MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT VỚI CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC PHÂN TÍCH CÂU VĂN TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN KHI NGƯỜI TA TRẺ CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH .... Đối với đề tà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRÂM
CẤU TRÚC CÂU VĂN TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN
“KHI NGƯỜI TA TRẺ” CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH DƯỚI
GÓC NHÌN NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng, tháng 04/2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRÂM
CẤU TRÚC CÂU VĂN TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN
“KHI NGƯỜI TA TRẺ” CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH DƯỚI
GÓC NHÌN NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS HỒ TRẦN NGỌC OANH
Đà Nẵng, tháng 04/2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Kết thúc luận văn tốt nghiệp của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy
cô khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm - ĐH Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp cho tôi nhiều kiến thức quý báu, giúp tôi có nền tảng kiến thức để thực hiện luận văn này
Tôi muốn gửi lời tri ân sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn - ThS Hồ Trần Ngọc Oanh đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình
Tuy đã cố gắng nhưng chắc rằng luận văn vẫn còn nhiều sai sót, kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô giáo để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2018
Kí tên
Nguyễn Thị Phương Trâm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan công trình nghiên cứu dưới đây là của riêng tôi Nội dung
nghiên cứu và kết quả trong đề tài là trung thực và chưa công bố dưới hình thức
nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ việc phân tích, đánh giá nhận xét
do chính tôi thống kê thu thập được
Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung khoa học trong luận văn của
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CT C-V: Cấu trúc chủ-vị CTCP: Cấu trúc cú pháp
CT Đ-T: Cấu trúc Đề-Thuyết
CT NBH: Cấu trúc nghĩa biểu hiện CTTT: Cấu trúc thông tin
Đ: Đề ĐTTT: Động từ tình thái NPCN: Ngữ pháp chức năng PTVA: Phan Thị Vàng Anh QHSS: Quan hệ so sánh QHTT: Quan hệ tồn tại T: Thuyết
TĐ: Tiêu điểm TĐTT: Tiêu điểm thông tin Tr.N: Trạng ngữ
TTC: Thông tin cũ TTM: Thông tin mới VD: Ví dụ
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
1 Bảng thống kê các kiểu cấu trúc câu văn theo bình diện CT Đ-T 26
2 Bảng thống kê tần số xuất hiện của các tác tử THÌ, LÀ, MÀ 33
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục đề tài 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 CÂU VÀ PHÂN LOẠI CÂU 7
1.1.1 Khái niệm câu 7
1.1.2 Phân loại câu theo cấu trúc cú pháp 7
1.2 LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN TRONG NGHIÊN CỨU CÂU TIẾNG VIỆT 8 1.2.1 Câu tiếng việt nhìn từ bình diện kết học 8
1.2.2 Câu tiếng việt nhìn từ bình diện nghĩa học 12
1.2.3 Câu tiếng việt nhìn từ bình diện dụng học 16
1.3 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ TÁC PHẨM 18
1.3.1 Phan Thị Vàng Anh - một cây bút tài năng, đa phong cách 18
1.3.2 “Khi người ta trẻ” – bức tranh sinh động cuộc sống con người trẻ 20
CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC CÂU VĂN TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN KHI NGƯỜI TA TRẺ CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH NHÌN TỪ CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT VÀ CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN 23
2.1 CÂU NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẤU TRÚC ĐỀ -THUYẾT 23
2.1.1 Các loại Đề trong cấu trúc Đề - Thuyết 23
Trang 82.1.2 Khảo sát và miêu tả câu nhìn từ bình diện Đề - Thuyết 25
2.1.3 Các tác tử phân chia Đề - Thuyết 28
2.1.4 Quan hệ về nghĩa giữa Đề và Thuyết 33
2.2 CÂU NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN 34
2.2.1 Cấu trúc vị tố 35
2.2.2 Tham thể và cảnh huống 44
2.2.3 Loại hình sự thể 46
CHƯƠNG 3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT VỚI CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC PHÂN TÍCH CÂU VĂN TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN KHI NGƯỜI TA TRẺ CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH 49
3.1 MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT VỚI CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN 49
3.1.1 Trong câu hành động và câu quá trình 49
3.1.2 Trong câu trạng thái và câu tồn tại 51
3.1.3 Trong câu quan hệ 54
3.2 Ý NGHĨA CỦA CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT VÀ CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN VỀ VIỆC PHÂN TÍCH CÂU VĂN TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN KHI NGƯỜI TA TRẺ CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH 58
3.2.1 Thể hiện quan niệm sáng tác của Phan Thị Vàng Anh 58
3.2.2 Miêu tả tính cách, chân dung nhân vật 61
3.2.3 Tạo dựng phong cách riêng cho nhà văn 62
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 67
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Từ trước đến nay, việc phân tích cấu trúc câu tiếng Việt chủ yếu là dựa theo
quan điểm của ngữ pháp truyền thống đó là cấu trúc chủ - vị (CT C-V) Tuy nhiên, trong quá trình phân tích nhiều nhà ngôn ngữ học đã thấy được sự hạn chế của ngữ pháp truyền thống Vì vậy, ngữ pháp chức năng (NPCN) ra đời nhằm phản ánh đúng đắn thực chất của cấu tạo câu tiếng Việt Nó cho phép giải quyết hầu hết những loại câu mà ngữ pháp truyền thống cho là câu đặc biệt, câu đảo trật tự cú
pháp và những loại câu không biết sắp xếp vào hình thức câu nào
Với ngữ pháp chức năng, các hiện tượng ngôn ngữ đã được các nhà ngôn ngữ học xem xét trên cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng và đặc biệt là mặt ngữ nghĩa Chúng ta cần phân biệt rõ ràng ba bình diện trên, không lẫn lộn bình diện này sang bình diện kia
Đối với đề tài: “Cấu trúc câu văn trong tập truyện ngắn Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh dưới góc nhìn ngữ pháp chức năng”, chúng tôi chỉ nghiên cứu
câu trên hai bình diện của NPCN; thứ nhất, câu nhìn từ bình diện cấu trúc Đề - Thuyết (CT Đ-T); thứ hai, câu nhìn từ bình diện cấu trúc nghĩa biểu hiện (CTNBH)
để từ đó làm rõ hơn về cấu trúc của câu Với đề tài, chúng tôi mong rằng nó sẽ góp phần làm rõ về cấu trúc của câu tiếng Việt nhìn dưới góc nhìn NPCN mà cụ thể từ hai bình diện được nêu trên
1.2 Phan Thị Vàng Anh là một trong những nhà văn trẻ của nền văn học
Việt Nam hiện đại Chỉ trong một thời gian ngắn Phan Thị Vàng Anh đã liên tiếp nhận được nhiều giải thưởng cho tác phẩm thuộc các thể loại:
Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994 cho tập truyện ngắn Khi người ta trẻ; Giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội cho tập thơ Gửi VB Chọn tập truyện ngắn Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh làm đối tượng cho đề tài
nghiên cứu của mình, chúng tôi hi vọng có thể làm rõ hơn về phần cấu trúc câu văn cho tác phẩm hết sức có giá trị này, đặc biệt nó lại được nhìn với góc độ khác của NPCN
Cho đến nay, Phan Thị Vàng Anh vẫn còn là một hiện tượng chưa thật sự được các nhà nghiên cứu khai thác quá nhiều về những đặc điểm từ nội dung cho tới
Trang 10hình thức Tuy số lượng tác phẩm của chị không nhiều, nhưng với tài năng của mình, chị đã mang lại cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm độc đáo và có giá trị Vì vậy, cây bút trẻ Phan Thị Vàng Anh ngày càng được quan tâm và nghiên cứu sâu sắc hơn Không chỉ qua nội dung được giới nghiên cứu nhìn nhận và đánh giá,
mà bên cạnh đó tạo nên phong cách riêng cho Phan Thị Vàng Anh còn là qua việc chị sử dụng câu văn, từ ngữ vào trong các tác phẩm của mình
Để làm rõ cho tài năng sáng tạo của Vàng Anh, chúng tôi đã quyết định lựa
chọn đề tài “Cấu trúc câu văn trong tập truyện Khi người ta trẻ của Phan Thị
Vàng Anh dưới góc nhìn ngữ pháp chức năng” để nghiên cứu Nghiên cứu đề tài
này, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc đưa ra một cái nhìn rộng hơn về những đặc điểm nổi trội trong sáng tác của Phan Thị Vàng Anh, đặc biệt là đi sâu vào việc phân tích cấu trúc câu nhìn từ bình diện Đề - Thuyết và bình diện cấu trúc nghĩa biểu hiện Bên cạnh đó, chúng tôi hi vọng công trình sẽ góp một phần nhỏ vào công việc giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ nói chung cũng như cấu trúc câu văn nói riêng
2 Lịch sử vấn đề
Cấu trúc câu văn là một vấn đề khá rộng và hiện nay đã có nhiều người nghiên cứu Từ những góc nhìn khác nhau, theo những quan niệm khác nhau mà cấu trúc của câu cũng trở nên đa dạng và có nhiều cách hiểu Trong lịch sử nghiên cứu của ngôn ngữ học, so với các đơn vị khác như âm vị, hình vị, từ, cụm từ, văn bản thì câu là đơn vị có thể coi là được nghiên cứu nhiều nhất
2.1 Những quan niệm về cấu trúc câu văn dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng:
Trường phái miêu tả Mĩ (chủ nghĩa miêu tả, chủ nghĩa phân bố) cho rằng
“câu là một cấu trúc hình vị kết hợp theo quy tắc nhất định”; trường phái ngữ vị học Copenhague - Đan Mạch, lí thuyết mở đường cho phương pháp phân tích nghĩa hành các thành tố ngữ nghĩa của câu; trường phái cấu trúc - chức năng; ngữ pháp tạo sinh [14]
Đặc biệt, đối với đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu cấu trúc câu dưới góc nhìn của NPCN Ngoài mô hình ba bình diện trong ngôn ngữ học hiện đại đã có rất nhiều mô hình lí thuyết của cấu trúc câu như: Lí thuyết kí hiệu học của
Ch.W.Morris, mô hình của S Dik (1981), Mô hình Lí thuyết ba quan điểm của C
Trang 11Hagège, Mô hình tam phân của M.A.K Halliday, mô hình ba bình diện của ngữ pháp chức năng Tuy nhiên, đối với đề tài của chúng tôi về việc phân tích cấu trúc
câu văn trong tập truyện ngắn Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh, chúng tôi đi
nghiên cứu đối tượng dựa trên hai bình diện nhìn từ bình diện CT Đ-T, bình diện CTNBH
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã nghiên cứu: Trong cuốn Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo đã áp dụng lí thuyết Đề - Thuyết vào việc phân tích cấu trúc câu tiếng Việt Trong Ngữ pháp chức năng, quyển 1 - Câu trong tiếng Việt do Cao Xuân Hạo chủ biên cùng các tác giả khác là Hoàng Xuân
Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm đã phân tích và phân loại cấu trúc ngữ pháp
của câu trên ba bình diện: cấu trúc - nghĩa - công dụng Trong Ngữ pháp Việt Nam,
Diệp Quang Ban đã đi phân tích cú pháp tiếng Việt theo quan niệm của Ngữ pháp chức năng áp dụng trên lí thuyết của Halliday để phân tích câu Từ đó phân loại rõ ràng cấu trúc của câu tiếng Việt: cấu trúc cú pháp, cấu trúc NBH, cấu trúc thức, cấu trúc đề qua đó cho thấy được nhiều điểm mới trong việc phân tích câu Trong Luận
văn thạc sĩ Ngôn ngữ học “Đặc điểm câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh nhìn
từ bình diện cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc nghĩa biểu hiện, cấu trúc thông tin”, tác
giả Trần Thanh Huyền, ĐHSP Đà Nẵng đã làm rõ cấu trúc của câu đơn trên cả ba bình diện
Qua những nghiên cứu trên cho thấy, cấu trúc câu tiếng Việt đã được nghiên cứu trên cả ba bình diện, mà nhiều hơn là đi nghiên cứu trên ba bình diện của ngôn ngữ học hiện đại là ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Tuy ba bình diện CT Đ-T, bình diện cấu trúc NBH, bình diện CTTT vẫn còn chưa được nghiên cứu nhiều hơn Nhưng thông qua các nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như Việt Nam đã góp phần to lớn vào công cuộc nghiên cứu ngữ pháp nói chung cũng như ngữ pháp tiếng Việt nói riêng Tuy nhiên, để thu hẹp hơn trong để tài của mình,
chúng tôi chỉ đi sâu phân tích cấu trúc câu tiếng Việt thông qua truyện ngắn “Khi người ta trẻ” của Phan Thị Vàng Anh trên hai bình diện chính là bình diện CT Đ-T
và bình diện NBH
2.2 Phan Thị Vàng Anh đến với văn học đầu tiên là làm thơ, viết nhiều và viết rất
tự nhiên Vàng Anh viết truyện in báo Khăn Quàng Đỏ Ngay sau khi tốt nghiệp
Trang 12Đại học Y Khoa, Vàng Anh cho xuất bản tập truyện Khi người ta trẻ và tập truyện
lập tức gây dư luận Cuốn này được tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm
1994 Hai năm sau chị trở thành hội viên Hội Nhà văn Các đề tài nghiên cứu, những nhận xét về Phan Thị Vàng Anh nói chung, tác phẩm của chị nói riêng và
đặc biệt là tập truyện Khi người ta trẻ được chúng tôi tổng hợp bao gồm:
Nhận xét về con người Phan Thị Vàng Anh, tác giả Lê Hoàng trong Chuyên mục Làng văn nghệ có viết: “Vàng Anh là một thiếu nữ không đẹp cũng không xấu,
không béo cũng không gầy, không cao cũng không thấp, không trắng cũng không đen Nhưng chắc chắn rằng không ngu mà thông minh Thậm chí quá thông minh hãy cẩn thận khi tranh luận với nàng Vàng Anh có sự tư duy chính xác mà tất cả đàn ông đều thèm khát Tư duy của nàng nhanh như tia chớp, sắc như dao và nhọn hoắt như một cây kim” [9] Lê Hoàng đánh giá rất cao về con người, tính cách, tài năng Phan Thị Vàng Anh Sáng tác của Phan Thị Vàng Anh ngay từ khi ra đời đã nhận được không ít ý kiến đánh giá từ các nhà phê bình cũng như bạn đọc
Nhà văn Nguyễn Khải từng khen Phan Thị Vàng Anh một câu ngắn:
“Nguyễn Huy Thiệp mặc váy” Tác giả Huỳnh Như Phương, Vương Trí Nhàn…cũng có những bài viết ghi nhận và đánh giá cao tài năng của Phan Thị Vàng Anh
Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh cũng là đối tượng nghiên cứu của một số
luận văn Thạc sĩ như Phong cách truyện ngắn hai cây bút nữ Phan Thị Vàng Anh và Nguyễn Ngọc Tư (tác giả Ngô Thị Diễm Hồng - ĐHSP Hà Nội 2009), Cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của Phan Thị Vàng Anh (tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng - ĐHSP Hà Nội 2006); Đặc điểm truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh (tác giả Đinh Thị Hồng Hạnh - Đại học Thái Nguyên); Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh (tác giả Đào Thị Hường - ĐHSP Hà Nội 2011)
Ngoài các đề tài nghiên cứu về Phan Thị Vàng Anh và những truyện ngắn của chị còn có các bài báo, tạp chí nói về đối tượng này: Theo Báo Tuổi trẻ in vào
ngày 24/10/2011, có viết về tản văn của Phan Thị Vàng Anh với đề bài Sự quyết liệt
có “mác” Vàng Anh Vàng Anh lấy bút danh là Thảo Hảo, hồi tản văn ra mắt, mọi
người ngay lập tức xếp tác giả của chúng vào hàng cây bút xuất sắc nhất của thể
loại này PGS.TS Hồ Thế Hà viết trong báo Quân đội nhân dân: “Đặc sắc truyện
Trang 13ngắn Phan Thị Vàng Anh” nhận xét “thế giới truyện ngắn của Vàng Anh” rất riêng
và lạ [17]
Như vậy, theo những tổng hợp về các nghiên cứu liên quan đến đối tượng đề tài của mình, chúng tôi thấy rằng có khá nhiều đề tài viết về cấu trúc câu văn trong tiếng Việt và nghiên cứu về tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh Tuy nhiên, hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về câu văn Phan Thị Vàng Anh dưới góc độ ngữ
pháp chức năng Vậy nên, với đề tài nghiên cứu “Cấu trúc câu văn trong tập truyện Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh dưới góc nhìn ngữ pháp chức năng” chúng
tôi thấy rằng đây là một vấn đề khá mới mẻ và có tính khả thi
3 Mục đích nghiên cứu
Khoá luận chủ yếu hướng vào những mục đích nghiên cứu sau: hệ thống hóa các kiểu cấu trúc câu trong tiếng Việt ở hai bình diện cấu trúc Đề - Thuyết, cấu trúc nghĩa biểu hiện; từ đó góp phần nhận diện và đề xuất phương pháp phân tích câu từ
lí thuyết ba bình diện; đồng thời chỉ ra phong cách riêng khi sử dụng câu văn trong
tập truyện Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là: cấu trúc câu văn dưới góc nhìn ngữ
pháp chức năng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu trong đề tài này là nghiên cứu các cấu trúc của câu trong
tập truyện Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh được nhìn dưới hai bình diện
của ngữ pháp chức năng đó là bình diện đề - thuyết và bình diện nghĩa biểu hiện
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, sau khi tìm hiểu rõ về Phan Thị Vàng Anh và tập
truyện Khi người ta trẻ, tôi đã đưa ra được những phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thống kê - xác suất
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp hệ thống cấu trúc
Trang 146 Bố cục đề tài
Khóa luận của tôi ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục;
phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2 Cấu trúc câu văn trong tập truyện Khi người ta trẻ của Phan Thị
Vàng Anh nhìn từ cấu trúc Đề - Thuyết và cấu trúc nghĩa biểu hiện
Chương 3 Mối quan hệ giữa cấu trúc đề - thuyết với cấu trúc nghĩa biểu
hiện và ý nghĩa của việc phân tích câu văn trong tập truyện ngắn Khi người ta trẻ
của Phan Thị Vàng Anh
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 CÂU VÀ PHÂN LOẠI CÂU
1.1.1 Khái niệm câu
Có rất nhiều ý kiến khác nhau và rất khó có một khái niệm về câu có thể thống nhất được tất cả các quan điểm của các nhà ngữ pháp học Sự khác nhau trong khái niệm về câu và trong những tiêu chuẩn để phân loại câu của nhiều lí thuyết ngữ pháp khác nhau đã dẫn đến cách phân tích cấu trúc câu cũng có những quá trình và hình thức mô tả khác nhau Cho đến nay, có nhiều lí thuyết ngữ pháp khác nhau được áp dụng để nghiên cứu cấu trúc câu (ngữ pháp truyền thống, ngữ pháp quan hệ, ngữ pháp tạo sinh, ngữ pháp chức năng…)
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi theo quan điểm của các nhà ngữ pháp chức năng Tác giả Cao Xuân Hạo cho biết, cả ba bình diện kết học, nghĩa học,
dụng học đều được thể hiện trong một câu Vì vậy, tác giả khẳng định: câu là đơn vị
cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản Nó là đơn vị nhỏ nhất dùng có thể sử dụng trong việc giao tế Nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất [10, tr.27] Trong Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp cũng định nghĩa: Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, nó là đơn vị giao tiếp nhỏ nhất, là ngôn bản nhỏ nhất [7, tr.83] Như vậy, Nguyện Thiện Giáp và Cao Xuân Hạo đều có quan niệm
câu là đơn vị cơ bản của lời nói, là sự thể hiện ngôn ngữ học của hành động nhận định được thực hiện ngay khi phát ra nó Qua đây, chúng tôi sử dụng định nghĩa trên về câu của hai tác giả này làm cơ sở lí thuyết để khảo sát câu trong truyện ngắn
“Khi người ta trẻ” của Phan Thị Vàng Anh cho đề tài của mình
1.1.2 Phân loại câu theo cấu trúc cú pháp
Sự phân loại câu trong ngôn ngữ học hiện nay khá phức tạp, dựa vào những tiêu chuẩn rất khác nhau:
* Phân loại theo ngữ nghĩa: câu tồn tại, câu hành động, câu quá trình, câu trạng thái, câu quan hệ
* Phân loại theo mục đích phát ngôn: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán
* Phân loại theo quan hệ lôgich: câu khẳng định, câu phủ định
Trang 16*Phân loại theo cấu tạo ngữ pháp: câu đơn, câu phức, câu ghép
Theo quan điểm của các nhà ngữ pháp chức năng, câu được phân loại theo cấu trúc cú pháp cơ bản (căn cứ vào sự có mặt của Đề - Thuyết) gồm có: câu hai phần (câu một bậc, câu nhiều bậc); câu một phần và câu đặc biệt Từ đó có các loại câu sau: câu đơn, câu ghép
1.2 LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN TRONG NGHIÊN CỨU CÂU TIẾNG VIỆT 1.2.1 Câu tiếng Việt nhìn từ bình diện kết học
Bình diện kết học là bình diện của những khái niệm được xác định bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần túy
1.2.1.1 Phân tích câu theo cấu trúc chủ - vị
Hiện nay, hướng phân tích câu theo cấu trúc chủ - vị là hướng phân tích CTCP câu tiếng Việt phổ biến nhất và đang được sử dụng trong ngữ pháp nhà trường Hướng phân tích này chịu ảnh hưởng của cách phân tích cấu trúc câu theo quan hệ chủ - vị của ngữ pháp truyền thống Châu Âu, đặc biệt là ngữ pháp tiếng Pháp
Trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên đi theo hướng này có Trần Trọng Kim [15], Phan Khôi [13], Bùi Đức Tịnh [19], CTCP của câu thường được mô tả qua khái niệm mệnh đề với nồng cốt là CT C-V Theo Trần
Trọng Kim thì Phép đặt câu là phép đặt các tiếng thành mệnh đề và đặt các mệnh
đề để lập thành câu Mệnh đề bao gồm hai thành phần chính là chủ từ (tiếng đứng làm chủ) và động từ hay tính từ (chỉ cái dụng hay cái thể của chủ từ); ngoài ra còn
có túc từ phụ thêm cho chủ từ, động từ, tính từ [15, tr.21-29]
Dù vậy, thành tựu của việc phân tích câu tiếng Việt theo CT C-V là đã nêu lên được ý nghĩa logic của chủ ngữ và vị ngữ Đồng thời nhận diện và miêu tả vị ngữ thông qua cấu tạo của đoản ngữ động từ, tính từ
1.2.1.2 Phân tích câu theo cấu trúc đề - thuyết
Hướng phân tích câu theo CT Đ-T xuất hiện trong Việt ngữ học trước hết do
sự bất cập của hướng phân tích theo CT C-V Khi chuyển từ việc coi kết cấu C-V có chức năng biểu thị sự tình sang chức năng truyền tải thông điệp (biểu thị một phán đoán hay nhận định), nhiều nhà nghiên cứu theo quan điểm C-V đã thấy rằng kết cấu C-V có chủ ngữ trùng với chủ thể tâm lí
Trang 17Để tránh những bất cập này của cách tiếp cận chủ - vị, với quan niệm coi câu
là một ngữ đoạn kết thúc, mang một thông báo hoàn chỉnh, tác giả Lưu Vân Lăng
đã đề xuất cách phân tích câu theo CT Đ-T thay cho cấu trúc chủ - vị, trong đó khái
niệm đề được mở rộng, bao gồm không chỉ các chủ ngữ ngữ pháp điển mẫu mà cả một số trường hợp được các tác giả khác coi là khởi ngữ hay đề ngữ thậm chí là trạng ngữ CT Đ-T được Lưu Vân Lăng phân biệt với cấu trúc thông tin của lí
thuyết phân đoạn thực tại và được áp dụng không chỉ cho câu mà cho cả cú [12, tr.17]
Trật tự đề trước thuyết sau là trật tự bình thường trong hầu hết các câu tiếng
Việt Những trường hợp có trật tự ngược lại rất hiếm hoi, vì đề biểu thị sở biểu của mệnh đề, là cái điểm xuất phát của một nhận định trong tư duy, và do đó không đồng nghĩa với nhau Chẳng hạn, có hai người đang đi trên đường, kẻ trước người sau, ta có thể có hai nhận định khác nhau VD:
- Con đi trước Hoàn và Mỹ! (Con trộm)
- Hoàn và Mỹ đi sau con!
Cùng một sự kiện nhưng câu “Con đi trước Hoàn và Mỹ!” nhận định về Con lấy Con làm Đề, câu “Hoàn và Mỹ đi sau con!” nhận định về Hoàn và Mỹ lấy Hoàn
và Mỹ làm Đề của câu Hai câu trên không đồng nghĩa với nhau, mặc dù chúng
cùng chỉ một hiện tượng, một sự tình
Theo Cao Xuân Hạo, CT Đ-T câu của tiếng Việt có thể nhận ra rất dễ dàng
nhờ hai công cụ: thì và là (đôi khi mà) Ranh giới đề - thuyết của một câu là chỗ nào
có thì hay là, hoặc có thể thêm thì hay là mà nghĩa nguyên văn của câu được giữ nguyên Tuy nhiên, có khi từ thì trong câu lại không phải dấu hiệu phân chia đề -
thuyết của câu mà là một CT Đ-T nhỏ hơn câu VD:
- Không biết, sao chẳng bao giờ mày hỏi về yêu người cùng tuổi thì như thế nào, lúc thì đòi chơi với ông già, lúc thì đòi chơi với trẻ con! (Chuyện trẻ con)
- Một phong tục rắc rối không theo thì không được (Mười ngày)
Trong câu “Không biết, sao chẳng bao giờ mày hỏi về yêu người cùng tuổi
thì như thế nào, lúc thì đòi chơi với ông già, lúc thì đòi chơi với trẻ con!”, thì đánh
dấu ranh giới đề - thuyết của hai tiểu cú làm thuyết ghép của câu Ở câu “Một
Trang 18phong tục rắc rối không theo thì không được ”, thì đánh dấu đề - thuyết trong vế
câu phụ chú Xét một ví dụ khác chẳng hạn:
- Hình như em nghén thì phải (Có vợ)
Trong câu này, em nghén là nội dung của mệnh đề; phần thuyết thì phải
không ứng với nội dung của sở thuyết của mệnh đề, chỉ là một yếu tố tình thái Ranh giới đề - thuyết ở đây chỉ là hình thức Thuyết của câu chỉ là thuyết tình thái -
“thuyết giả” Nếu mệnh đề “em nghén” được rút gọn lại bằng một đại từ hồi chỉ
“thế” hay “vậy” thì phần thuyết có vẻ đỡ hình thức hơn:
- Hình như thế thì phải
Nếu lại có một sự so sánh trong phần thuyết ấy với một phần thuyết trong một câu nào đó phía trước, ta có câu:
- Hình như thế thì phải hơn
Lúc này phần thuyết của câu không còn là phần thuyết tình thái nữa mà là một phần thuyết thật sự, biểu thị sở thuyết của một nhận định Cũng cần lưu ý rằng, bên trong các ngữ là đề hoặc thuyết có thể có những tiểu cú làm định ngữ hay bổ ngữ Những cấu trúc tiểu cú này không làm thành một bậc thấp hơn, vì chúng không trực tiếp cấu tạo thành đề hay thuyết của bậc trực tiếp trên VD:
- Điều ta không muốn thì đừng nên làm cho người khác (Trò dối)
- Bằng lòng hay không thì cũng nên nói cho người ta biết
Ở câu “Điều ta không muốn thì đừng nên làm cho người khác.” tiểu cú ta không muốn làm định ngữ cho điều, trong câu “Bằng lòng hay không thì cũng nên
nói cho người ta biết.” tiểu cú người ta biết làm bổ ngữ cho nói Các tiểu cú này
không làm cho câu có thêm bậc mà chỉ làm cho cấu tạo của đề và thuyết thêm phức tạp hơn mà thôi [11, tr.73]
Sau đây chúng tôi xin trình bày một cách sơ lược từng kiểu câu này
* Câu hai phần
Câu hai phần là một câu điển hình Cấu trúc Đề - Thuyết của nó biểu hiện rõ ràng với trật tự Đề trước, Thuyết sau Câu hai phần có thể gồm một bậc Đề - Thuyết hoặc có từ hai bậc Đề - Thuyết trở lên [11, tr.72]
Trang 19- Câu một bậc: Là câu mà cả Đề và Thuyết đều có cấu trúc không thể chia thành hai phần Đề và Thuyết ở bậc thấp hơn
VD:
1 Cơm đã dọn xong
2 Ở đây ngột ngạt quá
3 Họ sống và chiến đấu (Thuyết ghép)
- Câu nhiều bậc: Là câu mà Đề hoặc/và Thuyết bậc trên được cấu tạo bằng một cấu trúc Đề - Thuyết bậc dưới
VD:
1 Mát thì ở đây mát hơn
2 Mai đi thì muộn
3 Tre già măng mọc
- Tình huống đối thoại: người nói (tôi) và người nghe (ngôi thứ hai) bao giờ
cũng nằm ở trung tâm của sự chú ý, nghĩa là chiếm vị trí ưu tiên trong chức năng làm Đề cho nên không cần nêu lên ở bề mặt
- Khung cảnh hiện hữu trong lúc phát ngôn: thời gian, thời tiết, khung cảnh
trước mắt, sự tồn tại hay xuất hiện của một sự vật, một hiện tượng gây chú ý, đối tượng cụ thể mà hai bên đang quan tâm
- Tiêu đề văn bản, các câu phía trước câu hữu quan: các câu trong văn bản
cũng tạo được ngữ cảnh cho sự xuất hiện của những câu một phần
* Câu đặc biệt
C
T
Đ
Trang 20Câu đặc biệt là câu không có cấu trúc Đề - Thuyết, là câu có cấu trúc của một ngữ không thể coi là Đề ngữ hay Thuyết ngữ vì nó không biểu thị một Sở thuyết hay Sở đề của một mệnh đề nào
Có thể gọi tên các loại câu đặc biệt như sau:
- Câu đặc biệt cảm thán: Ô kìa! Trời ơi!
- Câu đặc biệt gọi đáp: Nam ơi! Dạ!
- Câu đặc biệt gọi tên: Quán Diêu Bông
- Câu đặc biệt tượng thanh: Ùng!, Oàng!
Theo quan niệm của Cao Xuân Hạo thì CT Đ-T thuộc tổ chức cú pháp của
câu, cấu trúc nêu - báo thuộc tổ chức thông báo của câu Vì vậy, CT Đ-T có tính ổn
định, không lệ thuộc ngữ cảnh, còn cấu trúc nêu - báo có tính không ổn định vì hoàn toàn lệ thuộc ngữ cảnh hoặc tình huống phát ngôn Do đó, CT Đ-T thuộc bình diện kết học chứ không thuộc bình diện dụng học
1.2.2 Câu tiếng Việt nhìn từ bình diện nghĩa học
Bình diện nghĩa học: được hiểu là bình diện của sự tình được biểu thị trong câu và những tham tố tham gia biểu hiện sự tình ấy
1.2.2.1 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
Con người bình thường ai cũng có những hiểu biết nhất định, đó là những kinh nghiệm của người đó Kinh nghiệm là phần làm nên ý nghĩa của từ ngữ nên được gọi là nghĩa kinh nghiệm Nghĩa kinh nghiệm được thể hiện trong những điều người nói trình bày, diễn đạt những hiểu biết của mình về những thứ trong thế giới tinh thần và vật chất nên được gọi là nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa kinh nghiệm, nghĩa mệnh đề) Các yếu tố ngôn ngữ diễn đạt nghĩa biểu hiện trong một câu kết hợp với nhau làm thành CT NBH CT NBH được phân tích theo kiểu sự việc nêu ở từ làm vị tố (như động, tĩnh hay quan hệ trừu tượng) và các thực thể góp phần vào việc tạo nghĩa sự việc trong câu [6, tr.26] Các thực thể này, về mặt nghĩa được phân biệt thành hai loại:
- Thực thể tham gia vào sự việc, gọi là tham thể
- Thực thể chỉ hoàn cảnh như không gian, thời gian, trong đó sự việc diễn ra
gọi là cảnh huống
Trang 21Tham thể và cảnh huống trong nghĩa vừa nêu thường được gọi dưới tên
chung là vai nghĩa
Như đã biết, nghĩa biểu hiện là kiễu nghĩa phản ánh vật, việc, hiện tượng, vào trong câu Sự phản ánh này không phải theo kiễu hình chiếu qua gương soi, mà phản ánh nhận thức của con người Việc phân tích nghĩa biểu hiện trong câu tập
trung chủ yếu ở các hiện tượng: cấu trúc vị tố - tham thể, tham thể và cảnh huống, loại hình sự thể Đây là những mặt cụ thể trong CT NBH của câu Mỗi sự việc
thường là một sự việc động, hay sự việc tĩnh, hay sự việc là quan hệ trừu tượng cùng với các thực thể tham gia vào sự việc đó Tính chất động, tĩnh, quan hệ trừu tượng của sự việc, gọi là sự thể (hay sự tình) Tính chất này tập trung ở vị tố Vị tố
là động từ, tính từ, danh từ làm trung tâm của câu Khi câu chỉ có một từ (trừ thán từ), thì từ đó là vị tố của câu như trong câu: “Cháy!” Nếu hiểu câu gồm hai bộ phận chính là chủ ngữ và vị ngữ thì vị ngữ gồm vị tố - tham thể nêu ở bổ ngữ Trong các
ví dụ sau đây của vị tố:
- Tuyền lấy xe đuổi theo chị Khánh để chở chị về (Xa nhà) (sự thể động, động từ)
- Tuyền nghĩ (Tuyền báo thù) (sự thể tĩnh, động từ)
- Nó dữ tợn và tang tóc (Khi người ta trẻ) (sự thể tĩnh, tính từ)
- Chủ nhật ngày mười lăm tháng sáu âm lịch (Đi thăm cha) (sự thể quan hệ, danh từ)
- Việt là em họ tôi (Quà kỷ niệm) (sự thể quan hệ, trợ động từ)
Ở các ví dụ trên, ngoài vị tố còn có các từ chỉ thực thể tham dự vào sự việc
như: Tuyền, nó, chủ nhật, Việt, em họ tôi Đó là các tham thể Các sự việc phản ánh
vào trong câu làm thành mặt nghĩa sự việc của câu, đó chính là nghĩa biểu hiện của câu Cùng một sự việc có thể diễn đạt theo những cách khác nhau trong những câu khác nhau Cách tổ chức theo nghĩa sự việc trong mỗi câu làm thành CT NBH của câu Vị tố và tham thể là hai thành phần chính của CT NBH Vị tố là phần trung tâm (hạt nhân) làm cơ sở cho sự việc được phản ánh trong câu, cùng với các tham thể nêu ở chủ ngữ, bổ ngữ diễn đạt sự việc đó Vị tố không bao gồm bổ ngữ Nếu phần
vị ngữ của câu có chứa động từ tình thái (ĐTTT) thì động từ tình thái là chính tố
Trang 22(đầu tố) về mặt cú pháp cụm từ, động từ thực đứng sau là vị tố làm trung tâm nghĩa của câu VD:
- Tưởng không dám / viết nhật ký (Tưởng)
ĐTTT Vị tố Các vị tố diễn đạt một trong hai kiễu nghĩa khái quát là nêu đặc trưng (động
và tĩnh) và nêu quan hệ Mối quan hệ giữa vị tố và tham thể tạo thành cấu trúc vị tố
- tham thể trong nghĩa biểu hiện, tương ứng về cú pháp với cấu trúc cơ sở của câu Tham thể xuất hiện do nghĩa của vị tố đòi hỏi, trên cơ sở đó, có thể phân biệt các cấu trúc vị tố - tham thể theo số lượng các thực thể có thể tham dự
- Cấu trúc vị tố - một tham thể VD:
Còn trẻ quá ha (Cuộc ngoạn du ngắn ngủi) (Tĩnh)
- Cấu trúc vị tố - hai tham thể VD:
Nhà tôi xa trường học (Phục thiện) (Tĩnh)
- Cấu trúc vị tố - ba tham thể VD:
Tôi gửi lá thư đầu tiên cho anh (Mười ngày) (Động)
- Cấu trúc vị tố - zero tham thể Trường hợp này chỉ thuộc về kiểu câu danh từ không có chủ ngữ VD:
Không! (Si tình)
1.2.2.2 Nghĩa tình thái của câu
Tình thái là phần nghĩa rất phức tạp và được hiểu rất khác nhau Nếu chỉ xem xét phần nghĩa tình thái thì gọi là nghĩa tình thái liên nhân trong phạm vi câu Theo cách hiểu đó, phần nghĩa tình thái được tách ra khỏi phần thuộc nghĩa biểu hiện của câu Nghĩa liên nhân, hiểu khái quát là phần nghĩa phản ánh thái độ của người nói trong câu
Trong logic học, khái niệm tình thái gắn liền với sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trưng cơ bản của hai thành phần chủ từ và vị
từ, xét ở mức độ phù hợp của phán đoán trong thực tế VD:
- Nhiều trái quá hả? (Truyện trẻ con) - là một phán đoán
Phán đoán bao giờ cũng có ba nhóm lớn: khả năng, tất yếu và hiện thực Phán đoán khả năng phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào
đó ở đối tượng VD:
Trang 23- Nửa đêm, một cái chân dài của con Hoàn có thể vắt sang cổ ngoại (Con
trộm)
Phản ánh tất yếu những nội dung nhận thức mà đặc trưng nêu ở vị từ có ở đối tượng trong mọi điều kiện, mọi thế giới khả năng VD:
- Mất con này thì thay mẫu khác vào thôi, hay cứ để cái con bằng nhựa mà tên
trộm đã tráo (Tuyền báo thù)
Phản ánh hiện thực xác nhận sự có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng ở một đối tượng nào đó VD:
- Có tấm ni-lông với cái nón thôi, tao không có áo! (Đất đỏ)
Cả ba loại phán đoán trên đều là tình thái khách quan, tồn tại trong hiện thực khách quan Loại tình thái này không có trong môi trường giao tiếp và nhân tố giao tiếp
Tính tình thái trong ngôn ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu,
tuy nhiên, “hai chữ tình thái vẫn còn đi đôi với nhiều định kiến sai lạc” (Cao Xuân Hạo) Hiểu một cách chung nhất, đưa ra một phát ngôn có nghĩa là một thông tin về
sự tình ấy có hai bộ phận: (1) Nghĩa sự tình (thông tin về sự thể trong phát ngôn ấy); (2) Thông tin tình thái thuộc về bình diện tâm lí, thể hiện cảm xúc và thái độ của người nói đối với điều được nói ra ấy) Điều này cho ta biết sự tình được nêu ra trong phát ngôn là tất yếu, là khả năng hay hiện thực, khẳng định hay phủ định và mức độ cam kết của người nói đối với điều được nói ra Chẳng hạn, một sự tình là
“bây giờ là 11 giờ” (Khách đêm), chúng ta có thể thể hiện những nội dung tình thái khác nhau:
- Bây giờ là 11 giờ
- Mới có 11 giờ thôi
- Bây giờ đã 11 giờ rồi
- 11 giờ rồi à?
- Có lẽ đã 11 giờ rồi đó
Nhiều nhà nghiên cứu đã phân biệt tình thái chủ quan và tình thái khách quan
để làm rõ hơn về nghĩa tình thái trong ngôn ngữ Đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt tình thái khách quan và tình thái chủ quan là vai trò của người nói hay tính chủ quan của người nói về sự đánh giá, mức độ cam kết của người nói về điều được nói
Trang 24ra Logic học chỉ quan tâm đến tình thái khách quan với ba tham số là: hiện thực/phi hiện thực, tất yếu/không tất yếu, có thể/không thể và trình bày sự việc như nó vốn
có, loại trừ vai trò của người nói Trong khi đó, vai trò của người nói trong tình thái chủ quan (trong ngôn ngữ học) được coi trọng đặc biệt
1.2.3 Câu tiếng Việt nhìn từ bình diện dụng học
Bình diện dụng học là bình diện của việc sử dụng ngôn từ trong những tình huống cụ thể, trong những cuộc đối thoại cụ thể
1.2.3.1 Cấu trúc thông tin của câu
Vấn đề CTTT (cấu trúc phân đoạn thực tại, cấu trúc thông báo) của câu được Mathesius thuộc trường phái học chức năng Praha nêu ra lần đầu tiên năm 1936 Theo đó, tình huống và ngôn cảnh quy định việc chia cấu trúc của câu làm hai phần:
phần nêu (còn gọi là cái cũ, hay cái đã biết, cái cho sẵn) là phần đã có mặt trong ý thức của người nghe trước khi câu được nói ra, còn phần báo (còn gọi là thông tin
mới) là phần không có mặt trong ý thức của người nghe Cùng một câu nói, tùy theo tình huống có thể có nhiều thông tin khác nhau VD:
- Tôi / đi về Long Xuyên (Một ngày) (trả lời câu hỏi: Tôi làm gì?)
đề trước, thuyết sau, trật tự của hai phần nêu và báo là tự do, đặc biệt có trường hợp
như câu “Tôi đi về Long Xuyên” cuôi cùng, câu chỉ có phần báo Trong trường hợp này, ta nói câu có thông báo gộp, tức là toàn bộ phát ngôn được “báo hóa” Một trong những cách thức để đánh dấu câu nói có thông báo “gộp” là sử dụng trật tự từ chủ quan
Trang 25Để đánh dấu câu nói có phần báo đứng trước, có thể sử dụng ngữ điệu hoặc trợ từ nhấn mạnh, chẳng hạn trong câu sau, trợ từ chính được dùng để đánh dấu phần báo VD:
- Vậy là tôi vênh mặt lên, hất hàm một cái rồi đạp tiếp, lạnh như tiền (Hồng
ngủ)
Các nhà Việt ngữ học trước đây vẫn hay dùng thuật ngữ “cấu trúc thông báo”
để chỉ sự phân đoạn cấu trúc của câu theo vị thế thông tin của các thành tố với các hàm ý khu biệt nó với CTCP và cấu trúc ngữ nghĩa của câu Theo Cao Xuân Hạo, cấu trúc thông báo của câu chỉ có một trọng tâm thông báo hay TĐ biểu thị TTM, được đánh dấu bằng trọng âm cường điệu Nguyễn Hồng Cổn đã trình bày quan
điểm cho rằng: “Cấu trúc thông báo là cấu trúc có một trọng tâm là tiêu điểm thông báo” [4, tr.23] và khẳng định tiêu điểm thông báo là thành tố quan trọng nhất
biểu thị phần thông tin mà người nói giả định là người nói và người nghe không cùng chia sẻ Tiếp tục phát triển quan điểm này, đồng thời tiếp thu quan niệm của
một số nhà nghiên cứu Châu Âu, Nguyễn Hồng Cổn cho rằng: CTTT của câu bao gồm 2 phần: phần thứ nhất có chức năng nổi bật về mặt thông tin là TĐTT (ìnformation focus) hay gọi tắt là TĐ, phần còn lại được coi là phần cơ sở của CTTT Phạm vi của phần cơ sở và mối quan hệ giữa phần cơ sở và TĐ trong CTTT
do vị trí và tác động của TĐTT quyết định [5, tr.34]
TĐTT là phân đoạn thông tin mà người nói đặc biệt muốn nhấn mạnh, cho là
có giá trị thông báo cao nhất TĐTT là nơi tập trung chú ý của người nói nhằm làm cho người nghe hiểu đúng điều mà người nghe muốn khẳng định, nhấn mạnh Nó có thể rơi vào bất cứ thành phần ngữ pháp nào Tiếng Việt thường dùng trọng âm câu hay các trợ từ để đánh dấu TĐTT Tùy theo sự nhấn mạnh một phân đoạn nào đó
mà mỗi câu sẽ có khả năng có nhiều TĐ khác nhau Bất kể thông báo nào, dù là mới hay cũ nếu quan trọng thì đều mang tính TĐ, một khi mang tính TĐ thì thông tin đó
được coi là mới
1.2.3.2 Câu và lực ngôn trung của câu
Trong lí thuyết hành động ngôn từ, các phát ngôn có hai loại nghĩa: (1) Nghĩa mệnh đề hay còn gọi là nghĩa ngôn tạo Đây là nghĩa đen, cơ bản của phát ngôn, nó được truyền đạt bởi các từ và các cấu trúc trong phát ngôn này; (2) Nghĩa
Trang 26ngôn trung hay còn được gọi là lực ngôn trung Đây là hiệu lực mà phát ngôn hoặc văn bản viết có được đối với người đọc và người nghe VD: Trong phát ngôn: “Con đói!”, nghĩa mệnh đề là cái phát ngôn này nói về trạng thái vật chất của người nói Nghĩa ngôn trung là hiệu lực mà người nói muốn phát ngôn đối với người nghe Đó
có thể là ý định yêu cầu “ăn” cái gì đó Một hành động ngôn từ là một phát ngôn có
cả nghĩa mệnh đề lẫn nghĩa ngôn trung
Như vậy, vấn đề lực ngôn trung được xem xét trong khung lí thuyết hành động ngôn từ, với người đặt nền móng là nhà triết học ngôn ngữ người Anh Austin Theo đó, nói năng thực chất là thực hiện hành động bằng lời Khi nói ra một câu, ta
thể hiện ba hành động đồng thời Đó là hành động tạo lời, hành động tại lời và hành động mượn lời Hành động tạo lời là hành động tạo ra câu nói, tức sử dụng
các yếu tố của ngôn ngữ, kết hợp chúng với nhau để tạo ra câu nói với một dạng
thức cụ thể và một ý nghĩa xác định; Hành động tại lời là hành động người nói thực
hiện ngay khi phát ngôn câu nói, tạo ra những hiệu quả thuộc ngôn ngữ như: ra
lệnh, xin lỗi, cảm ơn, dọa nạt, khuyên răn,…; Hành động mượn lời là hành động
thông qua phương tiện ngôn ngữ để tạo ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ, thể hiện qua những tác động tâm lí mà câu nói đem lại đối với người nghe
Cũng cần phân biệt hành động ngôn từ, đặc biệt là hành động tại lời với lực ngôn trung Nói đến hành động tại lời là nói đến một trong ba hành động mà người nói đồng thời thực hiện trong khi phát ngôn một câu nói Hành động này bao giờ cũng được đặt trong môi trường xã hội - văn hóa cụ thể Còn nói đến lực ngôn trung
là nói đến cái nghĩa đích thực của câu nói, khi xét câu nói ấy trong một ngữ cảnh cụ thể mà ở đó, ngoài bối cảnh - văn hóa xã hội chung, còn phải tính đến nhân tố thuộc người nói người nghe
Về lí thuyết ba bình diện trong nghiên cứu câu tiếng Việt như đã trình bày ở trên, chúng tối tập trung quan tâm đến hai cấu trúc cơ bản thuộc về hai bình diện có liên quan đến đề tài luận văn: CT Đ-T, CT NBH
1.3 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1.3.1 Phan Thị Vàng Anh - một cây bút tài năng, đa phong cách
Sau năm 1986, văn học Việt Nam có những bước phát triển toàn diện, sâu sắc và gây được chú ý tới độc giả với nhiều cây bút độc đáo Sự xuất hiện của Phan
Trang 27Thị Vàng Anh đã gây tranh luận tương đối sôi nổi trong đời sống văn học Ngay từ những tác phẩm đầu tay, chị đã trở thành hiện tượng văn học, tạo nhiều hứng thú cho bạn đọc cũng như giới nghiên cứu phê bình Dẫu có những ý kiến khác nhau, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu phê bình đều công nhận Phan Thị Vàng Anh là một tài năng trẻ, một chân dung trẻ sớm được định hình Ở con người Vàng Anh tồn tại rất nhiều mặt tính cách: Vàng Anh của thơ, của truyện, của kịch bản phim, biên tập sách, của tạp bút, tiểu phẩm,… một cây bút hết sức tài năng và đa phong cách
Phan Thị Vàng Anh sinh năm 1968, là con gái của nhà thơ Chế Lan Viên và nhà văn Vũ Thị Thường Tốt nghiệp Đại học Y Khoa, trở thành bác sĩ đa khoa, song Phan Thị Vàng Anh lại chọn cho mình con đường văn chương Một tài năng trẻ, một cây bút nhà nòi sớm định hình ngay từ tập truyện đầu tay, Phan Thị Vàng Anh
đã và đang trở thành cây bút sáng giá của văn học Việt Nam đương đại, góp phần tạo nên diện mạo mới cho văn chương từ sau 1986
Phan Thị Vàng Anh đến với văn học đầu tiên là làm thơ, viết nhiều và viết
rất tự nhiên Vàng Anh viết truyện in báo Khăn Quàng Đỏ Ngay sau khi tốt nghiệp Đại học Y Khoa, Vàng Anh cho xuất bản tập truyện Khi người ta trẻ và tập truyện
lập tức gây dư luận Cuốn này được tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm
1994 Hai năm sau chị trở thành hội viên Hội Nhà văn
Phan Thị Vàng Anh từng được đánh giá “là một cây bút truyện ngắn biến ảo, lúc trang nghiêm, lúc sắc ngọt, lúc đắm đuối Văn Phan Thị Vàng Anh là lối văn tung phá mang dấu ấn của kẻ trưởng thành ” “Vàng Anh có sự tư duy chính xác tư duy của nàng nhanh như tia chớp, sắc như dao và nhọn hoắt như một cây kim ” Qua truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, chúng ta thấy được khả năng quan sát
và khái quát hoá hiện thực cuộc sống bằng sự cảm nhận giàu tính triết lí Văn phong trẻ trung, hiện đại, ngôn ngữ đa thanh phong phú
Các tác phẩm chính: Khi người ta trẻ (Tập truyện 1993) đã được dịch và xuất bản tại Pháp; Ở nhà (Truyện vừa - 1994); Hội chợ (Tập truyện - 1995); Nhân trường hợp chị Thỏ bông (Tản văn dưới bút danh Thảo Hảo); Gửi VB (Tập thơ - 2006); Trong phường Thành Công, có làng Thành Công (Phim tài liệu),…
Phát huy được ưu thế của thể loại truyện ngắn là ngắn gọn, linh hoạt, nhanh nhạy, tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh đã gây được tiếng vang trước hàng ngàn
Trang 28độc giả Nó luôn bám sát hiện thực cuộc sống, nêu ý kiến của nhà văn trước những vấn đề xã hội mới mẻ, nóng bỏng đang đặt ra hàng ngày, hàng giờ Văn phong súc tích mà sắc sảo, thâm thuý Việc nghiên cứu tác phẩm của nhà văn giúp chúng ta có thêm cơ sở khoa học để khẳng định sự thành công của cây bút trẻ này
1.3.2 “Khi người ta trẻ” - bức tranh sinh động cuộc sống con người trẻ
Phan Thị Vàng Anh là một cây bút đa năng, sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tạp văn, phim truyện, thơ… Tuy nhiên, truyện ngắn mới là sở trường của chị,
làm nên tên tuổi chị trên văn đàn không thể không nhắc đến tập truyện ngắn Khi người ta trẻ
Tập truyện ngắn Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh được tập hợp in trong cuốn Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh gồm 45 truyện, xuất bản năm 2011
Chủ đề truyện ngắn của chị khá đa dạng, với những câu chuyện, góc nhìn khác nhau của đời sống của những con người bình thường, nhiều khi không có cốt truyện Truyện được viết dưới dạng như nhật kí, nhưng thời gian lại không được sắp xếp theo trình tự tuyến tính Với những cảm xúc lẫn lộn của những nhân vật trong truyện, vui có, buồn có mang lại cho người đọc nhiều mạch suy tư Mỗi nhân vật chính trong từng câu chuyện kể là hoàn toàn khác nhau, khi là Hoàn, là An, Giang,
Hà Thanh hay Tưởng, Lâm, Việt, tạo cho ta cảm giác những câu chuyện do chính
họ kể ra đều rất thật Đọc Khi người ta trẻ là tìm đến, làm quen với cái thế giới rất
gần gũi và cũng rất xa lạ, của những tâm hồn trai gái với những ưu tư, những quan
hệ buộc ràng, những biến cố không vượt ngoài cuộc sống đời thực thường ngày trong những không gian rất đỗi quen thuộc từng ngày từng buổi, từ nhà tới trường, qua các đường phố, các quán cà phê, các trang sách Ở đó, họ rong ruổi trong những cuộc du ngoạn, những trò chơi nhưng đâu đâu cũng như bị dằn xuống bởi những ý nghĩ ưu tư, những điều nhạt nhẽo, muộn phiền Trước tiên, chân dung cuộc
sống của những con người trẻ hiện lên qua những chuyến đi Truyện Cuộc ngoạn du ngắn ngủi mở đầu tập truyện đã cho người đọc thưởng lãm một cuộc chơi nhẹ nhàng,“một khoảng đất bao la, đỏ quạch, trên đó mọc vài bụi cây lạ mắt”, một “hồ nước mênh mông lặng lờ giữa những vách đá đã được tỉa tót cho dựng đứng… Ở gần bờ, hồ nước trong leo lẻo, nhìn xuống thấy rong rêu và cá con lội từng bầy”
Thế giới ấy gần gũi nhưng cũng rất đỗi xa lạ với những con người trẻ Nhưng đó lại
Trang 29là cuộc ngoạn du ngắn ngủi Niềm vui không nhiều, thậm chí là không có, thoáng
đến rồi lại chợt đi Đó còn là chuyến đi Một ngày “về Long Xuyên” Chuyến của nhân vật “tôi” như bước đi lang thang không mục đích “lang thang qua mấy phố dài dằng dặc vì không có gì vui”
Vàng Anh đứng bên ngoài những cuộc lãm du ấy, quan sát họ, nhìn ngắm họ Một cuộc phiêu lưu hay một trò đùa biết đâu có thể gây được một chút cao trào Hay ít ra cũng mang lại cho cuộc sống tẻ nhạt này một mùi vị khác thường Họ
muốn “có cái gì sẽ nổ và biết đâu sẽ vui hơn” Thậm chí có lúc họ nghĩ “bây giờ
mà chết thì cũng không có gì tiếc” Phải chi mọi người hiểu được ở cái tuổi của họ
“người ta điên đến mức nào, ngông cuồng đến mức nào” Ở đây, không nên nhìn
thái độ nổi loạn kia như một căn bệnh đến từ một phương trời hay một bóng ma văn chương nào xa lạ Đơn giản đó là một phản ứng, và đằng sau phản ứng, đó là khát vọng sống thực đáng trân trọng Không chỉ có những chuyến đi, những hành trình khám phá, chân dung cuộc sống của những con người trẻ gắn bó thân thiết với trường lớp, với những buổi học, với những kỉ niệm học trò Ở đó hiện lên hình ảnh của những đứa học trò tinh nghịch, ngổ ngáo, những người thầy hết lòng vì học trò, những ngày học cuối, buổi bế giảng, buổi học thêm ở tu viện hay ở nhà “Lảo
sư” Phục thiện ghi lại câu chuyện rất thật của một học trò “kiêu ngạo và xấc xược”
Ngòi bút của Vàng Anh như một thước phim quay chậm về một thời học trò ngỗ nghịch, tươi vui Chị đưa người đọc sống lại cảm giác của một thời áo trắng dễ thương và đáng nhớ Chắc rằng ai đó khi đọc truyện cũng thấy thấp thoáng bóng dáng của mình một thời trong đó Trường lớp và những tháng năm học trò đáng nhớ
và đầy ắp kỉ niệm đến thế nên có những Ngày học cuối, ai cũng luyến tiếc, bịn rịn,
có những ngày Nghỉ hè, người ta chợt nhớ trường, nhớ lớp đến tê lòng Vàng Anh
giới thiệu thật ngắn gọn và giản dị Trên mỗi trang truyện, Vàng Anh lia sang một góc của đời sống học trò Như một thước phim quay chậm, chị dẫn dắt người đọc trở về những ngày tháng dấu yêu một thời Đọc nó, người đọc dễ dàng tìm thấy bóng dáng mình khuất sau từng câu chữ Khi người ta trẻ là thế đấy, là người ta với những năm tháng tinh nghịch, đáng yêu, đáng nhớ với lắm trò vui, “ấm ớ”, “vớ va
vớ vẩn” cho đến những trò “điên rồ”, “ngông cuồng” nhất, với những tình cảm bạn
bè, cô thầy, trường lớp đáng nâng niu và trân trọng Chân dung cuộc sống Khi
Trang 30người ta trẻ với những gam màu thật trẻ trung và đáng yêu Phan Thị Vàng Anh đã
rất tinh tế và sâu sắc, tái hiện lại chân dung cuộc sống của những người trẻ tuổi Chị lặng lẽ quan sát, chộp lấy những khoảnh khắc ấn tượng nhất, tinh vi nhất của cuộc sống trẻ và đưa vào những trang viết của mình Nhân vật của chị như những mảnh
ghép rất thật từ đời sống, từ những “đám người trẻ tuổi” quanh ta Chính sự tài tình
đó của Vàng Anh đã tạo ra những mảnh ghép phong phú và đa dạng cho bức chân
dung cuộc sống của “đám người trẻ tuổi”
Trang 31CHƯƠNG 2 CẤU TRÚC CÂU VĂN TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN KHI
NGƯỜI TA TRẺ CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH NHÌN TỪ CẤU TRÚC ĐỀ -
THUYẾT VÀ CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN 2.1 CÂU NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT
2.1.1 Các loại Đề trong cấu trúc Đề - Thuyết
Khi “câu là sự thể hiện ngôn ngữ học của một mệnh đề” thì giữa câu và
mệnh đề phải có một quan hệ rất mật thiết Cấu trúc của một mệnh đề gồm hai phần: Sở đề và Sở thuyết Ngôn ngữ cũng phải tổ chức câu thành hai phần tương ứng: Đề (Đ) và Thuyết (T)
Đề là thành phần trực tiếp của câu nêu cái phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành phần trực tiếp thứ hai là thuyết [8, tr.41]
(2) Và anh, tôi nghĩ nắm kiệu sau khi đã lọt vào tay anh đành phải vứt đi vì
đã cắt phạm đến cả thân kiệu (Mười ngày)
Ngoại đề thực hiện chức năng của Đề một cách đặc biệt Người nói bao giờ cũng dừng lại một chút sau Ngoại đề để cho nó làm phận sự của nó: tập trung chú ý của người đối thoại vào điều nói sau đó Vả lại, một câu có Ngoại đề không hẳn là một cấu trúc cú pháp cơ bản thuần nhất:
* Giữa Ngoại đề và phần đi sau nó khó có thể thêm Thì, trừ khi Ngoại đề có
dạng của một câu hỏi
* Phần đi sau là một cấu trúc cú pháp trọn vẹn, trong đó sở chỉ của Ngoại đề thường được nhắc lại bằng một đại từ trong khi Nội đề mà khuyết đi thì phần còn lại thường không còn là một câu trọn vẹn nữa
Vì vậy, Ngoại đề có thể bứt ra thành một câu riêng trên văn bản Và cũng chính vì thế mà có thể coi Ngoại đề đứng ngoài cấu trúc cú pháp của câu, như một
vế câu ghép VD: (3)
Trang 32a, Vỹ à, thì em có quan tâm đến nó nữa đâu (Khi người ta trẻ)
b, Vỹ à? Thì em có quan tâm đến nó nữa đâu
Khi động tác tập trung chú ý ấy được làm sau câu nói - vì sau khi nói điều thông báo, người nói chợt nhận ra người nghe có thể chưa rõ mình đang nói về ai,
về cái gì - Ngoại đề cũng được nói ra như một cái “đuôi” của câu, hoặc như một câu tách riêng ra VD: (4)
a, Lâu chưa, vì ai vậy? (Đất đỏ)
b, Lâu chưa? Vì ai vậy?
2.1.1.2 Nội đề
Phần lớn các Đề được sử dụng trong câu là những Nội đề Nội đề khác Ngoại
đề ở chỗ nó nằm trong cấu trúc cú pháp của câu, khi phát âm, nó liền mạch với phần Thuyết, không có một chỗ dừng nào Nội đề có hai loại:
Chủ đề, là thành phần câu nêu cái được nói đến trong phần Thuyết của câu Nó thu hẹp cái phạm vi ứng dụng của Thuyết vào một đối tượng (có thể là một cá thể, một tập hợp hay một sự tình)
Khung đề, là thành phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh huống, thời gian, không gian, trong đó điều kiện được nói ở phần Thuyết có hiệu lực
Chức năng của hai loại Đề này là một: xác định phạm vi ứng dụng của phần Thuyết Sự khác nhau chủ yếu là ở tính chất “sự vật” của Chủ Đề và tính chất “nền” (bối cảnh) của Khung đề
Trong câu, Chủ đề và Khung đề được xử lí như nhau về phương diện vị trí và
về cách đánh dấu chỗ phân giới với Thuyết Chính vì sự gần gũi về chức năng cú pháp và ngữ nghĩa giữa hai thứ Đề này mà sinh ra một kiểu lỗi ngữ pháp phổ biến nhất hiện nay trong văn viết và trong những lời phát biểu ở hội nghị, trên đài phát thanh, trên tivi: lẫn lộn trong cách dùng hai thứ Đề VD:
(5) Trong thất bại bao giờ ta cũng tìm ra được bài học (Bản lĩnh đàn ông)
Lỗi của hai câu trên là ở chỗ: sau phần Khung đề (trong thất bại) các động từ
trung tâm của phần Thuyết không có Chủ đề như nó phải có Người viết lầm tưởng rằng các Khung đề đã làm chức năng ấy Hai câu trên có thể sửa như sau:
- Bỏ Khung đề: bỏ trong, biến thất bại thành Chủ đề
Trang 33- Giữ Khung đề, bỏ bao giờ, biến cũng thành trung tâm của Thuyết, ta lên
b Câu nhiều bậc Đề - Thuyết
Câu nhiều bậc là câu mà Đề hoặc Thuyết bậc trên được cấu tạo bằng một cấu trúc Đề - Thuyết bậc dưới Nói cách khác, câu nhiều bậc là câu lấy một cấu trúc Đề
- Thuyết để làm Đề hoặc làm Thuyết
2 Khung cảnh hiện hữu trong lúc phát ngôn: thời gian, thời tiết, cảnh vật trước mắt, sự tồn tại hay xuất hiện một sự vật, một hiện tượng gây chú ý, đối tượng
cụ thể mà hai bên đối thoại đang quan tâm
3 Tiêu đề của văn bản, các câu phía trước câu hữu quan
Trang 34Trên cơ sở những tiền đề lí luận ở chương 1, trong chương này chúng tôi tiến hành thống kê các kiểu cấu trúc câu văn theo quan điểm ngữ pháp chức năng trong
tập truyện ngắn Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh để làm rõ câu văn nhìn từ
bình diện CT Đ-T
Câu hai phần Câu một
phần
Câu đặc biệt
Tổng
số Một bậc Nhiều bậc
Tần số 1406 3268 190 98 4960
Tỉ lệ (%) 28,3 65,9 3,8 2 100
Bảng 1 Thống kê các kiểu cấu trúc câu văn theo bình diện CT Đ-T
Từ bảng thống kê trên về các kiểu câu trong tác phẩm Khi người ta trẻ của
Phan Thị Vàng Anh, chúng tôi đưa ra một số nhận xét như sau:
Câu hai phần (một bậc và nhiều bậc Đề - Thuyết) là loại câu chiếm số lượng nhiều nhất Khảo sát tập truyện ngắn có tất cả là 4960 câu thì kiểu câu hai phần, trong đó câu một bậc Đề - Thuyết có 1406 câu chiếm 28,3%, câu nhiều bậc Đề -Thuyết có 3268 chiếm 65,9% Câu hai phần là kiểu câu điển hình, cấu trúc Đề - Thuyết của nó hiện ra rõ ràng với trật từ là Đề trước, Thuyết sau Việc được tác giả
sử dụng khá nhiều trong tác phẩm của mình chứng tỏ rằng khả năng truyền đạt thông tin của kiểu câu này là rất quan trọng VD:
Câu một bậc Đề - Thuyết: Trong truyện ngắn, chúng ta có thể gặp những dạng câu một bậc sau:
+ Câu một bậc có Đề là chủ đề VD: Chúng tôi đã làm đủ số việc được giao
(Hoài cổ)
+ Câu một bậc có Đề là khung đề VD: Bên ấy chư nhặt lá à? (Hoa muộn) + Câu một bậc có thêm thành phần phụ là Trạng ngữ VD: Thùy nhìn mưa len lỏi qua những tàn dừa buồn rầu (Chị em họ)
Cùng với câu hai phần một bậc, sự xuất hiện với tần số cao của kiểu câu hai phần nhiều bậc (65,9%) đã thể hiện được dụng ý nghệ thuật của tác giả Trong truyện ngắn, chúng ta có thể gặp những dạng câu nhiều bậc sau VD:
+ Những tấm đan vỉa hè còn chưa sứt, những ngôi nhà cửa sổ, cửa cái còn xanh đỏ buổi đầu (Trò dối)
+ Con chó nhảy, con mèo kêu, chúng ta cười ha ha, (Lão sư)
Trang 35Đối với câu một phần, như đã đề cập trong phần cơ sở lí luận, câu một phần
là câu chỉ gồm có phần Thuyết, không có Đề trên bề mặt của câu và phải đặt các câu này trong những ngữ cảnh cụ thể thì ta mới hiểu được hết nội dung thông tin
của câu Trong tập truyện ngắn Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh, câu một
phần chiếm tỉ lệ không nhiều (3,8%), tuy nhiên cứ mỗi khi kiểu câu này xuất hiện trong tác phẩm thì dường như đã được tác giả thổi vào đó những dụng ý nghệ thuật rất lớn Có thể xem xét những ví dụ sau:
- Vào hết dép tao rồi (Cuộc ngoạn du ngắn ngủi)
- Toàn sáu cánh (Mười ngày)
chú ý chưa chuyển sang một cái Đề khác Xét ở ví dụ: Vào hết dép tao rồi, chúng ta
sẽ đặt câu hỏi "Cái gì vào hết ở dép?" và cũng không thể nào tìm ra được câu trả lời chính xác là “ói” nếu không đặt câu trong mối quan hệ với các câu trước và sau nó
Xét kĩ các ví dụ còn lại ta cũng thấy rõ điều này Sự có mặt của kiểu câu một phần
đã giúp cho nhà văn một mặt giảm bớt đi cái lan man, dài dòng và đáp ứng đúng yêu cầu của thể loại truyện ngắn mini; mặt khác nó giúp cho nhà văn phối hợp được cái nhìn sắc nhọn với chiều sâu của cảm xúc nội tâm phong phú; nói cách khác, đó
là một cách nhìn, một cách biểu đạt mới về hiện thực cuộc sống, về những con người mới
Câu đặc biệt trong cấu trúc Đề-Thuyết Đây là kiểu câu xuất hiện với tần số cực kì ít trong truyện ngắn này (chiếm tỉ lệ 2 %) Và kiểu câu này cũng đóng vai trò không đáng kể trong việc thể hiện những dụng ý nghệ thuật của nhà văn Truyện ngắn này của Vàng Anh có dung lượng ngôn từ không quá nhiều nhưng không đồng nghĩa là “ngắn” về nội dung Chính vì thế, câu đặc biệt được tác giả sử dụng như là
ý đồ có thể tự ẩn giấu cái Tôi của mình đằng sau câu chữ để tự do, thoải mái bình phẩm, suy xét, xúc cảm trước hiện thực ngồn ngộn của đời sống
Trang 362.1.3 Các tác tử phân chia Đề - Thuyết
Các phương tiện đánh dấu sự phân chia Đề - Thuyết trong câu là trong các tiểu cú là Thì, Là và Mà
2.1.3.1 THÌ
* THÌ là một từ chủ yếu dùng để phân giới Đề - Thuyết (Biến âm do kị húy:
thời Thì đồng âm: “thời cơ”, “thời điểm”: lỡ thì, nhất thì nhì thục.)
Khi có THÌ xuất hiện, chắc chắn trước đó là Đề và sau nó, nếu không có vế câu phụ chú chen vào, là Thuyết của câu, trừ hai trường hợp vừa điểm qua mục ở trên:
Phân giới Đề - Thuyết trong các tiểu cú làm Thuyết (ghép) của câu
Đặt trước phần Thuyết tình thái - Thuyết giả - của câu
* THÌ được sử dụng một cách bắt buộc trong những trường hợp mà nếu vắng
nó thì cấu trúc Đề - Thuyết của câu sẽ bị lẫn với một cấu trúc khác, tất nhiên với nghĩa khác, trọn vẹn hoặc chưa So sánh:
Ví dụ: (6)
a, Anh mà quay lại cười một cái bình thường thì tôi mới chết (Cuộc ngoạn
du ngắn ngủi)
b, Anh mà quay lại cười một cái bình thường tôi mới chết
Câu (6a) có Đề là Anh mà quay lại cười một cái bình thường, Thuyết là thì tôi mới chết Câu (6b) có Đề là Anh mà quay lại cười một cái bình thường, Thuyết
là tôi mới chết Nghĩa trọn vẹn cả, nhưng khác nhau
Ví dụ: (7)
a, Khát thì uống (Cuộc du ngoạn ngắn ngủi)
b, Khát uống
Trong câu (7a) uống làm thành phần Thuyết của câu; trong câu (7b), uống là
bổ ngữ của khát (6a) và (7a) là câu, (6b) và (7b) nghĩa của chưa trọn vẹn, chưa
thành câu, nghĩa rất khác (6) và (7)
* THÌ cũng được sử dụng một cách gần như bắt buộc để tránh một sự khó
khăn trong việc nhận diện Đề và Thuyết, để nghĩa của câu dễ hiểu hơn
Ví dụ: (8)
a, Cái chức Bí thư chi đoàn thì không hẳn là của ai (Phục thiện)
Trang 37b, Cái chức Bí thư chi đoàn, không hẳn là của ai
Ví dụ: (9)
a, Cậu Vỹ thì biến đâu mất (Khi người ta trẻ)
b, Cậu Vỹ, biến đâu mất
Ở những câu (8b), (9b) văn bản có thể ghi một dấu phẩy, nhưng thật ra, ở ranh giới Đề - Thuyết ấy, không có một chỗ ngưng nào trong lời nói
Nếu muốn có một chỗ ngừng cố ý, rõ ràng thì trên văn bản, phải thể hiện ra bằng hai câu (8), (9)
Có thể tranh luận về cách hiểu đúng, nhưng rõ ràng là muốn diễn đạt theo cách hiểu nào thì chỉ việc đặt từ THÌ vào đúng chỗ phân chia Đề - Thuyết của câu theo cách hiểu ấy
THÌ rất cần có mặt ở ranh giới Đề - Thuyết khi phần Đề quá dài, quá phức tạp với nhiều tầng bậc cấu trúc Đề - Thuyết, mà phần Thuyết của câu lại quá ngắn, quá đơn giản so với Đề
* THÌ có thể sử dụng một cách không bắt buộc để nhấn mạnh phần Đề:
VD:
(10) Quán của anh thì anh ngồi chớ! (Trò dối)
(11) Đàn đúm nhiều thì lại hư bằng nhau (Kịch câm)
Ngoài ý nhấn mạnh, trường hợp dùng THÌ không bắt buộc này còn có ý nêu
rõ sự tương phản với một Đề giả định hay đã được nói đến
(12) (Em là đồ trẻ con) Mà anh thì có khá gì hơn đâu? (Nghỉ hè)
Nếu Đề được nhấn mạnh là chủ thể trong quan hệ về nghĩa với động từ trung tâm của phần Thuyết thì có thể lặp một lần nữa sau THÌ Đề là đối thể trong quan hệ
ấy thì không lặp được
* THÌ cũng có thể được dùng ở đầu câu hoặc cuối câu Trong những trường
hợp ấy, nó vẫn là ranh giới giữa Đề và Thuyết của những câu có Đề bị tỉnh lược trong ngữ cảnh hoặc có Thuyết bị bỏ lửng do cố ý hay không cố ý:
(13) Thì yêu tất, ghét mày hoa phượng thôi! (Ngày học cuối)
(14) Chứ không thì… (Con trộm)
Trang 38Tóm lại, THÌ phân giới Đề - Thuyết với nhiệm vụ là xác định Đề, nhất là trong những câu mà những thuộc tại của Đề và Thuyết chưa tự làm rõ được cương
vị của chúng
2.1.3.2 LÀ
a LÀ trong câu có thể là một từ đặc biệt biểu thị quan hệ giữa phần nêu sự
vật, sự việc với phần nêu đặc trưng của nó hoặc giải thích về nó
(15) Trang đầu là một cái ảnh màu (Ngày học cuối)
(16) Em là đồ trẻ con (Nghỉ hè)
Trong những câu trên, LÀ cũng làm nhiệm vụ phân giới Đề - Thuyết, tuy có thể coi nó nằm trong cấu trúc nội bộ của Thuyết
b LÀ làm chức năng báo hiệu cho biết phần đi sau nó là Thuyết, khi phần
này không có hình thái tiêu biểu của một phần Thuyết VD:
(17) Trẻ con ở đây là lũ cháu của em (Trò dối)
(18) Bờ bên kia là dừa nước (Mười ngày)
c Cấu trúc Đề - Thuyết của câu và phương tiện đánh dấu ranh giới Đề -
Thuyết đều bắt buộc phải có LÀ dẫn nhập phần Thuyết nếu không câu sẽ hoặc
không thành câu, hoặc thành một cấu trúc câu khác, với nghĩa khác không đáp ứng
được yêu cầu diễn đạt của Sở thuyết của điều nói LÀ còn dùng để nhấn mạnh phần
Thuyết So sánh:
(19) Giọng đọc nào của "Quan Công"?
(20) Giọng đọc nào là của "Quan Công"? (Buổi học thêm ở tu viện)
(21) Giọng đọc nào là giọng đọc của "Quan Công"?
Sự nhấn mạnh được thực hiện bằng cách dùng LÀ phân giới Đề - Thuyết, có thể có lặp lại Đề một lần nữa Sự lặp lại Đề như trường hợp (21) chỉ có tác dụng nhấn mạnh ý toàn câu (mà phần Thuyết là nhiều hơn), không có ý so sánh, đối chiếu với một ý, một phần Thuyết nào khác
Một phần Thuyết được nhấn mạnh bằng LÀ, nếu muốn có thêm ý so sánh, đối chiếu với một phần Thuyết giả định hoặc với một phần Thuyết đã được nêu ra
trước đó, thì thường phải kết hợp với một từ cơ/kia, hoặc một từ để phản bác chứ, hoặc một từ mà để tỏ ý “mà lại cứ hỏi (hoặc nói khác) mãi” Tất cả những từ phối
hợp này đều ở cuối câu
Trang 39VD: (22)
a, Mọi ngày dữ lắm mà? (Người có học)
b, Mọi ngày dữ lắm cơ mà?
VD: (23)
a, Trước lão sư là cô giáo bên Nam Vang mà (Lão sư)
b, Trước lão sư là cô giáo bên Nam Vang chứ
d LÀ cũng có thể được dùng ở đầu câu hay cuối câu
(24) là những công việc không bao giờ cô làm (Khi người ta trẻ)
(25) Là thật lắm, cháu đùa sao cũng tin là thật! (Khi người ta trẻ)
THÌ và LÀ, với chức năng phân tích Đề - Thuyết, có những trường hợp có thể thay thế được cho nhau Đó là khả năng thay thế trong cấu trúc cú pháp, còn nghĩa của câu không ít thì nhiều cũng có khác đi So sánh
(27) Trong chợ, tôi gần như tựa vào Uyển mà bước (Mười ngày)
(28) Tôi quyết định làm quen theo cái lối đơn giản nhất mà không ai làm (Trò dối)
Trong các câu trên MÀ làm nhiệm vụ phân giới Đề - Thuyết trong tiểu cú làm Đề của câu Khi đó MÀ làm nhiệm vụ này trong tiểu cú làm Đề, có điều lí thú sau cần nhận xét: phần Đề trong cấu trúc ấy - gọi là tiểu Đề - có thể chưa có hoặc chưa rõ một thuộc tính tối quan của Đề: tính xác định
Trong những tiểu cú làm Đề của các câu trên, phần tiểu Đề chỉ có thể dựa vào cấu trúc của toàn câu mà đứng được với tư cách ấy
(29) Ai chịu được cái của này!
Trang 40(30) Ai mà chịu được cái của này! (thì rất giỏi) (Trò dối)
Kiễu cấu trúc có MÀ phân giới Đề - Thuyết trong Đề bao giờ cũng mang
nghĩa điều kiện và thường có thêm một nghĩa tương phản nào đó giữa tiểu Đề và tiểu Thuyết
Trong một số văn cảnh, MÀ không chỉ phân giới tiểu Đề và tiểu Thuyết, nó còn phân giới Đề - Thuyết của câu Trường hợp này bao giờ cũng hàm một nghĩa tương phản trong câu.VD:
(31) Anh mà cũng đọc truyện sao? (Si tình)
(32) Mấy con bận mà đi học thêm được như thế này là quý lắm (Buổi học thêm ở tu viện)
MÀ không thể làm nhiệm vụ phân giới Đề - Thuyết của câu khi nó đứng giữa hai cấu trúc Đề - Thuyết Trong trường hợp ấy, nó chỉ có thể làm từ nối (liên từ hay kết từ) giữa hai nhận định có nghĩa đẳng lặp hoặc tương phản:
(33) Cái ghế của tôi mà tôi phải bỏ đi (Người có học)
Cần chú ý là ý điều kiện trong phần Đề có MÀ có thể là giả thiết, cũng có thể
Khi dùng liên tiếp ở ranh giới Đề - Thuyết, THÌ hoặc MÀ bao giờ cũng đứng trước LÀ
Trong khi trước THÌ và MÀ không thể thêm gì khác thì ở chỗ phân giới ấy,
trước LÀ có thể thêm những từ tình thái như đã, đang, sẽ, cũng, vẫn, đều, chỉ, chắc,…
(36) Họ phân tích bằng cách này hay cách khác, xa hay gần, cho cô thấy rằng
Vỹ chỉ là "thằng Vỹ" mà thôi (Khi người ta trẻ)
(37) Thứ Bảy mà đi chơi với bạn trai, chắc là chưa có bồ mới! (Si tình)