1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống văn hóa vật chất của tộc người chứt ở huyện tuyên hóa tỉnh quảng bình

42 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đời Sống Văn Hóa Vật Chất Của Tộc Người Chứt Ở Huyện Tuyên Hóa Tỉnh Quảng Bình
Tác giả Lê Thị Thu Hiền
Người hướng dẫn PGS.TS. Lưu Trang
Trường học Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trên một góc độ nào đó, nó phản ánh thực tế đời sống của đồng bào Chứt ở địa bàn phía Tây Quảng Bình, xếp trong số những tộc người khó khăn và chậm phát triển nhất trong đại g

Trang 1

ỌC N N

ỌC SƯ P M

K OA LỊC SỬ

K ÓA LUẬN TỐT N ỆP ỌC

ời sống văn hóa vật chất của tộc người Chứt ở huyện

Tuyên óa tỉnh Quảng Bình

Sinh viên thực hiện : Lê Thị Thu iền Người hướng dẫn : P S.TS Lưu Trang

à Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô Khoa Lịch Sử, Trường Đại học

Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Trong quá trình làm đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Bình, là cơ quan nơi tôi đã thực tập tốt nghiệp

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè, những người luôn bên tôi, động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa học

Đà Nẵng, ngày 16 tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Lê Thị Thu iền

Trang 3

MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xét về địa bàn phân bố vùng cư trú của những tộc người nói ngôn ngữ Việt Mường ở Việt Nam, Quảng Bình là điểm dừng chân phía cực Nam Việt Nam Sự phân bố này cho thấy tầm quan trọng của đối tượng và điểm nghiên cứu: dân tộc Chứt Đây cũng là dân tộc được xem là còn bảo lưu nhiều yếu tố tối

cổ của dòng ngôn ngữ này, bởi một phần do địa hình phức tạp của sơn hệ đá vôi với những vách núi dựng cao, dốc và lởm chởm, giao thông đi lại khó khăn Trải qua quá trình cư trú lâu dài trong lịch sử, các tộc người thuộc dân tộc Chứt ở vùng núi Quảng Bình đã sống cô lập và hạn chế giao tiếp với bên ngoài, chính điều này đã tạo nên hiện tượng bảo lưu nhiều dấu ấn văn hóa nguyên thủy Vì vậy, việc nghiên cứu dân tộc Chứt có ý nghĩa không chỉ đối với lĩnh vực nghiên cứu văn hóa học, dân tộc học, nhân học mà còn với một số ngành khoa học khác

Sự kiện phát hiện tộc người Rục ở phía Tây Quảng Bình vào những năm

1960 của thế kỷ XX thật sự quan trọng, dấy lên nhiều mối quan tâm và chú ý của giới nghiên cứu nhân học, cũng như các cơ quan chức năng khác Bỏ qua những liên tưởng mang tính giật gân về hình ảnh của những bộ lạc nguyên thủy sống trong các hang động đá vôi, thực chất đây chỉ là hiện tượng thích nghi với

tự nhiên trong điều kiện lưu lạc do chiến tranh, hay nói một cách khác, “đó là sự thoái hóa buộc phải chấp nhận khi không thể làm được điều mình muốn” Trên góc nhìn dân tộc học, loại hình cư trú hang động xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người từ những gợi ý của tự nhiên như một sự thích ứng với môi trường sống Thực trạng cư trú của tộc người Rục lúc phát hiện chỉ là sự tái hiện một hình ảnh đã rất xa trong ký ức tộc người Tuy nhiên, trên một góc độ nào đó, nó phản ánh thực tế đời sống của đồng bào Chứt ở địa bàn phía Tây Quảng Bình, xếp trong số những tộc người khó khăn và chậm phát triển nhất trong đại gia đình dân tộc Việt Nam thời bấy giờ

Nhận thức rõ tầm quan trọng của tộc người Chứt về mặt dân tộc học củng như thực trạng đời sống kinh tế, văn hoá, việc nghiên cứu và thực thi các chính sách là rất cấp bách và cần thiết

Thực trạng này đã đặt ra yêu cầu điều tra, khảo sát thực trạng đời sống hiện nay của tộc người Chứt Trong những năm qua nhà nước Việt Nam đã an hành và thực thi rất nhiều chính sách để cải thiện và nâng cao đời sống đồng bào thiểu số ở miền Tây Quảng Bình trên mọi mặt Một trong những chính sách quan trọng là chính sách định canh định cư củng như nhiều biện pháp khác đã và

Trang 4

đang được chính quyền địa phương thực hiện, nhằm ổn điịnh đời sống, phát triển kinh tế, thu ngắn khoảng cách biệt trên nhiều lĩnh vực đối với các tộc người trong khu vực Trong những thập niên qua, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Chứt đã có nhiều biến đổi tích cực, được ghi nhận trên các mặt như đường giao thông, nhà ở, y tế, giáo dục… Tuy nhiên, những thói quen, tập tục truyền thống, tâm lý, ý thức vẫn chưa có nhiều chuyển biến, thích ứng với điều kiện và môi trường sống mới Điều này đã gây nên những lực cản nhất định đối với nỗ lực của chính quyền, nhà nước trong việc thực hiện những dự án cải thiện, nâng cao đời sống cho chính bản thân họ

Thực trạng này đặt ra yêu cầu, khảo sát thực trạng đời sống hiện nay của các tộc người dân tộc Chứt, đồng thời tìm hiểu, lý giải những khó khắn vướng mắc và đánh giá những thuận lợi là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa quyết định đối với quá trình thiết lập và thực thi các chính sách, dự án đầu tư Với điều

kiện nghiên cứu và khả năng còn hạn chế, em chọn đề tài “Đời sống văn hóa vật

chất của tộc người Chứt ở huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình”

2 Lịch sử nghiên cứu

Từ những năm đầu thế kỷ XX, học giả M Colani đã có những ghi chú rất quan trọng về nhóm người Chứt trong “Ghi chú về tiền sử Quảng Bình” (B.A.V.H, No.1, 1916) Đến thập niên 1940s, limh mục Cadi-è-re trong bài viết

“La vie dán lé petits postes du Quang Binh” (B.A.V.H, No.2, 1942), kể về đời sống trong các đồn nhỏ ở Quảng Bình

Năm 1959, sau sự kiện bộ đội biên phòng phát hiện và đưa người Rục ra định cư ở các thung lũng đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu đối với nhóm người này bởi “họ bị cho là thoái hóa văn hóa” Hai năm sau đó (1961), tác giả Nguyễn Bình đã thực hiện một số khảo sát và “Sơ lược giới thiệu các dân tộc ở miền núi Quảng Bình [các nhóm dân tộc Mày, Rục, A-Rem]” (Tập san dân tộc), trong đó đặc biệt quan tâm về “Dân tộc A-Rem và dân tộc Rục” Những nghiên cứu sau đó của nhà nghiên cứu Dân tộc học Mạc Đường “Tìm hiểu người Rục ở miền núi tỉnh Quảng Bình” (1963), mặc dù chỉ là những báo cáo khảo sát tổng quan nhưng đã phản ánh phần nào đời sống và thực trạng của các tộc người sau khi định cư trong các làng bản

Trong những năm cuối thập niên 1970, có rất nhiều những tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về tộc người này như Nguyễn Văn Tài “Thử bàn về tiếng Chứt, Tiếng cuối trong nhóm Việt - Mường” (1976), “Góp thêm tài liệu cho việc đoán định thời điểm chia tách của hai ngôn ngữ Việt và Mường” (1978), Nguyễn Lương Bích “Người Việt và người Mường là hai dân tộc hay một dân

Trang 5

tộc” (Tạp chí Dân tộc học số 4-1974),… Nhà Dân tộc học Liên Xô kai-a đã có những nhận định “Về sự phân loại nội bộ của nhóm ngôn ngữ Việt - Mường” (1978) Cùng trên quan điểm này, Phạm Đức Dương, Hà Văn Tấn đã bàn luận sâu hơn “Về ngôn ngữ tiền Việt – Mường” (1978), “Về mối quan hệ nguồn gốc của nhóm ngôn ngữ Việt Mường” (1978); “Người Chứt ở Bình – trị - Thiên” của Nguyễn Văn Mạnh (1982),… Những nghiên cứu này tập trung vào giải quyết vấn đề nguồn gốc tộc người từ cách tiếp cận về khía cạnh ngôn ngữ

Sô-lô-lôp-x-Trong thời gian tiếp theo, đã có những sự nghiên cứu trở lại đối với những tộc người cư trú ở phía tây Quảng Bình như Nguyễn Ngọc Thanh, Vi Văn An

“Ghi chép Dân tọc học về người Rục ở Quảng Bình” (1991); Phan Hữu Dật

“Trở lại tên gọi một số dân tộc nước ta” (1994); “Đôi nét nét về người A Rem ở miền tây huyện Bố trạch tỉnh Quảng Bình” (Lâm Bá Nam, 1996) Trong những công trình này, nếu Trần Trí Dõi (1995) cho biết về “Thực trạn kinh tế, văn hóa của ba nhóm tộc người đang có nguy cơ bị biến mất”, thì cuốn “Người Chứt ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Mạnh là công trình đầu tiên mô tả khái quát

và một cách đầy đủ nhất về chân dung các tộc người dân tộc Chứt ở đây

Thời gian gần đây, những nghiên cứu về các nhóm này vẫn không dừng lại Năm 2003, Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế đã kết hợp với khoa Lịch sử trường Đại học khoa học, thực hiện đợt điều tra khảo sát dài ngày tại địa bàn các tộc người sinh sống Hệ thống niên luận tốt nghiệp của sinh viên chuyên ngành dân tộc học, mặc dù chưa đầy đủ và chuyên sâu, nhưng củng đã

vẽ nên được bức tranh xã hội tộc người về nhiều mặt vào những năm đầu thế kỷ XXI như: Lê Văn Toản (2003), “Bước đầu tìm hiểu tổ chức xã hội và văn hóa tinh thần của người Mày ở Minh Hóa – Quảng Bình”; Nguyễn Văn Sơn (2003),

“Điều tra văn hóa vật chất của người Mày ở Minh Hóa – Quảng Bình”; Hoàng Văn Đại (2003), Điều tra tổng thể văn hóa vật chất của người Rục ở Minh Hóa – Quảng Bình”; Nguyễn Thị Hóa Nhị (2003), Văn hóa phi vật thể của người Sách (xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình) và những tác động của nó đến những hoạt động du lịch hiện nay”; Nguyễn Sơn (2003), “Bước đầu tìm hiểu hoạt động kinh tế và văn hóa vật chất của người Mã Liềng ở huyện Tuyên Hóa – Quảng Bình”; Ngô Anh (2003), “Điều tra tổng thể văn hóa phi vật thể - văn hóa

xã hội của người A rem ở Bố Trạch – Quảng Bình”; Lê Văn Toản (2003),

“Bước đầu tìm hiểu tổ chức xã hội và văn hóa tinh thần của người Mày ở Minh Hóa – Quảng Bình” Lê Xuân Thông (2003), “Tìm hiểu thiết chế xã hội và văn hóa tinh thần của người Rục ở Thượng Hóa – Minh Hóa – Quảng Bình”; Bùi Thị Nết (2003), “Tìm hiểu văn hóa vật chất của người Sách ở xã Hóa Sơn – huyện Minh Hóa – tỉnh Quảng Bình”; Cao Đăng Trang (2003), “Tìm hiểu đời

Trang 6

sống xã hội và văn hóa tinh thần của người Mã Liềng ở huyện Tuyên Hóa – Quảng Bình”; v v…

Bên cạnh đó là những nghiên cứu chuyên sâu vào những lĩnh vực khác nhau: như Lê Anh Tuấn (2003), “Hoạt động kinh tế của các nhóm tộc người thiểu số nói ngôn ngữ Việt – mường ở phía tây Quảng bình”; Lê Chí Xuân Minh (2003), “Từ một số lễ nghi đến hệ thống thần linh trong đời sống của nhóm tộc người nói ngôn ngữ Việt – Mường ở phía tây Quảng Bình”; Nguyễn Phước Bảo Đàn (2003), “Từ cư trú hang động đến nhà ở: Đặc điểm và các tác nhân chi phối (khảo sát ở các nhóm tộc người “Chứt” – tây tỉnh Quảng Bình)”; Tôn Nữ Khánh Trang (2003), “Văn Hóa ẩm thực của tộc người nói ngôn ngữ Việt - Mường ở vùng núi phía tây Quảng bình”; v v và những bài nghiên cứu mang tính tổng quát về chân dung tộc người trong quá khứ củng như hiện nay, trong cách nhìn đối sánh với các tộc người ở việt nam và Đông nam Á, như nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thông “vùng đất bắc miền Trung: những cảm nhận bước đầu” (2002), “Bàn về các nhóm tộc người thiểu số nói ngôn ngữ Việt - Mường ở bắc miền Trung Việt Nam” (2003) v v…

Xem xét lịch sử nghiên cứu vấn đề ta thấy, phần lớn là những nghiên cứu nhỏ, riêng lẻ, hoặc nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó, nên thiếu tính khái quát và hệ thống; hoặc chỉ chú trọng mô tả các giá trị đặc trưng văn hóa truyền thống tộc người Một số nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng và cảnh báo các nguy cơ, tuy nhiên lại không phân tích kỹ về nguyên nhân củng như không đưa ra những giải pháp cho mỗi vẫn đề Đề tài này được thực hiện trên cơ

sở kế thừa các các công trình trước đây, tiền hành thu thập, tổng hợp các điều tra thực trạng hiện nay với mong muốn mô tả một cách cụ thể, chi tiết về đời sống văn hóa vật chất của các nhóm người Chứt trên địa bàn huyện Tuyên Hóa, đưa

ra những nhận xét xác đáng về ưu thế và những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa vật chất của các nhóm người Chứt trên đại bàn Tuyên Hóa

Đây là một đề tài quy mô nhỏ, riêng lẽ, so với các đề tài nghiên cứu cùng quy mô thì nó có những khác biệt như sau: thứ nhất, về địa bàn nghiên cứu, thường các đề tài khác chọn huyện Minh Hóa làm điểm nghiên cứu, là một huyện mà tập trung phần lớn các nhóm người Chứt sinh sống nên nó mang tính đặc trưng cao, và có nhiều tài liệu nghiên cứu nên khó có sự mới mẻ trong đề tài; thứ hai, về đối tượng nghiên cứu, các đề tài khác thường chọn một nhóm người thuộc dân tộc Chứt để nghiên cứu, nên đề tài mang tính nội bộ, không phân biệt cao giữa các tộc người, từ đó cơ sở để đánh giá nguyên nhân của vấn

đề củng ít đầy đủ; thứ ba, đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm cải thiện, nâng

Trang 7

cao đời sống vật chất cho người người Chứt theo quan điểm miền núi phấn đấu theo kịp miền xuôi của Đảng là một ý tưởng hoàn toàn mới so với các đề tài có cùng quy mô Nó mang tính thiết thực và có ý nghĩa thực tiễn góp phần vào công cuộc cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa vật chất của người Chứt ở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình

3 ối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Các tộc người dân tộc Chứt ở huyện Tuyên

Hóa, tỉnh Quảng Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Các vùng cư trú cảu các tộc người dân tộc Chứt

thuộc địa bàn huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin qua cơ quan chức năng, qua các công trình nghiên cứu có liên quan;

- Phương pháp tổng hợp, thống kê, đối sánh nguồn thông tin tư liệu

5 Nguồn tài liệu

- Thư viện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Bình;

- Báo chí, các Tạp chí dân tộc học…;

- Website: www.quangbinh.gov.vn; và một số tài liệu liên quan tìm kiếm trên www.google.com.vn v v…

6 óng góp của đề tài

- Làm phong phú thêm thư viện tài liệu về người Chứt ở Quảng Bình;

- Đóng góp các giải pháp, kiến nghị vào công cuộc cải thiện và nâng cao đời sống vật chất các nhóm người Chứt, theo quan điểm miền núi phấn đấu theo kịp miền xuôi của Đảng

Trang 8

7 Bố cục của đề tài

Đề tài này được chia làm 2 chương:

Chương 1: Khái quát về dân tộc chứt ở huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình

Chương 2: Đời sống văn hóa vật chất của các nhóm người Chứt sinh sống trên địa bàn huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình

Trang 9

C ƯƠN 1

K Á QUÁT VỀ TỘC N ƯỜ C ỨT Ở UYỆN TUYÊN ÓA

TỈN QUẢN BÌN

1 ặc điểm tự nhiên huyện Tuyên Hóa

Huyện Tuyên Hóa là một huyện miền núi phía tây bắc Quảng Bình, có diện tích tự nhiên 114.941 km2, chiếm 1/7 diện tích tỉnh Huyện có địa giới như sau: phía bắc tiếp giáp với tỉnh Hà Tĩnh, phía đông tiếp giáp với huyện Quảng Trạch, phía nam tiếp giáp với huyện Bố Trạch và Minh Hóa, phía tây giáp với CHDCND Lào (huyện Bualapha, tỉnh Khăm Muộn)

Về tổ chức hành chính: huyện Tuyên Hóa có 19 xã và 01 thị trấn, gồm các xã: Lâm Hóa, Hương Hóa, Thanh Hóa, Thanh Thạch, Kim Hóa, Sơn Hóa, Lê Hóa, Thuận Hóa, Đồng Hóa, Thạch Hóa, Nam Hóa, Đức Hóa, Phong Hóa, Mai Hóa, Ngư Hóa, Tiến Hóa, Châu Hóa, Cao Quảng, Văn Hóa và thị trấn Đồng Lê

Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Tuyên óa, Quảng Bình

Địa hình ở huyện Tuyên Hóa tương đối phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi và các con suối đã tạo ra địa hình không bằng phẳng, hẹp và dốc Đồi núi chiếm hơn 90% diện tích tự nhiên, đất bằng chiếm diện tích nhỏ và thường nằm dọc theo các sông suối và bị chia cắt bởi các dãy núi Đồi núi ở đây có độ cao trung bình từ 1000 đến 1500 m

Trang 10

Đất ở Tuyên Hóa được hình thành từ đất đá mẹ là sa phiến thạch đá vôi và

có địa hình bị chia cắt lớn nên rất đa dạng Mặt khác, do khai thác trong nhiều năm với phương thức canh tác lạc hậu, đất không được cải tạo bồi dưỡng độ phì nên phần lớn bị bạc màu ở nhiều mức độ khác nhau

Đất nông nghiệp chiếm khoảng 5.082,21 ha (chiếm 4,42%), đất lâm nghiệp là 84.322,78 ha (chiếm 73,38%), đất chưa sử dụng và sông suối là 23.472,13 ha (chiếm 20,44%) và khoảng 580,17 ha đất ở và 1.478,72 ha đất chuyên dùng

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc trưng của khí hậu miền Bắc pha trộn với khí hậu Đông Trường Sơn: mùa đông lạnh, mưa ít; mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Mùa mưa thường xuất hiện sương muối Tuyên Hóa có nền nhiệt lượng cao, lượng mưa dồi dào, tuy nhiên do khi hậu thất thường của khu vực khô và nóng, mưa phân bố không nhiều gây hạn hán, tác động xấu đến sản xuất nông, lâm nghiệp

Nhiệt độ trung bình năm khá cao khoảng 23,6o C Mùa mưa thường bắt đầu vào khoảng tháng tám và kết thúc vào cuối tháng hai năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.100 đến 2.300mm Độ ẩm tương đối cao và không ổn định, trung bình từ 83-85%

Tuyên Hóa là địa bàn bắt nguồn của các con sông chính của Quảng Bình như sông Rào nậy, Rào cái, sông gianh, … sông Gianh bắt nguồn từ núi Phi cô Phin ở biên giới Việt – Lào chảy qua địa bàn huyện

Do nằm trong khu vực đầu nguồn có địa hình hiểm trở ngắn và dốc, tốc

độ dòng chảy lớn Dòng chảy của các sông suối biến động lớn và phụ thuộc theo mùa.Vào mùa mưa lũ, nước dồn từ các sườn núi xuống các thung lũng hẹp nên thường gây lũ, ngập lớn trên diện rộng Ngược lại vào mùa khô, mực nước sông suối khô cạn Điều này ảnh hưởng rất lớn đến nguồn tài nguyên nước của vùng

do phụ thuộc vào điều kiện khí hậu thời tiết hằng năm

Nguồn nước ngầm: thường sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của người dân trong huyện

Tuyên Hóa chủ yếu là đất rừng, tài nguyên rừng ở đây rất phong phú và

đã đảm nhận tốt chức năng phòng hộ, ổn định sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học với nhiều loại động thực vật quý hiếm được ghi vào sách Đỏ Việt Nam

- Thực vật: đa dạng về giống loài, có trữ lượng gỗ cao trong tỉnh, có nhiều loại thảo dược quý… Hệ thảm thực vật đầu nguồn Tuyên Hóa đã góp phần ổn định sinh thái, giữ nước đầu nguồn, hạn chế quá trình xói mòn đất, duy trì cảnh quan và bảo vệ môi trường

Trang 11

- Động vật: Tuyên Hóa nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn Có nhiều loại động vật quý hiếm như gấu, hổ, sao la, mang lớn, gà lôi…

2 Nguồn gốc các tộc người Chứt trên địa bàn huyện Tuyên Hóa

Dân tộc Chứt là một trong những dân tộc thiểu số sử dụng ngôn ngữ Việt

- Mường, sinh sống ở Vùng núi phía tây Quảng Bình, xét về địa bàn phân bố các tộc người sử dụng ngôn ngữ Việt - Mường thì dân tộc Chứt là dân tộc cuối cùng phân bố ở phía Nam

Trên địa bàn huyện Tuyên Hóa có 2 tộc người thuộc dân tộc Chứt là Sách

và Mã Liềng sinh sống, hai tộc người này còn phân bố trên địa bàn 2 huyện Minh Hóa và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình Theo tác giả Nguyễn Hữu Thông đã lý giải nguồn gốc và ý nghĩa các tộc danh này trong tác cuốn “Bàn về các nhóm tộc người thiểu số nói ngôn ngữ Việt - Mường ở Bắc miền Trung Việt Nam” như sau:

2.2 Tộc người Mã Liềng

Từ “Mã Liềng” chưa được tìm thấy trong văn bản phiên Nôm, nhưng theo cách giải thích của đồng bào Mã Liềng thì “Mã Liềng” có nghĩa là “người” (Mờliềng Sách = người Sách, Mờliềng Mày = người Mày)

Theo địa bàn sinh sống thì nhóm Sách ở trên các hung, thung lũng hẹp dưới chân lèn, ven làng Nhóm Mã Liềng sống ở núi đá, rèm đá, đầu nguồn nước

Nguồn gốc và sự hình thành các tên gọi của đồng bào thiểu số nói ngôn ngữ Việt – Mường ở vùng núi phía Tây Quảng Bình và Trương Sơn nói chung

có những nét riêng Bởi thực chất ở đây không phản ánh sự hội tụ đầy đủ ý thức

tự giác, đặc điểm ngôn ngữ hay những nét riêng về sinh hoạt văn hóa, đủ cơ sở

để phân định một cách rạch ròi là “chi”, “ngành” hay “nhóm địa phương”; củng như không thể ghi nhận sự hiện diện phần ý thức tự giác về một tộc người lớn hay nhóm, trùm lên cái tên mà họ đang sử dụng Tất nhiên chúng ta củng không loại trừ con đường hình thành nên tộc danh, với một quá trình mà sự gần gủi từ

Trang 12

nhiều yếu tố của các nhóm có thể mở đầu cho một kiểu lựa chọn tương đối hay không chính thức, và việc phổ biến chúng củng trở thành một dạng ý thức tự giác phải cần đến thời gian

3 Tình hình dân số và phân bố các tộc người Chứt ở huyện Tuyên

óa tỉnh Quảng Bình

Hình 2: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Bình

Dân tộc Chứt ở vùng núi phía Tây Quảng Bình gồm có năm tộc người: Sách, Mã Liềng, Mày, Rục, A Rem Với tổng số 1256 hộ, 5717 đồng bào, sinh sống trong 85 bản trên 3 huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa, Bố Trạch tỉnh Quảng Bình

Bảng 1: Sự phân bố của các tộc người dân tộc Chứt ở Quảng Bình

uyện

Tộc người

Tổng Tuyên Hóa Minh Hóa Bố Trạch Bản ộ Khẩu Bản ộ Khẩu Bản ộ Khẩu Bản ộ Khẩu Tổng 85 1256 5717 12 136 563 70 1083 4992 3 37 162 Sách 61 627 2668 7 17 76 53 607 2579 1 3 13

Mã Liềng 6 210 1027 5 119 487 1 91 540

Mày 11 233 1163 11 233 1163

Trang 13

(Số liệu theo “Cơ sở lý luận và thực tiển nhằm cải thiện đời sống, bảo tồn phát

huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Chứt ở Quảng Bình”, Lê Anh Tuấn, năm 2009)

Xét theo địa bàn cư trú, các tộc người dân tộc Chứt tập trung chủ yếu ở huyện Minh Hóa 5/5 tộc người với tổng số đồng bào 4992 người chiếm 87,3%

so với tổng toàn bộ đồng bào dân tộc Chứt ở Quảng Bình, tiếp đến là huyện Tuyên Hóa với 2/5 tộc người (Sách và Mã Liềng), tổng số đồng bào là 563 người chiếm 9,8%, thấp nhất ở huyện Bố Trạch với 2/5 tộc người là Sách và A Rem với tổng số đồng bào là 162 người chiếm 2,8%

Xét riêng theo từng tộc người dân tộc Chứt thì sự chênh lệch dân số giữa các tộc người là rỏ rệt Tộc người có số đồng bào vượt trội nhất là Sách, với

2668 đồng bào chiếm gần 50% đồng bào dân tộc Chứt, tiếp đến là Mày, Mã Liềng chiếm gần 20%, Rục chiếm 12,3%, A Rem chiếm 3%

Các tộc người dân tộc Chứt trên địa bàn huyện Tuyên Hóa gồm 2 tộc người là Sách và Mã Liềng, với tổng số 136 hộ 563 khẩu, sinh sống trong 12 bản trên địa bàn các xã Lâm Hóa, Sơn Hóa, Thanh Hóa, Lê Hóa và thị trấn Đồng Lê huyện Tuyên Hóa

- Tộc người Sách: là tộc người có số đồng bào nhiều nhất trong cộng đồng Chứt, phân bố tập trung chủ yếu ở huyện Minh Hóa, còn một số ít sinh sống ở

Bố Trạch và Tuyên Hóa Trên địa bàn Tuyên Hóa, tộc người Sách gồm 76 đồng bào sinh sống trong 7 bản, phân bố lẻ tẻ, rời rạc, mỗi bản có rất ít người, họ thường sống trên các hung, thung lủng hẹp dưới chân lèn

Bảng 2: Phân bố tộc người Sách ở huyện Tuyên óa

(Nguồn: Tổng hợp số liệu Niên giám thống kê và kết quả điều tra 5/2009)

- Tộc người Mã Liềng: sống tập trung và phân bố đều giữa 2 huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa với tổng số 1027 đồng bào Trên địa bàn huyện Tuyên Hóa, tộc người Mã Liềng gồm 487 đồng bào sinh sống trong 05 bản, phân bố khá tập trung và khá đông; sống ở các núi đá, rèm đá, đầu nguồn nước

Trang 14

Bảng 3: Phân bố tộc người Mã Liềng ở huyện Tuyên óa

Trang 15

Bảng 4: Thứ tự ưu tiên các hoạt động kinh tế cơ bản

TT Tộc người Nương rẫy Săn bắt, hái lượm Chăn nuôi Ruộng nước

Các đồng bào dân tộc Chứt trên địa bàn huyện Tuyên Hóa chú trọng vào hoạt động sản xuất ruộng nước và chăn nuôi, còn canh tác nương rẫy và săn bắt, hái lượm chỉ là hoạt động kinh tế phụ, điều này lại hoàn toàn trái ngược với các tộc người khác trong cộng đồng Chứt, các tộc người Rục, Mày, A Rem lại coi canh tác nương rẫy và săn bắt hái lượm là các hoạt động kinh tế chính Nguyên nhân sự khác biệt này củng một phần là do điều kiện nơi cư trú chi phối sự hình thành tập quán hoạt động sản xuất kinh tế của từng tộc người

- Săn bắt và hái lượm

Săn bắn cho nhu cầu là hoạt động diễn ra quanh năm nhằm cung cấp nguồn thực phẩm cho nhu cầu hàng ngày, nhưng mùa săn bắn chính được bắt đầu từ tháng sáu đến tháng mười, khoảng thời gian sau khi trĩa xong đến trước khi thu hoạch Ngoài nguồn lợi thực phẩm, săn bắn trong mùa rẩy còn có tác dụng bảo vệ rẩy trước thú rừng tương đối hiệu quả Bởi vậy, săn bắn còn là một hình thức bảo vệ mùa màng

Thú săn chủ yếu ở vùng này trước đây là loài khỉ (vàng, cộc, mốc, đuôi lợn, voóc gáy trắng, chà vá chân nâu, vượn…), các loại gà rừng (gà lôi hồng tía,

gà lôi lam, gà lôi trắng…), các loài chim, lợn rừng và một số loài thú khác như rắn, nhím rùa, hổ, hươu, nai, mang, trăn, mèo rừng, chồn…Có thể nói, động vật

ở đây không những đa dạng về chủng loại mà còn nhiều về số lượng Đó là nguyên nhân dẫn đến hoạt động săn bắn ở các tộc người này khá phát triển, thể hiện ở sự đa dạng về loại hình và tính năng của từng thể loại vũ khí săn (bẫy, ná, lao…), đối với từng loại thú lớn nhỏ khác nhau

Trong các chủng loại vũ khí săn bắn của các tộc người, bẫy chiếm ưu thế

cả về tính năng sử dụng, sự phong phú về loại hình lẫn hiệu quả thực tế Đồng bào có các loại bẫy như bẫy thắt (bẫy voòng, vẹo, pẩn, cờ ạo, tơm tạp, cà típ…),

Trang 16

bẫy phóng (tó ho), bẫy hố, bẫy chuồng…Đối với các loại thú to như lợn, nai, gấu, hổ đồng bào dùng bẫy Voòng, làm bằng thân cây máu thắt, ở chân con thú…

Trong các loại hình săn bắn, ngoài đi săn, đặt bẫy còn có hình thức đi săn tập thể - một kiểu săn sơ khai có từ thời nguyên thủy Tuy nhiên, so với những tộc người khác, hình thức săn tập thể ở các nhóm nói ngôn ngữ Việt – Mường ở Tây Quảng Bình rất đơn giản (trừ người Sách)

Trên nền tảng kinh tế khai thác, mang nặng tính chất tự nhiên, cùng với săn bắn, đánh bắt góp phần quan trọng trong cơ cấu nguồn lương thực hàng ngày nuôi sống cộng đồng Đây là một hoạt động kinh tế phụ, quy mô nhỏ nhưng mang tính chất thường xuyên, trong tất cả khoảng thời gian nông nhàn Hàng ngày phụ nữ, trẻ em mò cua bắt ốc ở các khe suối cạn; vào mùa giáp vụ, đàn ông tranh thủ lên rừng kiếm cây độc về thuốc cá (vỏ cây chẹo, đò ho…) Tuy nhiên, mùa đánh bắt chủ yếu là mùa đông, nhất là thời điểm giao mùa từ lạnh sang nóng kéo dài từ cuối tháng 2 đến cuối tháng 4 có đặc điểm khí hậu ấm

áp, có mưa nhỏ, nắng ấm dần Đây là thời kỳ rất thích hợp cho cây cối phát triển, các loài bò sát, ếch nhái, chim, cá… tiến hành kiếm mồi và truyền giống Ngoài các hình thức đánh bắt thông dụng như nơm, đó, đắp đá ngăn suối để bắt,

ở những nơi suối sâu, đồng bào dùng câu, ở những nơi nước cạn họ dùng đá ngăn nước lại bắt bằng tay.Ở đay còn phổ biến cách dùng thuốc độc chế từ mủ cây rừng đẻ đánh bắt Sản phẩm từ đánh bắt củng rất đa dạng như ốc khe, cua, tôm, rắn, rùa, ếch nhái, cá các loại

Ngày nay, săn bắn và đánh bắt là nghề phụ góp phần vào tăng thêm lượng thực phẩm hàng ngày cho đồng bào Ngoài ra, sản phẩm còn được dùng làm hàng hóa trao đổi với những cư dân cận cư, với người Kinh Cùng với những kiêng cữ, sự suy giảm số lượng và chủng loài, các quy định của nhà nước về cấm săn bắn các loại thú là những nhân tố quan trọng làm cho hoạt động kinh tế phụ giảm xuống

Cuộc sống du canh du cư với những kỹ thuật đơn giản, công cụ thô sơ trong trồng trọt nương rẫy, nhưng ngược lại họ tích lũy được nhiều kinh nghiệm, tri thức quý báu về hoạt động hái lượm, quá trình thích ứng với những môi trường, hoàn cảnh khác nhau

Sản phẩm hái lượm của các tộc người thuộc dân tộc Chứt trên địa bàn Tuyên Hóa rất phong phú, đa dạng bao gồm các loại như rau rừng (rau má, rau tớn, rau tợi ở 2 bên bờ suối, lá lốt, rau dền, rau lang, rau tàu bay mọc ở rẫy củ…), củ rừng (củ nâu, củ mài, củ khoai, nấm, môn, măng…), cây rừng (cây họ

Trang 17

dừa như báng, đoác…), quả rừng (mít, vả, trám, ổi, dâu, chuối, cà lào…), vỏ cây móc, chay…

Ngoài ra, người Mã Liềng còn có các loại lâm sản quý như nấm hương, trầm hương, mộc nhĩ, song mây, tranh…Đây là những vật trao đổi chủ yếu với người Sách, Kinh và Nguồn

Trong hệ thống các nguồn lợi từ rừng, mật ong được đồng bào chú trong nhất bởi giá trị sử dụng và giá trị trao đổi cao, phổ biến Mùa tìm tổ ong, lấy mật của đồng bào bắt đầu vào tháng 3, khi những cơn mưa rào đầu hè xuất hiện, trên rừng hoa nở bạt ngàn là lúc ong rừng đua nhau làm tổ Kinh nghiêm lấy mật nhiều năm chỉ cho họ những khu rừng loài ong hay làm tổ nhiều: khu rừng rậm, bên cạnh các con suối, nơi có nhiều cây cao ở những phía tránh hướng gió và tiến hành làm dấu xác định quyền chiếm dụng

- Canh tác nương rẫy

Người Mã Liềng không chú trọng với loại hình sản xuất kinh tế canh tác

nương rẫy này

Canh tác nương rẫy là hình thái sản xuất truyền thống ra đời sớm và tồn tại lâu đời trong đời sống kinh tế của phần lớn các tộc người thiểu số ở Việt Nam Tập quán phát rừng làm rẫy theo phương thức hỏa canh, chọc lỗ tra hạt là một kiểu ứng xử phổ biến của những cộng đồng sinh trụ trên địa hình canh tác dốc

Cũng như các tộc người lân cạnh, sản xuất nương rẫy đối với dân tộc Chứt ở phía Tây Quảng Bình rất được chú trọng bên cạnh các hoạt động kinh tế khác Thông thường vào khoảng tháng 12, tháng 01, âm lịch, sau một tháng nghỉ ngơi, vui chơi các tộc người ở đây vào rừng chọn rẫy Người chủ gia đình hoặc con trai phát quang một đám nhỏ quanh gốc cây, dùng rìu (tộ cộ) chặt chéo vào thân để dắt cành cây (theo chiều một bên cao một bên thấp) báo là đã có chủ và rẫy sẽ mở rộng về phía đồi Cách hai mươi bước chân đồng bào làm một dấu như vậy quanh đám rẫy đã chọn

Đối với đồng bào việc tìm roọng là một công việc quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự no đủ trong năm của gia đình, sự hưng vong của làng, bởi gắn với hoạt động này là những ảnh hưởng của thần linh, ma quỷ được phản ảnh qua một số nghi lễ cúng tế trong suốt chu kỳ canh tác Sau khi đốt xong vào khoảng cuối tháng tư đầu tháng năm, đồng bào tiến hành tỉa lúa mùa Khâu trỉa được bắt đầu bằng lễ cúng tạ ơn thần bản thổ và cầu xin các vị thần giúp đỡ Ngày trỉa đầu tiên là ngày chẵn trong tháng Khi trỉa, đàn ông đi lùi chọc lỗ, đàn bà đi tiến vừa bỏ hạt vừa dùng chân lấp lỗ hoặc bằng những ống tre dài đựng hạt giống,

Trang 18

theo chiều ngang sườn núi, từ dưới chân roọng đi lên, khoảng cách một cùi tay một lỗ Dụng cụ dùng trong khi trỉa rất đơn giản, gồm gậy chọc lỗ (Cul chơmol/Kơlkmoch) được làm từ các loại cây gỗ cứng (táu, sến) và ống tre (hoặc gùi nhỏ) đựng lúa giống

Đối với các giống lúa địa phương gieo tỉa vào tháng 4, 5 đến tháng 9, 10

là có thể thu hoạch, có khi kéo sang đầu tháng 11 nếu trễ vụ

Ngô được trồng một năm hai vụ: Vụ xuân và vụ tám Riêng ngô vụ xuân (tháng 12) thường được trồng riêng, còn ngô vụ tám (tháng 8) có thể trồng xen với các cây trồng khác (roọng ca li)

Trồng trọt trên nương rẫy, lúa là cây trồng quan trọng, nhưng cây trồng chính, chủ yếu là cây sắn Trong bản, nhà nào có nhiều rẫy sắn để 2 – 3 năm là yên tâm, không sợ đói vào mùa giáp vụ Điều này được lý giải trong điều kiện đất đai canh tác vùng núi đá, kỷ thuật canh tác lạc hậu, không có sự đầu tư chăm sóc, phân bón, nên năng suất cây trồng thấp, bấp bênh

Kỷ thuật xen canh truyền thống trong điều kiện đáp ứng nhu cầu tự cung

tự cấp đã hình thành một cơ cấu cây trồng trên nương rẫy rất đa dạng bao gồm cây thực phẩm, cây lương thực, cây thuốc lá…

- Canh tác lúa nước

Trong bức tranh hoạt động kinh tế của nhóm người thuộc dân tộc Chứt ở Tây Quảng Bình dấu ấn của các loại hình kinh tế của nhóm người thuộc dân tộc Chứt ở Tây Quảng Bình, dấu ấn của loại hình kinh tế biểu hiện tính định canh, định cư như chăn nuôi, ruộng nước, trồng vườn…rất mờ nhạt Điều này được lý giải từ nhiều nguyên nhân: Diện tích canh tác không đủ; sự níu kéo của thói quen canh tác củ, các vấn đề về giống, vốn, kỷ thuật, hệ thống tưới tiêu…có thể nói trong các tộc người thuộc dân tộc Chứt, người Sách, Mã Liềng có sự ổn định tương đối, thể hiện một trình độ phát triển hơn hẵn cả về sinh hoạt lẫn sản xuất

Quy trình canh tác lúa nước của người Sách cũng giống như các cư dân làm ruộng khác với các khâu đoạn, cày, bừa, cấy, làm thủy lợi, chăm bón, thu hoạch

Đối với người Mã Liềng, nhờ vào một số chương trình Quốc Gia, nên ruộng nước mới xuất hiện trong hoạt động kinh tế của họ trong những năm đầu của thế kỷ XXI, và trỡ thành một hoạt động chính, bên cạnh đó, họ kết hợp với trồng các loại, hoa màu như đậu, lạc, bắp và một số nghề phụ khác phục vụ cho cuộc sống hàng ngày

Trang 19

- Hoạt động chăn nuôi

Trên nền tảng kinh tế truyền thống, tập quán du canh, du cư thời kỳ trước đây đã hạn chế sự phát triển của hoạt động chăn nuôi trong các tộc người Tuy loại hình chăn nuôi đã xuất hiện ở hầu hết các tộc người nhưng vẫn là lối chăn thả rông truyền thống, vật nuôi tự tìm kiếm thức ăn, chỗ ở, tự chống chọi với thời tiết dịch bệnh Ở các tộc người Rục, Arem, Mày chăn nuôi chưa thực sự là một hoạt động hỗ trợ tốt cho trồng trọt, những lợi thế về phân bón, sức kéo, chưa được chú trọng quan tâm khai thác Chăn nuôi chỉ giữ vai trò cung cấp thực phẩm và lễ vật cho cúng tế Hiện nay, khi cuộc sống ở các tộc người bắt đầu ổn định, nhất là ý thức của đồng bào về vai trò của chăn nuôi đối với đời sống kinh

tế, cùng với đó là sự đầu tư về giống, kỷ thuật của nhà nước đã góp phần vào sự chuyển mình của loại hình chăn nuôi Điều này đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong hoạt động chăn nuôi ở các tộc người, bước đầu tạo điều kiện cho công tác định cư có kết quả

1.2 Tập quán trong ăn uống

- Thức ăn:

Do phải đối diện thường xuyên với sự thiếu ăn, nên nón ăn của đồng bào thường chú trọng đến việc tận dụng để đủ năng lượng cung cấp hơn là đa dạng hóa hay quá cầu kỳ trong kỹ thuật chế biến Món ăn chính của họ thường là món canh và món nướng Bên cạnh nguồn lương thực thu được từ hái lượm là sản phẩm từ hoạt động sản xuất như gạo, ngô và sắn để chế biến thành cơm và pồi

Hiện nay, trong hệ món ăn của đồng bào xuất hiện các món ăn phản ánh lối sống định canh định cư như cách ăn “chả kém diêm trụng” (ăn rau sống), gồm các loại rau như quế, hẹ, cả, mùi tàu, bù lù, xà lách… được hái từ vườn nhà

Đồng bào ở đây còn có các món ăn dành riêng cho sản phụ hoặc người đau ốm, như món tú lót (đu đủ); món canh, rau xào bù lù (dấm bù lù); món Ta păng (món cháo măng nấu với cá suối hoặc thịt rừng)…

- Thức uống:

Thức uống thông thường: là nước chè xanh và các loại lá rừng

Thức uống bổ dưỡng: nấu từ các loại lá, rễ, củ cây rừng như: nước Xúc

Na (Sa Nhân); nước K’ nào mấu (nước cây mấu); nước cá ốn (ổi); nước cây Lia hang, Trố-ôc tum hay củ Chà lịa ngâm với rượu làm thuôc chữa đau lưng…

Các loại rượu: được lên men chưng cất thông thường từ gạo, ngô, sắn…

và một số loại được ủ trực tiếp nguyên liệu với một số loại lá cây, vỏ cây hay rễ

Trang 20

cây để lên men Chúng được sử dụng trong nhiều hoạt động khác nhau của đồng bào, trong sinh hoạt, trong nghi lễ, trong cuộc sống thường nhật…

- Thức hút:

Hút thuốc là thói quen của tất cả các đồng bào, hầu như ai củng hút thuốc,

từ người già đến trẻ con, không bất kể là đàn ống hay đàn bà Nguyên nhân của tập tục này có thể là do cái lạnh, cái đói, sự nhàn rỗi… tạo nên Hơn nữa, cây thuốc lá được trồng sẵn trên rẫy, sau khi thu hoạch họ mang về dùng dây mây xâu lại phơi sẵng trên dàn bếp, nên dễ kích thích và duy trì thói quen này Đối với người Sách, những người vị thành niên đều hút thuốc do chính họ trồng và chế biến, bằng cách chắt nhỏ lá thuốc đã phơi khô, vấn trong lá giong đã phơi héo hay ngọn lá thuôc khô Khi hút họ vấn nguyên cả lá, ít dùng tẩu Những người già lại thường hay dùng tẩu, tẩu được làm bằng đá chết, gọt phía đầu có hình dáng hơi uốn cong, khoan lỗ và gắn vào đầu một đoạn tre nhỏ khoảng một gang tay

1.3 Nhà ở và trang phục, trang sức

- Nhà ở

Các loại hình nhà ở của đồng bào Chứt gồm:

- Loại hình tận dụng tự nhiên, sinh sống trong các hang động, đây là loại hình cư trú nguyên thủy Từ xưa, các tộc người Chứt cư trú trong các hang động, đên nay vẫn còn một số đồng bào tộc người A rem vẫn còn sống trong các hang núi ở vùng Phong Nha – Kẻ Bàng, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

- Loại hình nhà ở được xây dựng: gồm có nhà sàn và nhà đất

- Và một số loại hình nhà ở khác như: nhà ở cho người sinh đẻ, nhà ở tạm làm rẫy, nhà cho những người quá cố…

* Nhà sàn người Mã Liềng:

Mã Liềng là một tộc người tiêu biểu trong xây dựng nhà sàn Phương tiện

cư trú chủ yếu cả người Mã Liềng trong các bản làng là nhà sàn, được kết cấu đơn giản: có hai mái thấp, các bộ phận liên kết bằng kỹ thuật khắc ngoãm, buộc dây; vách thăng bằng những tấm đan tre, nứa; sàn trải bằng tre, nứa đập dập… tất cả tựa trên 8 cây cột chính đặt thành 2 hàng song song Trong quá trình xây dựng, người chủ gia đình có vai trò rất lớn, từ việc tìm gỗ, dây rừng, đan phên,

đập tre nứa… đến việc nhờ người dân bản đến giúp

Do bị chi phối bởi đặc điểm địa hình cư trú, ngôi nhà sàn thường được dựng lên trên sườn dốc của những ngọn đồi, ngọn núi đất, dưới chân lèn hay đầu ngọn khe Nhà sàn có thể xem là cách giải quyết mặt bằng hiệu quả trên dạng địa hình dốc trong thế ứng xử của con người với môi trường tự nhiên Mặc dù

Trang 21

ngôi nhà mang một dáng dấp vẻ tạm bợ, phản ánh đời sống của một cộng đồng sinh tồn trong điều kiện địa hình cư trú khắc nghiệt, được xây dựng trên những khoảng đất bằng phẳng, hiếm hoi giữa núi rừng, nhưng trên thực tế, cái dáng vẻ

ấy lại bao chứa bên trong nó cả một hệ thống ứng xử của con người bản địa Ngôi nhà sàn luôn được dựng lên với nhiều điều kiêng kỵ chặt chẽ, không gian

sử dụng cũng được quy định một cách rõ ràng giữa các thành viên,…

+ Cấu trúc kỹ thuật: đứng về hình dáng và cấu trúc, có thể nhận thấy ngôi nhà san của các tộc người thuộc dân tộc Chứt có nhiều loại và tính năng khác nhau: nhà sàn không chái, nhà có một chái hoặc 2 chái, nhà có sàn mở phía trước nhà Khi số lượng cá thể trong gia đình tăng lên, một đầu chống trên những cột cà phá (cột phụ), nếu loại bỏ những cây cột này, chái sẽ sập xuống tạo thành vách nhà Trong trường hợp mở 1 hoặc 2 chái, người thợ sẽ kéo dài tấm thưng, tựa trên những cột phụ làm mái Sàn nhà được mở rông trên những cột tâng cà nó và cột ca phá nhỏ gọn Khoảng không gian của chái có thể được che kín với những tấm đan như trên hoặc trống tạo thành sàn mở phía bên Cách tạo chái có thể xem là cách ứng xử cực hay trên cấu trúc nhà sàn truyền thống, bởi chiều dài của nó bao giờ cũng bằng độ rộng của vách nhà Chúng ta có thể hình dung, mái chái dược sử dụng như cánh cửa đóng mở theo phương nằm ngang Khi làm sàn mở phái trước, hai cầu thang chính sẽ được dỡ bỏ, thay vào đó là cầu thang phía bên nhà ở 2 đầu sàn

+ Quy trình xây dựng: Các thao tác xây dựng ngôi nhà của người Mã Liềng khá đơn giản, các loại vật liệu hư gỗ, tre, nứa, mây, lá tro… dược chủ nhầ chuẩn bị, sau đố họ chọn ngày tốt để dựng với sự giúp đỡ của bà con dân làng Ngôi nhà sàn truyền thống có kết cấu bởi 8 cây cột gỗ đường kính khoảng 10 đến 15cm, cao khoảng 3,4 – 4,0m, số lượng cột phụ sẽ tăng lên tùy thuộc vào việc mỡ hay không mỡ chái Côlôốc được dựng đầu tiên, các cây cột khác dược dựng lên thành 2 hàng; các hàng ngang, dọc (gừm/gầm, pafgo…) bằng gỗ nối kết từng đôi cột tạo thành sàn nhà Không gian đầu hồi, các thanh văng, đòn tay được gá vào từng đôi phía trên cột qua kỹ thuật khắc ngoãm, buộc dây Hai đầu hồi là hai cây gỗ cao, gánh 2 đầu đòn đông (lẻ cà đôồn) Từ vị trí của đòn đông, các thanh rui đầu hồi bằng tre nứa (rui dọc – gui pà tâng cà phá) được cột nối với văng – đòn dọc trên những khoảng cách đều nhau thành hinh nan quạt tạo thành bộ khung sườn của mái đầu hồi Sau khi hình thành bộ khung sườn, 2 cây cột chống này được gỡ ra, và tiến hành lợp mái, thưng vách, dựng cầu thang

Phía trên nhà sàn khoảng 1,8 – 2,0m là gầm/gừm pà ga – khoảng không gian được che kín từ đầu trên của vách đến toàn bộ mái nhà, đây là không gian đầu hồi Gầm/gừm pà ga được hình thành từ tấm đan lớn bằng tre nứa, trải trên

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w