Ngành điện mà đại diện là Tập đoàn Điện lực Việt Nam ngoài mục tiêu kinh tế như các doanh nghiệp khác là mang lại lợi nhuận, nâng cao thương hiệu, giá trị doanh nghiệp, Tập đoàn Điện lực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
DUY THỊ VIỆT
GIÁ BÁN ĐIỆN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG
CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
DUY THỊ VIỆT
GIÁ BÁN ĐIỆN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG
CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS LÊ THỊ LANH
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài nghiên cứu “Giá bán điện
và hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh” là công trình
nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Thị Lanh
Các dữ liệu sử dụng để phân tích nghiên cứu, kết quả nghiên cứu trong bài luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ bài nghiên cứu nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này
Học viên thực hiện Luận văn
DUY THỊ VIỆT
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vi
DANH MỤC PHỤ LỤC vii
TÓM TẮT viii
ABSTRACT ix
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
1.2 Ý nghĩa nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Phương pháp nghiên cứu 3
1.7 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5
2.1 Khung lý thuyết 5
2.1.1 Tổng quan về giá bán điện 5
2.1.1.1 Khái niệm giá bán điện 5
2.1.1.2 Phân loại giá bán điện 6
2.1.1.3 Các phương pháp định giá bán điện 9
2.1.2 Tổng quan về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 10
2.1.2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 10
2.1.2.2 Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 11
2.1.3 Mối quan hệ giữa giá bán và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp 13
2.2 Các nghiên cứu trước đây 13
2.2.1 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 13
Trang 52.2.2 Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam 17
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Quy trình nghiên cứu 20
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4 Đo lường hiệu quả hoạt động của EVNHCMC 22
3.5 Đo lường giá bán điện của EVNHCMC 23
CHƯƠNG 4.GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH ĐIỆN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.24 4.1 Tổng quan về ngành điện và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) 24
4.2 Giới thiệu về Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh (EVNHCMC) 28
4.3 Giá bán điện áp dụng tại EVNHCMC 32
4.3.1 Định giá bán điện 32
4.3.2 Cơ cấu giá bán điện 36
4.4 Giá mua điện của EVNHCMC 38
4.4.1 Giá mua điện từ EVN 39
4.4.2 Giá mua điện từ khách hàng thực hiện dự án điện mặt trời lắp đặt trên mái nhà 43
4.5 Hiệu quả hoạt động của EVNHCMC 45
4.6 Giá bán điện và hiệu quả hoạt động của EVNHCMC 46
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Giải pháp 54
5.3 Một số vấn đề còn tồn tại và hướng nghiên cứu tiếp theo 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 62
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
EVN: Tập đoàn Điện lực Việt Nam
EVNHCMC: Tổng công ty Điện lực TP.Hồ Chí Minh
ROA: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
ROE: Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Khung giá bán lẻ điện bình quân từ năm 2013 đến năm 2020 34
Bảng 4.2: Giá bán lẻ điện bình quân giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2018 34
Bảng 4.3: Giá mua điện từ dự án Điện mặt trời lắp đặt trên mái nhà 44
Bảng 4.4: Tỷ suất sinh lợi của EVNHCMC 45
Bảng 4.5: Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ròng, tổng tài sản bình quân và vốn chủ sở hữu bình quân 46
Bảng 4.6: Giá bán điện bình quân và tỳ suất sinh lợi ROA, ROE 47
Bảng 4.7: Bảng kê doanh thu, chi phí và lợi nhuận hoạt động của EVNHCMC 49
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Cung – cầu điện năng 5
Hình 4.1: Tổ chức ngành điện Việt Nam sau cải cách và tổ chức lại EVN 25
Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm giai đoạn 2011-2018 26
Hình 4.3: Cơ cấu nhu cầu tiêu thụ điện theo ngành – lĩnh vực năm 2016 26
Đồ thị 4.1: Số lượng khách hàng sử dụng điện của EVNHCMC giai đoạn 2010-2018 29
Đồ thị 4.2: Sản lượng điện và tỷ lệ tổn thất điện năng của EVNHCMC giai đoạn 2010-2018 30
Đồ thị 4.3: Giá bán điện bình quân của một số nước trong khu vực Châu Á năm 2018 35
Đồ thị 4.4: Khung giá bán buôn điện của EVN cho các EVNHCMC năm 2018 41
Trang 9DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Cơ cấu biểu giá bán lẻ điện 78 Phụ lục 2: Giá bán điện 79
Trang 10TÓM TẮT
Điện năng là nguồn năng lượng đầu vào quan trọng góp phần phát triển kinh tế, chính trị và xã hội Vì vậy, tại Việt Nam giá bán điện được Nhà nước kiểm soát và ban hành áp dụng thống nhất trong 5 Tổng công ty phân phối điện trực thuộc EVN, trong đó có EVNHCMC Tác giả chọn đề tài nghiên cứu này nhằm nghiên cứu về việc định giá và cơ cấu giá điện của Nhà nước đồng thời xem xét sự ảnh hưởng của giá bán điện đến hiệu quả hoạt động của EVNHCMC như thế nào? Với phương pháp nghiên cứu thống kê so sánh tổng hợp, kết quả nghiên cứu cho thấy giá bán điện tại Việt nam được định giá dựa trên chi phí đã đầu tư, là loại giá kép nhiều giá được phân loại khá phong phú Lợi nhuận hoạt động của EVNHCMC bị điều tiết dẫn đến hiệu quả hoạt động giảm so với thực tế Giá bán điện bình quân ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của EVNHCMC Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của EVNHCMC như giải pháp về tăng giá bán điện bình quân, giảm chi phí điện mua và giảm chi phí hoạt động phân phối điện
Từ khóa: Giá bán điện, hiệu quả hoạt động, Tổng công ty Điện lực TP.HCM
Trang 11ABSTRACT
The electricity selling price has been approved by the Government and has been applied commonly in five power distribution corporations under Electricity of Vietnam (EVN), including Ho Chi Minh City Power Corporation (EVNHCMC) The author has chosen this research topic to study the basis of the price determination and its mechanism, then to evaluate impacts of the electricity selling price on EVN HCMC’s operational effectiveness The method of Statistics Comparing Synthesis have been used for this research The output of the research has shown that the electricity selling price in Vietnam is defined based on investment cost and classified
to multiple price in a comlicated methodology EVNHCMC's operating profit is controlled by EVN, resulting in a decrease in operating efficiency compared to reality The average selling price has positively impacted on the performance of EVNHCMC According to the research results, the author proposes solutions to enhance the performance of EVNHCMC, namely increasing the average selling price
of electricity, reducing in cost of purchasing electricity as well as expenses of electricity operation and distribution
Keywords: Electricity selling price, performance, Ho Chi Minh City Power
Corporation
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Điện năng là nguồn năng lượng quan trọng phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh
tế xã hội Năng lượng điện là một trong những nhân tố thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút các nguồn vốn đầu tư.… Có thể nói, để đất nước phát triển toàn diện, ngành Điện cần phải đi đầu Với vai trò quan trọng của nguồn năng lượng điện, Nhà nước đã giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) quản lý toàn bộ
hệ thống truyền tải điện và điều độ hệ thống điện quốc gia, chi phối hầu như toàn bộ lĩnh vực phân phối và bán lẻ điện của cả nước nhằm đảm bảo cung cấp điện cho nền kinh tế Vì vậy, ngành điện tại Việt Nam là một ngành mang tính độc quyền tự nhiên Mặc dù là một ngành độc quyền nhưng giá bán điện cho khách hàng lại do Nhà nước quy định Ngành điện không giống các ngành sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ khác, khi các doanh nghiệp được chủ động trong việc tính toán đưa ra giá cả hàng hóa bán ra nhằm đảm bảo lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Ngành điện mà đại diện là Tập đoàn Điện lực Việt Nam ngoài mục tiêu kinh
tế như các doanh nghiệp khác là mang lại lợi nhuận, nâng cao thương hiệu, giá trị doanh nghiệp, Tập đoàn Điện lực Việt Nam còn hoạt động với mục tiêu chính trị và
xã hội như: phải cung ứng điện đầy đủ, liên tục đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội, đảm bảo năng lượng phục vụ quốc phòng an ninh, đảm bảo 100% người dân đều có điện sinh hoạt, đảm bảo việc giữ điện ưu tiên đối với các kỳ họp quan trọng Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, các ngày lễ hội quan trọng của đất nước,… Do đó, giá bán điện do Nhà nước quy định và được Tập đoàn áp dụng thống nhất cho tất cả khách hàng của Tập đoàn trong cả nước
Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh là một trong năm Tổng công ty phân phối điện do Tập đoàn Điện lực Việt Nam nắm giữ 100% vốn điều lệ, có chức năng chính là quản lý và phân phối điện thông qua việc mua điện từ Tập đoàn với giá bán buôn điện do Tập đoàn quy định và bán lại điện cho khách hàng trên địa bàn 24
Trang 13quận, huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh với giá bán điện do Nhà nước quy định Với Thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố có dân số đô thị đông nhất nước, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam nên nhu cầu sử dụng điện rất cao, vậy với giá bán điện do Nhà nước quy định sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Tổng công ty như thế nào? và Tổng công ty có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của mình khi bị động về giá bán không? Để trả lời được các
câu hỏi này, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Giá bán điện và hiệu quả hoạt
động của Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh”
1.2 Ý nghĩa nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin đến các nhà quản trị của các Công ty phân phối điện, đặc biệt là Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh về sự ảnh hưởng của giá bán điện theo quy định của Nhà nước Từ đó, giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định điều hành hoạt động và quản trị chi phí phù hợp nhằm đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về Giá bán điện và hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh với ba mục tiêu cụ thể sau:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu về việc định giá bán điện và cơ cấu biểu giá bán điện cho khách hàng sử dụng điện
Mục tiêu 2: Xem xét về sự ảnh hưởng của giá bán điện lên hiệu quả hoạt động của EVNHCMC
Mục tiêu 3: Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho EVNHCMC
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, bài luận văn cần giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
Trang 14Câu hỏi 1: Giá bán điện được định giá như thế nào?
Câu hỏi 2: Giá bán điện có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của EVNHCMC không?
Câu hỏi 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của EVNHCMC
là gì?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về giá bán điện và hiệu quả hoạt động tại EVNHCMC trong khoảng thời gian nghiên cứu 5 năm, từ năm 2014 đến năm 2018
Dữ liệu nghiên cứu sử dụng trong bài luận văn này gồm có dữ liệu về giá bán điện được quy định tại các quyết định, thông tư hướng dẫn của Nhà nước và nguồn
dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của EVNHCMC trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Bài luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê so sánh tổng hợp để phân tích, đánh giá về giá bán điện tại Việt Nam và sự ảnh hưởng của giá bán điện đến hiệu quả hoạt động của EVNHCMC Từ đó, tác giả đưa ra các kết luận và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của EVNHCMC
1.7 Kết cấu luận văn
Kết cấu bài luận văn gồm 5 chương, trong đó:
Chương 1- Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu gồm các nội dung: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài
Chương 2- Trình bày tổng quan khung lý thuyết về giá bán điện, phân loại giá bán điện, phương pháp định giá bán điện, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Chương 3- Trình bày dữ liệu và phương pháp nghiên cứu tại EVNHCMC
Trang 15Chương 4- Trình bày các nội dung gồm: tổng quan về ngành điện và EVN, EVNHCMC; cơ cấu và định giá bán điện tại Việt Nam; phân tích mối quan hệ giữa giá bán điện và hiệu quả hoạt động của EVNHCMC
Chương 5- Tóm tắt kết quả nghiên cứu, trình bày các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của EVNHCMC, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Khung lý thuyết
2.1.1 Tổng quan về giá bán điện
2.1.1.1 Khái niệm giá bán điện
Giá bán điện là mức chi phí mà khách hàng phải trả cho nhà cung cấp điện trên mỗi kWh điện tiêu thụ Giá bán điện được hình thành từ các khoản chi phí như: chi phí sản xuất điện, chi phí truyền tải điện, chi phí phân phối điện, chi phí bán lẻ điện và có tính thêm phần giá trị lợi nhuận của các công ty phát điện, đơn vị truyền tải, phân phối và bán lẻ điện
Theo cơ chế thị trường, giá bán điện cân bằng là mức giá mà tại đó đường cung và đường cầu về điện năng giao nhau tại mức sản lượng điện cân bằng
Hình 2.1: Cung – cầu điện năng
(Nguồn: Nguyễn Hoài Nam (2018)) Trong ngắn hạn, nhu cầu điện năng có xu hướng ít nhạy cảm với giá bán điện
do điện năng là nhu cầu thiết yếu đối với cuộc sống hiện đại, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước khi máy móc thiết bị điện tử trở nên thịnh hành Người tiêu dùng khó điều chỉnh hành vi sử dụng điện của mình khi có biến
Trang 17động về giá, đặc biệt là khi giá bán điện tăng do họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm
và sử dụng sản phẩm khác thay thế trong ngắn hạn Tuy nhiên giá bán điện có ảnh hưởng đến nhu cầu điện năng của người tiêu dùng trong dài hạn vì người tiêu dùng
có thể hạn chế sử dụng các thiết bị sử dụng điện hoặc chọn các sản phẩm khác thay thế Ví dụ, trong sản xuất công nghiệp, các cơ sở sản cuất có thể chuyển sang sử dụng các nguồn năng lượng khác như gas hay dầu…
Trên thế giới hiện nay, ở bất kỳ quốc gia nào, nhà nước cũng có can thiệp ít nhiều đến giá bán điện để thực hiện các chính sách xã hội, chính sách kinh tế… như giá bán điện cho sinh hoạt ở nông thôn thấp hơn thành thị; giá bán điện cho sinh hoạt thấp hơn giá bán điện cho các ngành nghề kinh doanh khác; giá bán điện cho sản xuất nông nghiệp thấp hơn cho các ngành sản xuất khác… Nguyễn Thành Sơn (2014), để đảm bảo lợi nhuận cho các công ty điện lực và bảo vệ quyền lợi của người sử dụng điện, Cơ quan điều tiết điện lực sẽ quyết định về khung giá phát điện và bán buôn điện Riêng đối với khung giá hoặc mức giá bán lẻ điện cho khách hàng sử dụng điện cuối cùng, một số nước sẽ do Chính phủ quyết định và một số nước sẽ do Cơ quan điều tiết điện lực độc lập quyết định và kiểm soát
2.1.1.2 Phân loại giá bán điện
Hiện nay trên thế giới áp dụng nhiều loại giá bán điện khác nhau, Nguyễn Hữu Quyền (2002) đã nghiên cứu và tổng hợp phân loại giá bán điện trên thế giới theo bốn nhóm sau:
Nhóm 1: Phân loại theo số lượng loại giá trong hệ thống giá điện:
Giá điện khoán: là số tiền mà bên mua phải trả cho bên bán trong một khoảng
thời gian nhất định, bất kể mức tiêu thụ điện cũng như công suất điện tiêu thụ là bao nhiêu Số tiền này được xác định dựa trên thỏa thuận của bên bán và bên mua trong hợp đồng mua bán điện của hai bên.Ví dụ: Tại các tiểu bang phía tây Úc, đối với các
hộ gia đình có hệ thống sưởi bằng nước nóng hay các hộ dân kết hợp sinh sống với văn phòng tổ chức từ thiện, giá bán điện được tính theo ngày
Giá điện đơn nhất (một giá) là mức giá bán áp dụng chung cho một kWh điện
Trang 18bán ra cho bất kỳ đối tượng sử dụng điện nào
Giá kép nhiều giá: là loại giá điện gồm từ hai mức giá khác nhau trở lên áp
dụng cho một kWh điện bán ra Loại giá này là rất phổ biến trên thế giới
Nhóm 2: Phân loại theo số lượng các yếu tố tác động trong cơ cấu giá điện:
Giá do một yếu tố tác động: là loại giá chỉ do một yếu tố tác động là đối tượng
sử dụng điện (sản xuất, dịch vụ, thắp sáng….) để hình thành nên mức giá
Giá do hai yếu tố tác động: Là loại giá điện được hình thành dựa trên hai yếu
tố Ngoài yếu tố thứ nhất là đối tượng sử dụng điện, yếu tố thứ hai có thể là một trong hai loại sau:
Theo cấp điện áp đo đếm: tại mỗi cấp điện áp sẽ có mức giá bán điện khác nhau Cấp điện áp gồm có ba loại: cấp điện áp cao thế, cấp điện áp trung thế và cấp điện áp hạ thế Trong trường hợp này, giá bán điện cho khách hàng sẽ được tính theo đối tượng sử dụng và theo cấp điện áp
Theo thời gian khách hàng sử dụng điện: thời gian sử dụng điện được phân thành ba khung giờ gồm: khung giờ cao điểm, khung giờ bình thường và khung giờ thấp điểm Tùy thuộc vào đặc điểm mỗi quốc gia, khung giờ sẽ dịch chuyển khác nhau Ở một số quốc gia yếu tố thời gian được phân theo khung giờ vào theo mùa (mùa đông, mùa hè) vì có mùa nhu cầu dùng điện sẽ cao hơn và có mùa nhu cầu sẽ thấp hơn Như vậy, trong trường hợp này, giá điện được xác định theo đối tượng dùng điện và đối tượng thời gian
Giá do ba yếu tố tác động: là loại giá điện được xác định dựa trên ba yếu tố
gồm: đối tượng sử dụng điện, yếu tố cấp điện áp đo đếm và thời gian sử dụng điện
Nhóm 3: Phân loại theo thành phần của giá điện:
Giá một thành phần: là loại giá điện chỉ tính trên số lượng điện năng tiêu thụ,
đơn vị tính là ki-lo-watt-giờ (kWh) Ví dụ: giá bán điện tại Việt Nam, Lào, Indonesia, Malaysia…
Trang 19Giá hai thành phần: là loại giá điện được tính trên hai thành phần là số lượng
điện năng tiêu thụ (kWh) và công suất tiêu thụ (kW) Như vậy, với giá hai thành phần, người sử dụng điện vừa phải thanh toán theo số lượng điện năng tiêu thụ, vừa phải thanh toán theo số công suất tiêu thụ trong một khoảng thời gian nào đó Ví dụ: Tại Hàn Quốc, giá điện bao gồm phí cấp điện (KRW/kW) và phí điện năng (KRW/kWh)
Giá ba thành phần: là loại giá điện mà khách hàng sử dụng phải thanh toán
trên ba thành phần sử dụng gồm: số lượng điện năng tiêu thụ (kWh), công suất tiêu thụ (kW) và số tiền thuê bao công suất mỗi tháng Như vậy, người dùng điện vừa phải thanh toán theo số điện năng tiêu thụ, vừa phải thanh toán theo công suất tiêu thụ thực
tế, và phải thanh toán cho số công suất đã đăng ký theo thuê bao Ví dụ: Tại Thái Lan, giá điện đối với các đối tượng thuộc nhóm dịch vụ tổng hợp quy mô vừa được tính gồm 3 thành phần: Giá công suất cho từng kW, giá điện năng cho từng kWh và giá phí dịch vụ theo tháng
Nhóm 4: Phân loại theo ý định khuyến khích hoặc hạn chế tiêu dùng điện
Giá bậc thang giảm dần: đây là loại giá áp dụng cho nhiều nấc tiêu thụ khác
nhau, tại mức sản lượng tiêu thụ càng cao thì giá càng giảm Ví dụ: 100 kWh đầu tiên tính với mức giá p1, 100 kWh tiếp theo tính với mức giá P2, trong đó P1>P2>P3>…Loại giá này áp dụng tại các quốc gia khuyến khích người tiêu dùng sử dụng điện nhiều hơn
Giá bậc thang tăng dần: đây là loại giá áp dụng cho nhiều nấc tiêu thụ khác
nhau, tại mức sản lượng tiêu thụ càng cao thì giá càng tăng Ví dụ: 100 kWh đầu tiên tính với mức giá p1, 100 kWh tiếp theo tính với mức giá P2, trong đó P1<P2<P3<…Loại giá này áp dụng tại các quốc gia khuyến khích người tiêu dùng sử dụng tiết kiệm điện Tại Việt Nam, giá bán điện sinh hoạt đang áp dụng theo biểu bậc thang tăng dần
Như vậy việc lựa chọn cơ cấu và loại giá bán điện của mỗi quốc gia tùy thuộc vào mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó Tuy nhiên, việc lựa chọn này phải đảm bảo các yêu cầu như: Giá bán điện phải được đa số khách hàng chấp nhận,
Trang 20cạnh tranh được với các loại nhiên liệu khác và có thể thu hút được các nhà đầu tư; cơ cấu giá bán điện phải đơn giản, dễ áp dụng Điều này hưởng ảnh rất quan trọng đến sự phát triển của ngành điện lực nói riêng và ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế quốc gia nói chung
2.1.1.3 Các phương pháp định giá bán điện
Nguyễn Hữu Quyền (2002) đã nghiên cứu và khái quát ba phương pháp định giá bán điện gồm có: Phương pháp định giá bán dựa vào chi phí đầu tư, phương pháp định giá bán dựa vào chi phí biên và phương pháp định giá bán dựa vào thị trường tự
do
Phương pháp 1: Định giá bán điện dựa vào chi phí đã đầu tư
Đây là phương pháp xác định giá bán điện dựa vào những chi phí mà ngành điện
đã bỏ ra để đưa điện năng đến với người sử dụng như: chi phí xây dựng các nhà máy điện, chi phí xây dựng hệ thống đường dây truyền tải điện, chi phí cho việc phân phối điện đến người sử dụng… Các công ty điện lực căn cứ vào các khoản chi phí đã đầu
tư cộng với một khoản lợi nhuận mong muốn sẽ định ra mức giá bán điện cho người tiêu dùng Phương pháp này thường xuất hiện ở các quốc gia có những đặc điểm như: ngành điện thuộc sở hữu của nhà nước và hạch toán tập trung toàn ngành; nhà nước phải bao cấp cho ngành điện; quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh điện nhắm vào các mục tiêu xã hội, chính trị là chủ yếu; doanh thu và lợi nhuận hình thành từ giá điện nhấn mạnh đến yêu cầu tái sản xuất giản đơn ngành điện là chủ yếu; điện năng có thể chưa được xem là hàng hóa; chưa có thị trường cạnh tranh sản phẩm điện
Phương pháp 2: Định giá bán điện dựa vào chi phí biên
Chi phí biên là sự thay đổi trong tổng chi phí khi sản lượng điện tăng thêm 1 đơn
vị, nghĩa là khi các công ty Điện lực muốn sản xuất và đưa thêm 1 kWh điện đến người sử dụng thì phải bỏ ra thêm bao nhiêu đồng chi phí Dựa vào chi phí biên tức
có tính đến chi phí sẽ đầu tư trong tương lai Theo cách định giá này, trước hết phải tính được chi phí biên bình quân kế hoạch của cả ngành điện, sau đó sẽ tính ra giá bán điện bình quân Căn cứ vào mức giá bán bình quân sẽ tính ra mức giá bán điện cho
Trang 21từng đối tượng dựa vào cơ cấu đối tượng sử dụng điện Cách định giá dựa vào chi phí biên thường thấy ở các quốc gia có đặc điểm như: Ngành điện hoạt động tự chủ trong nền kinh tế thị trường, không có tình trạng nhà nước bao cấp ngành điện; vai trò của yếu tố giá cả trong kinh doanh điện và chủ trương tái sản xuất mở rộng trong ngành điện được nhấn mạnh; có thể đã có thị trường cạnh tranh sản phẩm điện
Phương pháp 3: Định giá bán điện dựa vào thị trường tự do
Đây là phương pháp định giá dựa trên mối quan hệ cung cầu trên thị trường Phương pháp định giá này đỏi hỏi phải có thị trường cạnh tranh điện trên cả ba khâu thị trường phát điện cạnh tranh, thị trường bán buôn điện cạnh tranh và thị trường bán
lẻ điện cạnh tranh Trên thế giới có một số nước sử dụng phương pháp định giá bán điện dựa vào thị trường tự do như Anh và Na-Uy
2.1.2 Tổng quan về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động là một phạm trù kinh tế được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong lĩnh vực kinh doanh, hiệu quả hoạt động được đo lường thông qua hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Adam Smith (1776) cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa Marshall (1920) cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là quan hệ tỷ
lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí Samuelson và Nordhaus (2011) cho rằng hiệu quả nghĩa là sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người
Đối với các nhà nghiên cứu trong nước, Ngô Đình Giao (1997) cho rằng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ quản trị doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra giải pháp tối ưu để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Việc xem xét và tính toán hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không những giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nắm được tình hình sản xuất hiện tại của doanh nghiệp
ở trình độ nào mà còn giúp các nhà quản trị tìm ra các biện pháp thích hợp để tăng
Trang 22doanh thu và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Theo Nguyễn Thế Hùng (2012) thông qua việc đánh giá kết quả hoạt động, doanh nghiệp
có thể nắm được thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh, tiềm lực tài chính và vị thế của doanh nghiệp trong ngành để từ đó có thể đưa ra các điều chỉnh cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai
Trong cơ chế thị trường hiện nay, mục tiêu các doanh nghiệp là kinh doanh
có hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận Hiệu quả hoạt động luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó Như vậy, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, nếu chi phí bỏ ra càng ít hay kết quả thu được càng cao dẫn đến hiệu quả đạt được càng cao Điều này có nghĩa hiệu quả hoạt động có quan hệ
cùng chiều với lợi nhuận của doanh nghiệp
2.1.2.2 Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Các nhà nghiên cứu trước đây cho thấy có nhiều thước đo được sử dụng để
đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp như Pais và Gama (2015) sử dụng thước
đo là ROA, Vahid và cộng sự (2012) sử dụng ROA và Tobin’s Q, Ting và cộng sự (2014) sử dụng ROA và ROE, Agarwal và Elston (2001) sử dụng thước đo ROS hay Raheman và cộng sự (2010) sử dụng thước đo NOP Một số nhà nghiên cứu trong nước khi nghiên cứu các nội dung liên quan đến hiệu quả hoạt động cũng sử dụng các thước đo như: Phan Thị Hằng Nga (2017) sử dụng thước đo ROE, Huỳnh Thị Tuyết Phượng (2016) sử dụng thước đo ROA và ROE, Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011) sử dụng thước đo ROS
Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được tính toán như sau:
Chỉ tiêu 1: Chỉ tiêu Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) được đo lường bằng công thức:
Trang 23ROA =
Lợi nhuận ròng Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho thấy một đồng tài sản được sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này càng cao cho thấy trình độ quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
Chỉ tiêu 2: Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) được đo lường bằng công
thức:
ROE =
Lợi nhuận ròng Vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào hoạt động kinh doanh
sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Khi chỉ tiêu này càng lớn thì khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu càng cao dẫn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
Chỉ tiêu 3: Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS) cho thấy một đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này được đo lường bằng công thức:
ROS =
Lợi nhuận ròng Doanh thu thuần Chỉ tiêu 4: đo lường giá trị doanh nghiệp (Tobin’s q) được tính bằng công thức:
Chỉ tiêu 5: Tỷ suất sinh lợi hoạt động ròng (NOP) được tính bằng công thức:
NOP =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay + Chi phí khấu hao
Tổng tài sản Theo tổng hợp của tác giả, các thước đo được sử dụng để đo lường hiệu quả
Giá trị sổ sách của nợGiá trị sổ sách của tài sảnTobin’s q = Giá trị thị trường của vốn +
Trang 24hoạt động phổ biến nhất trong các nghiên cứu trước đây là ROA, ROE Đây là những thước đo được tính toán dựa trên dữ liệu quá khứ và không tính đến rủi ro
mà các công ty phải đối mặt hay không thể hiện được dự báo lợi ích trong tương
lai Vì vậy, việc tính toán các hệ số này là đơn giản và dễ dàng
2.1.3 Mối quan hệ giữa giá bán và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Giá cả đóng vai trò quan trọng tác động đến hành vi của người tiêu dùng và các nhà sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ Khi mức giá tăng lên dẫn đến giá cả hàng hóa sẽ tăng, điều này khiến cho người tiêu dùng sẽ cân nhắc nhiều hơn mỗi khi ra quyết định mua sắm Họ sẽ có xu hướng cắt giảm chi tiêu và tiết kiệm nhiều hơn Tuy nhiên, khi mức giá hạ xuống, điều này sẽ khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu, mua sắm nhiều hơn Ngược lại hành vi của người tiêu dùng, các nhà sản xuất có xu hướng gia tăng sản lượng sản xuất khi giá cả hàng hóa tăng cao và cắt giảm sản lượng khi chịu áp lực từ việc giá cả hàng hóa xuống thấp
Đối với các doanh nghiệp, giá bán được phản ánh thông qua doanh thu hoạt động trên báo cáo tài chính hàng năm Khi doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp năm nay tăng cao hơn năm trước, điều này có thể do doanh số bán hàng tăng với mức giá không đổi hay do mức giá tăng với doanh số bán hàng không thay đổi hoặc tăng….Với việc quản trị chi phí hiệu quả, việc tăng trưởng doanh thu sẽ giúp doanh nghiệp mang lại lợi nhuận cao hơn dẫn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ tăng
2.2 Các nghiên cứu trước đây
2.2.1 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài
Kinnunen (2004) nghiên cứu về giá phân phối điện ở Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển, cho rằng: Ở các nước Bắc Âu, các hoạt động độc quyền trong phân phối và truyền tải năng lượng điện được nỗ lực chỉnh đốn để ngăn chặn giá độc quyền và để cải thiện hiệu quả Bài nghiên cứu đưa ra kết quả chính về nghiên cứu thực nghiệm
về giá hệ thống ở Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển, đặc biệt tập trung vào hiệu quả trong việc thực hiện các tiện ích Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng trên lý thuyết có
Trang 25tiềm năng lớn cho việc tiết kiệm chi phí trong khâu phân phối điện ở Bắc Âu Cả ba quốc gia này vẫn có khả năng cải thiện hiệu quả, được đo lường bằng hiệu quả chi phí và hiệu quả giá cả Bảng giá phân phối điện thấp khuyến khích việc cạnh tranh trong các phần khác của ngành Việc tăng cường cạnh tranh sẽ dẫn đến việc giảm giá điện
Seifi và cộng sự (2008) nghiên cứu về giá mua tối ưu và chiến lược mua năng lượng cho nhà bán lẻ trong thị trường điện Trong thị trường điện, nhà bán lẻ thiết lập hợp đồng với bên bán để mua điện và thiết lập hợp đồng với khách hàng để bán điện Các nhà bán lẻ có nhiều lựa chọn để mua điện như: mua điện trên thị trường giao ngay, thực hiện các hợp đồng kỳ hạn, quyền chọn mua và tự sản xuất Bài nghiên cứu trình bày một phương pháp toán học dựa trên lập trình ngẫu nhiên để xác định đồng thời giá bán điện tối ưu cho khách hàng và chính sách mua sắm điện của một nhà bán
lẻ trong một thời gian nhất định Kết quả cho thấy, nhà bán lẻ có rủi ro cao khi mua điện chỉ với nhu cầu của mình trên thị trường giao ngay Nhà bán lẻ tăng giá bán để phòng ngừa rủi ro Tuy nhiên khi giá bán tăng, chức năng chia sẻ thị trường và do đó hiệu quả của nhà bán lẻ giảm và lợi nhuận dự kiến của nhà bán lẻ bị giảm
Kirschen (2003) nghiên cứu về quan điểm phía cầu của thị trường điện Bài nghiên cứu cho thấy việc tăng độ co giãn giá ngắn hạn của nhu cầu năng lượng điện
sẽ cải thiện hoạt động của thị trường này Tuy nhiên, việc tăng cường độ co giãn này khó thực hiện Nếu người tiêu dùng mua điện trên thị trường giao ngay, các nhà sản xuất phải dự đoán chính xác sự vận động của giá giao ngay này trong khoảng thời gian cần thiết để lên kế hoạch sản xuất Giá năng lượng điện xuất phát từ trạng thái cân bằng thị trường, nó bị ảnh hưởng bởi cả hai yếu tố tải và phát Về phía tải, tất cả các yếu tố thời gian, khí tượng, kinh tế và đặc biệt được sử dụng trong dự báo tải cũng cần được tính đến khi dự báo giá Phía phát rắc rối hơn đáng kể vì một số sự kiện xảy
ra ngẫu nhiên dẫn đến việc rút công suất và tăng giá và những sự kiện khác không phải lúc nào cũng được thông báo công khai trước (ví dụ, mất điện theo kế hoạch để bảo trì) Khi cạnh tranh không hoàn hảo, một số máy phát điện có khả năng ảnh hưởng đến giá cả phù hợp với mục tiêu của chính họ Trong một số thị trường điện cạnh
Trang 26tranh, hồ sơ giá được xác định tập trung trước một ngày so với thời gian thực Ở những thị trường như vậy, người tiêu dùng rõ ràng không phải dự báo giá cả và có thể tự tin lên kế hoạch tiêu thụ năng lượng điện Tuy nhiên, do sự không chắc chắn
về nhu cầu thực tế và trên các phương tiện sản xuất có sẵn, giá cả được xác định trước quá lâu thường không phản ánh đúng chi phí sản xuất Do đó, kết quả thặng dư hoặc thâm hụt phải được xã hội hóa (tức là, tính phí cho tất cả những người tham gia dưới hình thức một khoản phí bổ sung) Việc tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu về tín hiệu giá cả có thể mang lại lợi ích không chỉ cho người tiêu dùng chọn tham gia tích cực vào thị trường điện mà còn giúp các thị trường này hoạt động hiệu quả và thỏa đáng hơn Tuy nhiên, việc cài đặt các thiết bị cần thiết và sửa đổi lịch trình sản xuất
để tận dụng lợi thế của giá điện thấp hơn thường sẽ dẫn đến chi phí không hiệu quả Khanh Q.Nguyen (2008) nghiên cứu về sự tác động của việc tăng giá điện đối với giá cả các sản phẩm khác tại Việt Nam, Nghiên cứu này xem xét tác động của việc tăng giá điện đến chi phí biên dài hạn trên giá của các sản phẩm khác bằng phương pháp tiếp cận input–output Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tăng giá điện
sẽ thúc đẩy giá của tất cả các sản phẩm khác Mức tăng cao nhất dự kiến sẽ rơi vào lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp, tiếp theo là ngành rau quả chế biến Mặc dù tác động giá tổng hợp từ mức tăng như vậy là không lớn, nhưng đã cho thấy rằng sẽ rất khó khăn về mặt xã hội để thực hiện mức tăng này tại một thời điểm, đặc biệt là Việt Nam đang đối mặt với tỷ lệ lạm phát cao Nghiên cứu cũng khuyến nghị rằng cần chú ý đến các ưu đãi tài chính như các khoản vay đặc biệt, lãi suất ưu đãi hoặc miễn thuế nhập khẩu cho các dự án điện, vì những điều này sẽ làm giảm áp lực tăng giá điện
Pais và Gama (2015) nghiên cứu về việc quản trị vốn lưu động và khả năng
sinh lợi của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Bồ Đào Nha với mẫu nghiên cứu gồm 6,063 công ty trong khoảng thời gian 8 năm từ năm 2002 đến năm 2009 Dữ liệu nghiên cứu được nhóm tác giả thu thập từ cơ sở dữ liệu SABI (hệ thống phân tích bảng cân đối của người Bỉ) được phát triển bởi Cục Van Dijk có chứa thông tin kế toán và tài chính cho hơn 350,000 công ty Bồ Đào Nha Tác giả sử dụng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) làm biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả hoạt động, bài
Trang 27nghiên cứu có xem xét đến mối quan hệ giữa tăng trưởng doanh thu (SGROW) lên ROA Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng doanh thu có ảnh hưởng cùng chiều với ROA của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bồ Đào Nha Điều này cho thấy tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp sẽ tăng khi doanh thu của doanh nghiệp tăng
Vahid và cộng sự (2012) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lợi và giá trị của các doanh nghiệp ở Iran Tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 28 công ty Iran được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tehran trong giai đoạn 5 năm từ năm 2005 đến năm 2009 với nguồn dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo hàng năm của mỗi công ty Dữ liệu được tác giả phân tích và xử lý bằng Excel và phần mềm SPSS Tác giả cũng sử dụng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) làm biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả hoạt động và sử dụng Sales Growth làm biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng Sales Growth có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhưng không có bất kỳ sự ảnh hưởng nào đến giá trị của doanh nhiệp
Ting và cộng sự (2014) kiểm tra tác động của sự phát triển tổ chức đến tỷ suất sinh lợi của các công ty niêm yết công khai tại Malaysian trong giai đoạn từ 10 tính
từ năm 2001 đến năm 2010 Mẫu nghiên cứu được xem xét là dữ liệu bảng cân đối của 240 công ty hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau được thu thập trên cơ sở dữ liệu trực tuyến của Bursa Malaysia tại web www.klse.com.my Các Công ty này được
liệt kê trên trang chính của Bursa Malaysia Mô hình nghiên cứu của tác giả sử dụng
tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) đại diện cho hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Bài nghiên cứu có xét đến mối quan
hệ giữa ROA và ROE với tăng trưởng doanh thu (SG) cho kết quả tăng trưởng doanh thu (SG) có mối quan hệ tích cực với tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) nhưng hệ số không đáng kể Kết quả này giống với kết quả nghiên cứu của Velnampy và Nimalathasan (2008) nhưng trái ngược với kết quả nghiên cứu của Fitzsimmons et al (2005) Điều này cho thấy thực
tế là doanh thu bán hàng được sử dụng như là một thước đo tỷ suất sinh lợi tiềm tàng;
Trang 28Agarwal và Elston (2001) nghiên cứu về mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng, tài chính và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ở Đức Tác giả sử dụng dữ liệu nghiên cứu là thông tin về 100 cổ phiếu lớn được niêm yết và không được niêm yết của các Công ty ở Đức trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 1986 Trong đó, thông tin tài chính của các Công ty được thu thập từ các báo cáo tài chính hàng năm trên cơ sở dữ liệu của Bonn Các biến tài chính được sử dụng gồm: lợi nhuận, doanh thu, dòng tiền, quy mô công ty, nợ ngân hàng, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn vốn chủ sở hữu và tỷ lệ tăng trưởng Với tỷ lệ tăng trưởng được tính bằng (doanh thu năm nay –doanh thu năm trước)/ doanh thu năm nay Biến đại diện cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo lường bằng tỷ lệ thu nhập hoạt động trên doanh thu (ROS) Kết quả nghiên cứu cho thấy cả doanh thu và tăng trưởng doanh thu có sự ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp
Raheman và cộng sự (2010) nghiên cứu về sự ảnh hưởng từ việc quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất tại Pakistan trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2007 Dữ liệu nghiên cứu được tác giả sử dụng
là các báo cáo tài chính của 204 công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Karachi Tác giả sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận hoạt động ròng (NOP) đại diện cho hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Mô hình nghiên cứu có xem xét đến mối quan hệ giữa tăng trưởng doanh thu (SG) với NOP cho kết quả SG có mối quan hệ tích cực với lợi nhuận hoạt động ròng (NOP) của doanh nghiệp SG được xem như một chỉ số đo lường cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp và là nhân tố quan trọng cho phép doanh nghiệp hưởng nhiều lợi nhuận hơn
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam
Phan Thị Hằng Nga (2017) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
kinh doanh của ngành điện lực tại Việt Nam Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính được kiểm toán của 20 doanh nghiệp trong giai đoạn 6 năm tính từ năm 2011 đến năm 2015 với mô hình nghiên cứu gồm biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả hoạt động kinh doanh được đo lường bằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và các biến độc lập là các yếu tố ảnh hưởng đến
Trang 29lợi nhuận của các doanh nghiệp ngành điện gồm tăng trưởng doanh nghiệp (GROWTH), tỷ lệ nợ (LEV), quy mô doanh nghiệp (SIZE), hiệu quả quản lý tài sản (TURN) và tăng trưởng kinh tế (GDP) Tác giả sử dụng phương pháp ước lượng mô hình hồi quy Random effects model cho bài nghiên cứu, kết quả nghiên cứu cho thấy
GROWTH không ảnh hưởng đến ROE
Nguyễn Văn Duy và Cộng sự (2014) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn, quy mô và tăng trưởng doanh thu tới hiệu quả hoạt động của các công ty Thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013 Với dữ liệu nghiên cứu về 19 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tính đến tháng 7 năm 2014 cùng với phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (Panel data) Tác giả sử dụng chỉ tiêu ROE làm biến đại diện cho hiệu quả hoạt động của các công ty Trong mô hình nghiên cứu có xem xét mối quan hệ giữa ROE và tăng trưởng doanh thu (GROWTH), kết quả nghiên cứu cho (GROWTH) không tác động lên ROE ở mức ý nghĩa thống kê 5%
Huỳnh Thị Tuyết Phượng (2016) nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các Công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả sử dụng dữ liệu nghiên cứu là nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 180 công ty niêm yết trên sàn Hose trong giai đoạn 5 năm tính từ năm 2011 đến năm 2015 với phương pháp nghiên cứu định lượng bằng mô hình hồi quy tuyến tính bảng kết hợp với phần mềm Stata 14 Tác giả sử dụng mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả hoạt động là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ
sở hữu (ROE) Kết quả nghiên cứu cho thấy GROWTH có mối quan hệ cùng chiều với ROA và ROE
Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2009 và dự báo đến năm 2010 Tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 389 doanh nghiệp nhỏ và vừa với nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ việc khảo sát và nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ
Trang 30Cục thống kê, sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Cần Thơ Tác giả sử dụng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) làm biến phụ thuộc đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, các biến độc lập gồm: số hình thức hỗ trợ của nhà nước mà doanh nghiệp đã từng tiếp nhận, tuổi doanh nghiệp, trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, vốn xã hội và tăng trưởng doanh thu Với phương pháp thống kê mô
tả với các chỉ tiêu như số trung bình, tỷ lệ, tần suất, độ lệch chuẩn kết hợp với việc sử dụng phần SPSS để hỗ trợ phân tích số liệu, kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng doanh thu có tác động cùng chiều với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Điều này cho thấy các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng doanh thu tốt hơn thì hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng cao hơn
Trang 31CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình thực hiện bài nghiên cứu của tác giả gồm 05 bước được thể hiện qua sơ đồ sau:
Xác định và làm rõ vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu các bằng chứng thực nghiệm trước đây liên
quan đến vấn đề nghiên cứu
Thu thập dữ liệu nghiên cứu
Phân tích dữ liệu nghiên cứu
Kết luận, kiến nghị
Bước 1: Xác định và làm rõ vấn đề cần nghiên cứu: tác giả phải xác định được vấn đề cần nghiên cứu là gì? tại sao chọn vấn đề nghiên cứu này? các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được và các câu hỏi nghiên cứu phải giải quyết nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu
Bước 2: Nghiên cứu các bằng chứng thực nghiệm trước đây liên quan đến vấn
đề nghiên cứu nhằm tạo cơ sở lý luận khoa học cho bài nghiên cứu
Trang 32Bước 3: Thực hiện thu thập các nguồn dữ liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Bước 4: Thực hiện tổng hợp, xử lý và phân tích nguồn dữ liệu đã thu thập Bước 5: Từ các kết quả phân tích đưa ra kết luận, các kiến nghị, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
3.2 Dữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập và tổng hợp theo năm trong khoảng thời gian 5 năm tính từ năm 2014 đến năm 2018 gồm có:
Dữ liệu về Tổng công ty Điện lực TP.Hồ Chí Minh (EVNHCMC) được thu thập
từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán hàng năm và được công khai trên website
http://business.gov.vn và các thông tin về EVNHCMC được đăng tải trên website
https://www.evnhcmc.vn
Dữ liệu về ngành điện được công bố trên website https://www.evn.com.vn/ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và website http://www.erav.vn/ của Cục điều tiết Điện lực
Các thông tin, dữ liệu về giá bán điện được thu thập từ các quyết định, thông tư hướng dẫn của Thủ tướng Chính Phủ và Bộ Công thương
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê so sánh tổng hợp với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft Excel để giải quyết vần đề nghiên cứu, cụ thể như sau:
Bước 1: Thực hiện tổng hợp thông tin quy định về giá bán điện từ các quyết định, thông tư hướng dẫn của Nhà nước, từ đó trình bày, phân tích về phương pháp định giá, cơ cấu giá bán điện và đưa ra các ưu nhược điểm của giá bán điện tại Việt Nam, so sánh giá bán điện tại Việt Nam với các nước trong khu vực
Bước 2: Thực hiện thu thập các nguồn dữ liệu thứ cấp phục vụ việc phân tích hiệu quả hoạt động của EVNHCMC từ 02 báo cáo tài chính đã được kiểm toán công
Trang 33khai gồm Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong vòng
5 năm từ năm 2014 đến năm 2018 Tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp thống kê và xử lý các nguồn dữ liệu đã thu thập, thực hiện lập bảng biểu và
vẽ đồ thị để mô tả, phân tích và so sánh nhằm đưa ra nhận xét và kết luận về giá bán điện và hiệu quả hoạt động của EVNHCMC
3.4 Đo lường hiệu quả hoạt động của EVNHCMC
Có nhiều thước đo để đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp như tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS), lợi nhuận hoạt động ròng (NOP), Tobin’s q … Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng 02 thước đo để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là ROA và ROE vì đây là các thước đo dễ dàng tính toán dựa trên giá trị sổ sách của doanh nghiệp và là thước đo tổng hợp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Thước đo 1: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA)
Thước đo này được sử dụng phổ biến trong các bài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như nghiên cứu của Pais và Gama (2015), Vahid và cộng sự (2012), Ting và cộng sự (2014) Huỳnh Thị Tuyết Phượng (2016)
Thước đo này cho thấy một đồng tài sản được sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ROA có nhiều cách tính khác nhau, trong bài nghiên cứu này tác giả tính ROA theo công thức sau:
ROA =
Lợi nhuận ròng Tổng tài sản bình quân
Thước đo 2: Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Cùng với ROA, thước đo ROE cũng được sử dụng phổ biến trong các bài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như nghiên cứu của Ting và cộng sự (2014), Phan Thị Hằng Nga (2017), Nguyễn Văn Duy và Cộng sự (2014), Huỳnh Thị Tuyết Phượng (2016)
Trang 34Thước đo này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra trong kỳ kinh doanh sẽ
thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Trong bài nghiên cứu này tác giả tính ROE theo công thức sau:
ROE =
Lợi nhuận ròng Vốn chủ sở hữu bình quân
3.5 Đo lường giá bán điện của EVNHCMC
EVNHCMC thực hiện bán điện cho khách hàng theo bảng giá bán điện do Nhà nước quy định Theo bảng giá bán điện của Nhà nước, giá bán điện cho khách hàng
có nhiều mức giá khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng sử dụng, khung giờ sử dụng, sản lượng điện tiêu thụ…Do đó, để thực hiện mô tả sự biến động giá bán điện của EVNHCMC qua các năm và thực hiện phân tích, đánh giá sự ảnh hưởng của giá bán điện đến hiệu quả hoạt động, giá bán điện của EVNHCMC được quy về một mức giá chung là giá bán điện bình quân được đo lường, tính toán bằng công thức sau:
Giá bán điện bình quân = (giá bán điện cho khách hàng theo cơ cấu biểu giá bán điện X sản lượng điện thương phẩm theo từng mức giá) / tổng sản lượng điện thương phẩm trong năm
Trang 35
CHƯƠNG 4 GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH ĐIỆN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Tổng quan về ngành điện và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)
Điện là nguồn nguyên liệu đầu vào cho hầu hết các ngành sản xuất và cung ứng dịch vụ trong nền kinh tế Vì vậy ngành điện luôn giữ một vai trò quan trọng là ngành công nghiệp hạ tầng chủ chốt góp phần phát triển nền kinh tế ổn định và bền vững Ngành điện Việt Nam được hình thành và phát triển hơn 60 năm, khi Chủ tịch
Hồ Chí Minh thăm nhà máy đèn Bờ Hồ và nhà máy điện Yên Phụ Sau giai đoạn
1975, Nhà nước quản lý trực tiếp ngành điện, với ba Công ty điện lực miền chịu trách nhiệm sản xuất, truyền tải và phân phối trong phạm vi địa lý được giao phụ trách Năm 1995, Các công ty điện lực được sáp nhập vào một công ty duy nhất là EVN
Bộ Năng lượng (sau này là Bộ Công thương) là cơ quan chủ quản ban hành các chính sách, quy định để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành điện
Năm 2004, Luật điện lực được ban hành, là cơ sở pháp lý chung cho việc cải cách và cấu trúc lại ngành điện Trọng tâm của cải cách được đặt vào hai nhiệm vụ: xây dựng thị trường điện cạnh tranh theo ba cấp độ và tái cơ cấu EVN Năm 2013, việc tái cơ cấu được thực hiện, bắt đầu bằng việc lựa chọn và cổ phần hóa một số đơn
vị phát điện thuộc EVN Định hướng chung là EVN tiếp tục sở hữu 100% và giữ kiểm soát hoàn toàn với các nhà máy thủy điện lớn và nắm giữ cổ phần chi phối đối với các nhà máy còn lại được cổ phần hóa Các năm tiếp theo, các nhà máy được cổ phần hóa đã lần lượt được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như các công
ty cổ phần đại chúng
Hiện nay, EVN hoạt động chủ yếu như là một công ty đầu tư, không trực tiếp sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ mà chỉ nắm giữ cổ phần chi phối hoặc sở hữu tại các công ty khác trong ngành điện Các đơn vị trực thuộc EVN có tài khoản, chế độ quản
lý và ban quản lý hoạt động riêng biệt Trong đó, Công ty truyền tải điện quốc gia chịu trách nhiệm về các hoạt động của lưới điện truyền tải, các công ty Điện lực thực
Trang 36hiện chức năng phân phối và bán lẻ điện có trách nhiệm quản lý tài sản lên đến cấp điện áp 110 kV, mua điện từ EVN với giá nội bộ và bán điện cho khách hàng với mức giá bán do Nhà nước quy định (Bộ Công Thương ban hành quy định về giá bán điện) Quy trình sản xuất cung ứng điện của ngành công nghiệp điện lực có ba khâu gồm: Khâu phát điện, khâu truyền tải điện và điều độ hệ thống điện, khâu kinh doanh
và phân phối bán lẻ điện Các khâu đều đóng vai trò quan trọng đưa nguồn điện đến người sử dụng
Hình 4.1: Tổ chức ngành điện Việt Nam sau cải cách và tổ chức lại EVN
(Nguồn: Nguyễn Hoài Nam (2018)) Tổng nhu cầu tiêu thụ điện năng tại Việt Nam tăng qua các năm cùng với tốc độ tăng trưởng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Cụ thể, tổng nhu cầu tiêu thụ điện năng tại Việt Nam năm 2018 là 192.93 tỷ kWh, so với năm 2012 là 105.33 tỷ kWh thì nhu cầu tiêu thụ điện năng tăng 87.6 tỷ kWh tức tăng 83% Tốc độ tăng trưởng bình quân điện thương phẩm giai đoạn 2012-2018 là 10.62%
Trang 37Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm giai đoạn 2011-2018
(Nguồn: Tổng hợp từ tác giả)
Khách hàng của ngành điện là các nhóm khách hàng thuộc năm nhóm ngành, lĩnh vực gồm: nhóm ngành nông nghiệp; nhóm ngành công nghiệp – xây dựng; nhóm lĩnh vực thương mại, khách sạn và nhà hàng; lĩnh vực quản lý và tiêu dùng dân cư và các lĩnh vực hoạt động khác Trong đó, nhu cầu sử dụng điện của ngành công nghiệp
- xây dựng là cao nhất, chiếm tỷ trọng 54% tổng sản lượng điện tiêu thụ của cả nước Tiếp theo là lĩnh vực quản lý và tiêu dùng dân cư chiếm tỷ trọng khá cao là 34% Các ngành, lĩnh vực còn lại có tỷ trọng tiêu thu điện năng thấp với tổng tỷ trọng là 12%
Hình 4.3: Cơ cấu nhu cầu tiêu thụ điện theo ngành – lĩnh vực năm 2016
Trang 38Vào năm 2013, Chính phủ ban hành quyết định số 63/2013/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định lộ trình và các điều kiện hình thành thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam Theo đó, Thị trường điện được hình thành và phát triển theo 03 cấp độ:
Cấp độ 1 – Thị trường phát điện cạnh tranh: tiếp tục thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh đến hết năm 2014
Tại thị trường này, các đơn vị phát điện sẽ cạnh tranh bán điện cho đơn vị mua buôn điện duy nhất (Công ty mua bán điện trực thuộc EVN) trên thị trường giao ngay thông qua hợp đồng song phương Đơn vị mua buôn điện thực hiện bán buôn lại cho các Tổng công ty Điện lực thuộc EVN Cơ quan điều tiết điện lực chịu trách nhiệm công bố tỷ lệ điện năng mua bán hàng năm
Cấp độ 2 – Thị trường bán buôn điện cạnh tranh: thực hiện thí điểm từ năm 2015
đến năm 2016 và thực hiện hoàn chỉnh thị trường bán buôn điện cạnh tranh trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021
Tại thị trường này, các Công ty phân phối điện (Tổng công ty Điện lực, công ty điện lực) hay các đơn vị bán lẻ điện và một số khách hàng lớn được quyền mua điện trực tiếp từ các đơn vị phát điện, các đơn vị bán buôn điện trên thị trường giao ngay thông qua hợp đồng song phương
Cấp độ 3 – Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh: thực hiện thí điểm trong giai đoạn
từ năm 2021 đến năm 2023 và hoàn chỉnh thị trường từ sau năm 2023
Tại thị trường này, các đơn vị bán lẻ điện mua điện từ các đơn vị phát điện, đơn
vị bán buôn điện trên thị trường giao ngay thông qua hợp đồng song phương để bán điện cho khách hàng sử dụng điện Đối với các khách hàng sử dụng điện được lựa chọn đơn vị bán điện cho mình hoặc mua điện trực tiếp từ thị trường
Từ tháng 7 năm 2012, thị trường phát điện cạnh tranh đã được vận hành chính thức theo mô hình thị trường điện tập trung và chào giá theo chi phí
Trang 39Từ năm 2016, năm 2017, thị trường bán buôn điện cạnh tranh đã thực hiện thí điểm tính toán mô phỏng và thanh toán trên giấy đối với 5 Tổng công ty Điện lực gồm: Tổng công ty Điện lực miền Bắc, Tổng công ty Điện lực miền Trung, Tổng công ty Điện lực miền Nam, Tổng công ty Điện lực Hà Nội và Tổng công ty Điện lực TP.Hồ Chí Minh Từ tháng 1 năm 2018, 5 đơn vị này đã thực hiện thí điểm thanh toán thật
4.2 Giới thiệu về Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh (EVNHCMC)
EVNHCMC với tiền thân là Sở Quản lý và Phân phối Điện Thành Phố Hồ Chí Minh được thành lập vào ngày 7 tháng 8 năm 1976 trực thuộc Công ty Điện lực Miền Nam thuộc Bộ Điện và Than Đến ngày 09/05/1981 Bộ Điện lực đổi tên các Cơ quan đơn vị trực thuộc Bộ Điện lực, khi đó: Công ty Điện lực Miền Nam thành Công ty Điện lực 2 và Sở Quản lý và Phân phối Điện Thành phố Hồ Chí Minh đổi thành Sở Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh và trực thuộc Công ty Điện lực 2 Vào ngày 8 tháng
7 năm 1995, Bộ Năng lượng ban hành quyết định thành lập Công ty Điện lực TP.HCM trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam (nay là EVNHCMC) Theo đề
án tái cơ cấu ngành điện của Chính phủ, vào ngày 5 tháng 2 năm 2010, Bộ Công thương ban hành quyết định số 768/QĐ-BTC chính thức thành lập Tổng công ty Điện lực TP.HCM là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Tập đoàn Điện lực Việt Nam sở hữu 100% vốn điều lệ Hiện nay EVNHCMC hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - công ty con với 16 Công ty Điện lực trực thuộc, 4 công ty thành viên,
3 ban quản lý, 2 trung tâm và nhiều Phòng/ Ban chức năng
EVNHCMC là một trong 5 Tổng công ty phân phối điện trực thuộc EVN với chức năng hoạt động chính là quản lý và phân phối điện thông qua việc mua buôn điện từ EVN theo giá bán buôn điện nội bộ của EVN và thực hiện bán điện cho khách hàng sử dụng điện tại 24 quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với mức giá bán điện do Nhà nước quy định
Trong năm 2018, tổng số khách hàng sử dụng điện của EVNHCMC là 2,429,756 khách hàng, tăng 4% so với năm 2017
Trang 40Đồ thị 4.1: Số lượng khách hàng sử dụng điện của EVNHCMC giai đoạn
2010-2018
(Nguồn: Báo cáo thường niên của EVNHCMC 2019)
Đồ thị 4.1 cho thấy số lượng khách hàng sử dụng điện của Thành phố tăng qua các năm Cùng với việc số lượng khách hàng sử dụng điện tăng thì yêu cầu về chất lượng và dịch vụ cung cấp điện năng đòi hỏi ngày càng cao, đặc biệt các nhà đầu tư vào các khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao Để đáp ứng nhu cầu
sử dụng điện của thành phố, EVNHCMC đã thực hiện nhiều giải pháp ứng dụng công nghệ trong quản lý, vận hành hệ thống điện để đảm bảo cung cấp điện an toàn liên tục và tích cực thực hiện triệt để các giải pháp sử dụng điện an toàn, tiết kiệm và mang lại hiệu quả cao
Trong năm 2018, EVNHCMC đã hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ được giao với nhiều kết quả nổi bật và về đích sớm 1 - 2 năm so với lộ trình kế hoạch 5 năm
2016 - 2020 như: Số lần mất điện (SAIFI) và thời gian mất điện (SAIDI) bình quân đối với 1 khách hàng chỉ còn 1.57 lần và 124 phút và tỷ lệ tổn thất điện năng giảm còn 3.27% về đích sớm 2 năm so với lộ trình đến năm 2020 Chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam đạt 87.94/100 điểm (khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh), xếp hạng
1,748,809 1,861,182 1,916,921
1,977,317 2,040,376 2,117,377 2,213,916
2,326,326 2,429,756 6%
3% 3% 3%
4%
5% 5% 4%
0% 1% 2% 3% 4% 5% 6% 7%