1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tu từ ngữ nghĩa trong thơ hàn mặc tử

78 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 875,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề mà họ khai thác thường nằm ở một số mảng nhỏ lẻ như: các cuộc tình thoảng qua trong đời Hàn Mặc Tử, tín ngưỡng tôn giáo hay là căn bệnh phong của ông…Và đa phần, các công tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi Nguyễn Thị Kim Trang, lớp 09CVH1, khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng xin cam đoan rằng:

Những nội dung nghiên cứu trong công trình này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Trọng Ngoãn, hoàn toàn chưa có ai công bố Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về những nội dung khoa học và thực tiễn trong khóa luận tốt nghiệp này

Trang 3

Người viết xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong những năm học qua Đặc biệt, chúng tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Bùi Trọng Ngoãn, người thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ người viết trong suốt thời gian thực hiện luận văn này Đồng thời, cũng xin gởi lời cảm ơn những người bạn đã luôn bên cạnh ủng hộ, giúp đỡ người viết trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 6/ 2013 Sinh viên thực hiện

NGUYỄN THỊ KIM TRANG

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục của khóa luận 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Các phương thức tu từ ngữ nghĩa 5

1.1.1 Quan niệm các phương thức tu từ ngữ nghĩa 5

1.1.2 Phân loại các phương thức tu từ ngữ nghĩa 6

1.1.3 Giá trị phong cách học của các phương thức tu từ ngữ nghĩa 13

1.2 Hàn Mặc Tử 15

1.2.1 Cuộc đời Hàn Mặc Tử 15

1.2.2 Thơ Hàn Mặc Tử 17

CHƯƠNG HAI : CÁC PHƯƠNG THỨC TU TỪ NGỮ NGHĨA TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 21

2.1 So sánh tu từ 21

2.1.1 Dạng A như B 22

2.1.2.Dạng A là B 25

2.1.3 Dạng A // B ( so sánh song hành ) 26

2.2 Ẩn dụ tu từ 26

2.2.1 Ẩn dụ chân thực 27

2.2.2 Ẩn dụ bổ sung ( Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ) 28

2.2.3 Ẩn dụ tượng trưng 31

2.2.4 Nhóm biến thể ẩn dụ 32

Trang 5

2.3 Hoán dụ tu từ 34

2.3.1 Hoán dụ cải số 35

2.3.2 Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa bộ phận với toàn thể 36

2.3.3 Hoán dụ xây dựng từ vật sở thuộc với chủ thể 36

2.3.4 Hoán dụ cải danh 37

2.3.5 Hoán dụ cải dung 38

2.3.6 Trượng trưng 38

2.4 Điệp ngữ 39

2.4.1 Điệp ngữ nối tiếp 39

2.4.2 Điệp ngữ cách quãng 40

2.5 Liệt kê 41

2.6 Ngoa dụ 43

2.7 Phản ngữ 44

CHƯƠNG BA: VAI TRÒ CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC TU TỪ NGỮ NGHĨA TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 47

3.1 Quan hệ giữa các phương thức tu từ ngữ nghĩa với nghệ thuật xây dựng hình tượng thơ 48

3.2 Các phương thức tu từ ngữ nghĩa với cách cấu tứ thi phẩm 53

3.3 Các phương thức tu từ ngữ nghĩa trong việc chuyển đổi giọng điệu thơ 58

3.4 Từ các phương thức tu từ ngữ nghĩa suy nghĩ về sự vận động trong tư duy nghệ thuật của Hàn Mặc Tử 64

KẾT LUẬN 70 THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Vào những năm 1932 – 1945, vườn hoa văn học dân tộc đón chào sự xuất hiện của một giống hoa lạ tên là Thơ Mới Thơ Mới dù được lai tạo từ nguồn gen tư tưởng phương Tây nhưng nó lại tỏ ra rất thích ứng với thổ nhưỡng, khí hậu của thơ ca dân tộc Mỗi ngày, nhờ hút những tinh hoa văn hóa nằm sâu lòng đất mẹ mà Thơ Mới đã cho ra đời những bông hoa với màu sắc và hương thơm rực rỡ Trong số các bông hoa

đơm ra từ giống cây Thơ Mới, có lẽ Hàn Mặc Tử là hoa thơ “ lạ nhất, phức tạp nhất

và bí ẩn nhất ” Mỗi khi chạm tay vào nó, người ta luôn bị dị ứng mạnh bởi phấn hoa

“ tượng trưng, siêu thực” vương vãi khắp không gian Dù đã tìm mọi cách tiếp cận nhưng nửa thế kỉ qua, Hàn Mặc Tử vẫn cứ được xem là bông hoa kì dị, thu hút được

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Hàn Mặc Tử nhưng các công trình đó chủ yếu nghiên cứu về các phương diện: cuộc đời, tín ngưỡng tôn giáo, hình thức nghệ thuật ( chủ yếu là từ vựng) mà chưa có sự nghiên cứu cặn kẽ về vấn đề đặc điểm tu từ ngữ nghĩa

Mặt khác, lâu nay, chúng ta vẫn thường nghe: “ Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên

của văn học ” ( M Gorki ) nhưng thực tế việc giải mã tác phẩm văn chương thông

qua hệ thống ngôn ngữ lại chưa được chú trọng một cách nghiêm túc và khoa học Điều này được thể hiện khá rõ qua thực tế giảng dạy môn Ngữ Văn ở các trường trung học phổ thông Lối dạy học Văn trên cơ sở quá chú trọng nội dung đã làm cho tác phẩm văn chương thiếu đi vẻ đẹp vốn có của nó Xuất phát từ niềm đam mê thật

sự với chuyên ngành ngôn ngữ cũng như là sự mến phục tài năng của Hàn Mặc Tử,

chúng tôi mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu đề tài Đặc điểm tu từ ngữ nghĩa trong thơ Hàn Mặc Tử Với đề tài này, người viết hi vọng sẽ góp một phần công sức nhỏ

bé của mình trong việc phát hiện và khẳng định tài năng của Hàn Mặc Tử trong vườn

hoa ngát hương của dân tộc Chọn ba tập thơ Gái quê , Đau thương , Thượng thanh

khí làm phạm vi nghiên cứu cho đề tài, và chọn ngôn ngữ làm “ công cụ cày xới ”

chính trong địa hạt thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi hi vọng sẽ khai phá được phần tinh chất hương hoa ẩn sâu trong tâm hồn nhà thơ

Những lí do nêu trên đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu về đề tài lí thú này

Trang 7

Đứng ở góc độ ngôn ngữ, người viết rất mong “ Đặc điểm tu từ ngữ nghĩa trong thơ Hàn Mặc Tử ” sẽ là một công trình khoa học thật sự

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hàn Mặc Tử là “ một đỉnh cao, lòa chói trong văn học của thế kỷ, thậm chí

qua các thế kỉ Cho nên cũng không mất công đâu khi vì văn Anh mà tìm hiểu thân thế, đời Anh” [ 21, tr 10] Chỉ câu nói trên của nhà thơ Chế Lan Viên cũng đủ để

chúng ta khẳng định Hàn Mặc Tử là một trong những tài năng thực sự thu hút được

sự quan tâm của giới phê bình văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX Khi nghiên

cứu đề tài “ Đặc điểm tu từ ngữ nghĩa trong thơ Hàn Mặc Tử ”, chúng tôi xin

xâu chuỗi một số bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của mình Qua quá trình tìm hiểu về Hàn Mặc Tử, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu thường tập trung vào một số khía cạnh chủ yếu như được trình bày dưới đây Trước tiên, đời tư của Hàn Mặc Tử luôn là vấn đề làm tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu Những vấn đề mà họ khai thác thường nằm ở một số mảng nhỏ lẻ như: các cuộc tình thoảng qua trong đời Hàn Mặc Tử, tín ngưỡng tôn giáo hay là căn bệnh phong của ông…Và đa phần, các công trình này được những người thân, bạn bè của Hàn Mặc Tử như Chế Lan Viên, Quách Tấn, Trần Thanh Mại, Nguyễn Bá Tín, Hoàng Điệp, Yến Lan…kể lại dưới dạng hồi kí

Một khía cạnh nữa cũng thu hút được sự quan tâm, bàn luận của các nghiên cứu, phê bình đó là vấn đề hình thức nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử Sau đây, chúng tôi sẽ liệt kê một số công trình nổi bật

Trần Thanh Mại là người có nhiều công trình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử

Để làm rõ cho vấn đề này, Trần Thanh Mại dành hẳn một số bài viết tiêu biểu như “

Âm nhạc trong thơ Hàn Mặc Tử”, “ Nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử qua các tập Gái quê , Đau thương, Xuân như ý và Thượng Thanh khí

Cũng khai thác về khía cạnh nghệ thuật như Trần Thanh Mại nhưng để làm nổi bật tài năng của Hàn Mặc Tử, Nguyễn Toàn Thắng đã đặt thi pháp nghệ thuật của Hàn Mặc Tử trong sự đối chiếu với thi pháp của những nhà thơ cùng thời Một số công trình công trình nghệ thuật nổi bật đã được nhà nghiên cứu phân tích khá cụ

thể như : “Những biểu hiện của cái Tôi trữ tình trong thơ Hàn Mặc Tử ”, Không

gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử ”, “ Giọng điệu thơ Hàn Mặc

Trang 8

Tử và điểm gặp gỡ với Bích Khê, Chế Lan Viên, Quỳnh Dao ”

Với “ Mắt thơ ”, Đỗ Lai Thúy làm một cuộc hành trình khám phá vào thế giới

nghệ thuật của phong trào Thơ Mới và đã vẽ nên chân dung Hàn Mặc Tử trong “

Một tư duy thơ độc đáo ” Trong công trình này, Đỗ Lai Thúy đã nêu ra một số đặc

trưng tư duy thơ Hàn Mặc Tử như “ tính trữ tình ”, “ tư duy tôn giáo”, “ mô hình và

sáng tạo ” và coi đó là công cụ mở đường vào thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử

Tiếp đến, trong bài viết “ Hàn Mặc Tử - Nước mắt giọng cười chen nhau ”,

Nguyễn Đăng Điệp đã có hướng đi mới khi lập ra sơ đồ tổ chức giọng điệu trong

thơ Hàn Mặc Tử Sau khi lập ra sơ đồ, nhà nghiên cứu đã đi đến nhận xét “ giọng

thơ Hàn Mặc Tử trở thành giọng đau thương, rên xiết, rạn vỡ nhất của thời đại Thơ Mới ” [ 3, tr 307]

Để giải mã cho tính chất siêu thực trong thơ Hàn Mặc Tử, trong bài viết “ Hàn

Mặc Tử, những vấn đề đang tranh luận ”, Phan Cự Đệ đã chỉ ra sự đảo lộn về mặt

ngôn ngữ, hình ảnh chính là dấu hiệu để người đọc nhận biết tính chất siêu thực trong thơ Hàn Mặc Tử Và để nói rõ thêm ý này, Nguyễn Đăng Điệp trong cuốn

sách “ Hàn Mặc Tử - Tác phẩm chọn lọc ” còn nói rõ việc sắp xếp các hình ảnh thơ chính là đặc điểm cốt yếu của chủ nghĩa siêu thực trong thơ Hàn Mặc Tử: “ Đặt

những hình ảnh xa nhau lại gần nhau để tạo nên sự “kinh ngạc” và “ bùng nổ ” là đặc điểm cốt yếu của chủ nghĩa siêu thực Nó khiến cho thế giới nghệ thật thơ không hiện lên như một mặt phẳng mà là một cấu trúc lập thể, đa tầng ” [ 4, tr 19]

Nhà phê bình Chu văn Sơn trong công trình “ Hàn Mặc Tử - chàng thi sĩ khao

khát cái tột cùng” đã chỉ rõ hành trình thơ Hàn Mặc Tử là “ hành trình đi đến đau thương ”, “ tiếng thơ Hàn Mặc Tử là tiếng thơ cất lên từ sự hủy diệt để hướng về sự sống ” [ 14, tr 218] Và để làm rõ cho khát khao tột cùng ấy của Hàn Mặc Tử, nhà

phê bình đã chỉ ra hướng đi vào thế giới thơ Hàn Mặc Tử bằng con đường phân tích

hệ thống hình tượng cái tôi và hình ảnh trăng trong thơ Hàn Mặc Tử

Nếu như ở những hình thức nghệ thuật khác, thơ Hàn Mặc Tử thu hút được nhiều người đến khai phá thì ở mảnh đất ngôn ngữ hầu như còn ít người đặt chân đến nơi đây Dừng chân ở mảnh đất này, nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hà đã dành

hẳn một bài viết “ Từ láy trong thơ Hàn Mặc Tử - Tiếng nói của sáng tạo ” để khai

thác về vấn đề từ vựng trong thơ Hàn Mặc Tử Theo nhà nghiên cứu, thơ Hàn Mặc

Trang 9

Tử dày đặc từ láy Hàng loạt những từ láy mới, từ láy ít được sử dụng, thậm chí là

những từ láy chuyển đổi vị trí đã ồ ạt xâm thực vào thơ Hàn Mặc Tử Và chính

những từ láy này đã góp một phần không nhỏ trong việc tạo ra sắc thái biểu cảm cao

trong thơ Hàn Mặc Tử

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã lần lượt đi sâu vào khai phá những vấn đề

nổi bật về con người và thơ Hàn Mặc Tử Tuy nhiên, các công trình đó phần nhiều

đào sâu vào phương diện đời tư, vào một số hình thức nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử

chứ chưa có những thống kê, phân tích, tổng hợp cụ thể nào về mặt ngôn ngữ Mà

nếu như có đề cập đến khía cạnh ngôn ngữ thì chỉ có một số ít các bài viết nhỏ lẻ về

vấn đề từ vựng chứ chưa có công trình nào công trình nào trực tiếp “ khai hoang ”

vào mảnh đất thơ ca Hàn Mặc Tử bằng các phương thức tu từ ngữ nghĩa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là các phương thức tu từ ngữ nghĩa trong thơ Hàn

Mặc Tử

- Trong khuôn khổ của một khóa luận, chúng tôi sẽ nghiên cứu về Đặc điểm

tu từ ngữ nghĩa trong Hàn Mặc Tử thông qua việc khảo sát ba tập thơ : Gái quê (

22 bài), Đau thương ( 48 bài ), Thượng thanh khí ( 12 bài) được in trong cuốn “

Hàn Mặc Tử - tác phẩm, phê bình, tưởng niệm ” do Phan Cự Đệ tuyển chọn (2002),

NXB Văn học

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu những phương pháp nghiên

cứu ngôn ngữ học Cụ thể là các phương pháp:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp thống kê – phân loại

- Phương pháp miêu tả

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận được chúng tôi

triển khai qua 3 chương:

Chương Một: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Chương Hai: Các phương thức tu từ ngữ nghĩa trong thơ Hàn Mặc Tử

Chương Ba: Vai trò của các phương thức tu từ ngữ nghĩa trong thơ Hàn Mặc Tử

Trang 10

NỘI DUNG

CHƯƠNG MỘT NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Các phương thức tu từ ngữ nghĩa

1.1.1 Quan niệm các phương thức tu từ ngữ nghĩa

Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt quan niệm

biện pháp tu từ, phép mĩ từ vốn bắt nguồn từ “ Figura” của mĩ từ pháp cổ đại Figura là những cách thức, những hình thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn trong khi trình bày” [ 19, tr 267] Và tác giả Cù Đình Tú gọi ngắn gọn

đó là cách tu từ

Khái niệm các phương thức tu từ được tác giả Nguyễn Thái Hòa phân biệt

rõ ràng thông qua sự chia tách thành các định nghĩa phương tiện tu từ và biện pháp

tu từ: “ Phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản ( ý

nghĩa sự vật – logic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung mà tu từ học gọi đó là màu sắc tu từ ” [ 6, tr 59] Đồng thời, các tác giả còn đặt định nghĩa này trong sự tương quan với định nghĩa biện pháp tu từ “ Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ (không kể trung hòa hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ ( tức tác dụng gợi hình ảnh, gợi cảm, nhấn mạnh, làm nổi bật…) do sự tác động qua lại của các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng” [ 6,

tr 61]

Thống nhất với cách chia đó, Đinh Trọng Lạc trong 99 phương tiện và biện

pháp tu từ Tiếng Việt cũng cho rằng các phương thức tu từ ngữ nghĩa bao gồm các

phương tiện tu từ ngữ nghĩa và các biện pháp tu từ ngữ nghĩa Các khái niệm này được tác giả nêu lên thông qua những định nghĩa cụ thể hơn: “ Phương tiện tu từ

ngữ nghĩa là những định danh thứ hai mang màu sắc tu từ của sự vật, hiện tượng” [

7, tr 45] Và để làm nổi rõ sự tách biệt giữa phương tiện tu từ ngữ nghĩa với biện pháp tu từ ngữ nghĩa, tác giả còn nêu thêm: “ Biện pháp tu từ ngữ nghĩa là những cách kết hợp có hiệu quả tu từ, theo trình tự tiếp nối của các đơn vị từ vựng ( kể cả các phương tiện tu từ) thuộc một cấp độ trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc

bậc cao hơn [ 7, tr 153]

Trang 11

Như vậy, qua những cách hiểu và định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy các phương thức tu từ ngữ nghĩa được xem xét ở hai góc độ Thứ nhất, các phương thức

tu từ ngữ nghĩa là những biện pháp tu từ cơ bản của đơn vị từ vựng Theo góc độ này, các phương thức tu từ ngữ nghĩa là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học Thứ hai, các phương thức tu từ ngữ nghĩa là những phương thức chuyển nghĩa lâm thời nhằm tạo nên những giá trị biểu cảm nhất định trong nhận thức của con người Ở góc độ này, các phương thức tu từ ngữ nghĩa là đối tượng của phong cách học Với

tư cách là những phương thức chuyển nghĩa, các phương thức tu từ ngữ nghĩa sẽ được chúng tôi khảo sát dưới góc độ của phong cách học, trong những ngữ cảnh cụ thể, gắn liền với văn bản Nếu tách khỏi văn bản thì giá trị ngữ nghĩa sẽ không còn tồn tại

1.1.2 Phân loại các phương thức tu từ ngữ nghĩa

Thông thường, khi nghiên cứu về các phương thức tu từ ngữ nghĩa, vấn đề đầu tiên mà các nhà nghiên cứu quan tâm đó chính là vấn đề phân loại Đối với vấn

đề này, mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra những cách phân loại khác nhau về các phương thức tu từ ngữ nghĩa, mỗi cách phân loại dựa trên một tiêu chí riêng Ở đây, chúng tôi lưu ý đến một số cách phân loại như sau:

Cù Đình Tú đã chia tách cách tu từ thành hai nhóm:

- Các biện pháp được cấu tạo chủ yếu theo quan hệ liên tưởng [ 19, tr 269]

- Các biện pháp được cấu tạo theo quan hệ tổ hợp [ 19, tr 306]

Nguyễn Thái Hòa lại chia các phương thức tu từ ngữ nghĩa thành những trường hợp sau:

- Các phương tiện tu từ ngữ nghĩa

Trang 12

- Các phương tiện tu từ ngữ nghĩa

+ Phương tiện tu từ dùng hình ảnh số lượng gồm: phóng đại, thu nhỏ, nói giảm + Phương tiện tu từ dùng hình ảnh chất lượng gồm: ẩn dụ, cải danh, nhân hóa, phúng dụ, hoán dụ, nói mỉa, cải dung, uyển ngữ, nhã ngữ [ 7, tr 45 – 83]

- Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa:

+ Biện pháp tu từ dùng hình ảnh tương đồng

+ Biện pháp tu từ dùng hình ảnh đối lập

+ Biện pháp tu từ dùng hình ảnh không ngang bằng [ 7, tr 153 – 183]

Qua những cách chia trên, chúng tôi nhận thấy cách phân loại của các nhà nghiên cứu đa phần đều hướng đến một đối tượng chung là các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ ngữ nghĩa Mặc dù thống nhất tên gọi là các phương tiện tu từ và các biện pháp tu từ nhưng cách sắp xếp, cách phân chia của từng người lại không thống nhất với nhau

Cù Đính Tú chia cách tu từ theo các mối quan hệ liên tưởng và quan hệ tổ hợp Nguyễn Thái Hòa lại căn cứ vào các phương thức biểu hiện để làm cơ sở phân chia Tác giả Đinh Trọng Lạc thì lại dựa vào tiêu chí hình ảnh được sử dụng để phân chia các phương tiện tu từ ngữ nghĩa Căn cứ vào những hình ảnh về chất, tác giả lại cho rằng dẫn ngữ, tập Kiều thuộc các phương tiện tu từ ngữ nghĩa chứ không phải là các

biện pháp tu từ ngữ nghĩa Thầy Bùi Trọng Ngoãn trong giáo trình “ Phong cách

học Tiếng Việt ” cũng phân chia các phương thức tu từ ngữ nghĩa thành các phương

tiện tu từ ngữ nghĩa và các biện pháp tu từ ngữ nghĩa Tuy nhiên, cách triển khai của thầy đối với từng phương thức có sự lí giải rạch ròi và tỉ mỉ hơn Trong quá trình

Trang 13

nghiên cứu, chúng tôi hoàn toàn đồng tình với cách chia của thầy Bùi Trọng Ngoãn tức là chúng tôi chia các phương thức tu từ ngữ nghĩa theo các phương thức biểu hiện Để rõ ràng trong cách phân loại các phương thức tu từ ngữ nghĩa, chúng tôi tạm chia như được trình bày dưới đây

Các phương tiện tu từ ngữ nghĩa

- Nhóm so sánh tu từ hay so sánh nghệ thuật là cách công khai đối chiếu

các đối tượng khác loại có cùng nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả một cách có hình ảnh và biểu cảm đặc điểm của một đối tượng

+ Kiểu A như ( tựa như, như là, tựa) B

Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

( Ca dao ) + Kiểu B bao nhiêu A bấy nhiêu

Qua cầu ngả nón trông cầu Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu

( Ca dao ) + Kiểu A là B

Nhân dân là bể Văn nghệ là thuyền Thuyền xô sóng dậy Sóng đẩy thuyền lên

( Tố Hữu ) + A song hành B

Hồn tôi giếng nước ngọt ngào Trăng thu trong vắt biển chiều trong xanh

Trang 14

( Ca dao ) + Ẩn dụ bổ sung: là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác khi nhận thức và diễn đạt bằng ngôn ngũ

Mà bên nước tôi thì đang bừng lên cái nắng bốn giờ chiều, cái nắng đậm đà của mùa thu biên giới, cái thứ nắng hanh đang sấy khô gói Tây Trang và đang mài sắc thêm tiếng động của hoa lau phất phơ trong bóng núi

+ Ẩn dụ tượng trưng: là những ẩn dụ có tính chất tượng trưng mang ý nghĩa biểu tượng

Đất nước Việt Nam chìm trong bóng đêm kéo dài hàng thế kỉ bỗng dưng bùng

lên buổi bình minh của thời đại

+ Nhân hóa, vật hóa

Nhân hóa: là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người

để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải là con người khiến cho đối tượng đó trở nên sinh động hơn, gần gũi hơn

Vì sương nên núi bạc đầu Biển lay bởi gió hoa sầu vì mưa

( Ca dao )

Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi Hoa lá ngây tình không muốn động…

( Hàn Mặc Tử ) Vật hóa: là cách sử dụng những từ ngữ vốn biểu thị về sự vật, thực vật, động vật

để biểu thị về con người

Gái chính chuyên lấy được chín chồng

Trang 15

Cò con mở sách xem ngày làm ma

Cà cuống uống rượu la đà Chim ri ríu rít bò ra lấy phần

( Ca dao )

- Nhóm hoán dụ tu từ

+ Hoán dụ cải số: là hoán dụ theo quana hệ giữa số lượng với số lượng

Cầu này cầu ái cầu ân Một trăm con gái rửa chân cầu này

( Ca dao )

+ Hoán dụ cải danh: tức là hoán dụ theo quan hệ giữa danh từ riêng và danh từ

chung

Thời đại ta có rất nhiều Võ Thị Sáu

Võ Thị Sáu: người phụ nữ anh hùng

+ Hoán dụ cải dung: tức là hoán dụ theo quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

+ Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa bộ phận với toàn thể

Đầu xanh có tội tình gì

Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi

+ Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa vật sở thuộc và chủ thể

Tôi được sống những ngày nhân hậu nhất Mỗi mai hồng áo trắng đến thăm tôi

( Chế Lan Viên ) ( áo trắng: nhân viên y tế, thầy thuốc ) + Hoán dụ xây dựng giữa nguyên nhân và kết quả

Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm

( Hoàng Trung Thông ) ( Bàn tay: khả năng lao động của con người; sỏi đá cũng thành cơm: thành quả lao động của con người)

+ Tượng trưng: là những ẩn dụ, những hoán dụ có tính chất ước lệ, xã hội, ý nghĩa của nó phần nào đã được cố định hóa

Con cò lặn lội bờ sông

Trang 16

Gánh gạo nôi chồng tiếng khóc nỉ non

( Ca dao ) ( Con cò: tượng trưng cho hình ảnh người nông dân lam lũ bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để kiếm ăn )

Áo nâu liền với áo xanh Nông thôn cùng với thị thành đứng lên

( Tố Hữu ) ( Áo nâu: nông dân; áo xanh: công nhân )

Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa

- Điệp ngữ: là biện pháp tu từ lặp lại một cách có nghệ thuật một từ, một ngữ

hay một kiểu cấu trúc cú pháp trong nhiều câu liên tiếp nhằm nhấn mạnh một nội

dung tăng cường nhạc tính và sức biểu cảm

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công

( Hồ Chủ Tịch )

- Đồng nghĩa kép: là phương thức lặp lại từ ngữ đồng nghĩa hay gần nghĩa

để nhấn mạnh, xoáy sâu vào một nội dung nhất định

Tôi cảm nhận được nỗi lưu luyến của bà tôi và cùng với cảm giác đó tôi nhận ra vẻ hài lòng, mãn nguyện ở ánh mắt bà

( Ma Văn Kháng )

- Liệt kê và tăng cấp

Liệt kê: là phương thức sắp xếp một loạt các hình ảnh, các khái niệm…liền nhau theo một cách thức nào đó để tăng cường hiệu quả biểu đạt

Cảnh nhà tù Sơn La dưới thời Pháp thuộc: Bảy trăm nhà pha Bốn trăm khố xanh Hai trăm khố đỏ! Ố là la!

( Nguyễn Tuân ) Tăng cấp: Hình thức tăng cấp thực chất cũng là sự liệt kê nhưng có định hướng hoặc tăng dần ( tiệm tiến ) hoặc giảm dần ( tiệm thoái )

Lần này thì mửa được Trời ơi! Mửa, mửa tháo, mửa ồng ộc, mửa đến cả ruột

Trang 17

Bắt chước ai ta chúc mấy lời Chúc cho khắp hết cả trên đời Vua quan sĩ tử người muôn nước Sao được cho ra cái giống người

- Ngoa dụ: là cách cường điệu các đặc trưng của sự vật, hiện tượng nhằm mục đích nhấn mạnh, làm nổi rõ bản chất của sự vật, hiện tượng

Người sao một hẹn thì nên Người sao chín hẹn thì quên cả mười

( Ca dao )

- Nói giảm : hay còn gọi là khinh từ ( nói nhẹ ), uyển ngữ ( nói vòng ), nhã

ngữ ( nói thanh nhã ) là cách nói tránh, không gọi tên đối tượng bằng những cách nói thông thường mà lựa chọn những hình thức tế nhị hơn, mềm mại hơn

Bác Dương thôi đã thôi rồi

( Nguyễn du )

- Phản ngữ

Gặp em anh nắm cổ tay Khi xưa em trắng sao rày em đen

- Nói lái : là cách nói hoán đổi vị trí phụ âm đầu, phần vần, thanh điệu của

các âm tiết liền nhau để tạo nên những từ ngữ khác dưới dạng tiềm năng Khi người

nghe, người đọc nhận ra tiểm năng này là khi cách chơi chữ đạt được hiệu quả

Con cá đối nằm trên cối đá, con mèo cái nằm trên mái kèo Trách cha mẹ em nghèo, anh nỡ phụ duyên em

- Tập Kiều: dùng một phần câu hay cả câu trong truyện Kiều để diễn đạt ý tưởng của mình

Truyện Kiều có câu sau:

Trang 18

Những là rày ước mai ao Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình

Sau này, khi về thăm quê, Bác Hồ đã tập Kiều như sau:

Quê hương nghĩa nặng tình cao

1.1.3 Giá trị phong cách học của các phương thức tu từ ngữ nghĩa

Tiếng Việt của chúng ta có rất nhiều phương thức tu từ ngữ nghĩa khác nhau Sử dụng linh hoạt mỗi phương thức tu từ đó chính là thước đo để minh chứng cho bản lĩnh và sự sáng tạo vô cùng của người Việt Mỗi phương thức tu từ ngữ nghĩa là một gam màu sắc riêng biệt nhưng nếu người sử dụng biết kết hợp những gam màu ấy theo một mục đích nhất định sẽ tạo nên hiệu quả bất ngờ cho bức tranh văn học Việt Nam Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của phong cách học, các phương thức tu từ ngữ nghĩa mang những giá trị biểu cảm nhất định

Giá trị đầu tiên mà các phương thức tu từ ngữ nghĩa mang lại cho tiếng Việt

đó chính là khả năng diễn đạt phong phú cả về số lượng lẫn chất lượng Các đơn vị

từ vựng - ngữ pháp của chúng ta mặc dù phong phú nhưng vẫn có giới hạn Xã hội của chúng ta ngày càng phát triển thì nhu cầu bộc lộ tình cảm theo đó càng ngày càng tăng Chính nhu cầu ấy đòi hỏi các phương thức tu từ ngữ nghĩa phải “ cựa quậy ”, phải “ quẫy đạp ” không ngừng để cho ra đời những giá trị biểu đạt cùng nghĩa phong phú Sự phong phú ở đây không chỉ biểu thị về mặt số lượng mà còn biểu thị cả về mặt chất lượng Chẳng hạn chúng ta có thể đếm được những đơn vị từ ngữ biểu thị nỗi nhớ ở trong từ điển tiếng Việt bởi chúng là có hạn Nhưng dựa vào cấu tạo của các phương thức tu từ tiếng Việt, chúng ta có thể tạo ra nhiều cách nói với nhiều sắc thái tinh tế khác nhau để biểu thị về nội dung này Ca dao của ta khi thì dùng so sánh để diễn tả nét động trong nỗi nhớ:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi dống rơm

Có khi ca dao dùng lối nhân hóa dưới hình thức gọi nhện sao tha thiết:

Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ Buồn trông con nhện chăng tơ

Trang 19

Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai

Cũng có khi ca dao bộc lộ nỗi nhớ qua một giấc mơ trào lộng:

Người tình ta để trên cơi Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ Đêm qua ba bốn lần mơ Chiêm bao thì thấy dậy sờ thì không

Rõ ràng, qua những ví dụ trên chúng ta có thể nhận thấy các phương thức tu từ ngữ nghĩa làm cho tiếng Việt của chúng ta trở nên đa dạng, tinh tế, bóng bẩy, tế nhị

Và chính vì lẽ đó mà các phương thức tu từ ngữ nghĩa trở thành công cụ tư duy độc đáo cho mọi suy nghĩ của con người

Tiếp theo, nhờ có các phương thức tu từ ngữ nghĩa mà các tác phẩm văn học trở nên sinh động, linh hoạt, và đặc biệt là giàu tính biểu cảm Để chinh phục và làm lay động trái tim người đọc thì những tác phẩm văn học, đặc biệt là tác phẩm thơ phải có yếu tố tình cảm Yếu tố này chỉ được phát huy hết mức khi có sự hỗ trợ đắc

lực của các phương thức tu từ ngữ nghĩa Chẳng hạn nhan đề bài thơ “ Tiếng hát

con tàu ” của Chế Lan Viên là hình ảnh ẩn dụ về những giai điệu thiết tha của khát

vọng ra đi để được hòa mình vào đất nước nhân dân:

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Quá trình sử dụng cũng như là quá trình tiếp nhận các phương thức tu từ ngữ nghĩa luôn là một quá trình suy nghĩ đi sâu vào những đặc điểm nào đó của đối tượng được miêu tả Đó là quá trình mà con người luôn bày tỏ tình cảm Và nhờ có các phương thức tu từ ngữ nghĩa mà những vỉa tầng cảm xúc trong tâm hồn con người mới dần được lộ diện

Giá trị thứ ba, các phương thức tu từ ngữ nghĩa là công cụ hữu ích để chúng ta xác định dấu ấn phong cách của mỗi người nghệ sĩ Bởi như chúng ta đã biết, những quy tắc để tạo nên cách tu từ là chung cho toàn xã hội nhưng vận dụng chúng đến mức độ nào là tùy thuộc vào tài năng riêng của mỗi người Rất nhiều nhà nghệ sĩ đã

để lại dấu ấn riêng của mình trong cách sử dụng các phương thức tu từ ngữ nghĩa

Trang 20

Chẳng hạn có nhà nghiên cứu không ngần ngại khẳng định những trang viết của Nguyễn Tuân có đầy đủ mọi ví dụ minh họa cho những biện pháp tu từ tiếng Việt

Ví dụ trong câu: “ Sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc,

chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” dấu hiệu tu từ xuất hiện 10 lần với 4

phương thức so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ Có lẽ vì thế mà lâu nay, Nguyễn Tuân vẫn được nổi tiếng là người nghệ sĩ có phong cách tài hoa, uyên bác

Chúng ta đánh giá cao giá trị của các phương thức tu từ ngữ nghĩa tiếng Việt nhưng không phải lúc nào có các phương thức tu từ ngữ nghĩa là tác phẩm văn chương trở thành hay, thành đẹp Công cụ biểu đạt tốt hay không là nhờ sự cày xới trí tuệ của mỗi người nghệ sĩ Có công cụ tốt cộng với tư duy lao động sáng tạo sẽ tạo nên hiệu quả biểu đạt tốt, ngược lại có công cụ tốt mà không biết phát huy tác dụng thì năng suất biểu đạt sẽ thấp

1.2 Hàn Mặc Tử

1.2.1 Cuộc đời Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử là “ ngôi sao chổi kì lạ ” trên bầu trời văn học lãng mạn Việt Nam Cuộc đời của nhà thơ tài hoa bạc mệnh này luôn là “ thỏi nam châm thần kì ” thu hút biết bao sự tò mò của những người yêu mến thơ Hàn Mặc Tử Tìm hiểu về cuộc đời của thi sĩ là quá trình đi tìm và khôi phục những kí ức quý giá về người nghệ sĩ tài hoa một thời

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí Ông sinh ngày 22 tháng 9 tại làng

Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình và lớn lên ở Quy Nhơn, Bình Định trong một gia đình theo đạo Công giáo Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa Ông cố

là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên Huế đổi thành họ Nguyễn mẫu tánh và lập nghiệp tại làng Thanh Tân, quận Phong Điền, cách Huế chừng 30 cây số Ông Nguyễn Văn Toản, thân sinh Hàn Mặc Tử là con trưởng nam của cụ Phạm Bồi Ông Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy ( con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức) sinh hạ được tám người con Hàn Mặc Tử là một trong những đứa con mang vóc người ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giáo du bạn bè trong lĩnh vực văn thơ Do thân sinh làm thông ngôn, ký lục thường di chuyển nhiều nơi,

Trang 21

nhiều nhiệm sở nên Tử theo thân sinh đi nhiều nơi và theo học ở các trường như Sa

Kỳ, Qui Nhơn, Pellerin Huế

Đến năm 1926, thân sinh Hàn Mặc Tử bị bệnh nằm nhà thương Huế và mất, thọ 45 tuổi Cha mất, Tử theo mẹ vào Qui Nhơn Mẹ của Hàn Mặc Tử là một bậc từ mẫu đã hi sinh tận tụy cho đàn con, nhất là Tử Có thể nói, Tử đã chịu ảnh hưởng của bà rất nhiều, nhất là về mặt tính tình Mẹ của Tử mất năm 1951 tại Gò Bồi, thọ

Tử được bắt đầu sau khi thân sinh Tử qua đời và cũng nhờ người anh ruột dìu dắt

mà Tử vững bước trình diện làng thơ Khi đến trình diện làng thơ, Hàn Mặc Tử lần lượt lấy các bút danh là Phong Trần, Lệ Thanh, Hàn Mặc Tử Tử nổi danh rất nhanh với bút hiệu Phong Trần vào những năm 1930 – 1931 qua lời giới thiệu của Phan Sào Nam tiên sinh ( tức Phan Bội Châu ) Có thể nói sự gặp gỡ của Tử với Phan Bội Châu đã tạo nên một sự ảnh hướng khá lớn của thi sĩ này Trong một lần đến thăm Phan Bội Châu, Tử đã bị bọn Pháp theo dõi Vì nghi Tử có liên hệ mật thiết với Phan Bội Châu nên thực dân Pháp đã cắt học bổng du học Pháp của Tử Hàn Mặc

Tử quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp năm 21 tuổi Đến Sài Gòn, Tử phụ trách

trang thơ cho tờ báo Công luận Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và

hay gửi lên báo Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và Tử quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm Một tình yêu lãng mạn, nên thơ đã nảy nở giữa hai người

Theo lời gia đình Hàn Mặc Tử thì vào năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông Tuy nhiên, Tử lại không quan tâm vì cho rằng

nó là một chứng phong ngứa không đáng kể Cho đến năm 1936, khi Hàn Mặc Tử

xuất bản được tập Gái quê, rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần hai, được Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời

Hàn Mặc Tử làm chủ bút thì Tử mới nghĩ đến bệnh tật của mình Trong suy nghĩ của Tử, đây chỉ là một bệnh thuộc loại phong ngứa gì đó chứ không phải là một

Trang 22

bệnh nan y Năm 1938 – 1939 Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội Ngày 20 – 9 – 1940, Tử một mình lên xe y tế vào Quy Hòa Nhưng không đầy hai tháng sau khi vào Quy Hòa thì Tử tạ thế trưa ngày 11 – 11 – 1940 Lúc mất, Hàn Mặc Tử chỉ có một người bạn là Nguyễn Văn Xê ở bên giường bệnh Gia đình ở xa, bạn bè ở xa Người ta chôn Tử tại nghĩa địa nhà thương Quy Hòa

Cuộc đời đối xử quá bất công đối với người thi sĩ tài hoa này Tử ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, biết bao hi vọng, biết bao mơ ước mà Hàn Mặc Tử dành cho nghệ thuật vẫn còn bỏ ngỏ phía trước… Một nấm mồ bằng đất, một cây thánh giá bằng

gỗ tạp đơn sơ, tĩnh lặng ấy đã tiễn đưa người thi sĩ của chúng ta “ sống mãi với

trăng sao gấm vóc, trong nắng thơm, trong tiếng nhạc thần bay ”

1.2.2 Thơ Hàn Mặc Tử

Ngay từ khi mới “ chập chững ” vào làng thơ, ngòi bút của Tử tỏ ra khá nhạy

bén đối với nghề Năm 1931, Hàn Mặc Tử đã có bài đăng trên báo Thực nghiệp dân

báo, họa thơ của Phan Bội Châu với bút danh Phong Trần Những bài thơ họa này

được Phan Bội Châu đánh giá rất cao Từ đấy, hồn thơ của Tử ngày càng tuôn dào dạt hơn, cây bút càng ngày càng sung mãn hơn Hàn Mặc Tử đã cho ra đời rất nhiều tác phẩm đặc sắc

“ Lệ Thanh thi tập ” là tập thơ phần lớn viết theo thể Đường luật Ngay từ

những ngày đầu mới sáng tác, thơ Hàn Mặc Tử mang hơi thở của lời thơ già dặn, sầu não, khiến ai cũng nghĩ đó là thơ của một bậc lão nho Do có sự ràng buộc của luật thơ nên chưa bộc lộ được trọn vẹn nguồn thơ lạ lùng của Hàn Mặc Tử Tuy vậy, đây là tập thơ khẳng định ngọn bút thơ tài hoa của ông Trong tập thơ này, người đọc thật sự rung động và sững sờ trước hình ảnh thơ như vọt trào ra bất ngờ

từ hồn thơ ông

Non sông bốn mặt ngủ mơ màng

Đặc biệt trong tập thơ này còn có những bài thơ bộc lộ tình yêu nước thiết

tha của nhà thơ như những bài: “ Đêm khuya tự tình với sông Hương ”, “ Chùa

Trang 23

hoang ”, “ Gái ở chùa ”

“ Gái quê ” là tập thơ ra đời năm 1936 Đây là một tập thơ có nguồn thơ bình

dị, tình thơ trong trẻo, hồn thơ mơ màng của nhà thơ Tập thơ này được xem như một mối tình đầu thanh sạch nhưng nồng nàn, trong sáng nhưng có phần lơi lả, đầy hình ảnh khêu gợi Đó là cảm xúc tươi mới mà thiết tha về ánh sáng trăng thề quê hương:

Trước sân anh thơ thẩn

“ Đau thương ” gồm ba tập:

“ Hương thơm ”: Đến với tập thơ này, nhập hồn vào nó, ta như lạc bước vào thế giới thơ đầy ánh trăng, ánh nắng Trăng nhuộm một màu say ngây ngất cùng Đà

Lạt sương mờ, trăng tình yêu thẹn thò thơm như tình ái của ni cô Trong phần thơ

này, tình yêu và người yêu không rõ nét, tất cả như tan ra thành hương khói

“ Mật đắng ” như đưa người đọc bước vào một không gian mờ nhòe nhưng có

lúc sáng lóa cả mắt Đấy là một nguồn sáng lạ tỏa ra từ một linh hồn vô cùng khổ não, cảm xúc hoi hóp như một thứ tình duyên vừa chết yểu Trong phần thơ, hồn thơ Hàn Mặc Tử đau thương mãnh liệt, có thể kể đến một số bài thơ tiêu biểu như “

Hãy nhập hồn em ”, “ Sầu vạn cổ ” “ Đôi ta ”

“ Máu cuồng và hồn điên ”: Là tập thơ quy tụ không gian toàn trăng – một ánh trăng gắt gao và ghê tởm: Trăng ghen, giận hờn, cay nghiệt, trơ tráo, náo nức dục

tình

“ Xuân như ý ”: Tập thơ kết tinh hồn, máu và chất tài hoa nghệ sĩ độc đáo của

Hàn Mặc Tử Cảm xúc thơ bay vào cõi thượng thanh khí Thơ như chảy ra từ nguồn Đạo dào dạt thánh khí Và từ đó thơ cất tiếng ca ngợi Ngôi Hai, Nữ Vương xưa, Minh Thánh chúa,…Giọng thơ là một phúc âm trữ tình bộc lộ niềm yêu cái đẹp vĩnh hằng của hồn thơ Hàn Mặc Tử

“ Thượng thanh khí ”: Tập thơ tráng một màu sắc huyền bí nhưng không huyền

bí của cõi thiêng mà huyền nhiệm của cõi tình mê man

Trang 24

“ Cẩm châu duyên ”: Hồn thơ không còn đuối mộng trong cõi thơ mà lạc vào

thế giới đồng bóng

“ Duyên kì ngộ ” và “ Quần tiên hội ” ( Kịch thơ ): Một giấc mơ tình ái ngắn

ngủi nhưng xinh tươi trong một khung cảnh tuyệt diệu

“ Chơi giữa mùa trăng ” ( Thơ văn xuôi ): trong thơ dù chỉ là những lời mộng,

lời mơ hồn nhiên của nhân vật trữ tình tâm tình cùng chị Lễ nhưng lại chứa đựng hồn cốt lãng mạn của thơ Hàn và cũng thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật của Hàn Mặc Tử

Trong toàn bộ sáng tác thơ ca của Hàn Mặc Tử, ba tập thơ “ Gái quê ”, “ Đau

thương ”, “ Thượng thanh khí ” được xem là ba tập thơ tiêu biểu đánh dấu ba chặng

đường khác nhau trong con người Hàn Mặc Tử Mỗi thời điểm một tập thơ ra đời đều gắn liền với những thời khắc biến chuyển tâm lí mạnh mẽ trong tâm hồn của chàng thi sĩ tài hoa bạc mệnh này

Trước hết, tập thơ “ Gái quê ” xuất bản năm 1936 là quyển đầu tiên đánh dấu một quan niệm thơ của Hàn Mặc Tử Sự rung cảm ở “ Gái quê ” là một thứ

rung cảm dịu dàng, chất phác của một tâm hồn chưa muốn thoát khỏi lũy tre xanh

và còn ẩn mình trong hình ảnh của một cô gái quê hiền lành “ Gái quê ” ấp ủ một

thứ tình kín đáo của người con trai mới lớn lên, đương còn ngượng ngùng về niềm

ân ái, ôm một thứ tình trong sạch, thiêng liêng và ngây dại Bao nhiêu hình ảnh

trong “ Gái quê ” đều là những hình ảnh mơ mộng, êm ái như những sợi tơ trời bay

lưởng vưởng giữa đồng không bát ngát và người con trai trong tập thơ làm những

cử chỉ tưởng tượng nhiều hơn thiết thực, những cử chỉ thật tình chưa từng làm và chưa bao giờ làm

Qua năm bệnh hoạn đầu, vào cuối năm 1937, Hàn Mặc Tử gom góp xong tập

thơ đầu tiên làm trên gường bệnh, theo một thể tài mới mà chàng gọi là “ Thơ điên

” Tập thơ, nhan đề “ Đau thương ” là tập thơ thi sĩ để tặng nó cho mẹ chàng, người

mẹ đã từng khóc không biết bao nhiêu giọt nước mắt trước những khổ đau của con

“ Đau thương ” gồm tất cả 50 bài thơ vừa dài vừa ngắn, hai phần ba tập nói đến

trăng, hơn một nửa phần ba kia nói về hồn Đau thương có một nửa phần thứ ba nữa, phần không chịu nói ảnh hưởng của bệnh ( trăng, chiêm bao và hồn), tức là phần thơ tự nhiên làm khi thi nhân tỉnh táo, mạch máu luôn chảy êm ả, dịu dàng

Trang 25

Luận đề thi sĩ lựa lúc này rất giản dị Lời thơ dùng rất khỏe khoắn, đơn sơ Âm nhạc reo lên một cách nhẹ nhàng, uyển chuyển như một bản nhạc kéo dài mãi không

ngừng Những bài thơ nhỏ như “ Đà lạt trăng mờ”, “ Huyền ảo”, “ Mùa xuân

chín”, “ Đây thôn Vĩ Dạ”, Siêu thoát” là những bài thơ tiêu biểu cho thiên tài của

Hàn Mặc Tử

Qua một năm điên cuồng, trong thời kì ấy, mạch thơ của Hàn Mặc Tử luôn luôn được khơi động, nghệ thuật của thi sĩ đã tiến lên nhiều Hồn thơ của thi sĩ ngày càng xa cõi thế gian và mọi thứ tình tứ của người thường như một làn trầm hương bốc tỏa lên cao, cao mãi, khí thơ của thi sĩ cũng vượt ra ngoài cả bầu không khí trần gian mà dâng lên tận những tầng khinh khí thiên không, những vùng trời cao khiết đến không hề nhuốm lấy một hạt bụi nhỏ, thanh tịnh Đây là tính chất cốt yếu của

tập thơ “ Thượng thanh khí ”, họp thành tập vào đầu năm 1940 “ Thượng thanh khí

” được làm bằng một lối thơ bí hiểm, khó mà suy nghiệm cho ra nghĩa

Có thể nói, mỗi một tập thơ ra đời đã đánh dấu những mốc tâm lí rất riêng biệt trong con người Hàn Mặc Tử Thơ Hàn Mặc Tử là một bản hòa phối những thanh

âm trầm và bổng Thưở ban đầu mới yêu, thơ Tử nồng nàn, say đắm Khi tình yêu

đó bị ngăn trở bởi những nhát cắt của thực tại thì tiếng thơ trở nên quằn quại, rên xiết; cuối cùng, khi tình yêu đó vượt ngưỡng của niềm đau thì lời thơ trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng đến kì lạ Phải tự mình đi đến tận cùng của nỗi đau, của sự tuyệt vọng thì Hàn Mặc Tử mới bật ra một giọng thơ đau thương, rên xiết bậc nhất của thời đại Thơ Mới như vậy

Trang 26

CHƯƠNG HAI CÁC PHƯƠNG THỨC TU TỪ NGỮ NGHĨA TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

2.1 So sánh tu từ

Như Mai - a cốp - xki đã từng nói so sánh là hình thức cao nhất để tạo ra hình

ảnh, so sánh tu từ không chỉ có tác dụng tạo ra hình ảnh mà còn là công cụ hữu hiệu nhất để xác định năng lực tư duy độc đáo của mỗi nhà thơ Khảo sát ba tập thơ “

Gái quê ”, “ Đau thương ”, “ Thượng thanh khí ”, chúng tôi nhận thấy trong thơ

Hàn Mặc Tử, so sánh nghệ thuật được thi sĩ sử dụng với tần số tương đối cao Điều này được chứng minh qua bảng thống kê dưới đây:

Đau thương ”, “ Thượng thanh khí ”

13,6 % 47,9 % 16,6 %

Tổng hợp 28/82 bài 78,1 %

Nhận xét:

Có thể thấy rằng, so sánh tu từ được Hàn Mặc Tử sử dụng với tần số tương

đối cao trong các tập thơ, đặc biệt là tập “ Đau thương ” với tỉ lệ 47,9% Tiếp đó là tập “ Thượng thanh khí ” với tỉ lệ 16,6% và cuối cùng là tập “ Gái quê ” chiếm tỉ lệ

40,2 % 2,4 %

Trang 27

A // B

B bao nhiêu A bấy nhiêu

2/ 82 bài 0/ 82 bài

2,4 %

00

Tổng hợp 37/82 bài 45 %

Nhận xét: Trong bốn dạng tu từ mà chúng tôi giới thiệu ở chương Một, Hàn

Mặc Tử thường hay sử dụng dạng A như B nhất với 33 lượt dùng, chiếm 40, 2%, tiếp đó là dạng A // B và dạng A là B với 2 lượt dùng, chiếm 2,4% Dạng A như B được Tử sử dụng nhiều nhất chứng tỏ tư duy thơ của thi sĩ luôn có sự đối chiếu Dạng A là B được tác giải sử dụng ít hơn chứng tỏ đôi lúc tư duy thơ của Tử cũng thiên về tính khẳng định Dạng A // B được tác giả sử dụng với tần số ít hơn Điều này cho thấy trong tư duy thơ hàn Mặc Tử đôi lúc có nhiều nét biến hóa, nổi loạn Hàn Mặc Tử hoàn toàn không sử dụng dạng B bao nhiêu A bấy nhiêu trong cả ba tập thơ

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các dạng so sánh trong thơ Hàn Mặc Tử được sử dụng với tần số khá chênh lệch Nhìn đại thể, dạng A như B được sử dụng với tần số áp đảo nhất, tiếp đó là các dạng A // B và A là B Vì dạng so sánh A như

B chiếm tỉ lệ lớn trong các sáng tác của Hàn Mặc Tử nên chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu dạng so sánh này

2.1.1 Dạng A như B

Đây là kiểu cấu trúc không còn xa lạ bởi nó xuất hiện khá phổ biến trong ca

dao và thơ ca truyền thống: “ Thân em như hạt mưa sa ” Chính nhờ hiệu quả thẩm

mĩ của biện pháp tu từ này mà ca dao, dân ca có một sức hấp dẫn riêng Bao nhiêu tình cảm ý vị đã được gửi gắm qua biện pháp tu từ này Trong thơ hiện đại, so sánh

tu từ lại được vận dụng với những sắc diện mới Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhà thơ Hàn Mặc Tử rất “ ưu ái ” khi sử dụng dạng so sánh A như B ( chiếm tỉ lệ

40,2 %) Từ đó, chúng tôi rút được đặc điểm của dạng A như B qua ba tập thơ “ Gái

quê”, “ Đau thương”, “ Thượng thanh khí ”

Các kiểu dạng A như B biến hóa đa dạng nhưng vẫn trên cái gốc truyền thống Hàn Mặc Tử sử dụng dạng so sánh A như B khá nhiều, đặc biệt là trong tập thơ “

Đau thương” Thơ tự do cộng hưởng với men say cảm xúc của cá nhân thi sĩ rất

thích hợp cho Hàn Mặc Tử phát triển dạng so sánh này Sự tưởng tượng của Hàn

Trang 28

Mặc Tử rất phong phú làm cho hình ảnh so sánh có nhiều tầng bậc sáng tạo hơn Trong ba tập thơ, Hàn Mặc Tử đã sử dụng dạng linh hoạt dạng cấu trúc so sánh A như B

+ Dạng A như B

Lòng ta dạt dào như làn sóng

Tay ngoắt đám mây dừng lại ngay Mây vốn hơi sương mà đọng lại Mau, bay vào cuống họng ta đây

Ôi phép lạ, ôi nhiệm màu

Vườn tiên sáng láng như lòng người thương

( Chơi trên trăng ) [ 2, tr 276]

Từ ấy anh ra đi

Em gầy hơn vóc liễu

Em buồn như đám mây

Những đêm vầng trăng thiếu

hoặc A

Như B

Tôi ước ao là tôi ước ao

Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao

Như bông trăng nở, - bông trăng nở

Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào

( Ước ao ) [ 2, tr 279]

Thầy Bùi Trọng Ngoãn cho rằng hình thức đầy đủ của phép so sánh tu từ

gồm có 4 yếu tố sau: cái được so sánh, cơ sở so sánh, từ so sánh, cái dùng để so

sánh Nhưng điều khiến chúng tôi lưu tâm khi nghiên cứu cấu trúc so sánh A như B

được sử dụng trong ba tập thơ của Hàn Mặc Tử là cơ sở so sánh rất ít xuất hiện

Chúng tôi sẽ thử phân tích cấu trúc đầy đủ của dạng so sánh A như B qua 4

ví dụ đã cho

Trang 29

Cái được so sánh Cơ sở so sánh Từ so sánh Cái dùng để

hơn như

làn sóng ( Vd 1) lòng người thương (Vd 2 )

bông trăng nở (Vd3)

vóc liễu ( VD 4 ) đám mây (Vd 4)

Qua việc phân tích cấu trúc so sánh đầy đủ dạng A như B, chúng tôi nhận thấy khi đưa ra cấu trúc so sánh, nhà thơ Hàn Mặc Tử thường hay “ giấu đi ”cơ sở

so sánh Rồi sau đó, những ý thơ sau sẽ làm nhiệm vụ luận giải đem đến cho người

đọc những bất ngờ thú vị Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao/ Như bông trăng nở, -

bông trăng nở/ Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào

Ngoài ra, trong thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi còn nhận thấy có một cấu trúc nữa là

A

…như B1

… như B2

Thơ em cũng giống lòng em vậy

Nghĩa là thơm tho như ánh trăng Mềm mại như lời tơ liễu rủ

Âm thầm trong áng gió băn khoăn

( Lưu luyến ) [ 2, tr 255]

Qua ví dụ trên, chúng ta có thể thấy rằng từ cái được so sánh, tác giả đã nhân ra nhiều cái dùng để so sánh nhằm thể hiện một biên độ cảm xúc rộng mang tính chất lan tỏa Mặc khác, chúng ta còn nhận thấy “ từ ngữ biểu đạt quan hệ so

sánh ” ( chữ dùng của thầy Bùi Trọng Ngoãn ) trong thơ Hàn Mặc Tử rất đa dạng: như, hơn, cũng giống

Trăng dầu sáng còn thua đôi mắt ngọc

Trời tuy xa lòng thiếu nữ xa hơn

Ái ân là hơi thở của van lơn

Trang 30

Và thú thiệt cũng chưa thích bằng khóc

( Dấu tích ) [ 2, tr 265]

Việc sử dụng nhiều vế so sánh, và nhiều từ ngữ biểu đạt quan hệ so sánh đã tạo

ra hiệu ứng tăng cấp cho sắc thái tu từ, và cũng chính là điểm nhấn mạnh về trạng thái cảm xúc trong tâm hồn của thi nhân

Từ những khảo sát trên có thể nhận định rằng Hàn Mặc Tử đã khá “ thiên vị ”

khi sử dụng dạng so sánh A như B trong các tập thơ của mình Điểm đặc biệt là từ

cấu trúc truyền thống, Hàn Mặc Tử đã biến hóa đa dạng và phong phú, khiến cấu trúc này có xu hướng mở rộng chiều kích, đánh thức cảm xúc thẩm mĩ mới trong lòng người đọc

2.1.2.Dạng A là B

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy dạng so sánh A là B được sử dụng trong ba tập thơ với tần số khá thấp 2,4% Có thể kể đến một số dạng thức trong ba tập thơ như sau:

+ Dạng truyền thống A là B

Lòng ta là một bài thơ mãnh liệt

Văng tung lên thế giới mông lung Nức lời ca réo bao niềm bi thiết Làm buồn lây lây đến cõi vô cùng

(Say máu ngà ) [ 2, tr 285]

Nếu dạng A như B mang tính chất giả định thì dạng A là B mang tính chất khẳng định nhiều hơn Và nhờ cách thức này, cường độ cảm xúc trong lòng thi nhân được bộc lộ sâu sắc hơn, mãnh liệt hơn

+ Một biến thể nữa xuất hiện trong các tập thơ là sự ngắt dòng giữa hai vế:A

Mây vẽ hằng hà sa số lệ

Là nguồn ly biệt giữa cô đơn

Sao không tô điểm nên sương khói Trong cõi lòng tôi buổi chập chờn

( Cuối thu ) [ 2, tr 259]

So với kiểu so sánh A như B, kiểu A là B mang tính chất khẳng định mạnh

mẽ hơn Dạng này giống như một công cụ kiểm định độ tê dại trong cảm xúc của thi

Trang 31

nhân Khi nỗi đau về tinh thần quá lớn, Hàn Mặc Tử mặc sức bộc lộ suy nghĩ thật, cảm xúc thật của lòng mình Và dạng so sánh A là B chính là công cụ đo đắc lực để kiểm chứng nồng độ cảm xúc đó

2.1.3 Dạng A // B ( so sánh song hành )

Kiểu so sánh A như B còn được gọi là so sánh song hành So với hai kiểu so sánh trước A như B và A là B thì kiểu so sánh A // B không có từ so sánh ( như, như là…) nên nó rất giống với ẩn dụ tu từ Tuy nhiên, điều khác biệt cơ bản giữa so sánh song hành với ẩn dụ tu từ là ở chỗ so sánh song hành thường xuất hiện ở hai vế, còn

ẩn dụ tu từ chỉ ở một vế, vế còn lại bị ẩn do dụng ý nghệ thuật của tác giả

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy so sánh song hành chiếm một tỉ lệ khá nhỏ trong sáng tác của Hàn Mặc Tử ( 2,4 %)

Cam héo, lòng em cũng héo hon

Đến này em đã có chồng con Tình cờ hôm ấy chàng qua lại

Kiểu so sánh A // B khác với kiểu so sánh A như B ở chỗ các vế so sánh độc

lập, ngang bằng và không phụ thuộc vào nhau Nếu ta thêm từ ngữ biểu đạt quan hệ

so sánh ( như ) vào thì hai vế của so sánh A // B không còn độc lập với nhau mà trở

nên phụ thuộc vào nhau và sắc thái ý nghĩa cũng thay đổi Ở ví dụ này, nhà thơ đã

so sánh hình ảnh cam héo cũng giống như cái chết trong lòng cô gái kể từ khi chàng

trai ra đi Đưa ra những hình ảnh so sánh mộc mạc, dễ hiểu thơ Hàn Mặc Tử trở nên gần gũi, có sức lay động lòng người đến kì lạ

Trong cái nhìn khái quát về chặng đường sáng tác của Hàn Mặc Tử, ta thấy

rằng so sánh nghệ thuật trong tập thơ “ Gái quê ” không nhiều Đến “ Đau thương ”,

so sánh tu từ mới được nhà thơ sử dụng với tần số cao hơn hẳn Điều này cho thấy ngay trong hoàn cảnh tuyệt vọng nhất thì ý thức sáng tạo trong con người Hàn Mặc

Tử vẫn luôn sống và tồn tại Đây chính là căn cứ khoa học nhất để chứng tỏ so sánh nghệ thuật nằm ngay trong phong cách, ăn sâu vào tiềm thức và ý thức sáng tạo của Hàn Mặc Tử

2.2 Ẩn dụ tu từ

Trang 32

Bảng 2.3: Bảng thống kê các kiểu ẩn dụ tu từ trong ba tập thơ “ Gái quê ”,

“ Đau thương ”, “ Thượng thanh khí ”

107, 3%

4, 9 %

Nhận xét: Qua thống kê, chúng tôi nhận thấy, nhân hóa chiếm tỉ lệ cao nhất

107,3% ( trong tổng số 136,6 %) với 88 lượt Tiếp đến là ẩn dụ bổ sung với 12 lần xuất hiện chiếm 14,6 % Ẩn dụ chân thực, ẩn dụ tượng trưng, vật hóa cùng chiếm 4, 9% với 4 lần xuất hiện

2.2.1 Ẩn dụ chân thực

Ẩn dụ chân thực là những ẩn dụ được cấu tạo bằng sự so sánh ngầm những nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng Khảo sát ẩn dụ chân thực trong ba tập thơ, chúng tôi thấy ẩn dụ chân thực tuy xuất hiện không nhiều nhưng sự có mặt của

ẩn dụ chân thực mang lại những sắc thái biểu cảm và ý nghĩa độc đáo

Bên kia trời hãy chụp cả lòng anh

Chân là một bộ phận của cơ thể Chân Bàn Thành là ẩn dụ chân thực chỉ một

góc của địa danh Bàn Thành

Nào không gian cho lửa lòng bùng cháy

( Trường tương tư ) [ 2, tr 267]

Lửa là sự vật có tính nóng, có khả năng đốt cháy các sự vật Dùng lửa để biểu thị tâm trạng con người là ẩn dụ chân thực Bởi mỗi khi có chuyện gì lo lắng,

người ta vẫn thường hay nói nóng ruột, nóng gan, nóng lòng Lòng là bộ phận cơ

Trang 33

thể được dùng để ẩn dụ cho tâm trạng của con người Lửa lòng vì thế biểu thị cho

khát khao mãnh liệt của nhà thơ

Hãy tưới lên hoa giọt lệ nồng

Đáy là từ ngữ dùng để biểu đạt vị trí tận cùng của sự vật: đáy giếng, đáy bao Đáy lòng là ẩn dụ biểu thị tận sâu trong tâm hồn chàng trai vẫn luôn nhớ

thương về cô gái

Tối hôm nay muôn sao bơi nhấp nháy Sông Mê Hà đưa đẩy sóng triền miên

Thuyền anh buông lững lờ trong hiu quạnh

Tới em chưa, đã tới bến lòng em?

Mộng yêu đương đang khi tim dào dạt Thuyền anh neo đậu trước bến Hàn Giang

Thuyền và bến vốn là hai hình ảnh ẩn dụ quen thuộc xuất hiện trong ca dao: “ Thuyền về có nhớ bến chăng / Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền ” Trong

những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, các hình ảnh thuyền và bến sẽ có những ý

nghĩa ẩn dụ khác nhau Nếu như trong ca dao, hình ảnh thuyền ( mang tính chất động, hay di chuyển ) tượng trưng cho người con trai, còn hình ảnh bến ( tính chất tĩnh, ổn định ) tượng trưng cho tấm lòng thủy chung của người con gái; thì ở ví dụ

này hình ảnh thuyền và bến cũng tượng trưng cho người con trai và người con gái

Tuy nhiên, đặt vào văn cảnh thì ý nghĩa chung nhất của hai hình ảnh ấy ẩn dụ cho tình yêu của chàng trai và sự đáp trả từ trái tim của cô gái

2.2.2 Ẩn dụ bổ sung ( Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác )

Ẩn dụ bổ sung ( hay ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ) là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác khi nhận thức và diễn đạt bằng ngôn ngữ Trong

cả ba tập thơ, ẩn dụ bổ sung chiểm tỉ lệ tương đối lớn so với các kiểu ẩn dụ khác (xuất hiện 17 lần, chiếm tỉ lệ 20,7%) Sự xuất hiện dày đặc các ẩn dụ bổ sung cho

Trang 34

thấy thi nhân như muốn đánh thức mọi giác quan vốn có của con người, kích thích trí tưởng tượng và tạo bất ngờ ngay trên mỗi câu thơ

- Chuyển đổi từ cái cụ thể sang cái trừu tượng

Gió lùa mặt nước rung rinh

Khát là vị giác, miếng là cái cụ thể về định lượng chuyển đổi sang chung tình

là ẩn dụ cho cái trừu tượng

- Chuyển đổi từ vị giác sang cảm giác trừu tượng

Đã có khi nào cô ước mơ Rồi đây khai mạc cuộc đời thơ Bằng đêm hôm ấy êm như rót

Lời mật vào tai ngọt sững sờ

Ở ví dụ trên, ngọt là từ mà ta cảm nhận được bằng lưỡi ( vị giác ) chuyển sang sững sờ là trạng thái tâm lí mà ta khó nắm bắt được ( cảm giác trừu tượng )

- Chuyển đổi từ khứu giác sang cảm giác trừu tượng

Mùi xuân trai trẻ là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác từ mùi vị ( khứu giác) sang

cảm giác trừu tượng ( xuân trai trẻ)

- Chuyển đổi từ thính giác sang cảm giác trừu tượng

Chiều xưa khúc nhạc nóng ran lên

Không có ai đi để lỗi nguyền Nguồn thơ ứa mãi hai hàng lệ

Tờ giấy hoa tiên cũng ướt mèm

( Buồn ở đây ) [ 2, tr 311]

Khúc nhạc nóng ran là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác từ âm thanh ( thính giác )

Trang 35

sang cảm giác trừu tượng ( nóng ran )

- Chuyển đổi từ khứu giác sang thị giác

Tôi chết giả và no nên vô hạn

Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng

Mùi là từ ngữ chỉ mùi vị ( khứu giác ) sang trăng là từ ngữ có thể nhìn thấy

bằng mắt thường ( thị giác )

- Chuyển đổi từ thị giác sang khứu giác

Hãy tưới lên hoa giọt lệ nồng

Giọt lệ là chúng ta thấy được bằng mắt ( thị giác ) chuyển đổi sang nồng là từ

chỉ hương vị ( khứu giác )

- Chuyển đổi từ thị giác sang khứu giác

Ta sống mãi với trăng sao gấm vóc

Trong nắng thơm, trong tiếng nhạc thần bay

( Trường thọ ) [ 2, tr 313]

Nắng là hình ảnh thấy bằng mắt thường ( thị giác ) chuyển đổi sang thơm là

từ ngữ chỉ mùi vị ( khứu giác)

- Chuyển đổi từ thị giác sang vị giác

- Chuyển đổi từ thính giác sang vị giác

Tôi vo tiếc mến như vo lụa

Cất tiếng cười giòn xao động vùng mây

(Chơi trên trăng I ) [ 2, tr 275]

Tiếng cười là từ ngữ chỉ âm thanh ( thính giác) sang giòn là cơ quan vị giác

tiếp nhận

- Chuyển đổi từ khứu giác sang thị giác

Trang 36

Ta đã ngậm hương trăng đầy lỗ miệng

Cho ngây người mê dại đến tâm can

Hương trăng là ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác từ hương thơm ( khứu giác )

sang thị giác ( trăng )

2.2.3 Ẩn dụ tượng trưng

Ẩn dụ tượng trưng là những ẩn dụ có tính chất tượng trưng, mang ý nghĩa biểu tượng Hàn Mặc Tử khéo léo sử dụng loại ẩn dụ này khá nhiều trong ba tập thơ, tạo nên những hiệu quả nghệ thuật đặc sắc, thú vị

Chao ôi ghê quá trong tư tưởng

Một vũng cô liêu là ẩn dụ tượng trưng về một không gian tù đọng, ẩm mục,

không chuyển hóa, không sinh khí và tách biệt với thế giới bên ngoài

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

( Mùa xuân chín ) [ 2, tr 246]

Nói đến mùa xuân, có ai không hiểu là thời khắc đẹp nhất trong năm, là phút

rạo rực nhất của cuộc đời con người Ở đây, xuân xanh là ẩn dụ tượng trưng cho

những người thiếu nữ trẻ chưa chồng

Còn đâu tráng lệ những thời xanh

Mùi vị thơm tho một ái tình

Đố kiếm co ra trong lớp bụi

Ít nhiều hơi hám của kiên trinh

Thời xanh là ẩn dụ tượng trưng Thời xanh chính là thời trai trẻ, một thời

đam mê, một thời lửa tình trong lòng người trai trẻ cháy hừng hực nhất

Có thể nói Hàn Mặc Tử đã rất khôn khéo trong việc sử dụng những hình ảnh ẩn

dụ mang tính chất tượng trưng Nhờ có sự trợ giúp đắc lực của phương thức tu từ

Trang 37

này mà lời thơ của Hàn Mặc Tử trở nên kín đáo, hấp dẫn và ý vị hơn

2.2.4 Nhóm biến thể ẩn dụ

Nhóm biến thể của ẩn dụ gồm có hai kiểu: nhân hóa và vật hóa Nhân hóa và vật hóa thực chất là những ẩn dụ được xây dựng trên mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh

2.2.4.1 Nhân hóa

Nhân hóa là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người

để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải là con người khiến cho đối tượng đó trở nên sinh động hơn, gần gũi hơn Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy biện pháp nhân hóa xuất hiện khá dày đặc trong thơ Hàn Mặc Tử với 88 lần xuất hiện, chiếm 107, 3 % Dựa vào cách cấu tạo, chúng tôi chia nhân hóa thành hai loại:

- Miêu tả đối tượng trong những đặc điểm, tính chất, hoạt động, trạng thái của con người

Mây hờ không phủ đồi cao nữa

Vì cả trời xuân tắm nắng tươi

Sau rào khẽ liếm cặp môi tươi

Những từ động từ tắm, liếm và tính từ dịu dàng, nũng nịu vốn là những từ ngữ

diễn tả hành động và trạng thái của con người Nhà thơ Hàn Mặc Tử đã “ phù phép

” vào cảnh vật thiên thiên ấy những từ ngữ đáng yêu, sinh động và do vậy bức tranh cảnh vật trở nên hấp dẫn, sinh động kì lạ

Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Hoàng Văn Hành trong Từ điển từ láy Tiếng Việt cho rằng sóng soãi là tư thế

nằm trên mặt đất khi bị ngã Và tất nhiên từ ngữ này chỉ có thể dùng để chỉ hành động ở con người Vậy mà Hàn Mặc Tử đã giăng mắc một loạt những từ ngữ về con

người như sóng soãi, đợi, ngây tình không muốn động để miêu tả vẻ đẹp của trăng

Cách sử dụng những từ ngữ này đã tạo nên những hiệu quả thẩm mĩ bất ngờ trong

Trang 38

thơ Hàn Mặc tử Trong khi những nhà thơ lãng mạn khác thi vị hóa trăng thì Hàn

Mặc Tử lại “ cố sức ” trần tục nó Trăng đối với Hàn Mặc Tử như một “ con vật

lưỡng thê ”( chữ dùng của Đỗ Lai Thúy ) vừa đẹp đẽ vừa gợi tình, vừa trần tục vừa

thiêng liêng Trăng chính là nguồn cảm hứng bất tận trong mạch nguồn sáng tạo của Hàn Mặc Tử Có thể nói, với cách miêu tả trần tục này, thơ Hàn Mặc Tử đã bước một bước tiến dài trong quá trình phát triển thơ hiện đại

- Coi đối tượng không phải con người như con người và đối thoại, tâm tình với chúng:

Không chỉ “ nhào nặn hình hài ” cho các sự vật, hiện tượng bằng các hành động, trạng thái của con người, Hàn Mặc Tử còn xem các sự vật đó, nhất là hình ảnh trăng như một người bạn tâm giao để bày tỏ tình cảm, nỗi niềm của mình: Trên đọt tre già trăng lưỡi liềm

Hỡi trăng hãy chặt khóm thùy dương

Nghiêng mình trước gió chiều lơi lả

Và chặt luôn ta dứt nỗi niềm

( Tiếng vang ) [ 2, tr 227]

Đối với Hàn Mặc Tử, trăng không chỉ đơn thuần là người bạn để nhà thơ giải

tỏa nỗi niềm: Hỡi trăng hãy chặt khóm thùy dương mà cao hơn cả, trăng chính là sự

phân thân của cái tôi trữ tình

Phải nói rằng, tìm đến thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta khó có thể phân biệt đâu là

ranh giới giữa con người và sự vật, bởi thi nhân đã khéo léo phủ màn sương nhân

hóa lên những sự vật vô tri, vô giác kia Nhiều người tưởng rằng thế giới thơ của

Hàn Mặc Tử chỉ là một địa hạt riêng của trạng thái mê sảng, hoang tưởng nhưng

không, chính nhờ có sự góp mặt của nhân hóa mà thơ Hàn Mặc Tử gần đời hơn,

gần người hơn rất nhiều!

Trang 39

Tình cờ hôm ấy chàng qua lại

Héo là từ ngữ thường được dùng để nói về tình trạng kém phát triển của thực

vật Lòng em cũng héo hon là cách nói biểu thị cho tâm trạng buồn bã của con

người Ở đây được hiểu là tình yêu trong lòng cô gái đã nguội lạnh kể từ khi chàng trai ấy ra đi

Cô gái ngây thơ nhìn xuống hồ Nước trong nổi bật dáng hình cô

Nụ cười dưới ấy và trên ấy

( Nụ cười ) [ 2, tr 236]

Nở là hoạt động chỉ xảy ra ở những cơ quan thực vật, cụ thể là hoa Bản thân

người con gái cũng đã là sự so sánh ngầm với vẻ đẹp của hoa Ở trong câu thơ này,

nhà thơ Hàn Mặc Tử đã vật hóa nụ cười của gái nở lẳng lơ gợi tình Nụ cười đẹp,

ngây thơ ấy, khiêu gợi như có một ma lực hấp dẫn kì lạ đối với chàng trai

2.3 Hoán dụ tu từ

Bảng 2.5: Bảng thống kê các loại hoán dụ tu từ trong ba tập thơ “ Gái quê”, “ Đau thương ” “ Thượng thanh khí ”

Hoán dụ xây dựng từ quan

Hoán dụ xây dựng từ vật sở

Tượng trưng 2/ 82 bài 2,4 %

Nhận xét: Qua thống kê, người viết nhận thấy hoán dụ cải số chiếm tỉ lệ cao

nhất là 15,9 % ( trong tổng số 26,7 %) với 13 lượt xuất hiện Tiếp đến là hoán dụ

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Phan Cảnh ( 2001), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
2. Phan Cự Đệ ( 2002), Hàn Mặc Tử - Tác phẩm, phê bình và tưởng niệm, NXB Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử - Tác phẩm, phê bình và tưởng niệm
Nhà XB: NXB Văn học Hà Nội
3. Nguyễn Đăng Điệp ( 2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Nhà XB: NXB Văn học
4. Nguyễn Đăng Điệp ( 2009), Hàn Mặc Tử - Tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử - Tác phẩm chọn lọc
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi ( đồng chủ biên ) ( 2011 ), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
6. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa ( 1993), Phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Đinh Trọng Lạc ( 2005), 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Phong Lê ( 2003) , Thơ Việt Nam hiện đại, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: NXB Lao động
9. Vũ Bội Liêu ( 2000), Những sự gặp gỡ của Đông Phương và Tây Phương trong ngôn ngữ và văn chương, NXB văn học, Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự gặp gỡ của Đông Phương và Tây Phương trong ngôn ngữ và văn chương
Nhà XB: NXB văn học
10. Bùi Trọng Ngoãn ( 2008 ), Giáo trình phong cách học Tiếng Việt ( Giáo trình đại học, lưu hành nội bộ khoa Ngữ văn ), Đại học Sư Phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phong cách học Tiếng Việt (
11. Phan Ngọc ( 2000), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Trẻ
12. Lữ Huy Nguyên ( 2002), Hàn Mặc Tử - Thơ và đời, NXB Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử - Thơ và đời
Nhà XB: NXB Văn học Hà Nội
13. Vũ Ngọc Phan ( 1989), Nhà văn hiện đại ( tập hai), NXB Khoa học xã hội, 14. Chu Văn Sơn ( 2006), Ba đỉnh cao thơ mới, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại" ( tập hai), NXB Khoa học xã hội, 14. Chu Văn Sơn ( 2006), "Ba đỉnh cao thơ mới
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
15. Từ Sơn ( giới thiệu và tuyển chọn) ( 2008), Hoài Thanh – Bình thơ và nói chuyện thơ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoài Thanh – Bình thơ và nói chuyện thơ
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Hoài Thanh, Hoài Chân ( 2006), Thi nhân Việt Nam, NXB Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
17. Nguyễn Toàn Thắng ( 2007), Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Nguyễn Bích Thuận ( nghiên cứu và biên soạn), Chế Lan Viên – Hàn Mặc Tử, NXB Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên – Hàn Mặc Tử
Nhà XB: NXB Đồng Nai
20. Hàn Mặc Tử - Tác phẩm và lời bình ( 2011), NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử - Tác phẩm và lời bình
Nhà XB: NXB Văn học
21. Chế Lan Viên, Quách Tấn ( 1988), Thơ Hàn Mặc Tử, Sở văn hóa và thông tin Nghĩa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hàn Mặc Tử
22. Nguyễn Như Ý ( 2003), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w