1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm trào phúng trong thơ văn tú xương và tú quỳ

73 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 860,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài Trong lịch sử nền văn học trung đại Việt Nam, chắc hẳn không ai không biết đến Tú Xương – một nhà thơ trào phúng lớn của dân tộc.. Bằng việc nghiên cứu đặc điểm trào p

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

******

LÊ THỊ XUÂN

ĐẶC ĐIỂM TRÀO PHÚNG TRONG THƠ

VĂN TÚ XƯƠNG VÀ TÚ QUỲ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, tháng 5/2015

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

******

ĐẶC ĐIỂM TRÀO PHÚNG TRONG THƠ

VĂN TÚ XƯƠNG VÀ TÚ QUỲ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trong khóa luận tốt nghiệp này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của của PGS.TS Nguyễn Phong Nam

Nếu có gì không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Đà Nẵng, ngày 02 tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Lê Thị Xuân

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Phong Nam trong suốt quá trình thực hiện khóa luận, từ việc xác định trọng tâm đề tài, tìm kiếm tài liệu để phát triển nội dung đề tài…

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Hy đã nhiệt tình hướng dẫn và cung cấp tài liệu trong quá trình nghiên cứu

Qua đây, tôi cũng xin cám ơn các thầy cô quản lý thư viện trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, phòng tư liệu khoa Ngữ Văn đã giúp đỡ tôi trong việc tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Dù đã nỗ lực cố gắng song do điều kiện về thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn nên khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và góp ý chân thành của các thầy cô và các bạn để khóa luận có thể hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 02 tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Lê Thị Xuân

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Bố cục đề tài 8

CHƯƠNG 1 TÚ XƯƠNG VÀ TÚ QUỲ - HAI GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU CỦA THI CA TRÀO PHÚNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN GIAO THỜI 9

1.1 Tú Xương – bậc “thần thơ thánh chữ” 9

1.1.1 Cuộc đời 9

1.1.2 Sự nghiệp 12

1.1.3 Vị trí của Tú Xương trong nền văn học Việt Nam 13

1.2 Tú Quỳ - danh sỹ đất Quảng Nam 1 4 1.2.1.Cuộc đời 14

1.2.2 Sự nghiệp 16

1.2.3 Vị trí của Tú Quỳ trong nền văn học Việt Nam 18

1.3 N h ữ n g đi ể m tươ n g đồ n g v ề p h o n g c á c h t r à o p h ú n g củ a h a i n h à t hơ…… 1 9 1.3.1 Khai thác chất liệu từ hiện thực xã hội mục rỗng, thối nát 19

1.3.2 Tự trào – một hình thức trào phúng đặc biệt 21

CHƯƠNG 2 NÉT ĐẶC SẮC CỦA THƠ CA TRÀO PHÚNG TÚ XƯƠNG VÀ TÚ QUỲ 2 4 2.1 Trào phúng sâu cay – gam màu đậm đặc trong thơ Tú Xương 2 4 2.1.1 Chủ đề trào phúng trong thơ Tú Xương 24

2.1.2 Các sắc thái trào phúng trong thơ Tú Xương 33

Trang 7

2.2 Trào phúng dân dã – nét riêng của thơ văn Tú Quỳ 4 6

2.2.1 Đối tượng trào phúng trong thơ văn Tú Quỳ 46

2.2.2 Các sắc thái trào phúng trong thơ văn Tú Qùy 52

2.2.3 Tiếng cười trào phúng biến hóa 61

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong lịch sử nền văn học trung đại Việt Nam, chắc hẳn không ai không biết đến Tú Xương – một nhà thơ trào phúng lớn của dân tộc Sống 37 năm nằm gọn vào thời kỳ đau thương nhất của đất nước, cuộc đời gặp nhiều trắc trở trong nghiệp thi cử nên những vần thơ trào phúng của Tú Xương mang ý

vị châm biếm, mỉa mai sâu sắc Nhà thơ trung đại thường chịu sự ảnh hưởng của tính quy phạm văn chương, nhưng thơ Tú Xương lại nằm ngoài khuôn khổ đó Tác phẩm Tú Xương không chỉ chú ý đến tính nghệ thuật mà nội dung cũng rất phong phú, đa dạng Mọi mặt của đời sống được hiện lên trên trang thơ đủ hình hài và màu sắc Đặc biệt, không chỉ cười mọi thói hư, tật xấu của thiên hạ mà Tú Xương còn tự cười mình “Thơ Tú Xương đặc sắc là chứng tích của một thời đại, hơn nữa đó là con đẻ của một “thánh chữ”, không thể trộn lẫn với người khác” Như vậy, thơ văn trào phúng của Tú Xương mang một màu sắc, một phong cách riêng in dấu lên nền văn học Việt Nam trung đại những điều mới mẻ Tú Xương được tôn vinh là tổ sư của trường phái thơ văn trào phúng Việt Nam

Bên cạnh Tú Xương, trong số các gương mặt văn nhân Việt Nam ở thế

kỷ XIX không thể không nhắc đến Tú Quỳ Ông trở thành một hiện tượng Văn học “Nhà văn Nguyễn Văn Xuân, trong một nghiên cứu công bố từ năm

1968, khi đề cập đến “hiện tượng” Tú Quỳ, có viết: “Ở miền Nam Trung Việt, đặc biệt ở Quảng Nam, Tú Quỳ là một nhà thơ được rất nhiều người biết Hẳn nhiên là biết hơn cả trăm lần Nguyễn Du.” [14] Ở đây chỉ là cách nhìn của một nhà văn xứ Quảng nhưng qua đó cũng khẳng định vị trí của nhà thơ trào phúng trong nền văn học dân tộc

Tú Xương và Tú Quỳ là hai nhà thơ trào phúng lớn của Việt Nam Tuy

Trang 9

nhiên, mỗi người lại khoác lên mình một màu sắc trào phúng rất khác nhau dệt nên một bức tranh thơ văn đa sắc Bên cạnh Tú Xương với lối trào phúng cay độc là một Tú Quỳ với lối trào tiếu rất dân dã Hai ông có rất nhiều điểm tương đồng về hoàn cảnh sống và cuộc đời, thế nhưng cảm hứng sáng tác của

họ lại rất khác xa nhau Chính vì thế chất trào phúng trong thơ văn họ cũng không giống nhau

Bằng việc nghiên cứu đặc điểm trào phúng trong thơ văn của hai nhà thơ này, chúng ta sẽ có một cách nhìn đầy đủ hơn về diện mạo lối thơ trào phúng của nền văn học trung đại Việt Nam và có cái nhìn hệ thống với thơ văn trào

phúng ở thời kỳ sau Đề tài “Đặc điểm trào phúng trong thơ văn của Tú

Xương và Tú Quỳ” là một đề tài mới, kích thích sự khám phá, tìm hiểu của

người nghiên cứu

Tất cả những lí do trên đã thôi thúc tôi chọn đề tài “Đặc điểm trào

phúng trong thơ văn Tú Xương và Tú Quỳ” làm đề tài nghiên cứu của mình

Hi vọng sẽ đưa đến cho bạn đọc những góc nhìn mới mẻ và đa chiều hơn khi tiếp cận thơ văn của hai tác giả lớn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những bài báo, công trình nghiên cứu về thơ văn Tú Xương

Tú Xương là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam và được giới

phê bình, lí luận quan tâm, chú ý Trong cuốn sách Trần Tế Xương về tác gia

và tác phẩm, Vũ Văn Sỹ - Đinh Minh Hằng - Nguyễn Hữu Sơn đã tuyển chọn

và giới thiệu đến bạn đọc bài viết của rất nhiều tác giả có tên tuổi, hầu hết họ

đã dành nhiều lời khen cho áng thơ văn của nhà thơ đất Bắc này, đặc biệt là

về mảng thơ trào phúng

Nhận xét về giá trị thơ văn của Tú Xương, Lê Đình Kỵ đã khẳng định:

Tú xương là “đỉnh cao của thơ trào phúng Việt Nam” Còn nhà phê bình nghiên cứu Vũ Đăng Văn lại cho rằng Tú Xương là “ông tổ thơ trào phúng

Trang 10

Việt Nam” Qua bài viết của hai nhà nghiên cứu trên, ta có thể khẳng định được vị trí và vai trò to lớn của Tú Xương trong tiến trình phát triển của văn học và vị trí của thơ trào phúng Tú Xương trong cái nhìn lịch đại

Trong bài viết Nghệ thuật thơ Tú Xương, Trần Thanh Mại – Trần Tuấn

Lộ đã đi sâu phân tích thơ Tú Xương ở hai mảng trào phúng và trữ tình, hai ông cho rằng “khi nói đến thơ Tú Xương, người ta biết Tú Xương về mặt nghệ thuật trào phúng nhiều hơn về mặt nghệ thuật trữ tình” và điều trước tiên khi người ta liên tưởng đến văn thơ Tú Xương là “những cái cười mỉa mai, cay độc, những câu chửi tinh vi mà tàn nhẫn, những ngọn roi rất sắc, rất ngọt quật thẳng vào những thói hư tật xấu của một xã hội giao thời” Bài viết bước đầu đã đưa ra những nhận định khái quát về thơ văn Tú Xương trong sự so sánh với các nhà thơ đương thời: Nguyễn khuyến, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Học Lạc,…

Không phản bác lại ý kiến của hai tác giả trên nhưng Nguyễn Lộc trong

bài Kết cấu trữ tình, trào phúng trong thơ Tú Xương lại đưa ra ý kiến cho

rằng hai mảng thơ trữ tình và trào phúng đan xen nhau và đưa ra đánh giá

“Nghệ thuật trào phúng của Tú Xương đạt đến đỉnh cao, trước hết vì tiếng cười của ông là sự phê phán của một lý trí nhạy bén, nhưng đồng thời cũng là cảm xúc nhạy bén của con tim” Như vậy, Nguyễn Lộc cùng đồng ý với ý kiến Thanh Mại – Trần Tuấn Lộ thơ Tú Xương có hai mảng trữ tình và trào phúng Nhưng qua bài viết đã làm rõ được những đặc sắc trong nghệ thuật trào phúng trong thơ văn của ông Tú xứ Bắc Kỳ

Không chỉ dừng lại ở đó, các nhà nghiên cứu khác (Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Tuân, Đoàn Hồng Nguyên, ) còn nghiên cứu về giọng cười, kiểu kết cấu và lối tự trào, hệ thống trào phúng trong thơ Trần Tế Xương

Tiếp thu và phát triển các công trình nghiên cứu trước, Tuấn Thành và

Anh Vũ trong cuốn Trần Tế Xương – Tác phẩm và lời bình cũng đã tập hợp,

Trang 11

tuyển chọn được rất nhiều bài viết, trong đó mảng thơ trào phúng rất được quan tâm chú ý:

Xuân Diệu trong bài viết Thơ Tú Xương đã đề cập đến tiếng cười trong

thơ của tác giả họ Trần này và so sánh cái ý thơ Tú Xương so với các nhà thơ khác (Học Lạc, Từ Diễn Đồng, Tú Quỳ, Nguyễn Thiện Kế) Trong đó đưa ra những đánh giá của các nhà thơ lớn dành cho thơ Tú Xương và đánh giá sự ảnh hưởng của Tú Xương trong nền văn học dân tộc

Cũng tiếp cận trên phương diện trào phúng, trong bài viết Giọng cười

trong tiếng nói Tú Xương Nguyễn Tuân đã đi từ âm sắc đến ngôn ngữ, khám

phá tiếng cười trên mọi mặt của cuộc sống, ông đã đi sâu phân tích các sắc thái của tiếng cười và từng phương diện biểu hiện chủ yếu để chúng ta thấy được ngòi bút tài hoa Tú Xương

Cũng trong cuốn Trần Tế Xương tác phẩm và lời bình, không chỉ dừng

lại ở việc khám phá chất trào phúng trong thơ Tú Xương mà Nguyễn Lộc ở

bài Kết cấu trữ tình và trào phúng trong thơ Tú Xương còn đưa ra những lí

giải về nghệ thuật trào phúng của Tú Xương Đoàn Hồng Nguyên trong bài

Thơ Tú Xương với kiểu tự trào thị dân đã vượt qua những nhà nghiên cứu

khác ở phương diện tự trào của Tú Xương và khẳng định vị trí thơ văn ông trong dòng chảy văn học

Thơ văn Trần Tế Xương được rất nhiều người kể cả bạn đọc và giới phê bình nghiên cứu quan tâm Các tài liệu chính thống đã đề cập rất nhiều, bên cạnh đó còn có một số tạp chí, trang internet vẫn đề cập tình hình nghiên cứu

về Tú Xương Trên Tạp chí sông Hương nhà phê bình nghiên cứu Đỗ Lai

Thúy đã đánh giá rất cao điệu cười của Tú Xương “Người Việt tuy hay cười, nhưng ít cười hay Bởi thế, cho đến nay, thơ Việt chỉ có ba cái cười đáng

kể/nể Đó là cười Xuân Hương, cười Nguyễn Khuyến và cười Tú Xương”

Như vậy, nhà nghiên cứu cho rằng Tú Xương là một trong ba nhà thơ trào

Trang 12

phúng “cười” hay nhất Việt Nam Ông đưa ra nhận xét thơ trào phúng Tú xương cả ba mảng: trữ tình, triết lý, trào phúng như ba mặt của một kim tự tháp, và nhìn ở mặt nào ta cũng thấy trào phúng bởi trữ tình và triết lý thơ ông đều bắt nguồn từ trào phúng Nghệ thuật trào phúng Tú Xương đã được Đỗ Lai Thúy đánh giá lên một tầm cao mới

Như vậy, ta thấy thơ văn Tú Xương đặc biệt là thơ văn trào phúng đã được giới phê bình, nghiên cứu rất quan tâm bằng những bài viết súc tích

2.2 Những bài báo, công trình nghiên cứu thơ văn Tú Quỳ

Tuy không nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu như các nhà thơ trào phúng khác: Tú Xương, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến,… nhưng Tú Quỳ là một “hiện tượng đặc biệt” mà khi nghiên cứu về mảng thơ trào phúng chúng ta không thể không nhắc đến

Trong cuốn Từ điển tác giả, tác phẩm văn học (dùng trong nhà trường) –

Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý đã đưa ra đánh giá “nghệ thuật trào phúng của Tú Quỳ tuy chưa đạt đỉnh cao như Tú Xương nhưng cũng đã góp vào làng cười Việt Nam một điệu cười riêng khá sắc sảo, hóm hỉnh, có sức mạnh phê phán cao và mang đậm nét cá tính sáng tạo của nhà thơ trào phúng xứ Quảng”

Hiện nay, “tôn danh ông đã được các nhà nghiên cứu Văn sử học đã đánh giá đúng mức, đưa tên ông vào từ điển với nhiều lần tái bản như

- Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Bá Thế - Nguyễn Q

Thắng – Nxb Văn hóa năm 1992

- Từ điển Tác gia Việt Nam – Nguyễn Q Thắng – NXB Văn hóa 1999

- Từ điển Văn học Việt Nam của Lại Nguyên Ân – Bùi Văn Trọng

Cường, NXB Đại Học Quốc gia, tái bản lần 3, 2001

- Từ điển Tác giả tác phẩm văn học Việt Nam (dùng cho nhà trường) của

Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý (đồng chủ biên), Đại học

Trang 13

Sư phạm, 2004

- Từ điển Văn học bộ mới – Chủ biên: Đỗ Đức Hiếu – Nguyễn Huệ Chi,

Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Nxb Thế giới, 2004

- Văn thơ Tú Quỳ cũng được nhiều nhà nghiên cứu, nhà báo giới thiệu

trên các sách báo như sách Thơ Ca Trào Phúng của Bùi Quang Huy biên soạn

do NXB Đồng Nai ấn hành, 1996” [9, tr.24]

Đặc biệt, đáng chú ý là công trình của Thy Hảo Trương Duy Hy, với nỗ lực trên bốn mươi năm tìm kiếm không ngừng nghỉ ông đã cho ra đời cuốn

sách Tú Quỳ - Danh sỹ Quảng Nam, Nxb Đà Nẵng, 1993 Trong công trình

này, nhà nghiên cứu đã giới thiệu tới độc giả hơn chín mươi tác phẩm của Tú Quỳ ở nhiều thể loại khác nhau (thơ, phú, vè, văn tế, câu đối, thư tín,…), và một số nhận định đánh giá những giá trị thơ văn của ông Không chỉ dừng lại

ở đó, Trương Duy Hy còn tiếp tục nghiên cứu và cho ra đời tác phẩm Thơ văn

Tú Quỳ, Nxb Văn hóa thông tin, 2008 Nếu ở cuốn sách trên ông chỉ đưa ra

những ý kiến nhận định, đánh giá của người khác xung quanh giá trị thơ văn

Tú Quỳ, thì ở công trình này ông đã đưa ra quan điểm và cách nhìn nhận của bản thân đối với thơ văn danh sỹ này

Ở trường đại học, trước tác của Tú Qùy đã được đưa vào nghiên cứu

Năm 2011, luận văn Thơ văn Tú Quỳ của Hoàng Thị Kim Phượng trường Đại

học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng là công trình luận văn đầu tiên nghiên cứu

về tác giả này Công trình đã làm rõ được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong thơ văn Tú Quỳ Hoàng Thị Kim Phượng đã có đề cập đến tiếng cười trào phúng tuy nhiên công trình mới chỉ dừng lại nghiên cứu trào phúng như một khía cạnh Vì thế vẫn chưa cụ thể, sâu sắc

Không dừng lại khám phá thơ văn Tú Quỳ trên phương diện văn học

Trong bài viết “Thơ văn Tú Quỳ - Từ điểm nhìn văn hóa” trên Tạp chí Non

Nước số 184, Nguyễn Phong Nam đã đi sâu lý giải hiện tượng Tú Quỳ Bài

Trang 14

viết đã đưa ra quan niệm của các nhà nghiên cứu về nhà thơ Tú Quỳ, và nêu

rõ bản chất của thơ ca ông Cuối cùng, Nguyễn Phong Nam đã đưa ra kết luận sáng tác của Tú Quỳ thuộc về những giá trị văn hóa – văn học dân gian và nó

“đã trở thành một hiện tượng văn hóa chứ không đơn thuần về vấn đề thể loại,

không còn là chuyện câu chữ, tiểu tiết” [14] Như vậy, qua bài viết này thơ

văn Tú Quỳ đã được nhìn nhận ở một phương diện khác, tạo nên giá trị mới

mẻ cho đứa con đẻ tinh thần ông Tú Giảng Hòa

Qua tìm hiểu ở phần trên ta thấy, số lượng công trình nghiên cứu về Tú Xương khá đa dạng, trong lúc những công trình nghiên cứu về Tú Quỳ đang hạn chế Và chưa có công trình chính thức nào nghiên cứu riêng đặc điểm trào phúng trong thơ văn Tú Xương và Tú Quỳ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khóa luận này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu đặc điểm trào phúng của hai nhà thơ, từ đó làm nổi bật những đóng góp của hai cây bút trào phúng trong nền văn học nước nhà

Để hoàn thành khóa luận này, chúng tôi đã sử dụng hai nguồn tài liệu

chính: Thơ văn Tú Quỳ của Thy Hảo Trương Duy Hy (2008), Nhà xuất bản văn hóa thông tin; Thơ Tú Xương do Mạnh Linh sưu tầm, tuyển chọn (2014),

Nhà xuất bản văn học

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp khảo sát, thống kê

- Phương pháp phân tích, chứng minh

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trang 15

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, thư mục Tài liệu tham khảo, Nội dung

luận văn bao gồm hai chương:

Chương 1: Tú Xương và Tú Qùy – hai gương mặt tiêu biểu của thơ ca trào phúng Việt Nam giai đoạn giao thời

Trong chương này, chúng tôi đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp, vị trí của hai nhà thơ trên văn đàn Việt Nam, đồng thời khám phá sự tương đồng trong phong cách trào phúng của hai nhà thơ Tú Xương – Tú Quỳ

Chương 2: Nét đặc sắc của thơ ca trào phúng Tú Xương và Tú Quỳ

Chương hai, chúng tôi đi sâu tìm hiểu đối tượng, các sắc thái trào phúng

và phong cách trào phúng của hai nhà thơ

Trang 16

CHƯƠNG 1

TÚ XƯƠNG VÀ TÚ QUỲ - HAI GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU CỦA THI

CA TRÀO PHÚNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN GIAO THỜI

1.1 Tú Xương – bậc “thần thơ thánh chữ”

1.1.1 Cuộc đời

Tú Xương có rất nhiều tên gọi Thuở nhỏ, tên của ông là Trần Duy Uyên Khi đi thi Hương, ông lấy tên là Trần Tế Xương; về sau lại cải lại thành Trần Cao Xương Ông đỗ Tú Tài năm Giáp Ngọ (1894) nên còn được gọi là

Tú Xương Tên tự của ông là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích Tú Xương sinh ngày 5 tháng 9 năm 1870 (tức ngày 10 tháng 8 năm Canh Ngọ), tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nay là phố Minh Khai, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định)

Tú Xương thuộc dòng dõi nho gia, vốn là họ Phạm đổi thành họ Trần bởi vào đời nhà Trần lập công lớn sẽ được phong quốc tính (đổi họ theo vua) Ông nội Trần Tế Xương là Trần Duy Năng, thân sinh là Trần Duy Nhuận cũng là một nhà nho, thi nhiều khoa không đậu, sau làm Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định, sinh được 9 người con (6 trai, 3 gái), Tú Xương là con trưởng

Tú Xương đi học sớm, nổi tiếng thông minh từ nhỏ, 10 tuổi đã có thể đối đáp thơ nhưng cuộc đời ông lại lận đận về thi cử “Cũng lều cũng chõng cũng

đi thi”, Tú Xương vác lều chõng đi đến tám lần Năm 15 tuổi (1885) ông đi

dự khoa thi đầu tiên, và khoa thi cuối cùng là khoa Bính Ngọ (năm 1906) Tú Xương sớm đòi nghiệp học nhưng đời thi gập ghềnh, thi mãi mới đậu Tú tài không lên nổi cử nhân Vì thế, đã có lúc ông đổi tên thành Cao Xương để thay đổi vận đen nhưng hỏng vẫn hoàn hỏng

Ông cưới vợ rất sớm, năm 16 tuổi lấy bà Phạm Thị Mẫn, là con gái nhà dòng dõi, nhưng cái số “lấy chồng kẻ chợ”, “quanh năm buôn bán ở mom

Trang 17

sông – nuôi đủ năm con với một chồng”, cuộc sống khó khăn, nghèo khổ; một tay bà phải vun vén, tần tảo nuôi đủ bảy miệng ăn trong gia đình Tú Xương không có một nghề chính sống chủ yếu dựa vào vợ, chính vì thế gia đình lại càng nghèo đói

Cuộc sống thiếu thốn về vật chất, đúng năm Trần Tế Xương đậu tú tài (1894) thì ngôi nhà số 247 phố Hàng Nâu (nay là phố Minh Khai) bị cháy Cụ Nhuận làm lại xây bằng gạch, nhưng rồi ngôi nhà đó lại bị bà Hai An chiếm đoạt Sự đểu cáng, nghèo đói đã cứa xé Tú Xương với tất cả sự cay cú, vất vả, buồn phiền

Khi mất ngôi nhà số 247 phố Hàng Nâu của ông nội và bố để lại Gia đình ông Tú chuyển đến nhà số 280 cùng phố mà sau này địa phương đã xếp hạng là di tích lưu niệm Tú Xương chính là do mẹ vợ nhà thơ (bà Hai Sửu) chia cho con gái

Tú Xương sống trong bối cảnh giao thời của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Đây là một xã hội chưa định hình khi xã hội phong kiến chưa tắt hẳn và xã hội tư bản cũng chưa rõ dạng

Ông sinh ra trong giai đoạn bi thương nhất của đất nước Năm Tú Xương

3 Tuổi, Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi tấn công Nam Định Năm 12 tuổi (1882), Bắc Kỳ, Nam Định bị tấn công lần thứ hai, triều đình ký hàng ước dâng nước ta cho giặc Hiệp ước Harmand 1883, rồi hiệp ước Petenotre 1884

đã đặt nền đô hộ của Pháp lên khắp 3 kỳ Triều đình nhà Nguyễn chỉ là một đống suy tàn, đổ nát, dìm cả nước ta vào đêm đen nô lệ Phong trào khởi nghĩa của văn thân lần lần thất bại, các nhà chí sĩ yêu nước vẫn chưa có một con đường đi sáng suốt Xã hội đứng trước chế độ thực dân nửa phong kiến, nền kinh tế tư bản được xác lập ngay trên đất thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội Nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột một cách dã man Sự ô hợp của chế

độ phong kiến và chế độ thực dân đã đẻ ra những quái thai của thời đại Bộ

Trang 18

máy thống trị quan liêu kiểu phong kiến trung cổ phương Đông được thay thế bằng một bộ máy thống trị quan liêu kiểu mới do quan chức thực dân cầm đầu, kéo theo là một hệ thống tay sai gồm quan lại phong kiến cũ và thông ngôn, ký lục, viên chức mới Nền kinh tế tư bản hình thành mang nặng tính chất thuộc địa nắm vị trí độc quyền, nền kinh tế tư sản dân tộc vẫn còn tồn tại nhưng què quặt, luôn bị kìm hãm Kinh tế đô thị phát triển mạnh, bộ mặt thay đổi rất nhiều so với thời phong kiến Về văn hóa, chúng đưa Thiên chúa giáo vào với mục đích nếu không thay thế được Nho giáo, Phật giáo thì cũng lấn

át, đè bẹp, cắt đứt nền văn hóa Việt Nam với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Sau đó nhanh chóng gây ảnh hưởng nền văn hóa phương Tây, văn hóa Pháp để chúng dễ dàng cai trị Chữ quốc ngữ được các cố đạo Pháp sáng lập, người có vai trò lớn nhất là linh mục Francisco de Pina (gốc Bồ Đào Nha) Sau khi Pina chếtAlexandere de Rhodes tiếp tục hoàn chỉnh, ngoài mục đích truyền giáo chúng còn thực hiện ý đồ văn hóa nô dịch Muốn xâm chiếm thuộc địa việc đầu tiên là thay đổi văn hóa Thực dân Pháp đã nhanh chóng thay thế nền văn hóa Hán học, kèm theo đó là việc thi cử chữ Hán có lịch sử tồn tại lâu đời trên đất nước ta lâm vào cảnh suy tàn Văn hóa thực dân, Tây học nhanh chóng cạnh tranh và thắng thế Hán học Cùng với việc thay đổi văn hóa đó là sự hình thành lối sống “Âu hóa”, “tư sản hóa” tác động đến lối sống

cổ truyền của dân tộc Việt Nam Hình thái xã hội mới hình thành, đầu tiên là

ở Nam Kỳ sau đó lan rộng khắp Trung Kỳ và Bắc Kỳ Cuộc đổi thay đó đã làm rúng động toàn cõi An Nam, khiến làng Vị Xuyên của Tú Xương cũng không tránh khỏi tác động “Tú Xương vừa là chứng nhân vừa là nạn nhân của cuộc đổi thay này” [20, tr.133] Bằng tài năng và tâm huyết của mình Tú Xương đã làm nhà thư ký trung thành của thời đại, ghi chép một cách chân thực và sâu sắc bức tranh xã hội đương thời Bản thân là một người có tấm lòng yêu nước thương dân, nhưng lại không thể ra giúp nước, ông đã dùng

Trang 19

ngòi bút của mình để chiến đấu phơi bày hiện thực thối nát của xã hội thời bấy giờ

Tú Xương đột ngột qua đời khi tài năng đang ở độ chín, mới 37 tuổi

1.1.2 Sự nghiệp

Tú Xương được xem là bậc thần thơ thánh chữ, nhà thơ trào phúng kiệt xuất của nền văn học Việt Nam Với khả năng trào phúng thần tình, di sản văn học của ông là một tiếng cười trào phúng đầy thông minh và sắc sảo

“Đặc điểm tiếng cười của Tú Xương là: 1) Không mang tính chất thuần túy đạo đức, ý thức hệ, mà mang tính chất hài hước, sinh hoạt, cười vui; 2) Có tính chất khá phổ biến: vừa cười người, vừa cười mình, không tự đặt mình ra ngoài đối tượng của tiếng cười; 3) Có tính chất lưỡng tính: vừa phủ định, vừa khẳng định” [20, tr.233] Văn chương Trần Tế Xương trong sáng, dễ hiểu, dễ thuộc Đọc thơ ông, ta cảm nhận được một cái vị mộc mạc mà trau chuốt, đó

là sự trộn lẫn giữa nền học vấn uyên thâm và vốn văn hóa dân gian cổ truyền của dân tộc

Tú Xương sáng tác khá nhiều và chỉ sáng tác bằng chữ Nôm Hiện nay còn lưu lại khoảng 200 bài với đủ thể loại: thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, lục bát, văn tế, phú, câu đối,… Ngoài ra còn một số bài thơ dịch Tuy nhiên, tình hình tác phẩm Tú Xương rất phức tạp, không có di cảo, không có công trình nào được biên soạn đầy đủ đáng tin cậy khi tác giả còn sống hay vừa nằm xuống Thơ Tú Xương sáng tác chủ yếu để giải sầu hoặc mua vui, đọc cho vợ con, bạn bè nghe rồi tùy ý truyền khẩu Vì thế nên rất dễ bị lẫn lộn vào dân gian (văn học dân gian) Lúc đầu cũng có một số bài thơ của ông được sưu tầm đăng dần trên các báo Sau đó, những công trình sưu tầm nghiên cứu dày dần lên, các tác phẩm sưu tầm cũng ngày càng được so sánh, đối chiếu cẩn thận, loại trừ các bài tồn nghi

Trong hành trình phát triển thơ ca Việt Nam, thơ Tú Xương là một hiện

Trang 20

tượng cách tân rõ nét Sở dĩ nói như vậy bởi vì, khác với bút pháp ước lệ, tượng trưng của thơ ca cổ điển, đến đây Tú Xương đã phơi bày hiện thực một cách trần trụi như nó vốn có Bức tranh xã hội trong thơ Tú Xương được nhìn với lăng kính đầy chân thực, nhân vật trong thơ ông cũng là những cái tên cụ thể Ông đã ném trả nghệ thuật về với hiện thực cuộc sống Qua sự cách tân trong bút pháp và tư duy nghệ thuật của Tú Xương có thể nói rằng chính Tú Xương là người mở đầu, báo hiệu cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực trong thơ Việt Nam 1930 – 1945

1.1.3 Vị trí của Tú Xương trong nền văn học Việt Nam

Tú Xương là một nhà thơ lớn của dân tộc, “Kìa ai chín suối xương không nát – Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn” là hai câu thơ Nguyễn Khuyến dùng để nói về sự nghiệp của Tú Xương Dù thân thể đã hơn 100 năm nát với cỏ cây nhưng văn chương ông vẫn bất chấp mọi thử thách của thời gian Sau khi cách mạng vô sản thành công, văn chương Tú Xương như một vườn hoa trong thời kì nở nộ Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức làm lễ kỉ niệm Tú Xương

50 năm ngày mất (1957) tại thủ đô Hà Nội, 100 năm ngày sinh (1970) tại Nam Định Trong các trường phổ thông và đại học đều có daỵ thơ văn Tú Xương Xuân Diệu đã viết về Tú Xương “Ông nghè ông thám vô mây khói – Đứng lại văn chương một tú tài” và “xếp hạng Tú Xương đứng thứ 5 sau “ba thi hào dân tộc” (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương) và Đoàn Thị Điểm” [20, tr.128] “Lịch sử văn học dân tộc đã dành cho Tú Xương một vị trí đặc biệt: Tú Xương là một nhà thơ trào phúng xuất sắc, đã kế tục và nâng cao truyền thống văn học trào phúng của dân tộc, do đó có một ảnh hưởng sâu sắc đối với tất cả các nhà thơ trào phúng thuộc thế hệ sau”[19, tr.405]

Không chỉ vậy, Tú Xương còn có công hiện đại hóa ngôn ngữ văn học Việt Nam Kế tục Nguyễn Du, Tú Xương đã đưa lời ăn tiếng nói của nhân dân vào thơ Ông đã nhập ngôn ngữ văn học với ngôn ngữ đời thường mà không

Trang 21

hề làm tầm thường hóa văn học “Và trên văn đàn bác học, chung quanh thơ

Tú Xương, nở rộ cả một loạt thơ cùng chung một mạch hứng, kể từ một số thơ của Nguyễn Khuyến (đi trước một chút) cho đến thơ của Học Lạc, Từ Diễn Đồng, Huyện Nẻ, Tú Khắc,… Nhưng trong trào lưu thơ đó, Tú Xương

là nhà thơ tiêu biểu nhất, xuất sắc nhất, toàn diện và hoàn chỉnh nhất” [19, tr.507]

Tú Xương xứng đáng đứng vào hàng ngũ những nhà thơ trào phúng lớn của thế giới

1.2 Tú Quỳ - danh sỹ đất Quảng Nam

1.2.1.Cuộc đời

Tú Quỳ tên thật là Huỳnh Quỳ, hiệu là Hướng Dương, sinh ngày 15 tháng 5 Mậu Tý, niên hiệu Minh Mệnh thứ IX (1828) tại làng Giảng Hòa, tổng Quảng Hòa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Đại Thắng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam)

Theo gia phả thì Tú Quỳ thuộc đời thứ IX, một gia tộc mà vị thế tổ Huỳnh Đại Lang (tức Huỳnh Văn Nê), vốn gốc Thừa Tuyên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh vào đây khai hoang và định cư từ thời Hồng Đức nhà Lê (thế kỷ XV)

Huỳnh Quỳ là con trưởng nhà nho Huỳnh Kim Cương (tức Huỳnh Kim Cang – từng đỗ tú tài 3 lần) Mẹ ông họ Trần, quê ở làng Vĩnh Trinh, thuở nhỏ Huỳnh Quỳ học chữ nho với thầy Tú Sáu (tức cụ Trần Thế Thận) ở Bến Đền (Gò Nổi)

Cũng giống như Tú Xương, cuộc đời thi cử của Tú Quỳ cũng vô cùng lận đận Năm 19 tuổi ông đi thi lần đầu tiên đỗ tú tài, sau đó thi lại lần thứ hai vẫn chỉ đậu tú tài nhưng ông là người được xếp đầu bảng Cũng chính vì thế,

từ đó, ông được người dân gọi là Tú Quỳ Ông trở về quê làm nghề dạy học, theo gót ông nội, cha và chú ruột, không màng đến khoa cử, hoạn lộ Trong

Trang 22

quá trình dạy học, ông đã làm quen với nhiều nho sỹ nổi tiếng miền Trung trong đó có nhiều khoa bảng rất thân thiết với ông như Phạm Liệu đỗ đầu Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Tuất 1898 (Đứng đầu “Ngũ phụng

Quảng Nam”), Nguyễn Đình Hiến đỗ phó bảng năm 1901 (một trong “Tứ kiệt

Quảng Nam”), hoặc tuần vũ Nguyễn Hiển Dĩnh (nhà hoạt động nổi tiếng của nghệ thuật hát bội)

Tú Quỳ sống vào thời đại nhiều biến động, chính quyền phong kiến Việt Nam lạc hậu, thối nát, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân Xã hội có sự phân hóa giai cấp rõ rệt Giai cấp thống trị tham nhũng, sách nhiễu nhân dân, hằng năm thiên tai, lụt lội làm cho nhân dân đói khổ, lầm than Giữa lúc đó, năm 1858 Pháp kéo quân sang xâm lược Việt Nam Từ đây nhân dân phải chịu một cổ hai tròng nô lệ, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi

Năm 1885, tiếng súng chống Pháp do Tôn Thất Thuyết nổ tại kinh thành Huế đã bị áp đảo Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Cam

Lộ, Quảng Trị) Tại đây, tháng 5 năm 1885 kêu gọi dân chúng phò Vua cứu nước

Hưởng ứng chiếu Cần Vương nhân dân ta đã đứng dậy chống Pháp Chỉ

ít ngày sau khi chiếu Cần Vương ban bố, ở Quảng Nam các nghĩa sĩ như Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến đứng ra thành lập Nghĩa hội Quảng Nam ở Quế Sơn, cử Trần Văn Dư làm Hội trưởng

Tú Quỳ tham gia tích cực, sốt sắng chiêu mộ nghĩa binh cho Nghĩa hội Đến khi tiến sĩ Trần Văn Dư bị Châu Đình Kế ám hại tại Vĩnh Điện ông vẫn tiếp tục phục vụ dưới cờ Nghĩa hội do phó bảng Nguyễn Duy Hiệu thay thế Chính từ đây ông bị phong trào nghi kỵ bởi những bài thơ Đường luật phản ánh sâu sắc những tiêu cực trong nội bộ phong trào Các quan lại dưới trướng

cụ Hường coi ông là cái gai trong mắt nên tìm mọi cách để trừ khử ông Nhưng bản chất cương trực, lại là người nặng lòng với nước non, không chịu

Trang 23

được những hành động sai trái ấy nên ông muốn gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh những tân quan dưới trướng cụ Những hành động sai trái của thuộc

hạ cụ Hường đã khiến cho nhân dân ngày càng ác cảm, sục sôi lòng phẫn nộ, nhất là vụ tàn sát đạo không “chọn lọc” khiến nhiều người bị chết oan Vì thế

Tú Quỳ đã chỉ trích gay gắt những đường lối sai lệch dẫn đến hao binh tổn lực, nhiều người hi sinh vô ích Kết quả, ông bị bắt và trừng trị suýt mất mạng tại Tân Tỉnh

Được cụ Hường tha tội ông trở về quê tiếp tục dạy học Một điểm cần lưu ý, trong suốt thời gian phục vụ Nghĩa hội cụ Hường chỉ tha chết cho hai người: Người thứ nhất là thầy dạy cụ - Tế tửu Nguyễn Đình Tựu và người thứ nhì là Tú Quỳ Như vậy, phải chăng do Tú Quỳ có một sức ảnh hưởng rất lớn trong lòng nhân dân?

Tháng 10 năm 1887, sau khi Nguyễn Duy Hiệu bị Pháp bắt và xử chém, Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự tử để khỏi rơi vào tay kẻ thù, Nghĩa hội Quảng Nam tan rã

Sau ngày đó, ông trở về sống ổn định những ngày cuối cùng nơi quê hương Vào tuổi cửu tuần, ông nổi tiếng là một danh sỹ đất Quảng Nam và được vua Khải Định ban hàm Hàn lâm đãi chiếu Ông qua đời vào ngày 6

tháng 3 Bính Dần – Bảo Đại nguyên niên (nhằm vào 17 tháng 5 năm 1926),

thọ 98 tuổi

1.2.2 Sự nghiệp

Tú Quỳ được biết đến là một người thông minh từ nhỏ, ông có biệt tài về mặt văn chương, thi phú Năm 15, 16 tuổi ông đã sáng tác thơ Năm 19 tuổi, dùi mài kinh sử đi thi nhưng ông chỉ đậu tú tài Sau khi thi lại lần hai với danh

tú tài đầu bảng, ông trở về quê và sau đó đi khắp dải đất miền Trung làm nghề dạy học Đi đến đâu ông sáng tác đến đó Tú Quỳ sáng tác nhiều thơ ca, từ phú, vè, văn tế, đối, liễn, chữ thờ, thư tín,… nhưng có lẽ xuất sắc nhất vẫn là

Trang 24

những vần thơ trào phúng và các bài văn tế “Nếu như đương thời ở phía Bắc

có Nguyễn Khuyến, Tú Xương; ở Nam Bộ có Nhiêu Tâm, Học Lạc, thì Tú Quỳ là nhà thơ trào phúng lớn ở miền Trung” [8, tr.284-285] Tác phẩm Tú Quỳ hướng đến rất nhiều đối tượng: thực dân Pháp xâm lược, vua quan hèn nhát, đàn áp nhân dân, bọn hương lý cửa quyền hống hách,… Ngòi bút của ông còn đả kích các thói hư tật xấu của nhân dân lao động: mê tín dị đoan, ham chuộng của lạ,… Tuy nhiên khác với các tầng lớp trên, tiếng cười ở đây nghịch ngợm là chính

Ngòi bút của ông cũng theo tinh thần Đồ Chiểu “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm – Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” Ngoài lên án sâu sắc hạng người lợi dụng Nghĩa hội làm điều gian ác, Tú Quỳ còn hòa nhập vào đời sống của nhân dân làm việc thiện Sáng tác thường được ông tặng cho người có nhu cầu đến xin

Tú Quỳ thường sáng tác cho những ai nhờ vả như vợ thợ rèn xin ông bài văn tế để đọc trước linh sàng, vợ ông chài xin văn tế về tế chồng – một ngư phủ mệnh bạc, người xin câu đối,… nên thơ văn ông được nhiều người học thuộc và biết đến bởi cách nói gần gũi, sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân Chính vì thế, tuy không được liệt vào danh sách những nhà văn học sử nổi tiếng như Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Học Lạc,… nhưng văn chương Tú Quỳ có sức sống bền bỉ với thời gian Những người có tuổi sống cùng thời ở Quảng Nam, chắc không ai không biết đến một vài bài thơ văn Tú Quỳ Thơ văn ông không được ghi chép, xuất bản mà chủ yếu là do tính chất truyền miệng nên thất lạc nhiều, và đôi lúc còn chưa chính xác

Tú Quỳ đã để lại cho đời một số lượng tác phẩm đồ sộ Hơn 40 năm tìm kiếm Tú Quỳ, nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Hy đã sưu tầm trên 400 đơn vị, nhưng mới có 88 tác phẩm được công bố bao gồm nhiều thể loại: có

43 tác phẩm thuộc thể loại thơ, 30 tác phẩm câu đối và chữ thờ, 13 tác phẩm

Trang 25

thuộc thể loại phú – văn tế, 1 tác phẩm thuộc thể loại vè, 1 tác phẩm thuộc thể loại thư tín

Khối lượng tác phẩm khổng lồ này không thể tìm trong sách vở, mà bằng con đường điền dã Thy Hảo đã băng trên mọi nẻo đường, sưu tầm trong nhân dân Có lẽ trong Văn học Việt Nam không có một nhà thơ nào lại lưu giữ được trong lòng quần chúng một khối lượng tác phẩm lớn đến vậy

Bằng những thành ngữ súc tích mà gợi cảm, lời lẽ bình dị, đặc biệt các sắc thái riêng của ngôn ngữ miền Trung (Quảng Nam) được Tú Quỳ vận dụng một cách thuần thục làm cho kho tàng văn học Việt Nam thêm phong phú Nghệ thuật trào phúng của Tú Quỳ đã góp vào làng cười Việt Nam một điệu cười khá sắc sảo, hóm hỉnh, có sức mạnh phê phán cao và mang đậm nét cá tính sáng tạo của nhà thơ trào phúng xứ Quảng “Có thể dừng lại ở đây để nói rằng, thật là quý hóa biết bao, việc đi tìm văn thơ Tú Quỳ chẳng khác gì tìm lại những viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian” [8, tr.293]

Ngay sau khi tác phẩm nghiên cứu về Tú Quỳ của Thy Hảo Trương Duy

Hy được công bố, nhận thấy giá trị thơ văn nghệ thuật của ngòi bút xứ Quảng,

để tưởng nhớ, ban lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đã đặt tên con đường gọi là đường Tú Quỳ (Theo Quyết định số 21/2011 do Chủ tịch HĐND Đà Nẵng ấn

ký ngày 23/12/2011 tại quận Liên Chiểu)

1.2.3 Vị trí của Tú Quỳ trong nền văn học Việt Nam

Tác phẩm của Tú Quỳ rất đặc sắc, mang một giọng điệu, một thi pháp rất riêng trong làng trào phúng Việt Nam Nhưng vì nhiều lí do, thơ văn Tú Quỳ không được xuất bản và được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều Tuy nhiên, sáng tác của ông vẫn được nhân dân gìn giữ, coi trọng và lưu giữ suốt hơn một thế kỷ qua Cũng chính vì lẽ đó mà Nguyễn Văn Xuân đã gọi ông là

“kiện tướng của nền văn học quần chúng” Cần nhanh chóng có một công trình nghiêm túc về ông Tú Quỳ, trong bài viết này Hoàng Thanh Thụy đã rút

Trang 26

ra “Hai bài viết trên của 2 tác giả Đông Trình và Trương Duy Hy tuy mức độ, nội dung vấn đề được đề cập có khác nhau, nhưng đều có chung một tiếng nói tha thiết là yêu cầu phải nhanh chóng làm rõ về sự nghiệp thơ ca Tú Quỳ Đây

là một món nợ lớn của giới văn học tỉnh nhà” [9, tr.198] Sở dĩ gọi đó là món

nợ bởi vì sự nghiệp văn học của Tú Quỳ vẫn bị giới văn học bỏ lửng Có rất nhiều câu hỏi thắc mắc xung quanh vấn đề này như Tú Quỳ có thật hay chỉ là giai thoại? Sự nghiệp thơ ca Tú Quỳ có những gì? Ông có vai trò, vị trí như thế nào trong nền văn học nước nhà? Ảnh hưởng thơ ca ông đến đời sống xã hội ra sao? Tất cả những điều đó vẫn chưa có một câu trả lời cụ thể, thỏa mãn

Với công trình Tú Quỳ - Danh sĩ Quảng Nam, Tổng tập Thơ văn Tú Quỳ,

Hồi ký Trên đường đi tìm Tú Quỳ, nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Hy

đã được mệnh danh là “người tìm lại tên cho Tú Quỳ”, nhờ quá trình vất vả nghiên cứu, gặp gỡ giới nghiên cứu Văn học thuyết trình về thi nghiệp của Tú Quỳ bằng những dẫn chứng sắc sảo, thuyết phục Từ đó, tên Tú Quỳ mới được công nhận và chính thức xuất hiện trên thi đàn Việt Nam Đến nay Tú Quỳ đã có chỗ đứng trong lịch sử văn học nước nhà, qua gần chục cuốn Từ điển văn học Việt Nam,Tú Quỳ đã được xếp bên cạnh các nhà thơ trào phúng lớn của dân tộc như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thiện Kế, Tú Xương, Học Lạc, Nhiêu Tâm,… Đây sẽ là cơ sở để các nhà nghiên cứu tìm hiểu, khai thác giá trị thơ văn Tú Quỳ để trả về cho ông một vị trí đích thực

1.3 Những điểm tương đồng trong phong cách trào phúng của hai nhà thơ

1.3.1 Khai thác chất liệu từ hiện thực xã hội mục rỗng, thối nát

Hiện thực là mảnh đất màu mỡ của thơ ca, bất kỳ nhà văn nhà thơ nào khi sáng tác cũng xuất phát từ hiện thực Đó là nơi người nghệ sỹ có thể khai thác chất liệu, nung nấu đề tài để cho ra một đứa con đẻ tinh thần Hiện thực đem lại cho văn chương sức sống và sự tồn tại lâu dài trong lòng bạn đọc

Trang 27

Việt Nam, vào những năm cuối thế kỷ XIX chế độ phong kiến trở nên lạc hậu thối nát, cường quyền bạo ngược, nhân dân đói khổ lầm than Những năm gần bước sang thế kỷ XX thực dân Pháp tràn vào xâm lược nước ta, xã hội bị đảo lộn từ văn hóa, giáo dục, đến kinh tế, chính trị,… Mọi giá trị bị băng hoại, suy đồi Trước tình hình đó, triều đình phong kiến dường như bất lực, ký kết hiệp định trao nước ta cho giặc Nhân dân nổi dậy đấu tranh, phần lớn các cuộc khởi nghĩa do nhân dân tự phát, vua quan bất lực trước thời cuộc

Tú Xương và Tú Quỳ là hai nhà thơ trào phúng tiêu biểu của miền Bắc và miền Trung Sinh ra trong thời kỳ loạn lạc, bao biến cố của đất nước đều được các nhà thơ ghi lại một cách chân thực, tự nhiên Tú Quỳ sinh trước Tú Xương hơn 40 năm, chứng kiến được bao đổi thay của đất nước, từ ngày chế độ phong kiến bắt đầu bộc lộ sự thối nát, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân:

Kiện tụng làm chi cực lắm mà!

Thua hơn thì cũng bạn làng ta

Chung tiền đem bỏ hang không đáy Góp của mà mua cục í hà!

Giục giặc nghêu cò chài đắc thắng,

Lơ mơ cờ bạc để không tha Mười lăm mười bốn so le mấy Giúp miệng nào ai giúp được ta

(Tranh giành lý trưởng) Đám quan lại tham tiền hám của này cũng đã được Tú Xương nhắc đến:

Tri phủ Xuân Trường được mấy niên Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên

Chữ “y” chữ “chiểu” không phê đến Ông chỉ quen phê một chữ tiền

(Bỡn tri phủ Xuân Trường)

Trang 28

Sống ở hai miền khác nhau, sống cách nhau mấy chục năm nhưng cái xấu xa, dơ bẩn thì ở đâu, thời nào cũng có Tiếng cười xuất phát từ hiện thực

đó, tiếng cười trào phúng của Tú Quỳ thiên về sự nghịch ngợm, dân dã, còn

Tú Xương lại thiên về sự châm biếm sắc sảo, sâu cay Dù ở sắc thái nào thì hai nhà thơ cũng vẽ lại bức tranh xã hội ấy thật sinh động, mọi khía cạnh trong xã hội được phơi bày thật rõ nét Nổi bật lên đó là sự chạy chức chạy

quyền, tranh giành chức tước (Tranh giành lý trưởng), nhiều tiền thì mua

“quan” to, ít tiền thì cũng ráng kiếm được chức quan nhỏ (Bỡn ông phó

bảng) Thời thế thay đổi, xã hội thối rữa ngay từ trong lòng nó, các vị sư cũng

bị tha hóa không còn mang cái vẻ thanh cao ngày trước (Sư nữ II, Ông sư và

mấy ả lên đồng),…

Tú Xương và Tú Quỳ đều khai thác chất liệu từ hiện thực xã hội, chung một đề tài nhưng mỗi người có một cách thể hiện khác nhau, mỗi người một phong cách góp phần làm cho bức tranh trào phúng của nền văn học Việt Nam thêm phong phú và đầy sinh động

1.3.2 Tự trào – một hình thức trào phúng đặc biệt

Tự trào là một hình thức trào phúng đặc biệt, người nói tự chế giễu, mỉa mai mình, đưa mình ra làm đối tượng trào phúng Một “ông tổ của làng thơ trào phúng Việt Nam” và một “kiện tướng của nền văn học quần chúng” đã tự cười “đểu” mình, cười một cách sâu cay, tự đưa bản thân ra mà châm chọc, giễu nhại Cười người là một việc dễ, nhìn thấy thói hư tật xấu của họ mà cười, còn cười mình mới khó Có ai moi móc hết tất cả mọi thói hư tật xấu của mình “vạch áo cho người xem lưng”? Xưa nay người ta vẫn thường quan niệm “tốt khoe, xấu che” Nhưng hình như trong ý thức của hai nhà thơ trào phúng này dường như không hề có điều này Hai ông Tú vẫn luôn đưa mình

ra làm đối tượng để cười cợt, vốn chính hai ông cũng là con đẻ của thời đại

Trang 29

Thói hư, tật xấu, mọi lố lăng của xã hội đang từng ngày xâm nhập cuộc sống của nhân dân, nó như một thứ vi rút đang hủy hoại dần nhân cách con người, sống trong xã hội ấy không ai có thể cách ly khỏi nó Điều đặc biệt là khác với những người khác chạy ùa theo xu thế, các nhà thơ đương thời đã biết nhìn thẳng vào hiện thực, lên án, tố cáo, mỉa mai nó Họ không chịu sống trong cảnh xã hội thực dân mục rữa, họ sẵn sàng phơi bày mọi xấu xa, ngang trái của xã hội, nhìn vào hiện thực mà ngao ngán, xót xa Nhưng “một cây làm chẳng nên non”, những vần thơ chỉ thể hiện được ý thức phản kháng chứ chưa làm cho lũ tay sai, cường hào, bọn vô danh tiểu tốt thức tỉnh, nhìn nhận lại hiện thực đương thời Và rồi, nhà thơ cay đắng nhận ra bên trong bản chất con người mình, cái xấu cũng bắt đầu xâm nhập, mình cũng không nằm ngoài guồng quay ấy Chất tự trào trong thơ Tú Xương là một tiếng cười mỉa mai đến cao độ Lúc tự ái, khi tự đắc, thơ Tú Xương vẫn nhắm thẳng mục tiêu mà

“bắn” Ông bắn thẳng vào tất tần tật mọi thứ xấu xa nhất của bản thân, không

ai thấy thì ông moi ra để cho mọi người thấy Chính vì vậy, tiếng cười tự trào

đã mang một sắc thái riêng, không thể trộn lẫn với các đối tượng khác:

Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ, Rượu, chè, trai, gái đủ tam khoanh;

Hổ bút, hổ nghiên Tủi lều, tủi chõng

(Hỏng khoa Canh Tý 1900)

Trang 30

Các bài thơ tự trào của Tú Xương chiếm số lượng lớn trong hệ thống tác

phẩm: Tự cười mình, Buồn thi hỏng, Hễ mai tớ hỏng, Hỏi ông trời, Thương

vợ,… Còn ở Tú Quỳ chất tự trào cũng có nhưng ít hơn, chủ yếu ông cười vào

hiện thực xã hội, thể hiện sự bất bình trước thời cuộc lúc bấy giờ Bài vịnh dế

dũi được xem là một bài thơ tự trào, bởi thông qua hình ảnh dế dũi Tú Quỳ

muốn nói đến bản thân mình Ông vẫn cao ngạo trước cái chết, “kiến chẳng kiến voi chẳng voi”, con người ông chẳng làm việc lớn nhưng cũng không phải là bậc tầm thường, cũng phải hạng “choi choi” Bản chất ngang tàng, ông muốn bay nhảy “lên trời”, “vạch đất”, nhảy vào “lửa đỏ dầu sôi”,… Nhưng Nghĩa hội đã giam cầm, không được thỏa nguyện, ông mong một sự cảm thông “quân tử có thương đừng búng rảy” Ngay khi cái chết kề cổ ông vẫn thể hiện mình là con người có khí phách, bất chấp mọi thế lực, nếu còn sai trái thì ông còn “lăng xăng bay nhảy” để đi tìm lại chính nghĩa cho nhân dân

Sở dĩ số lượng các bài thơ tự trào của hai nhà thơ có sự khác biệt bởi hoàn cảnh của mỗi người khác nhau Tú Xương là một nhà nho sớm đòi nghiệp học, cả đời ông vẫn luôn coi nó là món nợ công danh và luôn theo đuổi Nhưng oái oăm thay, càng cố gắng bao nhiêu thì nó lại càng xa vời bấy nhiêu Cuộc đời Tú Xương chỉ “hao cơm, tốn vải”, đi thi đến 8 lần nhưng cũng chỉ đậu mỗi tú tài, mà lại là tú tài lấy thêm Cay đắng cho bản thân, từ khi biết đi thi đến cuối đời ông vẫn chỉ có thi, ông không có lấy một nghề chính mà chỉ ăn bám vợ Vừa bất tài vừa vô dụng chính cái đó đã khơi nguồn cho cảm xúc tự trào của nhà thơ Cuộc đời Tú Quỳ bằng phẳng hơn, Tú Quỳ

đi thi hai lần, vẫn chỉ đậu mỗi tú tài nhưng là tú tài đầu bảng Sau đó ông yên

vị về quê dạy học, sống một cuộc sống an nhàn Chính vì lẽ đó, tự trào của Tú Quỳ rất ít, chất tự trào cũng không nhạo báng sâu cay như Tú Xương

Trang 31

CHƯƠNG 2 NÉT ĐẶC SẮC CỦA THƠ CA TRÀO PHÚNG

TÚ XƯƠNG VÀ TÚ QUỲ

2.1 Trào phúng sâu cay – gam màu đậm đặc trong thơ Tú Xương

2.1.1 Chủ đề trào phúng trong thơ Tú Xương

Cả cuộc đời hầu như Tú Xương dành trọn cho việc thi cử “Nhà nước ba năm mở một khoa”, vậy mà Tú Xương đi thi những tám khoa Năm 1885, khi mới 15 tuổi ông bắt đầu dự khoa thi đầu tiên và khoa thi cuối cùng là năm

1906, một năm sau ông qua đời Tú Xương là người thơ hay chữ giỏi nhưng đời thi gập ghềnh “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy” Quyết tâm học hành đỗ đạt, Tú Xương đã không nhụt chí:

Tấp tểnh người đi tớ cũng đi, Cũng lều cũng chõng cũng đi thi

(Đi thi) Qua nhiều lần thi cử không đậu, ông lại khăn gói về quê dùi mài kinh sử Trong thời gian đó ông vừa ôn luyện vừa sáng tác thơ Chủ đề thi cử đã trở đi trở lại, ám ảnh trang thơ ông Ra đi với một trí tuệ, trở về với một lều thơ, thơ

Tú Xương vừa thể hiện hình ảnh của bản thân vừa mở ra một bức tranh trường quy trong thời kỳ bị thực dân Pháp chiếm đóng Bắt đầu đi thi ông đã

sáng tác một loạt bài thơ: Đi thi, Thi cơm rượu, Thi phúc, Đổi thi,… Lúc thi

hỏng, tâm trạng thất vọng cộng với những mặt trái của xã hội được ông nhìn

thấu trong trường quy lúc bấy giờ là cơ sở ra đời của các bài thơ: Lễ xướng

danh khoa Đinh Dậu, Giễu người thi đỗ, Khoa Canh Tý (1900), Hỏng khoa Quý Mão (1903), Than thân chưa đạt, Than sự thi, Buồn thi hỏng, Ông tiến sĩ mới,… Đi thi nhiều lần vẫn không đạt, nghiệp học không trọn vẹn, sĩ tử lại lọ

Trang 32

mọ đèn sách và chờ ngày ra trận, trước khi đi ông đã để lại bài Hễ mai tớ

hỏng như một lời trăng trối:

Hễ mai tớ hỏng, tớ đi ngay!

Giỗ tết từ đây nhớ lấy ngày!

Học đã sôi cơm nhưng chửa chín Thi không ăn ớt thế mà cay!

Sách đèn phó mặc đàn con trẻ Thưng đấu nhờ trông một mẹ mày

“Cống hỉ”, “mét xì” thông mọi tiếng, Chẳng sang Tầu cũng tếch sang Tây…

Trong hệ thống tác phẩm Tú Xương nổi bật lên là các hình ảnh nho sĩ đi thi, những ông cử, ông tú, cảnh trường thi và hình ảnh của một nền nho học Đó là những gam màu chính trong bức tranh xã hội lúc bấy giờ Ngày xưa người tài

là người thông thạo thi, thư, lễ, nhạc, người ta dùng cái tài đó để thi cử đỗ đạt, giúp nước giúp dân Còn bấy giờ tài ấy là tài xu nịnh, luồn lọt để chen chân vào hệ thống vua quan triều đình, nho học trở nên suy đồi:

Đạo học ngày nay đã chán rồi, Mười người theo học chín người thôi,

Cô hàng bán sách lim dim ngủ, Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi

Sĩ khí rụt rè gà phải cáo, Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi…

(Đạo học) Sống trong khoảng thời gian nền nho học suy tàn, sự xâm nhập của kẻ

“bảo hộ” đã làm thay đổi tất cả các quy tắc trường quy Ở đó không còn không khí nghiêm trang xưa mà đầy rẫy những chuyện lố lăng, kỳ quặc:

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,

Trang 33

Ậm ọe quan trường miệng thét loa

Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra…

(Vịnh khoa thi Hương)

“Học tài thi phận”, những người nghèo văn hay chữ giỏi thường mang chữ về quê sáng tác thơ ca; còn những kẻ dốt kém có quan hệ với vua quan thì được leo lên hàng danh vị Xã hội bất công, trường thi thối nát, Tú Xương đã dấy lên trong lòng một câu hỏi:

Ông có đi thi kí lục không?

Nghe ông quốc ngữ đọc chưa thông!

Ví dù “nhà nước” cho ông đỗ, Thì hạng lương ông được mấy đồng?

Cái nghiệp thi cử bấy giờ chỉ là “nhà nước” cho đỗ hay không, cho dù

“quốc ngữ đọc chưa thông” Tú Xương u uất, ngậm ngùi trước cuộc đời đen bạc Bao lần đi thi bấy nhiêu lần uất nghẹn, ông sỉ vả thói đời và cũng tự sỉ vả mình:

Một việc văn chương thôi cũng nhảm, Trăm năm thân thế có ra gì?

Được gần trường ốc vùng Nam Định, Thua mãi anh em cánh Bắc Kỳ

Rõ thực văn hay mà chữ dốt, Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy

Tài năng sớm bộc lộ, nhưng khốn nỗi cái bản tính ngông nghênh, ngay thẳng nên lần nào đi thi tên ông cũng chỉ được ghi trên bảng nhỏ: “Văn chương ngoại hạn quan không chấm” Ông làm đủ cách: Nào đổi chữ tên đệm

Trang 34

“Tế” thành “Cao”, nào “lễ thánh xem giờ”, bà Tú thì “sáng đi lễ Phật”, “đêm dậy cầu trời” vậy mà cũng chẳng ích gì Chán nản, cay đắng, tức giận,… cứ đi thi, cứ trượt và cứ hy vọng:

Năm nay ta học sang năm đỗ, Chẳng những Lương Đường có thủ khoa

(Than thân chưa đạt) Trong thời phong kiến, công danh được coi là cái nợ mà nam nhi phải trả Như Phạm Ngũ Lão đã từng nói:

Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu Thì ở đây, Tú Xương cũng là một người đồng tư tưởng:

Ta phải trang xong cái nợ ta,

Lẽ đâu chịu nợ mãi ru mà?

Long đong lận đận bao phen, đến khoa thi cuối cùng, tình hình giáo dục ngày càng phức tạp Toàn quyền Đu-me đặt ra những cải cách nhằm đẩy lùi

và giết dần nho học: Bớt chữ Hán thêm phần quốc ngữ, sử ký, địa dư,… những món mà nhà nho “khuôn khổ”, thuần túy bấy giờ không thông thạo Sinh ra nhầm thời, tài năng của Tú Xương mãi đến cuối đời vẫn không được công nhận, vẫn không lọt tên trên bia đá bảng vàng Chính vì thế, chủ đề thi

cử mới trở đi trở lại trong trang thơ Tú Xương, thi hỏng là cái gốc rễ sinh ra một nhà thơ trào phúng nổi tiếng và đặc biệt cho chúng ta thấy được bức tranh trường quy của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc

Trang 35

giả nhưng nó có ý nghĩa điển hình của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ

Thời điểm này Pháp đã thắng Việt Nam nhưng chưa đủ mạnh, Việt Nam thua nhưng vẫn kiên cường Pháp đã làm đủ mọi cách để củng cố vị trí, bọn chúng đề ra chế độ “Thiết quân luật” quy định 8 giờ tối tất cả mọi người không được ra đường, mọi động thái của người dân đều bị giám sát, quản lí

rất chặt chẽ Những hình ảnh đó được Tú Xương ghi lại trong bài thơ Ông cò,

xã hội đương thời được Tú Xương mổ xẻ với thói gian ác, bần tiện, lối kiếm

ăn dơ bẩn của bọn thực dân

Bị áp bức, bóc lột nhưng trong triều đình phong kiến vẫn có những đám quan lại, tay sai nhượng bộ giương mắt nhìn bọn chúng cướp nước, hà hiếp nhân dân, quay lại làm tay sai cho bọn chúng:

Chỉ trách người sao chẳng trách mình?

Mình trung đâu đấy, trách người trinh?

Áo dày cơm nặng, bao nhiêu đức?

Chiếu cạnh giường bên, mấy hột tình?

Tơ tóc nỗi riêng thì xét nét,

Trang 36

Giang sơn nghĩa cả nỡ mần thinh!

Cổ cong mặt lệnh, người đâu thế?

Cái cóc bôi vôi khéo dại hình!

(Cô hầu gửi quan lớn) Đây là bức thư Tú Xương đã giả danh cô hầu để gửi cho quan vì bị cho

là đĩ thõa nên quan đã đuổi đi Không chỉ nói về chuyện bạc tình bạc nghĩa thông thường mà ngòi bút Tú Xương còn vạch trần tính chất làm tay sai của tên quan lại dơ bẩn

Tú Xương còn vạch trần thói tham ô, ăn hối lộ của chúng, “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ” Nguyễn Du đã từng chua xót khi nhìn thấy cảnh bất công:

Trong tay sẵn có đồng tiền Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì Nguyễn Khuyến cũng đã đả kích một cách kín đáo:

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ, Ngày trước làm quan cũng thế a!

Còn Tú Xương thẳng thắn, quyết liệt chĩa thẳng vào thói xấu của bọn quan lại:

Tri phủ Xuân Trường được mấy niên?

Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên

Chữ “y” chữ “chiểu” không phê đến, Ông chỉ quen phê một chữ “tiền”!

(Bỡn tri phủ Xuân Trường) Ngòi bút Tú Xương không câu nệ, e dè, với khẩu khí ngang tàng ông đã nói lên được những vấn đề có tính chất thời sự trong xã hội lúc bấy giờ

Xã hội thực dân thối nát, mọi tầng lớp trong xã hội đều bị nhiễm những thói xấu riêng Đó là viên tri huyện dốt chữ nghĩa, ông đốc học chỉ biết ăn

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w