1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ văn hóa tên riêng người việt ở đà nẵng

99 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu của ngành 'DQK[˱QJK ͕c rất rộng lớn; về mặt lý thuyết, đây là ngành khoa học có thể nghiên cứu tên riêng của mọi sự vật trong phạm vi ở những vùng địa lý, ở những nền

Trang 1

ĈҤI HӐ&Ĉ¬1 ҸNG 75Ѭ Ӡ1*Ĉ ҤI HӐ&6Ѭ3+ ҤM

Trang 2

ĈҤI HӐ&Ĉ¬1 ҸNG 75Ѭ Ӡ1*Ĉ ҤI HӐC 6Ѭ3+ ҤM

Trang 4

MӨC LӨC

MӢ ĈҪU tr.1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 4

2.1 Vấn đề nghiên cứu tên riêng trên thế giới và ở Việt Nam 4

2.2 Vấn đề nghiên cứu tên riêng người Việt ở Đà Nẵng 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

3.1 Đối tượng nghiên cứu 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

4.1 Phương pháp điền dã, điều tra, phỏng vấn 8

4.2 Phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả 9

4.2.1 Thủ pháp thống kê, phân loại, hệ thống hóa 9

4.2.2 Thủ pháp xã hội học 10

5 Cấu trúc khóa luận 10

NӜI DUNG 11

&+ѬѪ1*&Ѫ6 Ӣ LÝ THUYӂT CӪ$Ĉ ӄ TÀI 11

1.1 Lý thuyết về tên riêng 11

1.1.1 Vấn đề định nghĩa tên riêng 11

1.1.2 Chức năng của tên riêng 14

1.1.3 Nghĩa của tên riêng 17

1.1.4 Đặc điểm ngữ pháp của tên riêng 19

Trang 5

1.1.5 Các loại tên riêng 21

1.1.6 Vị trí của tên riêng trong hệ thống danh từ tiếng Việt 24

1.2 Vài nét về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong cách đặt tên 25

1.2.1 Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 25

1.2.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong cách đặt tên 29

1.3 Đà Nẵng – vùng đất và con người 32

1.3.1 Vùng đất Đà Nẵng 32

1.3.2 Con người Đà Nẵng – những mảng màu văn hóa 35

1.4 Tiểu kết 38

&+ѬѪ1*  Ĉ Һ& Ĉ, ӆM CҨU TҤO VÀ NGӲ 1*+Ƭ$ & ӪA TÊN RIÊNG 1*Ѭ ӠI VIӊT Ӣ Ĉ¬1 ҸNG 40

2.1 Thống kê – phân loại 40

2.1.1 Kết quả khảo sát, thống kê 40

2.1.1.1 Tên họ người Việt ở Đà Nẵng 40

2.1.1.2 Tên đệm người Việt ở Đà Nẵng 40

2.1.1.3 Tên chính người Việt ở Đà Nẵng 41

2.1.1.4 Nhận xét 41

2.1.2 Phân loại tên riêng 42

2.1.2.1 Tên riêng Hán Việt 43

2.1.2.2 Tên riêng thuần Việt 43

2.1.2.3 Tên riêng gốc Ấn Âu 44

2.2 Đặc điểm cấu tạo 45

Trang 6

2.2.1 Mô hình cấu tạo tên riêng 45

2.2.2 Cấu trúc các thành tố tạo nên tên riêng người Việt ở Đà Nẵng 47

2.2.2.1 Yếu tố tên họ 47

2.2.2.2 Yếu tố tên đệm 48

2.2.2.3 Yếu tố tên chính 49

2.3 Đặc điểm ý nghĩa và phương thức định danh của tên riêng người Việt ở Đà Nẵng 50

2.3.1 Ý nghĩa tên họ 52

2.3.2 Ý nghĩa tên đệm 52

2.3.3 Ý nghĩa của tên chính 55

2.4 Tiểu kết 57

&+ѬѪ1*  &È& Ĉ Һ& 75Ѭ1* 1*Ð1 1* Ӳ ± 9Ă1 +Ï$ & ӪA TÊN 5,Ç1*1*Ѭ ӠI VIӊT Ӣ Ĉ¬1 ҸNG 59

3.1 Những cơ sở văn hóa – ngôn ngữ cho việc nghiên cứu tên người 59

3.1.1 Về mặt lịch sử 59

3.1.2 Về mặt dân tộc và xã hội 60

3.1.3 Về mặt ngôn ngữ 62

3.2 Sự phản ánh đặc điểm văn hóa qua tên riêng người Việt ở Đà Nẵng 63

3.2.1 Tên người phản ánh phong tục tập quán của cộng đồng 63

3.2.2 Tên người phản ánh các đặc điểm tâm lí tộc người của người Việt ở Đà Nẵng 66

3.2.3 Húy kỵ, một nhân tố chi phối văn hóa đặt tên người Việt ở Đà Nẵng 68

3.3 Văn hóa xưng hô bằng tên riêng của người Việt ở Đà Nẵng 69

Trang 7

3.3.1 Xưng hô bằng tên riêng ở ngoài xã hội 69

3.3.2 Xưng hô bằng tên riêng trong gia đình 70

3.4 Tiểu kết 72

KӂT LUҰN 74

TÀI LIӊU THAM KHҦO 76

PHӨ LӨC 80

Trang 8

MӢ ĈҪU

1 Lý do chӑ Qÿ Ӆ tài

1.1 'DQK [˱QJ K ͕c là bộ môn nghiên cứu thuộc ngành Ngôn ngͷ h͕c,

chuyên nghiên cứu những quy luật cơ bản về nguồn gốc phát sinh, thành phần cấu tạo, quá trình phát triển và sự biến động của các tên riêng trong hệ thống ngôn ngữ

Phạm vi nghiên cứu của ngành 'DQK[˱QJK ͕c rất rộng lớn; về mặt lý thuyết, đây là

ngành khoa học có thể nghiên cứu tên riêng của mọi sự vật trong phạm vi ở những vùng địa lý, ở những nền văn hóa và các thời kỳ khác nhau; xét trên mục đích thực

tế, có thể chia phạm vi nghiên cứu của ngành khoa học này thành những nhóm theo ngôn ngữ (nghiên cứu tên riêng theo tiếng Hán, nghiên cứu tên riêng theo tiếng Việt,…), hoặc theo tiêu chí địa lý, lịch sử (nghiên cứu địa danh thành phố Huế, nghiên cứu tên làng xã Việt đầu thế kỉ XIX,…)

Dựa trên đặc điểm của tên riêng, 'DQK [˱QJ K ͕c lại chia thành hai nhóm nghiên cứu về tên riêng với 2 chuyên ngành là Ĉ͓ a danh h͕ c và Nhân danh h͕ c Khác với Ĉ͓ a danh h͕ c – là khoa học chuyên nghiên cứu về tên đất, tên địa điểm,

nghiên cứu về nguồn gốc, cấu tạo từ ngữ, ý nghĩa, biến đổi, quy luật phân bố, quy

tắc viết và đọc của tên đất, quan hệ giữa tên đất với thiên nhiên – xã hội; Nhân danh h͕ c là khoa học chuyên nghiên cứu về tên riêng chỉ người, chủ yếu nghiên cứu về

các mặt như: phân loại, nguồn gốc, lịch sử, biến đổi, phân bố (về mặt địa lí), ý nghĩa

(về mặt văn hóa) Lấy hệ thống tên riêng làm đối tượng nghiên cứu, Ĉ͓ a danh h͕ c

và Nhân danh h͕ c lựa chọn cho mình những đối tượng nghiên cứu chuyên biệt; tuy

nhiên, việc nghiên cứu tên người và tên đất trong quá trình hình thành và phát triển vẫn có sự ảnh hưởng lẫn nhau; ví dụ, có nhiều tên địa danh có nguồn gốc từ tên người như: “Đường Thái Phiên”, “Đường Ngô Quyền”, “Huyện A Lưới”, “Huyện Dương Minh Châu”, “Thành phố Hồ Chí Minh,…”; và cũng có nhiều tên người được đặt có nguồn gốc từ địa danh như: “Vinh”, “Hà Nội”, “Thanh Hóa”,…

Trang 9

Nghiên cứu tên người dựa trên quan điểm của Nhân danh h͕ c vừa là việc làm đem lại những thành tựu trong lĩnh vực Ngôn ngͷ h͕c; vừa là công việc soi

đường để chỉ ra những vấn đề mang giá trị văn hóa Việt Nam Tất cả được gói ghém bên trong một cái tên: tín ngưỡng dân gian, triết lý dân tộc, tâm lý xã hội, thị hiếu thẩm mỹ,… Tên riêng người Việt không đơn giản chỉ là để định danh, nhận diện, xưng hô với nhau trong giao tiếp; mà hơn hết, nó tiềm tàng nhiều tầng ý nghĩa,

từ ý nghĩa chung mang tính thời đại cho đến ý nghĩa cá nhân của những bậc sinh thành, cha ông đời trước muốn gửi gắm cho thế hệ đời sau Nghiên cứu tên riêng người Việt chưa bao giờ là vấn đề đơn giản, bởi nó là quá trình nghiên cứu liên

ngành giữa Ngôn ngͷ h͕ c, Logic h͕ c, Tri͇ t h͕ c, Dân t͡ c h͕ c, Tâm lý h͕ c,… Hành trình đưa tên riêng chỉ người thành một bộ môn nghiên cứu khoa học là Nhân danh h͕ c, ngày càng phát triển đòi hỏi phải có sự đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu

thuộc các lĩnh vực khác nhau; trong đó, việc nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ và văn hóa mới chỉ là một trong số những con đường lấy tên riêng làm đối tượng

1.2 Đà Nẵng là thành phố có bề dày về lịch sử, văn hóa – một thành phố kỳ

lạ trong sự biến đổi, vận động không ngừng, nhất là từ ngày thành phố trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương Không chỉ giàu có về bề dày lịch sử, văn hóa; Đà Nẵng còn được mệnh danh là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, ngoài những

“thủy tú sơn kỳ” còn là nơi sản sinh nhiều danh nhân hào kiệt, nghệ nhân, nghệ sĩ tài danh

Hơn 700 năm ra đời và tồn tại , thành phố Đà Nẵng đã trải qua bao thăng trầm và biến động của lịch sử Đặc biệt, từ sau năm 1997, Đà Nẵng đã thay đổi diện mạo đến “chóng mặt”, vươn lên phát triển với tốc độ đúng như tên gọi của thành phố đô thị loại I, xứng danh làm trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng của miền Trung và Tây Nguyên

Mảnh đất và con người Đà Nẵng giàu truyền thống văn hóa, dẫu không phải

là kinh đô của ngàn năm văn hiến như thủ đô Hà Nội, cũng không phải là đầu tàu

Trang 10

kinh tế như thành phố Hồ Chí Minh; nhưng với nét đẹp và vai trò riêng của mình,

Đà Nẵng được ví như là sợi dây liên kết giữa vùng văn hóa Trung Bộ với các tiểu vùng văn hóa khác trong cả nước từ quá khứ đến hiện tại Lâu nay, đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu của các nhà hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, lịch sử, văn học nghệ thuật,… lấy Đà Nẵng làm đối tượng nghiên cứu Và cũng trong bài viết này, đối tượng nghiên cứu được lựa chọn vốn là một nhân tố thuộc về vùng đất Đà Nẵng, bài viết là sự đóng góp thêm vào kho dữ liệu thành phố Đà Nẵng như một nguồn liệu quý giá thuộc về mảng ngôn ngữ và văn hóa

1.3 Vấn đề nghiên cứu tên riêng chỉ người trên bình diện ngôn ngữ và văn

hóa là một trong những con đường giúp tìm hiểu và khai thác một cách tối đa mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Trên tinh thần thấy được vai trò quan trọng của tên riêng người Việt trong hệ thống từ vựng ngôn ngữ và tinh thần nghiên cứu nhằm bóc tách và nhận diện mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong phạm vi địa lý

là vùng đất Đà Nẵng; chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu ³Ĉ ̿FÿL ͋ m ngôn ngͷ ± YăQ KyDWrQULrQJQJ˱ ͥi Vi͏t ͧ Ĉj1 ̽QJ´ Với việc nghiên cứu đề tài này,

nó không chỉ góp tiếng nói cho một ngành nghiên cứu còn khá là non trẻ ở Việt

Nam là 'DQK [˱QJ K ͕c, mà còn muốn thông qua ngôn ngữ, những đặc trưng văn

hóa vốn thuộc về thành phố Đà Nẵng sẽ được khẳng định và tiếp tục phát huy

2 Lӏ ch sӱ vҩ Qÿ Ӆ

2.1 Vҩ Qÿ Ӆ nghiên cӭu tên riêng trên thӃ giӟi và ӣ ViӋ t Nam

Nghiên cứu về tên người là vấn đề xuất hiện từ lâu trên thế giới Theo các tác giả Lê Trung Hoa [20], Nguyễn Long Thao [44], Trương Điềm Điềm [17] thì Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới có những tác phẩm nói về tên họ

Ở Trung Quốc, việc nghiên cứu tên người đã có từ thời đại Chiến Quốc, vào thời gian này, có tác phẩm “Thế Bản”; thời gian sau lại có “Tả Truyện”, “Quốc Ngữ”, “Sử Ký”, “Hán Thư”… đều có bài chuyên ghi chép về đề tài này Trong “Lễ

Trang 11

Ký” có ghi chép phong tục đặt tên của Thời Chu Sau đó, Vương Phù thời Hán có

“Tiềm Phu Luận”, Ứng Thiệu có “Phong tục thông nghĩa”, Ban cố “Bạch Hổ Thông – Tính danh”, Hứa Thận “Thuyết văn giải chữ”… đều có nghiên cứu và trình bày

về họ tên từ những góc độ khác nhau Vào thế kỉ XX, việc nghiên cứu tên người

Trung Quốc bắt đầu áp dụng tư tưởng Thuy͇ t ti͇ n hóa của Charles Robert Darwin

và phương pháp Ngôn ngͷ h͕F9ăQKyD ± nhân lo̩ i h͕ c để nghiên cứu bản nghĩa

của tên họ, họ tên người Hán và các dân tộc thiểu số, tên người nước ngoài, tên người và Tô-tem, tên người, văn hóa và chế độ liên danh cha con… Hiện nay,

Trung Quốc là một trong những nước có thư mục phong phú nhất về Nhân danh h͕ c Tác giả Sheau Yueh J Chao, trong tác phẩm “In Search of Your Asian Roots”,

đã liệt kê thư mục với 210 tác phẩm nói về tên họ tại Trung Quốc Có những tác phẩm chuyên biệt như hai tác giả Trần Minh Nguyên và Vương Tống Hổ viết

“Trung Quốc tính thị đại toàn”, xuất bản tại Bắc Kinh năm 1987, liệt kê và trình bày nguồn gốc 5600 tên họ của Trung Quốc Tác giả Trần Nãi Hất viết sách nói về bút hiệu, biệt hiệu của các học giả, chính trị gia Trung Quốc

Ở Âu Châu, các sách viết về nhân danh cũng được xuất bản khá sớm Dựa trên hai tác phẩm “Bible” (1514), tức Kinh Thánh của Hồng y Francisco Ximenez

de Cisneros và “Dictionarium Theologicum” (1567), tức từ điển thần học của John Arquerius; William Patton đã tổng hợp và cho xuất bản tác phẩm “The Calendar of Scripture” vào năm 1575 Nội dung của tác phẩm nói về ý nghĩa các tên trong Kinh thánh của Kitô Giáo Ở Pháp, xuất hiện hàng chục bộ sưu tập về tên người của Mabillon (1681), E Salverte (1824), P Chapuy (1934)… Đến giữa thế kỷ XIX, phương pháp duy lý nghiên cứu được khẳng định với R Mowat (1868) và A Franklin (1875) qua cuốn từ điển tên người đầu tiên “Dictionnaire des noms, surnoms et pseudonymes latins du moyen âge”, trong đó có nhiều tên bằng tiếng Pháp và tiếng Provence Năm 1924, Albert Dauzat đã ghi một cái mốc quan trọng

trong ngành Nhân danh h͕ c ở nước Pháp với nhiều cuốn sách có giá trị: “Les noms

de personnes, origine évolution”; Les noms de famille de France”; Dictionnaire

Trang 12

étymologique des noms de famille et prénoms de France” Đây cũng là tình hình phát triển chung ở các nước như Anh gắn với một số tên tuổi các nhà khoa học như

M A Lower (1875); Guppy (1890); Samuel Halkett, John Laing… Ở Đức là các công trình nghiên cứu của C.Th Angermann (1868); Bechtel (1898); M Holzmann; Hans Bohatta… Ở Bỉ là công trình của G Van Hoorebeke (1876) Ở Bồ Đào Nha là

J Leite de Vasconcellos (1928)… Ở Hoa kỳ, tổ chức American Name society xuất

bản tập san Names từ năm 1951 đến nay và đã thiết lập mạng lưới điện toán để phổ

biến những tin tức, tài liệu nhân danh trên toàn thế giới Cố Giáo sư Elsdon C Smith đã để lại hơn 1200 quyển sách về nhân danh trong thư viện của ông, và quan trọng nhất, ông đã viết tác phẩm “Personal Names – A Bibliography”, trong đó liệt

kê 3415 tài liệu về nhân danh được xuất bản ở Hoa Kỳ và Anh Quốc

Tại Việt Nam, tài liệu về nhân danh chủ yếu nằm rải rác trong các bộ cổ sử như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Quốc triều hình luật”, “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ”, “Đại Nam thực lục”,… Từ cuối thế kỷ XVIII, một số loại sách như

“Danh thần lục” – ghi tên các bề tôi nổi tiếng, “Đăng khoa lục” – viết về những người đỗ tiến sĩ đã xuất hiện; cuốn “Đại Việt lịch triều đăng khoa lục” (1779) của Nguyễn Hoản, “Quốc triều đăng khoa lục” (1894) của Cao Xuân Dục Từ năm

1945 đến nay, hàng chục cuốn từ điển danh nhân Việt Nam ra đời, đáng chú ý nhất

là các cuốn “Việt Nam danh nhân từ điển” (1967) của Nguyễn Huyền Anh; “Lược truyện tác gia Việt Nam” (1971-1972) do Trần Văn Giáp chủ biên; “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” (1992) của Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế;

Về việc sưu tập họ, năm 1932, trong bài “Les noms de famille ou “họ” chezles Annamites du delta Tonkinois”, P Gourou có liệt kê 94 họ của người Kinh

và 109 họ của đồng bào các dân tộc, tổng cộng 203 họ

Những công trình nói trên giữ vai trò như là những tài liệu sưu tầm, chưa

chuyên sâu nghiên cứu về nhân danh Việt Nam Đến năm 1954, ngành Nhân danh h͕ c ở nước ta mới thực sự được hình thành, với bài “Tên người Việt Nam” của

Trang 13

Nguyễn Bạt Tụy Nội dung của bài viết đề cập một cách tổng quát đến các vấn đề tên họ, tên đệm (tác giả gọi là chữ lót), tên chính (tác giả gọi là tên đẻ) Năm 1961, Trịnh Huy Tiến viết bài “Các loại nhân danh Việt Nam” in trong 2 số báo 61- 62

của tờ 9ăQ KyD 1JX\ ͏t san Năm 1966, Tạ Quang Phát viết bài “Quốc Húy triều Nguyễn” được đăng trong Kh̫ o c͝ t̵ p san số 6 Năm 1973, Vũ Bằng viết “Tìm

hiểu Tên, Bút hiệu của văn nghệ sĩ tiền chiến, hiện đại” Năm 1975, Nguyễn Kim Thản có bài “Vài nét về tên người Việt”; Nhật Thịnh và Nguyễn Thị Khuê Giung in tập “Sơ thảo Tự điển biệt hiệu Việt Nam” Năm 1976, Trần Ngọc Thêm đăng bài

“Về lịch sử hiện tại và tương lai của tên riêng trong người Việt Nam” in trong tập

san Dân t͡ c h͕ c số 3 Đến năm 1988, Phạm Tất Thắng công bố bài viết “Vài nhận

xét về yếu tố đệm trong tên gọi người Việt”; và ông còn viết thêm một số bài viết và

công trình nghiên cứu khác liên quan đến Nhân danh h͕ c như: “Tên đứa con tương

lai của bạn sẽ là gì?”, “Vẻ đẹp tên người Việt”, “Tên người Việt và cách sử dụng chúng trong giao tiếp gia đình”; đặc biệt, năm 1996, ông bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ của mình với công trình “Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (Chính danh) trong tiếng Việt” Sau thành công với Luận án trên, tác giả Phạm Tất Thắng còn viết thêm nhiều bài viết khác có liên quan

Tiếp nối cho hành trình nghiên cứu xoay quanh tên họ người Việt, từ cuối thế kỉ XX đến đầu thế kỉ XXI, hàng loạt bài viết của nhiều tác giả xuất hiện được in trong tạp chí hoặc xuất bản thành sách Năm 1989, Bình Long có bài viết “Nghĩa

tên riêng của người” công bố trong tạp chí Ngôn ngͷ (số phụ), số 2; năm 1995, Nguyễn Minh Thuyết có bài viết “Quanh cái tên người”; năm 1998, tại hải ngoại,

tập san Th͇ kͽ 21 đăng ba bài, số 111 có bài “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử

của Trần Gia Phụng”, số 122 (1999) có bài “Người Việt tên Mỹ –vấn đề cần suy nghĩ” của ông Nguyễn Đức Mai, số 148 (2001) có bài “Tìm hiểu nguồn gốc và sự phát triển của dòng họ tiêu biểu của người Việt Nam”; năm 1999, Phạm Hoàng Gia

đăng bài “Về số phận của các họ kép và họ ghép người Việt” trên tạp chí Ngôn ngͷ YjĈ ͥi s͙ng; năm 2002, Nguyễn Văn Khang phát biểu bài “Bình diện xã hội ngôn

Trang 14

ngữ của vấn đề họ trong tiếng Hán”; Dương Xuân Đống đăng bài “Từ thị trong họ tên người phụ nữ Việt Nam”, Đình Cao viết bài “Chung quanh người Việt mình đặt tên”; năm 2006, nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản sách “Các dân tộc ở Việt Nam – Cách dùng họ và đặt tên” của tác giả Nguyễn Khôi

2.2 V̭ Qÿ ͉ nghiên cͱXWrQULrQJQJ˱ ͥi Vi͏ t ͧ Ĉj1 ̽ng

Hiện nay, vấn đề nghiên cứu tên riêng chỉ người ở Đà Nẵng vẫn còn là đề tài khá mới Một số bài viết liên quan đến danh xưng ở Đà Nẵng như “Danh nhân đất Quảng” (1987) của Lâm Quang Thự, giới thiệu một số nhân vật yêu nước tiêu biểu của Quảng Nam – Đà Nẵng qua các phong trào chống Pháp từ năm 1858 đến trước năm 1930; “Đà Nẵng – Mảnh đất, con người” (2012) của Hoàng Hương Việt, Trương Duy Hy sưu tầm và biên soạn, nội dung chủ yếu của tác phẩm là tóm lược tiểu sử 56 nhân vật lịch sử, nho sĩ, nghệ sĩ trưởng thành từ Đà Nẵng hoặc ra đi và thành danh ở một nơi nào đó trên đất nước Việt Nam Các tác phẩm vừa kể trên

chưa phải là công trình nghiên cứu chuyên sâu về Nhân danh h͕c

Địa bàn thành phố Đà Nẵng khá rộng lớn với số lượng dân cư nội – ngoại thành đông đúc, tốc độ tăng trưởng dân số đô thị tăng qua các năm Tuy nhiên, bài

Trang 15

nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm tên riêng người Kinh ở thành phố Đà Nẵng với các số liệu khảo sát dựa trên danh mục tên riêng trong trường học phổ thông (3 cấp); sổ danh sách hộ khẩu, nhân khẩu

3KѭѫQJSKiS ÿL ӅQGmÿL Ӆu tra, phӓng vҩn

Thu thập và lấy danh sách tên riêng tại một số địa phương trên địa bàn thành phố Đà Nẵng qua phiếu điều tra anket với nội dung sau:

TT Họ và tên

Năm sinh

Quê quán Nghề nghiệp

Ý nghĩa của tên (nếu biết) Nam Nữ

Trang 16

3KѭѫQJSKiS miêu tҧ ngôn ngӳ vӟi các thӫ pháp nghiên cӭu

4.2.1 Thͯ pháp th͙ ng kê, phân lo̩ i, h͏ th͙ ng hóa

Với 3412 tên thu thập được, chúng tôi tiến hành miêu tả, thống kê theo từng đặc điểm, tiếp đó là phân loại chúng theo ý nghĩa và kiểu cấu trúc với những tiêu chí khác nhau Chúng tôi nghiên cứu tên riêng theo quan điểm đồng đại lẫn lịch đại

Về khía cạnh nghiên cứu, chúng tôi chú ý nhiều nhất đến mặt ngôn ngữ, sau cùng là dân tộc và lịch sử, vì trong tên người khía cạnh đầu quan trọng hơn

Để thống kê chính xác, đầu tiên chúng tôi quan tâm đến cấu tạo của tên riêng Tên riêng người Việt ở Đà Nẵng nói riêng và của cả nước nói chung đều thường theo hai mô thức chính sau:

(1) Họ – Tên

(2) Họ – Đệm – Tên

Về nguyên tắc, chúng tôi sẽ khảo sát tên Chính danh của người Việt mà

không khảo sát các loại tên khác như tên thường gọi, tên cúng cơm, biệt danh… Chúng tôi khảo sát tên với ba mốc thời gian là trước 1945, 1945 – 1975 và từ 1975 đến nay

4.2.2 Thͯ pháp xã h͡ i h͕ c

So sánh các kiểu cấu trúc, ý nghĩa của lớp tên riêng theo giới tính, nghề nghiệp theo 3 mốc thời gian chính là trước 1945, 1945 – 1975 và từ 1975 đến nay

Từ đó nhận xét về tên người ở thành phố Đà Nẵng theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể

để thấy được sự biến đổi và phát triển của lớp từ vựng này Qua đó thấy được những nét đặc trưng về mặt văn hóa, tinh thần, tâm lý – thẩm mỹ của người dân Đà Nẵng thể hiện trong cách đặt tên người cũng như cách gọi tên từ những tên đó

Trang 17

5 Cҩ u trúc khóa luұ n

Ngoài phần Mͧ ÿ ̯u, K͇ t lu̵ n, Tài li͏ u tham kh̫ o, N͡ i dung khóa luận gồm

3 chương:

CHƯƠNG 1 Cơ sở lí thuyết của đề tài

CHƯƠNG 2 Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của tên riêng người Việt ở Đà Nẵng

CHƯƠNG 3 Các đặc trưng ngôn ngữ – văn hóa của tên riêng người Việt ở

Đà Nẵng

Trang 18

sự vật, hiện tượng cụ thể; phân loại sự vật, hiện tượng và tạo thành hệ thống các khái niệm để gọi tên các sự vật, hiện tượng

Tuy nhiên, không phải sự vật nào gắn với tên gọi của nó cũng thể hiện được mối liên hệ hoặc mối quan hệ có thể giải thích được; đó là do ngôn ngữ có tính võ đoán – sự tách rời thành một mối liên hệ trừu tượng và không được cụ thể hoá giữa mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện Chúng ta chẳng thể lý giải được vì sao đồ

dùng làm bằng sành, sứ dùng để uống hoặc ăn lại gọi là cái chén, và cũng không thể giải thích được vật dùng để gắp thức ăn hằng ngày lại gọi là ÿ{LÿNJD Đó là khi sự vật, hiện tượng trong đời sống vô cùng phong phú và đa dạng, ngôn ngữ buộc phải trừu tượng đến mức võ đoán; thế nhưng, với khát vọng muốn chiếm lĩnh và chinh phục thế giới, con người đã dần ý thức về việc sử dụng tên gọi cũng như là việc đặt tên cho những sự vật Với sự liên tưởng cũng như mối liên hệ khách quan giữa sự vật; nhiều tên gọi của các sự vật được đặt đều có lý do, những tên gọi ấy dần thoát khoát tính võ đoán của ngôn ngữ Như vậy, cùng với vai trò hết sức quan trọng của ngôn ngữ, con người đã làm chủ việc gọi tên mọi sự vật xung quanh; và ngày càng phát triển hơn nữa quy luật, cách thức gọi tên các sự vật, hiện tượng Và cũng dựa trên việc ý thức phân loại và gọi tên các sự vật, hiện tượng mà tên riêng xuất hiện

Trang 19

Về vấn đề định nghĩa tên riêng, hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất giữa các tác giả Hầu hết các tài liệu về ngữ pháp tiếng Việt đều xếp tên riêng tiếng Việt vào

hệ thống những từ ngữ thuộc nhóm từ loại danh từ và được gọi là danh tͳ riêng –

tên gọi cụ thể của từng cá thể Dựa trên sự thống nhất chung về định nghĩa tên riêng

với lớp nghĩa: là m͡ t lo̩ i tên g͕ LGQJÿ ͋ g͕ i tên m͡ Wÿ ͙LW˱ ͫng cá bi͏ t, duy nh̭ t;

một số tác giả đã phân chia tên riêng thành nhiều loại khác nhau Đặc biệt, khi nói đến tên riêng, các tác giả luôn đặt nó trong sự đối sánh với tên chung, và cũng chính trong sự đối sánh ấy mà đặc điểm về cấu tạo, sự hình thành nghĩa, cấu trúc ngữ pháp của tên riêng được trình bày rõ hơn Theo tác giả Hoàng Tuệ: “Tên riêng khác với tên chung Một tên chung đưa trí óc ta không phải đến với một cá thể, mà với

một khái niệm trong tính chất khái quát trừu tượng 1Kj YăQ là một tên chung không chỉ riêng một ai cả Nam Cao, Nguyên Hồng… mới là tên riêng; mỗi tên riêng này chỉ một cá nhân, một nhà văn mà ta biết rõ là ai…” [49, tr.230] Tác giả

Lê Trung Hoa lại nhận định: “Việc xác định ranh giới giữa tên riêng và tên chung chỉ có giá trị tương đối Trước hết, tên riêng thường có liên hệ đến với cá nhân, cá thể; còn tên chung thường liên hệ đến một tập thể” [20, tr.11] Và cũng với những quan niệm về vấn đề tên riêng và tên chung, tác giả Phạm Tất Thắng [40] đã cho rằng, tên riêng trong ngôn ngữ học, bản chất của chúng hiện vẫn còn là một ẩn số cần được tiếp tục khám phá Để phát hiện ra bản chất chung nhất của lớp kí hiệu đặc biệt này, các tên riêng không chỉ cần được xem xét trong một hệ thống riêng, mà còn phải nghiên cứu chúng trong mối quan hệ chặt chẽ với các tên chung

Tên riêng và tên chung đều giữ vai trò là một tín hiệu ngôn ngữ, tức là đều

có nghĩa Nếu xét về mặt ý nghĩa cũng như mặt ngữ pháp của từng loại tên thì giữa chúng lại có những điểm khác biệt Bên cạnh những điểm khác biệt giữa tên riêng

và tên chung, các tác giả nghiên cứu tên riêng còn đặc biệt chú ý đến sự chuyển hóa lẫn nhau giữa tên riêng sang tên chung và ngược lại Tất nhiên, quá trình chuyển hóa giữa hai loại tên này cần phải có điều kiện đi kèm Sự chuyển hóa từ tên chung sang tên riêng, điều kiện của sự chuyển hóa đó là tên chung được chuyên biệt hóa

Trang 20

để chỉ cá thể và tên chung phải có nghĩa thực (ít ai lại dùng các từ như: sͅ  ÿm Pj« thuộc hệ thống hư từ để đặt thành tên; có chăng cũng chỉ là biệt danh: ông

“khả dĩ’, ông “phàm là”,…), ví dụ như “Long”, “Lân”, “Quy”, “Phụng”, “Tùng”,

“Cúc”, “Trúc”, “Mai”,… – được dùng để đặt tên cho người; hoặc các loại tên riêng

khác như “(trường) Hoa Phượng”, “(báo) Tuổi Trẻ”, “(kem) Thủ Đô”,… Còn sự

chuyển hóa tên riêng thành tên chung thì điều kiện của nó là cá thể mà tên riêng

biểu thị phải có giá trị biểu trưng để làm cơ sở thực tế cho một khái niệm; ví dụ

trong câu nói: “Xóm bà Năm có rất nhiều Chí Phèo”, Chí Phèo vốn là tên gọi một

nhân vật trong tác phẩm văn học, trong trường hợp của câu nói này, tên gọi Chí

Phèo đã trở thành tên chung nhằm biểu trưng cho những người chuyên say xỉn tối

ngày

Trong bài viết “Về vị trí của tên riêng trong hệ thống danh từ tiếng Việt”

[40], tác giả Phạm Tất Thắng cho rằng xem tên riêng là danh từ riêng trong nhóm từ

loại danh từ là nếp nghĩ mang tính truyền thống trong Vi͏ t ngͷ h͕ c, nếu chúng ta đi

sâu tìm hiểu bản chất của loại tên gọi này so với các loại danh từ khác về mặt cấu

trúc – ngữ nghĩa, đặc trưng ngữ pháp của chúng; thì chúng ta sẽ thấy tên riêng

không chỉ có cấu trúc đặc biệt, mà trong các thành phần cấu tạo nên chúng còn chứa

đựng những thông tin đủ loại mang tính lịch sử, truyền thống, văn hóa, xã hội đặc

trưng cho mỗi cộng đồng dân tộc nhất định

Tóm lại, tên riêng có thể được xem như là đối tượng nghiên cứu thuộc nhiều

ngành khoa học khác nhau, từ Ngôn ngͷ h͕ F9ăQKyDK ͕c, Xã h͡i h͕F« đến Dân

t͡ c h͕ c Dựa vào một số quan điểm và nhận định của các tác giả thuộc chuyên

ngành Ngôn ngͷ h͕ c khi nghiên cứu về tên riêng, chúng tôi tiến tới khẳng định một

định nghĩa mang tính khái quát chung về tên riêng: Tên riêng ± là m͡t lo̩i tên g͕i

ÿ˱ ͫFGQJÿ ͋ g͕ i tên nhͷ QJÿ ͙LW˱ ͫQJÿ˯QQK ̭t, cá bi͏ t Yj[iFÿ ͓ QKĈyFyWK ͋ là tên g͕ i m͡ t s͹ v̵ t, hi͏ QW˱ ͫng; m͡t cá nhân; m͡WF˯TXDQW ͝ chͱc; m͡t công trình

ki͇ QWU~F ViFKEiR« Và khi tiếp cận với tên riêng, chúng ta không chỉ xem xét

chúng trong sự phát triển nội tại, mà còn phải đối sánh chúng trong mối quan hệ

Trang 21

chặt chẽ với tên chung và các yếu tố ảnh hưởng có nguồn gốc từ bên ngoài ngôn ngữ là văn hóa, xã hội, dân tộc

1.1.2 ChͱFQăQJF ͯa tên riêng

Với tư cách là một đơn vị của ngôn ngữ, tên riêng cũng có những chức năng của nó Trong nhiều bài viết nghiên cứu về tên riêng, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra được nhiều chức năng khác nhau của tên riêng

Ban đầu, theo tác giả Lê Trung Hoa [20] và Nguyễn Khôi [25] khi nghiên cứu về họ và tên người Việt, hai tác giả đều thống nhất họ và tên có hai chức năng:

chͱ FQăQJSKkQEL ͏t, chͱFQăQJWK ̱m mͿ

- ChͱFQăQJSKkQEL ͏t: họ và tên người Việt nói chung được dùng để phân

biệt cá thể người này với người khác Đặc biệt, yếu tố tên chính và WrQÿ ͏ m có khả năng phân biệt giới tính (nam, nữ) Đối với tên chính, tên nam thường có nghĩa

mạnh, khỏe khoắn, khoáng đạt, có ý chí và khí phách mạnh mẽ, như các tên

“Hùng”, “Cường”, “Nhân”, “Kiệt”,…; tên nữ thường phải đẹp, thể hiện sự dịu dàng, nữ tính, đằm thắm, như các tên “Diễm”, “Lệ”, “Quỳnh”, “Trân”,… Đối với

WrQÿ ͏ m ngày xưa, chủ yếu là phân biệt tên nam qua tên đệm bằng chữ “Văn” và tên

nữ qua tên đệm bằng chữ “Thị”

- ChͱFQăQJWK ̱m mͿ : đặt tên cho con cái là một việc khá quan trọng đối

với gia đình và dòng tộc Khi đặt tên cho con, các bậc cha mẹ thường phải lựa chọn

kĩ lưỡng và tư vấn rất nhiều từ các bậc chú bác trong nhà; chính vì vậy, tên người

Việt thường có xu hướng thẩm mỹ rất cao, cả WrQ ÿ ͏ m, tên chính, bút danh, ngh͏ GDQK« đều mang ý nghĩa tốt đẹp

Riêng tác giả Lê Trung Hoa trước khi thống nhất hai chức năng trên của họ

và tên người Việt, tác giả còn dẫn chứng thêm 5 chức năng do Trần Ngọc Thêm đưa

ra: (1) chͱ F QăQJSKkQEL ͏ W QJ˱ ͥi này vͣL QJ˱ ͥi khác); (2) chͱFQăQJEL ͏ t giͣ i

Trang 22

(nam và nͷ); (3) chͱ FQăQJWK ̱m mͿ ; (4) chͱFQăQJE ̫o v͏ (sͱc kh͗e và an toàn);

(5) chͱ FQăQJ[mK ͡i (phân bi͏ t sang hèn)

Tuy nhiên, những quan điểm trên chỉ mới đề cập đến chức năng của họ và

tên người Việt, là một trong những tiểu loại đặc biệt của tên riêng; các tác giả vẫn

chưa khái quát về chức năng của tên riêng Một số tác giả khác khi nghiên cứu

chuyên sâu về chức năng của tên riêng đã gặp không ít những quan điểm khác nhau,

chưa thể thống nhất để đưa ra một kết luận chung về chức năng của tên riêng Tác

giả Hoàng Tuệ, dưới góc nhìn chuyên sâu của một nhà ngôn ngữ học, ông cho rằng

tên riêng “Bản đồ trí tuệ” của mỗi người chỉ có hai chức năng: chͱFQăQJQJ ͷ QJKƭD

và chͱ FQăQJ[mK ͡i

Cuối cùng, xét tên riêng trong sự hành chức của nó cùng với những mặt ý

nghĩa xã hội mà một tên riêng có thể đem lại, chúng tôi xét thấy tên riêng có những

chức năng sau:

(1) ChͱF QăQJ bi͋ u v̵ t, ÿ ͓ nh danh: tên riêng có chức năng biểu vật như

một tín hiệu ngôn ngữ khác, nó chỉ ra cho chúng ta một cá thể, đối tượng khách

quan được đề cập đến có tính xác định và duy nhất Định danh là một dạng của chức

năng biểu vật; tức là đặt cho cá thể, đối tượng một tên gọi, chức năng này chủ yếu

được dùng để phân biệt cá thể với tập thể, khu biệt tên riêng với tên chung; chỉ với

những tên gọi như “chùa Một Cột”, “núi Bà Nà”, “sông Hương”,… cũng đã chỉ ra

được tính khu biệt và duy nhất của tên riêng khi nói về một đối tượng duy nhất, cá

biệt và xác định

(2) ChͱF QăQJ QJ ͷ QJKƭD chức năng ngữ nghĩa chính là những liên hệ

được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa tên riêng với đối tượng mà nó gọi

tên Tên riêng là vỏ vật chất dùng để biểu đạt sự vật và sự vật ấy mặc định đã được

chúng ta ý thức Ví dụ, đối với các tên riêng chỉ địa danh: “cầu Long Biên”, “sông

Hương”, “núi Ngũ Hành Sơn”,… chúng ta đều xác định rõ đó là những địa danh có

vị trí và đặc điểm riêng thuộc đất nước Việt Nam; hoặc những tên riêng chỉ người:

Trang 23

“Hoàng”, “Thành”, “Thăng”, “Long”,… mỗi tên riêng này chỉ một cá nhân, một người mà chúng ta đều biết rõ đó là ai (trừ trường hợp trùng tên)

(3) ChͱFQăQJ[mK ͡i: như tác giả Hoàng Tuệ đã khẳng định: “… hễ có tên

riêng thì một cá thể nhất định đã có quan hệ với xã hội” [49, tr.233] Với chức năng

xã hội của mình, tên riêng không phải là một con số, một cái nhãn chỉ dùng để phân biệt cá thể, đối tượng này với cá thể, đối tượng khác mà nó đã thiết lập cho mình giá trị riêng trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, được dùng để phân loại và để

xưng hô các sự vật, hiện tượng 1˯LFK ͙n là một địa điểm trong không gian nhưng

có tên riêng rồi thì không tách rời khỏi xã hội Thͥ i kǤ ÿ ͓ DÿL ͋ m là một đoạn dài

hay ngắn của thời gian mà đã có tên thì không còn là thời gian độc lập với con người nữa

(4) ChͱF QăQJ QJ ͷ dͭng: mỗi tên riêng được dùng có vai trò như một

phương tiện biểu hiện tình cảm, quan hệ hoặc đánh giá đối tượng được gọi tên; chính vì vậy mà tên riêng hoàn toàn có chức năng ngữ dụng Chức năng này được thể hiện rõ qua việc gọi tên người Đối với văn hóa Việt Nam, chúng ta gọi tên một

ai với tên họ đầy đủ, tên có kèm chức danh hoặc chỉ gọi tên sẽ cho thấy được mức

độ thân sơ, kính trọng, địa vị xã hội của người được gọi tên Ở Anh, Pháp, Mỹ tên người bao gồm hai phần: (1) Tên riêng của cá nhân, đặt trước; (2) tên riêng của

dòng họ, đặt sau; cách xưng hô lịch sự là dùng công thức: danh hi͏ u + tên sau, nếu

xưng hô cả tên trước và tên sau được xem là không lịch sự, không tôn trọng đối với người được gọi tên

1JKƭDF ͯa tên riêng

Như chúng tôi đã khẳng định, với tư cách là một tín hiệu ngôn ngữ, tên riêng cũng có nghĩa Tuy nhiên trong giới học thuật, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hai quan điểm đối lập với nhau Một bên là tác giả Hoàng Phê cho rằng tên riêng vốn không có nghĩa, nó chỉ là những kí hiệu thuần túy Ngược lại với quan điểm này, tác giả Hoàng Tuệ quan niệm tên riêng có tính chất biểu trưng chứ không phải chỉ là

Trang 24

những con số, cái nhãn đơn thuần Nhập cuộc với những quan niệm chưa thống nhất

về nghĩa của tên riêng, tác giả Phạm Tất Thắng – người có nhiều bài viết đóng góp

cho ngành 1KkQ[˱QJK ͕c, qua nhiều bài nghiên cứu của mình ông đã khẳng định

quan điểm: tên riêng cũng có nghĩa

Tác giả Phạm Tất Thắng cho rằng ý nghĩa của tên riêng không hoàn toàn giống với nghĩa của các tên chung, theo đó thì tất cả các từ đều có ý nghĩa khái quát hoặc biểu hiện một khái niệm nhất định Trong khi đó, các tên riêng không có ý nghĩa khái quát, không hề liên quan đến bất kì khái niệm nào cả Chúng chỉ là những kí hiệu dùng để gọi tên cho một đối tượng cá biệt và đơn nhất Về mặt hình thức, tên riêng gọi tên các sự vật, hiện tượng thông qua những kí hiệu có sẵn trong vốn từ chung chứ không có hệ thống kí hiệu riêng; mặc dù vậy, ý nghĩa của các tên riêng lại không có mối liên hệ nào với những lớp nghĩa của những từ tương ứng trong vốn từ chung Đặt tên người là “Núi”, “Thủy”, “Quốc” là để phân biệt, định danh người này với người khác trong cộng đồng chứ ý nghĩa của những tên gọi này không trùng với ý nghĩa từ vựng của các từ “núi”, “thủy”, “quốc” trong từ điển Trên thực tế, có những người sẽ trùng cả tên lẫn họ nhưng bằng những đặc điểm về tâm sinh lý, giới tính, nghề nghiệp, tính cách,… người ta vẫn xác định một tên gọi

sẽ chỉ gắn với duy nhất một người Chính những đặc điểm này đã làm nên ý nghĩa của các tên riêng

Vì tên riêng sử dụng những từ có sẵn trong vốn từ chung nên hình thức của

nó trùng với tên chung; và trong một số trường hợp, ý nghĩa của tên riêng vẫn có mối liên hệ nhất định với ý nghĩa của các tên chung tương ứng Ví dụ như từ “quốc”

là chỉ nước, thường đi kèm với từ khác để tạo thành từ mới như “quốc dân”, “quốc gia” để chỉ những vấn đề liên quan đến một nước; khi đặt tên là “Quốc”, tên gọi này

cũng hàm ý với ý nghĩa biểu trưng \rX Q˱ ͣF JL~S Q˱ ͣc và luôn làm nên nhͷng chuy͏ Qÿ ̩i s͹ có tính qu͙c gia; hoặc như tên gọi địa danh “Tam Kỳ”, theo nghĩa từ nguyên “tam kỳ” là ch͟ rͅ ba nhánh; và theo nhiều giả thuyết, tên địa danh này

được đặt theo hình sông thế núi của vùng đất Quảng Nam, nơi có ba gò đất cao

Trang 25

cùng ngã ba sông Như vậy, tên riêng gợi ra trong ý thức cộng đồng về sự liên

tưởng hay ghi một dấu ấn kỉ niệm rất riêng nào đó của người đặt tên vào trong hình

thức tên gọi, nghĩa là chúng mang nội dung ngữ nghĩa – tu từ bổ sung trên cơ sở ý

nghĩa từ vựng của các từ mà tên riêng sử dụng làm ký hiệu cho tên gọi Tóm lại, so

với ý nghĩa từ vựng của các từ mà tên riêng sử dụng làm ký hiệu cho tên gọi thì tên

riêng thường mang tính chất biểu trưng hay có giá trị biểu trưng; tác giả Phạm Tất

Thắng gọi đó là nghĩa hàm chỉ của tên riêng

Có thể thấy, ý nghĩa của tên riêng đã trở thành một phạm trù rất rộng, ý

nghĩa đó đã vượt ra khỏi khuôn khổ biểu niệm của các kí hiệu trong ngôn ngữ

chung để trở thành một loại ký hiệu đặc biệt Mỗi loại tên riêng có đặc điểm cấu tạo

và mục đích sử dụng khác nhau, nó cũng là nguyên nhân làm cho ý nghĩa của tên

riêng diễn biến khá phức tạp Quá trình nghiên cứu về ý nghĩa của tên riêng sẽ còn

mở ra nhiều vấn đề mới đối với ngành 'DQK[˱QJK ͕c

1.1.4 Ĉ̿ FÿL ͋ m ngͷ pháp cͯa tên riêng

Về mặt ngữ pháp, tên riêng được xếp vào nhóm từ loại danh từ, vì thế tên

riêng và tên chung trước hết sẽ có những đặc điểm ngữ pháp giống nhau; và với đặc

điểm của một tiểu loại danh từ, tên riêng cũng có những đặc điểm ngữ pháp riêng

của mình Dưới đây là một số đặc điểm ngữ pháp của tên riêng:

(1) Kh̫ QăQJ N ͇ t hͫ p vͣ L ³O˱ ͫng tͳ´ ³V ͙ tͳ´ ³FK ͑ tͳ´ NpP K˯Q WrQ chung

Theo tác giả Diệp Quang Ban [4, tr.477] thì tên riêng không có khả năng kết

hợp rộng rãi như tên chung, nghĩa là tên riêng không trực tiếp kết hợp với những từ

chỉ số lượng như “các”, “những”, “tất cả”,… Khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng

chỉ xảy ra khi có danh từ riêng trùng nhau hoặc tương tự được gộp lại thành một

khối chung, chẳng hạn: nhͷ QJĈL ͏ n Biên Phͯ (những chiến dịch lớn và thắng lợi

như chiến dịch Điện Biên Phủ); m̭y th̹ng Sͧ Khanh (chỉ những kẻ bội bạc, chuyên

Trang 26

lừa gạt trong chuyện tình yêu để lấy tình, lấy tiền) Tương tự, tên riêng chỉ kết hợp với số từ trong trường hợp có từ hai đối tượng trùng tên được nói đến (xảy ra chủ yếu ở tên người) như trong câu “Lớp học có hai học sinh tên Nguyễn Văn Nam, cô muốn gặp Nguyễn Văn Nam nào?”

Khả năng kết hợp tên riêng với các chỉ từ “này”, “ấy”, “kia”,… hoặc một định ngữ nào khác cũng ít xảy ra, nó chỉ xảy ra khi thực sự muốn nhấn mạnh vào việc chỉ trỏ, ví dụ: “Cái thằng Năm Sài Gòn này không bao giờ thèm dùng nước mắt

để lừa dối người” (B͑ Võ, Nguyên Hồng); hoặc khi muốn gia thêm một chi tiết để

tránh sự lẫn lộn vì trùng tên, ví dụ những định ngữ kiểu như “Sài Gòn” trong “Năm Sài Gòn”; “tóc đỏ” trong “Xuân Tóc Đỏ” thường là xuất hiện như một xu thế trở thành một bộ phận trong tên gọi ghép

(2) Kh̫ QăQJN ͇t hͫp vͣi tͳ ³FiL´ ³OR ̩i tͳ´

Khi kết hợp với từ “cái”, tên riêng có thể kết hợp với loại từ và danh từ

chung để tạo thành hai cách diễn đạt: cái + lo̩i tͳ + tên riêng, “Cái hòn Nam Bộ”; cái + lo̩ i tͳ + danh tͳ chung + tên riêng, “Cái anh chánh án Đẩu”

Trong một số trường hợp, tên riêng được gọi theo tính võ đoán, giữa sự vật

và tên gọi không có mối quan hệ có lý do nào, khó hiểu vì sao sự vật được gọi như vậy; nên tên riêng thường đòi hỏi phải có một danh từ chung ở trước, hai bên đặt theo quan hệ đồng vị với nhau, ví dụ như: “Tỉnh Nghệ An”, “sông Hàn”, “Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến”,… Cũng với khả năng kết hợp ấy, tên riêng còn kết

hợp với loại từ trong mô hình: lo̩ i tͳ + tên riêng, ví dụ như “cậu Phú”, “bác Hải”,

“dì Anh”, “mợ Quy”,… với khả năng kết hợp này nó có thể đem lại tác dụng phân biệt giới tính, tuổi tác, sự kính trọng đối với người được nói đến

Trang 27

(3) Tên riêng không tr͹c ti͇ p làm ³ v͓ ngͷ´,

Trong một số trường hợp, tên riêng phải kết hợp với hư từ “là” hoặc các từ

phủ định “không phải”, “không phải là” như trong câu “Suối ấy là/không

phải/không phải là Suối Mơ”

Tên riêng cũng không đặt sau các từ trạng ngữ thời gian như “đã”, “từng”,

“sẽ”,… và không đặt sau các từ “hãy”, “đừng”, “chớ”,…

(4) Tên riêng có th͋ ÿ˱ ͫc s͵ dͭQJQK˱ ³tính tͳ´ ho̿c ³ÿ͡ng tͳ´

Nhờ phương pháp chuyển loại, tên riêng cũng có thể làm tính từ, động từ

trong câu Ví dụ: “Cậu ta rất Xuân Diệu”, Xuân Diệu là tên của nhà thơ nổi tiếng

với những bài thơ tình hay, ở trong câu nói này tên riêng Xuân Diệu khi được đặt

sau phó từ chỉ mức độ “rất” thì trở thành tính từ chỉ sự lãng mạn Hoặc như trong

câu “Nó định Sở Khanh với chị ấy” thì tên riêng “Sở Khanh” đóng vai trò như một

động từ chỉ sự lừa đảo, tráo trở

Như vậy, ngoài những đặc trưng ngữ pháp của một từ loại danh từ nói chung

vốn có, tên riêng còn có những đặc điểm từ vựng, cấu trúc – chức năng chuyên biệt,

không giống với danh từ chung và các lớp từ loại khác trong ngôn ngữ Trong một

bài nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Tất Thắng [40] đã gọi tên riêng là “ngữ định

danh”; có lẽ đây là một vấn đề cần phải tìm hiểu và nghiên cứu kỹ hơn, hứa hẹn sẽ

là một vấn đề hấp dẫn để các nhà nghiên cứu xem xét và tiếp tục đào sâu khi tiếp

cận với đối tượng là tên riêng ở mọi góc độ

1.1.5 Các lo̩ i tên riêng

Như đã đề cập đến ở phần bàn về vấn đề định nghĩa tên riêng, dựa trên sự

thống nhất chung về định nghĩa tên riêng với lớp nghĩa: là m͡ t lo̩ i tên g͕ LGQJÿ ͋ g͕ i tên m͡ Wÿ ͙LW˱ ͫng cá bi͏ t, duy nh̭ t; một số tác giả đã phân chia tên riêng thành

nhiều loại khác nhau Hiện nay, cách phân loại tên riêng giữa các tác giả vẫn chưa

Trang 28

có tiếng nói chung Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Lê Trung Hoa

[20] chia tên riêng thành hai loại: nhân danh – liên quan đến một người, một nhóm người và ÿ͓ a danh – quan hệ đến một vùng lãnh thổ nhất định Với cách phân loại

này, nó chưa khái quát hết những đối tượng mà tên riêng định danh và chỉ mới quan

tâm đến hai đối tượng thuộc hai lĩnh vực nghiên cứu của 'DQK[˱QJK ͕c là Nhân danh h͕ c và Ĉ͓ a danh h͕ c

Sau khi phân tích về chức năng ngữ nghĩa và chức năng xã hội của tên riêng, tác giả Hoàng Tuệ [49, tr.235] đã căn cứ trên hai chức năng này để phân loại tên riêng thành 5 loại: (1) Tên riêng chỉ người: gồm có tên những người bình thường

và tên những người nổi tiếng; tên những cá nhân và tên những dân tộc; (2) Tên nơi chốn; (3) Tên thời kỳ, thời điểm, sự kiện lịch sử; (4) Tên tổ chức; (5) Tên công trình Ngoài ra còn có thể kể trường hợp tên súc vật, thường là gia súc Theo tác giả, đây là 5 loại tên riêng đáng chú ý nhất, bởi chúng biểu thị những cá thể vật chất và tinh thần, cổ kim, kim cổ, có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa – xã hội Tuy nhiên; sự vật, hiện tượng xung quanh chúng ta ngày càng đa dạng, khả năng phản ánh của con người theo đó cũng trở nên phong phú hơn Tên riêng vừa có khả năng làm thành một hệ thống những từ biểu thị khái niệm, tương đương với “thực từ” và hệ thống những từ để thực tại hóa khái niệm vừa phản ánh rộng đối với tất cả những đối tượng mang tính chất đơn nhất, cá biệt; chính vì vậy mà việc phân loại tên riêng khó có thể đưa đến một con số nhất định Điểm gặp nhau giữa các tác giả khi phân loại tên riêng đó là các tác giả đều cố gắng mở rộng phạm vi phản ánh những đối tượng khách quan, đã được con người ý thức của tên riêng; nhưng để có một cách thống nhất chung về số lượng và tên gọi của từng loại tên riêng thì lại rất khó Chẳng hạn như cách phân loại của tác giả Hoàng Tuệ là trên cơ sở chỉ ra những tên riêng có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa – xã hội; còn như tác giả Phạm Tất Thắng [40], ban đầu tác giả phân chia tên riêng một cách cụ thể, gồm

có 13 loại:

(1) Tên người

Trang 29

(2) Tên Thánh, Thần, tên Phật

(3) Tên văn vật

(4) Tên thời đại, thời kỳ, thời nhật

(5) Tên công trình kiến trúc, cơ khí, công nghiệp, tàu bè, vũ khí

(6) Tên sách báo, vở diễn, phim ảnh…

(7) Tên sự kiện, phong trào xã hội, nhân vật, địa danh lịch sử, nhãn hiệu hàng hóa

(8) Tên đất (Địa danh)

(9) Tên các vùng không gian – vũ trụ, thiên hà, chòm sao…

(10) Tên các thiên thể

(11) Tên các thiên tai

(12) Tên gia súc, gia cầm

(13) Tên cây cỏ, hoa lá…

Đến năm 2003, tác giả tiếp tục phân loại tên riêng thành 11 loại dựa vào ý nghĩa định danh của tên riêng chỉ các đối tượng hiện thực và phi hiện thực: tên người; tên động vật; tên thực vật; tên gọi các hiện tượng tự nhiên; tên các công trình kiến trúc; tên các phương tiện giao thông; tên gọi các đơn vị hành chính; tên các cơ quan, tổ chức; tên các sản phẩm hàng hóa, tên gọi sách báo; tên gọi các văn bản hành chính

Có thể thấy, xếp loại tên riêng dựa trên một cơ sở, tiêu chí nào đó là việc làm không hề đơn giản Theo thời gian, tên riêng sẽ còn thay đổi về số lượng tên gọi; như vậy, việc xếp loại sẽ lại phải đi từ hệ thống tổng hợp đầy đủ những tên gọi rồi

Trang 30

tiếp tục phân chia tên riêng thành từng nhóm Dựa trên việc tổng hợp các kết quả phân loại tên riêng của các tác giả, chúng tôi quyết định chia tên riêng thành 9 loại:

(7) Tên các hiện tượng tự nhiên

(8) Tên các tổ chức xã hội và các thiết chế xã hội

(9) Tên các thời kỳ, địa điểm, sự kiện

1.1.6 V͓ trí cͯa tên riêng trong h͏ th͙ ng danh tͳ ti͇ ng Vi͏ t

Từ trước đến nay, tên riêng mặc định được các nhà nghiên cứu ngữ pháp

tiếng Việt gọi là danh tͳ riêng, bên cạnh các tiểu loại danh từ khác như: danh tͳ chung, danh tͳ ch͑ s͹ v̵ t/ danh tͳ ch͑ ÿ˯QY ͓ ; danh tͳ t͝ ng hͫ p/ danh tͳ không t͝ ng hͫ p; danh tͳ ÿ ͇ Pÿ˱ ͫc/danh tͳ NK{QJÿ ͇Pÿ˱ ͫc; thuộc hệ thống từ loại danh từ

Như vậy, các tác giả nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt xem tên riêng là một loại

từ, nó có đầy đủ chức năng và tư cách của một từ với những đặc trưng về ý nghĩa khái quát (ý nghĩa từ vựng ngữ pháp), khả năng kết hợp và chức năng cú pháp Thế nhưng, tác giả Phạm Tất Thắng [40] cho rằng tên riêng vốn là một đối tượng nghiên cứu đặc biệt, không giống với các loại danh từ khác Và quả thật, từ khi ngành

'DQK[˱QJK ͕c ra đời, tên riêng mới thật sự được chú ý nghiên cứu dưới nhiều góc

độ khác nhau Các công trình nghiên cứu đi sâu hơn vào việc khai thác các bình diện văn hóa, xã hội, lịch sử và những vấn đề xung quanh tên riêng

Trang 31

Xét tên riêng trong hệ thống danh từ tiếng Việt, chúng tôi nghiên cứu tên

riêng trên các mặt cấu tạo, hình thức, ngữ pháp, cú pháp và hiện tượng chuyển loại

Như vậy, bằng những kết quả nghiên cứu của một số tác giả, đặc biệt là

những bài viết đóng góp của tác giả Lê Trung Hoa, Phạm Tất Thắng cùng một số

tác giả khác; các tác giả đã đưa tên riêng lên thành một bộ môn nghiên cứu khoa

học có nhiều tiềm năng và giá trị, có ý nghĩa đóng góp to lớn cho các bộ môn liên

ngành là Ngôn ngͷ h͕ c, Dân t͡ c h͕ c, Xã h͡ i h͕ F 9ăQKyDK ͕c,… Đối với Ngôn

ngͷ h͕ c, tên riêng là một đối tượng còn tiềm ẩn nhiều “ẩn số” mà chúng ta chưa thể

khai thác hết được Có thể nói, tên riêng là kết quả của quá trình lựa chọn ngôn ngữ,

nó có lý do định danh rõ hơn các tên chung; vậy nên, nghiên cứu tên riêng cần phải

đặt nó trong mối quan hệ giữa hi͏ n th͹c ± W˱GX\ ± ngôn ngͷ

1.2 Vài nét vӅ mӕ i quan hӋ giӳa ngôn ngӳ YjYăQKyDWURQJFiFKÿ һt tên

1.2.1 V͉ m͙ i quan h͏ giͷa ngôn ngͷ YjYăQKyD

Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ Một mặt, ngôn ngữ là

sản phẩm đặc trưng, là đặc quyền sở hữu chỉ có ở xã hội loài người Ngôn ngữ vừa

là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người vừa là công cụ tư duy Nhờ

có ngôn ngữ, con người tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, trao đổi thông tin và tri

thức từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện vật

chất không thể thiếu được của sự phản ánh khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là quá

trình hình thành ý thức Trong khi đó, văn hóa được hiểu theo cách định nghĩa của

UNESCO là tất cả những gì do con người sáng tạo trong quá trình hoạt động có ý

thức Ngôn ngữ và văn hóa do đó mà chúng tác động qua lại với nhau, giữa chúng

tồn tại mối quan hệ tương tác và phải gắn liền với một dân tộc, một cộng đồng

người nhất định

Đến đầu thế kỉ XIX, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa mới được nhìn

nhận và xem xét như một vấn đề nghiên cứu cụ thể Tư tưởng của Humboldt có thể

Trang 32

coi là những đóng góp đầu tiên Ông cho rằng về phương diện xã hội, mỗi ngôn ngữ phản ánh những cách tư duy của dân tộc sử dụng nó, đồng thời cũng tác động đến tư duy đó Ngoài Humboldt, các nhà tư tưởng thuộc trào lưu triết học Khai sáng Đức như Immanuent Kant, Johann Gottfried Heider là những người đầu tiên đề cập đến việc ngôn ngữ gắn chặt với tư duy như thế nào Tuy nhiên, phải đến khi bước sang nửa cuối của thế kỉ XX, mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa mới thật sự được quan tâm đặc biệt Người ta gọi đó là cuộc “Cách mạng ngôn ngữ học nửa sau thế kỉ XX”

Theo tác giả Trịnh Thị Kim Ngọc [31, tr.38,39,40], khi nói về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, mỗi nhà nghiên cứ lại đưa ra những ý kiến hoặc tên gọi riêng của mình V.A Avrorin coi “ngôn ngữ như một thành tố của văn hóa” (1984); E.M Veresiaghin và V.G Kostomarov cho rằng “ngôn ngữ là tấm gương chân chính của văn hóa dân tộc” (1990); A.K Uledov coi ngôn ngữ là “một bình diện của văn hóa”… Trong ngôn ngữ học hiện đại, các nhà ngôn ngữ học cũng có những cách nhìn khác nhau về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa E Sapir nhấn mạnh quan hệ tương hỗ và tác động lẫn nhau giữa ngôn ngữ và văn hóa: “Có thể định nghĩa văn hóa như những vấn đề mà một xã hội nhất định đang nghĩ và đang làm Ngôn ngữ là cái mà như người ta nghĩ, đương nhiên là nội dung của ngôn ngữ không tách rời văn hóa” Nhà ngôn ngữ nổi tiếng người Nga I.I Xrezhiepxli cho rằng: “Dân tộc có điều kiện để thể hiện mình qua ngôn ngữ như một cách đầy đủ và toàn diện hơn bất cứ một yếu tố nào khác, và không chỉ ở vị trí sau chót, mà còn thể hiện được mình trong suốt quá trình lịch sử Tất cả những gì có được trong cuộc sống và nhận thức của một dân tộc, và cả những gì dân tộc đó muốn giữ lại trong trí nhớ của mình – tất cả đều được thể hiện và bảo tồn nhờ ngôn ngữ” Như vậy, ngôn ngữ có khả năng tác động tới sự hình thành và phát triển văn hóa dân tộc, mà tới lượt mình văn hóa được coi như một hệ thống hoàn thiện và biệt lập

Ở Việt Nam, các bài viết và công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa của một số tác giả là những nhà ngôn ngữ đã xuất hiện từ lâu; trọng

Trang 33

tâm là các tác giả tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ở nhiều góc độ

khác nhau như Ngôn ngͷ vͣi s͹ phát tri͋ QYăQKyD[mK ͡i của Trần Trí Dõi; 9ăQ hóa và ngôn ngͷ giao ti͇ p cͯ DQJ˱ ͥi Vi͏ t của Hữu Đạt; Tìm hi͋ u m͙ i quan h͏ ngôn

ngͷ ± YăQKyD của Nguyễn Văn Độ; M͡ t s͙ chͱ ng tích v͉ ngôn ngͷ YăQW ͹ YjYăQ hóa của Nguyễn Tài Cẩn

Trong bài viết của mình, tác giả Phạm Đức Dương cho rằng: “…ngôn ngữ là

một hệ thống tín hiệu phổ quát, có thể diễn tả, giải thích các hệ thống biểu tượng

khác của văn hóa, và sự phát triển của các hệ thống kí hiệu trong văn hóa đều liên

quan đến sự phát triển ngôn ngữ” [15, tr.122] Như vậy, tác giả đã nhấn mạnh mối

quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và văn hóa Trong một bài phân tích khác của tác

giả Trần Trí Dõi [13], từ bình diện ngôn ngữ là chứng tích của văn hóa, tác giả đã

chỉ ra mối quan hệ của ngôn ngữ và văn hóa sau khi phân tích và sơ đồ hóa bản chất

tín hiệu của một đơn vị ngôn ngữ và bản chất tín hiệu của văn hóa/một đơn vị văn

hóa:

TÍN HIӊU NGÔN NGӲ NӜI DUNG/CHӬ&1Ă1* HÌNH THӬC/CҨU TRÚC

- Phương tiện giao tiếp

- Công cụ của tư duy

- Những yếu tố cấu trúc

- Quan hệ giữa các yếu tố

6˯ÿ ͛ 1: N͡i dung và hình thͱc cͯa tín hi͏u ngôn ngͷ

TÍN HIӊ89Ă1+Ï$

NӜI DUNG/CHӬ&1Ă1* HÌNH THӬC/CҨU TRÚC

- Chi phối ứng xử và giao tiếp

Trang 34

Tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa; trước hết, tác giả cho rằng ngôn ngữ và văn hóa vừa là một hiện tượng đồng nhất vừa là một hiện tượng khác biệt Nếu đặt ngôn ngữ và văn hóa là hai thành tố khác nhau trong hoạt động xã hội của một cộng đồng người, nghĩa là ta nhấn mạnh đến sự khác nhau về chức năng xã hội của mỗi một hệ thống tín hiệu Theo đó, chức năng xã hội của ngôn ngữ là “phương tiện giao tiếp quan trọng nhất” và là “công cụ của tư duy” Còn ngược lại, chức năng xã hội của văn hóa là cái dùng để “chi phối ứng xử và giao tiếp cộng đồng”, là dấu hiệu “biểu hiện đặc trưng cộng đồng” (tức cái đánh dấu bản sắc của một cộng đồng xã hội nhất định) Bên cạnh đó, trong hoạt động xã hội của một cộng đồng người nói một ngôn ngữ cụ thể thì ngôn ngữ được coi là yếu tố tham gia vào hệ thống biểu trưng làm nên cái cấu trúc của một nền văn hóa cụ thể;

ở trường hợp này, tín hiệu ngôn ngữ đồng thời cũng là một tín hiệu văn hóa

Văn hóa có mối quan hệ khá đa dạng với nhiều lĩnh vực khoa học như Khoa h͕ c xã h͡ LYjQKkQYăQ7kPOêK ͕c, Dân t͡c h͕c,… Và trong mối quan hệ giữa văn

hóa và ngôn ngữ, nó thường được thể hiện trong 3 phương diện sau:

- Ngôn ngữ biểu hiện (express) hiện thực văn hóa

- Ngôn ngữ là hiện thân (embody) của hiện thực văn hóa

- Ngôn ngữ biểu trưng (symbolize) hiện thực văn hóa

Trong những nghiên cứu liên quan đến vấn đề văn hóa, có thể nhận thấy một điểm chung là: thông thường vấn đề này không được khảo sát song song giữa ngôn

ngữ và văn hóa, mà được đặt trong mối quan hệ giữa ngôn ngͷ ± YăQKyD ± nh̵n thͱ c (tư duy)

Tóm lại, thông qua bức tranh ngôn ngữ chúng ta sẽ hiểu được ý niệm về thế

giới Trong ngôn ngữ, ý ni͏ m (concepts) được coi như sự cô đặc của nền văn hóa

mỗi dân tộc – nó là cái mà thông qua nó văn hóa đi vào thế giới tinh thần của con

người Cũng thông qua những ý nJKƭD KjP ̱n trong hệ thống kí hiệu ngôn ngữ,

Trang 35

chúng ta sẽ tìm thấy được những “dấu vết” của nền văn hóa mỗi dân tộc còn ghi lại

trong tiềm thức của người bản ngữ

1.2.2 M͙ i quan h͏ giͷa ngôn ngͷ YjYăQKyDWURQJFiFKÿ ̿t tên

“Con người sinh ra và lớn lên, cho đến khi trͧ v͉ cát bͭ i, luôn luôn phải tự

đặt mình vào nhiều phạm vi giao tiếp, ứng xử là gia đình – họ tộc và xã hội – quốc

gia Mỗi phạm vi ấn định một cách giao tiếp, ứng xử không giống nhau, nhưng

trong đó, cá nhân được phân biệt với đồng loại chung quanh trước hết bằng cái gọi

là h͕ và tên”… [29, tr.44] Tên người vừa có chức năng phân biệt một cá thể người

này với người khác trong một cộng đồng người, vừa phản ánh được nền văn hóa ẩn

chứa bên trong từng tên gọi

Họ và tên người phần lớn sẽ gắn chặt với người được đặt tên cho đến hết

cuộc đời của họ Có thể nói, việc đặt tên là việc làm vô cùng hệ trọng đối với mỗi

con người Gia đình là cái nôi lưu giữ nhiều bản sắc văn hóa của dòng tộc Đặt tên

cho con cái thường là do các bậc sinh thành có vai vế trong dòng họ quyết định; vì

vậy, tên người trước hết sẽ phản ánh văn hóa gia đình mỗi dòng họ Mỗi dòng họ lại

là mỗi gam màu thể hiện những bản sắc riêng và chung của cộng đồng dân tộc Việt

Nam; vậy nên, tiếp đến tên người còn phản ánh những nét đặc trưng vốn có của một

dân tộc

Tên riêng được hình thành là do sự vay mượn kí hiệu có sẵn trong hệ thống

ngôn ngữ Khi đặt tên, con người thường có xu hướng lựa chọn những từ có ý nghĩa

gắn với mong ước và kì vọng của gia đình; âm dễ đọc; biểu thị sự trang trọng, nhã

nhặn; thể hiện được đặc trưng của dòng họ, dân tộc;… Nghiên cứu mối quan hệ

giữa ngôn ngữ và văn hóa trong cách đặt tên người chủ yếu là nghiên cứu về cấu

trúc tên gọi (bao gồm quy tắc kết hợp các yếu tố), đặc điểm từ vựng, thanh điệu để

thấy được những đặc trưng văn hóa được phản ánh

Trang 36

V͉ c̭ u trúc tên g͕ i, theo tác giả Nguyễn Khôi [25, tr.7], do những bối cảnh

văn hóa, xã hội lịch sử các dân tộc khác nhau nên kết cấu họ tên (bao gồm các bộ phận cấu thành họ tên và mối quan hệ giữa các bộ phận đó) không giống nhau Theo một số nghiên cứu, có 3 loại kết cấu họ và tên khác nhau:

- Các dân tộc có họ đặt trước tên như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản…

- Các dân tộc có tên đặt trước như Anh, Mỹ, Pháp, Italia, Nga, Tây Ban Nha,

Bồ Đào Nha,… Ở Việt Nam có dân tộc Ê Đê…

- Những dân tộc chỉ có tên mà không có họ như người Tây Tạng (tộc Tạng), tộc ở Miama… Việt Nam có dân tộc Xơ Đăng, Ơ Đu

Ngoài ra còn có một số kết cấu họ tên của những tộc người mà ta không thể quy vào loại nào được Ví dụ: tên họ của một số tộc người (trên thế giới) còn có đệm thêm tên bố, tên ông, tên chú và các biệt danh khác Ở Việt Nam, người Hà Nhì Đen lấy tên bố làm tên đệm cho con

Kết cấu họ tên của người Việt theo mô hình h͕ + (chͷ ÿ ͏ m) + tên ˆ h͕ tên,

đã phản ánh tâm lý dân tộc trọng danh húy tính (trọng tên kiêng nể họ)

V͉ ÿ ̿F ÿL ͋ m tͳ v͹QJ WKDQK ÿL ͏ u cͯD WrQ QJ˱ ͥi (chủ yếu là thành tố tên

chính); do yêu cầu trong việc đặt tên thường phải:

- Ngắn gọn để dễ nhớ, để gây ấn tượng: tên chính là từ đơn “Nguyễn Bé”,

“Phan Khôi”, “Phạm +˱ ͧng”,…; về sau do nhu cầu tránh trùng tên nên tên chính được dùng có thể là từ ghép, từ láy: “Ngô Thanh Nhân H̵u”, “Huỳnh Dương Huy Hoàng”, “Lê Nguyễn Hân Hân”,…

- Yêu cầu về sự hòa phối thanh điệu để tên gọi dễ đọc, dễ nghe: thông thường tên người không nên dùng cùng một thanh điệu Ba từ cùng âm, đọc dễ mất sức mà lại đơn điệu, ví dụ: “Lê Huy Liêm”, “Trần Hoàng Hà”,… Thường là các từ

Trang 37

trong tên gọi có thanh điệu khác nhau, đọc dễ nghe hơn, ví dụ: “Nguyễn Nhật Lệ”,

“Nguyễn Gia Linh”, “Trịnh Hồng Hạnh”, “Tô Thị Hằng”,…

- Biệt giới: thường là sử dụng từ “Văn” làm tên đệm cho tên nam và từ “Thị” làm tên đệm cho tên nữ

- Thẩm mỹ: chủ yếu sử dụng từ Hán Việt: “Đỗ Hy An – bình an”, “Lê Hoàng

MͿ – đẹp”, “Nguyễn Đình &˱ ͥng – khỏe mạnh”,…

Ngay cả việc sử dụng tên gọi như thế nào để xưng hô cũng phản ánh được văn hóa của người bản ngữ

Ngày xưa, trong văn hóa đặt tên người, khi đặt tên cho con cháu trong dòng

họ phải tuân theo quy tắc của dòng họ đó; đặc biệt là tránh trường hợp “phạm húy”, đặt tên con không được trùng với các bậc bề trên, vua chúa, các vị thành hoàng Các gia đình phong kiến ngày xưa thường đặt tên theo cung cách vua quan, tức là chuẩn

bị một dãy tên để đặt dần, tiêu biểu là 10 bài “Phiên hệ thi” của vua Minh Mạng

dùng để đặt tên cho con cháu và các anh em của mình Thực tế đã có nhiều gia đình đặt đúng và đầy đủ các tên trong dãy

Tên người, đôi khi lại gắn với những câu chuyện có ý nghĩa Để phản ánh những sự việc có ý nghĩa ấy, người ta thường lựa chọn những từ ngữ phù hợp để đặt tên nhằm ghi nhớ sự kiện có ý nghĩa ấy Chẳng hạn như, “Đại Việt sử ký toàn thư”

có ghi lại: “Tiền Ngô Vương (898-994), khi vua mới sinh có ánh sáng lạ đầy nhà, trạng mạo khác thường, có 3 nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là lạ, bảo có thể làm chủ một phương nên mới đặt tên là Quyền” [28, tr.204] Đây cũng có thể xem là một thói quen của người Việt trong việc đặt tên

Tên người vừa là một hệ thống những kí hiệu ngôn ngữ vừa ẩn chứa một bề dày văn hóa có thể kéo dài theo không gian và thời gian Việc đặt tên người, từ xưa trong văn hóa người Việt đã tồn tại những nét văn hóa riêng Muốn tìm ra những nét văn hóa ấy, ta phải dựa vào những nguyên tắc về mặt ngôn ngữ để mổ xẻ, phân tách

Trang 38

mặt biểu hiệu (những kí hiệu ngôn ngữ) của tên riêng Bằng việc tìm ra những nguyên nhân dẫn đến việc hình thành tên riêng với những kí hiệu ngôn ngữ cụ thể, chúng ta sẽ nắm được đặc trưng của văn hóa dòng họ, dân tộc cũng như làm sáng tỏ phương thức tư duy của con người qua tên riêng ấy Một khi giữa ngôn ngữ và văn hóa đã có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thì theo thời gian, sự biến đổi văn hóa đặt tên người diễn ra sẽ kéo theo những nguyên tắc hình thành tên riêng về mặt ngôn ngữ Chúng tôi sẽ phân tích kỹ vấn đề này trong chương 3 của đề tài

Ĉj Nҹng ± YQJÿ ҩWYjFRQQJѭ ӡi

9QJÿ ̭WĈj1 ̽ng

Đà Nẵng là thành phố nằm khiêm nhường ven biển miền Trung, cách thủ đô

Hà Nội 759 km, cách cố đô Huế về phía bắc 107 km, cách thành phố Hồ Chí Minh

về phía nam 917 km; có diện tích là 1.248,4 km2; cách bờ biển Đà Nẵng, nằm dưới

vĩ tuyến 17 có quần đảo Hoàng Sa – là đơn vị hành chính trực thuộc Đà Nẵng Về vị trí địa lý của thành phố Đà Nẵng: Đông – giáp biển Đông; Tây – giáp huyện Hiên

và huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; Nam – giáp huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Bắc – giáp huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế Như vậy, về mặt vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, Đà Nẵng là thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc bảo đảm đời sống của dân cư: song ngòi chằng chịt, biển bao quanh, là môi trường hoạt động của ngư nghiệp và thủy vận; vùng núi không xa là nơi đem lại nguồn lợi cho dân chúng sống bằng nghề khai thác lâm sản; ruộng đồng phì nhiêu Chính vị trí địa

lý thuận lợi như vậy nên thành phố Đà Nẵng thu hút rất nhiều người dân xung quanh đến sinh sống và làm việc; có thể nói, sự quần tụ của dân cư là một điều tất yếu có từ rất sớm

V͉ tên g͕ i ÿ ͓ DGDQKĈj1 ̽ng, hiện các nhà khảo cứu vẫn chưa tìm ra lời

giải chính xác cho địa danh này Địa danh Đà Nẵng trong quá trình khảo cứu vẫn được gọi theo những cái tên quen thuộc là: “Đà Nẵng”, “Hàn” và “Tourane” Danh xưng “Đà Nẵng” theo nhiều người đồng tình, từ xưa không phải của tiếng Việt

Trang 39

thuần túy, mà bắt nguồn từ ngôn ngữ Chàm (Chăm, Champa hoặc Chiêm Thành); trong đó: “Đà” là sông, “Nẵng” là lớn, “Đà Nẵng” có nghĩa là sông lớn (có lẽ là muốn nói con sông Hàn) Trong danh xưng “Hàn”, từ “Hàn” có nghĩa là vùng biển được bao bọc che chắn bởi những ngọn núi Hải Vân, hòn Hành, hòn Chảo và bán đảo Sơn Trà Còn danh xưng “Tourance” vốn là danh xưng chính thức, tên gọi này được thực dân Pháp đặt cho Đà Nẵng vào những năm khoảng 1860-1888 kể từ khi Pháp xâm chiếm Đà Nẵng cho đến hết thời Pháp thuộc năm 1945 Xoay quanh tên gọi địa danh Đà Nẵng còn nhiều cách lý giải, nhưng ý kiến tương đối hợp lý, có sức thuyết phục là địa danh gốc Champa – “Đà Nẵng” Tuy nhiên, theo chúng tôi, đây cũng chỉ là một giả thuyết

V͉ m̿ t l͓ ch s͵, vùng đất Đà Nẵng cũng đã trải qua không ít những sự kiện

lịch sử, sự chia tách, sát nhập và gọi tên Sau khi vua Lê Thánh Tôn bình Chiêm xong, ngày 1-7-1471 vua chia lại địa giới Thuận Châu và Hóa Châu, lập ra “Quảng Nam Thừa Tuyên” (Đạo thứ 13 của Đại Việt) gồm 3 phủ, 9 huyện mà Đà Nẵng là một địa danh nằm trong huyện Điện Bàn Năm 1602, Chúa Nguyễn đổi đạo Quảng Nam (Quảng Nam Thừa Tuyên) thành Quảng Nam dinh Năm 1833, vua Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh – tỉnh Quảng Nam và di dời thành tỉnh từ Thanh Chiêm ra làng La Qua (thị trấn Vĩnh Điện) Bấy giờ Đà Nẵng thuộc địa phận tổng Bình Thái

Hạ (của huyện Diên Phước và Hòa Vang, trực thuộc phủ Điện Bàn) Trong các thế

kỉ XIV, XV, Đà Nẵng là miền phên dậu phía bắc của tỉnh Quảng Nam, là nơi tập trung quân lực chống Trịnh dưới thời Trịnh – Nguyễn phân tranh Trong thời gian Pháp thuộc, lịch sử Việt Nam diễn ra nhiều biến động ảnh hưởng sâu sắc đến nền độc lập của dân tộc Ngày 1-10-1888, vua Đồng Khánh ký với Toàn quyền Pháp Richaud, đặt Đà Nẵng làm đất “nhượng địa” của Pháp Ngày 24-5-1889, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định thành lập thành phố Đà Nẵng, trực thuộc công sứ Quảng Nam, gồm có 5 xã: Hải Châu, Phước Ninh, Thạch Thang, Nam Dương, Nại Hiên Ngày 19-9-1905, Toàn quyền Đông Dương Paul Beau ký nghị định tách Đà Nẵng ra khỏi tỉnh Quảng Nam và đặt tên cho phần đất nhượng địa này là Tourance

Trang 40

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Đà Nẵng lại được đổi thành “Thành Thái Phiên” (tên của liệt sĩ anh hùng quê làng Nghi An – Đà Nẵng, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916); nhưng sau đó, theo “Quyết nghị của Hội đồng Chính phủ” ngày 9-10-1945, các cấp hành chính kỳ, thành phố, tỉnh, huyện trong cả nước Việt Nam giữ nguyên tên cũ để tiện việc thông tin, liên lạc nên thành phố lại trở về với tên gọi cũ Đà Nẵng Từ sau năm 1945, thành phố Đà Nẵng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân tiếp tục đấu tranh giành chính quyền cho đến khi cả nước thống nhất

Đến năm 1997, Đà Nẵng được Chính phủ cho tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam, trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương Năm 2003, Đà Nẵng được công nhận là thành phố đô thị loại I Cũng từ đây, thành phố Đà Nẵng phát triển ngày cành phồn vinh, ổn định, nhân dân an cư lạc nghiệp, vững bước đi lên xây dựng thành phố ngày càng văn minh, giàu đẹp

Nhìn ngược dòng lịch sử với những dấu tích còn để lại nơi mảnh đất và con người Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng tựa như chiếc cầu nối giữa lục địa và hải đảo, giữa Bắc và Nam, giữa văn hóa xứ Quảng và các tiểu vùng văn hóa lân cận Trên hành trình tiếp xúc, giao lưu và hội nhập với cả trong và ngoài nước, thành phố Đà Nẵng đang dần mở rộng hơn vùng không gian văn hóa vùng biển, thâu nhận và tiếp đón nhiều luồng văn hóa khác nhau; nhưng tựu trung lại, Đà Nẵng vẫn giữ nguyên cho mình những nét văn hóa vốn đã có từ xa xưa qua cách ứng xử, nếp nghĩ, thói quen sinh hoạt,…

&RQQJ˱ ͥLĈj1 ̽ng ± nhͷng m̫ng màu YăQKyD

“Một đầu óc tỉnh táo phải hiểu rằng văn hoá trước hết thuộc về nhân dân và chính nhân dân là người mang tải văn hoá Các nhà nghiên cứu văn hoá chỉ có một nhiệm vụ là vạch ra những giá trị văn hoá mà nhân dân sáng tạo và gìn giữ trong mọi khía cạnh của cuộc sống: trên chiếc áo của người đàn bà nhà quê, trong điệu quan họ, trong những món ăn dân dã ” [8, tr.9] Có thể nói, văn hóa vật chất và

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:06

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w