Sau khi tổng hợp, nghiên cứu và phân loại các công trình của những tácgiả đi trước, chúng tôi tiếp thu được nhiều cứ liệu quan trọng xác đáng về vịtrí cũng như sự nghiệp sáng tạo của Vũ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
ALĂNG THỊ CÔNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG
TIỂU THUYẾT SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 5/ 2015
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của văn học vẫn luôn diễn ra một quá trình tiếp biến lâu dàigiữa cái cũ và cái mới Tiếng cười trong suốt chiều dài phát triển văn họccũng không ngừng tiếp biến và ngày càng được thể hiện ở nhiều góc độ khácnhau Từ những bài ca dao hài hước, châm biếm của văn học dân gian đếntiếng cười trào phúng giễu nhại trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của vănhọc hiện đại ắt phải chứa đựng sự tiếp biến đó Chỉ có điều, tiếng cười trongtiểu thuyết Vũ Trọng Phụng không còn là tiếng cười amua của văn học dângian nữa, mà là tiếng cười dùng để phê phán, chế nhạo, phản kháng Chínhtiếng cười trào phúng đã vinh danh sự thành công trong sáng tạo nghệ thuật
của Vũ Trọng Phụng Đến tác phẩm trào phúng Số đỏ thì Vũ Trụng Phụng đã
thành một hiện tượng “không ai bắt chước được, không theo kịp được” Nóinhư Văn Tâm, Vũ Trọng Phụng là “cây đại thụ trong rừng cười nhiệt đới ViệtNam” Chính vì vậy, việc nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng thực sự là một việcphải làm mà không bao giờ thừa
Mặt khác, Vũ Trọng Phụng là một tác giả văn học đặc biệt thu hút nhiềucông trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau ở mọi phương diện Vềnghệ thuật tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, tiêu biểu có thể kể đến Đinh Lựu
với công trình: Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, Văn Tâm với bài viết:
Vài nét về đặc tính nghệ thuật (chương 6 của công trình Vũ Trọng Phụng
-nhà văn hiện thực), hay Nguyễn Thành với công trình Thi pháp tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng Trong khi đó, những công trình viết về ngôn ngữ của Vũ Trọng
Phụng lại hầu như rất hiếm Chúng tôi mong rằng bài luận văn này sẽ bổ sungmột chút vấn đề vào chỗ khuyết ấy
Song, việc tìm hiểu về Vũ Trọng Phụng cùng với đề tài “Đặc điểm ngôn
ngữ người kể chuyện trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng” là một
Trang 3việc làm thiết thực đối với công việc giảng dạy của bản thân sau này Bởicùng với Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố Vũ Trọng Phụng chính
là một trong những cây bút tiêu biểu tạo nên diện mạo của dòng văn học chủ
nghĩa hiện thực giai đoạn 1930 - 1945 Sự có mặt của trích đoạn: Hạnh phúc
của một tang gia, trích tiểu thuyết Số đỏ trong chương trình Ngữ văn 11 tập 1
chính là một minh chứng cho giá trị nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trongnền văn học Việt Nam
Vì những lẽ như trên, chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm ngôn ngữ người
kể chuyện trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng” để tiến hành nghiên
cứu
2 Lịch sử vấn đề
Có thể nói năm 1936 là năm của Vũ Trọng Phụng khi ông liên tục cho ra
đời tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ và các thiên phóng sự làm
chấn động dư luận Hiện tượng Vũ Trọng Phụng trở thành tiêu điểm củanhững cuộc tranh luận sôi nổi suốt một thời gian dài về tài năng nghệ thuậtcũng như nội dung tư tưởng chính trị Đến nay, khi giá trị nhà văn Vũ TrọngPhụng đã được trao trả đúng vị trí của nó thì người ta vẫn còn ham mê khámphá ở các phương diện khác nữa: phương diện nghệ thuật và ngôn ngữ VũTrọng Phụng
Về phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật:
Hà Minh Đức trong bài Nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Số đỏ của Vũ Trọng
Phụng ghi nhận “Xuân Tóc Đỏ là một loại nhân vật có tính cách sống động
được miêu tả tổng hợp từ những người cùng loại và không rõ nguyên mẫutrực tiếp Xuân Tóc Đỏ là một nhân vật điển hình Nhân vât mang tính tiêubiểu cho nhiều người cùng loại trong xã hội cũ dùng thủ đoạn lừa đảo để tiếnthân” [25, tr.471]
Để xây dựng nhân vật trào phúng thành công, Nguyễn Đăng Mạnh cho
Trang 4rằng những bức chân dung hí họa này được Vũ Trọng Phụng vẽ bằng hai thủpháp: “ Một là “chộp” lấy những nét “xuất thần” hài hước nhất của nhân vậtrồi cường điệu, tô đậm lên [ ] Thủ pháp thứ hai là biến nhân vật thànhnhững con rối, đi đứng, nói năng, ứng xử một cách máy móc bất chấp hoàncảnh có phù hợp hay không” [14, tr.423] Những nhận xét và những dẫnchứng được Nguyễn Đăng Mạnh đưa ra đều có sức thuyết phục.
Theo Trần Đăng Suyền thì “bằng con mắt quan sát sắc sảo, với những nét
vẽ như có thần, Vũ Trọng Phụng đã làm nổi bật những cái phản tự nhiêntrong hình dáng, cử chỉ, điệu bộ, cách ăn mặc và những nét thiếu hài hòa, cânxứng trong hình thức của nhân vật Diện mạo của nhân vật thường mangnhững nét kì quái, phản tự nhiên, phi logic rất tức cười nhằm làm nổi bật mâuthuẫn giữa hình thức với nội dung nhân vật” [25, tr.191]
Về phương diện nghệ thuật trào phúng: Vũ Trọng Phụng tạo nên hàng
loạt những tình huống trào phúng như tình huống ngược đời, tình huống hiểunhầm, tình huống ngẫu nhiên Hàng loạt những tình huống gây cười hợp lại
tạo thành một thiên tiểu thuyết cười dài trong Số đỏ.
Văn Tâm khi viết Vài nét về đặc tính nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng ghi nhận “cái cười xã hội tư sản trong Số đỏ không phải là tiếng cười rúc rích rải
rác, mà chính nó là tiếng cười lớn bùng lên như một tiếng gầm thét phẫn nộ”[23, tr 179] Ghi nhận này của Văn Tâm gần như đã phủ nhận phần nào nhận
xét chưa sâu sắc của Vũ Ngọc Phan trong bài Một lối văn riêng, một ngòi bút
tả chân sắc sảo, lỗi lạc: “Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một quyển tiểu thuyết
hoạt kê, nhưng một lối hoạt kê không lấy gì làm cao cho lắm.[ ] Cái lối
khôi hài của ông trong Số đỏ là một lối khôi hài nông nổi, tuy nhạo đời nhưng
không căn cứ” [25, tr.99]
Về phương diện nghệ thuật trần thuật:
Nguyễn Quang Trung trong bài viết Nghệ thuật trần thuật mang tính hài
Trang 5của Vũ Trọng Phụng cho rằng ấn tượng về tiếng cười vô song là hiệu quả
nghệ thuật của hình thức trần thuật Mà hiệu quả ấy có được là nhờ Vũ TrọngPhụng đã tạo nên “một chuỗi những tình huống, mâu thuẫn trào phúng kế tiếpnhau, tạo ra một hệ thống phong phú, phức tạp” [27, tr.218] Từ đó, ông đivào phân tích một cách kĩ càng ba vấn đề: một là nghệ thuật xây dựng tình
huống trào phúng trong Số đỏ, hai là sự kết hợp giữa cái ngẫu nhiên và cái tất
yếu, ba là đối lập các bình diện quan sát, miêu tả
Nguyễn Thành trong Thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nhận xét:
“Trong Số đỏ, do tính hoạt kê, giễu nhại đậm đặc chi phối, nên cái nhìn của
người trần thuật lướt đi rất nhanh qua những hành động bên ngoài hơn làdừng lại ở những ý nghĩ bên trong của nhân vật.[ ] Tính hiện đại về trần
thuật của Số đỏ, chủ yếu là do sự luân phiên góc nhìn về nhân vật” [24,
tr.233]
Ngoài những công trình nghiên cứu trên, người viết còn được tiếp cận với
một số công trình khác như tác giả Trần Đăng Thao với bài Kết cấu hoành
tráng- một đóng góp lớn của Vũ Trọng Phụng trong lĩnh vực tiểu thuyết, Trần
Văn Hiếu với bài Đôi điều so sánh về giữa Số đỏ và Truyện Trạng lợn Tất cả
đều là những mảnh ghép quan trọng góp phần hoàn thiện đầy đủ bức tranhsáng tạo nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng
Về phương diện ngôn ngữ:
Nguyễn Thành công nhận tài năng cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật của VũTrọng Phụng trong tiểu thuyết Qua phân tích ngôn từ nhân vật Xuân Tóc Đỏ,ông đi đến kết luận: “Trong ngôn từ cá thể của Xuân Tóc Đỏ, tồn tại hai loại
từ ngữ vô học và kiểu cách, một loại là thực chất của nó, một loại là giả tạongụy trang Đây chính là nét độc đáo trong ngôn ngữ nhân vật Xuân Tóc Đỏ”[24, tr.266]
Đỗ Đức Hiểu trong bài viết Những lớp sóng ngôn từ cho rằng “tất cả Số
Trang 6đỏ là ngôn từ” và nhấn mạnh: “Số đỏ là cái cười nhại với một tầm cỡ lớn.[ ].
Nó nhại một ngôn ngữ đang hình thành, hổ lốn, táp nham, lổn nhổn, không ănkhớp - ngôn từ khấp khểnh, xiêu vẹo, tạp pí lù” Từ đó ông đi đến một kết
luận mới mẻ: “Lớp sóng ngôn từ phát đi từ Số đỏ là lớp sóng ngôn từ đô thị”
[25, tr 449]
Sau khi tổng hợp, nghiên cứu và phân loại các công trình của những tácgiả đi trước, chúng tôi tiếp thu được nhiều cứ liệu quan trọng xác đáng về vịtrí cũng như sự nghiệp sáng tạo của Vũ Trọng Phụng trên văn đàn Việt Nam.Đặc biệt qua các bài viết về mảng nghệ thuật trần thuật, chúng tôi tinh chọnđược nhiều ý kiến hay để làm cơ sở, nền tảng cho đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ
người kể chuyện trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng” Chúng tôi xin
được gửi lời cảm ơn chân thành đối với các học giả đi trước đã miệt màinghiên cứu, cung cấp nguồn tư liệu quý về Vũ Trọng Phụng, tạo điều kiệncho những người hậu duệ được học tập và tiếp tục nghiên cứu thêm về tác giảnày
3 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát và miêu tả một cách chi tiết về đặc điểm ngôn ngữ người kể
chuyện trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.
Sau nghiên cứu sẽ tích lũy được một khối lượng kiến thức quan trọng đểgiảng dạy và làm nền tảng cho các công trình nghiên cứu sau này
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là văn bản nghệ thuật tiểu thuyết Số đỏ của
Vũ Trọng Phụng
4.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Đặc điểm ngôn ngữ người kể chuyện
trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng” Chúng tôi không nghiên cứu
Trang 7đặc điểm ngôn ngữ người kể chuyện theo hướng nhìn từ góc độ lí luận vănhọc mà chỉ quan tâm đến toàn bộ nội dung lời dẫn truyện (tức là không kểcác câu đối thoại của nhân vật).
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ người kể chuyện
trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng”, chúng tôi vận dụng linh hoạt
những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê, miêu tả: chúng tôi tiến hành thống kê, miêu cácđơn vị tình thái, lời kể lời bình trong ngôn ngữ người kể chuyện, các phươngtiện tu từ Từ đó xác định hiệu quả ngôn ngữ người kể chuyện thể hiện trong
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được triểnkhai ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận và tổng quan về Số đỏ của Vũ Trọng
Phụng
Chương 2: Một vài đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trong ngôn ngữ người kể
chuyện trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Chương 3: Vai trò của các phương tiện ngôn ngữ đối với ngôn ngữ người
kể chuyện của Vũ Trọng Phụng
Trang 8NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ SỐ ĐỎ
CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 1.1 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm
Vấn đề phân loại phong cách ngôn ngữ nghệ thuật đến nay vẫn chưa điđến một kết luận thống nhất Khảo sát một số công trình nghiên cứu của cácnhà Việt ngữ học khác nhau, có thể xếp việc phân loại theo các cách sau:Theo cách phân chia của Đinh Trọng Lạc, ngôn ngữ nghệ thuật khôngđược xếp vào cùng loại với các phong cách chức năng khác bao gồm: phongcách hành chính - công vụ, phong cách khoa học, phong cách báo chí côngluận, phong cách chính luận, phong cách sinh hoạt hằng ngày Ngôn ngữnghệ thuật được đặt thành một loại khác trong sự đối lập với ngôn ngữ phinghệ thuật Theo Đinh Trọng Lạc: “Ngôn ngữ nghệ thuật - tức ngôn ngữtrong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ - là một mã phức tạp được cấu tạo nên
từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự nhiên) Chức năng thẩm mĩ củangôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngônngữ (tức đặc trưng nghĩa và đặc trưng âm thanh) trở thành yếu tố tạo thànhcủa hình tượng” [10, tr.139] Như vậy, Đinh Trọng Lạc cho rằng ngôn ngữnghệ thuật thuộc vào một hệ thống khác chứ không thuộc hệ thống các phongcách chức năng tiếng Việt
Theo cách phân chia của nhóm tác giả Võ Bình - Lê Anh Hiền, tác giả CùĐình Tú, tác giả Hoàng Tất Thắng và Bùi Trọng Ngoãn, ngôn ngữ nghệ thuậtđều được xem là một phong cách chức năng
Qua việc đọc và học tập, chúng tôi nghiêng về các phân chia thứ hai, tức
là xem ngôn ngữ nghệ thuật là một phong cách chức năng với lí do như sau:Thứ nhất: Ngôn ngữ nghệ thuật là sự tổng hòa của các phong cách chức
Trang 9năng ngôn ngữ khác là một cơ sở chính đáng để xếp ngôn ngữ nghệ thuậtthành một phong cách chức năng ngôn ngữ độc lập Bởi vì thực chất phongcách chức năng ngôn ngữ bao giờ cũng có sự giao thoa và tương tự ở nhiềuphương diện Vấn đề chính là sự giao thoa ấy ở mức độ thấp như phong cáchkhoa học và phong cách chính luận đều có chức năng thông tin và chức năngtác động hay đạt đến mức độ tổng hòa như phong cách nghệ thuật bao hàm
cả chức năng thông tin của báo chí, chức năng thẩm mĩ của phong cách chínhluận, tính cảm xúc của phong cách sinh hoạt
Thứ hai: Ngôn ngữ nghệ thuật cũng là một kiểu giao tiếp như ngôn ngữchức năng khác Nó có đầy đủ các điều kiện về giao tiếp như: đối tượng giaotiếp, vai giao tiếp, mục tiêu, hoàn cảnh, nội dung giao tiếp , các tiêu chí củamột phong cách chức năng như có chức năng, đặc trưng, đặc điểm ngôn ngữriêng
Tóm lại, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (còn gọi là phong cách ngônngữ văn học, phong cách ngôn ngữ văn chương) là phong cách ngôn ngữđược sử dụng trong các loại hình văn chương, được xây dựng trên cơ sở tưduy hình tượng [18, tr.21]
1.1.2 Các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Tùy thuộc vào cách phân chia và cách diễn đạt của mỗi tác giả, nhưngnhìn chung các nhà nghiên cứu phong cách học tiếng Việt đều thừa nhận 4đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật gồm: Tính hình tượng,tính thẩm mĩ, tính tổng hợp, tính cá thể (tính riêng trong phong cách nghệthuật của nhà văn)
Thứ nhất, tính hình tượng, theo Đinh Trọng Lạc, “là thuộc tính của lời nóithơ (lời nói nghệ thuật) truyền đạt không chỉ thông tin logic mà còn cả thôngtin được tri giác một cách có cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu tượng) nhờ hệthống những hình tượng ngôn từ” [10, tr.146] Như vậy hệ thống ngôn từ
Trang 10nghệ thuật có sự khác biệt so với ngôn từ phi nghệ thuật ở chỗ nó chứa đựngthông tin được tri giác một cách có cảm tính Tức là so với ngôn ngữ phinghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật thường chứa đựng một nét nghĩa bổ sunghay một nét nghĩa hình tượng nào đó.
Hình tượng văn học do được tạo nên từ chất liệu ngôn từ nên có tính chấtphi vật thể Nó không được nhìn thấy bằng mắt thường mà tác động vào trítuệ, liên tưởng, tưởng tượng của người đọc Hình tượng “mặt trời” trong bàithơ sau sẽ thấy rõ được sự khác biệt của ngôn từ nghệ thuật so với ngôn từphi nghệ thuật Và thể hiện rõ tính phi vật thể của hình tượng văn học:
(1 )Ngày ngày mặt trời đi qua trong lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Viếng lăng Bác - Vũ Phương
(2) Mặt trời đang mọc ở phương Tây
Thiên hạ sống trên trái đất nàyNhớn nhác gọi nhau và khẽ hỏiThức dậy hay là ngủ nữa đây
Mặt trời đang mọc ở phương Tây - Puskin.
Mặt trời (1) là hình ảnh mặt trời trong tự nhiên, mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây Mặt trời (2) ngoài ý nghĩa là hình ảnh tự nhiên phát ra ánh sáng
rực rỡ còn chứa đựng trong đó những nét nghĩa hình tượng mới Đó là hìnhtượng một vị lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đem lại ánh sáng của hòa
bình tự do cho dân tộc Việt Nam Mặt trời (3) có nét nghĩa khác đó là hình
tượng của ánh sáng văn hóa phương Tây rực rỡ, tiến bộ Như vậy có thể thấyrằng ngôn ngữ phi nghệ thuật có thể trở thành ngôn ngữ nghệ thuật nếu nó cóthêm nghĩa hình tượng nào đó Mặt khác, ngôn ngữ nghệ thuật khi được đặtvào một dụng ý nghệ thuật khác nhau thì sẽ chứa đựng hình tượng nghệ thuậtkhác nhau
Trang 11Tính hình tượng trong ngôn ngữ nghệ thuật được tạo nên bởi việc tậndụng triệt để các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ Có 3 loại hình tượngtrong văn học, đó là hình tượng quang cảnh (hình tượng thiên nhiên và hìnhtượng đời sống), hình tượng nhân vật và hình tượng cảm xúc.
Tính thẩm mĩ có thể được xem là yếu tính đầu tiên của ngôn ngữ nghệthuật Tính thẩm mĩ trong ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ đơn thuần là sự thểhiện chính xác về từ câu, hài hòa trong hình thức âm thanh hình ảnh như một
số phong cách ngôn ngữ khác Nó còn được đặc biệt chú ý ở khả năng tạonên những ý tưởng thẩm mĩ, tình cảm thẩm mĩ trong lòng người đọc thôngqua hình tượng văn học
Cái đẹp là một trong các phạm trù thẩm mĩ của cuộc sống nói chung vàcủa văn học nghệ thuật nói riêng Nói như Bêlinxki “cái đẹp là điều kiệnkhông thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và khôngthể có nghệ thuật”
Cái đẹp trong nghệ thuật chính là cái đẹp của cuộc sống được nhân lênbởi cái đẹp của các chất liệu nghệ thuật trong sự xếp đặt tạo hình của ngườinghệ sĩ Chất liệu của văn chương nghệ thuật là ngôn từ Chính vì vậy màngôn ngữ nghệ thuật được dùng để thể hiện cái đẹp của cuộc sống phải là thứngôn ngữ giàu chất tạo hình, đậm chất biểu hiện và có giá trị biểu trưng lớn
nhất Thử xét đoạn văn sau trích trong tùy bút Người lái đò sông Đà của
Nguyễn Tuân: “Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến như là cưỡi hổ Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá Nắm chặt lấy cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước mà
phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy.”
Người ta nói vượt sóng Nguyễn Tuân gọi cưỡi sóng, cách nói này gợi lên sự
uy vũ của thiên nhiên nhưng đồng thời lại gọi dậy cái tư thế hiên ngang hùngdũng của người vượt sóng Thay vì nói làn sóng dữ dội, Nguyễn Tuân gọi là
Trang 12bờm sóng gợi liên tưởng đến cái nhấp nhô của bờm ngựa Dòng thác có thể
nói đến tính cuộn xiết của nước nhưng Nguyễn Tuân cho nó một cái tên bạo
tính hơn cách miêu tả ấy nhiều: dòng thác hùm beo Chỉ trong vài câu ngắn
dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, con sông Đà hiện ra hung dữ, đầy biến hóa.Bên cạnh việc lột tả được cái đẹp của cuộc sống bằng ngôn từ nghệ thuật,tính thẩm mĩ của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật còn thể hiện ở chỗ khơidậy được xúc cảm thẩm mĩ trong lòng người đọc Hiện thực cuộc sống đượcphản ánh trong văn chương không phải lúc nào cũng là những khía cạnh đẹpnhưng đều nhằm mục đích hướng đến cái đẹp Chính lúc ấy, tính thẩm mĩ của
nghệ thuật phải được khắc họa ở phương diện khác Trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng có đoạn: “Chí bình sinh của cụ cố Hồng chỉ là được làm một cụ
cố Cho nên chưa 50 tuổi, cụ cũng đã làm ra vẻ già cả sắp chết: ra phố là cụ phải mặc áo bông, chưa đến mùa rét cụ đã khoắc cái áo ba đờ xuy dầy sù; trước khi trả tiền phu xe, cụ phải ôm ngực ho rũ rượi hàng năm phút và đếm nhầm một xu để phu xe tưởng cụ đã lẫn lộn; nằm dài trên khay đèn thuốc phiện, nghe ai nói chuyện, cụ cũng nhắm nghiền mắt lại, nhăn mặt khẽ gắt:
“Biết rồi, biết rồi, khổ lắm, nói mãi! ” mặc dầu cụ chưa hiểu đầu đuôi câu chuyện ra làm sao, mặc dầu cụ vẫn vui lòng lắng tai nghe.”[15, tr 646] Hiện
thực được nói đến trong đoạn văn trên không phải là hiện thực chứa đựngtính thẩm mĩ Các ngôn từ mà Vũ Trọng Phụng sử dụng đều là ngôn từ tựnhiên không trau chuốt của cuộc sống thường ngày Nhưng tính thẩm mĩ củađoạn văn lại được thể hiện thông qua cách sắp xếp ngôn từ thành những cáibất thường gây nên tiếng cười thẩm mĩ đối với người đọc Những cái bấtthường trong suy nghĩ, hành động, nói năng của cụ cố Hồng gây nên nhữngtiếng cười châm biếm, phê phán đối với những “Bê-li-cốp” trong xã hội ViệtNam lúc bấy giờ
Như vậy, tính thẩm mĩ là một đặc trưng quan trọng của phong cách chức
Trang 13năng ngôn ngữ nghệ thuật Nó được thể hiện ở hai mối quan hệ đó là quan hệvới hiện thực cuộc sống và quan hệ với xúc cảm thẩm mĩ của người đọc.
Tính tổng hợp của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở nhiềuphương diện Theo Cù Đình Tú đó là sự có mặt toàn bộ các loại phương tiệnbiểu hiện của các phong cách trong ngôn ngữ văn chương một cách toàn vẹn,
có hiệu quả Ngôn ngữ nghệ thuật thường khai thác triệt để tiếng nói sinhđộng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày:
“- Cứ ỡm ờ mãi!
- Xin một tị! Một tị tỉ tì ti thôi!
- Khỉ lắm nữa!
- Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn
- Thật đấy Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ? Nhưng này! Duyên
kia ai đợi mà chờ? Tình kia ai tưởng mà tơ tưởng tình? Hàng đã ế bỏ mẹ ra thế này này, mua chẳng mua giúp lại được cái bộ ếm ” [15, tr.605] Trong
đoạn hội thoại giữa Xuân Tóc Đỏ và chị hàng mía trên xuất hiện từ ngữ địa
phương miền Bắc như “tị”, “ếm”, những từ thông tục như: “khỉ”, “ế bỏ mẹ”,
sử dụng lối đối đáp ca dao: “Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn/ Chính chuyên cũngchẳng sơn son để thờ/ Duyên kia ai đợi mà chờ? Tình kia ai tưởng mà tơ
tưởng tình” Cũng trong Số đỏ, giới thiệu “cảnh bồng lai trên cõi thế”, Vũ Trọng Phụng viết: “Về phía tây thành Hà Nội có một cái hồ mà người ta chịu
khó ngăn đôi ra thành một con đường cho nó thành ra hai cái hồ Con đường
ấy là con đường Cổ Ngư, nổi tiếng khắp xứ, trong hai mươi triệu đồng bào không còn ai là không biết, vì những thiếu nữ hoặc khuê các hoặc không, cùng những ông sinh viên trường cao đẳng hoặc trường luật học, hoặc sinh viên không trường nào cả, thường đêm đêm đem nhau lên đó để làm nũng với nhau, để mạt sát những chế độ gia đình của nhau, độ vài tháng, để rồi sau cùng, thì rủ nhau nhảy xuống hai cái hồ ở đấy Thành thử khách sạn Bồng
Trang 14Lai cũng được nổi tiếng y như đường Cổ Ngư và hồ Trúc Bạch Những người Việt Nam hoàn toàn, những người Việt Nam biết tự trọng thì phải có bổn phận là khách hàng của khách sạn ấy ít ra là một lần, nếu không muốn bị những trí thức bậc tân tiến khinh bỉ là dân vong bản, vong quốc vân vân ”[15, tr.667] Đoạn văn này mang đậm phong cách ngôn ngữ báo chí,
nó như một bài báo ngắn giới thiệu về vị trí địa lí, mục đích xây dựng củakhách sạn Bồng Lai, “quảng cáo” khách sạn Bồng Lai đối với người đọc
Hơn thế, nó tái hiện lại không khí của “những tấn đại thảm kịch của những
Tính cá thể trong ngôn ngữ nghệ thuật chính là cái riêng độc đáo trongcách sử dụng ngôn ngữ của mỗi cá nhân người nghệ sỹ, không lặp lại ở ngườikhác [cá thể: riêng lẻ từng người, không phải tập thể] Chính tính cá thể nàytạo nên một lằn ranh trong nhận thức người đọc, giúp người đọc nhận diệnvăn phong của người sáng tác Trong nền văn học Việt Nam, người ta nhớđến một Nguyễn Tuân trong vai một người nghệ sĩ chơi trò chơi của ngôn từ.Hãy xem nghệ thuật tuyển từ của Nguyễn Tuân trong việc theo đuổi ngôn từchính xác nhất để đặc tả màu xanh nước biển chiều Cô Tô như một cuộc trình
Trang 15diễn ngôn ngữ ngoạn mục: “Biển xanh như gì nhỉ? Xanh như lá chuối non?
Xanh như lá chuối già? Xanh như mùa thu ngả cốm làng Vòng?[ ] Nó xanh như cái màu áo Kim Trọng trong tiết thanh minh?[ ] Thế thì nước biển xanh như cái vạt áo nước mắt của ông quan Tư Mã nghe đàn tì bà trên con sóng Giang Châu thì có đúng không?[ ] Thế thì nó xanh như một màu áo cưới, được không? Hay là nói thế này: nước biển chiều nay xanh như một trang sử của loài người,[ ] Chao ôi, nước biển Cô Tô chiều nay xanh cái màu xanh của ngọc bích, hoặc là chao ôi nó xanh như một niềm hy vọng trên cửa bể” Người ta biết đến một Vũ Trọng Phụng chuyên sắp xếp các trật tự từ
thành một mớ mâu thuẫn nực tiếng cười giễu nhại: “Bà chính chuyên đến nỗi
chồng bà kiệt lực, cạn sức, phải trốn xuống suối vàng”, “Ngày nay dân ta văn minh mất rồi, rõ thảm hại!”, “Tôi đã nhất định nói có vong hồn ông Đoan với ông Phán nhà tôi chứng giám cho, tôi nhất định thủ tiết với hai ông!”, “Xin lấy danh dự ra mà làm hại một đời em”, “Hạnh phúc của một tang gia” ( Số đỏ); “vì chưng mỗi người đều có một cái tiểu sử về nhân duyên kỳ lạ và đặc biệt cả”, “phong lưu những râu và ria”, “cái tiếng dâm của Nghị Hách thì đã lừng lẫy cả mấy tỉnh” (Giông tố) Điều cần chú ý là
tính cá thể của ngôn ngữ nghệ thuật không tồn tại trong văn học dân giantruyền miệng Nói cách khác, tính cá thể hay dấu ấn phong cách tác giả làmột trong những đặc trưng cơ bản nhất của ngôn ngữ nghệ thuật trong việckhẳng định chủ thể sáng tạo
Tính cá thể thể hiện ở cách cá thể hóa ngôn ngữ của mỗi nhà văn, nhà thơ.Tùy vào sở trường, thị hiếu, mục đích của mỗi người mà khai thác ngôn ngữ
ở góc độ khác nhau Cách chơi chữ, nói lái tạo nên những nét nghĩa nước đôitrong thơ Hồ Xuân Hương đã tạo nên một Hồ Xuân Hương táo bạo, độc, lạ
Để đến nỗi người ta mãi tranh luận xem thơ bà thanh hay tục Với bản thânngười viết, thơ nữ sĩ họ Hồ thật ra không phải để bàn, hay để luận, mà chỉ để
Trang 16thưởng Thơ bà chính là “truyện cười hiện đại” dành riêng cho bậc trí thứcvăn chương Ta bắt gặp những dòng thơ với những ngôn từ thấm đẫm màusắc trí tuệ, đậm chất triết lí nhân sinh của Chế Lan Viên hay những ngôn từsôi nổi trẻ trung cuồng nhiệt của Xuân Diệu Sự cá thể hóa ngôn ngữ luôngắn liền với sự sáng tạo của người viết, tạo nên những hiện tượng lệch chuẩntrong ngôn ngữ.
1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ nổi bật
Cũng như các phong cách chức năng ngôn ngữ khác, phong cách chứcnăng ngôn ngữ được xét ở ba bình diện: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
Về đặc điểm ngữ âm:
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là minh chứng tiêu biểu nhất về sự tậndụng mọi tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt Vận dụng khả năng gợi tả của âmthanh tiếng Việt kết hợp với thủ pháp điệp các nguyên âm, phụ âm để diễn tảđiều mà tác giả muốn nói một cách độc đáo Ví dụ phép điệp phụ âm đầu:
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
Thu ẩm - Nguyễn Khuyến
Phụ âm /l/ là phụ âm vang bên, phù hợp cho việc gợi tả sự lay động củabóng trăng trên mặt nước xao động nhẹ dưới làn gió hiu hiu Sự lặp lại củaphụ âm đầu /l/ đầy sức gợi tả, làm hiện ra trước mắt người đọc những đườngnét lay động của bức tranh trăng thu Trăng dường như không phải từ trên caorọi xuống mà lại loe ra từ dưới làn ao lóng lánh những con sóng vàng nhờchính ánh sáng của trăng Tất cả những lay động và hiện tượng trăng loe ấyrất phù hợp với cái nhìn của một người đang say chếnh choáng
Trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, ngữ âm luôn luôn đóng vai tròquan trọng, không dừng lại ở tư cách vỏ âm thanh của ngôn ngữ mà nó còngóp phần không nhỏ vào sự biểu đạt nội dung Cái hay của văn xuôi nghệthuật (tự sự) không chỉ được biểu đạt từ thông tin cơ sở mà còn thể hiện từ
Trang 17thông tin bổ sung Thông tin bổ sung ấy thường được tạo ra từ sự hòa phối
âm thanh, từ sự hài hòa của thanh điệu Có thể thấy điều này qua nhiều đoạn
văn trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam:
(1)“Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như ngọn lửa sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”.
(2)“Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối Các nhà đã đóng cửa im ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng Trẻ con tụ họp nhau ở thềm hè, tiếng cười nói vui vẻ, khiến An thèm muốn nhập bọn với chúng để nô đùa, nhưng sợ trái lời mẹ dặn phải coi hàng, nên hai chị em đành ngồi yên trên chõng, đưa mắt theo dõi những người về nhà muộn, từ từ đi trong đêm”.
(3)“Liên vỗ vai em, ngồi xuống chõng An cũng ngồi xuống và ngả đầu vào vai Liên Tiếng vang động của xe hỏa đã nhỏ rồi, và mất dần trong bóng tối, lắng tai cũng không nghe thấy nữa Sao trên trời vẫn lấp lánh Cả phố huyện bây giờ mới thật là hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn Từ phía ga, bóng đèn lồng vói bóng người đi về; chị tí đương sửa soạn đồ đạc và bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, còn vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ”.
Đoạn (1) có 26 thanh bằng trên 26 thanh trắc, đoạn (2) có 55 thanh bằngtrên 53 thanh trắc, đoạn (3) có 54 thanh bằng trên 55 thanh trắc Chính nhờ sựphân bố hài hòa của các thanh bằng trắc như trên làm cho các đoạn văn manggiọng điệu buồn bã, tù đọng, trải dài trầm lặng như chính cuộc sống của chị
em Liên nơi phố huyện nghèo Không khí tù đọng của phố huyện nghèokhông chỉ được thể hiện bằng các hình ảnh cụ thể qua đôi mắt của chị em
Trang 18Liên; mà còn được bộc lộ qua chính những thanh âm đồng đều trĩu nặng củaphép hài thanh mà Thạch Lam đã sử dụng.
của Vũ Trọng Phụng sử dụng rất nhiều từ ngữ dùng trong tướng thuật, toán số
như các sao Quan Phù, Thái Tuế, Thiên quan quý nhân, Hồng loan, Thiên Hỷ,
các tuổi cầm tinh Dậu, Thân, (Giông tố); thân mệnh, âm dương, đường tử tức, cung quan lộc, thùy châu, tiền vận, hậu vận, Khốc Hư, phú, quý, khang, ninh, (Số đỏ).
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật rất chú ý sử dụng một lớp từ ngữ mangsắc thái văn chương Ví dụ cùng một từ chết - chỉ sự tắt thở, không còn sựsống - được sử dụng theo từ ngữ mang sắc thái văn chương với những cungbậc khác nhau
- Bác Dương thôi đã thôi rồi
Khóc Dương Khuê - Nguyễn
Khuyến Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương
Truyện Kiều, Nguyễn Du
- Sang ngày thứ hai, cô Lan đi mời các cụ trong chùa về đọc kinh siêu
thoát Đúng giờ ngọ trưa ngày thứ ba thì cụ đi.
Hàng xóm, Nguyễn Thắng
- Ba tôi viết khôi hài hơn nhưng rất thấm thía, con về mau nếu không thì ba
sẽ đi đoàn tụ với ông bà.
Trang 19Giấc mơ đi Mĩ, Tuyết Mai
- Ai chẳng biết chán đời là phải
Vội vàng chi đã mải lên tiên
Khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến
- Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Viếng lăng Bác, Vũ Phương
Điểm nổi bật thứ ba về đặc điểm từ vựng trong phong cách ngôn ngữchính là sự sáng tạo của nhà văn trong cách dùng từ Có thể thấy điều nàytrong nhiều tác phẩm của các nhà văn khác nhau Thông thường, người tadùng chữ hạt + danh từ chỉ cây/ vật
Nguyễn Huy Thiệp viết: "Trước mặt tôi, dòng sông đang thao thiết chảy"
“Thao thiết” có thể là từ phái sinh của từ “thao thao” (là từ Hán Việt, chỉ
“nước chảy cuồn cuộn”, Đào Duy Anh, tr 823), chỉ hình ảnh dòng nước chảynhanh, mạnh, không ngừng nghỉ như chính hành trình tìm kiếm sự thật vànhư chính nỗi buồn triền miên, bất tận của Chương (nhân vật trong truyện)
Về đặc điểm ngữ pháp: Do nguyên lí của văn chương là phản ánh cuộc
sống, nhất là thể văn tự sự thiên về tính hướng ngoại, tái hiện hiện thực kháchquan nên để bao quát được bề rộng và chiều sâu của hiện thực, các nhà vănthường tận dụng mọi kiểu câu tiếng Việt Đặc biệt là hay sử dụng các kiểucâu đặc biệt, câu dưới bậc, câu tỉnh lược tùy vào dụng ý của nhà văn
Ví dụ câu dưới bậc:
Trang 20“Sáng hôm sau Hắn thức dậy trên trên cái giường nhà hắn Hắn thấy
mình mẩy đau như dần, đầu nặng, miệng khô và đắng Cổ thì ráo và rất cháy” (Đời thừa - Nam Cao) Ở ví dụ này phần trạng ngữ chỉ thời gian được tách ra
thành một câu riêng với dụng ý mọi hoạt động xảy ra ở các câu sau đó đềubắt đầu từ cái “sáng hôm sau” ấy
Ví dụ câu đặc biệt:
- Chết! Chết! Lại đoán trúng đến cả những việc nhỏ nhặt thế nữa (Giông tố
- Vũ Trọng Phụng) Đây là dạng câu đặc biệt danh từ sử dụng cấu trúc cảmthán nhằm bộc lộ thái độ ngạc nhiên của những nàng hầu Nghị Hách trước tàixem số của cụ Hải Vân
Ví dụ câu tỉnh lược:
Vợ Trương Ba: Cái Gái chưa về hả ông?
Hồn Trương Ba: Chưa.
Hồn Trương Ba da hàng thịt - Lưu Quang Vũ.
Đây là loại câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ, thể hiện mối quan hệ nganghàng, gần gũi của Hồn Trương Ba và vợ
Riêng trong thơ, tồn tại những kiểu câu được gọi là cú pháp thơ ca Cókhi quan hệ cú pháp giữa các câu rất mờ
Ngoài ra, phong cách chức năng ngôn ngữ nghệ thuật còn đặc biệt chú ýviệc sử dụng triệt để các hình thức tu từ
Đây là phong cách ngôn ngữ mà người viết bao giờ cũng hướng đến sựsáng tạo Sự sáng tạo này gắn liền với hiện tượng lệch chuẩn như lệch chuẩn
về ngữ âm, về từ vựng ngữ nghĩa, về cú pháp; những hiện tượng bất thườngtrong ngôn ngữ thơ, hiện tượng phá cách trong các thể thơ truyền thống
1.2 Ngôn ngữ người kể chuyện
“Ngôn ngữ người kể chuyện là ngôn ngữ của tác giả hoặc của nhân vậtđược tác giả dùng để kể lại câu chuyện trong tác phẩm tự sự.[ ] Nhà văn
Trang 21dùng ngôn ngữ người kể chuyện để thuật lại cốt truyện, xây dựng người vàcảnh, thể hiện tư tưởng tình cảm, phát biểu ý kiến ”[9, tr.38, tập 2] Quangôn ngữ người kể chuyện kết hợp với ngôn ngữ đối thoại của nhân vật,người đọc sẽ nắm bắt được hiện thực cuộc sống được nhà văn tái hiện vàcũng nắm được tư tưởng tác phẩm, tư tưởng tác giả được bộc lộ trong tácphẩm.
Ở mỗi góc độ tiếp cận, ngôn ngữ người kể chuyện có những cách hiểukhác nhau
Dưới góc độ lí luận văn học, ngôn ngữ người kể chuyện cần được quantâm đến những vấn đề như kiểu lời đối thoại, kiểu lời kể chuyện, giọng điệungôn ngữ người kể chuyện Theo Trần Đình Sử, “tác giả không bao giờ hiệndiện trong tiểu thuyết như một người kể, người phát ngôn, mà chỉ xuất hiệnnhư một tác giả hàm ẩn, một cái tôi thứ hai của nhà văn, với tư cách là ngườimang hệ thống quan niệm và giá trị trong tác phẩm[ ] Người trần thuật là kẻđược sáng tạo ra để mang lời kể Và hành vi trần thuật là hành vi của ngườitrần thuật đó mà sản phẩm là văn bản tự sự” [23, tr 17]
Dưới góc độ phong cách học, ngôn ngữ người kể chuyện có thể đượcnghiên cứu ở tất cả mọi bình diện: ngữ âm, từ vựng- ngữ nghĩa, ngữ pháp,ngữ dụng học, tu từ học Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm đến các khíacạnh: các đơn vị tình thái trong ngôn ngữ người kể chuyện, lời tả và lời bìnhtrong nghệ thuật dẫn chuyện, các phương tiện và các biện pháp tu từ trongngôn ngữ người kể chuyện Tiếp cận ngôn ngữ người kể chuyện dưới góc độphong cách học giúp người đọc tài năng vận dụng sáng tạo ngôn từ và thôngqua đó, hiểu rõ hơn những vấn đề tư tưởng, tình cảm mà tác giả gửi gắm quanhững lớp sóng ngôn từ này
Trang 22Chương 2: MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NỔI BẬT TRONG
NGÔN NGỮ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG SỐ ĐỎ
CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 2.1 Các đơn vị tình thái trong ngôn ngữ người kể chuyện của Vũ Trọng
Phụng khảo sát qua Số đỏ
2.1.1 Các phương tiện ngữ âm
Các phương tiện ngữ âm biểu thị tình thái trong phát ngôn bao gồm ngữđiệu và nhấn giọng Ngữ điệu thực hiện chức năng tình thái ở chỗ nó có thểgiúp ta phân biệt được câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán thông quacác dấu câu Trong luận văn này chúng tôi chỉ khảo sát một số dấu câu thểhiện rõ rệt tính tình thái như dấu chấm hỏi, dấu chấm than
Bảng 2.1
Ngữ điệu tình thái qua dấu chấm, dấu hai chấm,
dấu ba chấm
Ngữ điệu tình thái qua dấu hỏi + chấm than 1 0,2
Nhằm mục đích tường thuật câu chuyện với một ngữ điệu tình thái kháchquan, ngôn ngữ người kể chuyện chủ yếu sử dụng dấu chấm câu Kết quảthống kê cho thấy các loại câu này chiếm tỉ lệ 94,3 %
Tuy nhiên, vấn đề tình thái đáng chú ý nhất qua các phương tiện ngữ âm
-chữ viết trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng chính là ngữ điệu tình
thái qua dấu hỏi (chiếm 1,8%) và qua dấu cảm thán (chiếm 3,7%) Dấu hỏiđược đặt ở cuối câu nghi vấn dùng trong văn bản đối thoại dùng để hỏi, cóngười đáp hoặc tự trả lời Nhưng ở đây, dấu hỏi được dùng trong các câu
Trang 23tường thuật của người kể chuyện, hỏi không nhằm mục đích để tìm kiếm câutrả lời mà là bày tỏ một sự nghi vấn nào đó Vợ chồng Văn Minh tự vấn xemmình phải xử sự như thế nào trước thanh thế rởm “mỗi ngày một to tướngmãi ra” của Xuân Tóc Đỏ Họ bị rơi vào trường hợp há miệng mắc quai nhưthế:
- Tuyên bố rằng Xuân vốn con nhà hạ lưu, làm nghề nhặt banh sân quần,
vì một trò dâm dục bỉ ổi mà phải đuổi?
- Thế thì còn đâu là những cái thích của bọn khách hàng phụ nữ vốn ưa cái nhanh mồm nhẹ miệng và những cử chỉ ngộ nghĩnh của Xuân Tóc Đỏ nữa?
Nỗi băn khoăn của ông Cẩm trước bản dự luật buộc sở cảnh sát phạt dânthành phố 4 vạn đồng và Ty cảnh sát chi nhánh này phải phạt cho được 5đồng:
- An Nam hay bị cẩm phạt phần nhiều chỉ một ít bồi, bếp, phu xe, hàng rong, còn thì toàn người Pháp cả, làm thế nào cho phạt đủ 5 nghìn bạc?
Nỗi lo âu, sự hoài nghi của bà Phó Đoan:
- Hay là cậu Phước sắp đòi về?
- Ông thầy số đã kêu số cậu Phước thọ lắm, hay là thầy số đoán nhảm?
- Vậy mà bây giờ thốt nhiên cậu lại “thế” thì bởi đâu?
Hỏi nhưng nhằm bày tỏ thái độ hoài nghi:
- Việc xây sân quần mà lại để cho cả xã hội văn minh thì bà có cần gì?
- Quả ban ấy có phải là để nhường nhịn không?
- Sao tài tử Xuân, giáo sư quần vợt, mà lại đến nỗi quốc sỉ như thế?
Thậm chí thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm:
- Và như thế thì ông Victor Ban càng giàu chứ sao?
- Còn về cái thù sinh tử nó chẳng đủ sợ, bởi lẽ ở đời này, mỗi lúc mà ai giết được ai?
Trang 24Hay là những câu hỏi tu từ, hỏi nhằm mục đích phủ định:
- Làm thế nào bây giờ? Câu hỏi này chính là để phủ định: “Không thể làm gì được!”
Hay là những câu hỏi tu từ, hỏi nhằm mục đích khẳng định:
- Cái gì mà mày không làm được, hở thể thao? Câu này khẳng định “thể
thao làm được tất cả.”
- Nhưng cụ cố Hồng còn cần gì cậy thầy xem số nữa?
- Cũng như người đời, cụ thấy sung sướng đầy đủ thì thôi chứ?
Bên cạnh dấu hỏi, không phải ngẫu nhiên mà ngôn ngữ người kể chuyện
trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng lại xuất hiện khá dày đặc các câu cảm thán.
Câu cảm thán thường được dùng để biểu hiện cảm xúc hoặc nhằm bộc lộtrạng thái tình cảm ở thời điểm nhất định: tức giận, ngạc nhiên, vui mừng
Với ngôn ngữ người kể chuyện trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, dấu cảm
thường bày tỏ thái độ mỉa mai châm biếm xen lẫn sự hoài nghi Chính những
điều này góp phần làm cho Số đỏ chứa giọng điệu giễu nhại, mỉa mai, châm
biếm Ví dụ nhại lại chân lý cổ động thể thao của Văn Minh và sự ngụy biệncho việc lười tập thể thao, sự mâu thuẫn giữa tuyên ngôn và hành động củaVăn Minh:
- Một linh hồn khỏe trong một cái xác thịt khỏe!
- Ông không thể thao, thể dục cũng không, vì không có thì giờ!
Mỉa mai, cười cợt hành động, việc làm của Xuân Tóc Đỏ:
- Thì ra nó bị bắt quả tang nhìn trộm một cô đầm lúc cô này thay váy để mặc quần đùi!
- Lần đầu! Nó cảm thấy đời nó từ nay dễ thường đã vào một kỉ nguyên mới.
- Còn ba miếng nữa lại thuộc hình tam giác, mà lại cũng có lỗ tròn ở giữa nữa, cái đó mới quái lạ cho chớ!
Trang 25- Xuân Tóc Đỏ vừa sung sướng vì đã tìm thấy chỗ hẹn vừa bất bình ở chỗ
bị mắng gián tiếp là đồ ngu!
- Thật là thuốc thánh!
Hoặc là những lời khẳng định đầy sự mỉa mai, chua chát của người kể
chuyện trước những sự việc là đời, buồn cười trong thế giới nhân vật Số đỏ:
- Trong 16 phố ấy chẳng may có khi xảy ra một sự gì phạm vào trật từ thì phần nhiều lại không thấy bóng vía các thầy cảnh sát đâu cả!
- Mười sáu phố cho hai người, việc tuần phòng thành ra gần như là việc tập đua xe đạp!
- Cảnh tượng ấy nếu không có cái giá trị quái gở, ít ra cũng hay ho chẳng kém một tấm ảnh khiêu dâm!
- Như vậy thật là sự đắc thắng của Bình dân vậy thay!
- Sau cùng thì mỗi khi ai mời Xuân một bữa cơm, là được một cái hân hạnh nữa rồi!
- Ấy là vì ông phán thấp cổ bé miệng nên tiếng than không thấu đến trời vậy!
- Ôi! Thật là một triệu chứng tốt cho thể thao nước nhà , mà chính lại
cũng là một bộ phận không nhỏ trong việc tạo nên một Số đỏ trào phúng giàu
chất mỉa mai, giễu nhại
2.1.2 Các phương tiện từ vựng
Như đã trình bày ở trước, trong tiếng Việt, phương tiện biểu thị tình thái
Trang 26thể hiện chủ yếu ở mặt từ vựng Vì vậy trong luận văn này, chúng tôi tậptrung khảo sát các phương tiện tình thái về mặt từ vựng trên ngữ liệu ngôn
ngữ người kể chuyện trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng và chia thành các
Theo Nguyễn Văn Điện, “trong tiếng Việt, các phụ từ làm thành phần phụcủa ngữ vị từ lại đóng vai trò như “thời” trong tiếng Anh” Vì vậy, trong luận
văn này, chúng tôi chỉ đi vào phân tích phó từ “đã” trong những trường hợp
biểu thị tình thái điển hình
a) Phó từ: “đã”.
Phó từ “đã” là từ biểu thị sự việc, hiện tượng đang nói đến xảy ra trước
hiện tại, thuộc về quá khứ Nhưng bên cạnh biểu thị ý nghĩa quá khứ, phó từ
“đã” cũng được dùng để chỉ một sự tình bắt đầu trong quá khứ nhưng còn
tiếp diễn trong hiện tại hoặc có thể diễn ra trong tương lai một cách chắc chắn
mới” không còn là viễn cảnh mà sắp thành hiện thực.
Ngoài ra, phó từ “đã” biểu thị những sự tình lặp đi lặp lại, mang tính quy
luật hoặc đã được minh chứng trước đó
Trang 27- Nghiệm như xưa kia, lúc bán phá xa, làm lính chạy cờ hiệu rạp hát, làm
nghề thổi loa của ông vua Thuốc Lậu Nam Kỳ, nó đã quen cái mồm đàn áp,
chinh phục, và làm rung động công chúng hơn ai [15, tr 685].
Động từ “quen” thể hiện một thói tính lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức
hoàn toàn thích nghi Phó từ “đã” bổ nghĩa cho động từ “quen”, nhấn mạnh
vào tính chất thói tính đã được hình thành từ lâu ở Xuân Tóc Đỏ
b) Phó từ: “sẽ”.
Qua quá trình khảo sát chúng tôi thấy rằng, không như những phụ từ đã
kể trước đó xuất hiện với một tần suất lớn, phụ từ biểu thị ý nghĩa thời tương
lai “sẽ” rất ít xuất hiện trong ngôn ngữ người kể chuyện qua Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng Ví dụ:
- Văn Minh vợ mơ màng một cách sung sướng rằng chỉ nay mai là sẽ
được ăn vận toàn trắng, một điều bà vẫn ao ước bấy lâu nay [15, tr 651].
“Sẽ” là từ biểu thị sự việc, hiện tượng nói đến xảy ra trong tương lai Ở
câu trên, nhờ sự kết hợp giữa động từ tình thái “được” với vế sau “ao ước”,
phó từ “sẽ” biểu thị tương lai như sắp diễn ra, thậm chí có thể thấy rõ ngay
trước mắt Tương tự như vậy, sự kết hợp của vế trước “mơ màng” với động
từ tình thái “được” làm cho phụ từ “sẽ” biểu thị một tương lai như sắp diễn ratrước mắt
- Văn Minh chồng ngồi hút thuốc lá Ăng lê, cũng mơ màng đến phần tài
sản mà ông sẽ được hưởng, nếu ông nội ông ta chết [15, tr 651].
c) Phụ từ biểu thị sự tiếp nhận sự tình một cách bị động hoặc chủ động của
chủ thể: mới.
Trong tiếng Việt, phụ từ “mới” biểu thị sự việc hoặc thời gian xảy rakhông lâu trước thời điểm nói Phụ từ mới còn biểu thị tính chất quá sớm củathời gian, hoặc quá ít của số lượng, mức độ Ví dụ:
- Hồi đương xuân, bà đã bị một người lính Tây hiếp, lúc bà mới ở nhà
Trang 28quê ra [15, tr 610].
Ở câu trên, nếu bỏ phụ từ “mới” đi thì nghĩa của câu vẫn đầy đủ Nhưngthêm phụ từ “mới” vào thì tính thời điểm “mới ở nhà quê ra” được nhấnmạnh Tức là nhấn mạnh tính chất quá sớm của thời gian
Hoặc là nhấn mạnh tính chất quá ít về mức độ, phụ từ “mới” nhấn mạnhtính chất chỉ mới “hơi hơi thành hình” của cái sân:
- Cái sân mới hơi hơi thành hình, vì người ta mới đổ nền bằng gạch đập
vụn và tưới một vài nước bích loong [15, tr 643].
Phụ từ “mới” biểu thị tính chất quá ít của số lượng, nhấn mạnh tính chất
tơ măng của Tuyết:
- Cô này là con gái út cụ Hồng, mới 18 tuổi đúng, rất có nhan sắc , lại
cũng sắp lãng mạn theo cái lối tân tiến rởm [15, tr.653].
2 Các vị từ tình thái làm chính tố trong ngữ động từ: toan, định, cố, muốn, đành, được, bị, bỏ, có thể, không thể,
Trong tiếng Việt, lớp từ này chủ yếu là động từ, chiếm một số lượng lớn,
có tính hệ thống và đóng vai trò quan trọng trong biểu thị tình thái của ngườinói đối với sự tình Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn đã phân loại vị từ tình thái động
từ thành nhiều lớp và nhiều nhóm nhỏ khác nhau
a) Lớp vị từ tình thái biểu thị sự bắt đầu một sự tình: chớm, bắt đầu.
Qua khảo sát, chúng tôi thấy Vũ Trọng Phụng hầu như ít sử dụng lớp vị
từ tình thái bắt đầu một sự tình Chúng tôi chỉ tìm thấy một vài trường hợp:
- Ấy thế là Xuân Tóc Đỏ bắt đầu dự vào cuộc cải cách xã hội [15, tr.
634]
Động từ “dự” chỉ sự góp phần bằng sự có mặt của Xuân Tóc Đỏ vào công
việc chung là cải cách xã hội “Bắt đầu”- chỉ việc bước vào giai đoạn đầu
của một công việc, một quá trình, một trạng thái Sự kết hợp giữa động từtình thái “bắt đầu” với động từ “dự” tạo nên một sự nhấn mạnh về việc Xuân
Trang 29có thêm một việc làm mới, có tính chất đánh dấu một bước ngoặt trong cuộcđời của Xuân Tóc Đỏ.
b) Lớp vị từ tình thái biểu thị sự kết thúc một sự tình nào đó: thôi, ngưng,
ngừng, bỏ, nghỉ, mất, hết, hả, dứt,
- Bà Phó Đoan ngừng kêu để nói [15, tr 734].
Vị từ tình thái “ngừng” biểu thị sự không tiếp tục hoạt động, hành động
“kêu” chấm dứt và chủ thể (bà Phó Đoan) chuyển sang một hành động khác.c) Lớp vị từ tình thái biểu thị sự tồn tại và tiếp diễn của một hoạt động trong
một khoảng thời gian nào đó: có, còn,
Vị từ tình thái “còn” biểu thị ý khẳng định về một hành động, tính chất
nào đó:
- Nó chỉ còn phải gánh vác cái trách nhiệm nặng nề là làm hại nốt một vị
quả phụ đã thủ tiết luôn với hai đời chồng nữa mà thôi [15, tr 698].
Kết hợp với động từ tình thái tính “’phải”, động từ tình thái “còn” nhấn
mạnh sự việc phải “gánh vác” thêm một cái trách nhiệm nặng nề hơn tráchnhiệm đã hoàn thành trước đó
Bên cạnh đó, vị từ tình thái “còn” còn biểu thị sự tiếp tục, tiếp diễn của
hành động, không phải đã hết cả hoặc đã mất đi:
- Nghĩa là lúc bà Phó Đoan chưa dậy, cũng như cậu Phước còn ngủ,
Xuân sung sướng được tự do, dẫu là trong nửa giờ [15, tr 732].
- Khi đoàn xe hơi có cờ lần lượt đi rồi, công chúng còn đứng lại, đông
nghìn nghịt, tốp này định chia buồn với Xuân, tốp kia định trách cứ Xuân [15,
tr 756]
d) Lớp vị từ tình thái biểu thị tính bất ngờ của sự tình: bật, phát, vụt, chợt,
sực, bỗng chốc, thình lình, bất thình lình, bất giác, lập tức, ngay lập tức,
Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng, trong lớp vị từ tình thái biểu thị tính bất
ngờ của sự tình thì vị từ tình thái “chợt” chiếm một tỉ lệ lớn đáng kể so với
Trang 30các từ còn lại.
“Chợt” là từ dùng để biểu thị sự việc xảy ra thình lình và trong khoảnh
khắc Chủ thể đang ở trong hoạt động, trạng thái này bỗng có một hoạt độngkhác đột ngột xen vào Ví dụ:
- Nói xong ông ta mới tưng hửng chợt nhớ ra đây là sở cẩm, chớ không
phải hiệu bánh tây của bà quản [15, tr 619].
- Mới nghe đến đấy, Xuân đã chợt thấy bóng bà Văn Minh thấp thoáng ở
nhà trong [15, tr 628 - 629].
e) Lớp vị từ tình thái biểu thị thái độ cố ý của chủ thể hành động: cố tình, cố
ý, vờ, vờ vĩnh, giả vờ, giả bộ, giả cách, tỏ vẻ, ra vẻ, có vẻ, ra bộ,
“Vờ” là động từ tình thái làm ra vẻ như, làm cho người ta tưởng thật lànhư thế “Vờ” thể hiện sự đối lập giữa hiện thực ở bên trong (Xuân Tóc Đỏsung sướng hết sức khi hay tin cụ Hống muốn gả Tuyết cho nó) so với cáibiểu hiện ở bên ngoài (giả vờ thở dài)
- Tuy nhiên nó cũng vờ thở dài mà rằng [15, tr 709].
Tương tự như trên, còn có các ví dụ sau:
- Cụ lang Tỳ ra vẻ giận dỗi mà rằng [15, tr 655].
- Dò mãi mới biết ra rằng, tên của vợ ông là Văn, của ông là Minh thì ông đặt ngay là Văn Minh, tên vợ ông ở trên tên ông, tên ông đội dưới, cho
nó có vẻ nịnh đầm [15, tr.610].
g) Lớp vị từ tình thái biểu thị nỗ lực của chủ thể hành động: ráng, cố, gắng,
cố gắng, gượng, nín, nhịn, đánh bạo, đánh liều,
Qua thống kê, chúng tôi thấy đây là một lớp từ ít xuất hiện trong ngôn
ngữ người kể chuyện trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng Động từ “cố” dùng
để chỉ việc đưa sức, đưa trí ra nhiều hơn bình thường để làm việc gì đó Vídụ:
- Thiếu niên cố nén cái tức, và cũng sợ nữa, bèn ấp úng [15, tr 730].
Trang 31“Nén” là hành động kìm giữ lại những tình cảm, cảm xúc đang trỗi lên
mạnh mẽ Kết hợp với động từ tình thái “cố” nhằm nhấn mạnh sự nỗ lực kìm
nén cái tức của người chồng chưa cưới của Tuyết
Động từ “đánh bạo” chỉ sự cố tỏ ra bạo dạn của Tuyết, dám làm những
việc thường hay e ngại, rụt rè
- Hồi lâu, Tuyết đánh bạo nói [15, tr 658].
Ngoài ra, còn có các ví dụ sau:
- Bà Phó vừa huýt hai tiếng còi thì con chó đã giơ hai chân trước lên, run
run hai chân sau, cố đứng, lưỡi lè dài, ra ý chào cậu bé ngồi tắm [15, tr.620].
- Nó cố nghĩ cũng không sao hiểu nỗi năm miếng gỗ ấy là những chữ gì
[15, tr.627]
- Tuyết cố làm cho ông bố đỡ buồn, kêu rằng cái phần danh dự của gia
đình cũng còn có cơ cứu chữa được, vì mọi người còn hy vọng vào Xuân [15,
tr 752]
h) Lớp vị từ tình thái biểu thị sự tiếp thu, tiếp nhận của chủ thể hành động: bị,
được, phải, chịu,
Trong tiếng Việt, để biểu thị sự việc đó mang lại điều tích cực, có lợi cho
chủ thể, sự tiếp nhận một cách chủ động thì người ta dùng vị từ “được”.
Ngược lại để biểu thị sự việc đó mang lại điều không tích cực, thiệt hại,không có ích cho chủ thể, sự tiếp nhận hành động một cách bị động của chủ
thể thì người ta dùng vị từ “bị”.
- Bà đã bị tẽn [15, tr 625].
- Nó không bất mãn ở chỗ ấy nhưng ở chỗ người ta không nhớ rằng nó
cũng cần phải được nghỉ ngơi cơm nước như mọi người khác [15, tr 636].
3 Nhóm vị từ biểu thị giả định hành động, trạng thái, tính chất, là không tồn tại, không có thật Các vị từ thuộc nhóm này như: toan, suýt, chực, hòng
Trang 32Tức là những từ này biểu thị ý chí của chủ thể đối với sự tình nhưng cuốicùng sự tình lại xảy ra trái ngược với ý chí đó của chủ thể, có ý định thựchiện ngay điều gì đó nhưng đã không làm được Ví dụ:
- Là vì Xuân Tóc Đỏ cứ sấn sổ đưa tay ra toan cướp giật ái tình [15, tr.
605]
- Sau khi phán mấy món để nhắm rượu, đã toan đem chuyện bà Phó
Đoan, tương lai, vợ con, công danh để hỏi ông thầy số mà nó đã tin là Quỷ Cốc phục sinh và Gia Cát tân thời [ ] [15, tr 738].
- Nó toan sửa soạn một cái chào long trọng thì hai thầy cảnh sát đều đã
đứng dừng lại ở hai bực thang, để tay lên chào nó theo kiểu nhà binh, và cùng nói [15, tr 742].
- Đã toan nhắm nghiền mắt lại Nhưng cụ phải mở to hai mắt, vì ngoài
cửa thấy thấy tiếng xe hơi đỗ ròi tiếng giày lộp cộp vang lên [15, tr 758].
Vị từ tình thái “toan” ở các câu trên đều biểu thị một hành động sắp xảy
ra của chủ thể nhưng cuối cùng không xảy ra được vì bị một hành động khác
ngăn trở Qua đó ta thấy rằng, Vị từ tình thái “toan” được sử dụng để biểu thị
một dự định gần sát với hiện tại của chủ thể hành động về một sự tình và sựtình đó diễn ra trái với dự định của chủ thể hành động
Cùng với nguyên sắc thái ý nghĩa với vị từ tình thái “toan”, nhưng vị từ tình thái “định” biểu thị một dự định có thể xa với hiện tại, không gấp gáp,
có thể thực hiện lúc đó, có thể vào một thời gian sắp tới Ví dụ:
- Khi đoàn xe hơi có cờ lần lượt đi rồi, công chúng còn đứng lại, đông
nghìn nghịt, tốp này định chia buồn với Xuân, tốp kia định trách cứ Xuân
[15, tr 756]
Những ông phóng viên các báo định họp nhau chất vấn cái thái độ của
Xuân, vì mọi người rất lấy làm ngờ vực cái giơ tay cuối cùng [15, tr 756]
4 Nhóm vị từ tình thái biểu thị sự mong muốn của chủ thể hành động, như:
Trang 33mong, muốn, ước, ngại, lo, dự tính, dự định, quyết, định bụng
Động từ tình thái “muốn” biểu thị cảm thấy có sự đòi hỏi được làm một
việc gì hoặc muốn có cái gì
- Ông muốn gặp ngay Xuân để trả nốt năm đồng, trước khi buôn bán
cũng phải giữ chữ tín làm đầu [15, tr 715].
Ở câu trên, việc “ông muốn” không giả định là có thực hiện được haykhông vì sự tình được “muốn” không thuộc sự quyết định của chủ thể hànhđộng (của ông phán mọc sừng) mà nó phụ thuộc vào sự quyết định của đốitượng hành động (Xuân Tóc Đỏ) Ngoài ra, còn có các dẫn chứng sau về vị từtình thái biểu thị sự mong muốn của chủ thể hành động:
- Bởi vậy, hôm nay Tuyết và Xuân rủ nhau lên đây, cô thì vì tư tưởng giải
phóng muốn bị mang tiếng là hư hỏng, cậu thì vì cái trách nhiệm muốn làm
hại đời một tiểu thư khuê các [15, tr 671].
- Hai người lạch bạch chạy theo, rối rít như những ai muốn được mục
kích những cảnh ái tình của người khác [15, tr 679].
- Những câu hỏi ấy đã khiến Tuyết đau khổ một cách rất chính đáng, có
- Vợ ông gõ vợt xuống sàn ba cái ra hiệu hãy ngừng cuộc, rồi đến với
ông [15, tr.696].
Trang 34“Đừng” biểu thị ý khuyên ngăn, bảo không nên nói hay làm một việc gì
đó Kết hợp với trợ từ “có” nhằm nhấn mạnh thêm về sắc thái khẳng địnhtrong lời khuyên ngăn
- Nào là kiểu quần áo trong phòng ngủ để phụ nữ có những thế lực nhắc
nhỏm cho chồng hoặc nhân tình đừng có sao nhãng cái nghĩa vụ tối thiêng
liêng của những bậc nam nhi [15, tr.627].
6 Các quán ngữ tình thái biểu thị sự ước đoán, suy đoán, suy luận: độ, độ chừng, có thể, hình như, muốn chừng, muốn như, có lẽ, ý chừng, tưởng chừng, thiết tưởng,
- Cái học thức của Xuân Tóc Đỏ chỉ đủ cho hắn biên được sổ thợ giặt chứ chưa đủ để hắn đọc những chữ khó đọc như những kiểu chữ tân thời mà
những nhà nghệ sĩ chế kiểu hình như để cho không ai đọc được nữa [15, tr.
626]
- Ông thấy hình như cậu bé không có bệnh tật gì cả vậy mà bà mẹ cậu cứ
bảo cậu mới mắc bệnh thì tất nhiên cậu phải có bệnh [15, tr 699 - 700].
- Mặt trời chưa kịp xuyên qua những tầng mây bạc, hình như sợ phiền
cho cuộc tình duyên tốt đẹp kia [15, tr 729].
“Hình như” trong các câu trên là tổ hợp biểu thị ý phỏng đoán một cách
dè dặt, không chắc chắn lắm, dựa trên những gì trực tiếp cảm thấy được
7 Các tiểu tình thái từ cuối câu và tổ hợp đặc ngữ (idom) tương đương: à,
ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết,
“Thôi” biểu thị ý nhấn mạnh sự hạn chế về phạm vi, mức độ của sự tìnhđược nói đến:
- Đêm ấy, khi mọi người đi ngủ thì trong phòng người ốm chỉ có Xuân
Tóc Đỏ và cô Tuyết săn sóc mọi việc mà thôi [15, tr 658].
- Đối lại kết quả bất ngờ ấy, Xuân Tóc Đỏ chỉ việc cổ động cho ông thầy
số là Quỷ Cốc Tử tái thế, ấy chỉ có vậy thôi [15, tr 659].
Trang 358 Các trợ từ: đến, những, nỗi, nào, ngay, cả, chính, đích thị,
Qua khảo sát tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, chúng tôi thấy rằng
Vũ Trọng Phụng sử dụng phong phú các trợ từ với một số lượng lớn và tần sốkhá dày đặc
Trợ từ “đến” biểu thị ý nhấn mạnh về tính chất bất thường của một hiện
tượng để làm nổi bật mức độ cao của một việc nào đó Kết hợp với trợ từ
“chính”, một lần nữa nhấn mạnh thêm rằng đích xác là ông Hai, không phải
ai khác - người mà ngày đêm chăm sóc cụ Cố Hồng- cũng lăn ra ngủ mê ngủmệt Sự việc “ngủ mê ngủ mệt” của ông Hai chính là một hiện tượng bấtthường, và điều này càng làm cho việc Tuyết lấy chữ hiếu để thức cùng Xuâncàng có “ý nghĩa”
- Đến chính ông Hai cũng ngủ mê ngủ mệt ử một cái trường kỷ gần đấy,
vì ông đã hơi yên tâm là cụ tổ được mạnh khỏe đến nơi rồi [15, tr 658].
- Ngay đến con gái ông, ông cũng không dám dạy bảo gì, mỗi khi cô Nga
ra tỉnh mà tải về làm một ít ngôn ngữ hoặc cử chỉ của cuộc văn minh tiến bộ
ở xứ ta [15, tr 655].
Trợ từ “những” biểu thị ý nhấn mạnh số lượng quá nhiều, nhấn mạnh
tính chất ngập tràn của một trạng thái tâm lí, tình cảm
- Là vì cậu Phước, đã hai bữa nay không hiểu vì lẽ gì mà ăn mỗi bữa
lại kém những một bát cơm [15, tr 694].
- Đến nơi mới biết kỳ thủy chỉ có một cái sự lạ là cậu Phước hắt hơi luôn
những bốn cái một lúc [15, tr 697].
Trợ từ “nào” biểu thị ý nhấn mạnh tính chất tập trung vào cùng một nơi,
một lúc của những sự vật, sự việc được liệt kê [20, 844]
- Nào là áo cổ bành bẻ cổ tay đuôi tôm để các bà các cô diện phố xá Nào kiểu đi tắm để các bà các cô khoe cái mỹ thuật về xác thịt tại bờ biển Nào là kiểu quần áo trong phòng ngủ để phụ nữ có những thế lực nhắc nhỏm
Trang 36cho chồng hoặc nhân tình đừng có sao nhãng cái nghĩa vụ tối thiêng liêng của những bậc nam nhi [17, tr 626].
- Nào là những cái ngực khiêu khích đeo những cóocsê lụa viền đăng , nào là những bắp đùi lồng trong những bít tất lụa, nào là những áo lót mình,
những quần đùi, tóm lại thì đủ cả những cái có thể gợi xuân tình trong lòng một ông cụ già đã ăn khao bẩy mươi [15, tr 629].
- Bà đã kiêng khem đủ thứ, và tránh những tiếng “quở quang” rất kỹ
lưỡng cho cậu Phước, nào bán khoán, nào đội bát nhang, nào cúng, nào sớ
tấu: thôi thì chẳng thiếu thứ gì nữa [15, tr 695].
Trợ từ “cả” biểu thị ý nhấn mạnh về mức độ cao, phạm vi không hạn chế
của sự việc
- Bên trong cái quần và cái áo chỉ có cóocsê và cái quần đùi đen thôi, nên
chi cái người đàn bà gỗ tuyệt đẹp ấy để lộ cả một nửa bộ ngực trên, cả hai
cánh tay, và từ hai bên bẹn trở xuống trông cũng rõ mồn một [15, tr 631].
- Trận đấu khẩu của hai vị danh sư làm cho ông lão 80 tuổi đương nằm
rên mà tỉnh hẳn người ra như không ốm đau gì cả [15, tr 657].
- Ai cũng sợ hãi, không dám nói gì cả [15, tr.713].
Trợ từ “chính” biểu thị ý nhấn mạnh rằng đích xác như vậy, không phải
ai khác, không phải gì khác
- Vì lần ấy là lần đầu tiên ở vào một bữa tiệc có những nghi lễ như thế,
được hưởng những cái danh dự mà chính nó cũng không biết, Xuân Tóc Đỏ
tưởng mình không phải đáp lời gì ai nữa, cứ việc vỗ tay thật kêu [15, tr 684].
- Chính ông ta cũng không ngờ rằng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên
đầu ông ta mà lại to đến như thế [15, tr 714].
Trợ từ “chỉ, chỉ còn” nhấn mạnh ý nghĩa khẳng định có giới hạn, chỉ rất ít,
rất thấp về mức độ “Chỉ” là từ biểu thị phạm vi được hạn định, không có gì,không có ai thêm nữa [20, tr 209]
Trang 37- Ông thấy chỉ một mình ông vất vả thì lòng hiếu đễ càng tăng [15, tr.
655]
- Xuân cứ lầm lầm cái mặt, đi đi lại lại độ 10 phút nữa: chỉ có tiếng gót
giày của nó là phá tan cái không khí yên lặng của gian phòng [15, tr.713].
- Xuân Tóc Đỏ chỉ nghe lỏm được có thế [15, tr 741].
- Nó chỉ còn thấy lòng tự ái của kẻ vô học liều lĩnh [15, tr 711].
9 Các từ ngữ chêm xen biểu thị tình thái: nó biết cóc gì, mua cha nó cho rồi, hỏi cái đếch gì, biết khỉ gì mà hỏi,
Các từ ngữ chêm xen biểu thị tình thái thường được sử dụng trong các lờithoại nhằm thể hiện cá tính của nhân vật Trong ngôn ngữ người kể chuyện
của tiểu thuyết Số đỏ, Vũ Trọng Phụng rất ít khi sử dụng các từ ngữ chêm xen
biểu thị tình thái
- Nó lẩm bẩm: “Mẹ kiếp, chứ lại chữ với chả nghĩa!”[15, tr.627].
10 Kiểu câu điều kiện giả định: nếu thì, giá thì, cứ thì, nếu sẽ,
Vũ Trọng Phụng cũng sử dụng khá phong phú kiểu câu điều kiện giảiđịnh này Trong đó, “nếu , giá , cứ ” đóng vai trò biểu thị giả định tìnhhuống sự tình và “thì, sẽ” đóng vai trò giả định kết quả mang lại Ví dụ:
- Ông cụ già không biết rằng nếu cái chết của mình lại có lợi cho con cháu đến như thế thì con cháu không khi nào lại muốn cụ cứ sống như thế
mãi, dù là một ngày, dù là một giờ [15, tr 652].
Nghĩa tình thái của câu này là ở khả năng thực hữu của 2 vế A (cái chếtcủa mình lại có lợi cho con cháu đến thế) và B (con cháu không khi nào lạimuốn cụ cứ sống như thế mãi, dù là một ngày, dù là một giờ) trong kết cấu
“nếu A thì B”, “giá A thì B”, “nếu A sẽ B” Do có “nếu”, “giá” phía trước mà
A chưa thực hữu Đồng thời, nghĩa tình thái thứ hai là quan hệ kéo theo, Akéo theo B, do A chưa thực hữu nên B chưa thực hữu
Tương tự như vậy, có thể dẫn các ví dụ sau:
Trang 38- Đức vua nước nhà quan Toàn quyền và Thống sứ đều băn khoăn lắm, vì
nếu Đông Pháp nhân đó mà được danh tiếng về mặt thể thao thì, đối lại về
mặt ngoại giao có thể rầy rà, lôi thôi [15, tr 754].
- Trong cái chậu thau khổng lồ, một cậu bé to tướng mũm mĩm, mặt trông
ngẩn ngơ, giá đứng lên thì ít ra cũng cao lớn hơn một thước tây, ngồi vầy
nước như một đứa trẻ lên ba [15, tr 620].
- Về phần cụ Hồng, rất thích được có chàng rể như ông đốc tờ Xuân, thấy
con giai nói thế thì cũng bằng lòng vậy, mặc dầu giá xong việc ngay thì cụ
sung sướng hơn nữa [15, tr 718].
Qua khảo sát ngôn ngữ người kể chuyện trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng, chúng tôi nhận thấy Vũ Trọng Phụng không sử dụng các vị từtình thái chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề, các vị từ
đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá: may (là), may một cái (là), đáng buồn
(là), đáng mừng (là), đáng tiếc (là), , và các liên từ biểu thị tình thái: thì ra, huống chi, thật vậy, thật ra, để rồi, đã vậy, thế rồi, thế là, rồi thì, thôi thì, ;
lớp vị từ tình thái biểu thị trạng thái tâm lý bất tự giác - tự giác của chủ thể
hành động: buồn, mót, mắc, thích, ham, ưa, ưng, mê, thèm, không thèm,
2.1.3 Các phương tiện ngữ pháp
Như đã trình bày ở trên, các phương tiện biểu thị tình thái được thể hiệnchủ yếu ở phương tiện từ vựng Về phương tiện ngữ pháp, xét về mục đíchgiao tiếp, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát thông qua 4 dạng: câu trình bày, câunghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán
Qua khảo sát ngôn ngữ người kể chuyện qua Số đỏ của Vũ Trọng Phụng,
chúng tôi thấy Vũ Trọng Phụng chủ yếu sử dụng loại câu trình bày Nhưng,phương tiện ngữ pháp biểu thị tình thái rõ rệt nhất trong ngôn ngữ người kể
chuyện trong Số đỏ chính là câu cảm thán Câu cảm thán dùng các tiểu từ chuyên dụng như: thay, cho,