Có lẽ xuất phát từ lòng yêu thương con người, mong muốn có một xã hội tự do bình đẳng, và với khao khát giải phóng những người da đen thoát khỏi thân phận nô lệ đã thôi thúc ông đấu tran
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
*****
Đề tài:
ABRAHAM LINCOLN VỚI CÔNG CUỘC
GIẢI PHÓNG NÔ LỆ Ở MỸ NỬA SAU THẾ KỈ XIX
SVTH: Nguyễn Thị Quế Hương
Lớp 10SLS, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
GVHD: ThS Dương Thị Tuyết
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Đà Nẵng, 5/2014
Trang 2-MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 VÀI NÉT VỀ CUỘC NỘI CHIẾN MỸ (1861 - 1865) VÀ ABRAHAM LINCOLN 6
1.1 Khái quát về cuộc nội chiến ở Mỹ (1861 - 1865) 6
1.1.1 Bối cảnh nước Mỹ trước cuộc nội chiến 6
1.1.1.1 Về kinh tế 6
1.1.1.2 Về chính trị 7
1.1.1.3 Về văn hóa – xã hội 8
1.1.2 Tiến trình cuộc nội chiến 10
1.1.3 Kết quả và ý nghĩa 12
1.2 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Abraham Lincoln 15
Chương 2 VAI TRÒ CỦA ABRAHAM LINCOLN TRONG VIỆC GIẢI PHÓNG NÔ LỆ Ở MỸ NỬA SAU THẾ KỈ XIX 21
2.1 Chế độ nô lệ ở Mỹ 21
2.1.1 Giải thích một số thuật ngữ, khái niệm 21
2.1.1.1 Chế độ nô lệ 21
2.1.1.2 Chế độ nô lệ đồn điền ở Mỹ 22
Trang 32.1.3 Số lượng nô lệ Mỹ 26
2.1.4 Thân phận của nô lệ Mỹ 28
2.2 Công cuộc giải phóng nô lệ ở nước Mỹ của Abraham Lincoln 31
2.2.1 Trước khi xảy ra cuộc nội chiến 31
2.2.2 Trong quá trình diễn ra cuộc nội chiến 38
2.2.2.1 Giai đoạn đầu của cuộc nội chiến (1861 - 1862) 38
2.2.2.2 Giai đoạn hai của cuộc nội chiến (1863 - 1865) 42
2.3 Một số nhận xét, đánh giá 50
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mỹ là nơi chế độ nô lệ bị bóc lột, đối xử tàn tệ và là nơi nô lệ bị vắt kiệt sức lao động nhất trong thời kì cận đại Vấn đề nô lệ là một lực cản đối với sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó đã cản trở sự phát triển của nước
Mỹ Chính vì vậy mà việc thủ tiêu chế độ nô lệ ở Mỹ đã trở thành vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết Người đã giúp công rất nhiều vào việc chấm dứt chế độ nô lệ ở Mỹ
là Abraham Lincoln Nhắc đến Abraham Lincoln, người ta nhớ đến ngay bản
“Tuyên ngôn giải phóng nô lệ” ngày 1 tháng 1 năm 1863; với tuyên ngôn này người
da đen được giải phóng khỏi thân phận nô lệ và trở thành người tự do Suốt cuộc đời ông đã đấu tranh cho sự ra đời của bản tuyên ngôn vĩ đại này, nó đã mở ra thời
kì mới trong lịch sử nước Mỹ Ông đã từng nói: “vì không muốn làm một kẻ nô lệ
nên tôi sẽ không làm một chủ nô lệ” [46] Câu nói nổi tiếng này đã thể hiện rõ quan
điểm của ông về vấn đề nô lệ da đen Có lẽ xuất phát từ lòng yêu thương con người, mong muốn có một xã hội tự do bình đẳng, và với khao khát giải phóng những người da đen thoát khỏi thân phận nô lệ đã thôi thúc ông đấu tranh và cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ
Nước Mỹ nổi tiếng với sự tự do, nhưng đối với người da đen đó là một ngoại
lệ, họ bị đối xử một cách hà khắc, mất đi sự tự do cá nhân, mất đi sự công bằng trong xã hội Người nô lệ bị cưỡng bức lao động trong các đồn điền, bị đối xử tàn
tệ, bị đánh đập hành hạ, nếu chống lại chủ thì bị xiềng xích đóng gông Người bỏ tiền mua nô lệ, dùng thỏi thép nung đỏ, đóng dấu trên lưng để nhận dạng nô lệ nếu
bỏ trốn Trong các vị Tổng thống Mỹ thời cận đại, thì Tổng thống Abraham Lincoln
là người luôn mong muốn giải phóng chế độ nô lệ, muốn người nô lệ được hưởng tự
do hạnh phúc Với vai trò của mình thì Abraham Lincoln đã góp phần lớn vào việc giải phóng thân phận thực sự của những người nô lệ sau này Vì sau khi Lincoln qua đời, thì trên cơ sở các tuyên cáo giải phóng nô lệ mà ông là người khởi xướng,
Trang 5thì ngày 18 tháng 10 năm 1865, Quốc hội thông qua Tu Chính Án thứ 13 chính thức xỏa bỏ chế độ nô lệ trên toàn nước Mỹ Đến năm 1867, khi mà “Đạo luật tái Thiết”
ra đời, thì quyền của người da đen được thực thi trên cả phương diện pháp lý và thực tiễn Người da đen ngày càng có vị trí quan trọng trong chính quyền Liên bang
và sự phát triển của nước Mỹ
Khi nghiên cứu về những đóng góp của Abraham Lincoln trong việc thủ tiêu chế độ nô lệ ở Mỹ thì qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về Lincoln cũng như đóng góp của ông có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của nước Mỹ
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Abraham Lincoln với công cuộc giải phóng nô lệ ở Mỹ nửa sau thế kỉ XIX” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay, các vấn đề về nước Mỹ thời cận đại, đặc biệt là vấn đề giải phóng nô lệ ở Bắc Mỹ luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
Một số tác phẩm có liên quan đến vấn đề:
- Howard Clintotta trong “Khái quát lịch sử nước Mỹ”, NXB Thanh niên, 2007
đã trình bày khá rõ về những vấn đề trong suốt thời kì lịch sử của nước Mỹ Trong
đó đề cập khái quát về nguồn gốc nô lệ ở Bắc Mỹ, về cuộc đấu tranh giải phóng nô
lệ ở Mỹ về vấn đề giải phóng nô lệ trong cuộc nội chiến (1861 - 1865) Tuy nhiên, tác phẩm chưa có nói nhiều về vai trò của Lincoln đối với việc thủ tiêu chế độ nô lệ
- W.A.Degregoric (2006), “43 đời Tổng thống Hoa Kỳ”, NXB Văn hóa -
Thông tin đã trình bày về thân thế, tính cách, gia đình, sự nghiệp, sở thích, những câu nói nổi tiếng…của 43 vị Tổng thống Hoa Kỳ của Lincon, trong đó có Abraham Lincoln
- Richard B.Morris (1967), “Những tài liệu căn bản về lịch sử Hoa Kỳ”, Việt
Nam khảo dịch xã, Sài Gòn Đây mặc dù không phải là công trình nghiên cứu, nhưng được coi là công trình tập hợp tài liệu gốc về lịch sử Hoa Kỳ Trong công trình này có những tài liệu gốc liên quan đến đề tài, đó là: Tuyên ngôn giải phóng
Trang 6nô lệ ngày 22 tháng 9 năm 1862 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1863, diễn văn đọc tại Gettysburg ngay 19 tháng 11 năm 1863, diễn văn tựu chức kì thứ nhất vào ngày 4 tháng 3 năm 1861 và tựu chức kì thứ hai vào ngày 4 tháng 3 năm 1865 của Tổng thống Abraham Lincoln Đây là những tài liệu rất quan trọng
- Lê Vinh Quốc (chủ biên) (1996), “Các nhân vật lịch sử thời cận đại, tập 1 -
Mỹ”, NXB Giáo dục có trình bày về cuộc đời và sự nghiệp của Abraham Lincoln,
quan điểm của ông đối với chế độ nô lệ ở Mỹ cũng như quá trình mà ông đấu tranh
để xóa bỏ chế độ nô lệ, về công lao của ông đối với nước Mỹ
- Trần Thu Phàm (2006), “Abraham Lincoln (1809 - 1865)”, Nguyễn Văn Ái
dịch, NXB Văn hóa - Thông tin Tác phẩm trình bày rất rõ những câu chuyện về cuộc đời của Lincon, cũng như vai trò của ông đối với việc giải phóng nô lệ ở Mỹ Nhưng đây là những câu chuyện kể nên nó ảnh hưởng văn phong của dịch giả nhiều
- Nguyễn Văn Út với tác phẩm “9 bản tuyên ngôn nổi tiếng Thế giới”, NXB
Văn hóa - Thông tin, 2006, đã đề cập khá rõ về “Tuyên ngôn giải phóng nô lệ” ngày
1 tháng 1 năm 1863 của Abraham Lincoln
- Eric Foner (2008), “Lược sử nước Mỹ thời kỳ tái thiết 1863 - 1865”, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội, đã đề cập đến vấn đề tái thiết Mỹ một cách khá toàn diện Tác phẩm này có trình bày về sự ra đời của chính sách giải phóng nô lệ, đi sâu vào mặt trong của cuộc nội chiến, cho thấy được vấn đề giải phóng nô lệ có vai trò quan trọng đối với cuộc nội chiến Tuy nhiên, đây là công trình được dịch và chuyển ngữ sang tiếng việt nên khó tiếp cận
Nhìn chung, có nhiều tác giả, công trình nghiên cứu về Lincoln với việc giải phóng nô lệ của mình song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ hệ thống và toàn diện Trên cơ sở các nguồn tài liệu, các bài viết của các tác giả, bản thân tôi đã khái quát để làm rõ vấn đề nghiên cứu
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Abraham Lincoln với công cuộc giải phóng
nô lệ ở Mỹ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: vai trò của Abraham Lincoln trong quá trình giải phóng
nô lệ ở Mỹ
- Về mặt thời gian: nửa sau thế kỉ XIX (1856 - 1865)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ được vai trò của Abraham Lincoln đối với công cuộc giải phóng nô lệ
ở Mỹ nửa sau thế kỉ XIX
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện những nhiệm vụ:
- Khái quát về bối cảnh nước Mỹ trước cuộc nội chiến (1861 - 1865)
- Giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Lincoln
- Trình bày những hoạt động của Abrham Lincoln trong công cuộc giải phóng
nô lệ
- Rút ra những nhận xét, đánh giá về vai trò, ảnh hưởng của Abraham Lincoln trong công cuộc giải phóng nô lệ ở Mỹ
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Abraham Lincoln với công cuộc giải phóng nô lệ ở Mỹ nửa sau thế kỉ XIX”, tôi đã khai thác và sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Các văn bản gốc: Tuyên ngôn giải phóng nô lệ, diễn văn của Lincoln đọc tại Gettysburg, diễn văn nhậm chức tổng thống lần thứ nhất và lần thứ hai của Lincoln
Trang 8Các văn bản này được in trong: Những tài liệu căn bản về lịch sử Hoa Kỳ của
Richard B.Morris (Việt Nam khảo dịch xã, Sài Gòn, 1967)
- Các công trình chuyên khảo về lịch sử nước Mỹ, về công cuộc giải phóng nô
lệ của Lincoln bao gồm các sách chuyên khảo, tham khảo
- Các sách lý luận, giáo trình, thông tin trên mạng internet có nội dung liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để làm đề tài này tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp:
- Phương pháp luận: đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử
và phép biện chứng của sử học Mácxít để xem xét, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử
- Phương pháp cụ thể: kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Trang 9NỘI DUNG
Chương 1
VÀI NÉT VỀ CUỘC NỘI CHIẾN MỸ (1861 - 1865)
VÀ ABRAHAM LINCOLN
1.1 Khái quát về cuộc nội chiến ở Mỹ (1861 - 1865)
1.1.1 Bối cảnh nước Mỹ trước cuộc nội chiến
1.1.1.1 Về kinh tế
Cho đến trước thời kì nội chiến, kinh tế Mỹ phát triển theo hai con đường: con đường công thương nghiệp của miền Bắc và con đường chế độ nô lệ đồn điền ở các bang miền Nam Các bang phát triển nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa, và ruộng đất nằm trong tay các trại chủ và nông dân tự do, sản xuất nông nghiệp đi theo hướng phục vụ thị trường công nghiệp Còn kinh tế miền Nam chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đất đai tập trung trong tay các chủ đồn điền lớn, trồng các loại cây công nghiệp như: bông, thuốc lá, mía và lúa gạo
Trong nửa đầu thế kỉ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra mạnh mẽ ở
Mỹ Số nhà máy sử dụng máy móc thay thế lao động thủ công xuất hiện ngày càng nhiều Công nghiệp dệt bông tiến bộ nhanh chóng Từ năm 1805 đến 1806, số cọc suốt đã tăng từ 4.500 lên 5.200.000 Ngành khai mỏ, ngành luyện kim có những tiến
bộ vượt bậc Công nghiệp chế tạo máy móc, nhất là máy nông nghiệp ngày một phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu khai khẩn miền Tây Mạng lưới đường sắt Mỹ không ngừng được mở rộng, năm 1850 Mỹ có tới 15.000 km đường sắt, nhiều nhất trên thế giới Việc tìm ra mỏ vàng ở Caliphoocnia năm 1848 đã kích thích mạnh mẽ
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Mỹ Nhờ vậy, Mỹ chiếm hàng thứ 4 trong tổng số các nước công nghiệp trên thế giới Do sự phát triển của công nghiệp nên năm
1860, miền Bắc đã chiếm 75% sản xuất cả nước, đạt giá trị 11 tỉ đô la trong tổng sản lượng quốc dân (miền Nam chỉ có 5 tỉ đô la) Thế lực của tư sản ngày càng được củng cố và tăng cường Trong khi đó ở miền Nam, việc khai khẩn đồn điền dựa vào sức lao động của nô lệ da đen chiếm ưu thế Vào nửa đầu thế kỉ XIX, công
Trang 10nghiệp dệt bông phát triển nhanh chóng ở châu Âu và Bắc Mỹ, khiến cho nhu cầu bông sợi ngày càng tăng, giá bông lên cao, việc trồng rất có lợi
Các nhà tư bản miền Bắc tập trung quyền lực ở trung ương để thống nhất điều khiển sự phát triển kinh tế, đòi hỏi phải đánh thuế cao các hàng công nghiệp nhập khẩu có hại cho nền sản xuất của địa phương Trái lại các chủ đồn điền miền Nam, đặc biệt là những chủ kinh doanh bông không muốn hạ thấp quan thuế xuất khẩu
Sự thỏa hiệp trong thời kì đầu sau cách mạng dân chủ tư sản giữa tư sản công thương nghiệp và chủ nô là cần thiết do điều kiện kinh tế của Liên bang Mỹ thời bấy giờ Nhưng đến những năm 50, 60 của thế kỉ XIX , vấn đề khai thác miền Tây
và khuynh hướng phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa và xã hội không cho phép chế
độ nô lệ tồn tại thì cuộc đấu tranh giữa hai bên trở nên gay gắt
Đảng Cộng hòa thành lập năm 1851, bao gồm những người của Đảng tự do ruộng đất thành lập vào cuối năm 40 của thế kỉ XIX, và một số người thuộc Đảng Dân chủ tách ra Cánh hữu của Đảng này đại diện cho quyền lợi của giai cấp tư sản
và các trại chủ miền Bắc, họ chủ trương hạn chế chế độ nô lệ Họ tích cực trong
Trang 11việc khai khẩn đất phía Tây, thi hành chính sách thuế quan đảm bảo quyền lợi giai cấp tư sản Mỹ Cánh tả của Đảng này gồm những đại biểu cấp tiến tiểu tư sản, những “phácmơ” và tư sản thành thị Chủ trương của họ là đòi giải phóng nô lệ và cấp không những vùng đất phía tây cho những người không có đất Đảng Cộng hòa tuy không hoàn toàn nhất trí với nhau nhưng nó có sức mạnh của quần chúng và xu thế lịch sử tiến bộ do nền sản xuất quyết định Đảng Cộng hòa đã giành được ưu thế ngay từ đầu Lãnh tụ của phía Cộng hòa và giai cấp tư sản công nghiệp là Abraham Lincoln
1.1.1.3 Về văn hóa – xã hội
Hai miền Nam, Bắc của Liên bang Mỹ trong những năm 1820, tồn tại những khoảng cách khá lớn về tư tưởng Trong thập niên 40 của thế kỉ XIX, nhà thờ Tin Lành và nhà thờ Cơ Đốc đã chia thành hai dòng chịu sự chi phối của thái độ đối với
nô lệ của miền Nam và miền Bắc Các giáo sĩ và thầy tu miền Bắc luôn tố cáo sự sở hữu nô lệ là phạm tội, phi pháp, trong khi đối tác miền Nam của họ lại vận dụng kinh thánh để bảo vệ quyền sở hữu nô lệ, thậm chí tuyên truyền cho cách sống của riêng miền Nam Văn học Mỹ thời kì này cũng phân chia thành hai trường phái khác nhau Các tác phẩm của các tác giả miền Nam đều toát lên ý tưởng của nhà nước miền Nam Tác phẩm “Sự nhìn lại của De Bow” của De Bow’s Review, đề cao tinh thần dân tộc của người miền Nam và nhấn mạnh đến việc bảo vệ chế độ nô
lệ Trong khi đó các tác phẩm văn học miền Bắc thể hiện mạnh mẽ quan điểm bãi
nô Tiêu biểu là tác phẩm “Túp lều bác Tôm” của Harriiet Becher - Stowe viết năm
1852, đã khắc họa bức tranh về sự độc ác của chế độ nô lệ và các cuộc xung đột căn bản giữa xã hội tự do và xã hội có nô lệ
Như vậy, các mâu thuẫn xung đột kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội giữa các bang miền Nam và miền Bắc xung quanh vấn đề nô lệ đã lên đến cực điểm, khi vấn
đề nô lệ không giải quyết được thì nội chiến xảy ra là điều không tránh khỏi Abraham Lincoln, trong buổi nhậm chức tổng thống lần thư hai vào ngày 4 - 3 -
1865, khi đề cập đến sự khởi đầu cuộc chiến tranh lúc này đang đi vào giai đoạn kết
Trang 12đã phát biểu rằng: “Hầu như mọi người đều hiểu rằng (chế độ nô lệ) trong chừng
mực nào đó là nguyên nhân của cuộc chiến tranh” [20, tr.212] Thượng nghị sĩ
bang Virgina, Robeet M.T.Hater cũng đã nhận xét: “chúng ta thực hiện chiến tranh
vì mục đích gì, nếu không phải vì bảo vệ tài sản của chúng ta” [20, tr.212]
Những mâu thuẫn trên đã làm tiền đề cho cuộc nội chiến sắp bùng nổ Đến năm 1860, khi Abraham Lincoln, thuộc đảng Cộng hòa trúng cử tổng thống, đã làm cho mâu thuẫn giữa đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ càng gay gắt hơn, đến mức không thể điều hòa được nữa Người ta nói chiến thắng của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống là giọt nước làm tràn ly đối với phương Nam, nơi 7 bang quyết định li khai, thành lập liên hiệp các bang miền Nam, và chiếm quyền kiểm soát các pháo đài cũng như tài sản khác của Hoa Kỳ bên trong bang của họ, tạo bước khởi đầu dẫn đến cuộc nội chiến Nói về nguyên nhân bùng nổ cuộc nội chiến,
Mác đã có sự phân tích khoa học như sau: “Cuộc đấu tranh hiện nay giữa miền
Nam và miền Bắc không phải là cái gì khác mà là cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống
xã hội - hệ thống chiếm hữu nô lệ và hệ thống lao động tự do Cuộc đấu tranh này bùng nổ là do cả hai hệ thống không thể cùng tồn tại hòa bình bên nhau lâu hơn nữa trên lục địa Bắc Mỹ Cuộc đấu tranh chỉ có thể được kết thúc bằng thắng lợi của một trong hai hệ thống đó” [47]
Rõ ràng, toàn bộ sự vận động đã và đang dựa trên vấn đề nô lệ, “Không phải
theo cái nghĩa: liệu nô lệ có ngay lập tức được giải phóng ở bên trong nội bộ các bang chiếm hữu nô lệ có hay không, mà là ở chỗ: liệu 20 triệu dân tự do ở miền Bắc có tiếp tục lệ thuộc vào bọn trùm sỏ 300 nghìn chủ nô hay không; liệu những lãnh thổ rộng lớn của nước cộng hòa có buộc phải làm cơ sở để lập ra những bang
tự do hay là trở thành những vườn ươm của chế độ nô lệ hay không; cuối cùng liệu chính sách dân tộc của Liên bang có phải coi phương châm hành động của mình là bằng cách dung vũ lực mở rộng chế độ nô lệ sang Mê-hi-cô, Trung Mỹ và Nam Mỹ hay không” [49]
Trang 131.1.2 Tiến trình cuộc nội chiến
Việc Lincoln thắng cử tổng thống đã khiến cho việc bang Nam Carolina ly khai khỏi Liên bang ngày 20 - 12 - 1860 là một kết quả có thể đoán trước Bang này
đã chờ đợi sự kiện này từ lâu, một sự kiện sẽ liên kết được miền Nam chống lại các lực lượng chống chế độ nô lệ Cho tới tháng 2 - 1861 sáu bang theo chế độ nô nệ ở miền Nam cũng tuyên bố li khai Những bang li khai đã mở đại hội ở bang Alabama quyết định thành lập chính phủ riêng và bầu đại tá Devit chủ nô ở miền Nam bang Mississppi làm Tổng thống Về sau có thêm bốn bang nữa gia nhập Hiệp bang, thủ
đô đặt ở Richmond thuộc bang Virginia Chính phủ Hiệp bang lệnh lập một đạo quân 10 vạn để chống lại chính phủ trung ương Như vậy lúc này nước Mỹ có 2 Tổng thống, 2 Chính phủ, 2 quốc hội và 2 hệ thống quân đội đối lập Chính phủ Hiệp bang miền Nam ra tuyên bố thừa nhận quyền chiếm hữu nô lệ, và coi nô lệ là tình trạng tự nhiên của người da đen Cuộc chiến tranh bắt đầu và được gọi là chiến tranh li khai
Cuộc nội chiến bùng nổ vào ngày 12 tháng 4 năm 1861, kéo dài gần bốn năm (kết thúc ngày 9 tháng 4 năm 1865)
Mỗi bên tham chiến với niềm hy vọng rất cao với chiến thắng nhanh chóng thuộc về phía mình Về tương quan lực lượng, ưu thế thuộc về các bang miền Bắc Phe Liên bang (các bang miền Bắc) có 23 bang với số dân khoảng 23 triệu người, một nền công nghiệp phát triển, nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm dồi dào và
có một mạng lưới đường sắt dày đặc Các ngành công nghiệp luyện kim, đóng tàu
và quốc phòng đều vượt xa miền Nam Lực lượng chiến đấu vừa đông đảo vừa có tinh thần giác ngộ (đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ tàn bạo) Vì thế, khi chiến tranh bùng nổ, Lincoln kêu gọi 75.000 quân thì có tới 300.000 người hưởng ứng Trong khi đó phe Li khai (Hiệp bang miền Nam) chỉ có 11 bang với khoảng 9 triệu dân (gần 4 triệu là nô lệ), kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp rất ít Quân đội của miền Nam gồm những chủ trại bị cưỡng ép, lại phải để lại một phần lực lượng để đối phó với các cuộc nổi dậy và bỏ trốn của người da đen Tuy nhiên
Trang 14miền Nam cũng có lợi thế nhất định Lợi thế quan trọng nhất là địa lý, miền Nam đang tiến hành chiến tranh tự vệ trên lãnh thổ của mình Miền Nam có thể dành được độc lập khi đánh bại đội quân miền Bắc Miền Nam có truyền thống quân sự mạnh hơn và có những thủ lĩnh quân đội có nhiều kinh nghiệm
Nguồn lực của Liên bang và Hiệp bang vào năm 1861 [25, tr.214]
Tháng 5 năm 1862, Tổng thống Lincoln đã ban hành luật định cư (Homestead), quy định rằng những ai cần đất, chỉ cần phải đóng 10 đô la trước bạ
sẽ được chính phủ cấp cho 160 mẫu Anh (tương đương 65 ha) để khai phá Sau 5 năm, nếu đất đai được trồng trọt liên tục, họ sẽ có toàn quyền sở hữu Tiếp theo, tháng 9 năm 1862, Tổng thống Lincoln lại công bố đạo luật “Giải phóng nô lệ”, khẳng định rằng nô lệ ở các bang “nổi loạn” sẽ được trở thành người tự do kể từ
Trang 15ngày 1 tháng 1 năm 1863 Những biện pháp này có tác dụng tích cực, nhiều nô lệ da đen chạy lên phía Bắc, có gần 20 vạn người da đen đã gia nhập quân đội Liên bang Lincoln còn cách chức những tướng lĩnh tiêu cực, thanh trừ ra khỏi quân đội những phần tử phản động Chiến tranh chuyển sang một bước ngoặt
Trên mặt biển, hải quân miền Bắc phong tỏa phía Nam Trên mặt đất, tướng Grant tiến theo sông Mississppi đến Niu Óoclin (New Orleans), cắt dọc miền Nam thành hai phần Kể từ sau khi quân chủ lực miền Bắc làm chủ lưu vực sông Mississppi, quân chủ lực của miền Nam ở phía Đông bị bao vây bốn phía Sau khi được tái cử năm 1864, Lincoln đã cử tướng Grant làm Tổng tư lệnh Grant đã mở nhiều trận đánh, liên tục uy hiếp thủ phủ Richmond của Hiệp bang miền Nam Trận đánh cuối cùng quyết định sự thắng lợi của miến Bắc là trận bao vây thủ phủ Richmond (từ 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 1865) Cuối cùng tướng Li, Tổng chỉ huy quân đội miền Nam phải đầu hàng Cuộc chiến tranh giữa hai miền đã gây thiệt hại rất lớn về người và của Trong tổng số 2 triệu người tham chiến, quân đội miến Bắc mất 300.000 người, quân đội các bang miền Nam mất 250.000 người Mỗi ngày của cuộc chiến, chính phủ Liên bang tiêu tốn 2 triệu đô la, sau chiến tranh chính phủ Miền Bắc mắc nợ hơn 3 tỉ đôla
Chiến thắng của quân đội miền Bắc khiến cho các thế lực chống đối thù hận Ngày 14 tháng 4 năm 1865, khi đang xem vở hài kịch ở rạp hát Pho (Ford) ở Washington, Tổng thống Lincoln đã bị một diễn viên, tay sai của các thế lực chủ nô
tư sản phản động sát hại
1.1.3 Kết quả và ý nghĩa
Cuộc nội chiến ở Mỹ kéo dài trong 4 năm, kết thúc bằng thắng lợi của miền Bắc và sự tổn thất khá nặng nề về người và của đối với cả hai bên tham gia Trong 2.000.000 người tham chiến, miền Bắc đã mất 300.000, còn miền Nam mất 250.000 người, tức là một phần ba số quân của họ Một phần lớn miền Nam bị tàn phá và kinh tế miền Nam bị phá sản hoàn toàn Tuy nhiên điều chủ yếu đạt được, đó là “gia đình” Liên bang trên thực tế không còn bị “chia rẽ” nữa Khi nói về cuộc nội chiến
Trang 16Mỹ, Mác và Ăngghen nhận xét rằng: “Dù xét cuộc nội chiến theo quan điểm nào,
nó cũng là một bức tranh chưa từng có trong biên niên sử quân sự Quy mô to lớn của lãnh thổ mà vì nó cuộc chiến tranh được tiến hành; chiều dài của trận tuyến, số lượng đông đảo của những đội quân thù địch nhau - mà khi xây dựng những đạo quân này vị tất đã có thể dựa trên một cơ sở tổ chức nào đó có sẵn từ trước, những chi phối có tính chất huyền thoại để nuôi dưỡng những đạo quân ấy; phương thức lãnh đạo chúng và những nguyên tắc chiến lược và chuyến thực chung của sự điều hành chiến tranh - tất cả những điều đó đều hoàn toàn mới đối với người quan sát châu Âu” [47] Kết quả to lớn của cuộc nội chiến là chế độ nô lệ bị xóa bỏ, con
đường phát triển tư bản kiểu Mỹ trong nông nghiệp được mở rộng, cơ sở cho sự phát triển công nghiệp được tạo nên một cách đầy hứa hẹn
Như vậy, cuộc nội chiến 1861 - 1865 là cuộc cách mạng giải phóng xã hội tiếp theo cuộc chiến tranh giành độc lập Về bản chất nó là cuộc cách mạng tư sản lần thứ hai trong lịch sử nước Mỹ Cuộc đấu tranh nhằm mục đích chống bọn chủ nô và những khuynh hướng bảo thủ đòi duy trì và phát triển chế độ nô lệ tàn bạo Giai cấp
tư sản công nghiệp miền Bắc, quần chúng nhân dân lao động và nô lệ đã tham gia cuộc đấu tranh quyết liệt này Trong cuộc đấu tranh giải phóng có tới 180.000 người da đen đã đứng về phía Liên bang chống lại quân đội Hiệp bang miền Nam Trong thời gian chiến tranh đã có tới 50.000 nô lệ da đen bỏ trốn để thoát khỏi chế
độ nô lệ, hoặc tham gia chiến đấu tích cực chống lại chủ nô Những binh sĩ da đen
hi sinh trong cuộc đấu tranh giải phóng lên tới 37.000 người Công cuộc giải phóng
nô lệ đã động viên cao độ lòng dũng cảm hi sinh và năng lực của người da đen Có những người trong họ đã trở thành sĩ quan chỉ huy
Nhiệm vụ hàng đầu của cuộc chiến tranh là xóa đi một phương thức sản xuất cản trở xã hội phát triển, cụ thể là giải phóng nô lệ Abraham Lincoln ngay từ đầu của cuộc chiến tranh đã tập hợp lực lượng dưới khẩu hiệu “giải phóng nô lệ” với chiến thắng của lực lượng Liên bang, hiến pháp công bố xóa bỏ hoàn toàn chế độ này Sự giải phóng nô lệ với yêu cầu ruộng đất đã được đặt ra một cách cụ thể
Trang 17Những người nô lệ vừa được giải phóng được chia đất ở miền Tây Đạo luật về phân cấp đất cho người di cư năm 1862 là giải pháp dân chủ và tiến bộ trong chính sách ruộng đất ở Mỹ
Cuộc nội chiến 1861 - 1865 có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với sự phát triển của
Mỹ Đây thực sự là cuộc cách mạng nhằm xóa bỏ một phương thức sản xuất gây cản trở cho sự phát triển của xã hội Sự thắng lợi của miến Bắc công nghiệp trong cuộc nội chiến đã giải quyết triệt để vấn đề li khai, sự thống nhất của Liên bang được giữ vững Nhờ vậy, Mỹ có thể tập trung toàn bộ khả năng và tiềm lực của mình để phát triển Chỉ khoảng 30 năm sau cuộc nội chiến, Mỹ đã vượt các nước Châu Âu, vươn lên đứng đầu thế giới về công nghiệp
Cuộc nội chiến chẳng những có lợi cho sự phát triển tư bản chủ nghĩa, mà nó còn thúc đẩy phong trào công nhân ở nước Mỹ phát triển theo Trong lời kêu gọi
gửi Liên đoàn công nhân toàn quốc Hợp chủng quốc, Mác có nói: “Cuộc nội chiến
ở Mỹ cũng sẽ có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của giai cấp công nhân giống như chiến tranh giành độc lập ở Mỹ đối với sự phát triển của giai cấp tư sản” [7,
tr.610]… Thực tế, việc kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh chống chế độ nô lệ đã
mở ra thời đại mới trong lịch sử giai cấp công nhân Chính từ thời kì đó, một phong trào công nhân độc lập đã xuất hiện Bởi vì, trong cuộc cách mạng, giai cấp công nhân đã được rèn luyện, sự giác ngộ giai cấp công nhân đã được nâng cao, về mặt
tổ chức đã được tăng cường Không những thế cuộc nội chiến còn ảnh hưởng tích cực đến phong trào công nhân ở châu Âu nơi mà cuộc nội chiến năm 1861 - 1865
đã rung hồi chuông báo động “cũng giống như cuộc cách mạng năm 1775 - 1783
đối với giai cấp tư sản ở châu Âu vậy” [5, tr.9]
Sự chống đối của các chủ nô đồn điền miền Nam không phải đã chấm dứt với việc thất bại trong cuộc nội chiến Sau khi Lincoln bị sát hại, Phó Tổng thống Andrew Johnson lên thay Là một nhân vật thân với chủ nô miền Nam, Johnson đã ban bố lệnh ân xá và hầu như xóa bỏ toàn bộ các hành vi tội ác của những kẻ phản loạn ở miền Nam (lệnh ban hành tháng 5 - 1865) Các phần tử chủ nô ngóc đầu dậy,
Trang 18nắm giữ các quyền lập pháp và hành pháp ở các tiểu bang miền Nam và tìm cách trả thù người da đen Đảng 3K được thành lập để thực hiện việc phân biệt chủng tộc, đàn áp dã man người da đen theo “Hành hình kiểu Lynsơ” Người da đen lại liên tiếp đấu tranh, đòi quyền bình đẳng về bầu cử và các quyền khác Năm 1867, Quốc hội Mỹ thông qua “Pháp lệnh tái thiết” đối với các bang miền Nam, thực hiện quyền bầu cử đối với người da đen Đồng thời, chính phủ đề ra nhiều biện pháp để phát triển công, thương nghiệp ở miền Nam Tuy vậy, người da đen vẫn không được hưởng nhiều quyền dân chủ, bình đẳng với người da trắng Năm 1877, để tập trung sức lực đàn áp phong trào công nhân đang phát triển, Chính phủ Mỹ lại nhượng bộ đối với chủ nô miền Nam, để khôi phục quyền thống trị của chúng, Người da đen lại bị đàn áp, dân bị hoành hành ngang ngược Cuộc đấu tranh của người da đen cho quyền tự do, dân chủ, bình đẳng vẫn còn tiếp diễn
Cuộc nội chiến ở Mỹ về thực chất là một cuộc cách mạng tư sản được xem như tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của cuộc chiến tranh giành độc lập 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ trong việc gạt bỏ những trở ngại còn lại đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Đông đảo quần chúng nhân dân, chủ yếu là người da đen, đã tích cực tham gia đấu tranh Dù còn những hạn chế nhất định, cuộc nội chiến Mỹ có ý nghĩa tiến bộ về cách mạng to lớn, mang tính lịch sử
1.2 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Abraham Lincoln
Abraham Lincoln sinh ngày 12 tháng 2 năm 1809 ở quận Hardin, Kentucky và được đặt theo tên của ông nội của mình Cha của ông là Thomas Lincoln và mẹ là Nancy Hanks Thời niên thiếu của Lincoln là một cuộc lênh đênh cùng gia đình từ Kentucky tới Indiana và cuối cùng dừng chân ở Illinois Năm ông lên 7 tuổi, gia đình ông chuyển đến Indiana, vùng đất của sự tự do và chế độ nô lệ không được chấp nhận ở nơi này Tại đây, ông và chị gái Sally hàng ngày phải lội bộ hơn 14 cây
số đường rừng để đến lớp, con đường có nhiều động vật hoang dã như gấu, hươu, nai, gấu trúc Bắc Mỹ và cả mèo rừng sinh sống Cha ông cảm thấy con mình ngày ngày lặn lội hơn 14 cây số đến trường chỉ để ngồi cùng mấy đứa trẻ khác và học cả
Trang 19ngày thật phí thời gian; nhưng mẹ ông, Nancy, lại khuyến khích việc học của con
Bà dặn ông phải cố gắng học càng nhiều càng tốt Sớm mồ côi mẹ (năm 1818, mẹ Lincoln, bà Nancy Hanks, mất vì bệnh hiểm nghèo), 8 tuổi Lincoln đã phải giúp đỡ cha chặt cây khai hoang, cuốc đất, bổ củi Năm mẹ ông qua đời cả gia đình ông nhuốm màu ảm đạm thê lương cho đến khi cha ông tái hôn với một người phụ nữ khác một năm sau đó Abraham thỉnh thoảng nhắc đến mẹ kế Sarah như một người bạn tốt nhất mà ông từng có với tên gọi trìu mến “người mẹ thiên thần.” Ông thường hỏi cha nhiều câu khiến người nổi đóa, và rất nhiều đêm ông thức trắng, nằm vắt tay lên trán nghĩ về những từ phức tạp đối với một đứa trẻ như “độc lập” và
“định mệnh.”
Lớn thêm một chút, vẻ ngoài của ông không được ưa nhìn cho lắm, thậm chí một số người còn thẳng thừng chê ông xấu xí thô kệch Trong mắt mọi người, ông cao lênh khênh, kỳ khôi dị hợm và “chẳng khác gì bộ xương di động.” Ông đi đứng chậm chạp, khác người, hai vai thõng xuống và với chiều cao quá khổ, mỗi khi bước qua cửa, ông đều phải cúi đầu thấp xuống Khác hẳn bạn bè đồng trang lứa, ông chẳng ham chơi bài, uống rượu hay vác súng đi săn Hồi 11 tuổi ông có bắn chết một con gà gô chạy rông trên đồng cỏ, và từ đó về sau ông không tham gia săn bắn gì nữa Bạn bè và một số họ hàng cho rằng ông “thuộc hàng lập dị” bởi cả ngày ông chỉ biết vùi đầu đọc sách, thậm chí từng đi bộ hơn 30 cây số chỉ để mượn một quyển sách mà ông muốn xem Mẹ kế Sarah lúc nào cũng khuyến khích niềm đam
mê đọc sách và tinh thần hiếu học của ông, trong khi cha ông cho rằng việc mê chữ nghĩa, sách vở là biểu hiện của kẻ lười biếng Dù cha ông suốt ngày càm ràm chuyện đọc sách là “phí phạm thời giờ”, Abraham vẫn yêu sách hơn bất kỳ thứ gì khác trên đời Ông đọc tất cả những quyển sách nào ông tìm được trong vòng bán kính 80 cây số quanh nhà Ông hay chia sẻ rằng mình tiếp thu kiến thức chậm, nhưng bộ não của ông như một miếng thép, “rất khó khắc chữ lên nó, nhưng một khi đã khắc thành công, chữ nghĩa chẳng thể nào bay mất.” Trong suốt cuộc đời, ông luôn là người khao khát đọc sách Đôi khi ông đọc một cuốn sách say sưa đến
Trang 20nổi hoàn toàn không biết đến mọi vật xung quanh mình Ông thường nói: “ Người
bạn tốt nhất của tôi là người mang đến cho tôi quyển sách mà tôi chưa từng đọc”
[14, tr.375] Ông thích các tác phẩm của Shskespare (Sếchspia), đặc biệt là cuốn Macbeth và Hamlet Sau này khi làm tổng thống, ông đã làm khách của Nhà Trắng ngạc nhiên khi ông trích dẫn các đoạn dài với các cảm xúc dồi dào, đến nỗi ít nhất một người quan sát cũng nhận xét rằng, có lẽ Tổng thống đã bỏ nghề nghiệp chuyên môn của mình Trong số các bài thơ ưa thích của ông có bài Con Quạ của Edgar Allan Poe và bài chiếc lá cuối cùng của Oliver Wendell Homes Ông còn đánh giá cao tác phẩm của Robert Burns và Lord Byron
Thật ra ông chẳng được đến lớp nhiều, Lincoln ước tính rằng, tổng cộng lại ông đã học chính thức chừng một năm Những lớp học đơn sơ ở vùng hoang vắng
mở cho bất kì một ai đi qua và ở lại đủ để học một vài buổi Ở Kentucky, Lincoln
đã học đọc và học viết với thầy giáo Zachariah Riney (Zecơriơ Rini), một tín đồ Cơ Đốc giáo và thầy Cabel Hazen (Kenbơn Hezơn) Tại bang Idiana, ông liên tục học các thầy Andrew Crauford (Anđơriu Cơraofod ), James Swaney (Giêm Sơonaây) và Azel Doresey (Ezơn Dosi) Ông say sưa và vùi đầu vào đọc các cuốn sách Kinh thánh của gia đình và bất cứ quyển nào mà ông mượn được khi có thể Trong số các cuốn sách ấy, ông rất thích cuốn: Tiểu sử của George Washington của Passon Weems và cuốn: Tiến bộ của Pilgrim và Robinsơn Cursoe
Năm 1828, Lincoln được một thương gia ở New Salem thuê chở nông phẩm tới New Orleans Chuyến đi đã giúp Lincoln tiếp cận sâu hơn với thế giới bên ngoài Đặc biệt, cảnh đấu giá nô lệ mà Lincoln có dịp chứng kiến ở New Orleans đã
để lại những ấn tượng hằn sâu trong tâm trí chàng thanh niên này, thôi thúc anh phải làm gì đó nâng cao tinh thần chiến đấu của người dân vì lý tưởng tự do, vì nền dân chủ và vì công cuộc giải phóng nô lệ Điều này được thể hiện trong câu nói nổi
tiếng của ông: "Vì không muốn làm một kẻ nô lệ, nên tôi sẽ không làm một chủ nô
lệ" [46]
Trang 21Năm 1831, chính quyền liên bang ra lệnh buộc các nhóm thổ dân da đỏ Sauk
và Fox di chuyển từ Illinois sang Iowa Mùa xuân năm 1832, tù trưởng da đỏ Black Hawk dẫn theo hàng trăm quân, vượt sông Mississippi, tìm cách chiếm miền đất gần Rock Island Trước tình hình nguy cấp, Nhà Trắng phải tuyển mộ dân binh, thành lập các đội tự vệ Tháng 3 - 1832, Lincoln tình nguyện tham gia đội quân này, được cử làm trung đội trưởng Tháng 10 - 1832, Lincoln giải ngũ, tham gia tranh cử vào nghị viện bang Illinois với tư cách thành viên đảng Whig, nhưng thất bại Sau
đó, Lincoln cùng bạn mở một cửa hàng tạp hóa Một lần nữa, "mẹ của thành công" lại mỉm cười với ông và phải 10 năm sau Lincoln mới trả hết nợ cho phi vụ làm ăn thua lỗ này
Không chùn bước, Lincoln quyết định tận dụng thời gian rỗi đọc sách luật, tới các tòa án địa phương nghe các luật sư biện hộ trong những vụ tranh tụng để tích lũy kiến thức về luật pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của mình cũng như của người dân Lincoln bắt đầu có chút danh tiếng Năm 1834, ông lại ra tranh cử vào nghị viện bang Illinois và đã giành chiến thắng Năm 19 tuổi, ông rời nhà đến Illinois để phụ việc trên một chiếc xà lan chở hàng xuôi theo dòng Mississippi đến New Orleans Tại đây, ông chứng kiến một cuộc đấu giá nô lệ Cảnh những người da đen
ở miền Nam bị đối xử không khác gì đồ vật đã ám ảnh ông mãi về sau Ông thề sẽ đấu tranh chống lại chế độ nô lệ bằng mọi giá
Năm 22 tuổi, ông trở về Illinois làm chân bán hàng cho một cửa tiệm, nhưng không may tiệm thua lỗ phải đóng cửa Thế là ông thử mở cửa hàng riêng, nhưng cũng thất bại nốt Phải mất mấy năm trời ông mới trả hết nợ nần từ thương vụ này Ngoài kinh nghiệm phụ việc trên tàu và trông cửa hàng, ông còn làm thợ chặt gỗ, giám đốc bưu điện, giám định viên, trưởng đội dân quân và tự học thêm ngành luật Đến năm 23 tuổi, ông tranh cử vào một vị trí thuộc cơ quan lập pháp bang Illinois nhưng thất bại Hai năm sau ông tái tranh cử và lần này ông được ngồi vào chiếc ghế đó từ năm 1834 đến năm 1841
Trang 22Từ đó đến năm 1858, ngoài một lần trúng cử hạ nghị sĩ năm 1846, Lincoln thường xuyên nếm mùi thất bại trên con đường hoạn lộ (năm 1843, năm 1848 không thể giành được ghế hạ nghị sĩ, năm 1856 sớm dừng bước trên đường đua vào ghế ứng cử viên phó Tổng thống của đảng Cộng hòa, năm 1858 lại ngậm ngùi nhìn đối thủ bước vào Thượng viện)
Tuy nhiên, năm 1858, Lincoln đã làm chấn động cả nước Mỹ bằng tuyên bố:
"Một nhà chia rẽ không thể đứng vững được Một chính phủ không thể mãi mãi chính phủ này không thể tồn tại mãi mãi một nửa tự do, một nửa kia là nô lệ Tôi không muốn Liên bang giải tán Tôi không muốn gia đình sụp đổ Nhưng tôi muốn
nó chấm dứt chia rẽ" [33, tr.133] Bài phát biểu đó sau này đã trở thành tuyên ngôn
xóa bỏ chế độ nô lệ và một phần mục tiêu mà Lincoln quyết tâm làm sau khi chính thức trở thành vị Tổng thống thứ 16 của Mỹ với 1.865.593 phiếu ủng hộ, cao hơn gần 30% so với người về nhì là ứng cử viên Douglas Ông được bầu làm thành viên
Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ năm 1846 trong một nhiệm kỳ Năm 1860, ông trở thành tổng thống thứ 16 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Trong 4 năm và 42 ngày làm ông chủ Nhà Trắng ở nhiệm kỳ 2, có thể nói Lincoln phải đối mặt với tình hình khó khăn hơn bất cứ vị tổng thống nào của Mỹ
Đó là việc 7 bang miền nam đã tuyên bố thoát ly sự quản trị của chính quyền liên bang và 8 bang khác chuẩn bị "noi gương" Vào thời điểm quan trọng nhất, Lincoln
đã quyết định chiêu mộ 75.000 quân tình nguyện đi dẹp loạn ở miền nam Sau khi chiến tranh giữa hai miền Nam - Bắc nổ ra được một thời gian, Lincoln phát hiện và giao quyền chỉ huy cho vị tướng quân tài ba Ulysses S Grant Không phụ sự tin tưởng của Lincoln, Grant đã đánh 4 trận thắng cả 4 Ngày 8 - 4 - 1865, tổng chỉ huy quân miền nam, Tướng Robert E Lee buộc phải đầu hàng Nước Mỹ thoát khỏi nguy cơ phân chia cát cứ
Những công lao của Lincoln đối với nước Mỹ là không thể phủ nhận được Nhưng cũng chính trong quá trình dẫn dắt nước Mỹ trở lại quỹ đạo thống nhất, Lincoln vô tình đã chuốc oán với rất nhiều người Chưa đầy một tuần sau khúc ca
Trang 23khải hoàn, Lincoln đã phải vĩnh viễn chia tay với sự nghiệp dang dở bởi sự ra tay lạnh lùng của một kẻ thủ ác không muốn chấp nhận sự thất bại của phe miền nam trong cuộc nội chiến Lincoln đã qua đời trong một căn phòng ngủ tầng dưới ngôi nhà bên kia đường gần nhà hát Ford’s vào buổi sáng ngày 15 - 4 - 1865 Nhà thơ
James Russell Lowell đã viết: “Trước buổi sáng tháng 4 choáng váng ấy chưa bao
giờ lại có nhiều người đến thế, chứa chan nước mắt khóc cái chết của một con người họ chưa từng thấy mặt, dường như sự hiện diện thân tình của người ấy đã vĩnh viễn bị tước đi khỏi cuộc đời họ và để lại họ lạnh lẽo hơn, tăm tối hơn Chưa bao giờ có khúc tụng ca tang lễ nào lại hùng biện như cái nhìn im lặng của nổi niềm thông cảm mà những người xa lạ trao đổi với nhau khi họ gặp nhau ngày này Tất cả đồng bào đã mất đị một người thân thích.” [12, tr.228]
Ngày nay, Abraham vẫn được xem là một trong những vị tổng thống vĩ đại nhất Dù ông đã qua đời hơn một thế kỷ, nhưng tài lãnh đạo và lòng quả cảm của ông vẫn mãi là tấm gương của biết bao nhiêu người trên thế giới
Trang 24Chương 2
VAI TRÒ CỦA ABRAHAM LINCOLN TRONG VIỆC GIẢI PHÓNG NÔ LỆ
Ở MỸ NỬA SAU THẾ KỈ XIX
2.1 Chế độ nô lệ ở Mỹ
2.1.1 Giải thích một số thuật ngữ, khái niệm
2.1.1.1 Chế độ nô lệ
Theo “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông”, định nghĩa: “Nô lệ là giai cấp bị
trị dưới chế độ chiếm hữu nô lệ gồm những người tước đoạt về tư liệu sản xuất và mọi quyền tự do về thân thể Họ trở thành vật sở hữu của chủ nô, bị cưỡng bức lao động, có thể bị chủ nô đem trao tặng, mua bán tự ý giết chết… Họ là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội nhưng không có quyền lực về chính trị” [24, tr.307]
Trong “Từ điển chính trị vắn tắt”, định nghĩa: “ Nô lệ là tình cảnh hoàn toàn
phụ thuộc của người này vào người khác, trong đó người nay (nô lệ) không có tư liệu sản xuất và là sở hữu của người chủ của mình - chủ nô, người chủ nô có thể bán, mua và thậm chí giết chết nô lệ Với tính chất là tàn dư, tình trạng nô lệ tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong chế độ phong kiến và thậm chí cả trong chủ nghĩa tư bản đặc biệt ở các nước thuộc địa và phụ thuộc” [37, tr.276]
Trên đây là một số định nghĩa về hoàn cảnh chế độ nô lệ, về cuộc đời, thân phận của người nô lệ Trong đó tôi đồng nhất với định nghĩa của “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông” Như vậy, nô lệ là người thuộc sở hữu và dưới sự điều khiển của người khác, nô lệ không được xem là người mà là “công cụ biết nói”, là một vật, một thứ tài sản có thể đưa ra buôn bán, trao đổi như một thứ hàng hóa rẻ tiền Chế
độ nô lệ tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng cuộc đời người nô lê là thân phận thấp kém, cực khổ, họ luôn phải đối diện với đòn roi tra tấn, gông cùm xiềng xích và cả sự áp bức bóc lột vô nhân đạo của chủ Có thể nói chế độ nô lệ đã trở thành “vết nhơ” trong lich sử loài người mà những hậu quả và di chứng của nó để lại khó có thể xóa mờ
Trang 252.1.1.2 Chế độ nô lệ đồn điền ở Mỹ
Do đặc trưng riêng của mỗi quốc gia, chế độ nô lệ được tồn tại dưới nhiều dạng và nhiều hình thức khác nhau Chế độ nô lệ đồn điền là một hình thức, một chế độ đặc biệt, riêng và chỉ có ở Bắc Mỹ
Trong “Bách khoa toàn thư”, định nghĩa, chế độ nô lệ ở Bắc Mỹ là “Chế độ
được hình thành trong quá trình người châu Âu phát hiện châu Mỹ Cùng với dân di thực là người Anh và người các nước châu Âu khác đến miền Bắc Mỹ (nước Mỹ ngày nay, còn có người châu Phi da đen bị đưa sang làm nô lệ Họ bị cưỡng bức lao động trong các đồn điền, không được hưởng quyền lợi về chính trị, bị đối xử tàn
tệ, bị coi là tài sản của tầng lớp chủ nô, chủ đồn điền, bị khinh rẻ, không được bình đẳng với người da trắng Ở thời kì đầu chế độ nô lệ Bắc Mỹ có tác dụng tích cực đến sự phồn thịnh của Bắc Mỹ Cuộc nội chiến giữa miền Bắc và Nam Hoa Kỳ (1861 - 1865) đã chính thức thủ tiêu chế độ nô lệ, “giải phóng” người da đen khỏi ách bóc lột của tầng lớp chủ nô nhưng trên thực tế, người da đen vẫn là đối tượng khủng bố của bọn phân biệt chủng tộc (Đảng 3K) và chịu sự bất bình đẳng trong xã hội” [50]
Trong “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông”, định nghĩa chế độ nô lệ đồn điền
ở Bắc Mỹ là “chế độ bóc lột, cưỡng bức lao động của các chủ đồn điền đối với
người da đen bị đem từ châu Phi sang bán ở châu Mỹ Họ bị mua bán, đối xử tàn tệ
bị khinh rẻ Chế độ nô lệ đồn điền đã chính thức bị thủ tiêu sau cuộc chiến tranh Nam - Bắc Mỹ (1861 - 1865) trên thực tế việc phân biệt chủng tộc, đàn áp người da đen của Đảng 3K vẫn còn kéo dài ở Mỹ” [24, tr.86 - 87]
Trong “Từ điển lịch sử bách khoa thế giới”, định nghĩa: nô lệ đồn điền là
“hình thức bóc lột người da đen ở các đồn điền miền Nam Hoa Kỳ trước nội chiến
1861 - 1865 Chế độ nô lệ đồn điền cũng là hình thức bóc lột tư bản chủ nghĩa nhưng lại trở ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản công nghiệp” [10,
tr.534]
Trang 26Trong các định nghĩa trên, tôi đồng nhất với định nghĩa của “Bách khoa toàn thư” Như vậy, chế độ nô lệ đồn điền ở Bắc Mỹ là chế độ dựa trên sự bóc lột nô lệ
da đen của các chủ đồn điền trong nền nông nghiệp ở miền Nam Bắc Mỹ Chế độ
nô lệ đó đã vắt kiệt sức lao động của hàng nghìn nô lệ để làm giàu cho bọn chủ Chế
độ nô lệ đã loại trừ chế độ lao động làm thuê, nhưng kết quả lao động lại hoàn toàn phục vụ cho thị trường tư bản Đó là đặc trưng của chế độ nô lệ Mỹ, ở đó, nhà tư bản, chủ đồn điền, chủ nô hóa thân làm một, do đó sự tàn bạo càng nhân lên gấp bội Nô lệ đồn điền trở thành một dạng đặc biệt trong quan hệ nông nghiệp của nước Mỹ trong quá trình đẩy nhanh sự tích lũy tư bản
2.1.2 Nguồn gốc nô lệ Mỹ
Chế độ nô lệ đồn điền làm cho kinh tế nông nghiệp Mỹ mang đặc trưng riêng Chính yếu tố này đã làm cho lịch sử hình thành nước Mỹ bắt đầu từ chế độ nô lệ chứ không phải sự tự do Vậy nô lệ đồn điền Mỹ xuất phát từ những nguồn nào? Trước hết, ở địa phương, chế độ nô lệ tồn tại trong xã hội thổ dân da đỏ, là người bản địa Người da đỏ sống trong giai đoạn thị tộc bô lạc, với trình độ thấp kém Vào thế kỉ XVI, sau cuộc thám hiểu của Côlômbô, là quá trình xâm thực tàn bạo của thực dân châu Âu, họ đã tìm thấy nơi đây là vùng đất hứa mà họ gọi là
“Tân thế giới” Để phục vụ cho quá trình khai khẩn vùng đất mới, thực dân châu Âu tìm cách bóc lột người da đỏ, chiếm chỗ và biến họ thành nô lệ, những người chống đối, bọn thực dân tìm cách tiêu diệt hoặc tìm cách dồn đuổi họ vào sâu trong nội địa Cũng trong quá trình này, bọn thực dân châu Âu đã sát hại quá nhiều người da
đỏ làm cho vùng lục địa châu Mỹ dan số bị tụt giảm nghiêm trọng
Chế độ nô lệ Mỹ không loại trừ người da trắng Đó là những người da trắng châu Âu di cư đến Mỹ từ Hà Lan, Thụy Điển, Đức, Pháp và sau này là Scotland và Bắc Ireland Họ đến đây từ nhiều lý do: một số rời quê hương để thoát khỏi chiến tranh, đàn áp chính trị, khủng bố tôn giáo hoặc trốn án tù, một số ra đi với thân phận
nô lệ mong muốn tìm tự do Song hầu như không có ai trong số họ có đủ tiền chi trả cho chuyến vượt biển của chính họ và gia đình nhằm bắt đầu cuộc sống mới ở miền
Trang 27đất mới và do đó trở thành nô lệ “Những nông dân giàu có đang cần sức lao động,
họ thường đến bãi tàu để tìm mua nô lệ Khi gặp ai không đủ tiền trả tiền tàu, họ trả thay cho và mang người ấy về trang trại của mình để làm việc như người nô lệ
Mồ hôi và máu của những người nô lệ biến tướng này, tưới xuống mảnh đất của các chủ trang trại để tạo ra nông sản” [9, tr.17]
Như vậy nguồn cung cấp nô lệ đồn điền Mỹ từ người da đỏ và người da trắng chỉ đáp ứng nhu cầu lao động cho bọn thực dân châu Âu trong thời gian đầu, còn sau đó, lao động nô lệ từ hai nguồn này không còn nữa Bởi vậy, để phục vụ cho việc cướp đoạt những khoáng sản phong phú tại châu Mỹ, cũng như để khai thác những vùng đất phì nhiêu tại đây, bọn thực dân đã hướng về châu Phi, tìm nguồn lao động ổn định cho mình
Nguồn cung cấp nô lệ đồn điền Mỹ quan trọng và chủ yếu là nguồn từ nô lệ da đen châu Phi Sau những cuộc phát kiến địa lí Thực dân châu Âu tiến hành xâm nhập và phân chia châu Phi, ăn cướp và xâm chiếm thuộc địa Ban đầu bọn chúng dùng hàng hóa công nghiệp trao đổi để lý nguyên liệu rẻ mạt Từ thế kỉ XV, nghề buôn người xuất hiện dần dần phát triển với quy mô lớn, rất nhiều người da đen bị đưa từ châu Phi sang châu Mỹ để làm nô lệ Bọn thực dân Bồ Đào Nha là kẻ đầu tiên xâm nhập châu Phi, mở đường cho việc “mua bán máu thịt của con người” ở thời cận đại Đến thế kỉ XVI, Bồ Đào Nha lần lượt mất đi các cứ điểm thực dân tại châu Phi, bá quyền về thương mại và bá quyền trên mặt biển cũng bị suy sụp từ đó
Hà Lan, Anh, Pháp đã thách thức trước việc lũng đoạn mua bán nô lệ của Bồ Đào Nha Trong cuộc cạnh tranh này, nước Anh đã dựa vào tư bản hùng hậu, hải quân mạnh mẽ của họ lần lượt đánh bại Hà Lan, Pháp, trở thành tay lái buôn thịt người lớn mạnh nhất Điều ước Utrecht kí năm 1713, đánh dấu nước Anh đã đoạt được ưu thế trong việc buôn bán nô lệ Điều ước này giúp các thương gia người Anh được quyền lủng đoạn mua bán nô lệ với điều kiện hàng năm được chở 4800 nô lệ da đen sang các vùng đất thực dân của Tây Ban Nha tại Châu Mỹ Đến thế kỉ XVIII, XIX, buôn bán nô lệ đã trở thành một nghề cực thịnh - nghề hốt bạc Những lái buôn nô
Trang 28lệ liên tục vận chuyển người da đen do họ dụ dỗ hoặc dùng vũ lực bắt ép tại khu
vực châu Phi xích đạo chở sang châu Mỹ bán cho các chủ trang trại “ Trong thời kì
1742 đến 1770 lượng người châu Phi bị đưa sang Tân thế giới hơn lượng người châu Âu, phần đông trong số họ được đưa sang Brazil hoặc vùng Caribe Trong khoảng 10 triệu nô lệ đưa sang châu Mỹ, thì có khoảng 120.000 người vào năm
1740 và 260.000 người vào năm 1775, bị bán sang vùng đất Liên bang Mỹ ngày nay” [20, tr.254]
Quá trình săn bắt và mua bán nô lệ da đen là bức tranh được dệt bằng máu và lửa Trên chuyến đi dài ngày đến Mỹ bọn buôn nô lệ đã nhồi nhét hàng trăm nô lệ vào trong khoang thuyền Nô lệ phần lớn bị bệnh, ăn không no, bị chết đói, chết khát, xác nô lệ bị quăng xuống biển Lúc thuyền buôn đến Châu Mỹ, bọn buôn nô lệ giao bán cho các chủ trại, chủ mỏ, sau đó chất đầy hàng hóa do nô lệ làm ra chuyển
về châu Âu
Như vậy, nô lệ đồn điền Mỹ xuất phát nhiều từ nhiều nguồn khác nhau: người bản địa, người da trắng, nô lệ da đen châu Phi, trong đó nguồn cung cấp chủ yếu là người da đen châu Phi bị bán sang nước Mỹ làm nô lệ Việc buôn bán nô lệ đã kéo dài gần bốn thế kỉ, bắt đầu từ thế kỉ XVI đến cuố thế kỉ XIX Đầu thế kỉ XIX, chế
độ nô lệ và buôn bán nô lệ dần dần bãi bỏ tại phần lớn các nước châu Âu Chỉ còn ở
Mỹ, kéo dài một thời gian đến cuộc nội chiến Mỹ đẫm máu với Tuyên ngôn giải phóng nô lệ năm 1863 và Tu Chính Án 13 năm 1865, mua bán nô lệ mới chấm dứt Mua bán nô lệ đã có ảnh hưởng hết sức xấu đối với lịch sử thế giới và lịch sử của châu Phi Trước hết, việc mua bán mang tính chất cướp đoạt đẫm máu và nước mắt của người da đen đã đẩy nhanh quá trình tích lũy nguyên thủy của tư bản chủ nghĩa
Âu Mỹ, đồng thời đẩy nhanh sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thời cận đại Rất nhiều hải cảng và thành phố Âu Mỹ nhờ vào việc buôn bán nô lệ với mức độ khác
nhau mà phát triển lên “ Liverpool một thành phố nổi danh khắp thế giới về mua
bán nô lệ, nguyên chỉ là một thôn trang bé nhỏ hoang vắng, nhưng sau khi kinh doanh “ mua bán nô lệ da đen” nó đã vươn lên trở thành một thương cảng lớn thứ
Trang 29hai của nước Anh… Việc mua bán nô lệ là phương pháp tích lũy nguyên thủy của thành phố này Vào thế kỉ XVIII, việc mua bán nô lệ mang cho thành phố này một
số tiền 300.000 bảng Anh…” [40, tr.180 - 181] Việc mua bán nô lệ da đen càng
mang đến cho giai cấp tư sản sự giàu có thì nó càng gây cho nhân dân châu Phi nhiều tai họa khủng khiếp Nó đã phá hoại nền chính trị, kinh tế các quốc gia châu Phi trong khu vực săn bắt nô lệ da đen Những cuộc chiến trang săn lùng nô lệ diễn
ra liên miên bất tận, làm cho những thành phố phồn vinh, những thôn trang trù phú trước kia nay chỉ còn một đống gạch vụn Việc săn bắn nô lệ với một lượng lao động trẻ khỏe mất đi, làm cho sản xuất của xã hội chịu nhiều thiệt hại lớn, nhiều ngành nghề thủ công truyền thống bị thất truyền Việc mua bán nô lệ kéo dài cũng phá hoại đạo đức, phá hoại văn hóa và văn minh tinh thần của người châu Phi Như vậy việc mua bán nô lệ da đen đã để lại nhiều hậu quả nặng nề mà cho đến ngày nay, những tàn tích ấy vẫn là những nổi thương tâm, những nổi đau của toàn thể nhân loại
2.1.3 Số lượng nô lệ Mỹ
Qua từng thời kì, từng giai đoạn lịch sử, số lượng nô lệ Mỹ ngày càng tăng lên đáng kể, nó tỉ lệ thuận với nhu cầu khai phá vùng đất mới của bọn thực dân, nhu cầu phát triển của nền kinh tế Mỹ
Vào năm 1619, “ 20 người da đen châu Phi được đưa tới Jamestown trên một
chiếc tàu Hà Lan để làm đầy tớ theo hợp đồng học nghề Trên thực tế đây là việc
mở đầu cho chế độ nô lệ ở thuộc địa Viriginia” [35, tr.63] Đây cũng là mốc thời
gian đánh dấu chế dộ nô lệ trên thế giới chính thức bắt đầu Vào năm 1619, một thương gia người Hà Lan đem đổi các công nhân châu Phi của mình lấy thức ăn và hàng hóa tại Jamestown nước Mỹ, cảm thấy đây là một hình thức làm ăn mới, mang lại nhiều lợi nhuận, ông ta chuyển hẳn sang buôn bán nô lệ để cung cấp người lao động cho các đồn điền ở Mỹ và nhiều quốc gia Châu Âu
Phải đến cuối thế kỉ XVII, khi những nhân công gia trắng không thế đáp ứng đòi hỏi không ngừng tăng lên về lao động, đặc biệt là ở những đồn điền thuốc lá ở
Trang 30Chesapake và những cánh đồng lúa mới được khai thác ở Nam Carolia, nô lệ da đen
mới được đưa tới các thuộc địa với số lượng lớn “ Vào năm 1680 với số lượng
người da đen ở khu vực Chesapake đã được hơn 4000… Từ năm 1700 đến 1775 đã
có khoảng 250 nghìn người da đen được đưa vào các thuộc địa Bắc Mỹ Ở thời kì cách mạng người da đen đã lên tới gần nửa triệu trong tổng số 2 triệu dân Mỹ”
[35, tr.26 - 27]
Khi các thuộc địa miền Nam ra đời gắn liền với nhu cầu trồng bông thì số nô
lệ được đưa sang Mỹ cũng tăng lên một cách nhanh chóng “ Đến năm 1750, có
khoảng 200.000 nô lệ da đen sinh sống tại các thuộc địa Mỹ, tập trung chủ yếu ở miền Nam… Vào đầu năm 1800, có khoảng 700.000 nô lệ da đen sống ở miền Nam Liên bang Mỹ, chiếm khoảng 1/3 dân số của khu vực này Năm 1860, số nô lệ sinh sống trên lãnh thổ Liên bang Mỹ là khoảng 4 triệu” [20, tr.225]
Sự tăng lên ngày càng lớn số lượng nô lệ ở Mỹ do nhiều nguyên nhân Trước hết, nó xuất phát từ viêc làm giàu của bọn chủ nô, để khai phá vùng đất mới, để phát triển nền kinh tế nông nghiệp, với đặc trưng là các nghề trồng bông, trồng mía,
và các cây lương thực khác, cần nhiều nhân công, do đó, để thu được lợi nhuận lớn, bọn chủ nô đã tiến hành những chuyến buôn người chủ yếu từ châu Phi sang, và biến những người này thành nhưng nô lệ làm việc trong các đồn điền Nguyên nhân tăng lên của số lượng nô lệ da đen ở Mỹ còn là do sự phát triển nghề trồng bông quy mô lớn ở miền Nam nhờ việc áp dụng canh tác các giống bông mới và phát minh máy tỉa bông của Eli Whitney vào năm 1793 giúp tách các hạt ra khỏi bông Đồng thời, cuộc cách mạng công nghiệp đã thúc đẩy ngành công nghiệp dệt hoạt động với quy mô lớn, làm gia tăng nhu cầu về bông nguyên liệu và nô lệ là lực lượng duy nhất có thể đáp ứng nhu cầu lao động cao của ngành trồng bông Bên cạnh đó, việc trồng cây mía phục vụ cho ngành công nghiệp đường cũng góp phần làm tăng số lượng nô lệ
Rõ ràng, sự phát triển kinh tế đồn điền đi đôi với việc làm giàu của bọn chủ
nô, đã thúc đẩy việc buôn bán nô lệ da đen từ châu Phi sang và làm tăng số lượng
Trang 31nô lệ da đen - nguồn nhân công chủ yếu và duy nhất có thể đem lại những món lợi lớn cho chủ đồn điền một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất
2.1.4 Thân phận của nô lệ Mỹ
Nô lệ đồn điền ở Mỹ trong quá trình định cư, đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội Mỹ Song cuộc đời thận phận của họ là chuỗi ngày dài chịu sự áp bức bóc lột của chủ nô
Trước hết, chế độ nô lệ ở Mỹ là chế độ hà khắc nhất, áp bức nhất, dã man nhất
ở Bán cầu Tây Khi nghiên cứu về chế độ nô lệ, sử gia người Mỹ là Elleins cho
rằng: “những xã hội khác đã từng có chế độ nô lệ như Braxin ít có sự phân biệt
chủng tộc hơn nhiều so với Mỹ… Elleins đã quả quyết rằng tình trạng nô lệ ở nước
Mỹ mang một hình thức áp bức đặc biệt, tương tự như trại tập trung của Đức Quốc xã” [31, tr.19] Như vậy, Elleins đã có sự nhìn nhận tương đối chính xác khi so
sánh chế độ nô lệ đồn điền Mỹ cũng tàn ác như trại tập trung Đức Quốc xã Dưới chế độ đó, việc sử dụng nô lệ đồn điền là hết sức tàn nhẫn, người nô lệ bị tước đoạt tất cả quyền tự do, đời sống gia đình, tôn giáo, cộng đồng của họ đã bị hủy diệt bởi quyền lực bao trùm của các chủ nô Một nô lệ ở vùng Missouri tên là Dret Scovtt, gần hai năm trước bị chủ đưa đến sống ở Illinois và vùng lãnh thổ Wisconsin, nơi không duy trì chế độ nô lệ theo sắc lệnh vùng Tây Bắc Khi trở về Missouri từ Wisconsin, Scott đòi quyền tự do bởi vì ông sinh sống trên vùng đất không tồn tại
chế độ nô lệ Tuy nhiên, tòa án tối cao đã đưa ra phán quyết: “Người da đen không
có quyền nộp đơn xin tự do tại tòa án, vì người da đen trước đây không bao giờ được nhận là công dân nước Mỹ Do vậy gia đình của Scott vẫn là nô lệ… Trên mọi lãnh thổ của Liên bang, chính phủ Mỹ có nhiệm vụ thi hành “Pháp lệnh Nhân Quyền”, nhưng “Pháp lệnh Nhân Quyền” chỉ dành riêng cho người da trắng, không can dự gì tới người da đen” [9, tr.74]
Trong “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ năm 1776, “Tuyên ngôn tuyên bố tất cả
mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Thượng đế đã cho họ những quyền đó,
mà không ai có thể lấy được, những người đó có quyền được sống, tự do và mưu
Trang 32cầu hạnh phúc” [39, tr.16] Nhưng ở đây người da đen bị tước quyền tự do một
cách trắng trợn, phải chăng tuyên ngôn chỉ có hiệu lực đố với người da trắng, còn người da đen không được xem công dân của nước Mỹ, mà chỉ là tài sản riêng của người da trắng Nước Mỹ nổi tiếng với sự tự do, song đối với người da đen đó là một ngoại lệ, họ bị đối xử một cách hà khắc, mất đi quyền tự do cá nhân, mất đi sự công bằng
Trong xã hội Mỹ lúc bấy giờ, khi người nô lệ trở thành lực lượng lao động chính, chỉ có mới đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đồn điền và làm giàu cho bọn chủ nô, thì ở đó người nô lệ càng bị đối xử và bóc lột tàn bạo, họ phải làm việc quần quật dưới roi vọt và sự tra tấn của những tên giám công từ khi mặt trời mọc cho đến
khi mặt trời lặn “Từ sáng tinh mơ họ đã ra đồn, bị bon giám thị lăm lăm cái roi
trong tay để ép họ làm việc Đang mùa hái bông, mỗi người nô lệ phải có năng suất cao nhất Người ta nói việc hái bông không phải là công việc nặng nhọc gì Cũng như một giọt nước rơi trên đầu có gì là đau đớn Thế nhưng sự tra tấn dã man nhất thời trung cổ là để cho nước nhỏ từng giọt, từng giọt lên đầu tội phạm Công việc lao động cũng vậy, sẽ trở thành vô cùng cực nhọc khi nó đơn điệu và là lao động cưỡng bức” [3, tr.417]
Người nô lệ không những bị hành hạ về thể xác, họ còn bị tra tấn, làm nhục về tinh thần, người nô lệ là món hàng hóa mua đi bán lại, trao đổi chuyển nhượng, chợ
nô lệ, những kho hàng, lô hàng nô lệ với nhan nhãn bọn buôn người chẳng còn xa lạ
gì ở xứ này Thân phận người nô lệ, được nhà văn Mỹ là Becher - Stowe, khắc họa
rõ trong tác phẩm “Túp lều bác Tôm” “Tác phẩm kể về cuộc đời thống khổ của
người nô lệ da đen là bác Tôm Bác là một người trung thực, ngay thẳng, biết trọng danh dự Nhưng cuộc đời bác là một chuỗi ngày đen tối, đầy tủi nhục Bác phải lìa
bỏ vợ con, bị bán từ nơi này sang nơi khác, bị đánh đập tàn nhẫn Cuối cùng, do bảo vệ nhân phẩm của mình, bác bị đánh chết trong đồn điền trồng bông khủng khiếp ở miền Nam nước Mỹ, nơi chôn vùi bao cuộc đời lầm than như cuộc đời của bác” [45]