Bên cạnh những tấm gương về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, cũng như sự hi sinh lớn lao của các đấng sinh thành cho con cái, thì đâu đó vẫn thấy cảnh con cái bất hiếu, ngược đ
Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước phương Đông, nơi mà tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa, tác động mạnh mẽ đến nếp sống tinh thần, thói quen, suy nghĩ của con người và xã hội.Trong các tôn giáo đó thì Phật giáo - một trong những tôn giáo lớn của thế giới đã du nhập vào nước ta từ rất sớm và trở thành tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Việt Nam Đất nước ta đang trong công cuộc xây dựng quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa
Mác-Lênin là tư tưởng chủ đạo,ngọn đèn dẫn đường,vũ khí lý luận Cùng với đó, Phật giáo là lĩnh vực nghiên cứu tương đối rộng, ngoài việc nghiên cứu giáo lý, kinh điển, lịch sử của Phật giáo còn đề cập đến các lĩnh vực như triết học, văn học, khảo cổ, tâm lý học, xã hội học… Phật học đã trở thành một trong những khoa học tương đối quan trọng trong khoa học xã hội Phật giáo phát triển, truyền bá ở nước ta gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng đạo đức con người và sự tồn tại, phát triển của Nhà nước Việt Nam Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng ta không thể không đề cập đến Phật giáo đặc biệt là những quan niệm của phật giáo về đạo hiếu Đối với đạo Phật, thực hành hiếu thảo là con đường giải thoát của chánh pháp, là con đường của người Phật tử Không hiếu thảo với cha mẹ thì không thể gọi là một người Phật tử chân chính được Hiếu thảo với cha mẹ là một đức tính tốt đẹp được mọi người ca tụng, đức tính ấy được coi như là một nền tảng của mọi đức hạnh, là nhân tố quan trọng để xây dựng đời sống hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội Hiếu là chất liệu cho cuộc sống, là hương thơm cho đời, là hành trang vô giá và không thể thiếu vắng ở bất kỳ người nào Hiếu phản ánh đời sống văn hóa và đạo đức của xã hội Hiếu phân định nhân cách, tri thức của con người Hiếu là chất liệu sống muôn thuở Nói đến hiếu là nói đến cái gì cao đẹp nhất, thiêng liêng nhất đối với mọi người Hiếu có vai trò quan trọng trọng, là một mặt không thể thiếu đối với sự hình thành nhân cách của con người
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước các gia đình Việt Nam đang có bước chuyển mình từ mô hình gia đình truyền thống tam, tứ đại đồng đường sang mô hình gia đình hạt nhân, vấn đề các giá trị đạo đức gia đình rất cần thiết được đặt ra để xem xét Bên cạnh những tấm gương về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, cũng như sự hi sinh lớn lao của các đấng sinh thành cho con cái, thì đâu đó vẫn thấy cảnh con cái bất hiếu, ngược đãi, thậm chí cướp đi sinh mạng của chính cha mẹ mình Đó thực sự là hồi chuông cảnh thức cho những người làm cha, làm mẹ, những đứa con và những người làm công tác giáo dục thế hệ trẻ
Nguyên nhân của tình trạng nêu trên chính là sự nhận thức chưa đúng đắn, chưa thấu đáo và sâu sắc về chữ hiếu và lòng hiếu thảo của thế hệ trẻ nên đã có những hành vi đi ngược lại với các nguyên tắc của chữ Hiếu
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi chọn đề tài: “Đạo hiếu trong Phật giáo và việc nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bởi phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong đó chú trọng các phương pháp: so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa…
Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương (4 tiết):
Chương 1: Quan niệm của Phật giáo về đạo Hiếu
Chương 2: Vận dụng chữ Hiếu của Phật giáo vào việc nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay.
QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO VỀ ĐẠO HIẾU
Vài nét về triết học Phật giáo
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo
Phật giáo là một học thuyết triết học do con người sáng tạo ra vì vậy nó chịu sự chi phối của nhân sinh quan, thế giới quan của con người, sự tác động của bối cảnh, tình hình xã hội thời đó Để nắm được tư tưởng cơ bản của Phật giáo thì trước hết phải tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của nó Đạo Phật (Buddhism) xuất hiện và thế kỷ thứ VI trước CN, là một trào lưu tôn giáo triết học Phật giáo ra đời và đã nhanh chóng phổ biến ở Ấn Độ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hóa tinh thần của nhiều dân tộc phương Đông và hiện nay đang lan truyền dần sang phương Tây
Mục đích cao nhất của Phật giáo là hướng thiện và cuộc sống đức độ, đó là phương tiện để giải phóng con người khỏi vòng luân hồi bất tận Vì thế, từ phương diện này mà nói giá trị của Đạo Phật là bền vững Có thể nói, Phật giáo không hẳn là một tôn giáo vì họ không thờ một vị thần nào, ngoài ý nghĩa tôn giáo, Phật giáo là một hệ thống triết học và quy tắc đạo đức Có thể nói, Đạo Phật là một tôn giáo tâm linh sâu sắc nhất
“Phật” theo tiếng Phạn là Boddho, có nghĩa là đấng giác ngộ sáng suốt và giác ngộ người khác “Phật” theo Phật giáo là bậc thánh nhân thấu suốt hết thảy mọi lẽ của tạo hóa và có thể chỉ bảo cho ta giải thoát khỏi luật luân hồi, sinh tử Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng của Phật Thích Ca Mâu Ni Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhartha), họ Cù Đàm (Gotama), vốn là con đầu của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) dòng họ Thích Ca (Sakya) và hoàng hậu MaDa (Mahamaya) ở Ca Tì La Vệ
Tương truyền Thái tử Tất Đạt Đa sinh vào ngày 15 tháng 04 năm 563 TCN tại khu vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) cách Ca Tỳ La Vệ không xa Kinh Phật chép rằng Thái tử có 32 tướng tốt, 80 dáng đẹp, thân cao trượng sáu, toàn thân đều màu vàng, đầu tỏa hào quang Thái tử Tất Đạt Đa theo học nhiều minh triết và lưu thông mọi triết thuyết được thời đó chấp nhận Ngài cùng vợ là Yasodhana và con trai là Rahula sống yên ổn trong cảnh phú quý được mọi người trọng vọng Nhưng bản tính đa sầu, đa cảm, khi thấy tình trạng thống khổ của người đời xung quanh mình, ngài quyết định đi tìm phương cứu khổ cho bản thân và mọi người Năm 29 tuổi rời bỏ hoàng cung từ bỏ cuộc sống vương giả để đi tìm đạo cứu thế
Nhìn rõ tướng vô thường và đang bủa vây xung quanh cuộc sống, vào đêm rằm tháng 2 âm lịch, Thái tử lên ngựa Kiền Trách (Kanthaca) cùng với người cận hầu Xa Nặc (Chandaca) vượt Hoàng thành vào Hy Mã để lại đằng sau cuộc sống yêu thương và Vương vị: “Ta không muốn sống trong cung điện vàng ngọc, ta không muốn sống trong cảnh vương giả trị vì thiên hạ, hưởng cuộc đời sung sướng cao sang trên mồ hôi và nước mắt của lê dân Ta không muốn sống trong xã hội bất công mà ta đã chứng kiến Ta quyết định ra đi, dù phải xông pha trên gió bụi bão bùng, ta cố tìm ra mối đạo giải thoát cho muôn loài”[17; tr.33] Đến năm 35 tuổi, ngài đã giác ngộ được con đường giải thoát dưới gốc cây bồ đề (Pipala) ở Buddhagaya Ngài đi khắp nơi để truyền đạo trong suốt
45 năm Tôn giáo mới gắn liền với tên tuổi của ngài được hình thành từ đó Khi đã được giác ngộ phát hiện được căn nguyên nỗi khổ đau nhân thế và cách dứt bỏ nó, ngài được người đời tôn là Phật (Buddha) Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) nghĩa là nhà hiền triết xứ Sakya hay ông thánh của dòng họ Sakya Đức Phật qua đời tại rừng cây Sala (Cala) gần thành Câu Thi La (Kusinagara) vào đêm 15 tháng âm lịch năm 483 TCN, hưởng thọ 80 tuổi
Trong quá trình truyền đạo của mình, đức Phật không hề viết ra những lời giáo huấn, ngài chỉ bàn luận, giảng giải với học trò bằng lời nói của mình Tất cả đã được học trò của ngài ghi lại sau này phát triển tư tưởng đó, xây dựng thành một hệ thống triết học tôn giáo lớn Tư tưởng Phật giáo sau này mới được viết thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn gọi là Tam Tạng (Tripitaka) gồm ba bộ phận:
1 Tạng Kinh (Sutra pitaka) ghi lại những lời Phật dạy
2 Tạng Luận (Vinaya pitaka) gồm các giới luật của đạo Phật
3 Tạng Luật (Abhidharma pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả Đạo Phật nguyên thủy không thờ bất cứ một vị thần nào, Phật tổ Thích
Ca cũng chưa bao giờ coi mình là thần thánh Chỉ là do sau này, trong quan niệm của người đời, Phật dần mất đi tính cách một nhân vật lịch sử mà trở thành một đấng siêu việt, hiện thân ở cõi trần để thuyết pháp độ sanh Tức là do cảm phục công đức của Phật mà người ta đã tôn sùng ngài như một vị thánh Bởi lý do không thờ bất cứ một vị thần nào nên người ta cho rằng Phật không hoàn toàn là một tôn giáo mà còn là một hệ thống triết học Có thể nói, triết học Phật giáo mang tính tâm linh sâu sắc nhất
1.1.2 Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo
Tư tưởng triết học Phật Giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viết thành văn thể trong một khối kinh điển rất lớn, gọi là “Tam Tạng”, gồm 3 Tạng kinh điển là: Tạng Kinh, Tạng Luật, và Tạng Luận Trong đó thể hiện các quan điểm về thế giới và con người
Tư tưởng thế giới quan hay còn gọi là bản thể luận của Phật giáo, chủ yếu nằm trong bộ Tạng luận, là các quan điểm luận giải về thế giới của triết học Phật giáo Đây là một học thuyết có sự đan xen giữa yếu tố duy vật và duy tâm, thể hiện tính biện chứng khá sâu sắc, gồm nhiều thuyết như: Vô tạo giả, vô thường, nhân quả - nhân duyên…
Vô tạo giả: Là thuyết về nguồn gốc của vũ trụ
Triết học Phật giáo cho rằng không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên cho sự hình thành vũ trụ Vũ trụ là vô thủy, vô chung, vạn vật trong thế giới biến hóa vô thường, vô định, không do một vị thần nào tạo ra cả
Vô thường: Là thuyết về sự tồn tại của thế giới
Thuyết vô thường cho thế giới là một dòng biến ảo vô thường, vạn vật đều biến đổi vô cùng theo chu trình sinh – trụ - dị - diệt hay thành – trụ - hoại – không, không có cái gì là vĩnh hằng tuyệt đối
Vô ngã: Là thuyết về bản chất sự tồn tại
Quan điểm vô ngã cho rằng vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự “giả hợp” do hội đủ nhân duyên mà thành Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể hữu hình con người cũng do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bởi hai phần: Thể xác và tinh thần, hai phần ấy là kết quả hợp tan của ngũ uẩn, tức là năm yếu tố: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức Vô ngã đó chính là chân lý cho ta biết cái tuyệt đối của vũ trụ và bản chất của con người
Nhân quả - nhân duyên: Tất cả sự vật hiện tượng tồn tại trong vũ trụ theo triết học Phật giáo đều không thoát nổi sự chi phối của quy luật nhân duyên Cái nhân nhờ cái duyên mới sinh ra được và thành cái quả, quả lại do duyên mà thành nhân khác, nhân khác nhờ có duyên mà thành quả mới…cứ như thế nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh hóa hóa mãi
Chữ Hiếu trong Phật giáo
Đạo Phật có mặt ở nước ta từ hàng ngàn năm, với sự từ bi nhân ái, với những giá trị nhân văn sâu sắc, trong đó đặc biệt đề cao đạo Hiếu như một triết lí nhân sinh, như một truyền thống tốt đẹp của mình Phật giáo phổ độ khắp chúng sinh, bởi vậy hiếu đạo trong đạo Phật cũng mang một ý bao quát, ngoài việc báo ân cha mẹ, Phật giáo còn đề cập đến: Ân thầy cô: Là ơn người đã dạy dỗ, mang lại cho ta kiến thức Ân quốc gia xã hội: Là ơn đảm bảo cho ta cuộc sống hòa bình, ổn định Ân chúng sinh đồng bào: Là ơn những người đã sản xuất ra của cải vật chất, giúp chúng ta tồn tại Đó chính là “Tứ ân” trong đạo Phật
Lễ báo hiếu trong đạo Phật được gọi là lễ Vu Lan Tích Vu lan bắt nguồn từ việc báo hiếu của Tôn giả Mục-kiền-liên Tích này được chép trong kinh
Vu lan bồn Chữ Vu lan bồn phiên âm từ chữ Sanskrit (Phạn) là Ularnbana Người Trung Hoa dịch nghĩa là Giải đảo huyền (Tội treo ngược người)
Nói về Ngài Mục Kiền Liên, một đệ tử xuất sắc của Đức Phật sau khi đắc đạo, thấy mẹ của mình sống trong cảnh giới quỷ đói, thân hình tiều tụy khổ sở Ngài sử dụng năng lực thần thông của mình, đưa bát cơm đến dâng cho mẹ Mẹ Ngài được cơm, lòng tham khởi lên, tay trái che bát, tay phải bốc ăn, nhưng cơm chưa tới miệng đã hoá ra lửa, nên không ăn được
Ngài Mục Kiền Liên xin Phật chỉ dạy phương pháp cứu mẹ ra khỏi cảnh khổ Ngạ quỷ Đức Phật dạy rằng, phải nhờ đến uy lực của tập thể chúng tăng mới cứu được mẹ ông Vào ngày rằm tháng bảy là ngày chư tăng tập trung tự tứ sau 3 tháng an cư kiết hạ thanh tịnh, hãy sắm sửa vật dụng cúng dường chư tăng, nhờ chư tăng chú nguyện, mẹ ông mới thoát được khổ Ngài Mục Kiền Liên vâng lời Phật dạy, thực hành phương pháp báo hiếu ấy nên đã cứu được mẹ
Ngài Mục Kiền Liên xin Phật cho phép các phật tử sau này được thực hành phương pháp báo hiếu cha mẹ bằng cách cúng dường Vu - Lan - Bồn để báo đáp ân cha mẹ, đức Phật khen ngợi và chấp thuận Từ đó, ngày rằm tháng bảy là ngày báo hiếu truyền thống của Phật Giáo
* Ý nghĩa phương pháp báo hiếu trong kinh Ý nghĩa bát cơm hoá lửa:
Mẹ ngài Mục Liên đang sống trong cảnh giới đói khát của Ngạ quỷ do nghiệp nhân tham lam bỏn xẻn, thì quả tương ứng với nhân tham là cảnh thiếu thốn Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt nói: "Nếu người tham lam bỏn xẻn, không bao giờ biết bố thí do tánh keo kiệt bám víu vào tài sản của mình, nếu tái sanh làm người sẽ bị nghèo nàn thiếu thốn”[3 Tr 474]
Trong Phật giáo, hình ảnh ngọn lửa thường được dùng để ám chỉ sức mạnh của các thế lực tối tăm như lòng tham, sân, si thường gọi là lửa tham, lửa sân, lửa si, do nghiệp nhân tham lam bỏn xẻn nên mẹ ngài Mục liên phải sống trong cảnh khốn khổ Ngạ quỷ Do lòng tham lam vẫn còn chi phối mạnh mẽ tâm thức của bà, nên khi nhận bát cơm, bà đã vội vàng tay trái che bát, tay phải bốc ăn vì sợ kẻ khác cướp mất bát cơm của mình Sự tham lam ích kỷ đó bùng lên quá mạnh, như một ngọn lửa bùng lên bao phủ tâm thức của bà làm cho bà thấy lửa ở trong bát cơm của mình, lửa ở đây là lửa của tâm thức chứ không phải lửa ở bên ngoài Cho dù bát cơm không hóa lửa đi nữa bà cũng khó mà hưởng thụ được bát cơm một cách ngon lành, bởi lẻ với tâm lý tham lam bỏn xẻn, bà ăn trong vội vàng, lo lắng khiếp sợ, thì nuốt cơm cũng như nuốt đất mà thôi
Mặt khác, như đã nói theo định luật chiêu cảm của nghiệp báo, khi đã tạo nghiệp đói, thì dù có cơm canh ngon lành vẫn thấy lửa như thường, cũng giống như một người đã tạo nghiệp ngu si, thì dù có gặp sách vở hay ho, họ cũng coi như giấy lộn mà thôi, bởi lẻ nghiệp nhân và nghiệp quả phải tương đồng
Ngài Mục Liên không cứu mẹ được, vì sức của một mình ngài không đủ chế ngự và chuyển hoá được ngọn lửa tham của mẹ ngài, hay nói cách khác, thần thông không thể xoá được luật nhân quả Ngọn lửa xuất hiện ở đâu thì phải diệt ở đó, mẹ ngài đã tạo ra ngọn lửa thì chính bà mới dập tắt được ngọn lửa đó Ý nghĩa chư tăng chú nguyện: Đức Phật dạy phương pháp cứu mẹ cho ngài Mục Kiền Liên là phải nhờ vào sức mạnh tâm linh của chư tăng trong ngày Tự Tứ điều đó đã nói lên sức mạnh của tập thể bao giờ cũng thù thắng hơn sức mạnh của cá nhân, dù cá nhân đó vĩ đại như Đức Phật
Sau ba tháng an cư kiết hạ, đến ngày rằm tháng bảy thì giải chế phải làm lễ Tự Tứ Chữ "Tự Tứ" tiếng Pali gọi là PAVARANA nghĩa là tuỳ ý, tức là xin chư tăng tuỳ ý chỉ trích những lỗi lầm của mình do chư tăng thấy, nghe hay nghĩ để mình biết mà sám hối, nhờ sám hối nên thân khẩu ý được thanh tịnh thì công đức rất lớn Đây là cách thức hạ mình cầu xin chỉ lỗi, tương tự như câu nói của Nho là Khiêm Sinh Đức, có lẽ vì vậy mà phải nương nhờ ý lực chú nguyện của chư tăng trong ngày Tự Tứ chứ không phải những ngày khác
Với tâm lực thanh tịnh, đầy đủ các đức tính từ bi an lạc, chư tăng hướng tâm mình vào cảnh giới khổ đau của Ngạ quỷ, luồng tâm từ của chư tăng hợp nhất tạo thành một nguồn năng lượng lớn có tác dụng làm dịu mát môi trường nóng bức của cảnh giới Ngạ quỷ, như một luồng gió mát thổi qua buổi trưa hè oi ả, làm cho thâm tâm của mẹ Ngài Mục Liên được nhẹ nhàng thanh thoát và bình tỉnh hơn, do đó đã tạo điều kiện cho thiện tâm của bà phát khởi, chuyển hoá được nghiệp lực của chính bà, từ đó thay đổi được môi trường sống của bà Không những mẹ ngài Mục Liên được giải thoát, mà tất cả những người sống trong môi trường đó cũng được thừa hưởng luồng gió mát từ tâm ấy, và nếu họ phát khởi thiện tâm thì có thể giải thoát như nhau Thông thường sự tác động của ngoại cảnh có thể làm thay đổi tâm thức của con người, nhất là đối với những người chưa làm chủ được tâm thức của mình Khi bị sống trong hoàn cảnh bức xúc áp chế, lòng người trở nên cọc cằn thô lỗ, độc ác Khi hoàn cảnh thay đổi thuận lợi dễ chịu, mát mẻ, tâm tư của con người được thoải mái, tỉnh táo hơn, và do đó dễ nhận chân ra điều hay lẽ phải Cũng trên quy luật đó, khi nguồn năng lượng tâm từ chiếu toả vào cảnh giới nóng bức của Ngạ quỷ, tạm thời làm dịu mát và đình chỉ các nổi đau đớn, đói khát của mẹ ngài Mục Kiền Liên và những ngạ quỷ khác, giây phút đó đã tạo ra cơ hội cho trí tuệ phát sinh và cứu được bản thân của bà
Tóm lại, sự chú nguyện của chư tăng trong ngày Tự Tứ không phải xóa được luật nhân quả, không phải trực tiếp cứu rỗi tội lỗi của con người, mà điều đó chỉ có tác dụng trợ duyên, tạo những điều kiện thuận lợi cho con người đánh thức thiện tâm của chính mình Thiện tâm của mỗi người mới có thể cứu được chính họ mà thôi
1.2.2 Kinh báo ân cha mẹ
Phần duyên khởi: Đức Phật trong lúc du hành gặp một đống xương khô, Ngài liền lễ sát đất Đệ tử của Phật là ngài Anan ngạc nhiên hỏi Phật vì lý do gì mà lễ bái đống xương khô ấy Đức Phật dạy rằng, đống xương khô này hoặc tổ tông kiếp trước, hoặc là cha mẹ nhiều đời của ta nên ta chí thành kính lễ Đức Phật dạy ân đức cha mẹ có 10 điều: Ân giữ gìn mang thai trong 9 tháng Ân sinh sản khổ sở Ân sinh rồi quên lo Ân nuốt đắng nhổ ngọt Ân nhường khô nằm ướt Ân bú mớm nuôi nấng Ân tắm rửa chăm sóc Ân xa cách thương nhớ Ân vì con làm ác Ân thương mến trọn đời Đức Phật dạy về sự bất hiếu của con cái: Ăn nói hỗn hào với cha mẹ, xấc xược với anh em chú bác bà con…
Không tuân theo lời dạy của cha mẹ, các bậc trưởng thượng trong gia tộc
Theo bạn bè xấu ác, từ bỏ gia đình đi hoang, gây tạo tội lỗi làm cho cha mẹ, bà con buồn khổ
Không lo học tập, xao lãng nghề nghiệp, không tạo dựng được một đời sống vững chắc, làm cha mẹ lo lắng
Không phụng sự cha mẹ về vật chất, không an ủi về mặt tinh thần, coi thường cha mẹ, coi trọng vợ con Đức Phật dạy ân đức cha mẹ khó đền đáp dù con cái báo hiếu bằng các cách như:
Vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, cắt da đến xương, nghiền xương thấu tủy, máu đổ thịt rơi cũng không đáp được công ơn cha mẹ
Giả như có ai gặp lúc đói khát, phá hoại thân thể, cung phụng cha mẹ cũng không đáp được công ơn cha mẹ
Vì cha mẹ mà trăm kiếp nghìn đời, đâm tròng con mắt, cắt hết tâm can, trăm nghìn dao sắc xuất nhập toàn thâncũng không trả nỗi công ơn cha mẹ
Dù vì cha mẹ, đốt thân làm đèn cúng dường chư Phật cũng không đáp được công ơn cha mẹ Đức Phật dạy về phương pháp báo hiếu:
Ngoài việc cung phụng cha mẹ về mặt vật chất và an ủi tinh thần mà ai cũng biết, chúng ta phải:
Khuyến hoá cha mẹ thực hành thiện pháp
Phải vì cha mẹ mà thực hành tịnh giới, bố thí, làm các việc lợi ích cho mọi người
Phải truyền bá tư tưởng hiếu đạo này cho nhiều người được lợi ích