Đội gạo lên chùa không chỉ là một kho kiến thức sâu rộng về lịch sử, về tôn giáo, về văn hóa và về cách suy nghĩ, tình cảm của con người Việt Nam trong chiều dài lịch sử nước nhà qua nh
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ MINH TÚ
CÁC LỚP TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT TRONG TIỂU THUYẾT
“ĐỘI GẠO LÊN CHÙA” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
CÁC LỚP TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT TRONG TIỂU THUYẾT
“ĐỘI GẠO LÊN CHÙA” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn:
TS Bùi Trọng Ngoãn Người thực hiện:
Nguyễn Thị Minh Tú (Khóa 2012 - 2016)
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Bùi Trọng Ngoãn
- người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
bằng một tinh thần khoa học nhiệt thành và nghiêm túc
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa
Ngữ văn, Đại học - Trường Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã giảng dạy và
giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
quan tâm động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên
cứu
Với trình độ và kiến thức còn hạn chế của người viết, luận văn chắc chắn
không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự lượng thứ và góp ý
chân thành của các thầy, cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp đã quan tâm đến vấn đề
được tìm hiểu trong luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Đà N ẵng, tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lí do chọn đề tài 7
2 Lịch sử vấn đề 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 12
NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1 Các lớp từ vựng theo từ vựng học 13
1.1.1 Xét theo theo nguồn gốc 13
1.1.1.1 Từ thuần Việt 13
1.1.1.2 Từ gốc Hán 14
1.1.1.3 Từ gốc Ấn – Âu 15
1.1.2 Xét theo phạm vi sử dụng 16
1.1.2.1 Từ vựng toàn dân 16
1.1.2.3 Từ địa phương 17
1.1.2.4 Biệt ngữ 18
1.1.2.5 Thuật ngữ: 18
1.1.3 Xét theo mức độ sử dụng 19
1.1.3.1 Từ vựng tích cực và từ vựng tiêu cực 19
1.1.3.2 Từ cổ và từ lịch sử 19
1.1.3.3 Từ mới và nghĩa mới 20
1.2 Các lớp từ vựng theo phong cách học 21
Trang 51.2.1 Từ thi ca 21
1.2.2 Từ cũ 22
1.2.3 Từ Hán Việt 23
1.2.4 Từ vay mượn 26
1.2.5 Từ hội thoại 28
1.2.6 Từ thông tục 29
1.2.7 Từ địa phương 31
1.2.8 Từ láy 32
1.1.9 Thành ngữ 33
1.3 Giới thiệu chung về Nguyễn Xuân Khánh và cuốn tiểu thuyết Độ i gạ o lên chùa .34
1.3.1 Nguyễn Xuân Khánh – Nhà văn bậc thầy về ngôn ngữ 34
1.3.2 Độ i gạ o lên chùa – Đặc sắc văn hóa người Việt .38
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VỀ CÁC LỚP TỪ VỰNG TRONG 40
ĐỘI GẠO LÊN CHÙA 40
2.1 Từ thi ca 41
2.2 Từ cũ 43
2.3 Từ Hán Việt 45
2.4 Từ vay mượn Ấn – Âu .49
2.5 Từ hội thoại 55
2.6 Từ thông tục 57
2.7 Từ địa phương 59
2.8 Từ láy 60
2.9 Thành ngữ 70
2.10 Biệt ngữ tín ngưỡng 72
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA CÁC LỚP TỪ VỰNG ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM ĐỘI GẠO LÊN CHÙA 74
3.1 Vai trò của các lớp từ vựng đối với việc thể hiện bức tranh hiện thực xã hội 74
Trang 63.1.1 Bạch hóa một góc khuất của quá khứ 75 3.1.2 Một chân dung văn hóa của làng quê Bắc bộ 77 3.2 Vai trò của các lớp từ vựng đối với các hình tượng nhân vật 81 3.2.1 Những chân dung nhân vật phụ nữ được khắc họa bằng các mảng màu từ vựng .81 3.2.2 Những điểm tựa tinh thần trong cách ứng xử của các nhân vật thể hiện qua hệ thống biệt ngữ .85
3.2.3 Tính chân thật của nhân vật thể hiện qua lớp từ vựng khẩu ngữ, thông tục 88
3.3 Vai trò của các lớp từ vựng đối với phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Xuân Khánh và đối với phong cách nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh .92 3.3.1 Vai trò của các lớp từ vựng đối với phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Xuân Khánh .92 3.3.2 Vai trò của các lớp từ vựng đối với phong cách nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh .94 KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hồn cốt của một tác phẩm văn chương là ở những tầng nghĩa, là ở những tư tưởng, ý tưởng; nhưng chất liệu để làm nên trạng thái hiện tồn của nó là ở những tầng vỉa ngôn từ Trông bể quặng ngôn từ ấy, mỗi nhà văn sẽ tinh luyện làm sao để
có được phần tinh hoa cần thiết để biểu đạt hết những điều muốn nói
Có thể thấy, trong xu hướng phát triển hết sức mạnh mẽ và đa dạng của dòng tiểu thuyết văn hóa - lịch sử, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nổi lên như một hiện
tượng nổi trội Chùm ba trường thiên tiểu thuyết Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thư ợng ngàn (2006) và Độ i gạ o lên chùa (2011) đã minh chứng chân dung của một tiểu thuyết gia hàng đầu Nếu như Hồ Quý Ly hướng tới khái thác nhân chứng lịch sử,
Mẫ u thư ợng ngàn hướng tới khai thác vấn đề phong tục thì Đội gạo lên chùa khai thác vấn đề tôn giáo So với hai cuốn tiểu thuyết trước thì Độ i gạ o lên chùa được
coi là thành công ở tầm mức cao hơn
Đội gạo lên chùa không chỉ là một kho kiến thức sâu rộng về lịch sử, về tôn
giáo, về văn hóa và về cách suy nghĩ, tình cảm của con người Việt Nam trong chiều dài lịch sử nước nhà qua nhiều giai đoạn khác nhau; mà còn là một cuốn từ điển về ngôn ngữ, cụ thể hơn là về các lớp từ vựng rất giàu giá trị tu từ Bằng việc lựa chọn, tinh lọc, và sử dụng các lớp từ vựng một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn
mà xuyên suốt một thời đoạn dài của lịch sử từ kháng chiến chống Pháp đến cải cách ruộng đất rồi đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, đã được hiện lên với một cái
nhìn đa diện, nhiều chiều và vô cùng sinh động, chân thực
Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ làm rõ được sự phong phú, đa dạng, cũng như những giá trị tu từ to lớn của các lớp từ vựng của
Trang 8tiếng Việt Đồng thời, góp phần khẳng định những đóng góp của tác giả trong việc
phát triển các lớp từ vựng tiếng Việt nói riêng và cho tiến trình vận động của văn
học Việt Nam nói chung
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Các lớ p từ vự ng tiế ng Việ t
trong tiể u thuyế t Đ ội gạo lên chùa của Nguyễ n Xuân Khánh” làm khóa luận tốt
nghiệp
2 Lịch sử vấn đề
“Đ ội gạo lên chùa” là cuốn tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nguyễn Xuân
Khánh được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành và đã nhận được Giải thưởng Hội Nhà
văn Việt Nam - 2011
Về mặt nội dung, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, đánh giá về tác phẩm
Đội gạo lên chùa, cụ thể như Đỗ Ngọc Yên trong bài Một cách kiế n giả i khác về
lị ch sử dân tộ c qua “Đ ội gạo lên chùa”: Chưa cần bàn đến nội dung của nó, xem
qua “hòn gạch nung” còn nóng hôi hổi, vừa mới ra lò của cụ già U80 này, những
người nhát gan chắc sẽ phải ngất xỉu Vừa là người rất quí trọng tài năng và đức độ
của cụ Khánh, lại là người cùng làm nghề viết mà tôi đã phải cật lực ra mất hàng
tháng trời mới đọc hết được “Đ ội gạo lên chùa” Thực ra cũng chỉ mới đọc qua
thôi, chứ đọc kỹ và ngẫm về những điều cụ muốn gửi gắm ở đây, chắc là phải mất
hàng năm Tuy nhiên, theo tôi điểm nổi bật nhất của “Đ ội gạo lên chùa” chính là ở
cách kiến giải khác về lịch sử dân tộc Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã lấy một
phần câu ca dao Ba cô đ ội gạo lên chùa/ Một cô yế m thắ m bỏ bùa cho sư để đặt tên cho trường thiên tiểu thuyết của mình Nhưng ông lại lấy bốn câu trong bài thơ
“Cư trần lạc đạo phú” của Vua Trần Nhân Tông, một vị vua duy nhất trong lịch sử
nước ta đã tự xuống tóc để lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và được người
đời tôn vinh là ông tổ của Phật giáo Việt Nam để làm đề từ cho cuốn sách Trong
Trang 9đó, đáng chú ý nhất là câu: Cư trần lạc đạo thả tùy duyên (tạm dịch: Ở giữa cõi trần vui với Đạo hãy tùy duyên) Nếu tinh ý, người đọc có thể hiểu được dụng ý của tác
giả trong việc kiến giải lịch sử dân tộc, theo phương cách “tùy duyên” (Mộ t cách kiế n giả i khác về lị ch sử dân tộ c qua “Đ ội gạo lên chùa”; trang
web:vanhocquenha.vn; ngày truy cập 12/4/2016)
Với nhà văn Hoàng Quốc Hải - người cũng đau đáu với những cuốn tiểu thuyết lịch sử - nêu những điều tâm đắc của mình về cuốn tiểu thuyết của người đồng nghiệp tài hoa: "Anh luôn đụng đến những vấn đề bản chất của văn hóa Việt,
đó là Mẫu thư ợng ngàn - hiện tượng văn hóa thuần Việt; và giờ đây là đạo Phật - hiện tượng văn hóa du nhập nhưng đã được Việt hóa Ðộ i gạ o lên chùa cũng là lời
cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu thẳm, đẹp đẽ của văn hóa Việt đang bị phá
hủy, đang dần biến mất" (Nguyễn Xuân Khánh “Độ i gạ o lên chùa”; trang web:
chuyentrang.tuoitre.vn; ngày truy cập: 12/4/2016)
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nói về tác giả và tác phẩm Độ i gạ o lên chùa: "Nhà văn phải cảm ơn nhà xuất bản vì đã in, cảm ơn bạn đọc vì đã mua và đã
đọc Lý do: sách quá dày, quá nặng và không phải loại dễ đọc Nhưng đọc rồi
người đọc sẽ cảm ơn nhà văn vì những gì ông đã viết" (Nguyễn Xuân Khánh “Đội
gạ o lên chùa”; trang web: chuyentrang.tuoitre.vn; ngày truy cập: 12/4/2016)
Theo nhà văn Nguyễn Khắc Phê, in trong báo Phụ Nữ TPHCM số ra ngày
17-6-2011, Độ i gạ o lên chùa là một cuốn sách có sức nặng, rất nặng - cả về nghĩa đen và nghĩa bóng Vì tiểu thuyết dày tới 866 trang - hơn cả Hồ Quý Ly và Mẫ u Thư ợng ngàn - và qua số phận hàng chục nhân vật ở một làng quê quanh chùa Sọ,
tác giả miêu tả những biến động của xã hội Việt Nam suốt từ thời chống Pháp cho đến sau ngày đất nước thống nhất, đụng chạm đến rất nhiều vấn đề văn hóa-xã hội, triết lý nhân sinh Ở tác phẩm này, Nguyễn Xuân Khánh vẫn viết theo lối cổ điển,
Trang 10mạch chuyện chủ yếu theo trình tự thời gian: sau cải cách là sửa sai, rồi hợp tác hóa, tòng quân vào Nam, rồi thống nhất đất nước… Làng xóm, họ tộc, gia đình tan rồi hợp với không ít tình tiết có thể gọi là ly kỳ… Những năm vừa qua, không ít tiểu thuyết đã viết về đề tài tương tự, nhưng khác với các nhà văn khác, Nguyễn Xuân Khánh đặt ngôi chùa và những nhà sư trong bối cảnh đó, lấy Phật giáo làm điểm nhìn để soi rọi, suy ngẫm về các sự kiện đó, các nhân vật không chỉ đối đầu theo kiểu “địch-ta” mà mỗi người còn có cuộc đấu tranh gay go với lẽ sống, đạo lý
của mình, nhờ đó, Độ i gạ o lên chùa có ý nghĩa sâu rộng hơn, chạm đến những vấn
đề muôn thuở của kiếp người (NGUYỄN XUÂN KHÁNH "ĐỘI GẠO LÊN CHÙA"; trang web: trannhuong.net; ngày truy cập 12/4/2016)
Nguyễn Thị Phượng trong luận văn thạc sĩ Văn học, Đại học Quốc gia Hà
Nội “Tiểu thuyết Độ i gạ o lên chùa từ góc nhìn văn hóa” đã khẳng định những giá
trị của cuốn tiểu thuyết về phương diện văn hóa Tác giả dã trình bày khá đầy đủ về những nét văn hóa đặc sắc trong cuốn tiểu thuyết này: văn hóa Phật giáo, văn hóa làng quê, các không gian sinh hoạt, và hình ảnh của người phụ nữ lưu giữ những nét đẹp Việt
Nguyễn Danh Thực trong luận văn thạc sĩ Văn học, Đại học Quốc gia Hà
Nội “Tiểu thuyết Độ i gạ o lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ tâm thức Phật
giáo” đã tìm hiểu và đi sâu nghiên cứu sự nhập thế của Đạo Phật trong lòng dân tộc
qua lịch sử thăng trầm của đất nước cụ thể trong tác phẩm Độ i gạ o lên chùa của
một người xuất gia Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật qua: ngoại hình, hành động; ngôn ngữ và nghệ thuật xây dựng tính cách, tâm lý nhân vật; nghệ thuật xây dựng người kể chuyện qua: ngôi kể, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật…
Trang 11Khác với bình diện nội dung, các khía cạnh nghệ thuật của Độ i gạ o lên chùa
chưa có nhiều nghiên cứu Ngô Thị Hường trong luận văn chuyên ngành Văn học
Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội “Độ i gạ o lên chùa nhìn từ góc độ thi pháp thể
loại” đã nghiên cứu khá thành công thi pháp kết cấu và tổ chức không gian, thời gian trong tiểu thuyết, đồng thời thể hiện rõ nét hiện tượng giao thoa về mặt thể loại và sự thâm nhập của yếu tố lịch sử và văn học
Trần Thị Hường, luận văn thạc sĩ Văn học, Đại học Thải Nguyên “Tiểu
thuyết Độ i gạ o lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh trong thành tựu văn chương thời
đổi mới” đã nghiên cứu khá đầy đủ và sâu sắc những nét giá trị cả về nội dung lần nghệ thuật trong tác phẩm này Trong luận văn của mình, tác giả đã làm rõ những đóng góp của tác phẩm về vấn đề khái quát văn hóa và lịch sử dân tộc, cũng như những nét đặc sắc trong cách sử dụng ngôn ngữ, xây dựng kết cấu, thế giới nhân vật… Tuy nhiên, vì đề tài quá rộng, nên tác giả chỉ tập trung vào ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ độc thoại, đối thoại của nhân vật, mà không phân tích về năng lực biểu đạt của ngôn ngữ
Như vậy có thể nói, đã có rất nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu
khoa học về nội dung lẫn nghệ thuật trong tiểu thuyết Độ i gạ o lên chùa Về mặt
nghệ thuật, các công trình nghiên cứu trước đó chỉ dừng lại ở việc làm rõ về kết cấu, cách tổ chức không gian, thời gian; cách xây dựng ngôn ngữ kể chuyện, đối thoại, độc thoại Với việc nghiên cứu và làm rõ các lớp từ vựng giàu giá trị tu từ
trong tác phẩm Độ i gạ o lên chùa, chúng tôi khẳng định đây là một đề tài mới mẻ,
và chưa có ai chạm đến
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các lớp từ vựng giàu giá trị tu từ trong cuốn tiểu
thuyết Độ i gạ o lên chùa xét từ góc độ phong cách học
Trang 12Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Độ i gạ o lên chùa
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê, định lượng, định tính
Phương pháp này được sử dụng để khảo sát, thống kê tần số xuất hiện và phân loại các lớp từ vựng, lấy đó làm cơ sở phân tích, nhận xét, đánh giá về giá trị biểu đạt của đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, khái quát hóa
Sau khi đã khảo sát và thống kê chính xác, sử dụng phương pháp này để mở rộng, đào sâu và bao quát hơn vấn đề nghiên cứu
Trang 13Theo Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt”: Ngoài
nhữ ng từ có thể xác đ ị nh chắ c chắ n là tiế ng Việ t tiế p nhậ n củ a tiế ng Hán và các
nguồ n gố c Ấn – Âu, tấ t cả các từ còn lạ i thư ờng đư ợc gọi là các từ thuần Việ t
Nhữ ng từ đư ợc gọi là thuần Việ t thư ờng trung với bộ phận từ vựng gốc của tiế ng
Việ t, chúng biể u thị nhữ ng sự vậ t, hiệ n tư ợng cơ b ản nhất, chắc chắn phải tồn tại
từ rấ t lâu Nế u so sánh bộ phậ n từ vự ng thuầ n Việ t vớ i các từ tương ứng trong
tiế ng Mư ờng, các tiế ng Tày – Thái và Môn – khơ me, ngư ời ta nhận thấy rằng
nhiề u từ thuầ n Việ t có sự giố ng nhau nhấ t đ ị nh về mặ t ngữ âm và ngữ nghĩa v ới
các từ tương ứng trong các ngôn ngữ kể trên Dự a vào đó, các nhà ngôn ng ữ học
đã đưa ra nhi ề u giả i thuyế t khác nhau về nguồ n gố c củ a tiế ng Việ t Đ ại loại có ba
khuynh hư ớng chính như sau: Th ứ nhất, cho rằng tiế ng Việ t bắ t ngồ n từ các ngôn
ngữ Môn – Khơ me (Nam Á) Th ứ hai, cho tiế ng Việ t bắ t nguồ n từ các nguôn ngữ
Tày – Thái Thứ ba, cho tiế ng Việ t sinh ra do sự hỗ n hợ p củ a ngôn ngữ Nam Á và
Tày – Thái Cho đ ế n nay, vấ n đ ề nguồ n gố c củ a tiế ng Việ t chưa th ể coi là đã ngã
ngũ T ất cả các từ trong tiế ng Việ t có quan hệ nguồ n gố c hay quan hệ tiế p xúc vớ i
các ngôn ngữ Nam Phương và các t ừ chưa xác đ ị nh đư ợc nguồn gốc đ ề u đư ợc coi
là từ thuầ n Việ t [5;269]
Trang 14Những từ sau đây có sự tương ứng với tiếng Mường: chớ p, vự c, thác, mồ m,
vợ , chồ ng, ông, đàn ông, đàn bà, ăn, u ống, cư ời, gói, lót, xách, bơi, lau, g ỡ, đánh,
tắ m, chạ y, mua, bán, khát, dữ , hay, thư ờng, vá, váy, trống, cơm, cây, g ỗ, cau, cỏ,
gà, trứ ng, lợ n, sừ ng, đu ổi…
Những từ sau đây có sự tương ứng với nhóm Tày – Thái: đư ờng, rẫy, chắt,
bắ t, cóc, buộ c, ngắ t, ngẫ m, ngợ i, bánh, mo, ngọ n, méo…
Những từ sau đây có sự tương ứng với nhóm Việt – Mường và Tày – Thái:
bão, bề , bát, tên, giặ t, số ng, may, phân, than, dao, trùm, ngà voi, đen, g ạo…
Những từ sau đây có sự tương ứng với nhóm Việt – Mường và Môn – Khơ
me: trờ i, mây, mưa, s ấm, sét, mù, rừng, đèo, d ốc, khói, lỗ, đ ồng bằng, ngư ời, bàn
chân, đ ầu gối, da, tim óc, mẹ , mày, nó, bọ n, nhá, ôm, cõng, đ ắp, cởi, mặc, phá, bôi,
bưng…
1.1.1.2 Từ gốc Hán
Theo Nguyễn Thiện Giáp, tiếng Việt và tiếng Hán đều là ngôn ngữ có nguồn
gốc lịch sử lâu đời Sự tiếp xúc của hai ngôn ngữ này bắt đầu từ khi bọn phong
kiến nhà Hán của Trung Quốc xâm chiếm nước ta Trong quá trình tiếp xúc giữa
hai ngôn ngữ, tiếng Việt đã tiếp nhận một khối lượng ngôn ngữ rất lớn của tiếng
Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của mình [5; 274]
Các từ ngữ tiếp nhận của tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt (các từ Hán Việt)
là một bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của tiếng Việt Nó bao gồm những từ
ngữ Hán Việt được tiếp nhận từ đời Đường và các triều đại tiếp theo cho đến ngày
nay và những từ ngữ Hán Việt được cấu tạo ở Việt Nam
Ngoài các từ Hán Việt ở trên, trong tiếng Việt còn có một số từ gốc Hán
nhưng không đọc theo âm Hán Việt Những từ này chiếm một số lượng ít, lẻ tẻ,
Trang 15không làm thành hệ thống như các từ Hán – Việt Những từ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt có thể gồm những từ vào Việt Nam trước đời Đường – những từ Hán cổ và những từ Hán Việt được Việt hóa
Cũng như các từ vay mượn ở gốc Hán, các từ gốc Pháp khi đi vào tiếng Việt
có sự biến dổi về cách phát âm và chữ viết theo quy luật phát âm của tiếng Việt
Nguyễn Thiện Giáp nhận định, mứ c dộ Việ t hóa các từ ngoạ i lai gố c Ấn –
Âu không giố ng nhau Nhữ ng từ tiế p nhậ n bằ ng con đư ờng khẩu ngữ thư ờng đư ợc Việ t hóa nhiề u hơn các t ừ tiế p nhậ n bằ ng con đư ờng sách vở [5; 289]
Đặc điểm của tiếng Việt là mỗi từ là một âm tiết, một thanh điệu, trong từ không có phụ âm kép, không có âm câm Nhiều từ Ấn – Âu vốn là đa âm tiết, không có thanh điệu, không có phụ âm kép, có âm câm khi vào tiếng Việt đã biến đổi đi, hoàn toàn giống diện mạo của một từ Việt Ví dụ:
Trang 16Ngoài tiếng Pháp, chúng ta còn mượn một số từ tiếng Anh như: meeting,
boxe, tennis…; một số từ tiếng Nga như: công-xô-môn, bôn-sê-vích, xô-viết,
xa-mô-va…
Xã hội Việt Nam càng phát triển, sự giao lưu kinh tế rộng rãi với nhiều hình
thức trên thế giới đã đòi hỏi phải có sự tiếp cúc ngôn ngữ giữa các nước Việc dùng
các từ vay mượn, các thuật ngữ có tính quốc tế là một việc tự nhiên Xu thế vay
mượn Ấn – Âu ngày càng tăng Việc sử dụng những thuật ngữ khoa học mang tính
quốc tế là cần thiết Song trong giao tiếp thông thường nói chung, việc lạm dụng từ
vay mượn gây khó chịu cho người đối thoại, gây cười
1.1.2 Xét theo phạm vi sử dụng
1.1.2.1 Từ vựng toàn dân
Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ vự ng họ c tiế ng Việ t” đã đưa ra khái niệm: Từ
vự ng toàn dân là nhữ ng từ toàn dân hiể u và sử dụ ng Nó vố n là từ chung cho tấ t cả
nhữ ng ngư ời nói tiế ng Việ t thuộ c các tầ ng lớ p xã hộ i khác nhua Đây chính là l ớp
từ vự ng cơ b ản, lớp từ vựng quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ [5;291]
Hay có thể nói: từ vựng toàn dân biểu thị những sự vật, hiện tượng hay khái
niệm quan trọng và cần thiết nhất trong đời sống
Ví dụ: Những từ chỉ hiện tượng thiên nhiên: mưa, n ắng, núi, sông…; những
từ chỉ bộ phận cơ thể người: đ ầu, mình, mắt, mũi, chân, tay; những từ chỉ hoạt
động thường: đi, đ ứng, nói, cư ời, sống, chế t…
Về mặt nguồn gốc: vốn từ toàn dân của tiếng Việt có thể bao gồm các từ có
quan hệ với tiếng Môn – Khơ me như: sông, lớ p, mũi… ; với tiếng Thái như ngự c,
vai, gà, bè… ; có thể gồm các từ mượn Hán như: đ ầu, gan, góc…
Trang 17Từ vựng toàn dân là bộ phận nòng cốt của từ vựng văn học Nó là vốn từ cần thiết nhất để diễn đạt tư tưởng trong tiếng Việt Từ toàn dân là cơ sở để cấu tạo các
từ mới, làm giàu cho từ vựng tiếng Việt nói chung Phần lớn các từ thuộc vốn từ toàn dân là những từ trung hòa về mặt phong cách (tức là có thể được dùng trong các phong cách chức năng khác nhau)
1.1.2.3 Từ địa phương
Từ đ ị a phương là nh ững từ đư ợc dùng hạn chế ở mộ t hoặ c mộ t vài đ ị a phương Nói chung, t ừ đị a phương là b ộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày củ a mộ t vùng nào đó ch ứ không phải từ vựng của ngôn ngữ văn h ọc [5;293]
Các kiểu từ địa phương là: Từ địa phương dân tộc học, từ ngữ địa phương có
sự đối lập về ngữ âm nhưng có nghĩa tương ứng với từ toàn dân hoặc địa phương khác
Lưu ý rằng, có hiện tượng từ toàn dân trở thành từ địa phương (chốc, gấy…)
và ngược lại (chôm chôm, sầu riêng, đ ặng…) Các từ địa phương được vận dụng trong các tác phẩm văn học để làm tăng sắc thái địa phương và có giá trị biểu cảm
Ví dụ:
- Rͱa là hế t chiề u ni em đi mãi
-…5ăQJ không cô gái trên sông
- Ĉ̹ ng nͣ vợ chưa ÿ̹ng nͣ
Tuy nhiên, cần tránh việc lạm dụng từ ngữ địa phương Gorki từng viết:
“Dùng từ mà chỉ nhân dân một vùng hiểu là sai lầm nghiêm trojng, là phản nghệ thuật”
Trang 181.1.2.4 Biệt ngữ
Biệ t ngữ là nhữ ng từ đư ợc sử dụng hạn chế trong mộ t cộ ng đ ồng xã hội,
thư ờng mang sắc thái tín ngư ỡng tôn giáo [10;38] ví dụ:
- Biệt ngữ của người theo đạo Thiên Chúa: a-men: xin đư ợc như kiêng vi ệ c xác, kẻ
liệ t (kẻ sắ p chế t), nhạ t đ ạo…
- Biệt ngữ của người theo đạo Phật: bố trí, trì giớ i, Niế t bàn, ta bà…
- Biệt ngữ trong triều đình phong kiến: bệ hạ , trẫ m, ái khanh, ngự thiệ n, ngự ngơi,
quả nhân…
1.1.2.5 Thuật ngữ:
Theo Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ vựng học tiếng Việt”, thuậ t ngữ là bộ
phậ n từ ngữ đ ặc biệ t Đó là h ệ thố ng các từ và cụ m từ cố đ ị nh dùng đ ể gọ i tên các
khái niệ m trong khoa họ c cụ thể [5;308] Ví dụ:
- Hệ thống thuật ngữ toán học: hàm số , tích phân,…
- Hệ thống thuật ngữ hóa học, triết học
Theo Đinh Trọng Lạc, trong cuốn “99 phương tiện và biện pháo tu từ tiếng
Việt”, thuậ t ngữ là nhữ ng Từ và cụ m từ chỉ nhữ ng khái niệ m khoa họ c, trong đó phả n ánh nhữ ng thuộ c tính trọ ng yế u và đ ặc trưng c ủa đ ối tư ợng [13;42]
Thuật ngữ có ba đặc điểm: tính chính xác, tính hệ thống và tính quốc tế Mỗi
văn bản khoa học cần sử dụng một hệ thống thuật ngữ riêng, không được lạm
dụng, tùy tiện, phải hiểu rõ nội dung khái niệm trước khi đem ra dùng
Muốn định nghĩa thuật ngữ, cần hiểu tường tận về khoa học có thuật ngữ
này Công việc này vượt quá khả năng nhà ngôn ngữ học, đòi hỏi phải có sự đóng
góp của các nhà chuyên môn thuộc lĩnh vực tương ứng
Trang 19Thuật ngữ dẫu sao vẫn là một bộ phận của hệ thống từ vựng nói chung, có
quan hệ với các từ khác trong hệ thống ngôn ngữ Khi mà trình độ khoa học của
quần chúng được nâng lên thì màu sắc chuyên môn và phạm vi sử dụng hạn chế
của thuật ngữ sẽ không còn đối lập hoàn toàn với ngôn ngữ toàn dân
1.1.3 Xét theo mức độ sử dụng
1.1.3.1 Từ vựng tích cực và từ vựng tiêu cực
Theo Nguyễn Thiện Giáp, từ vự ng tích cự c là nhữ ng từ ngữ quen thuộ c, đư ợc sử
dụ ng thư ờng xuyên trong phạm vi nào đó c ủa việ c giao tiế p bằ ng ngôn ngữ [5;
327]
Từ vự ng tiêu cự c là nhữ ng từ vự ng ít dùng hoặ c không đư ợc dùng Nó bao gồm
nhữ ng từ ngữ đã l ỗi thời và các từ ngữ còn mang sắc thái mới, chưa đư ợc dùng
rộ ng rãi [5; 328]
1.1.3.2 Từ cổ và từ lịch sử
Từ cổ là nhữ ng đơn v ị từ vự ng đã t ồn tại lâu đ ời trong quá khứ tiế ng Việ t
nhưng nay vì đã có nh ững từ đồng nghĩa tương ứng tahy thế nên nó ít đư ợc sử
dụ ng hoặ c không đư ợc sử dụng (Như v ậy chính sự xuất hiệ n củ a các từ đ ồng nghĩa tương ứng làm cho chúng trở nên lỗi thời) [5; 328]
Có thể thấy các loại sau:
Những từ cổ đã hoàn toàn biến khỏi ngôn ngữ văn học hiện đại Chúng chỉ
còn trong các tác phẩm văn học cổ Ví dụ: Bui (duy, riêng), áy (héo), khở i (khỉ ), ru
(trợ từ)
Trang 20Những từ còn để lại dấu vết trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị lu
mờ vì chúng không được sử dụng độc lập Ví dụ: bỏ ng (bé bỏ ng), vì (vì nể ), han
(hỏ i han), khôn (khó), chác (mua), nệ (cậ u nệ ), tác (tuổ i), lệ (e, sợ )
Từ lị ch sử là nhữ ng từ ngữ biể u thị nhữ ng đ ối tư ợng trong quá khứ mà
nhữ ng đ ối tư ợng đó hi ệ n nay không còn nữ a, làm cho chúng trở nên lỗ i thờ i
[5;329]
Trong quá trình phát triển của lịch sử, nhiều sự vật hiện tượng mất đi nên tên
gọi của các sự vật hiện tượng đó tự nhiên cũng ít dùng hoặc không được dùng nữa
Ví dụ: thái thú, tuầ n phủ , tổ ng đ ốc, thái tử, công chúa, vương phi, thái hoàng, hoàng thúc, trạ ng nguyên, thám hoa…
Khác với từ cổ, từ ngữ lịch sử không có từ đồng nghĩa tương ứng trong vốn
từ tiếng Việt hiện đại Bình thường chúng ít được sử dụng nhưng khi cần diễn đạt
những vấn đề có tính chất lịch sử (viết các hồi kí, tiểu thuyết lịch sử) thì chúng
được phụ nguyên
1.1.3.3 Từ mới và nghĩa mới
Từ mớ i là nhữ ng từ đư ợc hình thành và chưa bao gi ờ thuộc về lớ p từ vự ng
hoạ t đ ộng Dần dần với thời gian, những từ mới nhập vào vốn từ tiế ng Việ t hiệ n
đại Chừng nào các từ đó đư ợc thu vào vốn từ tích cực, đư ợc sử dụng giao tiế p
rộ ng rãi thì chúng không còn là từ mớ i nữ a [5;334]
Trong thời đại hiện nay, do giao lưu kinh tế và hợp tác về nhiều mặt giữa các
dân tộc, nhiều sự vật mới, quan hệ xã hội mới được hình thành Vì vậy trong hệ
thống tiếng Việt cũng hình thành nhiều từ mới
Trang 21Xu thế dùng từ cũ mà có nghĩa mới dựa vào sự mở rộng nghĩa của từ hiện
nay đang là xu thế phát triển trong tiếng Việt Điều này thể hiện tính tiết kiệm
trong ngôn ngữ
1.2 Các lớp từ vựng theo phong cách học
Phong cách học không miêu tả các lớp từ vựng theo các tiêu chí nguồn gốc, phạm
vi sử dụng, mức độ sử dụng như từ vựng học; mà chỉ hướng vào giá trị tu từ học
của các lớp từ vựng Vì vậy, Đinh Trọng Lạc đã tập hợp chúng như sau:
1.2.1 Từ thi ca
Trong “99 phương di ệ n và biệ n pháp tư t ừ tiế ng Việ t”, Đinh Trọng Lạc cho
rằng: Từ thi ca là từ đư ợc sử dụng chủ yế u trong thơ văn xưa, ngày nay n ế u dùng
để chỉ nhữ ng con ngư ời, sự vật hiệ n đ ại thì thấy kệ ch cỡ m, buồ n cư ời Ví dụ: nàng,
chàng, giai nhân, tráng sĩ, chinh phu, ly tao, tr ầm tư, đ ồng vọng…[13;13]
Từ thi ca bao gồm cả những từ rút trong thơ cổ, có tính chất điển: giấ c đi ệ p,
chim xanh, hồ ng nhan, tri kỉ , tao đàn, m ặc khách, tài tử, văn nhân Thuộc vào loại
này có cả những từ được nâng lên mức tượng trưng: Cô Tô, hoàng hạ c, Trư ờng
thành, Liêu Dương. Ví dụ:
Thâm nghiêm kín cổ ng cao tư ờng
Cạ n dòng lá th̷ m dứ t đư ờng chim xanh
(Nguyễn Du)
Phong cách thơ cổ có những từ của thơ cổ, phong cách thơ mới có những từ
của thơ mới Có những câu thơ, câu văn miêu tả những nhân vậy, những tình cảm
hiện đại, nhưng tác giả lại lạm dụng cái ngôn ngữ thi ca cổ, cầu kì mà lại lỗi thời,
buồn cười
Trang 22Lẽ dĩ nhiên, trong loại thơ trào phúng thì có những trường hợp khéo vận dụng thơ cũ, đặt đúng chỗ, dùng đúng lúc một số từ của thơ văn xưa, có thể tăng thêm chất trào lộng:
- Gớ m cho cái sóng khuynh thành
Làm cho nổ lố p gẫ y vành như chơi.
- Phòng văn l ạnh ngắt như đ ồng Quạ t trầ n mê mả i vẫ n lồ ng lộ n quay
(Thợ Rèn)
1.2.2 Từ cũ
Theo Đinh Trọng Lạc trong “99 phương di ệ n và biệ n pháp tư t ừ tiế ng Việ t”:
Từ cũ là t ừ đã đư ợc sử dụng từ lâu đã ch ỉ đ ối tư ợng và khái niệ m vẫ n đang t ồn tại
Ví dụ : cao thâm (cao và sâu sắ c), chính chuyên (mộ t lòng chung thủ y vớ i chồ ng), lao tâm (lao đ ộng trí óc một cách vất vả, căng th ẳng), hữu sự (có biế n cố ), nhấ t sinh (suố t đ ời), nhất đ ẳng (hạng tốt nhất – nói về ruộ ng đ ất), đ ại gia (dòng họ lớn
có tiế ng tăm đ ời trư ớc), đ ề khở i (nêu ra, nhắ c đ ế n).[13;14]
Ông cho rằng, từ cổ khác với từ cũ ở chỗ nó hoàn toàn không được sử dụng trong tiếng Việt hiện đại, mà chỉ xuất hiện trong những văn bản cũ, người đọc phải
xem chú thích mới hiểu Ví dụ: âu (lo), khố ng (chịu), lăm (cố giữ), bui (chỉ huy)
Trong sáng tác văn học, những từ cũ được sử dụng như một phương tiện tu
từ để miêu tả, tái tạo cuộc sống Nhiều khi chỉ cần điểm một vài từ cũ là tính cách
nhân vật cũng đã hiện ra rất rõ nét Ví dụ: lời lẽ của nhân vật Huấn Cao trong Chữ ngư ời tử tù của Nguyễn Tuân:
Trang 23Chữ ta thì quý thự c Ta nh̭ t sinh không chỉ vì vàng ngọ c hay quyề n thế mà
ép mình viế t câu đ ối bao giờ Đ ời ta cũng m ới viế t có hai bộ bình và mộ t bứ c trung
đư ờng cho ngư ời bạn thân của ta thôi Ta rất cảm kích tấm lòng bi͏ t nhͩ n liên tài
củ a các ngư ời
1.2.3 Từ Hán Việt
Trong cuốn “99 phương di ệ n và biệ n pháp tư t ừ tiế ng Việ t”, Đinh Trọng Lạc
đã nói: Từ Hán Việ t là từ Việ t mư ợn ở tiế ng Hán, phát âm theo cách Việ t Nam (quy ước thời Đư ờng – Tống)[13;15]
Ngày nay trong kho từ ngữ tiếng Việt vẫn đang tồn tại hàng loạt cặp từ thuần Việt và Hán Việt có nghĩa tương đương (đẳng nghĩa), khác nhau về mặt sắc thái ý nghãi, về màu sắc biểu cảm, cảm xúc, bình giá, phong cách
Ông đã trình bày rất rõ sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa giữa từ Hán Việt và thuần Việt Từ Hán Việt do sắc thái ý nghĩa trừu tượng, khái quát nên mang tính chất tĩnh tại, không gợi hình, không mang tính chất miêu tả sinh động Từ thuần Việt do có tính chất miêu tả cụ thể nên mang tính chất sinh động, gợi hình So
sánh: thả o mộ c (Hán Việt) và cây cỏ (thuần Việt), thi hài và xác chế t, viêm và loét, thổ huyế t và hộ c máu, thư ợng thổ hạ tả và miệ ng nôn trôn tháo
Ngoài ra còn có sự khác nhau về màu sắc biểu cảm – cảm xúc Nhiều từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, thanh nhã, trong khi đó nhiều từ thuần Việt mang
sắc thái thân mật, trung hòa, khiếm nhã So sánh: phu nhân (Hán Việt) và vợ (thuần Việt) khác nhau về sắc thái trang trọng và trung hòa, hi sinh và chế t – sắc thái cao quý, trang trọng và trung hòa, tạ thế và mấ t – sắc thái trang trọng và thân mật, hậ u môn và lỗ đít – sắc thái thanh nhã và khiếm nhã
Trang 24Bên cạnh đó, còn có sự khác nhau về màu sắc phong cách Từ Hán Việt nhìn
chung có màu sắc phong cách gọt giũa và thường được dùng trong các phong cách:
khoa học, chính luận, hành chính Từ thuần Việt nhìn chung có màu sắc đa phong
cách, một số chỉ thích hợp với phong cách sinh hoạt So sánh phát biể u (Hán Việt)
và nói (thuần Việt) khác nhau về màu sắc gọt giũa và màu sắc đa phong cách, sơn
hà và núi sông – gọt giũa và đa phong cách, từ trầ n và bỏ xác – gọt giũa và khẩu
ngữ, khẩ u phậ t tâm xà và miệ ng nam mô bụ ng mộ t bồ dao găm – gọt giũa và khẩu
ngữ
Một hệ quả trực tiếp của sự khác nhau về màu sắc phong cách nỏi trên là sự
đối lập giữa hai tính chất: cổ kính, không thông dụng (của từ Hán Việt) – hiện đại,
thông dung (của từ thuần Việt) So sánh: quan sơn (Hán Việt) và xa xôi (thuần
Việt), thiên thu và mãi mãi, huynh đ ệ và anh em, bằ ng hữ u và bạ n bè
Để thấy rõ sự đối lập Tu từ học giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt, hay so
sánh thơ Bà huyện Thanh Quan và thơ Hồ Xuân Hương Thơ Bà huyện Thanh
Quan là lối thơ tĩnh, sự vật đứng lại không cử động:
Thăng Long thành hoài cổ
Tạ o hóa gây chi cuộ c hí trư ờng
Đế n nay thấ m thoát mấ y tinh sương
Lố i xưa xe ng ựa hồn thu thảo
Nề n cũ lâu dài bóng tị ch dương
Đá v ẫn trơ gan cùng tu ế nguyệ t
Nư ớc còn cau mặt với tang thương
Trang 25Cả nh đ ầy ngư ời đây lu ống đo ạn trư ờng
Những từ Hán Việt ở đây đã đưa đến cho ta cảm giác về sự thay đổi nói
chung của tạo háo, đưa đến một nổi buồn đứt ruột trước một sự tất yếu Bức tranh
có nhắc đến bóng chiều, đến mặt trời, đến cỏ thu, đến ngày tháng, nhưng ở đây đã
thành tị ch dương , thu thả o, tuế nguyệ t, nên trở nên im lìm, phẳng lặng, tịch mịch
ngay khi miêu tả sự biến đổi
Trái lại, trong thơ Hồ Xuân Hương ta thấy tính chất sinh động, tự nhiên với
lối hành động hóa, hình tượng hóa bằng những từ tượng hình:
Trai đu g ối hạc khom khom cật
Gái uố ng lưng cong ngã ng͵a lòng
Bố n mả nh quầ n hồ ng bay ph̭ p phͣ i
Hai hàng chân ngọ c duỗ i song song
(Đánh đu)
Ở đây, những từ láy đã diển tả tất cả những cái nhịp nhàng của hành động
Tả một cảnh tượng không có yên tĩnh hơn – nước giếng, Hồ Xuân Hương
vân thấy được cái hoạt động của nó:
Cầ u trắ ng phau phau đôi ván ép
Nư ớc trong leo lẻ o mộ t dòng sông Con gà lún phún leo quanh mép
Cá diế c le le tách giữ a dòng
(Giế ng nư ớc)
Trang 26Qua ví dụ trên, có thể thấy được thể thơ Thất ngôn đường luật vốn khó làm
và lại dễ cứng nhắc, công thức và thường mang phong cách nho sĩ cao thế mà Hồ
Xuân Hương cứ nôm na, bình dân, lời nói cứ trong veo Đó là vì bà thích dùng
những vật liệu thông thường, những từ thuần Việt, đặc biệt là những từ láy Trong
thơ bà, bao giờ từ Việt cũng chiếm yếu tố chủ đạo
Ví dụ: sôcôla (bột ca cao đã được cải biến, vị ngọt và béo), xêmina (buổi
sinh hoạt để thảo luận về vấn đề chuyên môn, học thuật), rôbố t (người máy),
viôlông (vĩ cầm) maketting (việc nghiên cứu một cách có hệ thống những điều
kiện tốt nhất để tiêu thụ hàng hóa)
Những từ mượn này thường là của tiếng Pháp, tiếng Anh…thông qua con
đường sách báo mà đi vào tiếng Việt, đặc biệt là từ những bài giới thiệu, thông tin,
quảng cáo, những bài dịch từ từ tài liệu nước ngoài Lớp từ này dùng lâu dần quen
đi, không ai nghĩ đến việc tìm những từ thuần Việt thay thế, vì dịch lạ thì vừa rườm
rà vừa không chính xác, lại vừa không hợp với cách nhìn mở rộng ra bên ngoài,
tiếp nhận những cái mới mẻ, hiện đại Chẳng hạn, từ karaoke, mượn tiếng Nhật,
thoạt đầu trò này được giới thiệu như sau: Chỉ cần có đầu vidéo, dàn ampli và
micrô là có thể hát karaoke Người chơi cầm micrô và hát theo các bài hát có nhạc
đệm Băng karaoke có lồng ghép hình các ca sĩ hoặc phong cảnh để thu hút người
chơi…Nếu như ở karaoke chỉ là trò chơi trong gia đình, thì ở Việt Nam karaoke đã
Trang 27và đang được sử dụng làm trò chơi đại chúng Rồi sau, từ karaoke được sử dụng
một cách bình thường, coi như mọi người đã biết nó Ví dụ:
- Quà trung thu: Băng karaoke “Ơi ông trăng sáng”.
- Dù karaoke có gây ra nhiề u phiề n toái, phứ c tạ p về an ninh, trậ t tự , chúng ta vẫ n thừ a nhậ n đây là m ột thông tin khoa học và văn hóa.
Có những từ mượn mà chúng ta chưa thể khẳng định ngay tương lai của nó
Chẳng hạn: surfing (tiếng Anh), karoshi (tiếng Nhật) Ví dụ:
- Việ t Nam sẽ tổ chứ c cuộ c thi quố c tế về lư ớt ván
Surfing là bộ môn lư ớt ván trên sóng biể n hiệ n đang th ị nh hành ở các quố c gia có
bờ biể n, hiề n hòa
(Việt Nam Lao động chủ nhật 13-9-1992)
- Hằ ng năm ở Nhật Bản có khoảng 10.000 ngư ời chế t vì karoshi (tiế ng Nhậ t có nghĩa là: làm vi ệ c quá sứ c
(Hoàng Long Theo Europe Today 6-1992)
Cần phân biệt những từ mượn mà tiếng Việt cần với những từ ngoại quốc
mà tiếng Việt không cần Ví dụ: những từ tiếng Pháp như: vision, resonance, projet
là không cần thiết vì đã có những từ Việt như: nhãn quang, âm vang, dự án Tuy
nhiên, trong ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ báo (trong các thể loại phỏng vấn, phóng sự…) các tác giả vẫn để cho nhân vật của mình dùng đã tiếng ngoại quốc
Có thể là vì muốn phản ánh chân thực, muốn cá tính hóa Cũng có một thực thế nữa là không ít người đặc biệt thuộc tầng lớp trí thức nghệ sĩ đã quen dùng từ ngoại quốc và cho rằng có dùng từ đó mới diễn đạt được đúng ý của mình
Trang 28Vídụ:
- Ông nói: “M ỗi ngư ời viế t có mộ t cái vision (nhỡ n quang) riêng Nó đ ẻ ra phong cách Do thế mà anh thì thích tả gió, tả nắ ng, tả mây, tả mưa… anh thì s ở trư ờng
này, sở đo ản nọ…
Hồ i tôi viế t bài Nguyễ n Văn Tr ỗi (Đi ệ n cao thế Nguyễ n Văn Tr ỗi cháy sáng một
vòng trái đ ất) tôi muốn tạo ra cái résonnance (âm vang) toàn thế giớ i Tôi phả i
ngồ i hàng giờ trư ớc quả đị a cầ u và bả n đ ồ thế giớ i mà tư ởng tư ợng”.
(Nguyễn Đăng Mạnh Tả n mạ n về Nguyễ n Tuân)
- Rấ t dí dỏ m và tràn trề cả m xúc, Võ Hồ ng Anh thủ thỉ nói vớ i khách: “ ở nư ớc ta
nhữ ng projets (dự án) như chúng tôi làm, có th ể nói về mộ t số khía cạ nh, chưa
đư ợc xem là đ ầy đ ủ tính thực tiễ n Nhưng theo dõi nói là h ữu ích và cần thiế t” ( Nguyễn Ngọc Hải Con đư ờng dẫn tới tài năng c ủa một nữ tiế n sĩ khoa h ọc)
1.2.5 Từ hội thoại
Trong “99 phương di ệ n và biệ n pháp tư t ừ tiế ng Việ t”, Đinh Trọng Lạc quan
niệm: Từ hộ i thoạ i là nhữ ng từ đư ợc dùng đ ặc biệ t trong lờ i nói miệ ng sinh hoạ t
hằ ng ngày, nhấ t là trong đ ối thoại.[13; 22]
Ví dụ: Chắ c dạ (no bụng, no được lâu), nói toạ c (nói thẳng ra không úp mở),
thần xác (phần thể xác của con người), trở mặ t (đang tử tế quay ra có thái độ trở
mặt), hê (vứt, ném đi một cách không thương tiếc), ăn đ ứt (hơn hẳn, trội hơn hẳn
về mặt nào đó được đem ra so sánh), hôi rình (có mùi hôi lên đến mức không chịu
được)
Ông đưa ra các kiểu cấu tạo từ hội thoại như: thêm yếu tố, bớt yếu tố, biến
yếu tố, dùng yếu tố không có lí do
Trang 29Trong sáng tác văn học, những từ hội thoại được nhà văn sử dụng như một
công cụ lợi hại nhất để miêu tả, tái tạo cuộc sống thực Nhiều khi chỉ cần điểm một
vài từ hội thoại là tính cách của nhân vật cũng được hiện ra rất rõ nét
Ví dụ lời nói của một tên lí cựu đắc ý, ra dáng có quyền thế ở chốn hương
thôn:
Lí cự u bưng bát rư ợu kề gầ n lên môi và gậ t gù:
- Ĉk\TXDF ̯u r͛i, cứ việ c ÿiQKFKpQFKR ÿ ̳y Thằng Mới đâu? Ông b ảo mày lấy
thêm rư ợu làm sao từ nãy đ ế n giờ chưa th ấy? Đ ừng láo, ông thì ch̓ xác mày ra
(Ngô Tất Tố)
Trong văn chính luận, những từ hội thoại giàu màu sắc tu từ thường được
dùng khá nhiều, nhằm diễn đạt những khái niệm phức tạp một cách rõ ràng, dễ
hiểu; đồng thời bày tỏ thái độ tình cảm một cách mạnh mẽ Ví dụ:
- Xem nhiề u sách đ ể mà lòe, đ ể là ra WDÿk\ , thế không phả i là biế t lí luậ n (XYZ)
- Chúng th̻ ng tay chém giế t nhữ ng ngư ời yêu nư ớc thương nòi c ủa ta (Hồ Chí
Cũng theo Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương di ệ n và biệ n pháp tư t ừ
tiế ng Việ t”, từ thông tụ c là nhữ ng từ chỉ đư ợc dùng trong lời nói miệ ng thoả i mái,
thậ m chí thô lỗ , tụ c tằ n.[13;24]
Trang 30Ví dụ: Chặ n họ ng (ngăn chặn không cho nói), ngứ a tiế t (tức điên lên), ngứ a nghề (cảm thấy bị kích thích muốn trổ tài nghệ riêng của mình – có hàm ý chê bai,
châm biếm), nẫ ng (lấy cắp một cách nhanh, gọn, nhẹ), hố (vào tình thế do sơ suất
mà bị thiệt), dạ i gái (người đàn ông quá mê gái, và để cho gái lợi dụng), chó đ ể u (đểu giả hết sức – thường dùng làm tiếng chửi), lo sốt vó (trạng thái cuốn lên)…
Ông đã chỉ ra sự khác biệt giữa từ thông tục và từ hội thoại là ở chỗ, nó không nằm trong từ vựng của ngôn ngữ văn hóa Trong phong cách chức năng sinh hoạt hằng ngày với tính chất văn hóa thông dụng người ta thường tránh sử dụng các từ thông tục Có nghĩa là những từ thông tục chỉ được dùng trong phong cách sinh hoạt hằng ngày tự nhiên thông tục, giữa những cá nhân có quan hệ tự do, thoải mái, suồng sã Những từ thông tục cũng có thể được dùng trong các văn bản báo (tiểu phẩm, phóng sự, chính luận, đặc biệt là trong văn xuôi nghệ thuật để làm phương tiện tu từ nên đặc trưng lời nói của nhân vật Ví dụ như một đoạn đối thoại trong Mưa mùa hạ (Ma Văn Kháng) dùng những từ thông tục để đặc tả tính cách nhân vật:
- Sao bả o ông chủ tị ch huyệ n xuố ng tậ n đây lôi ông ra ki ể m đi ể m
- Kiể m đi ể m cái cͯ thìu tao ấ y! Đêm tao đ ội nón ra xem, vẫn yên lành, tao mới về ngủ chứ Đ ứa nào nói một giấc ngủ trị giá nghìn mẫ u ruộ ng, tao gang m͛ m nó ra
Mưa xu ống nư ớc lên, nó xồng xộc vào đ ồng, là do tao cả à? Cái cống vã là do thằ ng thiế t kế láo.!
- Dân chúng bây giờ họ ghê lắ m, họ không đ ể bác yên đâu.
- Thì làm ÿ ͇ ch gì đư ợc tao
Trang 311.2.7 Từ địa phương
Theo Đinh Trọng Lạc, từ đị a phương là nh ững từ chỉ đư ợc dùng trong các
phương ng ữ, các thổ ngữ.[13;30]
Theo ông, từ địa phương có sự đối lập về mặt ý nghĩa Ví dụ từ ngữ địa
phương Nam Bộ: nón (mũ), chén (bát), dù (ô); từ ngữ địa phương Trung Bộ: cái
hòm (cái quan tài)
Bên cạnh đó, từ địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm Ví dụ từ ngữ địa
phương Nam Bộ: cái vị m (cái liễ u), cái cà ràng (cái bế p kiề ng), con cò (cái tem),
mắ c cỡ (xấ u hổ ), ăn hi ế p (bắ t nạ t); từ ngữ địa phương Trung Bộ: mô (đâu), rào (sông), chộ (thấ y), ngái (xa), nác (nư ớc)
Rõ ràng là có những từ ngữ địa phương có ý nghĩa khác hẳn với ý nghĩa của
ngôn ngữ chung, khiến cho người quê không phải ở địa phương đó cảm thấy khó
hiểu, không hiểu, mà muốn hiểu được những từ ngữ đó thì phải học
Trong ngôn ngữ nghệ thuật, từ ngữ địa phương được sử dụng để tạo ra màu
sắc địa phương cho cảnh vật, nhân vật
Đọc thơ Tố Hữu, chúng ta không chỉ thấy hình ảnh bà mẹ Việt Nam nói
chung và hình ảnh các bà mẹ trên khắp mọi miền Tổ quốc nhờ những từ xưng hô
địa phương về bà mẹ:
- Bà mẹ miền nam (trong Bà má Hậ u Giang)
- Bà mẹ trung du Bắc Bộ (trong Bầ m ơi!, trong Bà bủ)
- Bà mẹ người dân tộc (mé trong Bà mẹ Việ t Bắ c)
Trang 321.2.8 Từ láy
Theo Đinh Trọng Lạc trong “99 phương di ệ n và biệ n pháp tư t ừ tiế ng Việ t”,
từ láy là nhữ ng từ đư ợc cấu tạo bằng cách nhân đôi ti ế ng gố c theo nhữ ng quy tắ c
nhấ t đ ị nh, sao cho quan hệ giữ a các tiế ng trong từ vừ a đi ệ p, vừ a đ ối, hài hòa với
nhau về âm và về nghĩa, có giá tr ị tư ợng trưng hóa.[13;33]
Ông chia từ láy thành 4 loại: láy đôi, láy ba, láy tư
Trong láy đôi có láy hoàn toàn: lăm lăm, khư khư, đ o đ ỏ, chầm chậm…; và
láy bộ phận: lòng thòng, khéo léo, ngâm nga, mò mẫ m, đ ỏ đắn, la liế m…
Trong láy ba có dị hóa phụ âm đầu: tờ lờ mờ ; chuyển đổi phụ âm cuối: sát sàn
sạ t… ; chuyển đổi thanh điệu: khít khìn khị t, dử ng dừ ng dưng, t ẹ o tèo teo, đ ứ đừ
đừ…
Trong láy tư có láy bộ phận đôi vần: khấ p kha khấ p kiể ng…; từ láy bộ phận điệp
vần: luộ m thà luộ m thuộ m…; từ láy hoàn toàn đổi vần: hổ n hà hổ n hể n…
Những nhà thơ lớn của dân tộc đều là những người sử dụng từ láy rất khéo
léo: Nguyễn Du tả cảnh du xuân đã dùng các từ: dậ p dìu, ngổ n ngang, tà tà, thơ thẩ n, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ , se se, rầ u rầ u,… đã làm cho bức tranh thiên
nhiên trở nên sinh động biết bao nhiêu
Nguyễn Khuyến rất có tài khai thác khả năng diễn tả của các từ láy: thấp le
te, đóm lậ p lòe, bé tẻ o teo, tiếng sáo ve ve, bà quan tênh nghế ch, thằng bé lom
khom…Và bóng trăng trên mặt ao rung động được nhà thơ ghi lại bằng một từ láy:
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe Và chỉ một từ làng nhàng đủ hình dung được
dáng đấp con người chẳng gầy chẳng béo
Trang 331.1.9 Thành ngữ
Theo Đinh Trọng Lạc trong “99 phương di ệ n và biệ n pháp tư t ừ tiế ng Việ t”, ông đã đưa ra quan niệm: Thành ngữ là những đơn v ị đ ị nh danh biể u thị khái niệ m nào đó d ựa trên những hình ảnh, những biể u tư ợng cụ thể [13;37]
Ông cho rằng, tính hình tượng – đặc trưng cơ bản của thành ngữ - được xây dựng trên cơ sở của phương thức so sánh, ẩn dụ, hoán dụ
Giá trị tu từ nổi bật của thành ngữ khiến cho nó thích hợp với nhiều phong cách “Thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Đó là cách nói ví von rất hay, rất hình ảnh, rất thấm thía” (Hồ Chí Minh)
“Cách nói hình ảnh và hàm sức của thành ngữ lắm khi phải dùng nhiều trang sách mới minh họa được” (Gorki)
Các nhà văn, nhà thơ sử dụng nhiều thành ngữ một cách sáng tạo Miêu tả bọn sai nha phong kiến, Nguyễn Du chỉ nói vắn tắt:
Ngư ời nách thư ớc kẻ tay dao Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Người đọc có thể hình dung được cái bề ngoài dữ tợn, gớm ghiếc của lũ sai nha phong kiến, đồng thời nhận ra thái độ phủ định hạng người này của Nguyễn
Du
Nam cao miêu tả: Năm Th ọ vốn là thằng đ ầu bò đ ầu bư ớu Chỉ một thành ngữ đ ầu bò đ ầu bư ớu đủ nói lên tính cách ương ngạch, bướng bỉnh, bất cần, không
chịu lùi bước trước đối phương của nhân vật này
Trong phong cách chính luận, thành ngữ đem lại cho câu văn tính chất giản
dị, dễ hiểu, sức hấp dẫn và thuyết phục mạnh mẽ Khi nghe Bác Hồ nói: Sả n xuấ t
mà không tiế t kiệ m khác nào gió vào nhà trố ng thì ta cừa cảm nhận được hình ảnh
Trang 34sinh động gió vào nhà trống, vừa thấy được tính chất chắc chắn của sự lập luận
nhờ ở tính quy luật nằm trong nội dung thành ngữ: sạch trơn, không đem lại một
chút hiệu quả nào Việc sử dụng thành ngữ thường rất linh hoạt Có thể dùng
nguyên vẹn hoặc một vài yếu tố để gọi Chẳng hạn:
- Phòng khi nư ớc đã đ ế n chân Dao này thì liệ u vớ i thân sau này
(Truyện Kiều)
Nư ớc đã đ ế n chân: Lâm vào bước nguy cấp, như nước lụt đã lên đến chân, do câu
nước đến chân mới nhảy
- Đả ng viên ÿLWU˱ ͣc làng nư ớc theo sau
(Hồ Chí Minh)
Người nghe dễ dàng liên hệ với cái tư tưởng, tác phong lạc hậu thể hiện
trong thành ngữ ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau rất quen thuộc để tự mình phê phán
cái cũ, tiếp thu cái mới
Những cách dùng sáng tạo như trên làm cho thành ngữ càng thêm bóng bẩy
và người nghe thì có cái thích thú được nhắc gợi vốn ngôn ngữ của mình
1.3 Giới thiệu chung về Nguyễn Xuân Khánh và cuốn tiểu thuyết Ĉ͡LJ̩ROrQ chùa
1.3.1 Nguyễn Xuân Khánh – Nhà văn bậc thầy về ngôn ngữ
Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 tại quê ngoại – phố Huế - Hà Nội, quê
nội nhà văn ở làng Cổ Nhuế, nơi có nghề may (hàng chợ) nổi tiếng thuộc ngoại ô
thành phố Sinh ra trong một gia đình không mấy khá giả, cụ thân sinh của ông có
Trang 35theo học Nho học nên từ nhỏ, Nguyễn Xuân Khánh đã được làm quen với sách
thánh hiền
Mồ côi cha từ năm 6 tuổi, tử bé Nguyễn Xuân Khánh đã là cậu học trò rất
mê thích văn chương, mê âm nhạc, là cây văn nghệ đàn hát Do chăm chỉ và ham
học hỏi nên ông khá am hiểu chữ Nho và thông thạo tiếng Pháp Ông từng là sinh
viên Đại học Y khoa – một trương đại học sang trọng ở Hà Nội, năm 1952, ông bỏ
bút nghiên xin đi bộ đội rồi làm giáo viên dạy văn hóa tại trường Sĩ quan lục quân
Những ngả đường hành quân, những buổi diễn tập và tình đồng đội đã thôi thúc
ông cầm bút Truyện ngắn đầu tay Mộ t đêmông viết năm 1959 gửi báo Văn ngh ệ quân đ ội được giải nhì (không có giải nhất); đến năm 1962, ông cho ra mắt tập
truyện ngắn Rừ ng sâu, nhà xuất bản văn học, in năm 1962, là những chừng chỉ cho
ông bước vào con đường sáng tác văn học đầy cam go và nhiều giá phải trả Những
ngày tháng đi dự “Lớp bồi dưỡng người viết văn trẻ”, khóa một, ông được tiếp xúc
nhiều nhà văn, nhà thơ danh tiếng như: Vũ Cao, Nguyễn Khải, Hữu Mai, Thanh
Tịnh, Xuân Sách,… Đồng thời được sống cùng những người cầm bút cùng trang
lứa, rồi sau này họ đều là những nhà văn chủ lực tạo nên diện mạo văn học nước
nhà Học xong ông trở vè làm việc ở Tạp chí Văn nghệ quân đội Ông là cây bút
năng nổ, nhưng vì vướng mắc quan điểm nghề nghiệp, ông phải chuyển sang báo
Thiếu niên tiền phong Những năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại, ông làm
phóng viên thường trú ở khu bốn Năm 1983, ông về nghỉ hưu Đời ông lại sang
một bước ngoặt mới Ông phải làm rất nhiều việc nặng nhọc để có tiền nuôi con ăn
học Thợ mộc, thợ bốc vác, thợ cán mì sợi, bảo vệ kho lương thực, có thời kì làm
thợ may Ông có đôi bàn tay may khéo léo, từng may cắt quần áo cho nhiều nhạc
sĩ, họa sĩ Một thời túng quẫn, ông phải đi bán máu Ông từng làm Bí thư chi bộ
tiểu khu Thanh Nhàn
Trang 36Con người ông sinh ra như thể gắn bó với con chữ, sau những giờ phút lao động mưu sinh cật lực đề nhận đồng tiền nuôi vợ con, những con chữ, những trang sách lại quẫy đạp trong tâm trí ông Nhưng có lẽ vì lâm nạn nghề nghiệp một thời, nên mỗi khi toan cầm bút viết, tâm trí ông lại giằng xé Không biết sức mạnh vô hình nào cho ông đương đầu với những công việc mưu sinh quá nặng nhọc so với sức vóc của ông? Sau những phút đổ mồ hôi, sau những ngày tháng vất vả đó, đêm đêm ông lại chong đèn thức cùng con chữ Những trang sách kinh điển luôn dọi sáng huyền diệu cho ông tin yêu và vượt qua những phút giây khốn cùng nhất của cuộc đời Những con chữ vẫn bám riết lấy ông, vốn ngoại ngữ tiếng Pháo được phát huy Ông đọc và dịch hàng chục cuốn sách, ông sớm có ý thức củng cố tri thưc để làm hành trang trên con đường dài của mình
Bây giờ ngồi nhắc lại, ông và vợ của mình vẫn xuýt xoa, rồi cười trong niềm sung sướng vì đã vượt qua được những chặng đường ấy một cách ngoạn mục, để giờ đây, sau nhiều thăng trầm, nhiều trải nghiệm, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh trở thành một tên tuổi trong văn chương Việt Nam, ông để lại những đỉnh cao văn học
không dễ gì vượt qua được như: Hồ Quý Ly, Mẫ u Thư ợng Ngàn, Đ ội gạo lên chùa…
Ông, bằng tất cả vốn tự học, tự đọc, tự nghiên cứu của mình, đã khẳng định: Văn hóa người Việt đứng vững bởi những nền tảng của văn hóa làng; đạo Nho, đạo Khổng và đạo Phật Tín ngưỡng đạo Mẫu là riêng của Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Tín ngưỡng dân gian có những nét đẹp trường tồn qua không gian, thời gian Đó là sức sống phồn thực, tính sinh sôi nảy nở của làng Việt Nam Và chính
điều đó là niềm cảm hứng để ông cho ra đời Đội gạo lên chùa cũng như với tất cả
những tiểu thuyết lịch sử trước đó
Trang 37Ông từng nói: “Chúng ta đang ở một thế giới hiện đại, chúng ta đang mất đi những nét đẹp, thông thường chúng ta muốn chiếm đoạt Tôi muốn nói con người nên quay lại, tôi không kêu gọi người ta đi theo Phật giáo, đi tu ở chùa mà cần có lối sống Phật giáo, phải làm hằng ngày, xây dựng văn hóa cho con người, “từ bi hỉ xả” Tôi muốn người đọc tự nhận ra, không thuyết giảng Bất cứ người Việt Nam nào, dù không tôn giáo cũng đều mang chút tính cách, tâm hồn của đạo Phật Với người Việt, Phật giáo là một lối sống Với văn chương, quan trọng nhất là những ý tưởng thể hiện, và những ý tưởng của tôi luôn có khuynh hướng đi về văn hóa Văn hóa trong tiểu thuyết có thể là tập tục, nếp sống làng quê Nếu không có nền tảng văn hóa thì tiểu thuyết không đứng vững được”
Đã có biết bao nhiêu lời nhận xét, bao nhiêu hội thảo, luận văn, luận án về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Nhiều người cho rằng, ông là số ít các nhà nhà văn Việt Nam đáng đọc nhất hiện nay bởi sức nghĩ và vốn sống dày dặn của ông đã viết nên những cuốn tiểu thuyết sống cùng lịch sử văn hóa dân tộc Điều đáng nói là văn của ông mang tính lịch sử, nhưng lại có dáng dấp hiện đại, nó
là một sự giao thoa văn hóa, lịch sử - văn hóa - phong tục cổ kim đan quyện vào nhau, bởi vậy mà tác phẩm của ông đã làm xiêu lòng nhiều độc giả trẻ
Hiện ông đang sống cùng gia đình tại ngõ Trần Khát Chân, vùng đất mơ nổi tiếng xưa kia của ngoại ô Hà Nội, trong ngôi nhà cũ mới được sửa nhờ tiền giải thưởng và tiền xuất bản sách 70 tuổi, Nguyễn Xuân Khánh mới trở thành hội viên
Hội nhà văn Việt Nam sau những giải thưởng về Hồ Quý Ly…Song, với những gì ông đã đóng góp cho nền văn học nước nhà, một người cầm bút đã tuổi tám mươi,
cứ bài năm lại cho ra một tác phẩm bề thế, đóng đinh vào tâm thức người đọc như ông thì thật là hạnh phúc
Trang 381.3.2 Ĉ͡LJ̩ROrQFKD – Đặc sắc văn hóa người Việt
Đội gạo lên chùa do Nxb Phụ Nữ ấn hành đầu năm 2011, đầu năm 2012 đã
được trao ngay Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, cuối năm 2012 đã tái bản lần
thứ tư Cuốn tiểu thuyết được chia làm 3 phần: 1/ Trôi sông (18 chương); 2/ Bão
nổ i can qua (5 chương) và 3/ Về cõi nhân gian (8 chương)
Đội gạo lên chùa là tiểu thuyết văn hóa – lịch sử của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sau Hồ Quý Ly và Mẫ u Thư ợng Ngàn, kể về một ngôi làng từ kháng chiến
chống Pháp đến chống Mỹ, nhân vật đều liên quan đến chùa làng, dù là vãi, tiểu,
du kích, bộ đội, hay ngoại xâm… Qua số phận các nhân vật ở một làng quê quanh chùa Sọ, tác giả miêu tả những biến động của xã hội Việt Nam suốt từ thời chống Pháp cho đến sau ngày đất nước thống nhất, đề cập đến rất nhiều vấn đề văn hóa -
xã hội, triết lý nhân sinh Số phận của ngôi chùa làng và những con người khơi gợi cho người đọc nghĩ ngợi thêm về thân phận con người trong những biến đổi thăng trầm chịu tác động của hoàn cảnh xã hội
Kết cấu cốt truyện theo lối cổ điển, mạch chuyện chủ yếu theo trình tự tuyến tính: chống Pháp, cải cách ruộng đất, sửa sai, rồi hợp tác hóa, tòng quân vào Nam chống Mĩ, thống nhất đất nước Nguyễn Xuân Khánh đặt ngôi chùa thờ Phật với những cuộc đời tưởng như vô thường vào vòng xoáy biến động ấy làm điểm nhìn
để bàn luận đến những vấn đề muôn thuở của kiếp người
Cách lựa chọn ngôi kể trong Đôi g ạo lên chùa cũng rất đặc sắc Nguyễn
Xuân Khánh đan xen hai loại ngôi kể, ngôi kể thứ nhất, xưng “tôi” – nhân vật An;
và ngôi kể thứ ba toàn tri An xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm để kể vê những chứng thực của mình khi sống trong môi trường Phật giáo Từ tiểu An vỡ lòng bài học gõ mõ đến sư thầy An đã thấu hiểu nếp sống qui y; từ cậu bé mồ côi lưu lạc nương nhờ chùa Sọ đến “nhà sư bộ đội” rồi khi hòa bình, với một trang trại tự cung
tự cấp, An thành người chủ gia đình lập am thờ Phật là cuộc hành hương “đi tìm
Trang 39đạo ở trần gian” mà sự “giằng xé giữa đời và đạo” có thể coi là bằng cớ tự tri nhận
và kết quả giác ngộ: Phật giáo hoàn toàn có thể sinh thành từ ngoài cửa chùa Ở ngôi kể thứ ba, tác giả giúp cho người đọc có một cái nhìn bao quát, cụ thể về mọi không gian được xây dựng lên trong truyện Không đơn thuần chỉ là cái nhìn của
An, mà tác giả đã trao cho người đọc quyền được nhìn nhận, quan sát và đánh giá toàn bộ những diễn biến, tình tiết của câu chuyện
Xét trên phương diện lịch sử, Đội gạo lên chùa đã vẽ lên một bức tranh của
xã hội Việt Nam trong thời kì đầy biến động: Chiến tranh chống đế quốc Pháp và cuộc cải cách ruộng đất lịch sử Cuốn tiểu thuyết đã cho người đọc một cái nhìn sắc nét, chân thật về chiến tranh, về chính quyền, về người nông dân lúc bấy giờ
Xét trên phương diện văn hóa, cuốn tiểu thuyết đã cho người đọc trở về với một thời đoạn có vô vàn những nét văn hóa tuyệt vời Ta thấy được nét văn hóa đầu tiên là nét văn hóa về tâm linh, Phật giáo Đạo giáo nào cũng vậy, tuy nhiên ở Việt Nam lúc đó, Phật giáo vẫn chiếm phần nhiều hơn cả, con người sống dựa vào những nét mờ về tâm linh đó để trở nên tốt đẹp với nhau hơn, để trở nên thanh thản hơn, để trở nên an nhiên hơn Ngoài ra, truyện mở ra cho người đọc một không gian văn hóa làng xã vô cùng sinh động và tuyệt vời Tại đây, ta thấy được thói quen, các tập quán sinh hoạt của họ Hơn thế nữa, điều rất đáng được trân trọng
trong cuốn tiểu thuyết Độ i gạ o lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh là ông đã vẽ lên
là lưu giữ những nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam Trong họ không chỉ là sự dịu dàng, nét nữ tính đơn thuần, mà còn là lòng quyết tâm, quả cảm và vô cùng trong sáng…
Xét trên phương diện tiểu thuyết, Đội gạo lên chùa là một đóng góp tiêu
biểu của nhà văn trong thể loại tiểu thuyết văn hóa - lịch sử Đến với cuốn tiểu thuyết, người đọc không chỉ được bắt gặp những nét văn hóa vô cùng đẹp đẽ của
Trang 40người Việt, mà hơn thế nữa, đọc giả sẽ có thêm những hiểu biết rõ nét, chân thật của một thời đoạn lịch sử cụ thể
Như vậy, có thể khẳng định, Đội gạo lên chùa là cuốn tiểu thuyết có giá trị
cả về phương diện nội dung lần hình thức nghệ thuật, là một trong những cuốn tiểu thuyết rất đáng để mọi độc giả đón đọc
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VỀ CÁC LỚP TỪ VỰNG TRONG
Ĉ͠,*̨2/Ç1&+Ô$
Có thể nói, việc sử dụng các lớp từ vựng trong tác phẩm Độ i gạ o lên chùa là
một điểm sáng là nên giá trị của tác phẩm Nó dẫn dắt người đọc như được quay ngược thời gian sống trong quá khứ, sống trong số phận của mỗi nhân vật Gần một nghìn trang, với những sự kiện, những câu chuyện khác khác nhau, Nguyễn Xuân Khánh đã đưa độc giả vào một thời đoạn lịch sử đầy những biến cố theo tác phẩm
mà không một phút giây nhàm chán
Trong Độ i gạ o lên chùa, với tài sử dụng ngôn ngữ và kiến thức văn hóa
uyên thâm, Nguyễn Xuân Khánh đã vận dụng rất thành công các lớp từ vựng của
tiếng Việt Đọc Độ i gạ o lên chùa, bạn đọc có thể thấy được sự đa dạng, phong phú
của các lớp vựng; thấy được sử uyển chuyển, điêu luyện của tác giả khi vận dụng tất cả các lớp từ đó Không chỉ có vậy, các lớp từ vựng còn là một công cụ đắc lực
hỗ trợ cho tác giả trong việc chuyển tải nội dung, chuyển tải những kiến thức về lịch sử, về văn hóa cho bạn đọc
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi không chỉ khảo sát và thông kê từ, mà còn cả ngữ cố định, vì ngữ cố định được sử dụng như một đơn vị từ vựng, một