ngoài, thoát li hết những nền văn minh của cơ khí Và sau này là hàng loạt những sự kiện, những chi tiết, hình
Trang 23ảnh mang tính chất ma quái trong ngôi nhà gianh – đó là nơi sinh hoạt của Cô
Tơ và bàn thờ Chánh Thú Tất cả những yếu tố ma quái tạo nên một phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân Bên cạnh khẳng định tài năng của Nguyễn Tuân còn đồng thời thể hiện được giá trị của đề tài, tác phẩm trong một giai đoạn văn học
Qua đấy cho thấy đề tài yêu ngôn thể hiện tư tưởng thoát li hiện thực, thích hợp với ông, một con người tài hoa, cá tính mạnh mẽ, không bao giờ chịu gò bó vào khuôn khổ nào Là sự kết hợp hài hòa giữa phương pháp sáng tác của Nguyễn Tuân, tạo nên một phong cách nghệ thuật độc đáo mang dấu
ấn riêng ông
1.2.2 Đề tài người chiến sĩ cách mạng
Chùa Đàn – Tâm sự nước độc được Nguyễn Tuân sáng tác từ năm
1945 tại Bần Yên Nhân, ngoại thành Hà Nội, tại nhà bà Chu Thị Năm, chủ nhà cô hát, nhân tình của Nguyễn Tuân lúc đó Nhưng bối cảnh xã hội lúc đó không cho phép một tác phẩm “suy đồi, sa đọa” như vậy xuất hiện và tồn tại trên văn đàn Để “cứu vãn” tác phẩm này thì Nguyễn Tuân đành “vá víu”
bằng cách thêm phần Dựng và Mưỡu cuối vào Đồng thời, Cách mạng tháng
Tám thành công cùng với sự ủng hộ, kêu gọi Nguyễn Tuân vào hàng ngũ cách mạng của Tố Hữu đã tác động vào tư tưởng, tư duy Nguyễn Tuân Nhưng những tháng ngày đó Nguyễn Tuân thực sự cảm thấy khó khăn và đau đớn như một cuộc “lột xác” Cuối cùng thì ông đã có nhận thức đúng đắn hơn và đứng hẳn về phía cách mạng Ông không trốn tránh, bất mãn trước cuộc sống,
xã hội mà thay vào đó ông dùng ngòi bút tâm huyết của mình để viết về người chiến sĩ cách mạng với đầy đủ những phẩm chất, tư cách và ở người chiến sĩ này luôn tâm niệm một điều bên là “tin tưởng vào Cách Mệnh”
Đến giữa năm 1946, Chùa Đàn được xuất bản trong một hoàn cảnh đặc biệt căng thẳng bởi sự quay lại xâm lược của bọn thực dân Pháp Viết Chùa
Trang 24Đàn – Nguyễn Tuân đã phần nào “lột xác”, phải tranh đấu, dằn vặt tư tưởng
và quyết tâm “Mày hãy diệt hết những con người cũ trong mày đi… Mày phải
tự hoại nội tâm mày đi đã Mày hãy lấy mày ra làm lửa mà đốt cháy hết những phong cảnh cũ của tâm tưởng mày” Nguyễn Tuân đi thẳng về phía cách mạng, tìm hiểu những con người trong hàng ngũ cách mạng, ở những con người này, Nguyễn Tuân thấy ở họ toát lên một vẻ đẹp kiên trung, một người giàu ý chí và rất kiên cường Đó là nhân vật Lịnh – 2910 “người tình nhân của Cách Mệnh” mang trong mình lòng yêu nước, một người tù chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, căm ghét những tên thực dân tàn bạo, đàn áp nhân dân Lịnh trở thành người con ưu tú của dân tộc, là mẫu người đáng tự hào của những chiến sĩ cách mạng còn lại Tư tưởng cách mạng trong Lịnh là thứ ánh sáng để soi đường chỉ lối cho những thanh niên, những người con Việt Nam còn đang lạc lõng, bơ vơ giữa cuộc đời không biết làm gì, đi về đâu
và đang đắm chìm trong những ngu muội, thú ăn chơi tiêu khiển Qua đó, giải thoát họ ra khỏi ngục tối thăm thẳm để vững tin bước đến con đường cách mạng, cùng đồng đội đứng lên bảo vệ đất nước, xây dựng trong nhận thức họ lòng tin tưởng và ý chí kiên trung trong mọi quyết định, hoàn cảnh Những lời kêu gọi Cô Tơ hãy bỏ kinh kệ, trả lại cho nhà Chùa chiếc mõ, những câu kệ ngâm để hoàn tục với cuộc sống và “Hãy hát lên, Cô Tơ! Cầm ngay trúc ra
mà nhịp đi Bắt cao giọng nữa lên Cái lâu đài của Thị Trấn Ngày Mai chót vót mấy mươi từng, đỉnh đụng mây cao thế kia mà!” thực sự đã cho ta thấy được con người Nguyễn Tuân đã rời xa những cái tầm thường, thú vui, những lầm lạc của mình mà hướng đến cuộc cách mạng của dân tộc Từ đây ông sẽ đứng trong hàng ngũ của Đảng, của nhân dân và sẽ hướng ngòi bút của mình vào đó để giúp mình, giúp đời
Qua đề tài này, Nguyễn Tuân thực sự đã có một cuộc thử nghiệm mới đầy thú vị Nó là bước khởi đầu, là cội nguồn sáng tác của Nguyễn Tuân với
Trang 25đề tài đang được giới văn nghệ sĩ chú trọng sau Cách mạng tháng Tám Từ
đó, khẳng định một bước ngoặt, một sự thay đổi về tư duy, phong cách mới trong việc lựa chọn đề tài
1.3 Nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật
1.3.1 Hình tượng con người tài hoa, tài tử
Khi đọc các tác phẩm của Nguyễn Tuân thì ta thấy điểm chung giữa các tác phẩm này là việc hội tụ của các nhân vật tài hoa, tài tử Ở những con người này đã bộc lộ lên những tài năng, những am hiểu, những vẻ đẹp toát ra
từ tâm hồn và hành động của họ Đôi khi, họ chỉ là những người giản dị, bình thường nhưng ở họ ta lại tìm thấy vẻ đẹp, tài năng vượt trội, một tâm hồn trong trắng, thánh thiện Hay những nhân vật ma quái nhưng biết yêu cái đẹp
và đắng cay trước những chuyện buồn, họ là những con ma lãng tử, con ma chung thủy…
Đến với Chùa Đàn, ta thấy Nguyễn Tuân đã dựng lên những nhân vật
tài hoa, tài tử này như Lịnh – người tình nhân Cách Mệnh, Lãnh Út – nguời nghệ sĩ ngủ quên, Bá Nhỡ – tên tử tù có tài hoa và nhân cách, Cô Tơ một người nổi tiếng về tài hát Ở những con người này, Nguyễn Tuân không chỉ đi vào miêu tả tài năng của họ mà ông còn đi sâu vào tìm hiểu, khai thác tâm lí,
vẻ đẹp tâm hồn đang ngự trị tiềm ẩn trong bản thân mỗi con người tài hoa, tài
tử này
Các Mác từng cho rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, nó là tín ngưỡng mà khiến người ta có niềm tin, có động lực để vượt qua những khó khăn, những mệt nhọc Và khi Nguyễn Tuân xây dựng nhân vật Lịnh – một chiến sĩ cách mạng đang bị tù đày ở một tỉnh phía tây Bắc Bộ là hình ảnh một con người “tượng trưng cho đời tù của bọn trí thức say đắm cùng với công cuộc, vướng lụy vì hoài bão, đưa Cách Mệnh lên thành một tôn giáo” Qua đó nhân vật Lịnh này đã đặt niềm tin vào cách mạng là rất lớn, nó là một
Trang 26đức tin, cách mạng là cuộc sống, là tín ngưỡng trong lòng nhân vật này Lịnh với thái độ kiên trung, một lòng một dạ với Đảng, phục vụ Đảng không màng khó khăn Công cuộc cách mạng của Lịnh trải qua một trang sử đầy hào hùng:
“Lịnh là một người tù thuộc, đời sống tinh thần đã được luyện qua gần khắp các nhà giam ở xứ ta, đã từng nhiều phen tuyệt thực, vượt ngục và sở dĩ chuyến này lại đến đây nữa là vì chưa chịu mỏi với hoài bão” Những bước chân của Lịnh đã đặt lên chiến trường này rồi đến chiến trường khác Tất cả những hoài bão, khát vọng trong con người Lịnh đều hướng về Đảng, về cách mạng Lịnh mang trên người “nhiều án tích chính trị, nhiều hoạt động và không sờn gai mệt trí với đề lao như thế!”
Ở con người này là hội tụ những kiến thức vừa phong phú vừa sâu rộng Nhìn bên ngoài thì Lịnh “củ mỉ cù mì” nhưng “tài hoa đáo để”, ngoài chữ quốc ngữ thì Lịnh còn biết chữ Ăng – Lê và hàng ngày dành hai mươi phút nghỉ để dạy chữ cho nhân vật tôi học ngoại ngữ Lịnh còn viết hộ thư cho nhiều người lính thượng du gửi về cho mẹ, vợ con ở quê nhà bằng thơ lục bát chữ Nôm Và Lịnh còn biết vẽ bức truyền thần, viết câu đối chữ Nôm hoặc chữ Hán cho các ông quản đội trên đồn khi quê nhà có việc hiếu hỷ Lịnh còn thông thái, tài năng hơn khi mà “Tình hình chính trị và ngoại giao các nước, Lịnh tinh và suốt và thuộc làu làu Lúc cần phải ôn đến những biến
cố xã hội trên khắp thế giới, Lịnh có cường ký của nhà viết sử Ngồi chót vót trên thang đu tập thể thao, đọc xong một lượt tin tức trong và ngoài nước, Lịnh mới mổ xẻ đến cái chương trình Đại Đông Á của Đại Nhật Bản” Những kiến thức đó đòi hỏi Lịnh phải tích lũy và nắm bắt thường xuyên, Lịnh là người chiến sĩ đáng để cả trại an trí này học hỏi và ca ngợi “anh cả trong cõi học và trong cõi đức”
Tài năng của Lịnh còn được bộc lộ trong nghệ thuật, bài hát nói của Lịnh được cô đầu hát khiến ai cũng khen ngợi Và ông đội đã từng suy nghĩ:
Trang 27“Chắc trống 2910 cũng sắc tay lắm” Lịnh – 2910, người mang trong mình dòng máu cách mạng và nghệ sĩ, nó chảy và thấm trong cơ thể vào từng tế bào
Đến nhân vật Lãnh Út – một cậu chủ trẻ tại ấp Mê Thảo với tình yêu chung thủy, sau cái chết của người vợ trẻ thì cậu chủ Lãnh Út này biến thành một người có xác không hồn Lãnh Út không màng đến mọi vật xung quanh, chỉ biết đến rượu, đến những kỉ niệm quá cố Nhưng trong tâm thức của Lãnh
Út thì vẫn còn vướng vấn và biết trân trọng nghệ thuật Trong cơn say mà Lãnh Út vẫn còn nhớ đến nghệ thuật “Này Em này, cái Cô Tơ ấy độ này ở tỉnh hay ở nhà quê nhỉ? Hôm nào Em bảo Cô hát lại cho cậu nghe” Nghệ thuật dường như đánh thức một con người ngủ quên và giúp họ nhận ra giá trị trong nhau, giúp họ thoát ra khỏi sự lầm lạc, đưa con người trở về với cuộc sống “Ừ Chưa có lần nào Em đánh đàn đáy Có Cô Tơ hát thêm vào nữa, thì cuộc đời không đến nỗi toàn là những chén “Vô Cố Nhân” đó Em ạ!” Nghệ thuật có thể giải thoát con người ta ra cái thế giới cô đơn và hòa vào lòng với những con người khác
Ở con người này còn có tố chất nghệ sĩ trong mình, đó là một tay chơi
trống Lãnh Út đã thể hiện mình là tay trống rất sát phạt, Cậu Lãnh đánh mềm tay roi, tiếng trống mình hòa vào tiếng đàn của Bá Nhỡ và tiếng ríu ran của
Cô Tơ Tiếng trống của Lãnh Út khiến Cô Tơ ngạc nhiên và thốt lên rằng:
“Thật là một thứ trống lợi hại”
Nhân vật nữ duy nhất trong truyện là Cô Tơ – ca nương, một người nghệ sĩ nghiệp dư bôn ba cùng chồng đi đây đi đó để lưu diễn Tiếng hát của
cô đã vang khắp nơi, từ đồng bằng thành thị rồi lên đến những vùng núi cao,
cô lập như ấp Mê Thảo Tiếng hát của cô đã làm say đắm bao nhiêu người, khiến một người như Lãnh Út – đang chìm trong những cơn say triền miên có giây phút nghĩ và thèm nghe tiếng hát của Cô Tơ
Trang 28Sau cái chết của chồng, Cô Tơ đã đoạn tuyệt với ca hát, với lá phách với câu thề độc sẽ không buông tiếng hát nào cho người đời nghe mà thay vào
đó là sống một cuộc sống an nhàn với những công việc đồng áng nơi quê nhà
Cô Tơ nổi tiếng không những là người có tài mà còn được nhiều người biết đến là người có cái tâm rất tốt, biết đối nhân xử thế với mọi người, tiếp đãi bạn hiền rất chu đáo Sau khi giải nghệ, Cô Tơ không vướng bận gì đến những thứ vật chất đã đi theo mình mà để những thứ lập nghiệp từ xưa mà hai
vợ chồng tích cóp cho đồng nghiệp: “Phần ngựa xe trên tỉnh, chúng tôi nhường lại cho các chị em đồng nghiệp còn trung thành với nghệ với tổ” Rồi đến khi Bá Nhỡ đến nhà nhờ Cô Tơ lên ấp hát, Cô đã tiếp đãi cơm nước rất hậu với một vị khách xa lạ, không thân thuộc, họ hàng: “Ở vùng chúng tôi, hàng quán xa quá và không tươm tất Chẳng mấy khi ông về đến đất cổ lậu này, mời ông nghỉ chơi lại, sớm mai hãy đi Đêm hôm ông có cần dùng điếu đóm nước nôi gì, xin cứ gọi đứa bé nằm ở chõng tre kia” Đến sáng ngày mai,
Cô Tơ vẫn làm cơm rượu để mời Bá Nhỡ Chưa kể, Cô Tơ đã hết lòng cứu chữa cho một người ở vùng Bắc khi người này vì muốn được một lần được cầm cái đàn đáy vầ cất lên thì “thấy ông ta rùng mình mạnh, tay đàn lìa hẳn đầu gảy, cả người rung lên, mặt xám đi và mắt dại hẳn ra” Cô Tơ một mình thân nữ nhi đã “vội bỏ cổ phách đấy, chạy đến đỡ ông ta” rồi “tìm ông thầy và
đổ thuốc cho ông ta” sau đó Cô Tơ “thuê cái võng và cậy hai người khỏe mạnh võng ông ta về vùng Bắc” Một con người như Cô Tơ thật đáng quý và đáng trân trọng trên cuộc đời này
Nếu như Bá Nhỡ không đến đây thì có lẽ cuộc sống của cô sẽ trôi qua những ngày như vậy cho đến suốt đời nhưng vì thương cho Lãnh Út – một người chồng chung thủy, đau đớn trước cái chết của cô vợ trẻ và khâm phục tài năng, lòng trung thành của người quản gia Bá Nhỡ mà Cô Tơ đã chấp nhận dùng nghệ thuật để thức tỉnh một con người mê muội và mãi chìm đắm trong
Trang 29những mộng mị, đau thương Tuy nhiên khi cô biết rằng để cầm được cây đàn đáy của chồng mình mà cất lên thì sinh mạng của Bá Nhỡ phải hóa thành ma nên cô cũng đã cố sức cứu mạng cho Bá Nhỡ Bởi cô trân trọng và quý mến tính mạng của một con người nghệ sĩ chân chính, tài hoa như Bá Nhỡ Cô đã thắp hương, gieo âm dương xin chồng tạm gác lời nguyền, tha mạng cho người đàn ông chẳng quản đời mình để mưu cầu cuộc sống cho con người khác “Nếu mộng triệu ứng vào người khách chơi đàn trên ấp Mê Thảo đang ngồi ngoài kia, thì tôi muốn xin mình tha cho người ấy Mình chờ đến người sau rồi hãy đầu thai lên lại với cuộc đời bằng thịt bằng xương thật này Cũng không lâu gì đâu Nhưng đến cái người ngồi ngoài nhà kia thì tôi thấy không đang tâm Tôi xin mình, mình chứng giám cho tấm lòng ngay thẳng và thương người của vợ mình Tôi gieo tiền, mình bằng lòng thì một đồng sấp một đồng ngửa” Những khẩn cầu của cô đã không làm xoay chuyển được tình thế Những kiếp tài hoa, tài tình thương lấy nhau để chịu cảnh oan nghiệp
Sau bao năm từ bỏ tiếng hát và không nghe “bất cứ tiếng đàn nào của người đàn ông nào” nhưng mà khi tiếng đàn của Bá Nhỡ cất lên “Cô muốn hát vo theo những khổ đàn của Bá Nhỡ cứ thấm mãi vào người Cô muốn quỳ xuống mà lạy tổ muôn lạy và hối vì đã có ý muốn giải nghệ” Qua đó cho thấy, Cô Tơ vẫn còn say trong cái say của ca hát, muốn chìm trong tiếng hát tiếng đàn của Bá Nhỡ Tiếng hát của Cô Tơ cùng với Bá Nhỡ và Lãnh Út đã khiến người ta nghĩ đến một buổi hòa nhạc, tiếng hát cùng nhịp gõ phách của
Cô Tơ vẫn còn nóng bỏng, khát khao và hay như ngày nào Tiếng hát của Cô
Tơ “vượt qua những đỉnh nhọn của thế giới âm thanh Tiếng hát mọc cánh, thăm thẳm trong trắng tinh khiết quá pha lê gọt Cô đang gọi nước suối đá ngọt ngào dâng lên” Tiếng phách trúc của cô “díu dan như cô đúc lại được muôn điệu của muôn giếng chim Có những tiếng tre đanh thép, sắc bén đến
Trang 30cái mực cắt đứt được sợi tóc vô hình nào bay qua khoảng nơi phách đang bốc cao vươn mình dựng dây như vách thành”, nó rót vào tai người nghe “cả một rừng chim và cả một suối thủy tinh” Cô Tơ hát không chỉ bằng tài năng, mà còn bằng cả tấm lòng, cả trái tim hướng đến người gảy đàn – Bá Nhỡ, bởi cô biết rằng tắt bản đàn, là cuộc đời Bá Nhỡ kết thúc Biết thế Cô Tơ “cố bắt buông từng chữ cho thật chín nục để kẻ sắp hết làm người kia đem đi cho thật đầy đủ cái dư âm của cõi sống” Khi Bá Nhỡ gục chết khô kiệt, Cô Tơ òa khóc ôm xác Bá Nhỡ Sau khi Bá Nhỡ xuống Thủy Cung, thành người thiên
cổ, cô Tơ đã nguyện giữ việc kinh kệ cho Chùa Đàn – nơi chôn cất Bá Nhỡ
và sau này cô đã gửi thân nơi cửa thiền môn thành nhà sư Tuệ Không Cô Tơ không chỉ là ca nương nức tiếng mà cô còn là biểu tượng tổng hòa của nghệ thuật đàn hát, là tiếng lòng, là tình người, là sự hội tụ của tài và tình
Một nhân vật mà Nguyễn Tuân đã gửi gắm bao công sức, tình cảm, bỏ
nhiều công sức để xây dựng trong truyện ngắn Chùa Đàn phải kể đến là Bá
Nhỡ Nhân vật Bá Nhỡ là một nghệ sĩ rất tài năng Nhưng trên thân Bá Nhỡ lại đang mang cái án tích tử hình nên đành thu mình như vỏ ốc và sống nhờ
sự cưu mang và giúp đỡ của Cậu Lãnh và Mợ Lãnh mà Bá Nhỡ trở thành quản gia Từ đó, Bá Nhỡ trung thành và duy trì sự sống của ấp Mê Thảo Không chỉ thế, ông còn ở bên cạnh, chăm lo đời sống tinh thần cậu chủ một cách tận tụy và chu đáo, không hề tơ tưởng một đồng, không hề lợi dụng sự u
mê của cậu chủ mà vơ vét làm của riêng Con người ấy bỏ ngoài tai mọi sự ca thán, bất chấp mọi sự xa lánh của mọi người đối với cậu chủ để thương yêu, chăm sóc cậu chủ hơn, Bá Nhỡ phục tùng và đứng ra giàn xếp và đền bù những điều chướng mà trong cơn say mộng mị cậu chủ đã gây ra với dân ấp
Bá Nhỡ đau đớn khi thấy Lãnh Út chìm trong cõi say, cõi mê muội Với con người ấy, “cái buồn khổ của Lãnh Út đến đâu thì nó lại thấm sang tâm hồn người quản gia trung thành đến đó” vì vậy mà Bá Nhỡ có một khát vọng lớn
Trang 31nhất là làm thế nào cho Cậu Lãnh có thể tục huyền với đời sống dù có thể phải trả giá bằng chính mạng sống của mình Vì Lãnh Út mà Bá Nhỡ ba lần
hạ sơn đi tìm Cô Tơ, “chấp cả cái việc mà người ta có thể dò biết cái án tử hình còn treo trên cái đầu mình”, Vì muốn hồi sinh cho ông chủ – cũng đồng thời là ân nhân của mình, Bá Nhỡ có một tâm nguyện “muốn trở nên một chút ánh sáng, trở nên một cái đốm lửa để làm bừng dậy trong lòng con người tê dại này” Cuộc đời của Bá Nhỡ thật sự đã hi sinh toàn tâm toàn lực cho ấp Mê Thảo và Cậu Lãnh
Ngoài một tên nô bộc trung thành, tận tụy với cậu chủ thì Bá Nhỡ còn
là một con người đầy tài năng: “Bá Nhỡ có tài đàn hát Bất cứ nhạc khí nào, cái gì y cũng chơi thành ngón cả Làn hát lắt léo nào, Bá Nhỡ cũng uốn giọng theo được miễn là cho y được nghe một vài lần” Để Lãnh Út được vui, tối tối
Bá Nhỡ lại bồi rượu ngâm thơ, bình cổ văn, diễn tuồng, có hôm một mình diễn vở Lưu Bình Dương Lễ, “lần lượt hết sắm vai nam lại sắm qua vai nữ”
Bá Nhỡ – một anh kép bất đắc dĩ Sau khi đã được học nghề từ một người kép nghiện mà tay nghề của ông khiến chúng ta ngạc nhiên: “Đã bấm đến tiếng đàn nào thì tiếng ấy cứ chín nục đi Không một chữ nào sượng Tưởng có đi đàn thờ ở một cửa đình nào thì ông thành làng lấy giải cũng không bắt được Bá Nhỡ đàn lỗi ở bất cứ khổ nào” Bá Nhỡ tài năng biết bao nhiêu khi mà chỉ trong một tháng, tiếng đàn có thể đánh sánh ngang cùng một người kép nghiện đầy kinh nghiệm như vậy Chưa kể, cô Tơ sau khi được nghe tiếng đàn đó đã phải thốt lên “Nghe đàn của ông, đến người đá đấy cũng phải bật ra tiếng hát”
Bá Nhỡ khát khao chiếm lĩnh nghệ thuật, coi đó như là một sự thử thách lòng người nghệ sĩ “đã nhìn thấy cây đàn cũ thì phải đánh – đánh cái cuộc đời mới mình vào đấy – để rồi xem nó thành được ra tiếng gì” Mặc cho thân xác mình chịu bao đau đớn của “nhục hình bá đao tùng xẻo” và biết rằng
Trang 32đang dần về “cõi chết” nhưng mà vẫn “say sưa trong cái nhận thức là mình chết dần giữa đàn và hát” Đó là phút thăng hoa, bất tử của nghệ thuật Bá Nhỡ điển hình cho kiểu người tài hoa tài tử, sẵn sàng đem xương thịt mình, đem sinh khí đời mình công hiến cho nghệ thuật, sống chết với niềm đam mê nghệ thuật
1.3.2 Hình tượng tác giả trong Chùa Đàn
Nguyễn Tuân luôn khát khao để thể hiện mình, không muốn mình giống ai, không muốn ai giống mình và không chịu đi theo lối mòn Con người ấy có những phát ngôn táo bạo thể hiện ông là một người có phong cách rất độc đáo như: “Lòng kiêu căng của ta xui ta chỉ chơi một lối độc tấu”
hay “Khi ta chết đi, da tađược thuộc làm cái va ly” Đồng thời, Nguyễn Tuân
đã tự nhận xét về mình: “Tôi vốn là người hay la cà đắm đuối với tất cả những gì là đàn sáo ca hát Hát bộ, hát chèo, hát gõ Ca Huế, ca cải lương Nam Kỳ Tôi đã đem phần đời văn sĩ của tôi mà đặt vốn vào đàn hát” Và đúng như vậy, hành trình đời văn, đời người của ông đã phải: “Suốt đời phụng sự cho nghệ thuật, tự nguyện làm người gác đền cho nghệ thuật, ông như người lữ hành bôn ba dọc cuộc đời để săn tìm cái đẹp, đi đến tận cùng của hành trình chân – thiện – mỹ như một cách khẳng định mình trước cuộc đời” [17, tr.85]
Nhà văn Nguyễn Tuân xuất hiện trên văn đàn tuy không phải quá sớm nhưng những dấu ấn mà ông để lại khiến nhiều người phải khâm phục và ngưỡng mộ bởi tài năng của ông Một con người với những quan điểm nghệ thuật và tư duy độc đáo, một con người rất ngông nhưng mà cũng rất tài hoa
Đó là một Nguyễn Tuân duy mỹ, yêu vẻ đẹp, thích khoe tài, khoe chữ nhưng
ở ông lại rất trung thực, ông thành thật với mình và thành thật với đời Ông đã được nuôi trong nền văn hóa cổ truyền của dân tộc, được tiếp thu tinh hoa từ một nền văn hiến với những truyền thống, giá trị văn hóa mang đậm màu sắc
Trang 33dân tộc Đó là một con người đã trải qua nhiều thú vui, thú tiêu khiển, những trò tiêu dao và phiêu lưu cùng chúng để rồi viết lên những trang văn in đậm dấu ấn của ông trong những nhân vật đó Phải kể đến là khát khao vươn tới cái đẹp và chiếm lĩnh nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám Tôn thờ và phụng sự cái đẹp, lấy cái đẹp làm thước đo lòng người,
thước đo nhân cách của một con người Các nhân vật trong Chùa Đàn cũng
như vậy, các nhân vật này luôn khát khao tìm đến cái đẹp hoàn thiện, hoàn
mỹ Họ là những con người rất chung tình, chung thủy, trung thành và tận tụy Những nhân vật này dù là ai cũng đều mang dáng dấp của nhà văn Đó là sự khúc xạ cái tôi qua lăng kính nghệ thuật, sự trải nghiệm của chính bản thân mình và đã cho ra đời những phiên bản của chính nhà văn Giáo sư Nguyễn
Đăng Mạnh đã khẳng định: “Tất nhiên, Chùa Đàn là một hiện tượng độc đáo
và phức tạp Đọc Chùa Đàn phải thấy Lãnh Út hay người tù chính trị 2910,
Bá Nhỡ hay Cô Tơ, những nhân vật tài hoa nghệ sĩ ấy, tất cả đều là Nguyễn Tuân, tất cả đều là những phương diện khác nhau của cùng một tâm hồn bác Nguyễn ở một thời điểm đang chuyển biến dữ dội trong những ngày đầu sau cách mạng tháng Tám” [11, tr 269]
Nguyễn Tuân viết Chùa Đàn – một tác phẩm được rút ra từ xương thịt
nhà văn và để đạt đến độ tuyệt đỉnh như vậy thì ông đã dành nhiều công sức
và vận dụng những tài năng về văn chương lẫn nghệ thuật vào đấy Trước tiên phải kể đến một trong những hiểu biết, đam mê, tài năng của Nguyễn Tuân ở lĩnh vực nghệ thuật hát ả đào và là một tay trống có tiếng thời ấy Sau đó, ông
đã đưa vào tác phẩm Chùa Đàn với tất cả kiến thức của mình về thuật đàn hát
của lối ả đào cũng như sự say mê nghệ thuật của ông qua hình ảnh của Bá Nhỡ, cô Tơ, Cậu Lãnh những người sành về đàn, hát, trống chầu Nhất là Bá Nhỡ một tay đàn tài hoa đã đón người về dượt lại tay nghề đã bỏ từ lâu rồi ôm đàn về quê tìm cô Tơ để đàn vài khúc cho cô nghe thử một cách say sưa, cô