1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản sắc miền núi trong gặp gỡ ở la pan tẩn của ma văn kháng nhìn từ góc độ ngôn ngữ

87 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 573,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản sắc miền núi trong sáng tác Ma Văn Kháng thể hiện qua hai phương diện là dáng nét dân tộc học gọi là nhân học - phong tục tập quán và phương diện ngôn ngữ.. Trong Lời giới thiệu Tiểu

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

CAO THỊ TUYẾT PHƯƠNG

BẢN SẮC MIỀN NÚI TRONG

“GẶP GỠ Ở LA PAN TẨN” CỦA MA VĂN KHÁNG

NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

ĐÀ NẴNG, NĂM 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

BẢN SẮC MIỀN NÚI TRONG

“GẶP GỠ Ở LA PAN TẨN” CỦA MA VĂN KHÁNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo

TS Bùi Trọng Ngoãn, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã truyền đạt những kiến thức nền tảng để tôi

có thể thực hiện tốt đề tài của mình

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn

bè, những người đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của công trình này là của bản thân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GVC - TS Bùi Trọng Ngoãn

Việc trích dẫn lại những ý kiến nhận định, ý kiến của các công trình nghiên cứu đã được chú thích rõ ràng theo yêu cầu khoa học Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của công trình nghiên cứu này

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 4

1.1 Bản sắc miền núi trong tác phẩm văn học 4

1.1.1 Tính dân tộc trong văn học 4

1.1.2 Bản sắc miền núi 7

1.1.3 Bản sắc miền núi xét về góc độ ngôn ngữ 7

1.2 Ma Văn Kháng và tiểu thuyết “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” 9

1.2.1 Vài nét về nhà văn Ma Văn Kháng 9

1.2.2 Tiểu thuyết “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” 12

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÁC ĐƠN VỊ TỪ VỰNG THỂ HIỆN BẢN SẮC MIỀN NÚI TRONG TIỂU THUYẾT “GẶP GỠ Ở LA PAN TẨN” 13

2.1 Các đơn vị từ vựng thể hiện bản sắc miền núi phân chia theo tiêu chí phạm vi biểu vật 13

2.1.1 Các lớp phạm vi biểu vật 13

2.1.2 Kết quả khảo sát 14

2.2 Các đơn vị từ vựng thể hiện bản sắc miền núi phân chia theo tiêu chí cấu tạo từ 26

2.2.1 Khảo sát và miêu tả các từ thể hiện bản sắc miền núi 26

2.2.2 Khảo sát và miêu tả các ngữ thể hiện bản sắc miền núi 31

2.3 Các đơn vị từ vựng thể hiện bản sắc miền núi phân chia theo tiêu chí từ loại36 2.3.1 Khảo sát và miêu tả các danh từ thể hiện bản sắc miền núi 37

Trang 6

2.3.2 Khảo sát và miêu tả các động từ thể hiện bản sắc miền núi 44

2.3.3 Khảo sát và miêu tả các tính từ thể hiện bản sắc miền núi 44

2.3.4 Khảo sát và miêu tả các đại từ thể hiện bản sắc miền núi 44

2.3.5 Khảo sát và miêu tả các chỉ từ thể hiện bản sắc miền núi 45

2.3.6 Khảo sát và miêu tả các thán từ thể hiện bản sắc miền núi 45

CHƯƠNG 3: BẢN SẮC MIỀN NÚI TRONG “GẶP GỠ Ở LA PAN TẨN” THỂ HIỆN QUA PHƯƠNG DIỆN CÚ PHÁP VÀ DIỄN ĐẠT 46

3.1 Cú pháp 46

3.1.1 Dùng cấu trúc “hóa ra + chủ - vị” 47

3.1.2 Cấu trúc “hô ngữ/cảm từ + chủ - vị” 48

3.1.3 Dùng tình thái ngữ có tính khẩu ngữ 52

3.1.4 Cú pháp khẩu ngữ với kiểu câu lặp lại chủ ngữ 53

3.1.5 Nói láy lâm thời trong lời nói 53

3.1.6 Nói tắt khẩu ngữ 54

3.2 Diễn đạt 55

3.2.1 Cách nói mang tính hình ảnh 55

3.2.2 Lối nói kể lể của người miền núi 59

3.2.3 Dùng tục ngữ, thành ngữ 59

CHƯƠNG 4: TẦM TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI BẢN SẮC VĂN HÓA MIỀN NÚI TRONG “GẶP GỠ Ở LA PAN TẨN” 62

4.1 Một bầu khí quyển miền núi bao bọc, xuyên thấm từng cảnh sắc thiên nhiên và hơi thở đời sống 62

4.1.1 Cảnh vật thiên nhiên và bản sắc miền núi 62

4.1.2 Nhịp điệu cuộc sống miền núi 64

4.2 Những kiểu tính cách con người miền núi 66

4.2.1 Kiểu tính cách vừa là con người của thiên lương vừa bản nguyên vừa trung thực 66

4.2.2 Kiểu con người bản năng và dễ bị tha hóa 68

4.2.3 Kiểu con người số phận 69

Trang 7

4.3 Tầm tác động của các yếu tố ngôn ngữ miền núi đối với phong cách ngôn ngữ Ma Văn Kháng trong “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” 70

4.3.1 Một văn phong vừa thâm thúy, bình dị, vừa giàu tố chất văn hóa lại

vừa nồng nàn hơi thở của đời sống 70 4.3.2 Một giọng văn luôn luôn có ý thức khơi nguồn dòng mạch ngôn ngữ

giàu tính biểu cảm của dân tộc 73

KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Bảng khảo sát các đơn vị từ vựng thể hiện bản sắc miền núi

2.2 Bảng khảo sát từ đơn thể hiện bản sắc miền núi phân chia

2.3 Bảng khảo sát từ ghép chính phụ thể hiện bản sắc miền núi 29

2.4 Bảng khảo sát thành ngữ miêu tả ẩn dụ thể hiện bản sắc

2.5 Bảng khảo sát quán ngữ thể hiện bản sắc miền núi 35

2.6 Bảng khảo sát danh từ riêng chỉ tên người thể hiện bản sắc

2.7 Bảng khảo sát danh từ riêng chỉ địa danh thể hiện bản sắc

2.10 Bảng khảo sát danh từ chung chỉ khái niệm trừu tượng thể

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại, bên cạnh Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Ma Văn Kháng là một cây bút lực lưỡng Những trang viết của nhà văn này đã mở ra những góc nhìn về cuộc sống của một số dân tộc miền núi phía Bắc trong một chặng đường lịch sử và bức tranh cuộc sống bộn bề nơi phố thị sau ngày thống nhất đất nước Những trang viết tạo lập một diện mạo miền núi trong văn chương Ma Văn Kháng như “Vùng biên ải”, “Đồng bạc trắng hoa xòe” hay “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” chủ yếu chỉ được đánh giá, phê bình qua góc độ văn

học Trong khi đó, nếu quan niệm rằng “Văn chương là một loại hình nghệ thuật

phản ánh về mọi sắc thái của đời sống theo phương thức hình tượng và bằng phương tiện ngôn ngữ” thì không thể không đi từ hành trình giải mã ngôn ngữ đến

mã tín hiệu thẩm mĩ

Bàn về các tác phẩm viết về miền núi, nhìn chung, người nghiên cứu chỉ hướng về nội dung phản ánh mà không quan tâm nhiều về bản sắc miền núi Bản sắc miền núi trong sáng tác Ma Văn Kháng thể hiện qua hai phương diện là dáng nét dân tộc học (gọi là nhân học - phong tục tập quán) và phương diện ngôn ngữ Cả hai bình diện này hầu như chưa được đề cập

Có thể thấy, các tác phẩm của Ma Văn Kháng đã được đưa vào chương trình học phổ thông và đặc biệt là ở bậc đại học, trong chương trình đào tạo cho sinh viên thuộc ngành cử nhân văn học hay ngành sư phạm, Ma Văn Kháng cũng được xem

là một trong những tác giả lớn cần được giới thiệu và nghiên cứu Chính vì thế, tìm hiểu bản sắc miền núi trong “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” nhìn từ góc độ ngôn ngữ là một

đề tài có ý nghĩa thiết thực, phần nào giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về bản sắc miền núi thể hiện qua ngôn ngữ

Trang 10

Lã Nguyên, khi bàn về cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn

Kháng, đã viết:“Nhân vật của Ma Văn Kháng dù có phức tạp đến đâu, có những

biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc, ta có thể nhận diện được ngay nhân vật ấy thuộc hạng người nào, cao thượng hay đê tiện, độc ác hay nhân từ, ích

kỉ hay hảo tâm” [14, tr 5]

Trong bài viết Cốt truyện trong văn xuôi dân tộc và miền núi (2008), tác giả

Phạm Duy Nghĩa mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đóng góp, hạn chế của văn xuôi miền núi, dân tộc thể hiện trên phương diện cốt truyện

Cùng với “Đồng bạc trắng hoa xòe” và “Vùng biên ải”, tiểu thuyết “Gặp gỡ ở

La Pan Tẩn” của Ma Văn Kháng tạo thành bộ ba tiểu thuyết xuất sắc về đề tài miền

núi Trong Lời giới thiệu Tiểu thuyết về đề tài dân tộc và miền núi của Ma Văn

Kháng, Nguyễn Ngọc Thiện viết: “Bộ ba tiểu thuyết làm sống lại bức tranh đời sống hiện thực mang tính chất sử thi về con đường của các dân tộc miền núi phía Bắc làm cuộc đổi đời, đi theo cách mạng và phát huy được phẩm cách của mình” [11]

Ngoài ra còn có các nhận xét đánh giá khác của Trần Đăng Suyền, Đào Thủy Nguyên… về các tiểu thuyết viết về miền núi, cũng như về con người, tính cách nhân vật trong các tác phẩm về đề tài này của Ma Văn Kháng

3 Mục đích nghiên cứu

- Đề tài hướng đến mục đích chỉ ra những đóng góp của nhà văn Ma Văn Kháng đối với sự phát triển của mảng văn xuôi viết về đề tài miền núi của văn học Việt Nam hiện đại cũng như đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đời sống văn hóa vùng cao

- Đồng thời, thực hiện đề tài này chúng tôi còn hướng đến mục đích tìm hiểu

về bản sắc miền núi trong sáng tác của Ma Văn Kháng dưới góc độ ngôn ngữ, góp phần vào việc nghiên cứu văn học về đề tài miền núi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là bản sắc miền núi trong “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” của Ma Văn Kháng nhìn từ góc độ ngôn ngữ Cụ thể hơn, đề tài sẽ khảo sát về các đơn vị từ ngữ và các cấu trúc ngữ pháp thể hiện bản sắc miền núi trong ngôn ngữ nghệ thuật của Ma Văn Kháng

- Phạm vi khảo sát là văn bản nghệ thuật tiểu thuyết “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn”

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

5.1 Phương pháp thống kê - phân loại

Trong đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp thống kê, phân loại vào việc xác định các đơn vị từ vựng và các cấu trúc cú pháp thể hiện bản sắc miền núi trong văn bản nghệ thuật của truyện Kết quả thu nhận được đó được tập hợp theo các nhóm, các lớp

5.2 Phương pháp miêu tả

Từ kết quả khảo sát đó chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả để nhận diện được đặc điểm về ngữ nghĩa và năng lực ngữ pháp của các đơn vị đã được thống

kê đó

5.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Vì rằng những đơn vị khảo sát được đều là những đơn vị có tính đặc thù (thể hiện bản sắc miền núi); nên trong một số trường hợp chúng tôi phải sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu; đặt chúng trong mối quan hệ với các từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa hoặc các cấu trúc tương tự của tiếng Việt nói chung

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Bản sắc miền núi trong tác phẩm văn học

1.1.1 Tính dân tộc trong văn học

Trong sáng tác văn học, bản sắc dân tộc thể hiện điển hình ở tính dân tộc hay

ở tính chất dân tộc Các nhà phê bình trong cuốn Văn học, cuộc sống, nhà văn (1978) khi bàn về tính dân tộc của văn học có viết, tính chất dân tộc là “một phạm

trù thẩm mỹ Nó không chỉ là thuộc tính tất yếu của văn học, mà còn là tiêu chuẩn đánh giá chất lượng tư tưởng và nghệ thuật trong nội dung và hình thức của tác phẩm văn học” [13, tr 329] Do vậy, nếu xem tính dân tộc là một phạm trù thẩm

mỹ thì nó cũng là một thuộc tính tất yếu của việc sáng tác

Tính dân tộc là “một thuộc tính cơ bản của văn học, quán triệt mọi mặt của

văn học, từ nguồn gốc, đối tượng, nhiệm vụ, chức năng của văn học, đến hình tượng nghệ thuật, điển hình và ngôn ngữ văn học, bao hàm cả nội dung và hình thức văn học, không chỉ nội dung tư tưởng chính trị, mà cả nội dung hiện thực cụ thể, không chỉ hình thức ngôn ngữ, mà cả thể loại, thủ pháp nghệ thuật” [13, tr 327] Văn học

nhằm phục vụ chính trị và cũng xuất phát từ chính trị Nhưng nếu quy tính dân tộc chủ yếu vào yêu cầu chính trị thì sẽ là một quan điểm phiến diện

Phương Lựu trong Lý luận văn học (tập 1) (2002) còn cho rằng tính dân tộc

“nó vừa là nội dung, vừa là hình thức đã đành, hơn thế nữa, có thể nói có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm văn chương là có bấy nhiêu chỗ để tính dân tộc thể hiện” [8, tr 152, 153]

Trong sáng tác văn học, nội dung dân tộc của văn học trước hết thể hiện ở chủ

đề tư tưởng của tác phẩm Tính dân tộc của chủ đề tư tưởng phản ánh mục đích, động cơ sáng tác và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn, phản ánh tinh thần dân tộc, lòng yêu nước thương nòi, ý chí phấn đấu cho độc lập, tự do của dân tộc, chống mọi kẻ thù xâm lược Tổ quốc, nô dịch đồng bào Tính dân tộc của chủ đề tư tưởng tác phẩm quy định tác dụng giáo dục, động viên của văn học đối với người đọc, giúp họ

Trang 13

nhận thức sâu sắc chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, khơi dậy ở họ lòng yêu nước, căm thù, thúc giục họ hăng hái lao động và dũng cảm chiến đấu để xây dựng và bảo vệ đất nước

Do đó, tính dân tộc của chủ đề tư tưởng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tính tư tưởng của tác phẩm Nó xuất phát từ quan điểm của nhà văn về nhiệm vụ, chức năng của văn học, từ thái độ và cách nhìn thấm đượm tâm hồn dân tộc, tình nghĩa đồng bào của nhà văn, cố gắng quán triệt những vấn đề lớn đang đặt

ra trước vận mệnh của Tổ quốc, gắn bó với quyền lợi, nguyện vọng, ước mơ của nhân dân, chú ý tới tất cả những gì đụng chạm tới tự do, hạnh phúc của con người

mà đông đảo bà con làng nước đang quan tâm Với thái độ và cách nhìn đó thì dù nhà văn viết về đề tài nước ngoài, thậm chí có khi bằng tiếng nước ngoài đi nữa nhưng vẫn có thể thực sự truyền đạt trong tác phẩm của mình một tính chất dân tộc sâu sắc và độc đáo

Ở mỗi dân tộc đều có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội Từ những điểm không giống nhau đó đã chi phối sự thể hiện tính dân tộc trong các tác phẩm văn học Tính dân tộc trong tác phẩm văn học thể hiện ở ba khía cạnh: Thứ nhất là ở đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm; thứ hai ở tâm hồn và tính cách; thứ ba thể hiện qua ngôn từ và thể loại Nhưng tựu chung lại có thể thấy, tính dân tộc trong văn học được biểu hiện trên hai phương diện nội dung và hình thức Tính dân tộc qua nội dung được thể hiện ở đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm và ở tâm hồn, tính cách còn qua hình thức thể hiện chủ yếu ở ngôn từ và thể loại

Về nội dung:

Thứ nhất là ở đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm Đề tài, chủ đề tác phẩm là vấn

đề mà nhà văn phải chú trọng đầu tiên khi muốn sáng tạo ra tác phẩm - đứa con đẻ

tinh thần Ở phương diện đề tài, chỉ đi sâu vào “một khía cạnh rất nhỏ là thiên

nhiên cũng đủ thấy phong quang và vẻ đẹp của nó đã tăng thêm tính dân tộc của thơ văn đến thế nào” [8, tr 153]

Thứ hai ở tâm hồn và tính cách, tính dân tộc lại càng xuyên thấm trong việc thể hiện hình tượng và nhân vật, kể cả nhân vật trữ tình, với tâm hồn và tính cách

Trang 14

dân tộc độc đáo Đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng lưu ý các nhà văn: “Con người

mới trong tác phẩm của chúng ta phải có quan điểm giai cấp công nhân rõ ràng, nhưng đó là con người Việt Nam với tính tình cổ truyền đẹp đẽ” [8, tr 157 ]

Về hình thức:

Tính dân tộc trong sáng tác văn học thể hiện qua ngôn từ và thể loại Có thể thấy ngôn ngữ là lĩnh vực dễ thấy nhất về phương diện tính dân tộc của tác phẩm văn chương Tính chất dân tộc trong ngôn ngữ văn chương không phải chỉ ở những phương diện ngữ âm, từ vựng, cú pháp mà còn ở những tiềm năng và biện pháp tu

từ Về tiếng Việt của chúng ta, đồng chí Phạm Văn Đồng đã có nhận xét :“Tiếng

Việt Nam ta hay lắm, đẹp lắm… chúng ta hãy nhớ đến những câu của Truyện Kiều, của nhiều áng văn khác, của ca dao Tiếng ta thật là hay và đẹp, dù để diễn tả ý và tình, màu sắc và hình ảnh, lại có thể dùng ít chữ để gợi lên nhiều ý” [8, tr 159]

Tính dân tộc cũng biểu hiện đậm nét trong loại thể, không những thể hiện ở những loại thể riêng biệt của từng dân tộc, mà còn biểu hiện ở những đặc điểm khác nhau của một số thể loại gần gũi Nếu tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc với kết cấu chương hồi, với lối kết thúc có hậu khác xa với tiểu thuyết phương Tây thì trong thơ ca Việt Nam, thể thơ lục bát với câu sáu, câu tám, cách gieo vần lưng, nhịp chẵn… là một thể thơ rất giàu tình dân tộc

Tính dân tộc dù được thể hiện trong tác phẩm văn học bao gồm cả nội dung và hình thức nhưng cách khắc họa lại khác nhau So sánh một tác phẩm văn học viết về

đề tài miền núi với một tác phẩm viết về nông thôn, về tính dân tộc, tuy cùng chung

về hướng khai thác nhưng cách thức diễn đạt không như nhau Cùng nói về cảnh quan, về con người và bản sắc văn hóa nhưng tư tưởng muốn phản ánh hay cách sử dụng ngôn từ nghệ thuật, cách vận dụng thể loại sáng tác để thể hiện tính dân tộc mỗi tác phẩm sẽ có một kiểu riêng mang đậm phong cách sáng tác của nhà văn Tóm lại, từ việc biểu hiện tính dân tộc trên bất cứ phương diện nào của tác phẩm, ta càng thấm thía thêm câu nói “Văn học nghệ thuật là dân tộc” của Phạm Văn Đồng Do đó, thể hiện tính dân tộc góp phần hướng đến bản sắc dân tộc trong sáng tác văn học

Trang 15

1.1.2 Bản sắc miền núi

Bản sắc là cái riêng biệt của một sự vật, nói như Nguyễn Văn Đạm trong Từ

điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt (2004) thì bản sắc là “đặc điểm mang màu sắc, đặc tính riêng không trộn lẫn với bất kỳ một sự vật cùng loại” [19, tr.33]

Hoàng Phê thì cho rằng bản sắc là “màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc

điểm chính” [22, tr 31]

Trong cuốn Văn học, cuộc sống, nhà văn (1978), các tác giả viết rằng : “Qua

mái tóc, nếp quần, hoặc một cái khoát tay, nghẹo cổ, có thể phân biệt tư cách, phẩm chất của một người thanh niên, phụ nữ đã xa gốc hay còn giữ được bản sắc dân tộc” [13, tr 342] Ý kiến này phù hợp với quan điểm “cái răng cái tóc là gốc con

người” Bản sắc dân tộc là những thứ có từ lâu đời, biểu hiện qua phong tục, tập quán hay lối sống của con người

Có thể hiểu bản sắc dân tộc là sự thể hiện phẩm chất của một dân tộc trong

tính riêng biệt, đặc trưng của dân tộc đó Nói đến bản sắc dân tộc là “nói đến những

nét đặc sắc, những nét truyền thống hay những giá trị vật chất, tinh thần và văn hóa

mà mỗi dân tộc tự xây đắp nên trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc, trong công cuộc đấu tranh bền bỉ để giành quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, chống sức thù địch của thiên nhiên và xã hội, những đức tính đúc nên

cá tính và danh dự của dân tộc” [15]

Bản sắc dân tộc bao gồm nhiều nhân tố trong đó có nhân tố thể hiện ra ở bên ngoài như cách ăn mặc, cử chỉ, lời nói, phong tục hay tập quán và có những nhân tố thể hiện vào bên trong, qua tâm lý, tính cách, qua sắc thái tình cảm ở mỗi con người Từ đó có thể hiểu bản sắc miền núi chính là nét riêng về văn hóa vùng cao gắn liền với địa bàn sinh sống của một dân tộc cụ thể

1.1.3 Bản sắc miền núi xét về góc độ ngôn ngữ

a Hệ thống từ vựng

Thứ nhất, bản sắc miền núi xét về góc độ ngôn ngữ trong hệ thống từ vựng thì

nó thuộc về ngôn ngữ một dân tộc Như vậy, bản sắc miền núi thể hiện qua ngôn ngữ của các chủ thể phát ngôn là người kể chuyện và nhân vật

Trang 16

Bản sắc miền núi tức là nét riêng của miền núi, là dấu hiệu của miền núi và cụ thể hơn đó là không gian sinh tồn cùng với những sắc màu văn hóa của họ Và phương diện thứ hai của bản sắc miền núi là góc độ ngôn ngữ Đó là những từ ngữ quen thuộc trong vốn ngôn ngữ của họ; đó là những cấu trúc ngữ pháp quen thuộc của họ; đó là tục ngữ của họ Cuối cùng, đó là cách cảm cách nghĩ của họ được thể hiện bằng các yếu tố ngôn ngữ

Thứ hai, trong hệ thống từ vựng/trên bình diện từ vựng, bản sắc miền núi sẽ được thể hiện qua phạm vi biểu vật của chúng Qua khảo sát thực tế, chúng tôi xác định chúng bao gồm các lớp sau:

- Danh từ gọi tên tộc người

- Danh từ gọi tên họ

- Danh từ gọi tên người

- Danh từ gọi chức danh

- Danh từ gọi tên các hoạt động cộng đồng

- Danh từ gọi tên các loại ma

- Danh từ biểu thị động vật

- Danh từ biểu thị thực vật

- Danh từ gọi tên trang phục

- Danh từ gọi tên món ăn, bữa ăn

- Danh từ gọi tên gia vị

- Danh từ gọi tên công cụ lao động

- Danh từ gọi tên nhạc cụ

- Danh từ gọi tên không gian, nơi chốn

- Danh từ gọi tên vùng đất

- Danh từ gọi tên đơn vị hành chính

- Động từ biểu thị hoạt động của con người

- Động từ, tiếng dân tộc thiểu số, chỉ được sử dụng trong khẩu ngữ

- Tính từ biểu thị tính chất

- Đại từ dùng để xưng hô

Trang 17

- Cú pháp khẩu ngữ với kiểu câu lặp lại chủ ngữ

- Nói láy lâm thời trong lời nói

1.2 Ma Văn Kháng và tiểu thuyết “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn”

1.2.1 Vài nét về nhà văn Ma Văn Kháng

- Cuộc đời

Ma Văn Kháng sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936 tại làng Kim Liên, Kẻ Chợ; nay

là phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội Ông tên thật là Đinh Trọng Đoàn Lúc nhỏ, ông cùng gia đình đi lập nghiệp ở Sơn Lộc, tỉnh Sơn Tây cũ Những năm trước 1945, ông theo học ở các trường: trường Thiếu nhi Việt Nam, Đội thiếu nhi nghệ thuật, Đội Văn nghệ truyền bá Vệ tinh, trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam Đến những năm đầu 1950, Ma Văn Kháng theo học tại một trường Trung cấp

Sư phạm ở Quảng Tây (Trung Quốc)

Năm 1954, sau khi rời xa giảng đường đại học, Ma Văn Kháng đã tình nguyện đến với mảnh đất Tây Bắc xa xôi và làm hiệu trưởng tại một trường cấp I, II ở thị xã Lào Cai Cũng tại đây, ông đã gặp được người cán bộ trẻ mẫu mực Ma Văn Nho và sau một thời gian ông đổi tên thành Ma Văn Kháng - tên thường dùng, cũng là bút danh khi làm báo, viết văn

Trang 18

Năm 1961, ông trở về Hà Nội và học trường Đại học Sư phạm Năm 1963, Ma Văn Kháng trở lại Lào Cai và làm hiệu trưởng một trường cấp III Bốn năm sau, ông làm thư kí riêng cho đồng chí Trường Minh - bí thư Tỉnh ủy Lào Cai lúc bấy giờ Đến năm 1968, Ma Văn Kháng chuyển sang làm tại báo tại Lào Cai

Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1974

Từ năm 1976 đến nay, ông công tác tại Hà Nội và đã giữ nhiều chức vụ quan trọng của hội nhà báo, nhà văn Việt Nam

- Sự nghiệp

Bắt đầu sáng tác từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX với truyện ngắn đầu tay

“Phố cụt” in trên báo Văn học năm 1961, cho đến nay, trải qua hơn 40 năm cầm bút, Ma Văn Kháng đã tạo dựng cho mình một gia tài văn chương đồ sộ gồm 19 tập truyện ngắn, 11 cuốn tiểu thuyết, 3 tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi Năm 1967, truyện ngắn “Xa phủ” đạt giải nhì trong cuộc thi sáng tác do báo Văn nghệ tổ chức Nhờ đó mà tác phẩm của Ma Văn Kháng đến gần với độc giả hơn Những năm sau

đó, hàng loạt các tác phẩm viết về đề tài miền núi tiếp tục ra đời: tập truyện “Mùa mận hậu” (1972), “Cái móng ngựa” (1973), đặc biệt là bộ ba cuốn tiểu thuyết

“Vùng biên ải”, “Đồng bạc trắng hoa xòe”, “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” đã đưa miền núi Tây Bắc hoang sơ, hẻo lánh đến gần với bạn đọc hơn

Các sáng tác của Ma Văn Kháng được viết theo hai chủ đề chính là về cuộc sống của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc và đời sống nơi phố thị thời hậu chiến Qua đó, nhà văn đã khắc họa sắc nét bức tranh hiện thực đời sống của xã hội Việt Nam qua những năm tháng biến thiên thăng trầm của lịch sử và cách mạng cùng những kiếp người, những số phận mang tính cách điển hình

Cuộc sống miền xuôi xô bồ, ngột ngạt với những bon chen, tính toán cũng được hiện lên trong những trang viết về mảng đề tài này Những tác phẩm: “Mùa lá rụng trong vườn” (tiểu thuyết, 1985), “Côi cút giữa cảnh đời” (tiểu thuyết, 1989),

“Đám cưới không có giấy giá thú” (tiểu thuyết, 1989), “Heo may gió lộng” (truyện ngắn, 1992), “Trăng soi sân nhỏ” (truyện ngắn, 1994), “Ngoại thành” (truyện ngắn 1996),

Trang 19

Viết văn, trước tiên là câu chuyện của tình yêu, của đam mê và tài năng, là dồn nén những ưu tư cá nhân, song, với Ma Văn Kháng, viết còn là thái độ, là trách nhiệm công dân của một người yêu dân tộc mình Thấp thoáng trong các trang sách, người đọc có thể nhìn ra nỗi buồn, nỗi đau đời riêng ông, nhưng trên tất cả, đó là những ưu tư của ông trước nhân tình thế thái Ông thực sự muốn dùng sức mạnh ngòi bút của mình để mang tới những giá trị nhân văn cho con người và vì con người ở nghĩa rộng lớn nhất Ông quan niệm vì một điều rất đơn giản: “Con người sống không chỉ là để làm đẹp cho cuộc sống, không chỉ để ra nụ ra hoa mà sống còn

là để chịu thương tích nữa - đó là quy luật của xã hội Sống là đấu tranh, tranh đấu

sẽ có thương tích Tôi không muốn một cái đẹp dễ dãi Cái đẹp ấy phải mang màu sắc bi tráng Cái đẹp ấy đều trải qua những mất mát, thiệt thòi, thậm chí hi sinh, bị vùi dập đến mức không còn chỗ đứng Thế nhưng họ vẫn vươn lên khẳng định nhân cách chính mình Đó chính là cái đẹp rất cơ bản”

Với quan niệm viết văn là việc “đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn”, Ma Văn Kháng đã tạo cho mình một tiếng nói, một phong cách nghệ thuật riêng Các sáng tác của ông không chỉ đặt ra và lý giải những vấn đề có ý nghĩa dân tộc mà còn mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc như: vấn đề hôn nhân gia đình, tình yêu, tâm linh, những vấn đề về nghệ thuật, vai trò sứ mệnh của văn chương

Trên chặng đường hơn nửa thế kỷ cầm bút, nhà văn Ma Văm Kháng đã chứng kiến bao vật đổi sao dời thời cuộc, nhà văn thấu thị mọi lẽ đời, vì mỗi phút giây, ông đã sống tận cùng với chính mình Sống “thật” chỉ để tìm kiếm cái “đẹp” trong ý nghĩa khởi nguyên nhất, dù cái giá của nó có khi là cay đắng Nhưng ông vẫn tâm niệm: “Có vẻ đẹp nào mà không cần được thử thách! Nhân cách chỉ tỏa sáng trong những cảnh huống tưởng như không thể chịu được” Trên con đường khắc nghiệt của văn chương, Ma Văn Kháng đã thực sự “một mình một ngựa”, trong nỗi cô đơn dằng dặc, không ngừng tìm kiếm những giá trị vĩnh cửu của đời sống, mà nếu không có nó, con người không có điểm tựa để đi về phía trước

Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình, Ma Văn Kháng đã nhận được rất nhiều giải thưởng văn học như: Giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam

Trang 20

năm 1986 cho tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn”, Giải thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 cho tập truyện ngắn “Trăng soi sân nhỏ”, Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (ASEAN) năm 1998, Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật đợt I năm 2001, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật đợt IV năm 2012 cho các tác phẩm Truyện ngắn chọn lọc, “Mưa mùa hạ”,

“Côi cút giữa cảnh đời”, “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn”

1.2.2 Tiểu thuyết “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn”

Được viết trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến 2000, tiểu thuyết “Gặp gỡ

ở La Pan Tẩn” là một bức tranh khắc họa sống động cuộc sống của con người nơi Tây Bắc xa xôi mà cụ thể là vùng La Pan Tẩn Ở đó là hình ảnh của những con người miền núi thuần hậu mang trong mình nỗi cay đắng tủi nhục, họ chịu áp bức, bóc lột đặc biệt là người phụ nữ (qua hình ảnh Seo Mùa - cô con dâu của hố pẩu);

đó là nơi hiện tồn của những phong tục lạc hậu, mê tín La Pan Tẩn, nơi chứng kiến

sự hi sinh hết mình của người thầy giáo trẻ tên Thiêm ở miền xuôi tự nguyện hiến thân trong công cuộc giải phóng vùng biên ải Và, đối lập với Thiêm - âm thanh khai sáng núi rừng, là những kẻ ngu dốt, chức sắc, thừa cơ lộng hành đã gây nên biết bao tội ác Hòa vào những gam màu sáng tối đối lập nhau, vùng biên La Pan Tẩn đó là nơi con người nhỏ bé bị áp bức luôn khao khát được tự do

Tiểu thuyết “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” có cốt truyện đảo tuyến thời gian Dòng thời gian bị xáo trộn, hệ thống các sự kiện được trình bày theo trình tự nhân quả cũng bị phá vỡ Nhiều hồi ức và giấc mơ xuất hiện đổi mới nghệ thuật trần thuật, tạo ra sự đa dạng trong cách kể và giọng điệu của tác phẩm “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn”

có một kết cấu hết sức độc đáo Tác phẩm đan xen nhiều tầng lớp ý nghĩa, trong đó

hư và thực, tiềm thức và vô thức đan cài với nhau, không phân định rõ Cốt truyện của “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” gồm nhiều câu chuyện nhỏ kết hợp lại với nhau Trong mỗi câu chuyện lồng ghép vào nhiều tình tiết hư ảo, tưởng tượng Phần lớn những câu chuyện được kể lại theo dòng suy nghĩ và hồi ức nhân vật Thiêm nên tác phẩm chủ yếu thuộc về quá khứ Quá khứ gần, quá khứ xa lần lượt tái hiện thông qua hồi

ức của nhân vật chính Như vậy, kiểu cốt truyện đảo tuyến thời gian này đã mang lại những hiệu quả thẩm mỹ bất ngờ cho tác phẩm

Trang 21

Phạm vi biểu vật là phạm vi hiện thực đời sống mà từ gọi tên

Ví dụ: Mèo, Mán, Kinh, Dao, Đây là danh từ gọi tên tộc người

Khảo sát truyện “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” , chúng tôi nhận thấy ở tiêu chí phạm

vi biểu vật trong tác phẩm có các lớp biểu vật:

- Danh từ gọi tên tộc người Ví dụ: Mèo, Mán Xá,

- Danh từ gọi tên họ Ví dụ: Giàng,

- Danh từ gọi tên người Ví dụ: Giàng A Pùa,

- Danh từ gọi chức danh Ví dụ: hố pẩu,

- Danh từ gọi tên các hoạt động cộng đồng Ví dụ: hội ăn ước, hội ăn thề,

- Danh từ gọi tên các loại ma Ví dụ: ma rừng, ma cột nhà,

- Danh từ biểu thị động vật Ví dụ: tu nềnh (con ngựa), tu tế (con chó),

- Danh từ biểu thị thực vật Ví dụ: xoạn xủ, vầu, lá ngón,

- Danh từ gọi tên trang phục Ví dụ: hài xảo, vòng bạc,

- Danh từ gọi tên món ăn, bữa ăn Ví dụ: thắng cố, mèn mén, (bữa) xíu dề,

- Danh từ gọi tên gia vị Ví dụ: chế (muối),

- Danh từ gọi tên công cụ lao động Ví dụ: quẩy tấu,

- Danh từ gọi tên nhạc cụ Ví dụ: sáo ngang, sáo dọc,

- Danh từ gọi tên không gian, nơi chốn Ví dụ: bản, nương,

- Danh từ gọi tên vùng đất Ví dụ: La Pan Tẩn, Xin Ma Chải, Bản Ngò,

- Danh từ gọi tên đơn vị hành chính Ví dụ: châu,

- Động từ biểu thị hoạt động của con người Ví dụ: chíp, hau (uống), nào (ăn),

Trang 22

- Động từ, tiếng dân tộc thiểu số, chỉ được sử dụng trong khẩu ngữ Ví dụ: mổng, chi/pâu/ề,

· Lớp danh từ gọi tên họ có các từ như: Giàng Dìn (2), Giàng (6)

· Lớp danh từ gọi tên người có các từ như: Giàng Dìn Chin (5), Tếnh (62), Giàng Dìn Tếnh (1), Giàng Tếnh (1), Giàng A Pùa (2), Pùa (15), Giàng A Tú (4),

Tú (11), Giàng Thị Xay (3), Xay (16), Seo Xay (4), Seo Mùa (79), Giàng Seo Lở (2), Lở (18), Giàng A Sùng (1), Sùng (13), Thào A Chẩn (2), Chẩn (18), Tráng Séo

Tả (1), Múi (1)

· Lớp danh từ gọi chức danh có các từ như: hố pẩu (107), dở sấu (12)

· Lớp danh từ gọi tên các hoạt động cộng đồng có các từ như: hội nào tsồng (1), hội ăn ước (7), hội ăn thề (1), thề mặt trời (2), cướp vợ (2), hội gầu tào (1), tết Mèo (1), tết dân tộc (1)

· Danh từ gọi tên các loại ma có các từ như: ma rừng (1), ma cột nhà (1), ma bếp lò (1), ma lợn sề (1), ma trâu (1), ma ngũ hải (1), ma mặt trời (1), ma suối (1),

Trang 23

· Lớp danh từ gọi tên trang phục có các từ như: hài xảo (2), vòng bạc (3), khăn vành (1), váy lanh (1), khóa bảo mệnh (1), khóa giữ hồn (1)

· Lớp danh từ gọi tên món ăn, bữa ăn có các từ như: thắng cố (3), mèn mén (1), sèo đắng (3), (bữa) xíu dề (1)

· Lớp danh từ gọi tên gia vị có các từ như: chế (muối) (1)

· Lớp danh từ gọi tên công cụ lao động có các từ như: quẩy tấu (3)

· Lớp danh từ gọi tên nhạc cụ có các từ như: đàn môi (1), sáo ngang (1), sáo dọc (1), tù và (1), khèn bè (1), khèn (1)

· Lớp danh từ gọi tên không gian, nơi chốn có các từ như: đồng rừng (2), bản (32), nương (17), chế (nhà) (1), châu lỵ (4)

· Lớp danh từ gọi tên vùng đất có các từ như: La Pan Tẩn (94), Phố Lu (1), Bản Ngò (3), Bãi Đá (28), Ngải Chồ (6), Bảo Thắng (1), Xin Ma Chải (20), (sông) Chẩy (7), Na Ảng (1), Lào Cai (5)

· Lớp danh từ gọi tên đơn vị hành chính có các từ như: châu (1)

· Lớp động từ biểu thị hoạt động của con người có các từ như: chíp (1), chim (3), hau (uống) (1), địu (11), mông ua tế (đi nương đấy à) (1), nào (ăn) (1), nẩy (đàn môi) (2), khiến (trâu) (1)

· Lớp động từ, tiếng dân tộc thiểu số, chỉ được sử dụng trong khẩu ngữ có các

từ như: mổng (1), pú/dỉn/tờ (không biết) (3), chi/pâu/ề (không biết) (5), chung/cảo/nà (1), tằng chếnh (1), mổng/cà! (đi nhé!) (2), Chi/tu/sa (đừng đứt lòng) (4), mổng/à! (đi nhé!) (1), cứ/ngô tí/ti (6)

· Lớp tính từ biểu thị tính chất có các từ như: jông hứng (đẹp lắm) (1)

· Lớp đại từ dùng để xưng hô có các từ như: cú (tôi) (1)

Trang 24

Bảng 2.1 Bảng khảo sát các đơn vị từ vựng thể hiện bản sắc miền núi phân

chia theo tiêu chí phạm vi biểu vật

Xá Kinh Tày Thái Mèo xanh Uní Cheo chi (người Kinh)

(1) Người Mèo ở đây, theo hố pẩu gọi cháu

là dở sấu, [24, tr

173]

(2) La Pan Tẩn là xã thuần người Mèo xanh ở hạ huyện Xin

Ma Chải

- Mèo xanh là Mèo gì?

- Là một trong sáu ngành Mèo [24, tr

nhiều tới bà con trong

họ Giàng Dìn của tôi rồi [24, tr 37]

người dân tộc họ Giàng ở đây gọi ông

Tú Giàng Thị Xay

Giàng A Tú, Giàng Thị Xay, Giàng A Pùa, những học trò năm xưa của thầy đấy

[24, tr 295]

ông già đứng đầu dòng họ Giàng có tên

Trang 25

Xay Seo Xay Seo Mùa Giàng Seo Lở

Lở Giàng A Sùng Sùng Thào A Chẩn Chẩn Tráng Séo Tả Múi

thân như một linh hồn lớn quy tụ các thành viên, điều hành mọi việc đối nội, đối ngoại của họ hàng.[ 24, tr

28]

- Hố pẩu, tiếng Mèo, có nghĩa

là người đứng đầu một bộ tộc ở bản Mèo (thường là người già), được bầu chọn, có uy tín với cộng đồng và là người chịu trách nhiệm đứng ra xử lý theo luật tục các vấn đề, tranh chấp phát sinh trong cuộc sống,

tương đương với già làng ở các

dân tộc vùng Tây Nguyên

- Dở sấu (tiếng Mèo) nghĩa là ông tiên, ông thánh

tôi mở hội ăn ước, hội nào tsồng để mọi người cùng hứa [24, tr.39]

hội ăn thề của bản, của xã họp dưới ánh trăng khuya [24, tr.182]

- Hội nào tsồng là lễ hội tập thể của cộng đồng “giao” (nghĩa là bản làng) Hàng năm, vào ngày Thìn (ngày Rồng) của tháng Giêng, các giao đều

tổ chức họp hội để cũng thổ địa bàn bạc công việc của giao, bầu Lùng thầu (chủ hội) để điều hành công việc của năm mới

Trang 26

- Hội ăn ước là hội mở ra để mọi người cùng cầu mong cho một việc gì đó sẽ xảy ra, sẽ đến tốt lành, thuận lợi

- Hội ăn thề là hội thề, cam kết giữa các gia đình, dòng họ hoặc các cộng đồng sinh sống trong cùng một vùng địa lý, có ranh giới giáp liền và có những mối quan hệ mật thiết nhằm thảo luận và củng cố giá trị, luật tục và cấu trúc cộng đồng truyền thống của người H’Mông

- Thề mặt trời là lễ thề hứa trước mặt trời về một việc gì

đó Với người Mèo, lễ thề mặt trời chỉ được thề một lần duy nhất trong đời mình

- Cướp vợ một luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số H’Mông Khi con cái lớn người con trai đến nhà con gái cướp về làm vợ

- Hội gầu tào là lễ hội tổ chức để gia chủ “cầu con” hoặc mọi người cầu cho cộng đồng “người yên, vật thịnh”, thường diễn ra sau tết vài ngày

Trang 27

tu tế lửng

bà thì đời còn thua con tu tế, con chó!

- Tu tế là tiếng Mèo, nghĩa là con chó

- Lửng là động vật thuộc loại chồn, chân ngắn, lông có thể dùng làm bút vẽ [22, tr 623]

lá ngón mai chi khẩu pấu

ké (cỏ) ngải

sa mu lanh vầu (rau) dớn

cỏ gianh vàng ánh loi nhoi như mạ ba lá mọc lấn cả ra mặt đường [24, tr 243]

xoạn xủ rũ trắng như tro bay [24tr 36]

trường, cỏ ba chẽ cao vổng tới đầu gối [24,

tr 243]

- (cỏ) gianh còn gọi là cỏ tranh, là cỏ sống dai, hoa mọc thành bông màu trắng, lá dài, cứng và mọc đứng, thường dùng để lợp nhà, thân và rễ có thể dùng làm thuốc [22, tr 215]

- (cỏ) ba chẽ là cây bụi nhỏ, sống lâu năm, cao 0,5-2m Thân tròn, phân nhiều cành, cành non hình tam giác dẹt, uốn lượn, có cạnh và lông mềm mầu trắng, mặt sau nhẵn

Lá kép mọc so le, có 3 lá chét,

lá chét giữa to hơn Mọc nhiều

ở vùng núi thấp, cao nguyên và trung du, được dùng làm thuốc

- Xoạn xủ là tiếng Mèo, đây là một loại cây mọc ở miền núi

- Trúc vàng là một loại trúc cây cao 4-8m, đoạn gốc của thân các đốt sát nhau xù xì, ruột gần như đặc, tạo nên hình thù đặc

Trang 28

sắc như hóa rồng vậy, chủ yếu

ở một vài vùng ở miền núi phía Bắc

- Lá ngón là một loại cây leo thân quấn thường xanh, dài tới

12 m khá phổ biến ở miền rừng núi cao độ từ 200 mét đến 2.000 mét và có độc tính gây chết người nếu ăn phải

- Mai là cây cùng loại vơi tre, gióng dài, thành dày, đốt lặn, lá rất to, dùng làm nhà, ống đựng nước [22, tr 631]

- Chi khẩu pấu (tiếng Mèo) là một loại cây bụi mọc ở vùng rừng núi, quả vị ngọt, ăn được

- Ké là tên gọi chung một số loài cây quả có gai móc, như

ké đầu ngựa, ké hoa đào, ké hoa vàng, [22, tr 505]

- (cỏ) ngải: thân cây cỏ, cùng

họ với gừng, lá to dài, có cuống ngắn, hoa màu vàng, củ dùng làm thuốc [22, tr 694]

- Sa mu còn gọi là Cây sa mộc là loài cây gỗ lớn, gỗ bền đẹp dùng trong xây dựng và đóng đồ gia dụng Sa mu ưa ánh sáng, mọc nhanh so với một số loài cây lá kim khác, sinh trưởng tốt ở các huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang, Lào Cai… phù hợp nơi tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn, thoát

nước

- Lanh: thân cây cỏ, vùng ôn

Trang 29

đới, trồng lấy sợi dệt vải và lấy hạt ép dầu [22, tr 567]

- Vầu: cây cùng họ với tre, thân to, mình mỏng nhưng rắn, thường dùng để làm nhà [22,

tr 1143]

- (rau) dớn: là một loài thực vật hoang dại thuộc họ Rau dớn có hình dáng gần giống cây dương xỉ Loại rau này có giá trị sử dụng trong y học và được chế biến thành nhiều món

Mèo, váy áo sặc sỡ,

choang, cùng tiếng chúng đọc bài ngân nga [24, tr 34]

tay chống vách nhà, Seo Mùa dong dỏng

eo thắt, nếp váy lanh xòe rộng đứng trên tấm ván dưới là hòn

đá đẽo tròn lăn rì rì ép phẳng mặt vải lanh mới dệt nhưng thấy

rõ một vành tai nhỏ trĩu nặng cái vòng bạc [24, tr 35]

vành to Cổ em đeo ba cái vòng bạc lớn và một cái khóa bảo mệnh [24, tr 179]

- Hài xảo là dép bện bằng cỏ hay rơm, dùng thời xưa [22, tr 439]

- Vòng bạc: vật được tạo ra bằng bạc, có hình một đường tròn, thường dùng làm đồ trang sức, trang trí

- Khăn vành là khăn dài dùng

để quấn thành khối cao trên đầu

-Váy lanh là váy của phụ nữ Mèo được dệt từ lanh

- Khóa bảo mệnh là đồ vật làm bằng kim loại được đeo trên cổ dùng để bảo mạng

- Khóa giữ hồn là đồ vật làm bằng kim loại được đeo trên cổ dùng để giữ linh hồn

Trang 30

(21) Đuổi ngựa thồ thuê, chân đi hài xảo, quần xắn tới gối, dẻo chân, chịu khó là được [24, tr 176]

mén - bột ngô, thầy cầm thìa xúc, chưa quen, nhoai cổ nuốt rồi nghẹn, ho [24, tr

29]

- Thắng cố là món ăn được hầm (ninh) từ toàn bộ các bộ phận của ngựa hoặc trâu, bò (trừ phần thịt) gồm đầu, chân, xương cùng lục phủ ngũ tạng,

- Mèn mén (tiếng Mèo) nghĩa

là bột ngô

- Sèo đắng là một món ăn được chế biến từ hạt sèo đắng Sèo đắng còn có tên là lúa mạch đen, là một loại cây lương thực thân thảo, thuộc họ Rau răm, hạt có bột ăn được Hạt sèo đắng dùng để nấu ăn,

có thể trộn chung nấu với ngô

và gạo

- (bữa) xíu dề là tiếng Mèo,

có nghĩa là bữa ăn phụ

Trang 31

khèn bè khèn

[22, tr 304]

- Sáo ngang là nhạc khí thổi bằng hơi, hình ống nhỏ và dài, phần dưới có nhiều lỗ tròn để định cung, khi thổi xoay chiều ngang

- Sáo dọc là nhạc khí thổi bằng hơi, hình ống nhỏ và dài, phần dưới có nhiều lỗ tròn để định cung, khi thổi xoay chiều dọc

- Tù và là dụng cụ để báo hiệu ở nông thôn thời trước, làm bằng sừng trâu, bò hoặc vỏ

ốc, dùng hơi để thổi, tiếng vang xa [22, tr 1094]

- Khèn bè là loại khèn dùng

để bè theo, bổ sung cho lời hát

- Khèn: nhạc khí của một số dân tộc miền núi, làm bằng nhiều ống tre, trúc ghép lại, thổi bằng miệng [22, tr 521]

bản Mèo trên núi cao, nơi Thiêm đã sống những tháng ngày say đắm, [24, tr.11]

con dâu hố pẩu đấy, chân là vải, tay bón cỏ ngựa, chân đạp cối gạo, tay xe lanh, chân

đi nương, tay nối sợi

[24, tr 37]

- Đồng rừng là vùng đất rộng lớn ở vùng trung du, miền núi

- Bản là đơn vị dân cư nhỏ nhất ở một số vùng dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam, tương đương với làng [22, tr 45]

- Nương còn gọi là rẫy, là đất trồng trọt trên đồi núi [22, tr 775]

- Chế là tiếng Mèo, có nghĩa

là nhà

- Châu lỵ là nơi đóng trụ sở

Trang 32

Na Ảng Lào Cai

Bãi Đá thuộc trung tâm xã La Pan Tẩn quê ta rồi! [24, tr 27]

huyện ủy Xin Ma Chải tên là Đường Xuân Ân người thấp nhỏ [24, tr 23]

xuống bờ sông Chẩy phat ruộng hoang, trồng lúa nước [24, tr

[24, tr 47]

- Châu là đơn vị hành chính ở miền núi, thời phong kiến và thời thực dân Pháp, tương đương với huyện [22, tr 161]

rúm ró trong đôi quai quẩy tấu địu bó củi vượt quá đầu người, tim anh quặn thắt [24,

Trang 33

- Mổng nghĩa như vắt của tiếng Kinh, nghĩa là tiếng hô cho trâu, bò đi ngoặt sang trái [22, tr 1138]

- Pú dỉn tờ là tiếng Quan, nghĩa là không biết

- Chi pâu ề là tiếng Mèo, nghĩa là không biết

- Chung cảo nà là một tiếng chửi tục bằng tiếng Mèo

- Cứ ngô tí ti là tiếng Quan hỏa, nghĩa là “cho anh một tí”

- Đù a là tiếng Mèo, nghĩa là trời ơi

Qua kết quả khảo sát trên, ta có thể thấy các đơn vị từ vựng thể hiện bản sắc miền núi phân chia theo tiêu chí phạm vi biểu vật được gọi tên thành các lớp khác

Trang 34

nhau, có cả danh từ gọi tên lẫn động từ, tính từ, đại từ, chỉ từ và thán từ Nhưng, tựu chung lại thì số lượng các lớp danh từ gọi tên đối tượng chiếm đa số

Xét riêng các lớp danh từ gọi tên đối tượng, có thể nhận thấy đời sống của con người vùng núi rừng Tây Bắc nói chung và bản Mèo La Pan Tẩn nói riêng phần nào được diễn tả rất kĩ lưỡng; từ những địa danh thôn xóm, tên tộc người, tên người Mèo đến khung cảnh thiên nhiên, những lễ hội sinh hoạt cộng đồng đều được khắc họa rất tỉ mỉ và mang nét đặc trưng cho miền núi Trong 22 lớp biểu vật gọi tên đối tượng kể trên thì lớp danh từ gọi tên người, lớp danh từ gọi tên các hoạt động cộng đồng, lớp danh từ biểu thị thực vật và lớp danh từ gọi tên vùng đất có số lượng từ biểu thị nhiều hơn cả Tất cả những từ thuộc phạm vi biểu vật kể trên đều được miêu tả qua lời kể của người kể chuyện, một số thì qua lời của nhân vật

(5) Chúng em là Giàng A Tú, Giàng Thị Xay, Giàng A Pùa, những học trò năm xưa của thầy đấy [24, tr 295]

Đây là lời của nhân vật Giàng A Tú trong bức thư gửi cho thầy Thiêm trong

khoảng thời gian thầy về dưới xuôi

Hay là lời của hố pẩu Giàng Dìn Chin lúc đưa Thiêm về đến bản làng Câu nói mộc mạc nhưng chứa chan đầy tình cảm, xem thầy giáo người miền xuôi như anh

em người Mèo của mình:

(27) Đây là thôn Bãi Đá thuộc trung tâm xã La Pan Tẩn quê ta rồi! [24, tr 27]

2.2 Các đơn vị từ vựng thể hiện bản sắc miền núi phân chia theo tiêu chí cấu tạo từ

Cấu tạo từ là cách thức tổ chức từ để tạo nên từ mới Từ vựng trong tiếng Việt được chia thành từ và ngữ

2.2.1 Khảo sát và miêu tả các từ thể hiện bản sắc miền núi

Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, có chức năng cấu tạo từ

Theo Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1) thì dựa vào số lượng

hình vị, có thể chia từ tiếng Việt thành từ đơn và từ phức

a Từ đơn

Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên Ví dụ như: châu, nương, bản,

Trang 35

Sau khi tiến hành khảo sát tiểu thuyết “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” của Ma Văn Kháng, chúng tôi đã tìm ra được 43 từ đơn thể hiện bản sắc miền núi Dưới đây là bảng số liệu cụ thể:

Bảng 2.2 Bảng khảo sát từ đơn thể hiện bản sắc miền núi phân chia theo tiêu

chí cấu tạo từ

TT Từ đơn Số lần

xuất hiện STT Từ

Số lần xuất hiện

Qua kết quả khảo sát, chúng tôi thấy có rất nhiều từ đơn xuất hiện lặp đi lặp lại

nhiều lần trong văn bản, cụ thể là Mèo 103 lần, Tếnh 62 lần, bản 32 lần, Chẩn 18

Trang 36

lần, Lở 18 lần, Xay 16 lần, Pùa 15 lần Ngoại trừ Mèo, còn lại đó là tên của các

Đó là: sơn cước (1), thổ phỉ (5)

Từ ghép đẳng lập là từ mà trong đó các thành tố tạo nên từ không có quan hệ chính phụ Nghĩa giữa các thành tố trong từ ghép có thể gộp nghĩa nhau, có thể lặp nghĩa nhau hoặc tách biệt, mỗi thành tố là một nét nghĩa riêng Đó cũng là 3 kiểu

từ ghép đẳng lập: gộp nghĩa, lặp nghĩa, đơn nghĩa Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi không tách riêng từng loại từ ghép đẳng lập để khảo sát mà gộp chung lại thành một nhóm

Ví dụ: thổ phỉ nghĩa là giặc (cướp) chuyên quấy phá ở một vùng đất, một địa

Trang 37

sự vật lớn, loại đặc trưng lớn và yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, loại đặc trưng đó Ví dụ: chim chiung, Mèo xanh, hội ăn ước, hội ăn thề,

Sau khi tiến hành khảo sát tiểu thuyết “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” của Ma Văn Kháng, chúng tôi đã tìm ra được 37 từ ghép chính phụ thể hiện bản sắc miền núi Dưới đây là bảng số liệu cụ thể:

Bảng 2.3 Bảng khảo sát từ ghép chính phụ thể hiện bản sắc miền núi

STT Từ ghép Số lần

xuất hiện STT Từ ghép

Số lần xuất hiện

Trang 38

hai loại là từ ghép dị biệt và từ ghép sắc thái hóa Cũng như từ ghép đẳng lập, ở từ ghép chính phụ, khi khảo sát chúng tôi không chia riêng hai loại mà gộp chung lại

Ví dụ như:

Các từ gọi tên lễ hội: hội nào tsồng, hội ăn ước, hội ăn thề, hội gầu tào

Xét riêng từng từ: ở từ hội nào tsồng thì hội là thành tố chính, nào tsồng là thành tố phụ Tương tự, từ hội ăn ước thì hội là thành tố chính, ăn ước là thành tố phụ; hội ăn thề thì hội là thành tố chính, ăn thề là thành tố phụ; hội gầu tào, hội là thành tố chính, gầu tào là thành tố phụ Đây là từ ghép dị biệt

Có thể thấy rõ hơn qua mô hình sau đây:

Sau khi tiến hành khảo sát tiểu thuyết “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” của Ma Văn Kháng, chúng tôi đã tìm ra được 11 đơn vị từ ngẫu kết thể hiện bản sắc miền núi

Trang 39

Đó là: tù và (1), hố pẩu (107), dở sấu (12), xoạn xủ (1), chi khẩu pấu (2), (bữa) xíu dề (1), quẩy tấu (3), thắng cố (3), mèn mén (1), cheo chi (1), ti lâu (1)

Các từ ngẫu kết mà chúng tôi khảo sát được đều là những từ gọi tên, bằng tiếng dân tộc (Mèo)

2.2.2 Khảo sát và miêu tả các ngữ thể hiện bản sắc miền núi

Phần ngữ bao gồm: thành ngữ, quán ngữ, ngữ cố định định danh Cả ba loại đều là cụm từ cố định

Dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hình thức) có thể chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại là: Thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ

- Thành ngữ so sánh

Loại thành ngữ này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh Mô hình tổng quát của loại này là A ss B với A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, còn ss là từ so sánh: như, bằng, tựa, hệt…

Sau khi tiến hành khảo sát tiểu thuyết “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn” của Ma Văn Kháng, chúng tôi đã tìm ra được 4 thành ngữ so sánh thể hiện bản sắc miền núi phân chia theo tiêu chí cấu tạo từ

Đó là: ăn như hổ đổ đó (1)

như hủi ăn mỡ (1) ngơ ngơ như gà lạc mẹ (1)

bở như vôi (1) Thành ngữ so sánh có cấu trúc đầy đủ A ss B

Trang 40

Tuy nhiên, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc thành ngữ cũng phải ở dạng đầy

đủ Ngoài A ss B thì còn có (A).ss.B và ss.B

Ở kiểu (A).ss.B, thành phần A của thành ngữ không nhất thiết phải có mặt Nó

có thể xuất hiện hoặc không; nhưng người ta vẫn lĩnh hội đủ ý nghĩa của thành ngữ

ở dạng toàn vẹn

Ví dụ: (ăn) như hổ đổ đó trong câu:

(38) Ông ăn như hổ đổ đó, [24, tr 84]

Nguyên câu gốc của thành ngữ này là ăn như hùm đổ đó Hùm tức là con hổ,

con cọp Hùm được người miền núi gọi phổ biến hơn, nhưng trong ngữ cảnh trên thì

đó là lời của người kể chuyện nên sử dụng từ hổ Nhìn chung, nghĩa của câu ăn như

hổ đổ đó vẫn không đổi Thành ngữ trên xuất phát từ câu chuyện hùm đói thường

hay ra chỗ dòng nước chảy, đổ đó trộm của người đơm đó mà ăn Việc đổ đó trộm như vậy tất nhiên phải vội vàng hấp tấp, bao nhiêu cá tép trong đó đổ tống cả vào miệng một lúc, nếu thong thả chậm chạp thì sẽ bị người ta bắt gặp Người ta thường mượn câu này để nói người ăn mau và ăn khoẻ quá Xét trong ngữ cảnh trên thì đây

là lời người kể chuyện đang nhắc đến ông Quốc Thanh, đồng chí phái viên mới dưới xuôi lên của xã La Pan Tẩn

Về cấu trúc ss.B, trường hợp này thành phần A không phải là của thành ngữ Khi đi vào hoạt động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tùy nghi; nhưng nhất thiết phải có A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ

Xét câu thành ngữ như hủi ăn mỡ đặt trong ngữ cảnh:

(39) Ông ăn như hổ đổ đó, như hủi ăn mỡ, mỗi bữa bảy bát cơm sắt

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2012), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
2. Đỗ Hữu Châu (2004), Giáo trình Từ vựng học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Từ vựng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
3. Đỗ Hữu Châu (2007), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
4. Hoàng Thị Châu (2009), Phương ngữ học tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
5. Trương Thị Diễm (2014), Bài giảng Ngữ pháp tiếng Việt, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Trương Thị Diễm
Năm: 2014
6. Đinh Trọng Lạc (1997), Phong cách học tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
7. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
8. Phương Lựu (Chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa, Lê Lưu Oanh (2002), Lý luận Văn học (tập 1) Văn học, nhà văn, bạn đọc, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận Văn học (tập 1) Văn học, nhà văn, bạn đọ
Tác giả: Phương Lựu (Chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa, Lê Lưu Oanh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2002
9. Bùi Trọng Ngoãn (2016), Bài giảng Phong cách học tiếng Việt, Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Bùi Trọng Ngoãn
Năm: 2016
10. Nguyễn Bá Thành (2006), Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học
Tác giả: Nguyễn Bá Thành
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
11. Nguyễn Ngọc Thiện (2003), “Lời giới thiệu tiểu thuyết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng”, Tiểu thuyết Ma Văn Kháng (Tập 1), NXB Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiệu tiểu thuyết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng”, "Tiểu thuyết Ma Văn Kháng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thiện
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2003
12. Trần Mạnh Thường (2003), Từ điển tác gia Văn học Việt Nam Thế kỷ XX, NXB Hội Nhà Văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác gia Văn học Việt Nam Thế kỷ XX
Tác giả: Trần Mạnh Thường
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn Hà Nội
Năm: 2003
13. Hoàng Trinh (Chủ biên), Nam Mộc, Thành Duy, Nguyên Cương (1978), Văn học, cuộc sống, nhà văn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học, cuộc sống, nhà văn
Tác giả: Hoàng Trinh (Chủ biên), Nam Mộc, Thành Duy, Nguyên Cương
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1978
14. Lã Nguyên (1999), “Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn” (Về truyện ngắn Ma Văn Kháng)”, Tạp chí văn học (9).III. Nguồn Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn” (Về truyện ngắn Ma Văn Kháng)”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lã Nguyên
Năm: 1999
15. Nguyễn Phú Bình (1996), Bản sắc dân tộc miền núi trong “Truyện Tây Bắc” và “Miền Tây” của Tô Hoài, http://text.xemtailieu.com/tai-lieu/ban-sac-dan-toc-mien-nui-trong-truyen-tay-bac-va-mien-tay-cua-to-hoai-152426.html,01/03/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc miền núi trong “Truyện Tây Bắc” và "“Miền Tây” của Tô Hoài
Tác giả: Nguyễn Phú Bình
Năm: 1996
16. Phạm Duy Nghĩa (2008), Cốt truyện trong văn xuôi dân tộc và miền núi, http://tailieu.vn/doc/cot-truyen-trong-van-xuoi-dan-toc-va-mien-nui--738761.html, 20/4/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốt truyện trong văn xuôi dân tộc và miền núi
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Năm: 2008
18. Đào Duy Anh (2005), Hán Việt từ điển, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2005
19.Nguyễn Văn Đạm (2004), Từ điển Tường giải và liên tưởng Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tường giải và liên tưởng Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2004
20.Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
21.Nguyễn Lân (2006), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w