Sự thay đổi về cách viết và cách tư duy của Nguyễn Huy Thiệp theo xu hướng của văn học hậu – hiện đại đã khiến “quán tính văn học trước đây bị dừng lại một cách đột ngột” và đem đến cho
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện thực cuộc sống sau 1975 có sự thay đổi sâu sắc, điều này đã đem đến cho Văn học Việt Nam một diện mạo mới Để làm nên diện mạo ấy cần phải kể đến các tác giả như: Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà… Và đặc biệt nổi lên trong
số đó là tác giả Nguyễn Huy Thiệp
Trong nhiều sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và đặc biệt là ba truyện
ngắn Tướng về hưu, Phẩm tiết, Những ngọn gió Hua Tát đã có những dấu ấn
của “hệ hình thi pháp hậu hiện đại” Ở đó ông phơi bày những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm những giá trị mới
Sự thay đổi về cách viết và cách tư duy của Nguyễn Huy Thiệp theo xu hướng của văn học hậu – hiện đại đã khiến “quán tính văn học trước đây bị dừng lại một cách đột ngột” và đem đến cho người đọc một cách tiếp cận mới
Chọn đề tài Dấu ấn chủ nghĩa hậu hiện đại trong truyện Tướng về hưu,
Phẩm tiết, Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp để khảo sát chúng
tôi mong muốn tìm hiểu rõ hơn giá trị truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp khi tiếp thu và tiếp biến xu hướng văn học hậu – hiện đại Và đây cũng là điều
Trang 3kiện để chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn về chủ nghĩa hậu – hiện đại nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu sau này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện như một hiện tượng độc đáo trên văn đàn Văn học Việt Nam thời kì đổi mới Vì thế những sáng tác của ông trong đó có
ba truyện ngắn Tướng về hưu, Phẩm Tiết, Những ngọn gió Hua Tát đã nhận
được sự quan tâm của nhiều công trình nghiên cứu và đã phát hiện ra dấu ấn văn học hậu – hiện đại ở trong những sáng tác đó
Đông La trong công trình Biên độ của trí tưởng tượng đã viết về cái ma
lực trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khẳng định “Nguyễn Huy Thiệp đã
viết về cái tôi, cái lõi của tâm lí, cái tâm lí thật của con người” [3, tr.152] Đi vào tìm hiểu cách viết truyện ông phát hiện ra “kiểu truyện không có cốt truyện, kết cấu không chặt chẽ, nó lỏng lẻo như chính cái lỏng lẻo của cuộc sống” [3, tr.158]
Nguyễn Thái Hòa trong bài viết Có nghệ thuật barốc trong các truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp hay không đã nhắc đến yếu tố ảo trong sự tương giao
với yếu tố thực “Cái thực luôn đi kèm với cái ảo tạo ra sự đối lập thực đến rợn người và ảo đến kinh hoàng” [5, tr.56]
Nguyễn Văn Tùng với bài viết Cấu tứ tự sự của truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp đã nghiên cứu ba kiểu cấu tứ nổi bật trong truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp Một trong ba kiểu cấu tứ đó là cấu tứ “Con người với tâm trạng sao tôi cứ như lạc loài”[9, tr.420] Đây là một kiểu người khá phổ biến trong văn học hậu hiện đại
Trong công trình Truyện ngắn Việt Nam, lịch sử, thi pháp, chân dung
Phan Cự Đệ đã đi vào tìm hiểu nghệ thuật trần thuật và phát hiện ra “Cái tôi thực nghiệm Cái tôi này giúp nhà văn thăm dò và trinh sát cuộc sống” [3, tr.779]
Trang 4Cao Kim Lan trong bài viết Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp, dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại, Tạp chí Văn học số 12/2007
khẳng định sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đã có những dịch chuyển sang một hệ hình thi pháp mới - thi pháp hậu hiện đại Tìm hiểu những truyện ngắn lịch sử, tác giả bài viết đã khẳng định “Kĩ thuật ngụy tạo lịch sử trong tâm thế chối bỏ đại tự sự của Nguyễn Huy Thiệp được tạo nên từ những chi tiết hỗn độn để tạo nên một lịch sử không trùng khít với chính sử”[7, tr 69] Tìm hiểu
về mô hình cốt truyện, tác giả bài viết nhận thấy sự gẫy vụn, phân tán, cắt dán của các sự việc và đi đến khẳng định “Phương thức đa kết phá vỡ kết cấu trung tâm của văn bản”[7, tr 75]
Trong cuốn Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại, tác giả Nguyễn Văn
Long đi tìm hiểu những đổi mới quan niệm về con người trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và đã phát hiện ra “con người như một bản thể tự nhiên với những bản năng tự nhiên, tình cảm tự nhiên”[8, tr 197] Đây là một cách nhìn con người đầy nhân bản của Nguyễn Huy Thiệp
Có thể nói các công trình nghiên cứu trên nói nhiều đến dấu ấn văn học hậu - hiện đại trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chưa đi sâu nghiên cứu từng tác phẩm một cách hệ thống Vì thế ở công trình này chúng tôi đi vào khảo sát cụ thể và hệ thống
hơn ba truyện Tướng về hưu, Phẩm Tiết, Những ngọn gió Hua Tát
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dấu ấn hậu - hiện đại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo sát ở ba tác phẩm Tướng về hưu,
Phẩm tiết, Những ngọn gió Hua Tát in trong cuốn Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (2005), Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
Trang 5Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn so sánh đối chiếu với một số tác phẩm khác
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: 4.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Với phương pháp này một mặt chúng tôi khảo sát các truyện Tướng về
hưu, Phẩm tiết, Những ngọn gió Hua Tát như một hệ thống độc lập Mặt khác
chúng tôi cũng đặt nó trong một số tác phẩm khác của Nguyễn Huy Thiệp để
có một cái nhìn toàn diện hơn
4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Trên cơ sở của phương pháp tiếp cận hệ thống chúng tôi sử dụng thao tác phân tích tổng hợp để khai thác vấn đề một cách rõ ràng hơn
4.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu
Chúng tôi khảo sát yếu tố hậu hiện đại trong các truyện Tướng về hưu,
Phẩm tiết, Những ngọn gió Hua tát nên việc so sánh với các tác phẩm của các
nhà văn khác là cần thiết Sử dụng phương pháp này sẽ giúp chúng tôi tìm ra nét đặc sắc của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
5 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của đề tài được triển khai qua ba chương sau:
Chương 1: Chủ nghĩa hậu hiện đại và những vấn đề lí thuyết
Chương 2: Dấu ấn hậu hiện đại trong Tướng về hưu, Phẩm tiết, Những
ngọn gió Hua Tát nhìn từ phương diện quan niệm về xã hội và con người
Chương 3: Dấu ấn hậu hiện đại trong Tướng về hưu, Phẩm tiết, Những
ngọn gió Hua Tát nhìn từ phương diện tổ chức văn bản
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT
1.1 Giới thuyết khái quát về chủ nghĩa hậu hiện đại
1.1.1 Khái niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại
Chủ nghĩa hậu hiện đại(CNHHĐ) là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị,… Hiện nay nó vẫn đang trong quá trình phát triển và không ngừng biến đổi Chính vì điều này mà tự thân nó không phải là một khái niệm có nội hàm nhất quán
Tùy vào đặc điểm riêng của từng quốc gia mà CNHHĐ lại có những sắc thái khác nhau và tùy từng xuất phát điểm mà mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những cách hiểu khác nhau về CNHHĐ
Trên thế giới cũng đã có nhiều quan điểm khác nhau về CNHHĐ Ở đây chúng tôi xin dẫn ra một số quan điểm tiêu biểu:
Jean Francois Lyotard với tác phẩm Hoàn cảnh hậu hiện đại đã định
nghĩa CNHHĐ trên sự khủng hoảng niềm tin vào các đại tự sự “Hậu hiện đại chính là sự hoài nghi đối với các đại tự sự” [20, tr.54] Những tư tưởng lớn ăn sâu bám rễ vào tiềm thức nay bị hoài nghi và đem ra nhận thức lại
Trang 7Cũng xuất phát từ sự bất tín đối với những tư tưởng truyền thống trong
xã hội hiện đại, Antoni Blach trong bài viết Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu
thuyết hậu hiện đại đã coi hậu hiện đại là một cuộc khủng hoảng văn hóa xã
hội, là sự chối bỏ những quy ước truyền thống Hậu hiện đại là “Cuộc khủng hoảng của những nguyên lí lớn từng khuấy động và điều hành sự ổn định của nền văn hóa, của những gì được gọi là hiện đại”[13, tr 403]
Đứng trước những vấn đề phức tạp của thời đại mới về kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội, V.L Inozemsev cho rằng hậu hiện đại ra đời là để giải quyết
và lí giải cho được tất cả các vấn đề đó “CNHHĐ nảy sinh như một tư trào trí tuệ đòi hỏi cắt nghĩa không chỉ các vấn đề kinh tế mà còn cả các vấn đề chính trị và văn hóa học” [13, tr 173]
Theo Từ điển bách khoa nhân chủng văn hóa thì CNHHĐ là một hiện
tượng xảy ra trên tất cả các mặt của đời sống tạo thành “trào lưu triết trung, khởi đầu từ mĩ học về kiến trúc và triết học, tán thành thái độ hoài nghi có hệ thống cái viễn cảnh lấy lí thuyết làm nền tảng”[13, tr 502]
Trong xu thế hội nhập toàn cầu các nhà phê bình nghiên cứu trong nước cũng đã tìm hiểu và đưa ra một số cách hiểu ban đầu về CNHHĐ:
Phương Lựu trong cuốn Lí luận văn học đã định nghĩa CNHHĐ trên ba
phương diện Thứ nhất, xét từ cơ sở xã hội và ý thức của thời đại thì CNHHĐ
là “một hiện tượng văn hóa”[9, tr 313] Dưới ảnh hưởng của những biến động thời đại “tư tưởng, tình cảm, kết cấu tâm lí con người không thể không thay đổi sâu sắc” [9, tr 314] Thứ hai, xét về mặt lí luận CNHHĐ là “một thứ hậu triết học sứ mệnh của nó không còn là đi tìm chân lí nữa”[9, tr 314] Không có tham vọng đưa ra chuẩn mực mà CNHHĐ chỉ đưa ra những khả năng có thể xảy ra trong thời đại nhiều ngẫu nhiên này Thứ ba, xét về mặt sáng tạo thành phẩm văn hóa thì CNHHĐ “được mở rộng phạm vi chưa từng
có, không phân biệt cao nhã với thông tục nữa”[9, tr.314]
Trang 8Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cũng coi CNHHĐ là “một trào lưu tư tưởng văn hóa bao trùm mọi lĩnh vực như lí luận khoa học, triết học, nhận thức luận, phê bình văn học”[4, tr 71] Không chỉ là khái niệm để chỉ một trào lưu tư tưởng
mà CNHHĐ còn là “một phản ứng tâm lí, một kiểu chiếm lĩnh thế giới, cảm thức vũ trụ, cách đánh giá những khả năng nhận thức của con người trong thế giới khách quan”[4, tr 71]
Đào Tuấn Ảnh trong bài viết Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi
Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga đã cho rằng “CNHHĐ là loại tâm
thức đặc thù thường xuất hiện vào những giai đoạn khủng hoảng trong lịch sử văn hóa, xã hội loài người Tùy vào mức độ tính chất của khủng hoảng mà quy định đặc điểm văn học nghệ thuật của từng khu vực, từng quốc gia”[1, tr.43] Như vậy CNHHĐ là sản phẩm của khủng hoảng văn hóa xã hội và nó
có tác động không nhỏ đến văn học của nhiều quốc gia
Với những quan niệm trên thì CNHHĐ có hai cách hiểu Hiểu theo nghĩa rộng thì CNHHĐ nhằm để chỉ một giai đoạn phát triển kinh tế, khoa học nghệ thuật cao của nhân loại bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc, chính trị, kinh tế… Hiểu theo nghĩa hẹp thì CNHHĐ là trào lưu văn học nghệ thuật với những phương thức sáng tạo riêng, độc đáo phát triển trong mối quan hệ với chủ nghĩa hiện đại
Trong giới hạn của khóa luận, chúng tôi xin đề xuất cách hiểu thứ hai Thuật ngữ CNHHĐ nhằm chỉ văn học nghệ thuật hậu hiện đại trong thời đại của cách mạng thông tin, của sự phát triển khoa học kĩ thuật
1.1.2 CNHHĐ và cơ sở hình thành
Cũng như các trào lưu văn hóa khác, CNHHĐ được hình thành dựa trên những cơ sở thực tiễn và những bối cảnh lịch sử nhất định
Trang 9CNHHĐ được nhắc đến như “một trào lưu văn hóa nổi lên ở phương Tây vào sau chiến tranh thế giới thứ hai”[13, tr 344] Đây là thời kì của Chủ nghĩa
tư bản muộn Hình thái kinh tế đó đã khai sinh ra xã hội công nghiệp với khoa học kĩ thuật phát triển cao độ, thông tin nhanh chóng và dần hình thành nền công nghiệp kĩ trị Xã hội bước vào thời đại hậu công nghiệp với nền văn minh máy tính dẫn đến sự bùng nổ thông tin, mọi mối quan hệ giữa con người
bị đẩy xuống hàng thứ yếu Cùng với đó mọi giá trị đều trở thành thương phẩm trao đổi buôn bán
Thêm vào đó là những biến động phức tạp của hoàn cảnh thế giới Hai cuộc chiến tranh thế giới, những cuộc chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang, làm cho thế giới luôn trong tình trạng bất ổn, mất an ninh
Xuất phát từ những cơ sở xã hội đó đã làm cho ý thức của thời đại cũng thay đổi một cách sâu sắc Những tư tưởng tình cảm, kết cấu tâm lí của con người đã đi theo một chiều hướng khác
Những cuộc chiến tranh với tham vọng làm bá chủ thế giới, những đổi thay của thời đại đã đẩy con người đến bờ vực của sự hủy diệt, niềm tin bị lung lay “không khí hoang mang, hoài nghi bi quan bao trùm lên thời đại”[20, tr.72] Niềm tin vào tương lai không còn, thực tại thì bất ổn, mọi giá trị đổ vỡ con người rơi vào bế tắc, cô đơn
Sự phát triển của khoa học kĩ thuật đã mang lại một nền sản xuất tự động cao, giải phóng sức lao động nhưng cũng đặt con người trước những thách thức mới Xã hội tiêu dùng làm cho mọi giá trị tinh thần và vật chất đều bị đánh đồng và đem ra trao đổi Thêm vào đó là sự thay đổi theo cấp số nhân của cuộc sống hiện đại buộc con người phải nhanh chóng thích ứng để tồn tại nếu không sẽ “lạc loài” Và chính những điều này đã làm cho niềm tin vào những hệ thống tư tưởng cũ - những đại tự sự đã có từ trước không còn được tin dùng Trở về với cuộc sống đời thường họ bị giằng xé bởi những suy nghĩ
Trang 10trái chiều, những toan tính đời thường, những bộn bề của đời sống nội tâm bản thể Từ đó xuất hiện những con người đa diện phức tạp đầy bí ẩn
Thời đại kĩ trị, xã hội tiêu dùng buộc con người hướng mạnh về cá nhân mình, chăm lo cho bản thể Cuộc sống bất ổn không thể đoán định và họ không chấp nhận tham gia vào các trò chơi với những quy định khắt khe nữa
mà quyết định sống theo những suy nghĩ, những ham muốn của mình Họ cảm thấy phải chấm dứt sự kiềm tỏa của những “đại tự sự” hạn chế, chật hẹp lỗi thời để hướng đến “tiểu tự sự” có phạm vi nhỏ hơn, gần hơn, có ý nghĩa với mình hơn “Con người tự kể truyện mình, tự tư duy và hành động như một phản ứng riêng tư trước những vấn đề cụ thể”[20, tr.221]
Sự thay đổi của thời đại đã dẫn đến sự thay đổi sâu sắc về ý thức xã hội,
về sự phản ứng và nhận thức của con người trong thời đại ấy Đây là những yếu tố có ý nghĩa quyết định dẫn đến sự ra đời của CNHHĐ nói chung và văn học hậu hiện đại nói riêng Sự ra đời của CNHHĐ là một tất yếu lịch sử, một nhu cầu được thể hiện không chỉ ở các nước phương Tây mà còn trên cả thế giới trong bối cảnh toàn cầu hiện nay
1.1.3 Chủ nghĩa hậu hiện đại trong sự đối sánh với Chủ nghĩa hiện đại
CNHHĐ và chủ nghĩa hiện đại (CNHĐ) có mối quan hệ mật thiết gắn bó với nhau, giữa chúng có sự giao thoa tương đồng khó tách biệt Học giả Charlet Jencks đã nói “CNHHĐ vừa là sự kế tục vừa là sự siêu việt hóa của CNHĐ”[13, tr.62] Như vậy hậu hiện đại là một khuynh hướng xuất hiện sau
và nối tiếp hiện đại Nó kế thừa những thành tựu của CNHĐ và cũng tự thân
nó tiếp biến sáng tạo ra những giá trị mới đặc sắc
Trước tiên chúng tôi xét mối quan hệ trong sự tương đồng CNHHĐ có hầu hết các ý tưởng của CNHĐ Đó là sự dung nạp các yếu tố văn hóa bác học và văn hóa đại chúng Ranh giới thể loại bị xóa nhòa, trong một tác phẩm hòa trộn nhiều thể loại khác nhau tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao Sự phân
Trang 11mảnh không liên tục được sử dụng nhiều tạo điều kiện để mỗi chi tiết là một sản phẩm hoàn thiện
Đó là những nét tương đồng ở ý tưởng Tuy nhiên giữa CNHHĐ và CNHĐ vẫn có sự khu biệt rõ nét Mỗi xu hướng xuất phát ở một nhân sinh quan và thế giới quan khác nhau vì thế chúng giống nhau ở ý tưởng nhưng khác nhau ở thái độ và cách thể hiện những ý tưởng đó Vậy điều thứ hai chúng tôi xem xét mối quan hệ giữa CNHHĐ và CNHĐ trong sự dị biệt CNHĐ ra đời đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng và sự mất mát các giá trị truyền thống Nhưng ở đó những tri thức đạt được từ khoa học, những tư tưởng lớn của thời đại vẫn được tin dùng Con người vẫn tin vào những “đại tự sự”, tin vào sự ổn định của thế giới thông qua những quy luật lí tính của tri thức Vì thế họ ra sức đi tìm lời giải đáp cho những vấn nạn của thời đại Không chấp nhận sự đổ vỡ, manh mún họ muốn thiết lập một trật tự bền vững hướng đến một thế giới lí tưởng Chính vì điều này mà con người hiện đại luôn “muốn đứng ở vị trí khách quan, bên trên và bên ngoài khối hỗn mang của thế giới để làm chủ nó và điều chỉnh nó theo một trật tự lí tưởng”[13, tr.222] Với tư thế ấy CNHĐ đã phân mảnh những hình ảnh, những hệ thống giá trị rồi sau đó xếp những mảnh ấy theo một trật tự mới theo tư tưởng chủ quan của người sáng tạo
CNHHĐ được xây dựng trên một thế giới nhiều bất ổn Ở đó mọi giá trị vật chất và tinh thần không còn có ý nghĩa, mối quan hệ giữa con người trở nên lỏng lẻo Không còn tin vào đại tự sự, con người hậu hiện đại muốn thiết lập những tiểu tự sự của riêng mình “tự kể chuyện mình, tự tư duy” Sức mạnh gò ép của đại tự sự không còn, ý đồ tạo dựng hệ thống trung tâm biến mất, CNHHĐ chấp nhận mảnh vỡ, xóa bỏ những chân lí giả tạo chấp nhận hiện thực như nó vốn có Nếu hiện đại muốn gắn kết những cái hỗn mang
Trang 12thiết lập trật tự lí tưởng thì hậu hiện chấp nhận bản chất của thế giới là hỗn mang, chấp nhận mảnh ghép
Với mong muốn vươn tới một thực tại thuần khiết những hình thức của CNHĐ mang tính nghiêm túc trang trọng, tính mục đích và chiến đấu Còn CNHHĐ lại sử dụng những dạng của trò chơi ngôn ngữ, ở đó mỗi trò chơi lại
có một luật chơi riêng đem đến những ý nghĩa riêng khả biến Vì thế nếu CNHĐ có thể đem đến một tư tưởng thống nhất, một cách giải mã chung thì CNHHĐ lại chống lại sự diễn giải mà đưa ra những khả thể tùy vào từ điển bách khoa của mỗi người mà tự giải mã cho phù hợp
Với những quan niệm khác nhau ấy đã dẫn đến cách tiếp cận và cách thể hiện của hai khuynh hướng cũng khác nhau Để làm rõ hơn sự khác biệt của CNHĐ và CNHHĐ chúng tôi xin dẫn ra sơ đồ phân biệt của Hassan – một trong những nhà lí luận hậu hiện đại tiêu biểu
Chủ nghĩa hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại
Chủ nghĩa lãng mạn, Chủ
nghĩa tượng trưng
Paraphysics / Chủ nghĩa Đa đa
Hình thức (liên kết, đóng) Phản hình thức (không liên kết,
mở)
Tôn ti trật tự Hỗn loạn vô chính phủ
Quyền chi phối / biểu tượng Sự cạn kiệt / im lặng
Trang 13phản đề
Thể loại / ranh giới Văn bản / liên văn bản
Ngữ nghĩa học Tu từ học
Mẫu (hệ biến hoá) Cú pháp
Câu phụ thuộc Câu đẳng lập
Giải thích / hiểu Phản giải thích / khó hiểu
Văn bản độc giả Văn bản nhà văn
Bản gốc / nguyên nhân Bản sao / dấu vết
Đức chúa Cha Chúa Thánh thần
Lập luận thái quá Mỉa mai
Xác định rõ Không xác định rõ
Tính siêu việt Phẩm chất vốn có
Trang 141.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học
1.2.1 Đặc điểm văn học hậu hiện đại
Văn học hậu hiện đại là khuynh hướng tiếp nối của chủ nghĩa hiện đại
“ra đời gắn với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin, của khoa học kĩ thuật… được thể hiện trên cả ba phương diện thơ, kịch, văn xuôi” [13,
tr 424] Vì thế nó mang trong mình những đặc điểm riêng biệt của thời đại
Đó là tính “đa trị, huyền ảo, lắp ghép, mảnh vỡ, cực hạn, độ căng, hạn chế tối
đa vai trò của người kể chuyện”[13, tr.421] Ở đó các nhà văn hậu hiện đại dấn thân trải nghiệm và đương đầu với mọi rào cản để hướng đến sự tự do Một tác phẩm văn chương hậu hiện đại phải chuyên chở cảm quan hậu hiện đại Cảm quan hậu hiện đại thứ nhất là kiểu cảm nhận thế giới đặc biệt
“cảm giác về thế giới như một sự hỗn độn”[13, tr.8] Đó là sự khủng hoảng niềm tin, bất tín đại tự sự Con người trong văn học hậu hiện đại hoài nghi về một thế giới lí tưởng Họ đánh đổ những cái toàn tri lớn lao mang tính phổ quát mà thiết lập những “thí nghiệm và ứng dụng ở quy mô đoản kì và thiết thực”[13, tr 227] Đó là những tiểu tự sự gần gũi với đời sống thực Con người hậu hiện đại không cố gắng đi tìm và xây dựng một hiện thực toàn mĩ
mà chấp nhận sự tạm thời không hoàn chỉnh của hiện thực với những chiều kích đường nét vốn có
Thứ hai, cảm quan hậu hiện thể hiện ở lối viết hậu hiện đại Ưa thích những tiểu tự sự vì thế tác phẩm hậu hiện đại “dung nạp rất nhiều các sự kiện các chi tiết của cả truyền thống lẫn hiện đại, không phân biệt văn hóa bác học
và văn hóa bình dân”[13, tr.199] Các sự kiện chi tiết này như những mảnh vỡ đặt cạnh nhau một cách ngẫu nhiên và dường như không có liên hệ gì với nhau Chúng bị phá vỡ mọi trật tự, xáo tung mọi mạch lạc Nhưng chính sự ngẫu nhiên, phi liên kết đó lại là một thủ pháp nghệ thuật quan trọng Nó tạo điều kiện để mỗi chi tiết tương ứng với một mảnh vỡ là một tâm điểm hoàn
Trang 15chỉnh, chính tự bản thân nó đã chứa đầy khả năng diễn dịch Điều này đã phá
vỡ tính trung tâm của tác phẩm, không có chi tiết nào giữ vai trò điều phối, cũng không có cao trào và cũng không có kết thúc nhất định Tác phẩm sẽ có cái kết mở, chuyện không kết thúc mà chỉ đưa ra những khả năng có thể có của một thời đại mà sự phân rã niềm tin vào sự thống nhất đang lớn dần Nhân vật trong văn chương hậu hiện đại không còn là những nhân vật trung tâm, không còn là những hình mẫu lí tưởng của thời đại mà “chỉ còn là những bóng ma”[7, tr 74] Nhà văn không đi khai thác một chiều mà chủ yếu miêu tả sự phức tạp của những hoạt động, của ý nghĩ suy tư Từ đó nhân vật hiện lên với những đa diện phức tạp phong phú trong đó có cả “thiên thần và
ác quỷ, rồng phượng lẫn rắn rết” Nhân vật được xây dựng theo kiểu phản nhân vật Các nhân vật không được miêu tả một cách cụ thể, không được định danh rõ ràng bởi họ không là ai nhưng lại là tất cả, họ mang những đặc tính của bản thể con người chứ không đại diện cho một giai cấp hay tầng lớp nào Trong văn chương hậu hiện đại nổi lên nhiều điểm nhìn trần thuật Mỗi nhân vật là một điểm nhìn khác nhau Nhà văn đặt nhân vật ngang hàng với mình để các nhân vật đưa ra nhiều quan điểm, nhiều suy nghĩ về hiện thực từ
đó tạo nên nhiều điểm nhìn về cuộc đời “Cuộc đời là nghiêm túc nhưng cũng
là một cuộc chơi, cuộc thể nghiệm của những cái tôi nhỏ bé”[13, tr 428] Mỗi cái tôi lại có một cách cảm nhận và phát biểu về cuộc đời khác nhau Sự đa trị hóa trần thuật đã tạo nên cho tác phẩm sự đa trị hóa cái nhìn về cuộc đời Điều này cũng tạo nên hiệu ứng đồng sáng tạo ở người đọc Mỗi người đọc tùy theo từ điển bách khoa của mình mà có những cách lí giải về con người và hiện thực khác nhau Đặc điểm này đã dẫn đến “cái chết của tác giả”, tác giả không dẫn dắt người đọc theo luồng tư tưởng của mình mà để người đọc tự do cảm nhận, suy tưởng
Trang 16Văn chương hậu hiện đại thường sử dụng giọng điệu triết lí và giễu nhại Đứng trước những vấn nạn của thời đại và những tư tưởng đã lỗi thời, sử dụng giọng điệu triết lí và giễu nhại là cách tốt nhất để phá tan rào cản , giải thiêng những đại tự sự Giễu nhại, triết lí bày tỏ cái nhìn hoài nghi của tác giả
về thế giới
Tác phẩm hậu hiện đại mang những ngôn từ bất thường Các cây bút hậu hiện đại cố gắng tìm tòi sáng tạo ra những “cách chơi ngôn ngữ” sao cho diễn đặt được một cách chân xác cái hiện thực thậm phồn, bất ổn khó đoán định, những bản thể luận với những phức tạp bí ẩn không thể khám phá tận cùng Những kí hiệu, những con số, những khoảng trống, những câu đơn rời rạc… được sử dụng nhiều
Văn chương hậu hiện đại cũng xóa mờ ranh giới thể loại Trong một tác phẩm kết hợp nhiều thể loại Đường biên giữa tiểu thuyết, thơ, truyện ngắn, kịch… dường như không còn “Khái niệm thể loại dường như chỉ còn mang ý nghĩa gượng ép”[13, tr.28] Đó là cách để cảm nhận một thế giới thậm phồn hiệu quả nhất
Sự dung nạp nhiều chất liệu, nhiều thể loại, nhiều tri thức đã khiến cho tác phẩm hậu hiện đại có tính liên văn bản “Văn bản này là hệ quả của một văn bản nào đó trong lịch sử và đến lượt mình nó lại đóng vai trò tiền văn bản của bất kì văn bản nào tiếp theo” [13, tr 32] Sự lí giải của văn bản phải dựa vào những văn bản trước đó và những văn bản liên quan đến nó Muốn lí giải cho xác đáng thì cần phải huy động hết những tri thức liên quan
Trên đây chúng tôi đã điểm qua đôi nét về văn học hậu hiện đại Đây chỉ
là những đánh giá ban đầu nhưng cũng phải thấy rằng văn học hậu hiện đại là một thứ văn học “đầy sinh lực và khát vọng”[13, tr 411] Nó đề kháng trước những tư tưởng đã lỗi thời, phá vỡ mọi quy chuẩn văn hóa, đề cao sự tự do
Trang 171.2.2 Dấu ấn hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
Sau khi đất nước thống nhất con người trở về với cuộc sống đời thường phồn tạp tốt - xấu, trắng - đen lẫn lộn Cũng với đó là sự trở lại của ý thức cá nhân mà trước kia trong điều kiện chiến tranh họ phải quên đi Các giá trị thời chiến không còn thích hợp, giá trị mới chưa hình thành các văn nghệ sĩ nhận thấy phải thay đổi cách viết và cách nghĩ cho phù hợp Và nhu cầu đó đã được đáp ứng được bởi Đại hội Đảng VI Với chính sách mở cửa giao lưu, các trào lưu văn học thế giới đã du nhập vào Việt Nam trong đó có CNHHĐ
Dấu ấn hậu hiên đại trong tiến trình Văn học Việt Nam sau 1975 thể hiện
ở sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực, con người, phương thức thể hiện
Quan niệm về hiện thực nay đã khác trước Hiện thực được nhìn ở “nhiều chiều, đa diện sâu sắc hơn, những mặt trái mặt khuất lấp, những cái tiêu cực được phát hiện” [6, tr 196] Hiện thực lí tưởng nay không còn thay vào đó là một hiện thực đổ vỡ, vô nghĩa, mọi giá trị vật chất, tinh thần nay bị đảo lộn và trở nên khủng hoảng Hiện thực này được thể hiện rõ trong những sáng tác
của Phạm Thị Hoài với các tác phẩm Thiên sứ, Ám thị, Chín bỏ làm mười, Nguyễn Huy Thiệp với Chảy đi sông ơi, Tướng về hưu, Tạ Duy Anh với Giã
biệt bóng tối, Lão khổ …
Bên cạnh kiểu hiện thực kiểm chứng được xuất hiện hiện thực ảo giác của tâm linh “hiện thực ấy được tạo ra bằng trí tưởng tượng của người viết nhằm làm thay đổi kinh nghiệm một chiều về hiện thực, khơi gợi suy ngẫm và kích thích tưởng tượng đối thoại” [6, tr 196] Tiêu biểu là những sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp với Giọt máu, Sói trả thù, Châu Diên với Người Sông Mê, Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Phạm Thị Hoài với Thiên sứ…
Khai thác hiện thực ở khía cạnh đời tư, khía cạnh đời sống cá nhân từ đó nêu lên những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh phổ quát Những sáng tác của
Trang 18Nguyễn Minh Châu với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Lê Lựu với Thời xa vắng, Thái Bá Lợi với Không phải trò đùa, Nguyễn Huy Thiệp với Những ngọn gió Hua Tát, Nguyễn Thị Thu Huệ với Hậu thiên
đường…
Bên cạnh sự thay đổi quan niệm về hiện thực thì quan niệm về con người nay cũng khác trước Dòng chảy đời thường ở thời đại ý thức cá nhân phát triển tạo cho con người một diện mạo mới: phong phú phức tạp nhiều bí ẩn việc chiếm lĩnh hết đời sống của mỗi cá thể - tiểu vũ trụ là không thể Mỗi người có một cá tính, một suy nghĩ, một số phận riêng không giống nhau
Trong truyện Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp có con người cô đơn lạc lõng, truyện Nỗi buồn chiến tranh có con người bất an lạc loài
Ý thức cá nhân có điều kiện trỗi dậy, con người xuất hiện với tính đa diện của những mặt đối lập phức tạp dung chứa cả “rồng phượng lẫn rắn rết” làm cho họ trở nên “đời hơn”, thực hơn Một con người lỗ mãng táo tợn như
ông Bổng trong truyện Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp cũng “òa khóc”
khi được gọi là “người” Một người phụ nữ tuy thực dụng chạy theo đồng tiền
nhưng vẫn có những mặt đáng kính trọng trong Mùa lá rụng trong vườn của
Ma Văn Kháng Một lão Khúng bảo thủ gia trưởng nhưng cũng là một nông
dân cần mẫn, yêu lao động trong truyện Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh
Trang 19Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người mang dấu ấn hậu hiện đại kéo theo đó là dấu ấn hậu hiện đại trong hệ thống miêu tả, phương thức thể hiện
Dấu ấn hậu hiện đại trong cách xây dựng nhân vật Quan niệm về con người đã chi phối đến cách xây dựng nhân vật Các nhà văn tiết giản hóa nhân vật – làm mỏng nhân vật đến mức tối đa đôi khi chỉ còn là các “phản nhân vật” Các nhân vật chỉ là các kí hiệu hoặc các hình bóng hư ảo mờ nhạt Tiêu
biểu các là sáng tác của Tạ Duy Anh với Thiên thần sám hối, Nguyễn Bình Phương với Thoạt kì thủy…
Việc tạo ra nhiều điểm nhìn trần thuật và dịch chuyển liên tục tạo ra tính dân chủ khiến người đọc không bị áp đặt chân lí Mỗi điểm nhìn trần thuật là một ý thức độc lập qua đó sự việc và con người được nhìn nhận từ nhiều phía Tăng điểm nhìn trần thuật tác phẩm văn học hướng tới cấu trúc mở, đa thanh Sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Huy Thiệp…
Ngôn ngữ được sử dụng tự do không giới hạn Trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương… ngôn ngữ của tất cả các mặt của đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị được sử dụng tối đa để làm sao diễn tả cho được những suy nghĩ, những góc cạnh sâu kín của hiện thực và đời sống con người Ngôn từ hiện thực –đời thường đậm chất khẩu ngữ được gia tăng nhằm chuyển tải một cách hiệu quả trạng thái vận động mãnh liệt và phức tạp, xô bồ của đời sống đương đại
Dấu ấn hậu hiện đại còn có ở giọng điệu Giọng văn đa dạng trong đó đặc biệt là giọng giễu nhại và triết lí Hai chất giọng ấy nó chống lại tinh thần của thời hiện đại, chống lại các quy phạm trói buộc
Các kĩ thuật lồng ghép, cắt dán, đồng hiện, dòng ý thức, nghịch dị, kì ảo phi lí, hình thức giả cổ tích, giả huyền thoại, giả lịch sử… đã tạo ra một “hiện
Trang 20thực thứ hai”[6, tr.202] Đặc điểm này được thể hiện rõ trong sáng tác của Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hòa Vang…
Như vậy Văn học Việt Nam sau 1975 đã mang một số dấu ấn văn học hậu hiện đại nhất định Điều này cho thấy sự tiếp thu và tiếp biến trào lưu văn học hậu hiện đại trong sự phát triển của tiến trình Văn học Việt Nam
1.2.3 Dấu ấn hậu hiện đại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng văn học độc đáo trên văn đàn Văn học Việt Nam Ông viết nhiều nhưng nổi lên đó là truyện ngắn Những truyện ngắn của ông đã thu hút sự quan tâm của đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình Viết truyện ngắn ông tập trung vào các mảng đề tài:
Đề tài về lịch sử và văn học: Kiếm sắc, Vàng lửa…
Đề tài miền núi: Những ngọn gió Hua Tát, Muối của rừng…
Đề tài thành thị:Tướng về hưu, Cún…
Đề tài nông thôn: Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn…
Với những sáng tác của mình Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên sự độc đáo,
kì lạ mà lại là “hai lần kì lạ”- nội dung lạ, nghệ thuật lạ Sự kì lạ đó có dấu ấn của CNHHĐ
Ở nội dung phản ánh Nguyễn Huy Thiệp luôn thể hiện một hiện thực đổ
vỡ, không tôn ti trật tự Hiện thực không phải là một thứ hiện thực lí tưởng
mà là một hiện thực trần trụi với tất cả các mặt như nó vốn có Một hiện thực dung nạp nhiều mặt đối lập, đa chiều kích Ở đó nổi lên là sự đổ vỡ vô nghĩa Mọi giá trị đều không còn là chuẩn mực và bị phủ nhận.Tiêu biểu là truyện
Những người thợ xẻ, Phẩm tiết, Cún, Tướng về hưu…
Đi sâu tìm hiểu con người Nguyễn Huy Thiệp chú trọng những cá tính của họ, những đặc trưng riêng của họ mà cũng là của cả loài người Kinh tế thị trường phát triển mọi giá trị đạo đức không còn, con người rơi vào cô đơn
trong cuộc sống trần thế Trong Tướng về hưu ông Thuấn cảm thấy “Sao tôi
Trang 21cứ như lạc loài”, không thể hòa hợp ông xa lạ với cả người thân trong gia
đình Trong chùm truyện Những ngọn gió Hua tát, lão thợ săn “sống cô đơn bên người vợ âm thầm” Trong Vàng lửa Nguyễn Phúc Ánh cũng cô đơn
“Nhà vua là một khối cô đơn khổng lồ”
Bên cạnh con người cô đơn Nguyễn Huy Thiệp còn cho thấy kiểu con người thực dụng tha hóa về nhân cách Họ sống trong một thế giới hỗn tạp xô
bồ, mất trật tự và cũng từ đó mà nhân cách bị xói mòn, tâm hồn bị vấy bẩn
Trong Không có vua gia đình lão Kiền là tập hợp những phần tử sa đọa về
phẩm chất Bố chồng bắc ghế xem trộm con dâu tắm, em chồng gạ gẫm chị
dâu…Trong Tướng về hưu cô Thủy là một con người trục lợi một cách tỉnh
táo và tàn nhẫn khi mang thai nhi về nuôi chó Con người ở đây được nhìn dưới góc độ đời thường với những tính toán, những suy nghĩ rất thường, rất thực
Kiểu con người lưỡng diện cũng được Nguyễn Huy Thiệp nói đến nhiều Mỗi bản thể là một tiểu vũ trụ dung chứa những mặt đối lập: đẹp –xấu, thiện –
ác, hạnh phúc –khổ đau Ông Bổng trong Tướng về hưu là một con người “lỗ
mãng táo tợn phi nhân bất nghĩa” nhưng đã “òa khóc ” khi được gọi là
“người” Lão Bường trong Những người thợ xẻ hiếp dâm Quy nhưng cũng có
những suy nghĩ đầy nhân tính “Bà chị coi chúng em là súc vật Chúng em phận hèn của cải chẳng có Chúng em mắc nợ nghĩa tình thì khốn nạn lắm” Với cách khai thác như vậy Nguyễn Huy Thiệp đã chạm đến chỗ nhân bản nhất của con người
Nguyễn Huy Thiệp luôn đi sâu vào phần tự nhiên, phần bản thể, bản
năng trong mỗi con người Nhân vật trong các truyện: Những ngọn gió Hua
Tát, Không có vua, Biển không có thủy thần… đã khẳng định sức mạnh bản
năng tự nhiên của con người
Trang 22Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn mang nhiều tính chất lịch sử Ở đây nhà văn đã dùng hiện tượng “giả lịch sử” để giải thiêng cho những gì được gọi là chuẩn mực tôn quý và phơi bày bộ mặt thật của hiện thực đời sống và con người Trong các truyện ngắn của mình Nguyễn Huy Thiệp đã dùng những sự kiện, nhân vật lịch sử có thật nhưng đưa thêm những chi tiết đời
thường để đi sâu vào “phần tự nhiên” trong mỗi con người Trong Kiếm sắc
nói đến chúa Nguyễn trong những năm phục cơ đồ với những toan tính rất đời
thường, trong Vàng lửa Gia long và Nguyễn Du qua bút kí của Phăng, trong
Phẩm tiết nói về Quang Trung và Gia Long với những sai lầm, ham muốn
trần tục
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang nhiều yếu tố kì ảo Đó là những
sự kiện, chi tiết, những câu chuyện con người có những yếu tố kì ảo siêu phàm của những truyện cổ tích Nhưng không đi theo sự kết thúc viên mãn “ở hiền gặp lành” trong cổ tích dân gian mà để cho nó tự nhiên như nó vốn có Yếu tố kì ảo đó tạo nên cái nhìn đa chiều về hiện thực cuộc sống Cuộc sống không thể chỉ lí giải bằng tri thức khoa học mà còn phải dựa vào cảm nhận,
vào trực giác Tiêu biểu là các truyện Con gái thủy thần, Chảy đi sông ơi,
Những ngọn gió Hua Tát…
Ở nghệ thuật thể hiện, Nguyễn Huy Thiệp đã mang đến cái chất mà trong Văn học Việt Nam lâu nay thiếu “chất kiêu bạc tàn nhẫn cay đắng”[11, tr 466] Với những câu đối thoại ngắn gọn sắc lạnh và những từ ngữ suồng sã của đời thường đã phơi bày được những sự thật trở trêu ngang trái của hiện
thực một cách khách quan Tiêu biểu là các truyện Không có vua, Đời thế mà
vui, Tướng về hưu…
Nguyễn Huy Thiệp đã phá vỡ ranh giới thể loại, truyện ngắn của ông kết hợp cả thơ và văn xuôi Điều này không mới nhưng cái mới ở đây là tính chất của việc sử dụng Những vần thơ cũng chính là những ý đồ của tác giả,
Trang 23bộc lộ tiếng nói sâu kín của người viết Tiêu biểu là các truyện Thoáng chút
Xuân Hương,Thương nhớ đồng quê, Phẩm tiết…
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang tính đa thanh tạo ra nhiều quan điểm, nhiều tư tưởng khác nhau Nhà văn không là người áp đặt tư tưởng mà
để cho người đọc tự tranh luận, tự suy ra tư tưởng cho riêng mình Nhà văn đứng ngang hàng với độc giả và để độc giả tự do ngôn luận theo ý của mình
Truyện Vàng lửa tác giả đưa ra những cái kết khác nhau tùy sự lựa chọn, truyện Chảy đi sông ơi nhà văn để tự người đọc suy ngẫm về số phận của điều
thiện, của cái đẹp trong xã hội hiện nay
Như vậy với những sáng tác của mình Nguyễn Huy Thiệp đã đem đến cho Văn học Việt Nam những đổi mới “kì lạ” ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp đã góp sức để văn học Văn học Việt Nam bước những bước chân vững chắc đến CNHHĐ
Trang 24CHƯƠNG 2
DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TƯỚNG VỀ HƯU, PHẨM
TIẾT, NHỮNG NGỌN GIÓ HUA TÁT- NHÌN TỪ NHÌN TỪ
PHƯƠNG DIỆN QUAN NIỆM VỀ XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI
2.1 Dấu ấn hậu hiện đại trong cách nhìn nhận hiện thực xã hội
2.1.1 Hiện thực xã hội hỗn độn, đa chiều kích
Sau chiến tranh hiện thực đời sống đã khác trước Đó không phải là thứ hiện thực mơ ước xuôi chiều mà là một hiện thực phồn tạp với đầy đủ mọi chiều kích như nó vốn có Nhà văn nhìn hiện thực ở nhiều lăng kính khác nhau và mỗi lăng kính lại cho ra những mảnh, những lát cắt sống động của hiện thực Ở đó cái tốt, cái thiện, cái hợp lí đan xen với cái tiêu cực, cái xấu, cái bất hợp lí
Bằng cái nhìn thấu đáo về cuộc sống, Nguyễn Huy Thiệp đã chọn lấy cho mình những “tiểu tự sự” để phản ánh Gạt đi những “đại tự sự” lớn lao phổ quát mà nắm lấy những hiện tượng, những hành vi quan hệ của đời sống thường ngày để tạo nên một hiện thực hỗn độn, đa chiều kích mang đậm cảm quan hậu hiện đại
Quay trở với cái muôn vẻ hàng ngày của cuộc sống thành thị trong
truyện Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp đã đưa ống kính máy quay đi đến
mọi ngóc ngách của đời sống và phát hiện những góc khuất, những khoảng tối
Trang 25của đời sống nhiều xô bồ, phức tạp ấy Đằng sau cuộc sống đủ đầy khá giả của gia đình ông Thuấn là những vùng mờ tối của một xã hội hiện đại thu nhỏ Là một gia đình với những mối quan hệ ruột thịt theo đúng nghĩa của nó Ông Thuấn luôn là niềm vinh dự tự hào của gia đình vì thế đối với người con trai cha là người “tôi đã chịu ơn về đủ mọi mặt”[14, tr 15], đối với con dâu cha luôn là “tướng” Mối quan hệ gia đình ấy có trước sau, có thứ bậc nhưng dường như tất cả chỉ là vẻ bề ngoài Sâu bên trong các mối quan hệ này là cả một hiện thực đa dạng, nhiều chiều kích Thủy chăm lo kinh tế gia đình bằng cách mang thai nhi về nuôi chó đã khiến ông Thuấn khóc và chối bỏ “Tao không cần sự giàu có này”[14, tr 20] Nhân vật tôi – anh Thuần là “một người khá cổ hủ và đầy bất trắc”[14, tr 16] Anh không gánh vác được công việc gia đình mà suốt ngày vùi đầu vào công việc Hai đứa cháu Mi và Vi thì vùi đầu vào việc học nên cũng “ít gần ông nội”[14, tr 17] Mỗi người có một mục đích, một ham muốn riêng và họ chạy theo những ham muốn ấy mà quên
đi những người xung quanh Họ liên kết với nhau bằng trách nhiệm và thói quen mà không phải bằng sự đồng cảm, sẻ chia Mỗi người là mỗi lát cắt của cuộc sống làm nên sự đa diện của hiện thực
Hiện thực không đơn giản xuôi chiều mà nó là sự dung nạp của nhiều mặt đối lập đầy cay đắng mà lâu nay người ta ngại nói Đó là cuộc chiến tranh
vĩ đại nhưng cũng nhiều đau thương mất mát với những cuộc ‘hôn nhân không tình yêu”[14, tr 15] và sự “xa cách biền biệt”[14, tr 15] Đó là đám cưới ngoại ô “khá dung tục và lố lăng”[14, tr 19] Đó là chuyện trinh tiết trong xã hội hiện đại khi mà “Kim Chi sinh cháu chỉ chục ngày sau khi cưới”[14, tr 19] Mỗi lát cắt đời sống ấy tạo nên cái muôn vẻ, cái phức tạp đa diện của hiện thực xã hội hiện đại
Không chỉ có một hiện thực phồn tạp, đa chiều kích ở chốn thành thị náo nhiệt mà còn tồn tại ở những thôn bản hẻo lánh xa xôi tưởng như cách
Trang 26biệt với thế giới bên ngoài Trong chùm truyện Những ngọn gió Hua Tát mỗi
câu chuyện là một chủ đề khác nhau, một hiện thực khác nhau dung nạp nhiều
sự tình của cõi nhân gian Trong truyện ngắn Trái tim hổ có những nghịch
cảnh thật trở trêu Cái bản nhỏ Hua Tát là nơi dung chứa một tình yêu cao thượng của chàng Khó với nàng Pùa, tình yêu là động lực để Khó đi săn trái tim hổ dữ “lấy thuốc về chữa bệnh cho Pùa”[14, tr.199] Hiện thực tình yêu
ấy có lẽ chỉ có trong cổ tích, trong một thế giới đã cách biệt với toan tính đời thường Thế nhưng chính không gian ấy lại là nơi bao nỗ lực và hi vọng tiêu tan Khi Khó săn được hổ dữ thì trái tim hổ đã bị đánh cắp Mục đích có khác nhau đi chăng nữa thì số phận của Khó cũng như những người săn đuổi bao điều phù du khác “Thêm hai người chết dần sau câu chuyện ấy Hai người ấy
là Pùa và Khó”[14, tr 200]
Trong tiểu truyện Nàng Bua, một sự đa diện về lối sống chối bỏ “nền
nếp cổ truyền” được hiện lên Với vẻ đẹp của mình nàng Bua làm khuấy đảo nền nếp của từng gia đình trong bản để rồi xây dựng cho mình một gia đình quái gở ‘Vợ không chồng, con không bố! Chín đứa con! Chín đứa mà chẳng đứa nào giống đứa nào”[14, tr 203] Đàn ông bỏ rơi nàng, đàn bà thì “nổi khùng, rít lên những lời khinh bỉ”[ 14, tr.203] Họ tìm cách đuổi nàng ra khỏi bản nhưng “gia đình đông đảo của nàng vẫn sống vui vẻ hòa thuận” Sức ép của nền nếp tưởng như sẽ khiến cho gia đình nàng sẽ mãi bị ghẻ lạnh nhưng khi nàng đào được nhiều vàng lập tức nền nếp ấy được phá bỏ “Các bà vợ giục chồng đi nhận con về”[14, tr 204] Như vậy xét cho cùng trong xã hội đồng tiền thì nền nếp cổ truyền cũng đứng hàng thứ yếu Cuộc đời nhiều sự bất ngờ, nàng Bua đã lấy chồng, đã vào nền nếp nhưng nàng đã chết khi sinh
nở trong “sự đủ đầy và nền nếp cổ truyền”[14, tr.204] Hiện thực cuộc đời không xuôi chiều của nàng Bua cũng là hiện thực về cuộc sống con người nhiều phức tạp và bất ngờ
Trang 27Quay trở về với những truyện lịch sử, một thực tại phì đại dung nạp
nhiều đường nét cũng hiện lên rõ rệt trong truyện Phẩm tiết Nói về vua
Quang Trung, về Gia Long nhưng Nguyễn Huy Thiệp lại đưa vào những mặt rất đời thường mà những mặt đời thường đó mới là nơi nói lên bản chất con người và cuộc sống Nguyễn Huy Thiệp mượn việc Nguyễn Huệ cho mời các danh nhân thế phiệt trong thành đến dự tiệc để phơi bày một hiện thực về thói đời đầy toan tính “Chớ băn khoăn việc cơ hội hay không cơ hội Điều ấy vô nghĩa(…) Lẽ đời là phải phù thịnh Ta không phù Quang Trung sợ cơ ngơi này khó bảo toàn”[14, tr 159] Cuộc đời không chỉ là chuyện cơ hội mà còn
là sự quyến rũ của vật chất Quang Trung mở tiệc xem ra cũng rất coi trọng việc biếu quà “Khách dự tiệc lần lượt cho dâng các lễ mừng(…)Vua Quang Trung đứng xem trầm trồ thán phục”[14, tr.162] Sự hỗn độn của đời sống còn thể hiện ở sự lừa lọc xảo trá, hãm hại của người đời Ngô Khải bị chết oan bởi một tên lái trâu “Sâm là tên đểu cáng từ lâu đã có ý hại chủ, chuẩn bị lễ vật cho Khải, Sâm cho vào rương hòm toàn những đồ vàng bạc giả”[14, tr.159] Thời đại rối ren thật giả lẫn lộn trên dưới không còn thứ bậc Vì lòng tham của mình Hoàn đã lừa vua Gia Long, hắn cướp được nhiều cung tần mĩ
nữ và vàng bạc nhưng khi được hỏi hắn che giấu “Tây Sơn làm gì có của, chỉ
có chuột” [14, tr 163]
Bản thể cuộc sống được bóc tách và mổ xẻ từ những “tiểu tự sự” lấy từ cuộc sống đời thường Ở đó Nguyễn Huy Thiệp đã nói lên bản chất cuộc sống trong các mối quan hệ đan cài chồng chéo đầy phức tạp và hỗn độn Hiện thực dưới cảm quan hậu hiện đại không phải lá thứ “hiện thực mơ ước” mà là một hiện thực với nhiều lát cắt, mảnh vỡ trái chiều dung chứa nhiều vần đề của xã hội hiện đại đầy phức tạp Hiện thực ấy không chỉ xuất hiện trong ba truyện
Tướng về hưu, Phẩm tiết, Những ngọn gió Hua Tát mà còn có trong truyện Chảy đi sông ơi, Huyền thoại phố phường, Bài học ở nông thôn…
Trang 282.1.2 Hiện thực xã hội đổ vỡ, vô nghĩa
Thời đại đã đổi thay, cuộc chiến đấu cho quyền sống của dân tộc đã kết thúc, hiện thực mơ ước với những lí tưởng lớn lao không còn tồn tại Lúc này một hiện thực về thế sự nhân sinh phải hiện ra như là chính nó Nguyễn Huy Thiệp cũng như nhiều nhà văn khác: Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương…đều nhận ra rằng hiện thực cuộc sống là những ngổn ngang và đầy rẫy những biến động Những chân giá trị đang bị lung lay, những sự thật
cố tình bị che giấu nay được bóc trần và để rồi một hiện thực với nhiều đổ vỡ hiện ra Hiện thực là những câu chuyện vô nghĩa về cuộc đời, là sự cô đơn lạc loài, là sự xáo trộn trật tự, là sự băng hoại các giá trị đạo đức…
Nếu thế giới vô hồn là câu chuyện xuyên suốt toàn bộ sáng tác của Phạm Thị Hoài thì “cuộc đời vô nghĩa là tứ truyện chi phối mạch vận động của câu chữ, hình ảnh trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp”[12, tr.15] Viết
về những cái vô nghĩa của đời sống, truyện ngắn Tướng về hưu là một xã hội
hiện đại thu nhỏ với sức mạnh của đồng tiền đang dần ngự trị tất cả Chiến tranh với sự xa cách biền biệt đã làm mọi người trong gia đình hiểu ít về nhau
“Tôi chẳng biết gì về cha mình cả”[14, tr 15] Tình thân từ lâu đã không được gắn kết giờ đây nó lại được đặt trong một xã hội thị trường với những toan tính mưu sinh lại càng làm cho tình cảm ấy lặn sâu và biến mất Bởi vậy anh con trai thừa nhận “Khi lớn lên tôi chẳng biết gì về cha mình cả”, còn cô con dâu thì “biết rất ít”, các cháu “rất ít gần ông nội”[14, tr 17] Tình cảm gia đình rạn vỡ, mỗi người là một tiểu vũ trụ tách rời không có điểm giao, mọi sự giao tiếp đối thoại dường như chỉ là trách nhiệm và thói quen
Tình người ngày càng phai nhạt, lòng trắc ẩn lặn sâu và ngủ yên để cho lòng ham muốn, dục vọng ngoi lên ngự trị Ông Bổng một con người “lỗ mãng táo tợn” đã gian dối tiền làm ma chị Không chút thương xót người quá
cố mà chỉ ham trục lợi, lão tiếc rẻ bộ ván “Mất mẹ bộ xa lông Ai lại đóng
Trang 29quan tài bằng gỗ dổi bao giờ? Bao giờ bốc mộ cho chú bộ ván”[14, tr 23] Cảnh đam tang là sự bát nháo, thiếu tình người Đám đô tùy thì “vừa đi vừa hút thuốc, tán chuyện(…) đứng ngồi ngổn ngang bên quan tài”[14, tr 24] Còn cô con dâu thì thực dụng đến tàn nhẫn, giữa đám tang Thủy bảo chồng
“Ba mươi hai mâm Anh phục em tính sát không”[14, tr 25] Với suy nghĩ đầy lí trí “cái chết sẽ đến với chúng ta, chẳng trừ ai cả” thì việc ra đi của bà Thuấn là lẽ thường Cái chết chỉ là quy luật của tạo hóa mà xã hội hiện đại chấp nhận một cách nhẹ nhàng, bình thản, ít cảm xúc
Phản ánh những băng hoại đạo đức trong xã hội, Nguyễn Huy Thiệp đi
vào những chuyện bình thường của đời sống mưu sinh hàng ngày Đọc Tướng
về hưu ta thấy hiện lên một cung cách làm ăn phi nhân tính của nơi đô thị
nhiều xô bồ Để phát triển thêm các khoản chi tiêu, Thủy tuy là một bác sĩ nhưng cô đã kinh doanh chó bec giê bằng thai nhi Những số phận bất hạnh ấy
là kết quả của những vụ nạo phá thai và giờ đây trở thành món ăn cho đàn chó
“nồi cám có các mẩu thai nhi bé xíu, thấy cả những ngón tay nhỏ hồng hồng”[14, tr 20] Sự làm ăn vô nhân tính đó là hiện thực mưu sinh của những con người hám lợi, thực dụng đến tàn nhẫn Cuộc sống nhiều bất ổn người ta tìm mọi cách để tồn tại ngay cả trên sự khổ đau bất hạnh của những sinh linh
bé nhỏ và cho đó là chuyện bình thường của cuộc sống Đạo đức của một bác
sĩ và cao hơn là của một Con Người đang băng hoại và biến hình
Bỏ qua mọi nghĩa tình, mối quan hệ giữa những con người hiện đại là
sự đấu tranh để sinh tồn, là sự thù ghét oán hận Trong truyện Phẩm tiết, Sâm
là tên hầu cận của Ngô Khải nhưng “hắn là tên đểu cáng từ lâu đã có ý hại chủ”[14, tr 159] Hắn lừa vua để rồi hại chết Ngô Khải Xã hội là sự tranh giành đua chen tiền bạc và quyền lực Trật tự xã hội đảo lộn, quan hệ gia đình
đổ vỡ, nhân lúc nội bộ Tây Sơn rối ren Nguyễn Quang Toản bất chấp tình thân “Kéo quân vào Quy Nhơn đánh bác ruột của mình là Nguyễn Nhạc”[14,
Trang 30tr 163] Triều đình Tây Sơn chỉ vì tranh giành quyền lực mà “đánh nhau chia năm sẻ bảy cơ nghiệp”[14, tr 163] Triều Tây Sơn sụp đổ là sự sụp đổ tan vỡ tất yếu của một xã hội mà ở đó mọi chân giá trị đã bị đảo lộn và không còn ý nghĩa
Hiện thực với sự băng hoại của đạo đức truyền thống được Nguyễn Huy Thiệp phản ánh qua lối sống buông thả, không lí tưởng của lớp trẻ hiện nay Trinh tiết không còn được đánh giá cao trong chuẩn mực đạo đức xã hội
hiện đại Cô Kim Chi trong truyện Tướng về hưu là “con nhà có học hẳn hoi,
xí xớn thế nào lại có thai với thằng Tuân con ông Bổng cuối cùng phải lấy cái thằng đánh xe bò”[14, tr 18] Đó là một hiện thực đang phổ biến trong xã hội hiện đại khi mà văn hóa đang dần suy đồi trong thời điểm đất nước trong cơn chuyển mình dữ dội Sự chung đụng “không chồng mà chửa” của nàng Bua
truyện Những ngọn gió Hua Tát đã phá vỡ mọi “nền nếp cổ truyền” cho thấy
một cách sống, một thái độ của con người trước hiện thực nhiều quy định gò
ép bó buộc Tình trạng “Vợ không chồng!Con không cha” là một hiện thực đầy đau xót của một thế giới vô nghĩa thiếu tình thương
Đi vào những ngổn ngang, bộn bề của cuộc sống đời thường, của thế sự nhân sinh, Nguyễn Huy Thiệp nhận ra hiện thực với nhiều đổ vỡ, phức tạp và đầy rẫy những vết thương Một thế giới vô nghĩa, không thứ tự, không có vua
hiện lên với nhiều dấu hiệu qua lăng kính của nhà văn Trong Tướng về hưu là
cả một xã hội “loạn cờ”, cô Thủy nói “Cha là tướng, về hưu cha vẫn là tướng,cha mà làm lính dễ loạn cờ”[4, tr 17] Loạn về lối sống, về tình người
Trùm truyện Những ngọn gió Hua tát mang hơi hướng huyền thoại cổ tích
nhưng cũng dung chứa nhiều dấu hiệu của sự đổ vỡ, bất trắc Đó là chuyện
“trời trở chứng, cây cối héo khô vì sương muối, nước đóng thành băng” báo
hiệu một sự chẳng lành trong tiểu truyện Trái tim hổ Đó là chuyện “Hua Tát động rừng, cây cối xơ xác” trong tiểu truyện Con thú lớn nhất Đó là chuyện
Trang 31“dịch tả xuất hiện vào một ngày thời tiết kì lạ” trong tiểu truyện Nạn dịch
Mọi sinh hoạt, nếp sống cổ truyền diễn ra hằng ngày bỗng nhiên vì những chuyện đó mà bị xáo trộn Đây chính là dấu hiệu của một xã hội mất trật tự, nhân thế đảo điên, chuẩn mực giá trị và điểm tựa tinh thần không còn, sự sống trở nên vô nghĩa
Thế sự nhân sinh vô nghĩa “mọi ham hố phàm tục đều nhận được kết cục thảm bại ê chề”[12, tr 16] Danh lợi, quyền lực là những vấn đề mà xã hội hiện đại luôn quan tâm nhưng nó không đủ để chia đều và thỏa mãn cho những tham vọng của con người Vì thế người ta ra sức kiếm tìm nó nhưng cuối cùng cũng là sự thất bại Tất cả những ham muốn đó chỉ là phù du trong một xã hội đầy ngẫu nhiên và bất trắc này Chàng Khó và thanh niên trong bản Hua Tát đều phải chết vì trái tim hổ quý, lão thợ săn mong ước cả đời sẽ săn được một con thú lớn nhất nhưng cuối cùng chỉ có cái chết đến với lão
Trong truyện Phẩm tiết vua Quang Trung kéo quân ra Bắc nhưng cuối cùng
“Vận Tây sơn cũng chỉ được mấy ngày” Vua Gia Long muốn sở hữu Vinh Hoa như “nuôi con gà con vịt trong nhà” nhưng không được bởi “Sứ mệnh đế vương chỉ được quyền cao cả không được quyền đê tiện”[14, tr 164] Mọi ham muốn phàm tục, phú quý, vinh hoa, quyền thế chỉ là cái phù vân, vô nghĩa của thế sự nhân sinh
Sống giữa những cái vô nghĩa ấy của cuộc đời, mọi cái đẹp cái thánh thiện dường như luôn gặp trắc trở Lòng nhân hậu và sự cố gắng hòa hợp của
ông Thuấn trong Tướng về hưu cuối cùng nhận lại được là sự “cô đơn, lạc
loài” Lòng dũng cảm và tình yêu chân thành của chàng Khó trong tiểu truyện
Trái tim hổ cuối cùng cũng phải ra đi Vinh Hoa thánh thiện trong truyện Phẩm tiết cuối cùng cũng gặp mấy lần lận đận giữa cuộc đời bạc bẽo
Càng đi sâu vào hiện thực đời sống Nguyễn Huy Thiệp càng băn khoăn trăn trở hoài nghi về một hiện thực đang có những dấu hiệu của sự đổ vỡ, vô
Trang 32nghĩa trầm trọng Xã hội càng phát triển, đời sống vật chất ngày càng nâng cao, tình người ngày càng xa cách, điểm tựa tinh thần ngày càng trở nên vô nghĩa Đây là một kiểu hiện thực mang đậm tâm thức hậu hiện đại Qua sự đổ
vỡ vô nghĩa của hiện thực nhà văn lên tiếng đòi phán xét lại những giá trị tư tưởng tưởng chừng như đã quá ổn định, chất vấn, phản biện tất cả những gì đã
ăn sâu vào tiềm thức và đưa ra một cách nhìn mới về hiện thực: Hiện thực cuộc sống chưa bao giờ là một chỉnh thể thống nhất, chưa bao giờ có chân lí cuối cùng mà luôn có những chấn thương, những tì vết
2.2 Dấu ấn hậu hiện đại trong quan niệm về con người
2.2.1 Con người đa diện, phức tạp
Cuộc chiến đấu cho quyền sống của dân tộc đã kết thúc nhưng cuộc chiến đấu cho quyền sống của con người chỉ mới bắt đầu và ngày càng trở nên quyết liệt Con Người – một bản thể toàn vẹn được nhìn nhận trong sự phức tạp đa diện của các mối quan hệ chồng chéo phức tạp Không có những con người lí tưởng mà thay vào đó là những con người đời thường với những suy nghĩ, những hành động rất đời thường Len lỏi vào nơi sâu kín nhất trong nội tâm con người, Nguyễn Huy Thiệp “đã xé toạc cái mặt nạ xã hội để viết
về cái tôi, cái lõi của tâm lí, cái tâm lí thật của con người Từ cái cao cả đến cái thấp hèn, cái mộng mơ đến cái thông tục Đó là những ao ước khát khao, những toan tính mưu mô”[5, tr 152-153]
Bên trong mỗi bản thể con người là cả một thế giới nội tâm đầy phức tạp, nhiều bí ẩn chồng chất đan xen dung chứa cả “thiên thần và ác quỷ rồng phượng lẫn rắn rết” Người lương thiện cũng có những suy nghĩ đê tiện và quỷ dữ nhiều khi cũng có những ánh sáng thiên lương
Đọc truyện Tướng về hưu, người đọc thấy ở Thủy một sự thực dụng hám
lợi đến tàn nhẫn coi đồng tiền là mục tiêu cứu cánh nhưng ở cô vẫn có những nét đáng trân trọng Thủy nhẫn tâm mang thai nhi về nuôi chó nhưng cô cũng
Trang 33là một người vợ sắc sảo “am tường các việc lo liệu kinh tế dạy dỗ con cái”[14,
tr 16] Cô ngoại tình nhưng cô cũng kính nể bố chồng và chăm sóc mẹ chồng chu đáo Coi đồng tiền là mục tiêu nhưng cô cũng có lòng thương người Cô giúp hai cha con ông Cơ khi họ “không có hộ khẩu, không có những tiêu chuẩn lương thực thực phẩm như những người dân khác trong thành phố” Khi họ về bốc mả vợ, cô còn cho thêm tiền “Đừng lấy tiền của ông Tôi bù cho hai nghìn ấy, lại cho thêm năm nghìn”[14, tr.21] Không chỉ có Thủy mà ông Bổng cũng là một con người đa diện Là một kẻ đánh xe bò “táo tợn, lỗ mãng phi nhân bất nghĩa”[14, tr 22] Chị chết ông ta lừa cháu tiền làm ma và tiếc bộ ván quan Con người ấy dường như không còn cảm xúc trước sự ra đi của người thân nhưng lạ thay con người ấy lại “ khóc òa lên” khi được gọi là người Ông Bổng vụ lợi hám tiền nhưng cũng đáng thương “Thế là chị thương
em nhất Chỉ có chị gọi em là người” Dù chỉ được thừa nhận là “người” bởi một con người lú lẫn và sắp chết đi nữa thì điều ấy vẫn thật có ý nghĩa khi mà ông bị cả gia đình và xã hội gạt ra ngoài rìa Ông Bổng “lỗ mãng táo tợn” nhưng ẩn sâu trong nhân tính vẫn có một tình yêu “Nước mình đẹp như tranh, bây giờ tôi mới hiểu vì sao phải yêu đất nước”[14, tr 29] Con người với những tính toán những suy nghĩ và hành động đi ngược lại tính nhân bản, phá hỏng mọi giá trị đạo đức nhưng ở sâu trong tiềm thức họ vẫn có lòng trắc ẩn của một Con Người Sự xung đột đấu tranh giữa những mặt đối lập của cái lõi tâm lí ấy làm nên diện mạo thật của bản thể con người
Dòng chảy đời thường ở thời đại ý thức cá nhân phát triển tạo cho con người một diện mạo mới phong phú phức tạp nhiều bí ẩn không thể khám phá
hết Trong truyện Phẩm tiết, vua chúa là những bậc đế vương mang trong
mình những phẩm chất, những cách đối nhân xử thế khác người Sứ mệnh đế vương không cho phép họ có những suy nghĩ và hành động đời thường Thế nhưng xét cho cũng những bậc đế vương ấy cũng là con người cũng có những
Trang 34suy nghĩ những ham muốn như một bản thể người Nguyễn Huy Thiệp đã đi vào soi rõ “cái phần cao cả lẫn thấp hèn” của bậc đế vương, phủ nhận cái ảo tưởng “phong thánh” cho con người Vua Quang Trung đường đường là một anh hùng diệt Mãn Thanh đứng đầu triều Tây Sơn nhưng cũng có những ham muốn vật chất như bao người khác Khi khách đến biếu lễ vật “vua đứng xem, trầm trồ thán phục”[14, tr 160] Vua cũng giận hờn mắng nhiếc Chỉ vì mấy tấm vải vụn mà vua mắng Khải với lời lẽ thông tục “Thằng Khải kia! Tài bằng cái đấu khinh ta quá chừng(…)May nhờ phúc tổ có ít của chìm như cái đuôi khô tháng ba ngày tám mang ra gặm, tưởng mà xênh xang ư”[14, tr 150] Quang Trung uy nghiêm là thế nhưng cũng có những sai lầm rồi hối tiếc đến đáng thương Khi hại nhầm Ngô Khải “vua đang đêm xõa tóc, đi chân đất, vừa đi vừa vấp chạy vào báo cho Vinh Hoa”[14, tr.161] Cái cao cả lẫn cái thấp hèn hòa trộn tạo nên một con người Quang Trung chứ không phải là một vị vua Quang Trung Là những bậc đế vương lo chuyện quốc gia đại sự, coi nhẹ nữ nhi thường tình nhưng cả Quang Trung và Gia Long đều bị sắc đẹp của Vinh Hoa làm say đắm Họ yêu một tình yêu trần trụi rất đời thường Vua Quang Trung nhìn thấy Vinh Hoa mà “rùng mình, hoa mắt đánh rơi cả cốc rượu quý cầm tay”[14, tr 161] Còn vua Gia Long lại muốn “Sở hữu nàng như nuôi con gà con vịt trong nhà”[14, tr 164]
Con người anh hùng, lí tưởng không còn lí do để tồn tại, mọi sự lí tưởng toạn vẹn chỉ là sự che đậy, nhà văn đã bật tung nó lên, giải thiêng những giá trị tưởng như cao cả lớn lao và làm lộ diện sự phức tạp nơi chiều sâu bản thể con người
Không phân loại con người theo hướng tốt xấu, thiện –ác, nhà văn đặt con người vào những mối quan hệ nhân sinh cụ thể, nhiều chiều để họ lộ ra
những bản tính phức tạp của mình Anh chàng Sạ trong truyện Những ngọn
gió Hua Tát là một con người đa diện Sạ là một thanh niên mạnh khỏe dũng
Trang 35cảm “Ai có thể săn đuổi theo con hoẵng hơn ba ngày hãy đọ với chàng”[14,
tr 217] Thế nhưng Sạ cũng là một người bảo thủ “chàng bỏ qua hết mọi lời khuyên khăng khăng làm theo ý mình”[14, tr 217] Sạ có tài lại khéo léo “ai
có thể tung còn được nhanh và khéo hơn chàng” Sạ thổi kèn hay và chinh phục được nhiều trái tim phụ nữ nhưng Sạ cũng là “một thằng điên …thằng rồ…kẻ khùng”[14, tr 218] Sống trong một xã hội mà không được thừa nhận
Sạ đã phản kháng bằng những việc làm kì quặc “Chờ lúc chia cá, Sạ lật úp thuyền xuống nước(…)Sạ cười sằng sặc nhảy xổ vào đám cá”[14, tr 217] Con người tưởng như đơn giản nhưng bên trong dung chứa nhiều mặt cảm xúc, nhiều tâm lí trái chiều Đó là một tiểu vũ trụ không sao khám phá hết Ông Hoàng Văn Nhân là một thợ săn có tiếng “Ông bắn giỏi không biết sợ là gì”[14, tr 209] Với tham vọng của mình ông đã nhẫn tâm săn đuổi cho bằng được con sói mẹ đang nuôi đàn sói con Thế nhưng khi bị sói trả thù cắn chết đứa con trai độc nhất ông lại không giết con sói mà còn phóng thích cho nó
“Ông Nhân vung rìu lên chém vào sợi dây xích, sợi xích đứt tung Con sói tru lên một tiếng rồi phóng chạy về phía rừng”[14, tr 211] Ông Nhân đáng thương ôm xác đứa con “trên những ngón tay gầy trơ cả khớp xương cày trên mặt đất bê bết máu” [14, tr 211] Đời sống nội tâm bản thể không phải là những dạng thức trọn vẹn xuôi chiều, Ông Nhân không trả thù sói bởi trong ông không chỉ có sự trả thù mà còn có cả những suy nghĩ những dằn vặt về thế sự nhân sinh Sự đấu tranh xung đột giữa cái phần chân chính với cái phần tầm thường ích kỉ để hướng tới cái thiện là điều nhà văn muốn gửi gắm
Nhìn con người như một bản thể tự nhiên với những mặt phức tạp phong phú, Nguyễn Huy Thiệp đã đi vào tận cùng tâm lí thật của con người Con người lí tưởng không còn mà thay vào đó là con người lưỡng diện cùng tồn tại cả “thiên thần và ác quỷ” Và sự đấu tranh giữa các phần đó tạo nên sự đa
Trang 36diện phong phú của đời sống bản thể đồng thời cũng đưa con người trở lại với chính mình Đó là chiều sâu nhân bản nhất của con người hậu hiện đại
2.2.2 Con người hoài nghi, cô đơn, lạc lõng
Thời đại kĩ trị, xã hội tiêu dùng cuốn con người hiện đại vào một guồng máy của những dây truyền sản xuất không ngừng nghỉ Con người sống nhanh, sống gấp và phải thích ứng mau lẹ với sự thay đổi theo cấp số nhân của cuộc sống Cuộc sống hiện đại làm các bậc thang giá trị đang dần trở thành thương phẩm trao đổi buôn bán, tình người không còn là điểm tựa tinh thần vững chắc nếu ai không thích ứng kịp sẽ bị bỏ lại phía sau và trở nên cô đơn “lạc loài” và hoài nghi tất cả Đây là kiểu người khá phổ biến trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và các tác giả như : Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt
Hà, Bảo Ninh…
Sống giữa ngôi nhà mà mình xây dựng nên tướng Thuấn vẫn cảm thấy
“Sao tôi cứ như lạc loài”[14, tr 27] Càng cố hòa nhập với cuộc sống gia đình bao nhiêu ông càng rơi vào cô đơn, bế tắc bấy nhiêu Mối quan hệ gia đình lỏng lẻo thiếu sức ấm nóng bởi những thành viên trong gia đình bị cuốn vào vòng mưu sinh của cuộc sống mà không có một phút lắng lại để suy nghĩ Anh Thuần thì xa bố từ nhỏ lớn lên lại mải mê với “công trình ứng dụng điện phân” nên “chẳng biết gì về cha”[14, tr.15] Con dâu cũng “biết rất ít về ông”[14, tr 15] Hai cháu Mi và Vi thì bận học suốt ngày, mặc dù ông Thuấn muốn gần gũi nhưng “không hiểu sao hai đứa con gái của tôi ít gần ông nội”[14, tr 17] Tình cảm gia đình tẻ nhạt lại cộng thêm lối sống lối làm ăn tàn nhẫn “xát thai nhi nuôi chó” của Thủy đã làm ông Thuấn – một người lính
về hưu cảm thấy “rờn rợn” và đau khổ chối bỏ thực tại phũ phàng “Khốn nạn! Tao không cần cái sự giàu có này”[14, tr 20] Với lẽ sống “bình quân” công bằng, giản dị mà ấm áp tình người của người lính ông Thuấn cảm thấy “lạ lẫm giữa cuộc sống ồn ào mà vô cảm đến lạnh lùng của tính thực dụng, của thời
Trang 37người ta đua nhau làm sang, làm giàu bất kể, bất chấp”[5, tr 155] Từ giã cuộc sống của người lính ông trở về với cuộc sống đời thường với bao toan tính đua chen, dối trá…đã khiến ông mất lòng tin vào cuộc sống “Cha tôi già sụp hẳn đi từ khi về hưu”[14, tr 27] Không thích ứng được với môi trường mới đầy biến động phức tạp ông Thuấn đã về lại đơn vị cũ và chọn cách ở lại mãi mãi với những giá trị mà mình đã sống, đã tạo dựng và đã sống chết vì
nó Đó là sự cô đơn, lạc lõng hoài nghi đầy giằng xé, xót xa
Không chỉ những người ở thế hệ trước mới trở nên cô đơn lạc loài giữa dòng chảy của cuộc sống hiện đại mà những con người của thời đại này họ cũng không tìm thấy sự bình yên, hòa hợp nơi cuộc sống gia đình Anh Thuần
trong truyện Tướng về hưu là một con người như thế Vợ cầm trịch gia đình
anh không cần san sẻ trách nhiệm vì thế anh trở nên “khá cổ hủ và đầy bất trắc”[14, tr 16] Vợ ngoại tình nhưng anh cũng không có ý kiến bởi “Anh nhu nhược Duyên do là anh đếch sống một mình được”[14, tr 27] Sống không tìm thấy niềm đồng cảm, anh giấu nỗi cô đơn vào trong công việc nhưng nhiều khi anh vẫn phải thốt lên “Tôi thấy cô đơn quá” 14, tr 24]
Trái với cái cô đơn lặng lẽ của anh Thuần là cái cô đơn đầy phá phách của ông Bổng Ông trở nên “lỗ mãng táo tợn phi nhân bất nghĩa” là vì không
ai thừa nhận ông Ông bị xã hội chối bỏ “cả làng gọi em là đồ chó”, bị gia đình ruồng rẫy “vợ em gọi em là đồ đểu Thằng Tuân gọi em là đồ khốn nạn”[14, tr 22] Là người mà không được thừa nhận là người ông Bổng đã phản ứng lại bằng lối sống tha hóa của mình Đó là một sự phản ứng đầy đau xót của một người lạc loài bị đẩy ra ngoài rìa của xã hội
Cùng chung số phận bị người đời hắt hủi rồi rơi vào hoài nghi, lạc loài,
cô đơn là chàng Sạ trong truyện Những ngọn gió Hua tát Chàng là người
mạnh khỏe, dũng cảm và khéo léo nhưng những đức tính ấy trong xã hội mà người ta yêu vật chất hơn thì có ý nghĩa gì Vì thế chàng đã phản ứng lại bằng