1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc sắc tản văn gáy người thì lạnh của nguyễn ngọc tư

73 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 838,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đặc sắc tản văn Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư”, chúng tôi mong muốn góp thêm một góc nhìn về phong cách tản văn Nguyễn Ngọc Tư và khẳng định quá trìn

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

LÊ THỊ LINH

ĐẶC SẮC TẢN VĂN GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH

CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -

ĐẶC SẮC TẢN VĂN GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH

CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS Bùi Bích Hạnh

Người thực hiện

LÊ THỊ LINH

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Đặc sắc tản văn Gáy người thì

lạnh của Nguyễn Ngọc Tư” do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Bùi

Bích Hạnh Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014

Lê Thị Linh

Trang 4

Lời đầu tiên, em xin chân thành bày tỏ lòng tri ân và kính trọng sâu sắc đối

với các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng đã

tạo điều kiện thuận lợi cho em học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Bùi Bích Hạnh đã tận tình hướng

dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian xây dựng và hoàn thành khóa luận

Cuối cùng tôi xin được cảm ơn bạn bè, gia đình và những người thân đã động

viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin trân trọng cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014 Sinh viên

Lê Thị Linh

Trang 5

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục khóa luận 4

Chương 1 NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG BỨC TRANH TẢN VĂN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 5

1.1 Nguyễn Ngọc Tư và hành trình sáng tạo tản văn 5

1.1.1 Người phụ nữ nuôi cô đơn để viết văn 5

1.1.2 Nguyễn Ngọc Tư - “Gió lạ” của tản văn Việt Nam sau đổi mới 9

1.2 Tản văn trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại 12

1.2.1 Tản văn - “Viện bảo tàng của cuộc sống” 13

1.2.2 Diện mạo tản văn Việt Nam đương đại 16

Chương 2 GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH - TỪ NHỮNG SUY NGẪM THẾ SỰ ĐẾN NHỮNG SUY NGHIỆM PHẬN NGƯỜI 20

2.1 Suy ngẫm về chân giá trị của cuộc sống 21

2.1.1 Tâm niệm “hạn chế sân hận, trải rộng tình thương” 21

2.1.2 Trăn trở về sự phai nhạt những giá trị cuộc sống 25

2.2 Đau đáu cái nhìn nuối tiếc về một thời xưa cũ 29

2.2.1 Kí ức của một “thời đứng ngó” 29

2.2.2 Hoài niệm về con người cũ và vùng đất cũ 32

2.3 Suy nghiệm về thân phận con người 37

2.3.1 Nỗi ám ảnh trước những số phận trẻ thơ bất hạnh 37

2.3.2 “Tiếng thở dài” trước sự đeo bám của cái nghèo 41

Trang 6

NGHỆ THUẬT 44

3.1 Kết cấu 44

3.1.1 Ý nhằng ý (chêm xen ý) 45

3.1.2 Kết thúc bỏ ngỏ 48

3.2 Ngôn ngữ trần thuật 51

3.2.1 Ngôn ngữ đặc sệt Nam Bộ 52

3.2.2 Ngôn ngữ đời thường góc cạnh 55

3.3 Giọng điệu 57

3.3.1 Giọng “tưng tửng”, nhẩn nha 58

3.3.2 Giọng bất an, dự cảm 60

3.3.3 Giọng chao chát chiêm nghiệm 61

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 7

để tạo được sức hút đối với người tiếp nhận và thực tế đã chứng minh không phải nhà văn nào viết tản văn cũng tạo được dấu ấn đặc biệt trong lòng bạn đọc như nhà văn Nam Bộ Nguyễn Ngọc Tư

Được đánh giá là một hiện tượng của văn học Việt Nam đương đại, cái tên Nguyễn Ngọc Tư được biết đến như một cây bút nữ đầy nội lực, một người phụ nữ viết văn, sáng tác và thành công trên nhiều thể loại văn học khác nhau Với Nguyễn Ngọc Tư, nếu ở thể loại truyện ngắn, truyện dài khó thể hiện mình, tiểu thuyết bộc lộ đôi chút thì tản văn chính là nơi để chị giãi bày những cảm xúc đầy ứ trong lòng mà các thể loại khác khó có thể chạm tới Đọc tản văn của Nguyễn Ngọc Tư, bạn đọc dường như lạc vào một thế giới nội cảm đầy tinh tế, sâu sắc; bị hấp dẫn bởi lối viết tưng tửng, cười trong

cay xót với chất giọng đặc sệt Nam Bộ Nối tiếp tập tản văn Yêu người ngóng

núi, Gáy người thì lạnh cuốn bạn đọc vào những câu chuyện tản mạn không

Trang 8

đầu không cuối về đời sống hiện đại ngày càng đậm đặc cô đơn, nơi mà con người luôn ngơ ngác đi tìm lời giải cho những câu hỏi bất tận Lựa chọn đề tài

nghiên cứu “Đặc sắc tản văn Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư”,

chúng tôi mong muốn góp thêm một góc nhìn về phong cách tản văn Nguyễn Ngọc Tư và khẳng định quá trình vận động trong hành trình sáng tác của nữ nhà văn này nhìn từ phương diện thể loại

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nguyễn Ngọc Tư khi xuất hiện trên văn đàn, được đánh giá là gương mặt tiểu biểu của văn học Việt Nam đương đại, là một hiện tượng văn học đáng lưu tâm; tác phẩm của nữ nhà văn này, khi ra đời dù ở thể loại nào ít nhiều cũng gây được sự chú ý và xôn xao đối với những người bạn văn, giới nghiên cứu phê bình và đông đảo bạn đọc yêu mến văn chương Tuy nhiên, những nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư phần nhiều nghiêng về quan niệm văn chương của tác giả cũng như hành trình sáng tạo của cây bút trẻ mà ít có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về những tác phẩm cụ thể Trong quá trình nghiên cứu, tác giả khóa luận đã tập hợp được một số nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài

Cụ thể, Trần Thị Hương với đề tài “Nét đặc sắc trong tản văn Yêu

người ngóng núi của Nguyễn Ngọc Tư” đã đi sâu vào nghiên cứu và khám

phá “vẻ đẹp ẩn đằng sau những câu chuyện tưởng chừng vụn vặt, tủn mủn”

[8, tr.67] của thể loại tản văn trong tập tản văn Yêu người ngóng núi; đem lại

một cái nhìn khách quan hơn về một nhà văn trẻ đang dần khẳng định nội lực

của mình ở thể loại này Bên cạnh đó, Luận văn Thạc sĩ Đặc điểm sáng tác

của Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Phương đã có những khai thác khái

quát về quan điểm sáng tạo của nữ nhà văn Trên cơ sở khảo sát, phân tích các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ở các thể loại như truyện ngắn, tản văn, luận văn đi vào tìm hiểu đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Đó

Trang 9

là thế giới nhân vật đa dạng, là những biện pháp nghệ thuật đặc sắc Từ đó khẳng định vị trí của nữ nhà văn trên văn đàn văn học Việt Nam [20]

Ngoài ra, trong một số bài viết về đặc điểm tản văn, nhiều tác giả cũng

đã đề cập đến vài nét về phong cách tản văn Nguyễn Ngọc Tư, trong đó có tản

văn Gáy người thì lạnh Đó là Điểm sáng tản văn 2011 - Tản văn trong thời

đại mạng internet và chuyển đổi cơ chế thị trường, tác giả Dã Thảo đã có

những nhận định khái quát về sự trở lại của thể loại tản văn trong văn chương đương đại với những gương mặt tiêu biểu trong đó có Nguyễn Ngọc Tư Tác giả đã phần nào nhìn thấy “những tâm hồn trống rỗng, nhạt nhẽo, vô vị, là những con người sống ở trên cõi đời mà không biết đến đâu là điểm dừng,

điểm đến, cũng chẳng biết dừng biết đủ” trong tản văn Gáy người thì lạnh của

đặc sản Nam Bộ [23] Hay Tản văn, thể loại không dành cho người viết trẻ

của tác giả Hồng Nga lại tiếp cận thể loại này từ nguồn gốc xuất phát và chứng minh rằng, tản văn ngày nay không phải là câu chuyện thiên tào, bông phèn của “những vị cây đa cây đề” mà là mảnh đất để trải lòng của cả những người trẻ tuổi, trong đó có Nguyễn Ngọc Tư [18]

Tất cả những bài viết nêu trên, ở một mức độ nào đó cũng đưa ra một cách khái quát về tản văn Nguyễn Ngọc Tư; tuy nhiên chưa đi sâu vào khai

phá tản văn Gáy người thì lạnh Vì thế, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc sắc tản văn Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là tản văn Gáy người thì lạnh của

Nguyễn Ngọc Tư (Nxb Thời đại, 2012)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Khóa luận là đặc sắc tản văn Gáy người thì

lạnh của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện tư duy nghệ thuật và phương

thức biểu hiện

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu loại hình

Vận dụng những lí thuyết chung về tản văn với các đặc trưng thẩm mĩ

của thể loại này vào tác phẩm Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư, để

khai thác những nét đặc sắc về tư duy nghệ thuật cũng như phương thức biểu hiện trong tản văn này

4.2 Phương pháp hệ thống - cấu trúc

Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu Nguyễn Ngọc Tư trong tiến trình lịch sử văn học đương đại, qua đó thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa các hiện tượng văn học với nhau Từ đó, chúng tôi có thể sắp xếp tác phẩm trong chỉnh thể nghiên cứu, sắp xếp các vấn đề một cách logic và phù hợp để làm nổi bật các luận điểm

4.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Từ những biểu hiện về đặc sắc trong tản văn Gáy người thì lạnh, chúng

tôi khái quát thành những luận điểm cơ bản, từ đó đúc kết thành những nhận xét, đánh giá và khái quát vấn đề tiêu biểu của phong cách tản văn Nguyễn Ngọc Tư qua tác phẩm này

4.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Sử dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành so sánh và đối chiếu phong cách tản văn của Nguyễn Ngọc Tư với một số nhà văn khác trong dòng chảy tản văn đương đại, nhằm phát hiện ra những nét đặc sắc có trong tản văn

Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của

khóa luận gồm có 3 chương

Chương 1 Nguyễn Ngọc Tư trong bức tranh tản văn Việt Nam đương đại

Chương 2 Gáy người thì lạnh - Từ những suy ngẫm thế sự đến những suy

nghiệm phận người

Chương 3 Gáy người thì lạnh - Nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trang 11

Chương 1 NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG BỨC TRANH TẢN VĂN

VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

Nhà văn Hemingway từng cho rằng sự rèn luyện tốt nhất để tạo nên một tài năng văn chương lớn là có một tuổi thơ dữ dội Điều này vận vào trường hợp của cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư thật rất phù hợp Bởi với những

gì đã trải qua trong suốt năm tháng thiếu thời nhiều vất vả, cực nhọc, đã nuôi lớn và ấp ủ cái duyên nghiệp văn chương trong tâm hồn tác giả Luôn gắn cái nhìn của mình vào con người và cuộc sống, lặng lẽ đi qua những thâm trầm

và biến động của nhân gian, nữ nhà văn đã lao động cật lực trên từng trang viết để mang đến cho bạn đọc những trang văn thật sự giá trị Miệt mài sáng tạo và trưởng thành ở truyện ngắn, đến với tản văn, Nguyễn Ngọc Tư ngày càng thể hiện được “độ chín” trong phong cách văn chương của mình để hòa nhập vào dòng chảy sôi động của tản văn đương đại Như một con gió lạ đầy cuốn hút, Nguyễn Ngọc Tư với quan niệm văn chương thật giản dị; góp phần tích cực vào quá trình hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ của tản văn Việt Nam đương đại

1.1 Nguyễn Ngọc Tư và hành trình sáng tạo tản văn

1.1.1 Người phụ nữ nuôi cô đơn để viết văn

“Cuộc sống, sự vận động mãnh liệt, không gì kiềm hãm nổi của nó không những tạo nên sự vận động trong tư tưởng sáng tạo của nhà văn mà còn

có tác động sâu sắc tới sự phát triển những quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của nhà văn nói chung Thế giới quan của nhà nghệ sĩ không phải là một cái gì bất động; nó luôn có những biến đổi và những biển đổi đó thường hết sức quan trọng” [9, tr.27] Để hoà nhập vào nền văn học đương đại, nhiều nhà văn đã nhập thân trong chính thế giới chủ quan của mình; đưa bản thân đến với cô đơn bất tận; đến với sự lạc lõng vô vị, sự nhạt nhẽo tận cùng của cuộc đời Họ trải nghiệm trong ám ảnh của khắc khoải lo âu, nơm nớp trước bộn bề của

Trang 12

cuộc sống Khi người nghệ sĩ không tìm thấy chỗ đứng của mình trong xã hội thì cô đơn đến với họ như một điều tất yếu Với Nguyễn Ngọc Tư, “nuôi cô đơn” là một cách để che giấu mình trong văn chương

Mang trong mình sự nhạy cảm của một người phụ nữ, Nguyễn Ngọc

Tư càng cần phải đắm chìm vào cô đơn để tìm cho mình cảm hứng đi vào thế giới rất người - nơi mà niềm tin về lòng nhân, lòng thiện, về giá trị truyền thống, về tương lai đều bị đánh đổ Một thế giới mà ở đó xuất hiện nhiều con người với đủ sắc thái, cung bậc cảm xúc, nếm đủ mọi đau khổ cuộc đời; những con người luôn mệt mỏi đấu tranh với chính mình trong hành trình sống Họ ngơ ngác, bơ vơ, quằn quại ngay giữa đồng loại; họ bốp chát, gào thét, hoang hoải trong cuộc chạy đua với những giá trị vật chất Nắm bắt được hiện thực đó, Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu cuốn mình vào những cô đơn, lạc lõng; cuốn mình vào những chiều sâu tâm lí, bản năng, vào thế giới nội cảm của con người để tạo ra một bứt phá lớn về khả năng bóc tách kĩ xảo nội tâm của con người Với quan niệm văn chương vị cuộc đời, tác giả đã nhìn thấu suốt con người từ chiều sâu của nội tâm Trên tinh thần cảm quan hậu hiện đại, tâm thế bất tín nhận thức với thực tại đã tạo ra một khoảng không vô tận cho những hoài nghi và hoang mang; và cô đơn nảy sinh như một kết quả tất yếu minh chứng cho sự vô nghĩa và trống rỗng đang tồn tại trong con người Nhà văn từng chia sẻ: “Nghề viết, dù nam hay nữ thì độ bất trắc, sự rủi ro, sự

cô đơn nặng nề cũng như nhau Tôi thấy chẳng khác biệt gì lớn lắm Chỉ là… thí dụ nghen, tôi viết xong phải nấu cơm, chăm sóc con thì anh nhà văn X nào

đó vừa viết xong ảnh đi… nhậu Nhưng tôi chẳng lấy đó làm buồn, sống trong thế giới phụ nữ, rất dễ nuôi cô đơn để viết” [7] Có lẽ là phụ nữ, nên cảm giác chông chênh và bất an luôn thường trực trong tâm thế của Nguyễn Ngọc Tư Cho dù chủ thể đứng ở một vùng mênh mang sông nước hay lạc giữa một con đường miền Nam đông vui tấp nập thì nhà văn vẫn cảm thấy mình đang chơ

vơ, lạc lõng, hoang hoải trong hành trình của chính mình Chính vì vậy, khi

Trang 13

bất cứ ai gặp tác giả ngoài đời hay trên mỗi trang văn cũng đều nhìn thấy đằng sau nụ cười của Nguyễn Ngọc Tư là một nỗi buồn dấm dẳng, bất tận Buồn song có lẽ không tái tê, Nguyễn Ngọc Tư chỉ buồn bất lực và lúc rảnh thì nuôi buồn để viết

Đặc trưng của văn học hậu hiện đại là sự trở lại của con người bản ngã, con người đời tư, con người với vô số những chấn thương, bi kịch Nếu ở văn học giai đoạn 1930 - 1945, khi con người rơi vào tận cùng của cô độc thì gào thét để tìm lối thoát thì con người trong văn học sau năm 1975 lại chấp nhận

và sống chung với cô đơn để sáng tạo Cô đơn trở thành một phạm trù thẫm

mĩ khi “nỗi lo của thế kỉ về sự cô đơn, sự phân thân, sự tha hóa của con người; nỗi lo về thân phận con người là dấu hiệu đặc trưng của văn học phương Tây thế kỉ XX” [12, tr.96] đến văn học đương đại Việt Nam đã trở thành mối quan tâm chính Cũng sống, cũng hòa nhập với cộng đồng nhưng

dễ gì con người tìm thấy ở nhau tiếng nói chung, tiếng nói đồng điệu Sống chỉ để căng ra mà hốt hoảng, mà vật vã, cuống cuồng chạy tìm giá trị thực của cuộc sống; tìm tình yêu thương của những người xung quanh hay tìm chính mình trong quan hệ tự thân Nguyễn Ngọc Tư cũng như bao số phận người ở vùng sông nước Cà Mau, cũng mong tìm được gương mặt cá thể Hiển hiện đậm đặc trong các trang tản văn của chủ thể sáng tạo, mỗi nhân vật, mỗi câu chuyện mà tác giả đề cập đến dường như chưa bao giờ bước chân ra khỏi vòng tròn của cô độc và bất lực khi con người không làm chủ được chính mình, không hòa nhập bản thân vào đời sống xã hội Đó là một thế giới ám ảnh buồn và ngập ngụa cô đơn Nguyễn Ngọc Tư sợ mình lạc mất chính mình; mình không còn là mình, không còn là Tư giản dị, đơn sơ mà tinh tế đến mức cảm nhận được cuộc sống của những con người bên hông nhà mình, hay xa hơn là những số phận người lam lũ ngoài kia Tác giả cũng như họ, sống giữa cộng đồng, sống giữa biển người mênh mông nhưng luôn có cảm giác như bị bỏ rơi Chỉ một cơn gió, một gợn sóng, một sự biến đổi nho nhỏ

Trang 14

cũng đủ làm tâm hồn nữ nhà văn bất an và chênh chao Khi đó, nhân vật của

“đặc sản Nam Bộ” không còn là một sự áp đặt của văn học mà trở thành một trải nghiệm tinh tế của tác giả khi viết cho nhân vật nhưng đồng thời cũng viết cho chính mình

Chịu khó nghiên cứu và tiếp cận cuộc sống từ nhiều điểm nhìn khác nhau, từ nhu cầu cũng như trách nhiệm của một người cầm bút có tâm huyết

và tài năng, Nguyễn Ngọc Tư đã không ngừng khai phá cuộc sống theo cách riêng của mình; đem lại cho bạn đọc những trang tản văn mang phong vị là lạ nhưng rất gần gũi, đồng điệu với tâm hồn Nuôi cô đơn, nuôi buồn để có thể trải nghiệm, có thể lẩn quẩn vào trong nhưng cảm xúc ấy mà nghĩ, mà suy về con người đi ra từ đời sống thật, cái cô đơn của Nguyễn Ngọc Tư cũng giống như cô đơn của con người trong thời kì hiện đại này Cảm giác cô đơn đến với

họ không phải là họ muốn tách mình ra khỏi cộng đồng mà trái lại họ muốn hòa nhập với xã hội nhưng lại không thể chen chân vào đời sống và kết nối với đồng loại Họ như độc bước giữa một cõi hư vô không có dấu chân của con người, nhưng thực ra họ lại đang tồn tại trong chính bản thân họ với nhiều mâu thuẫn giằng xé Trong chính cái xã hội lợi danh, vật chất, khó nhận ra tình yêu thương giữa con người với con người

Với một tâm hồn trong trẻo nhưng nặng trĩu nỗi niềm của một người phụ nữ luôn nhìn mọi người trong sự cô độc đồng thời cũng thấy được những quy luật của cuộc sống được phản ánh qua ngòi bút của mình, tản văn Nguyễn Ngọc Tư mang đến cho người đọc cảm giác buồn đến mênh mang, là lạ; cái buồn âm ỉ, không thể làm cho người ta bật khóc, song cũng không thể chóng quên Chỉ là những chuyện bình dị trong cuộc sống, vậy mà khi vào văn của Nguyễn Ngọc Tư lại nghe hồ như một lời thốt lên, tưng tửng, nhẹ tênh của những người trẻ “vô tình” gặp bất hạnh trên đường đời song vẫn nuôi hoài hi vọng Đọc văn của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc như cảm thấy có một bàn chân vô hình nào đó đang chầm chầm đi theo, nhìn sát sạt vào gáy, làm lành

Trang 15

lạnh sống lưng; bàn chân đó như giẫm đạp vào lòng mình chỉ để vết thương

cứ âm ỉ chứ không rỉ máu, cảm xúc ngột ngạt chứ không giải toả Càng đọc càng cảm thấy đang ngẩn ngơ với chính xã hội, với cuộc đời, với gia đình và với chính bản thể; để rồi giật thốt lên, thấy mình sao lạc lõng quá, cô đơn quá giữa cuộc đời Đây có thể xem là nỗi cô đơn hiện sinh, là cái buồn nhuốm dư

vị triết lí trong tư duy nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư

1.1.2 Nguyễn Ngọc Tư - “Gió lạ” của tản văn Việt Nam sau đổi mới

đại bắt đầu bước thật sự vào một cuộc nhận đường mới, nhiều cơ hội nhưng đồng thời đứng trước không ít thách thức, rủi ro Các văn nghệ sĩ một mặt tiếp tục con đường sáng tạo nghệ thuật văn chương theo định hướng mới, mặt khác lại loay hoay, trăn trở và đấu tranh để tìm ra một con đường mới, thoát khỏi khuôn mẫu đã cũ ở những giai đoạn văn học trước đó Dân chủ trở thành nguyện vọng bức thiết và lan rộng trong toàn giới văn học nói riêng và các ngành nghệ thuật khác nói chung Văn học phải thực sự sát thực với từng hơi thở, từng chuyển động tế vi của cuộc sống Nhà văn cầm bút trên nhiều tư cách khác nhau Có thể đó là một cái nghề cái nghiệp của cuộc đời trao vào tay; có thể là thiên chức, trách nhiệm của một người nghệ sĩ thực sự có ý thức nghệ thuật để phản ánh cuộc sống đúng bản chất của nó chứ không thuần nhất chỉ là một chiều như vốn có với những kết thúc có hậu Ai cũng hăng say trong cuộc nhận đường đó, và Nguyễn Ngọc Tư cũng không đứng ngoài cuộc khi là một trong số ít những gương mặt thật sự cá tính trên con đường sáng tạo nghệ thuật Những thành tựu ở thể loại tản văn mà nữ nhà văn này đã đóng góp cho văn học đương đại là điều không thể bàn cãi

Là một cây bút nội lực, Nguyễn Ngọc Tư ngày càng khẳng định được

tư chất cầm bút của mình và được nhà văn Nguyên Ngọc hết lời khen ngợi:

“Mấy năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vây, tươi tắn lạ

Trang 16

thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc biệt Nam Bộ một cách như không” [17] Bắt đầu ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc mộ đạo văn chương ở thể loại truyện ngắn, trưởng thành hơn sau mỗi trang viết và khẳng định được cá tính sáng tạo của mình trên văn đàn, người phụ nữ viết văn này ngày càng “chất” và dày dặn hơn ở tản văn “Cơn gió lạ” này đã quyện một luồng gió mới, trong lành và đầy hứa hẹn cho tản văn Việt giai đoạn sau này

Xuất phát từ chính nhu cầu khám phá và hòa mình vào cuộc sống, bằng

sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trên tinh thần nhân bản của văn học, Nguyễn Ngọc Tư đã bản lĩnh thể hiện một cái tôi rất “riêng” với thể loại tản văn Như Turghênev từng viết: “cái quan trọng trong tài năng văn học… và tôi nghĩ

rằng cũng có thể trong bất kỳ một tài năng nào, là cái mà tôi muốn gọi là tiếng

nói của mình Đúng thế, cái quan trọng là tiếng nói của mình, cái quan trọng

là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của

bất kỳ một người nào khác… Muốn nói được như vậy và muốn có được cái

giọng ấy thì phải có cái cổ họng được cấu tạo một cách đặc biệt, giống như

của loài chim vậy Đó chính là đặc điểm phân biệt chủ yếu của một tài năng sống độc đáo” [9, tr.90] Cái cổ họng đặc biệt của Nguyễn Ngọc Tư, cái làm cho nhà văn này dù đứng giữa một rừng những cá tính nổi trội vẫn bật lên một cách rạng rỡ, chính là cái chất giọng Nam Bộ luôn nói thẳng, sống thật một cách tận hiến trước tiên cho niềm đam mê của bản thân Vì ý thức được những điều trên, mỗi lần xuất hiện với một tuyển tập tản văn mới, Nguyễn Ngọc Tư lại làm cho bạn đọc hồi hộp và mong đợi khi không biết tác giả sẽ cho mình thưởng thức thêm một món gì “mới” “Mới” với Nguyễn Ngọc Tư không chỉ đơn thuần là đề tài mới, nóng bỏng mang tính thời sự, mà cái mới của chị còn là cái mới của một sự giản dị, chân phương khi viết về những vấn

đề đã quá quen thuộc và bình thường nhưng rất lạ, rất dễ lấy lòng người Bắt đầu thử sức với tập tản văn đầu tiên in chung với nhà văn Lê Thiếu Nhơn

Trang 17

Sống chậm thời @ (2006); bằng chính sự đằm thắm và chân thật trong cảm

xúc, trong suy nghĩ và sự tinh tế trong mỗi liên tưởng đã tạo nên sức hấp dẫn

kì lại trong tản văn của Nguyễn Ngọc Tư Đều đặn cho ra mắt những tập tản

văn thời gian sau đó, Ngày mai của những ngày mai (2007), Biển của mỗi

người (2008), Yêu người ngóng núi (2009) và Gáy người thì lạnh gần đây là

những tác phẩm tạo được chiều sâu suy tư và càng khẳng định “độ chín” trong phong cách tản văn của Nguyễn Ngọc Tư Với bút lực dồi dào, cộng với

sự mẫn cảm và tinh tế, “đặc sản Nam Bộ” đã soi chiếu vào bề rộng những vấn

đề xã hội và bề sâu của số phận con người Mỗi trang tản văn dù viết về những đề tài quen thuộc, song dưới cách nhìn nhận và lí giải của Nguyễn Ngọc Tư luôn trở nên mới mẻ và đầy cuốn hút

Trước những cây tản văn gạo cội như Mạc Can hay Mai Văn Tạo, tản

văn Nguyễn Ngọc Tư cũng mang nhiều nét tương đồng trong lối viết; bởi nhà văn Nam Bộ nào cũng thấm đẫm cái chất quê hiền lành, chất phác nhưng hào sảng và chịu chơi của miền đất này Nhưng nếu Mạc Can và Mai Văn Tạo mang chất giọng gần gũi, sắc sảo song lịch lãm của những người đã đi qua gần hết cuộc đời thì tản văn của Nguyễn Ngọc Tư lại mang cái chất giọng chân phương, tự nhiên nhưng sâu sắc đến vô cùng Chính điều này tạo nên cái chất lạ mà quen trong mỗi trang viết và tản văn của tác giả dường như lúc nào cũng mới Không lẫn lộn với bất kì một chất giọng nào, vẫn cái sắc lạnh, dửng dưng nhưng luôn tràn đầy những nỗi niềm tâm sự và sâu sắc đến vô cùng, Nguyễn Ngọc Tư dường như luôn làm chủ được chính mình Khước từ mọi lối bắt chước cuộc sống thông thường, chị để mình đắm chìm trong thế giới chủ quan của tâm hồn mà mặc sức sáng tạo, mặc sức giải tỏa những bức bối vọng về từ cõi lòng

Lao động nỗ lực qua từng trang viết, không ngủ quên sau những chiến

thắng, nữ nhà văn trẻ tuổi dường như đã khuấy động bầu không khí của văn học nước nhà bằng một phong vị viết khác lạ, độc đáo với những điều hết sức

Trang 18

giản dị mà không ít người cố gắng tiếp cận một cách khó khăn Cũng đa dạng trong các đề tài quen thuộc của tản văn đương đại, chị còn làm mới mình khi

đi sâu vào khai phá vùng đất nội tâm của con người với những biến động, bất

an đầy dự cảm khi niềm tin vào cuộc sống bị vơi đi từng ngày theo cơn lốc của cơ chế thị trường Luôn nắm bắt kịp thời và nhanh nhạy các vấn đề nóng hổi trong đời sống xã hội, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ đơn thuần giữ cho mình cái chất giọng tâm tình tha thiết của tản văn thời kì đổi mới mà còn đem đến cho bạn đọc sự phẫn uất, đau đớn Cơn gió lạ ngày càng tung hoành và thể hiện sự chiếm lĩnh của mình khi tiếp tục cho ra một loạt những tác phẩm mới trong thể loại tạp văn, tản văn

Bằng văn phong của một người sống “từng trải” ngay từ khi còn thơ ấu, Nguyễn Ngọc Tư luôn xem văn chương với mình là một cái duyên mà trời trao vào tay không thể không nhận và khi đã nhận rồi thì phải làm sao cho thật xứng đáng Chính quan niệm viết văn thật và chất đúng như cuộc sống, Nguyễn Ngọc Tư đã xác lập vị thế của mình giữa một rừng các cây bút viết tản văn Sự độc đáo và chân phương trong lối viết của người phụ nữ yêu văn chương đã thổi mát tâm hồn bạn đọc giữa những bộn bề của cuộc sống mưu sinh

1.2 Tản văn trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại

Trong những năm trở lại đây, văn học đương đại đứng trước sự vận động của thời đại đã cựa mình đổi mới trên mọi phương diện, đặc biệt là phương diện thể loại Sự bùng vỡ của tiểu loại tản văn trong thể loại ký được xem như một hiện tượng đáng chú ý trong lịch sử phát triển của ký văn học; góp mặt đáng kể vào khuôn mặt gia đình ký Việt Nam

“Nhìn lại đời sống văn học hơn mười năm qua, thấy bên cạnh những thể loại được coi là chủ chốt trên văn đàn như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ,… tản văn đã thực sự có chỗ đứng trong ý thức tiếp nhận của công chúng Nó vươn dậy tự nhiên trong nhu cầu mạnh mẽ muốn góp những tiếng nói chân

Trang 19

thực và biểu lộ chính kiến của các nhà văn về tất cả các vấn đề trong cuộc sống, bởi tản văn là thể loại bộc lộ trực tiếp “cái tôi” của người sáng tác” [12, tr.285] Trong đó, Nguyễn Ngọc Tư là một luồng sinh khí góp mặt vào môi trường tản văn đương đại đang vận động và phát triển

1.2.1 Tản văn - “Viện bảo tàng của cuộc sống”

Tản văn hay còn được gọi với tên gọi khác như nhàn đàm, phiếm luận hay đoản văn là một thuật ngữ dùng để gọi tên một thể loại văn học nằm trong thể ký Mặc dù xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử văn học, nhưng qua rất nhiều lăng kính nghiên cứu thì người ta vẫn chưa hiểu một cách đồng nhất, thuần nhất về thể loại này

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi phải có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ mang đậm bản sắc cá tính của tác giả Tản văn là loại văn tự do, dài ngắn tùy ý, cách thể hiện đa dạng, đặc biệt là thể hiện nổi bật chính kiến

và cá tính của tác giả, có truyền thống lâu đời và sức sống mạnh mẽ” [4, tr.295 ]

Rộng lớn ở phương diện đề tài, tản văn không bỏ sót một ngóc ngách nào của đời sống xã hội, đặc biệt là những biến động của đời sống tâm hồn con người thời kinh tế thị thường Là tiểu loại “bộc lộc trực tiếp “cái tôi” của người sáng tác” [12, tr.285], mỗi trang tản văn là một thái độ, một quan điểm, nếp nghĩ của tác giả khi nằm trong lòng cuộc sống và đối diện với cuộc sống Theo đó, giáo sư Hoàng Ngọc Hiến cũng có một cách hiểu tương tự: “Tản văn

là một tiểu loại ký ngắn gọn, hàm xúc theo tùy hứng của tác giả có thể bộc lộ trữ tình, tự sự hay nghị luận mà thường là cả mấy thứ đan quyện vào

Trang 20

nhau…ngòi bút của tản văn chạm vào những hiện tượng được tái hiện ở những khía cạnh cốt yếu và bất ngờ… mang đậm dấu ấn cảm nhận và cảm

nghĩ rất riêng của tác giả” [5, tr.235] Khá gần với thể loại essay, tản văn vừa

kể chuyện tản mạn vừa thể hiện rõ nét tư tưởng và quan điểm của nhà văn về những vấn đề xã hội, đời tư nhiều biến đổi Có thể thấy, với dung lượng khá ngắn gọn của mình, tản văn vừa phải kể được “chuyện”, vừa cung cấp một lượng thông tin xác thực đến bạn đọc, đồng thời phải thể hiện được cái “tôi” của tác giả ở đấy Đứng trước mỗi vấn đề, tùy người sẽ có cách nhìn nhận, đánh giá và thể hiện quan điểm theo cách riêng của mình Bản lĩnh và sự độc lập trong suy nghĩ chính là vấn đề cốt yếu để cái “tôi” ấy được đứng vững, thuyết phục và nhận được sự đồng cảm của bạn đọc Và vấn đề về dung lượng cũng là một điều tạo ra sự đặc biệt cho thể loại này khi với hình thức ngắn gọn như vậy, tản văn lại được đánh giá như là một viện bảo tàng, cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống

Trước đây, trong quan niệm của rất nhiều người viết văn thì tản văn thường là những câu chuyện tản mạn bông phèng của các vị cây đa, cây đề trong giới văn chương Nhưng sự thật, cũng bình đẳng như tất cả các thể loại, tiểu loại khác, tản văn chính là con mắt cuộc đời mà nhiều người lựa chọn để ghi lại những vận động dù nhỏ, dù lặt vặt trong đời sống để mang đến cho bạn đọc nhiều thể nghiệm mới lạ hơn đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa văn học

và đời sống Nếu hiểu văn học là “lương tri của thời đại” [12, tr.89] thì tản văn chính là nguồn cung cấp dồi dào nhất nguồn lương tri đó cho bạn đọc khi

rõ ràng, với dung lượng khá khiêm tốn của mình, tản văn lại có thể đủ sức dung chứa những câu chuyện xô bồ của cuộc sống, sự nhập nhằng của xã hội

để từ đó cài cắm nguồn thông tin văn hóa xã hội vào quan điểm, thái độ cũng

như cảm xúc của người viết Tập tản văn Nhân trường hợp chị Thỏ Bông của

Phan Thị Vàng Anh năm 2004 là một ví dụ khi đây là những kiến giải của nhà văn về cuộc sống, nhân tình thế thái hay sự nhạy cảm và ý thức trách nhiệm

Trang 21

khi đứng trước những vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm như hôn nhân, giáo dục, giao thông, môi trường và đặc biệt là đạo đức của con người Tản văn không còn đơn thuần là những câu chuyện tâm tình của những nhà văn đứng tuổi mà còn là nơi để các nhà văn ở mọi lứa tuổi suy nghiệm về cuộc đời Dù là trữ tình hay là chính luận hoặc có sự kết hợp hoàn hảo của cả hai thì trên mỗi trang viết, tác giả luôn nỗ lực đào sâu, dấn thân trải nghiệm để từ

đó chia sẻ với bạn đọc những góc nhìn mới sâu sắc và toàn diện hơn về những vấn đề thân thuộc, gần gũi trong đời sống

biến đổi về mọi mặt xã hội luôn luôn có sức quyến rũ và hấp dẫn với những người cầm bút Dù biến đổi không ngừng qua các môi trường xã hội và lịch

sử khác nhau, văn chương nghệ thuật từ xưa đến nay vẫn đi sâu khai thác những mặt cơ bản nhất là sự thật và giá trị nhân văn trong cuộc sống con người Luôn có một cách nhìn hết sức thực tế và hòa quyện giữa cái hiện có

và nên có, khiến con người nhận chân được thực trạng nhân thế, nhà văn không thể nào không dấn thân vào cuộc sống Viết văn với mỗi nhà văn không chỉ đơn thuần là cái nghề mà còn là một thứ nghiệp, mà mỗi người lại mang một duyên nghiệp Có người viết truyện ngắn rất hay, rất giỏi nhưng lại không thể viết hay ở các thể loại khác Thơ, tiểu thuyết hay ký cũng vậy Sự lựa chọn của văn chương luôn bất ngờ và thú vị Với tản văn, bức tranh cuộc sống luôn ngồn ngộn trước mắt, tái hiện lại cuộc sống trở thành một như cầu thúc bách từ thế giới nội tâm, từ chính trải nghiệm đã tích lũy để giãi bày suy

tư hay ghi dấu những hiện tượng xã hội mà người nghệ sĩ không thể lờ đi Tản văn nói đủ thứ chuyện trên đời, từ những câu chuyện vụn vặt, chuyện gia đình, tình yêu, lối sống cho đến những chuyện to tát như chính trị, văn hóa… Người viết tản văn vì thế tự do phóng bút theo những trải nghiệm của mình Viết từ nhà ra phố, từ nông thôn đến thành thị, đến cả những vùng đất nơi cuối cùng Tổ quốc hay lăn bút đến những thân phận nhỏ bé nghèo khổ, rồi trở

Trang 22

về quá khứ với chút dư âm của tiếc nuối Đâu đó là một bữa cơm gia đình, là một thói quen, là những cảm xúc nghẹn ứ trong lòng mà không thể chảy tràn trong tản văn của Nguyễn Thị Hậu Cũng có thể là những hoàn cảnh mưu sinh, buôn gánh bán bưng hay cách đối nhân xử thế giữa người với người, rồi lăn tăn khi nhớ đến một miền đất trong kí ức xa xôi, trước thân thương giờ trở nên xa lạ dù chỉ cần bước một bước chân nữa là chạm đến của tản văn Mạc Can, Kim Quyên hay Nguyễn Ngọc Tư Lắm khi, tràn ngập trong tản văn hình ảnh của thiên nhiên lúc căng tràn sức sống đến lúc giãy chết đành đạch

vì chính bàn tay con người Và cũng có thể là cảm nhận của nhà văn khi đứng trước chân - thiện - mĩ của cuộc đời nhân vô thập toàn… Những điều tưởng như quá nhỏ bé, vặt vãnh này lại trở thành cái căn cớ để nhà văn “than thở” và chia sẻ sự đồng cảm với bạn đọc yêu mến văn chương Bạn đọc dễ dàng tìm thấy một góc cuộc đời mình trên những trang viết, kỉ niệm dường như sống dậy đối diện với chính mình rồi lắng đọng, tâm hồn được thả trôi trong dòng chảy của suy tư Với nhà văn, viết tản văn như một liệu pháp trị liệu cho tâm hồn, giãi bày những cảm xúc đầy ứ hay những giây phút tìm lại mình giữa cuộc đời đầy biến động Bước chân vào tản văn, chính là mở cánh cửa viện bảo tàng cuộc sống với những hỉ nộ ái ố của của cảm xúc Đây có thể xem là

lí do mà ngày càng nhiều người tìm đến với tản văn hơn, bởi ở đó con người nhận ra mình rõ nhất; được sống thật nhất và thấy bức tranh cuộc sống hiển hiện gần gũi hơn

1.2.2 Diện mạo tản văn Việt Nam đương đại

Sáng tạo văn chương mang đặc thù riêng của sáng tạo nghệ thuật Bắt nguồn từ chính nhu cầu cá nhân của mỗi nghệ sĩ, lựa chọn một hình thức nắm bắt sợi dây kết nối tâm hồn với độc giả, chấp nhận sự va chạm và thu nhặt trải nghiệm để từ đó cho ra một tác phẩm có chất lượng luôn là mong mỏi của nhiều người cầm bút có tư cách Với những người viết tản văn, trong thời gian

Trang 23

gần đây, sự bùng vỡ của tiểu loại này là một động lực thúc đẩy nhiều thế hệ nhà văn không đứng ngoài lề

Trên các báo, tạp chí, văn đàn, tản văn xuất hiện khá nhiều, đều đặn và thường xuyên, nhất là từ sau những năm 90 trở lại Đây là một tín hiệu khả quan cho sự phát triển mạnh mẽ của ký văn học Sự phát triển phong phú và

đa dạng của các tiểu loại trong thể ký, nhất là tản văn, trong thời kì đổi mới là một minh chứng sinh động về tính dân chủ trong văn học Bởi đã từng có giai đoạn, nhiều người quy chụp cho tản văn là những câu chuyện thiên tào, dành riêng cho những nhà văn không chuyên với vài ba câu chuyện nhỏ vụn kết nối

và man mác buồn, hoặc là vài lần lia bút tránh nhàm chán của các nhà văn lớn Đây là cách nhìn khá phiến diện

Tản văn đương đại ngày càng có nhiều những thương hiệu thật sự chất lượng Nhiều nhận xét còn cho rằng đây chính là “thời của tản văn” khi giữa

sự phát triển ồ ạt và căng cứng của truyện ngắn, thơ hay tiểu thuyết, luôn đòi hỏi mỗi ngày một mới, một “chất” hơn thì ở tản văn, chầm chậm lấn sân và thể hiện bản lĩnh cái riêng của mình, trở thành nơi nương náu an toàn cho những cảm xúc khó chia sẻ

Tản văn Việt Nam đương đại xoay quanh những câu chuyện tản mạn

về nhân gian thế sự, về muôn mặt cuộc đời mà ở đó con người luôn hiện diện với vị trí trung tâm “Thời kinh tế thị trường đã chỉnh lại nhiều thước đo giá trị con người, đặt con người trước những thử thách không kém phần khốc liệt

so với thời kháng chiến Trước miếng cơm manh áo, trước những đòi hỏi của cuộc sống vật chất, sự tư lợi cá nhân giằng co với ý thức nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi nhuận cọ xát với đạo đức, lương tâm, liêm sỉ…” [12, tr.285] Người cầm bút đặt mình trước những vấn đề cuộc sống với một tinh thần nhạy bén và tinh tế, biết nắm bắt, thu lượm và lắp ghép tất cả thành một bức tranh cuộc sống sinh động nhất có thể Bên cạnh đó, nhà văn còn tạo cho bạn đọc cơ hội trải nghiệm những cung bậc thăng trầm của cảm xúc, lúc đượm

Trang 24

buồn, lúc hụt hẫng, lúc nhớ thương, lúc thù hận, lúc chua chát, mỉa mai, lúc hứng khởi, rạng ngời trên trong từng con chữ Chính sự tự do và khoáng đạt trong cách trình bày mà tản văn đương đại thu hút nhiều hơn các cây bút trẻ giàu nội lực Cái tôi rất “riêng” mang cá tính của tác giả là điểm nhấn để người viết dũng cảm phơi bày những sự thật và thể hiện chính kiến của mình hay nhiều khi chỉ là một sự chia sẻ đơn thuần song thấm thía

Tiếp nối mạch nguồn từ những cây bút tản văn của giai đoạn trước đó, tản văn đương đại ngày càng làm làm mới mình trong sự đa dạng của đề tài Không chỉ còn là những câu chuyện tâm sự tha thiết của chủ thể xuất phát từ

sự gắn bó và niềm yêu sống cuộc đời, từ ấn tượng sâu đậm với cảnh sắc quê hương hay những phong vị của cái đẹp hiện hữu, tản văn đương đại đặc biệt chú ý tiếp cận bạn đọc từ những diễn biến của đời sống nội tâm với những hoang mang, lo lắng, thậm chí bất an dữ dội về những bất trắc của xã hội hiện đại Đó có thể là cách ứng nhân xử thế giữa con người với con người, giữa con người với quê hương, đất nước và những giá trị truyền thống, hoặc là nỗi niềm cảm hoài quá khứ, niềm bi cảm với những vấn đề nóng hổi của thời đại

Pha lẫn chất tự sự đời thường với chất triết luận sâu sắc, tản văn giai đoạn này đã mang một diện mạo riêng Bên cạnh tính chất tản mạn nhẹ nhàng với những hình ảnh biểu tượng đẹp, gợi cảm thường thấy ở các tác giả quen thuộc như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Vũ Bằng, là những chính kiến, biện giải mang tính thời sự, là sự trăn trở, chiêm nghiệm lại cuộc sống nhân sinh của tác giả được lồng ghép vào cái khung hình thức phù hợp với hoàn cảnh xã hội Tản văn đương đại tiếp thu tinh thần, tinh hoa của tản văn trong các giai đoạn văn học trước đó Thời của tản văn Vũ Bằng, Hoàng Phủ Ngọc Tường được bắt nhịp cầu mới với Mai Văn Tạo, Băng Sơn, Nguyễn Thị Hậu,… Càng về sau này, các gương mặt tản văn mới xuất hiện càng nhiều đã khằng định vị trí của tiểu loại tản văn trước các thể loại, tiểu loại khác với Đỗ Chu -

“Tản mạn trước đèn” được nhận giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt

Trang 25

Nam, hay “Người đã cho không nhớ” của Hoàng Việt Hằng Đặc biệt là bộ sách “Sài Gòn tản văn” (Nxb Hội nhà văn 2011) quy tụ đông đủ các cây bút

ở nhiều độ tuổi khác nhau, từ những cây bút chín mùi trong lối bút cho đến những người còn khá trẻ trong nghề viết Bộ sách đã tập hợp tất cả những hiểu biết về văn hóa Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung qua những nét đặc trưng riêng của văn hóa vùng miền, các tác giả thường xuyên luân phiên góc nhìn về đời sống và tâm lí của người dân sống nơi đô thị lẫn nông thôn giữa thời đại hội nhập và giao lưu văn hóa, kinh tế, chính trị toàn cầu

Nhìn chung, tản văn đương đại tuy còn khiêm tốn về thành tựu, nhưng lại dày dặn và trưởng thành hơn trên cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật

Sự sôi động trong đời sống xã hội và sự phát triển không ngừng của văn học ngày càng tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tản văn phát triển mạnh mẽ Dù còn mang dáng dấp của tản văn giai đoạn trước đó, “cái tôi” của tác giả còn chưa thật sự “đậm nét” với những trang viết còn “nhạt”, nhưng với những gì

mà nó đã thể hiện và nỗ lực bức phá, tản văn đương đại ngày càng trở thành mảnh đất “phúc” cho rất nhiều cây bút lựa chọn để “chuyển kênh”

Trang 26

Chương 2

GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH - TỪ NHỮNG SUY NGẪM THẾ SỰ

ĐẾN NHỮNG SUY NGHIỆM PHẬN NGƯỜI

“Đen Buồn Khùng” là những tính từ mà Nguyễn Ngọc Tư dùng để tự nhận xét về mình và rất gần với phong cách văn chương của nữ nhà văn Nam

Bộ Cái cô đơn đến bất tận của nhân sinh trong cõi đời hiển hiện trong cái chất tưng tửng, dửng dưng nhưng sâu sắc bất ngờ Từ lâu, cái tên Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành một từ khóa văn chương mà rất nhiều độc giả tìm kiếm Sau một loạt những thành công về các thể loại như truyện ngắn, mới đây nhất

là tiểu thuyết thì tản văn của Nguyễn Ngọc Tư cũng đã trở thành một thương hiệu gây sức hút và tạo nhiều dư luận

Không màu mè tô điểm, tản văn Nguyễn Ngọc Tư đúng như những gì

nữ nhà văn khẳng định, “mình thơm mùi nắng thì không cần nước hoa” Với con mắt nhìn thấu suốt cuộc đời và tâm thế dám dấn thân để trải nghiệm, tản văn của chị luôn đem lại cho người đọc những hỉ nộ ái ố trong cảm xúc Sau

Yêu người ngóng núi, Gáy người thì lạnh tiếp nối câu chuyện về nhân sinh, về

cuộc đời lắm ô trọc khi đạo đức ngày càng xuống cấp dưới thời đại công nghiệp, xen lẫn nỗi nhớ thương, tiếc nuối về một thời quá vãng Ở đó, chúng

ta bắt gặp mình trong hình bóng của những tha nhân luôn bị ám ảnh bởi tiền tài danh vọng, nuôi trong lòng những tham vọng và thù hận mà tự hủy hoại mình Trong cuộc hành trình quay quắt tìm về nơi cũ, người dẫn đường cho chúng ta, Nguyễn Ngọc Tư như một kẻ cô đơn, lạc lối giữa cuộc đời; luôn nhắc nhở chúng ta về sự chóng qua, vô thường của “cõi tạm”, để rồi từ đó neo lại lòng người những ám gợi đầy suy tư về nhân sinh và lẽ đời

Với chất giọng tưng tửng, đôi khi nhẩn nha nhưng hiềm nhiều bất an và

dự cảm trước cuộc đời, Nguyễn Ngọc Tư dường như đang trải lòng mình trên từng trang viết với những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời từng trải của

Trang 27

mình Tác giả xoáy bút vào từng con chữ, khiến người đọc cảm thấy nhức nhối và không ngừng trăn trở những thân phận đang chết dần chết mòn vì sự tha hóa của nhân sinh, trước những giá trị văn hóa, đạo đức ngày càng phai nhạt Một góc đời quen thuộc, một bóng hình gần gũi, một thói quen đang dần

thay đổi vì những xô bồ của xã hội hiện đại Đọc Gáy người thì lạnh của

Nguyễn Ngọc Tư, như được thanh lọc tâm hồn đã quá cũ nhàu và u ám giữa

xã hội ngổn ngang, xô bồ Sức hút của tập tản văn này trước hết là ở đó

2.1 Suy ngẫm về chân giá trị của cuộc sống

Cuộc sống vốn tồn tại và được xác định bởi một hệ thống giá trị vô hình và hữu hình Đó có thể là giá trị văn hóa, đạo đức hay vật chất , có chức năng là thước đo chuẩn mực cho con người mọi thời đại Tuy nhiên, đứng trước tính chất hỗn mang và bất ổn của trật tự đời sống, giữa sự vần vũ của cuộc sống vô âm sắc; con người với lòng tham, lòng thù hận và ý thức ảo đã

đi ngược lại những chân giá trị tốt đẹp của truyền thống Hệ thống các giá trị này bỗng trở nên biến dạng, phai nhạt, thậm chí có nguy cơ bị triệt tiêu hoàn toàn Điều này vô hình chung đã đẩy con người đi sâu vào lạc lõng, trở nên

hoài nghi và khủng hoảng niềm tin trầm trọng Đến với Gáy người thì lạnh,

bạn đọc dường như cảm nhận được những trăn trở, suy tư thấm đẫm tinh thần nhân bản của một nhà văn có tâm hồn đẹp như Nguyễn Ngọc Tư Có thể chúng ta đã từng gặp đâu đó ngoài cuộc đời rộng lớn kia những triết lí quen thuộc kiểu thế này, nhưng hẳn Nguyễn Ngọc Tư sẽ không làm bạn thất vọng bởi tất cả những tâm niệm, triết lí đó đã được thể hiện bằng một phong cách rất riêng in đậm cá tính sáng tạo của chị trên mỗi trang tản văn

2.1.1 Tâm niệm “hạn chế sân hận, trải rộng tình thương”

Hận là một trạng thái bất ổn của tinh thần Thuyết phật giáo quan niệm

“Nếu tâm bình thì ác khẩu không khởi, tâm chỉ còn niềm cảm thông trọn vẹn

và cởi mở, một tấm lòng đầy từ ái, không còn chi phối bởi bất cứ ác nghiệp nào Với tâm từ bi rộng lớn, sâu thẳm vô biên, ta sẽ cảm hóa những kẻ ác

Trang 28

nghiệp thoát khỏi sân hận và oán thù” [28] Xuất phát từ những cảm xúc mang tính chất cá nhân, sự ích kỉ và giận dữ hình thành khi bản thân con người không làm chủ được bản thân trước tham vọng hoặc phản bội Như những cơn sóng nảy sinh từ một vòng tròn đồng tâm, sự tĩnh lặng và yên bình của tâm hồn bỗng chốc bị phá vỡ và tăng dần theo mức độ của lòng hận

Con người vốn sinh ra với hai phần là “con” và “người”, khi phần

“người” bị phần “con” cưỡng chế và vây hãm là lúc con người mất đi nhân hình, nhân tính và dần trở thành một bản thể vô hồn Sân hận là sự tập trung những cảm xúc tiêu cực Nuôi hận chính là một cách tàn phá chính mình, nuôi dưỡng mầm mống tội ác và tạo điều kiện cho tội ác nảy sinh Khi yêu thương

bị những điều tầm thường và nhỏ nhen của chủ nghĩa vị kỉ làm lu mờ, con

người trở thành một bản thể đầy mâu thuẫn Bước chân vào Gáy người thì

lạnh, bạn đọc chia sẻ với cảm thức của tác giả khi nhận diện những tha nhân

rủ mòn vì định kiến, ích kỉ và mất đi gia vị bao dung mà nuôi hận trong lòng dài lâu Cõi lòng không tâm tịnh, bất ổn không an nhiên sống khiến tâm hồn

lúc nào cũng nặng trĩu như đeo đá trên lưng Trên tay có đá là những trăn trở

về cách đối nhân xử thế của những con người trong xã hội công nghiệp khi sân hận nới rộng đến vô cùng Con người dường như lúc nào cũng chờ chực sát thương nhau để mà hả hê trong phút chốc rồi sau đó nặng lòng Căn bản vì con người trong xã hội đương đại là những kẻ mang nhiều lớp mặt nạ ngụy trang để che đậy sự sợ hãi, sự mất mát về niềm tin và không thể tự cân bằng

mình để sống “Căm Uất Ngột ngạt” [27, tr.130] khiến tâm hồn bỏng rát và mỏi mệt Khi sân hận đã được trải rộng thì “những cuốn sách về nghệ thuật

buông bỏ” [27, tr.130] trở nên vô nghĩa, bởi người đời luôn cầm đá trên tay,

luôn “hăng hái ném nhau”[27, tr.128], biết “vì nó mà mình đau nhưng người

ta vẫn giữ gìn để tiếp tục làm đau người khác, hòn đá được ném đi ném lại trong một hành trình sát thương không ngơi nghỉ”[27, tr.128] Chính những

bất trắc của thời đại đã gieo rắc vào tâm hồn tha nhân những suy nghĩ đen tối

Trang 29

và nguy hại, sẵn sàng đánh đổi yêu thương để giành về phần mình những điều phù phiếm, hạn hẹp

Dưới sự tác động của những thành tựu khoa học hiện đại, của đồng tiền, quyền lực thì sự tha hóa của nhân sinh trở thành một ám ảnh với mỗi người cầm bút chân chính Không thể đứng ngoài lề hiện thực, bằng sự nhạy bén và tinh nhạy của một người viết ký, người viết tản văn đã nỗ lực đào sâu

và tiếp cận con người từ những biến động của tâm hồn Nói như Heidegger thì con người là kẻ duy nhất có khả năng tự vấn bản thân mình Chính vì lẽ đó

mà văn học trở thành phương tiện để bóc tách nội tâm của con người để thức tỉnh chính bản thể Đi tìm căn nguyên để giải quyết vấn đề, người ta phát hiện con người trở nên ích kỉ và mất dần thiện tính là do khủng hoảng niềm tin Khi mất đi niềm tin vào bản thân, vào đồng loại, con người trở nên biến chất

và tràn đầy lòng nghi vực, thù hận Thù hận cơi nới, lan nhanh và không tha

cả cho bất cứ ai Những đứa trẻ còn non nớt thơ ngây, dăm tuổi đã biết phân

chia biên giới “ta - giặc rạch ròi” [27, tr.171], biết “chửi thề ô bô lô a ba la

rồi hỏi bộ giàu là giỏi lắm sao”[27, tr.148], biết “nhảy dựng lên nói bà đừng

có khi dễ tui, đừng thấy tui nghèo mà làm nhục tui”[27, tr.87] Bước đường

mưu sinh đã bám bẩn, những dự án thương mại bỗng chốc trở thành kẻ thù tàn phá sự ngây thơ và trong sáng nơi các em Những hằn học, giận dữ đáng

lẽ ra không nên chế ngự những tâm hồn cần an nhiên sống như thế, nay bỗng chốc tràn lan và “hứa hẹn” sẽ lớn dần thêm từng ngày Cảm giác đau nhẹ nhưng đắng lòng khi chứng kiến cái mầm non xanh mởn mởn luôn đem lại cảm giác bình yên giờ đây đang chết rũ, sẵn sàng đẩy người đối diện về phía

bên kia biên giới bằng bóng tối trong ánh mắt chúng với “một cái đá gió rất

khẳng khái Sau những vòng bánh xe thản nhiên quay có mấy tiếng chửi thề của chính thằng nhỏ lả tả rơi”[27, tr.151] Người đọc cũng rơi vào trạng thái

bức xúc và hoài nghi, khi liệu rằng giữa muôn ngàn phi lý đang tồn hiện, con

Trang 30

người dễ có thể không nảy sinh tội ác và thù hận khi bị dồn vào đường cùng,

bị tước đoạt cuộc sống

Lĩnh hội từ các thế hệ nhà văn đi trước, với Nguyễn Ngọc Tư, hình ảnh những người lính bước ra từ chiến trận ở bên kia chuyến tuyến được nhìn lại với tinh thần hết sức nhân bản Những người đàn ông mang thân phận của kẻ

thù trở về đời thường nhưng mang trên mình mãi mãi một vết sẹo - “mà trên

phim người ta gọi bằng giọng chắc nịch là “địch”, “quân bán nước”, “lũ tay sai” [27, tr.171]; mỗi lần chạm tới là một lần đau nhói khiến người đọc không

khỏi chùng lòng mà buồn dấm dẳng Thời gian đi qua không thể làm bạc màu quá khứ, không thể xóa đi những vết sẹo đã chai cứng nhưng sẵn sàng bung

vỡ khi có người cào cấu, càng không làm cho hận thù nguội bớt, vơi đi Sự đeo bám dai dẳng của tư tưởng bảo thù, oán hận đã bắt buộc họ phải chối từ

cuộc sống, họ lẩn tránh “Hết tháng Tư, họ mới quay lại, thất thần và nặng trĩu

như vừa đi đâu xa lắm, mới về” [27, tr.171] Cảm giác ngột ngạt và ứ đọng

của không gian sân hận dường như đã giết chết tâm hồn của con người mỏi mòn chờ sự trở lại một cuộc sống thật đời thường

Len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống, tản văn Gáy người thì lạnh

của Nguyễn Ngọc Tư không khỏi khiến cho người đọc rơi vào cảm giác

hoang mang và bải hoải Nếu ở Yêu người ngóng núi, dù có lúc chạm đến tận

cùng đau đớn và bất an, nhưng niềm tin vào cuộc sống, vào sự hướng thiện của con người vẫn còn được gieo neo bởi tình thương thì giờ đây, nhìn đâu

trong Gáy người thì lạnh bạn đọc cũng cảm thấy sự nghi kị và hoài nghi đến

tột cùng Bởi sự nới rộng của sân hận đang dần triệt tiêu yêu thương và biến yêu thương trở thành một giá trị xa xỉ Nhen nhóm và nuôi dưỡng hận thù qua những suy nghĩ hay hành động biến các nhân vật trong tản văn trở nên xấu xí

và đáng thương Hận thù như hút cạn sinh lực của tha nhân Sân hận đeo bám ráo riết tâm hồn con người hiện đại đang cạn rũ yêu thương với đồng loại Đôi lần ngoảnh mặt làm ngơ, đôi lần chắc lưỡi mặc kệ hình thành những thói quen

Trang 31

xấu, làm nền cho những nhỏ nhen, toan tính trỗi dậy Mất đi khả năng chia sẻ

và biết yêu thương, con người như những kẻ vô hồn chỉ biết lao vào kiếm tìm

và xác định những giá trị phù phiếm mà từ chối làm “người” Tại sao không

sống và yêu thương chân thành như “một bà mẹ ôm con trong lòng mà bàn

tay chị lúc nào cũng bọc lấy bàn tay con, lúc xoa nhẹ lúc nắn khẽ, lúc day ngón cái vẽ lên lòng bàn tay nó những bông hoa” [27, tr.90] hay những “ông cha hồ hởi nán lại chờ con chơi xích đu trong sân trường mẫu giáo”

[27,tr.92], “những ông cha lo âu ngồi bên ngoài hàng rào trường thi, xong

buổi làm bài mệt nhoài cha đón con bằng cái xoa đầu và hỏi “mệt không ông tướng?” [27, tr.92] trong Tùy bút phải lòng Nguyễn Ngọc Tư đã khơi sâu vào

phức cảm âu lo của con người khi đương thời họ vẫn còn là nô lệ của trạng

thái tinh thần sân hận, toan tính trong Gáy người thì lạnh

Là một nhà văn có nhân sinh quan tích cực, luôn hướng ngòi bút của mình vào những nét đẹp tâm hồn và trực diện nhìn vào sự thật với những mặt trái của xã hội, Nguyễn Ngọc Tư luôn thể hiện trong mỗi trang viết của mình tâm niệm về lẽ sống ở đời Không triết lí hay rao giảng đạo đời, bằng chính sự giản dị của tâm hồn người cầm bút, nữ nhà văn đến gần với bạn đọc hơn ở chiều sâu tâm lí bằng những suy ngẫm và trăn trở rất chân thành Với tâm niệm “hạn chế sân hận, trải rộng tình thương”, Nguyễn Ngọc Tư mong muốn nêm đầy gia vị yêu thương của tấm lòng để xoa dịu những tâm hồn tổn thương chất chồng và xóa bỏ khoảng cách vời vợi giữa người với người

2.1.2 Trăn trở về sự phai nhạt những giá trị cuộc sống

Con người vốn dĩ là một bản thể đầy mâu thuẫn Người ta có thể trưởng thành hơn qua từng ngày sống, từng ngày trải nghiệm hay va vấp trên đường đời, nhưng cũng có thể trở nên biến chất khi đứng trước sự cám dỗ của phù phiếm, hư ảo và hạn định Biết đó là những giá trị nhất thời và không bền vững theo thời gian, người ta vẫn chấp nhận lao theo đeo đuổi một cách không ngừng nghỉ dù mệt mỏi và bế tắc Những giá trị mang tính chất hình

Trang 32

thức của xã hội hiện đại khiến con người từ chối hoàn thiện bản thân, tự biến mình thành những tha nhân tham vọng và lạc loài Chính tư duy của con người đặt để giá trị cho mọi hiện hữu và sống với những giá trị đó, song đồng thời chính họ cũng là tác nhân chối bỏ tất cả mọi thứ đã xây dựng nên Và sự biến đổi hay làm mờ nhạt những giá trị tốt đẹp của truyền thống là điều khó tránh khỏi trong xã hội đương đại Nhất là những giá trị thẩm mĩ đạo đức Đây là điều cốt yếu khiến Nguyễn Ngọc Tư bận tâm trong những trang viết của mình

Đứng trước ma lực của tiền tài, danh vọng, con người trở nên tham vọng và sẵn sàng đánh đổi nhân cách để chiếm hữu tất cả Các nhân vật trong tập tản văn gần đây nhất của đặc sản Nam Bộ cũng vậy, họ dị dạng và xấu xí

từ cách nhìn nhận đến lối sống “Chân - Thiện - Mĩ” từ lâu vốn là một niềm khao khát mãnh liệt mà loài người hướng đến song giờ đây trở nên xói mòn

trước xã hội thực dụng Cúi xuống vùng non xanh mát vạch ra trong tâm trí

bạn đọc một sự so sánh nhỏ khi trước đây văn hóa nghe nhìn được xác lập ở

sự “nghe khỏe” [27, tr.14], “đẹp giản dị” với “tiếng hát non trong, mộc mạc,

chân phương, đôi lúc vụng về, run rẩy Ca sĩ không dùng bất cứ phương tiện nào kỹ thuật nào để nương dựa, lấp liếm hay che đậy, cứ hồn nhiên như vậy

mà cất cao tiếng hát từ đáy lòng, thanh thoát” [27, tr.14], “Tô Ánh Nguyệt năm xưa đau nỗi đau xa con chỉ cần nghẹn ngào bước từng bước run lẩy bẩy, nắm tiền trong tay bay bời bời” [27, tr.16] là đủ khiến cho khán giả nghẹn

ngào nước mắt Ở thì hiện tại, người ta thấy “sự giản dị năm xưa mãi mãi ở

lại với… năm xưa” [27, tr.15], khi chân phương, mộc mạc đem lại sự “dễ chịu, khoan khoái, thoải mái” [27, tr.14] bị đánh đổi bằng thứ âm thanh chát

chúa, xô bồ, bằng hình ảnh nhức mắt “Tô Ánh Nguyệt bây giờ vừa gào thét

vừa bứt xé hàng khuy áo quá sex, mệt gì đâu” [27, tr.14] Cuộc sống của xã

hội hiện đại đã làm thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của đại bộ phận người dân Thị hiếu của những tâm hồn trong lành và thanh sạch bị đánh đổi bằng thị hiếu thị

Trang 33

trường khô cứng, giả tạo “Những bức tranh lụa, những trang viết của Thạch

Lam, những bản nhạc mono thu âm năm xửa năm xưa…” [27, tr.15,] trở thành

những hình ảnh đẹp của quá khứ xa vời Càng trải đời, càng va chạm người ta càng trở nên “già đời” và không còn được là mình một cách nguyên chất Chính nhà văn cũng thảng thốt về bản thân khi ngày càng đuối sức vùng vẫy

trong một cuộc sống “phàm tục” mà thèm muốn “Những tuổi hai mươi gặp gì

cũng hăng hái đeo mang, thấy gì cũng hớn hở vơ lấy vào mình, lỉnh kỉnh những phấn son, tô vẽ và xiêm áo, tuổi hai mươi ấy giờ nằm lại ở đâu?” [27,

tr.18] Văn chương soi rọi vào văn hóa để gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, nhưng chính văn chương cũng ngày càng bất lực khi chứng kiến phai nhạt, thậm chí sụp đổ của những “Chân - Thiện - Mỹ”

Sự lệch lạc và khủng hoảng của đức tin trước uy tín của các giá trị sống xuất phát từ chính mâu thuẫn giữa sự u mê và lạc lối về mục đích sống

Như một sự đánh rơi có chủ ý, con người đứng trước guồng quay hối

hả của cuộc sống đã chấp nhận biến mình thành muôn vàn những khuôn mặt tập thể Khi chủ nghĩa vật chất được tôn sùng, những giá trị truyền thống như yêu thương, đạo đức, nhân cách trở nên xa lạ và nhạt nhẽo Không còn chiếm giữ vị trí trung tâm, tình cảm gia đình ngày càng lỏng lẻo, rời rạc và thậm chí

còn xa lạ một cách dở khóc dở cười Ăn cơm một mình với sự thiếu vắng những bữa cơm sum họp đủ đầy, “ngồi mình mình với chỏng chơ bàn ghế,

muỗng xước vào đáy đĩa mà nghe như xước trong lòng những âm thanh rởn óc” [25, tr.101], “nghe vẳng lại tiếng mình chỉ thấy bóng của mình” [27,

tr.103], là một nỗi buồn chưa bao giờ xoa dịu đối với cái tôi khi mỗi lần ông ngoại chống gậy từ kí ức trở về Người đọc hình dung ra cái cảm giác cô đơn đến ngút lòng của những lần tình cảm gia đình đi lạc, người già đợi người trẻ

về mang theo hơi ấm cho căn nhà chỉ toàn lạnh lẽo, trống vắng mà khi trước

“từng đầy ắp tiếng cự cãi rầy rà, bước chân chạy nhảy, nồng đượm mùi mồ

hôi, và rực rỡ những nụ cười” [27, tr.84] Bỗng chốc tiếng than “Trời ơi

Trang 34

chừng nào mới tới lần sau, đám trẻ lại về xôn xao trước ngõ?!” [27, tr.84]

tràn ứ trong không gian những chờ đợi, trông ngóng Quan hệ giữa ông bà, cha mẹ với con cháu bị nuốt chửng bởi bộn bề mưu sinh hay sự ích kỉ cá nhân Thiếu liên kết trong gia đình, yêu thương và sẻ chia dần dần biến mất như một căn cớ đẩy con người vào vùng lầy của cô độc và tha hóa Chỉ ghi lại cái cảm giác mà mình từng trải qua, từng chứng kiến bao lần trong cuộc sống, Nguyễn Ngọc Tư đã làm nhức lòng biết bao con người khi thấy bản thân mình bên cạnh hình ảnh những người ông, người bà còm cõi bên mâm cơm hiu quanh và thiếu thốn hơi ấm tình thân Đã bao người đi qua cuộc sống này một cách vội vã mà không chịu một lần nhìn lại phía sau, để thấy mình đã làm cho mình vơi đi đến tưởng chừng tuột mất cái gia tài thiêng liêng và vĩnh cửu nhất của một đời người Như một lời nhắc nhở hay cảnh tỉnh, tác giả kể những câu chuyện rất đời thường mà độc giả có thể bắt gặp mỗi ngày nhưng phớt lờ đi, để giãi bày nỗi lòng của một người tha thiết yêu cái đẹp đích thực

Càng đi sâu vào cuộc sống, chứng kiến những hao khuyết của yêu thương, và niềm tin trong tâm hồn con người, độc giả càng rơi vào cảm giác bức bối và khó chịu cho sự thua cuộc của truyền thống khi đấu tranh với hiện đại Người ta thôi đấu tranh để gìn giữ những giá trị bất biến và ý nghĩa, để cho đến một ngày, không chỉ các giá trị sống bị phai màu và đánh mất, con người cũng đánh mất chính mình một cách đầy chủ ý Rơi vào cảm giác hụt hẫng đến chới với của một người phụ nữ làm thiện nguyện, người ta mới thấm thía hết cái xa xót của một người tin yêu cuộc sống bị chính cuộc sống phản bội Ừ thì phải mộng mơ để cuộc sống dễ thở, nhưng giữa cái xã hội vật chất

như bây giờ thì “Ba đồng một mớ mộng mơ…” [27, tr.105] Rẻ như bèo và chỉ

cần có tiền là mua được tức thì, nhưng điều đáng lưu tâm chính là cảm giác nuối tiếc vô hạn khi có thêm một hạng mục giá trị sống khác bị quy đổi thành

vật chất Hình ảnh thằng bé bị bệnh bị “kích động dữ dội, cơ thể co giật, mặt

méo xệch, miệng há to và nước dãi chảy ra ròng ròng” [27, tr.106] cố phát ra

Trang 35

một chữ “TIỀN!” [27, tr.107] đằng sau những âm thanh “gru gru” [27,

tr.106], bỗng chốc làm tất thảy vỡ vụn Người ta nghẹn ngào cho cuộc sống nghèo nàn, nhưng càng thất vọng hơn cho sự đánh mất nhân cách một con người Dẫu biết rằng đây là cuộc sống vật chất, mọi hệ hình giá trị đều bị đánh đổi và mờ nhạt dần theo thời gian, nhưng không khỏi nản lòng và tuyệt vọng cho sự buông thả của con người

Theo vòng xoáy gay gắt của thời đại công nghiệp, giữ gìn những giá trị sống chân chính là một điều khó, nhưng càng khó hơn là làm sao giữ cho chính mình luôn được là mình Đứng trước sự nhạt nhẽo và tầm thường của cuộc sống, trước sự phai nhạt những thang giá trị làm thước đo chuẩn cho mọi

con người, mọi thời đại, Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư như những

dòng tâm sự mà nhà văn chia sẻ dành cho tất thảy con người đang hiện tồn Nếu biết sống chân thành và giản dị, biết yêu và tin yêu cuộc sống một cách lành mạnh, biết loại trừ những toan tính, thủ đoạn, những dục vọng, khát thèm

và đặt lên trên hết một thái độ sống tích cực, thì mọi rào cản thời đại sẽ trở nên đơn giản và dễ dàng vượt qua Đây là bức thông điệp sâu sắc mà người trần thuật Nguyễn Ngọc Tư muốn gửi đến bạn đọc từ những trang tản văn tưởng như toàn những chuyện bình dị, thân thuộc này

2.2 Đau đáu cái nhìn nuối tiếc về một thời xưa cũ

Tồn tại giữa môi trường sống hỗn tạp và guồng quay chóng mặt của thời đại cơ chế thị trường, con người vô hình chung bị đẩy vào những khoảng

Trang 36

không của áp lực, mệt mỏi và mất thăng bằng Không thể trốn chạy hiện thực, thiếu hy vọng vào tương lai, tâm thức của con người hiện đại lại lựa chọn quay về với quá khứ để tri nhận và xoa dịu những nhức nhối trong tâm hồn

Đến với khu vườn kí ức trong tản văn Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc

Tư là bước chân vào cuộc hành trình bất tận của nỗi nhớ Như một sự ám ánh

thú vị, khiến tâm hồn nhẹ nhõm và bình yên Dư vị thời đứng ngó là chút tâm

sự của nhà văn về cái thời mình đã từng đi qua trong thường trực cảm giác

thòm thèm của thiếu thốn đến nỗi chỉ cần nhìn thấy thức ăn và “nuốt nước

miếng là sướng rồi” [27, tr.30] Hình ảnh người đàn bà với dĩa gỏi đu đủ trên

tay của “hai lăm năm trước” [27, tr.30] là hình ảnh đẹp nhất bởi khi đó “đó là

món ăn ngon nhất trần đời” [27, tr.30] trong mắt lũ trẻ Trải qua được cái dư

vị “ngồi lên cái ghế cây nhỏ xí, bưng dĩa gỏi cũng nhỏ xí ngấu nghiến cọng

đu đủ cuối cùng, ăn miếng da heo mỏng đến nỗi có thể làm đứt tay người ta, húp nước mắm (chủ yếu là pha nước muối) tới giọt cuối cùng… thấy mình sao

mà sang” [27, tr.30], mới thấy được niềm vui có giá trị như thế nào và hạnh

phúc giản dị ra sao Ở vào giai đoạn mà cái nghèo len lỏi vào từng góc bếp, vào từng suy nghĩ của con người, thiếu thốn và chắp vá trăm bề thì người ta

phải “chống chọi lại cơn thèm ăn vô cùng vất vả” [27, tr.31] Nỗi nhớ đau đáu

như len lỏi vào từng con chữ mà hoài niệm, bạn đọc bắt gặp hình ảnh của

mình ở đâu đó trong “Dư vị thời đứng ngó” [27, tr.29], “Mùa phơi sân trước” [27, tr.46] hay “Mảnh vá cũ” [27, tr.63] với những giàn phơi đầy ắp oằn mình

vì “những món ngon chuẩn bị cho cuộc hội hè” [27, tr.48] trên sân thiên hạ

“khi cám mốc, khi thì mớ bột gạo thừa trong lúc làm bánh, khi thì mớ cơm

nguội hay mớ hay mớ lá dừa khô dùng để nhen lửa, mấy trái đậu bắp già làm giống cho mùa sau” [27, tr.48] hay những món đồ vá chằng vá đụp Nhìn nơi

đâu cũng thấy nét đẹp dung dị, gần gũi của quê hương với những phong vị quen thuộc Người và cảnh như hòa quyện vào nhau tạo nên bức tranh thôn quê đậm đà bản sắc vùng miền “Đặc sản Nam Bộ” dường như không thể

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w