1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn Đo Lường Chi Phí Xã Hội Của Vốn Tại Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam

97 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 834,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮTNgân hàng Phát triển Việt Nam NHPT là một tổ chức tài chính phát triển công điểnhình, nhận trợ cấp từ Chính phủ và sử dụng nguồn vốn đó để thực hiện các chương trình tín dụngphát

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu

sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biếtcủa tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thànhphố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Ngành: Chính sách công

Mã số: 60340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN THỊ QUẾ GIANG

TP Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Chươngtrình Giảng dạy kinh tế Fulbright và các Quý Thầy, Cô đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn vàgiúp đỡ tôi trong quá trình tôi học tập tại chương trình này

Xin chân thành cám ơn cô TS Trần Thị Quế Giang, người đã trực tiếp tận tình hướngdẫn, góp ý, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Xin chân thành cám ơn thầy Nguyễn Xuân Thành đã gợi mở và hỗ trợ tôi tìm kiếm và sửdụng khung phân tích cho nghiên cứu Chân thành cám ơn thầy Đỗ Thiên Anh Tuấn đã nhiệt tìnhgóp ý, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề cương luận văn

Xin chân thành cám ơn các đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thựchiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các Cán bộ Nhân viên của Trường, các Anh Chị và các Bạn lớpMPP4 đã nhiệt tình chia sẻ kinh nghiệm, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thựchiện Luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 6 năm 2013

Phạm Thị Thu Trang

Trang 4

TÓM TẮT

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) là một tổ chức tài chính phát triển công điểnhình, nhận trợ cấp từ Chính phủ và sử dụng nguồn vốn đó để thực hiện các chương trình tín dụngphát triển kinh tế - xã hội Trước đây, gần như chưa có nghiên cứu nào thực hiện các đánh giá, đolường về lợi ích - chi phí xã hội cho NHPT

Nghiên cứu này sử dụng các lý thuyết đo lường chi phí xã hội của vốn được Yaron vàSchreiner phát triển, để tính toán các chỉ số phản ánh chi phí xã hội của vốn tại NHPT Cụ thể,nghiên cứu đo lường chỉ số phụ thuộc trợ cấp và giá trị hiện tại ròng đối với xã hội mà NHPTđược trợ cấp trực tiếp hay gián tiếp

Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ số phụ thuộc trợ cấp ngắn hạn của NHPT giảm từ 5,38xuống 2,81 đơn vị trong giai đoạn 2005-2007, sau đó tăng lên mức đỉnh 5,81 vào năm 2008, giảmmạnh xuống 1,46 năm 2009 và tiếp tục tăng trong giai đoạn 2009-2011, lên đến 3,83 vào năm

2011 Như vậy, tính trên mỗi đồng thu nhập từ lãi cho vay, NHPT nhận được 3,83 đồng trợ cấp

từ xã hội trong năm 2011 Tương tự, chi phí hiện tại ròng của nguồn vốn xã hội trợ cấp choNHPT có chiều hướng tăng đều đặn khiến chỉ số phụ thuộc trợ cấp trong dài hạn của NHPT ổnđịnh ở mức 4-5 đơn vị trong giai đoạn 2006-2011 NHPT nhận mức trợ cấp 5,03 đồng trên 1đồng thu nhập từ lãi vay trong giai đoạn này

Từ kết quả nghiên cứu, tác giả nhận thấy NHPT đã cố gắng chuyển dịch mô hình hoạtđộng từ Quỹ Hỗ trợ phát triển trước đây, và từ đó giảm mức phụ thuộc trợ cấp trong giai đoạnđầu thành lập (2006-2008) Tuy nhiên, do áp lực của cuộc khủng hoảng tài chính 2008, tình hìnhkinh tế trì trệ giai đoạn 2009-2011, và một số nguyên nhân nội tại, NHPT đã không duy trì được

xu hướng giảm phụ thuộc trợ cấp Hiện nay, NHPT đang dần phụ thuộc nhiều hơn vào trợ cấp

Để giảm sự phụ thuộc này, tiến tới độc lập về tài chính, nghiên cứu đề xuất NHPT cần thực hiệncác biện pháp tăng nguồn thu, giảm chi phí trong ngắn hạn và dài hạn Nghiên cứu cũng kiếnnghị Chính phủ cải cách mô hình quản lý của NHPT, tăng tự chủ cho NHPT trong quyết định lãisuất và kỳ hạn khoản vay

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iii

TỪ KHÓA vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÔNG THỨC vii

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HỘP viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ viii

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC ix

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH 1

1.1 Tổng quan 1

1.2 Câu hỏi chính sách và mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu và nguồn thông tin 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 Đo lường chi phí xã hội của vốn của một tổ chức tài chính phát triển 6

2.1.1 Chỉ số phụ thuộc trợ cấp 6

2.1.2 Chi phí hiện tại ròng đối với xã hội 7

2.1.3 Tỷ lệ phụ thuộc trợ cấp 8

Trang 6

2.1.4 Chỉ số tự bền vững về tài chính 9

2.2 Thiết lập công thức đo lường chi phí xã hội của vốn tại một tổ chức tài chính phát triển 9

2.2.1 Thiết lập công thức ước tính chỉ số phụ thuộc trợ cấp 9

2.2.2 Thiết lập công thức ước tính chi phí hiện tại ròng đối với xã hội 11

2.3 Dữ liệu để đo lường chi phí xã hội của vốn 14

2.4 Các công trình nghiên cứu thực nghiệm sử dụng cùng một khung phân tích 17

2.4.1 Chi phí xã hội của vốn cho Ngân hàng Phát triển tại Cộng hòa Kiribati 17

2.4.2 Chỉ số phụ thuộc trợ cấp của Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác nông nghiệp Thái Lan 18 CHƯƠNG 3 ĐO LƯỜNG CHI PHÍ XÃ HỘI CỦA VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM……… 19

3.1 Giới thiệu tổng quan về Ngân hàng Phát triển Việt Nam 19

3.2 Thực tế áp dụng cho ngân hàng phát triển Việt Nam – những điều chỉnh và công thức 20

3.2.1 Những hình thức trợ cấp của Chính phủ cho NHPT 21

3.2.2 Chi phí vốn kinh tế 23

3.2.3 Lãi suất trung bình 23

3.3 Phân tích các thông số đầu vào 24

3.3.1 Chi phí vốn kinh tế 24

3.3.2 Vốn chủ sở hữu 26

3.3.3 Nợ công trung bình 27

3.3.4 Tín dụng cho vay ròng 27

3.3.5 Thu nhập từ trợ cấp 28

3.3.6 Lợi nhuận kế toán 29

3.3.7 Khoản mục thu nhập từ lãi vay và chi trả lãi huy động 30

Trang 7

3.4 Kết quả đo lường chi phí xã hội của vốn 30

3.4.1 Phân tích ban đầu các chỉ số chi phí xã hội của vốn 31

3.4.2 Phân tích cấu trúc thành phần chỉ số phụ thuộc trợ cấp 34

3.4 3 Phân tích cấu trúc thành phần chỉ số chi phí hiện tại ròng đối với xã hội 36

3.4.4 So sánh với một số Ngân hàng phát triển khác 38

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39

4.1 Kết luận 39

4.2 Một số khuyến nghị 40

4.2.1 Kiến nghị 40

4.2.2 Giải pháp 41

4.3 Hạn chế của đề tài 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

PHỤ LỤC 46

Trang 8

TỪ KHÓA

Ngân hàng Phát triển, chi phí xã hội của vốn, Chỉ số phụ thuộc trợ cấp, SDI

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BAAC The Bank for Agriculture and Agricultural

Cooperatives

Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác Nông nghiệp Thái Lan

DBK Development Bank of Kiribati Ngân hàng Phát triển Kiribati

DFI Development Finance Institution Tổ chức tài chính phát triển

FSS Finance Seft-Sufficiency Chỉ số độc lập tài chính

NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHPT Ngân hàng phát triển Việt Nam

NPC S Net present cost to society Chi phí hiện tại ròng đối với xã

hội

ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức

ROA Return on assets Lợi nhuận trên tổng tài sản

ROE Return on equity Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

SDI Subsidy dependence index in a short time

frame

Chỉ số phụ thuộc trợ cấp (trong ngắn hạn)

SDI L Subsidy dependence index in a long time

frame

Chỉ số phụ thuộc trợ cấp trong dài hạn

SDR Subsidy dependence ratio Tỉ lệ phụ thuộc trợ cấp

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÔNG THỨC

c Lãi suất trung bình trả cho các khoản nợ công của DFI

A Nợ công trung bình

A.(m-c) Trợ cấp trên khoản nợ công

δ Tỷ lệ chiết khấu xã hội

DG Trợ cấp trực tiếp

DX Chiết khấu trên chi phí

E Vốn chủ sở hữu trung bình

EG Trợ cấp trên vốn chủ sở hữu

i Lãi suất trung bình của các khoản cho vay mục tiêu của DFI

K Tổng thu nhập từ trợ cấp và chiết khấu trên chi phí

LP Dư nợ cho vay trung bình trong kỳ

LP.i Doanh thu từ các khoản cho vay

m Chi phí cơ hội danh nghĩa của khoản nợ công

P Lợi nhuận kế toán

PC Vốn trả trước

RG Thu nhập từ trợ cấp

t Số năm từ lúc bắt đầu khung thời gian

TP Lợi nhuận thực

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 SDI và NPCScủa Ngân hàng phát triển Kiribati 17

Bảng 3.1 Kết quả tính chỉ số phụ thuộc trợ cấp SDI và chi phí xã hội của vốn ròng NPCS 33

Bảng 3.2 Phân tích các thành tố của chỉ số SDI 35

Bảng 3.3 Phân tích thành phần chỉ số SDI trong dài hạn 37

Trang 10

DANH MỤC HỘP

Hộp 2.1 Các nguồn trợ cấp 10

Hộp 2.2 Các thông số cần thiết để đo lường SDI và NPCS 15

Hộp 2.3 Lưu ý khi lựa chọn chi phí vốn kinh tế 16

Hộp 3.1 Vốn ủy thác 21

Hộp 3.2 Thời gian nhận cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý của NHPT 23

Hộp 3.3 Các kịch bản chi phí 24

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ Hình 1.1 Vị trí của DFI trong nền kinh tế 1

Hình 3.1 Mô tả nguồn vốn và tài sản nghiệp vụ của NHPT 20

Hình 3.2 Chỉ số SDI theo các kịch bản chi phí vốn kinh tế 25

Hình 3.3 Chỉ số SDI dài hạn theo các kịch bản chi phí vốn kinh tế 25

Hình 3.4 Biến động của vốn chủ sở hữu trung bình 26

Hình 3.5 Biến động của nợ công trung bình 27

Hình 3.6 Biến động của khoản mục tín dụng cho vay ròng 28

Hình 3.7 Biến động trong thu nhập từ trợ cấp 28

Hình 3.8 Biến động trong lợi nhuận kế toán 29

Hình 3.9 Biến động của thu – chi từ lãi vay và huy động 30

Hình 3.10 Chỉ số SDI và tỷ lệ lạm phát 31

Hình 3.11 Chỉ số ROA của NHPT 32

Hình 3.12 Chỉ số ROE của NHPT 33

Hình 3.13 Chỉ số SDI trong ngắn hạn và dài hạn của NHPT 34

Hình 3.14 Tỷ trọng các thành phần của chỉ số phụ thuộc trợ cấp SDI 36

Hình 3.15 Phân tích thành phần chỉ số NPCS 37

Trang 11

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Tại sao đo lường chi phí giúp tăng hiệu quả 46

Phụ lục 2 Ưu và nhược điểm của SDI 47

Phụ lục 3 Phân tích ưu nhược điểm của 4 chỉ số 49

Phụ lục 4 Những lựa chọn chi phí vốn kinh tế danh nghĩa 51

Phụ lục 5 Bảng tính chỉ số phụ thuộc trợ cấp 53

Phụ lục 6 Bảng tính chi phí hiện tại ròng đối với xã hội NPCS 54

Phụ lục 7 Chỉ số phụ thuộc trợ cấp của BAAC 56

Phụ lục 8 Mô hình tổ chức hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 57

Phụ lục 9 Hướng dẫn hạch toán nghiệp vụ ủy thác cho vay của các Tổ chức tín dụng 65

Phụ lục 10 Phân loại tổ chức tài chính chính phủ 66

Phụ lục 11 Báo cáo tài chính của NHPT 67

Phụ lục 12 Các kịch bản lựa chọn chi phí vốn kinh tế 75

Phụ lục 13 Bảng tính chi phí phụ thuộc trợ cấp của NHPT 77

Phụ lục 14 Bảng tính chi phí hiện tại ròng đối với xã hội cho NHPT 80

Phụ lục 15 Bảng tính chỉ số tài chính ROA và ROE điều chỉnh trợ cấp của NHPT 84

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH 1.1 Tổng quan

Theo định nghĩa, tổ chức tài chính phát triển (Development Finance Institution - DFI) là

tổ chức tài chính trung gian nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và được nhận hỗ trợ từChính phủ và các nhà tài trợ khác (Schreiner và Yaron, 2001) Thông qua thuế và trợ cấp, dòngvốn chảy từ xã hội sang ngân sách nhà nước và chuyển vào tổ chức tài chính phát triển công Nhưvậy, xã hội chính là chủ thể phải chịu những chi phí hoạt động của một tổ chức tài chính pháttriển công (Hình 1.1)

Hình 1.1 Vị trí của DFI trong nền kinh tế

Như vậy, sử dụng các chỉ tiêu phân tích tài chính cho một tổ chức tài chính mang tínhthương mại để đánh giá hiệu quả hoạt động của một tổ chức tài chính phát triển công là chưachính xác và thiếu toàn diện Để khắc phục nhược điểm này, các chuyên gia phân tích kinh tế đãnghiên cứu và đưa ra một số phương pháp nhằm điều chỉnh các chỉ tiêu phân tích tài chính theohướng tính toán các chi phí xã hội, và sử dụng các chỉ tiêu tài chính sau điều chỉnh như một cáchtiếp cận mới nhằm đánh giá chính xác hơn hiệu quả hoạt động của một tài chính phát triển công

Dự án/

Khách hàngcủa DFI

Kinh tế

-Xã hội

Chính phủ,nhà tài trợ

DFI

Tài trợ

Thuế

Đầu tư –phát triển

Cho vay

Trang 13

Cụ thể, Yaron (1992) đề xuất phương pháp tính chỉ số phụ thuộc trợ cấp (Subsidy DependenceIndex - SDI) và Schreiner (1997) đưa ra phương pháp tính chi phí hiện tại ròng đối với xã hội(Net present cost to socials - NPCS) Những phương pháp phân tích này đo lường chi phí xã hộicủa vốn của DFI, từ đó góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động của đối tượng phân tích theo 5cách khác nhau, như góp phần xác định, điều chỉnh và làm nổi bật mục tiêu của tổ chức, cụ thểhóa những chi phí phải trả khi thực hiện các mục tiêu hỗ trợ đã xác đ ịnh, từ đó xây dựng chiếnlược, định hướng và chương trình thực hiện mục tiêu (xem Phụ lục 1).

Ở Việt Nam, Ngân hàng phát triển Việt Nam có thể coi là một tổ chức tài chính phát triểncông điển hình, với mô hình tổ chức và hoạt động nhằm thực hiện chính sách đầu tư phát triểncủa Nhà nước Ngân hàng phát triển Việt Nam (NHPT) được Chính phủ thành lập ngày19/5/2006 theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, với chức năng,nhiệm vụ huy động vốn trung và dài hạn, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn Nhà nước để thựchiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước NHPT có thời gian hoạtđộng là 99 năm kể từ ngày thành lập Hệ thống NHPT được xây dựng dựa trên cơ sở tổ chức lạiQuỹ Hỗ trợ phát triển trực thuộc Bộ Tài chính, tập trung hoạt động nhằm hỗ trợ các ngành, lĩnhvực, chương trình kinh tế được ưu tiên của đất nước, và các vùng, miền khó khăn cần khuyếnkhích đầu tư

NHPT là một tổ chức tài chính phát triển của Chính phủ, hoạt động không vì mục tiêu lợinhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được Chính phủ bảođảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác theoquy định của pháp luật Như vậy, NHPT hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng với vai trò

là một ngân hàng chính sách (Xem Phụ lục 8)

Công tác đánh giá hiệu quả hoạt động của NHPT trước đây chưa thực sự tốt vì cácnguyên nhân như thiếu lý thuyết kinh tế về mô hình ngân hàng chính sách, sự đặc thù của NHPTgây khó khăn khi đánh giá Đặc biệt, theo tìm hiểu của tác giả, trước đây các nghiên cứu, báo cáo

về hoạt động của NHPT (Báo cáo phân tích hoạt động nội bộ của NHPT và Báo cáo tình hìnhthực hiện nhiệm vụ gửi Bộ Tài chính và các cơ quan khác) chưa cố gắng đo lường về ảnh hưởngcủa những khoản trợ cấp NHPT nhận được trong quá trình hoạt động Hầu hết các nghiên cứu

Trang 14

đều đánh giá hiệu quả hoạt động của NHPT dưới góc độ của một tổ chức tài chính bình thường,

có chú thích NHPT được nhận một số khoản trợ cấp

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của NHPT là một vấn đề quan trọng và có ý nghĩa lớnđối với chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung và chính sách Nhànước đối với mô hình NHPT nói riêng Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, hệ thống ngân hàng tàichính Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn từ bên trong và bên ngoài hệ thống, và đang được

cơ cấu lại nhằm mục tiêu phát triển an toàn, hiệu quả, bền vững Hoạt động của NHPT cũngkhông ngoại lệ khi đang gặp rất nhiều khó khăn Do vậy, thực tế cần có những đánh giá toàn diện

và chuẩn xác về hoạt động của NHPT để hỗ trợ Chính phủ đưa ra những quyết định chính xác.Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu đo lường các chi phí xã hội của vốn củaNHPT, từ đó góp phần đưa ra những đánh giá hoàn thiện hơn về chi phí xã hội cho các hoạt độngđầu tư phát triển của NHPT, và một số khuyến nghị để NHPT hoạt động hiệu quả hơn, tiến tớiđộc lập về tài chính, từ đó đóng góp tốt hơn vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

1.2 Câu hỏi chính sách và mục tiêu nghiên cứu

Câu hỏi chính sách: Luận văn được xây dựng nhằm trả lời hai câu hỏi: (i) Chi phí xã hội

của vốn của NHPT bằng bao nhiêu? (ii) Những kiến nghị và giải pháp nào có thể thực hiện đểNHPT giảm phụ thuộc trợ cấp và tăng hiệu quả hoạt động dưới góc độ giảm chi phí xã hội củavốn?

Mục tiêu nghiên cứu: Thông qua tính toán chỉ số phụ thuộc trợ cấp (SDI) và chi phí hiện

tại ròng đối với xã hội (NPCS), luận văn đo lường chi phí xã hội của vốn cho hoạt động củaNHPT, từ đó đưa ra một vài khuyến nghị nhằm giảm sự phụ thuộc trợ cấp, từ đó tăng cường hiệuquả hoạt động của NHPT

1.3 Phạm vi nghiên cứu và nguồn thông tin

Nguồn thông tin sử dụng từ các Báo cáo tài chính, Báo cáo kế toán tổng hợp của NHPTtrong giai đoạn 2004-2011 (cụ thể là các Báo cáo thường niên năm 2006, 2008, 2010 và Báo cáotài chính đã kiểm toán năm 2011) Số liệu lạm phát được lấy từ Niên giám thống kê của Tổng cục

Trang 15

thống kê giai đoạn 2005-2011 Số liệu lãi suất cơ bản cùng giai đoạn được Ngân hàng Nhà nướccung cấp trên website chính thức.

Thời gian nghiên cứu của luận văn chủ yếu trong giai đoạn 2005-2011 Luận văn có sửdụng số liệu năm 2004 để làm cơ sở tính toán

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là Ngân hàng phát triển Việt Nam

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả, dựa trên cơ

sở phân tích số liệu tài chính từ các báo cáo của NHPT, đặc biệt là các Báo cáo tài chính và báocáo kế toán tổng hợp

Từ các phân tích trên, nghiên cứu đưa ra một số đánh giá về thực trạng phụ thuộc trợ cấptrong hoạt động của NHPT Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm phụthuộc trợ cấp, tiến tới độc lập tài chính cho NHPT

Thước đo được sử dụng chủ yếu trong phân tích, đánh giá của nghiên cứu này là các chỉ

số như chỉ số phụ thuộc trợ cấp (SDI), chỉ số chi phí hiện tại ròng đối với xã hội (NPCS), và cácchỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

1.5 Cấu trúc luận văn

Ngoài lời cam đoan, danh mục các ký hiệu, từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục cáchình vẽ và đồ thị, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 4 phần:

Chương 1 Tổng quan và vấn đề chính sách: Nội dung phần này giới thiệu về bối cảnh

chính sách và lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng vàphạm vi nghiên cứu của đề tài

Chương 2 Cơ sở lý thuyết: Phần này trình bày khái quát một số phương pháp đo lường chi

phí xã hội của vốn cho một tổ chức tài chính phát triển hiện đang được áp dụng, một số ưu điểm

và nhược điểm của các phương pháp trên Từ đó lựa chọn một phương pháp hợp lý sử dụng trong

Trang 16

nghiên cứu này Đồng thời, nội dung phần này cũng trình bày sơ lược hai công trình nghiên cứuthực nghiệm nhằm đo lường chi phí xã hội của vốn cho một tổ chức tài chính phát triển.

Chương 3 Đo lường chi phí xã hội của vốn tại Ngân hàng phát triển Việt Nam: Nội

dung phần này dựa trên khung phân tích đã xác đ ịnh để xây dựng công thức đo lường chi phí xãhội của vốn phù hợp với Ngân hàng phát triển Việt Nam, từ đó sử dụng số liệu đã thu thập để đolường chỉ tiêu này

Chương 4 Kết luận và kiến nghị: Dựa trên phương pháp nghiên cứu tại chương 2, kết quả

đo lường tại chương 3, tác giả kết luận nội dung nghiên cứu và đưa ra một số đề xuất và kiếnnghị Một số hạn chế của đề tài cũng được nêu ra trong chương này

Trang 17

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Đo lường chi phí xã hội của vốn của một tổ chức tài chính phát triển

Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình định chế tài chính phát triển tuy chưa dài song

đã đ ạt được nhiều thành công và cũng có những thất bại Nhiều tổ chức tài chính phát triển ra đờitrong những thời điểm rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần khôngnhỏ thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Đơn cử một số Ngân hàng Phát triểnChâu Á đạt những thành công nhất định có Ngân hàng phát triển Hàn Quốc thành lập năm 1954,Ngân hàng phát triển Nhật Bản từ những năm 1940 sau chiến tranh thế giới thứ hai, Ngân hàngphát triển Philipin năm 1958, Ngân hàng phát triển Nhà nước Trung Quốc thành lập năm 1994…

Do đặc thù và đặc trưng riêng có của mô hình tổ chức tài chính phát triển nói chung, Ngânhàng phát triển nói riêng, các chuyên gia kinh tế đã cố gắng xây dựng nhiều phương pháp đểđánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức này, để từ đó tạo cơ sở nền tảng giúp các nhà hoạchđịnh chính sách đưa ra những quyết định phù hợp đối với mô hình DFI (Phụ lục 3)

SDI đánh giá liệu một tổ chức tài chính phát triển có sử dụng hiệu quả nguồn vốn được

xã hội trợ cấp hay không Để làm được điều này, SDI sử dụng chi phí vốn kinh tế để đo lườngmức độ trợ cấp mà xã hội đã cung cấp cho DFI trong quá trình hoạt động Ở đây, Yaron sử dụng

lý thuyết chi phí cơ hội của vốn để xây dựng công thức tính toán trợ cấp mà DFI nhận được Đối

Trang 18

với một tổ chức tài chính phát triển, xã hội chính là đối tượng chịu mọi chi phí, do trợ cấp dànhcho tổ chức thường được lấy từ tiền thuế của các chủ thể trong xã hội.

SDI cung cấp một khung phân tích để đánh giá số trợ cấp mà DFI nhận được SDI dươngtrong trường hợp DFI phụ thuộc trợ cấp và SDI âm khi DFI độc lập trợ cấp, tức là khi DFI sửdụng các nguồn vốn trợ cấp với chi phí vốn kinh tế mà vẫn có lợi nhuận Chỉ số SDI cũng có thểđược sử dụng nhằm ước lượng số phần trăm thay đổi trong đường cong lợi suất của các khoản tíndụng DFI cho vay để một DFI độc lập trợ cấp Kết quả tính SDI có thể được sử dụng để điềuchỉnh các chỉ số ROE và ROA của tổ chức tài chính phát triển, từ đó đánh giá hiệu quả hoạt độngcủa DFI khi không có trợ cấp

Theo Schreiner và Yaron (2001), SDI có nhiều ưu điểm (Phụ lục 2), do vậy SDI trở thànhmột trong những công cụ được dùng đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các DFI đượcnhận trợ cấp Tuy nhiên, SDI không tính toán những chi phí – lợi ích của các nghiệp vụ ngoài tíndụng đầu tư phát triển của DFI, SDI chỉ đánh giá hiệu quả hoạt động chính của một DFI, đó làcho vay theo mục tiêu

2.1.2 Chi phí hiện tại ròng đối với xã hội

Chi phí hiện tại ròng đối với xã hội (NPCS) là một chỉ số đo lường trợ cấp có tính chiếtkhấu thời gian của dòng tiền, do đó có thể sử dụng trong đánh giá dài hạn cũng như ngắn hạn.Chỉ số này được Schreiner, một nhà kinh tế đề xuất năm 1997

Chỉ số NPCStrả lời câu hỏi: Xã hội đã bỏ qua những lợi ích gì khi trao nguồn vốn trợ cấpcho DFI thay vì cho những dự án khác?

NPCS đo lường chi phí xã hội của vốn bằng phương pháp tương tự SDI, phương pháp sửdụng chi phí cơ hội của vốn Trong đó sử dụng chi phí vốn kinh tế trong tính toán như SDI NPCS

cũng hạn chế nhược điểm của SDI khi sử dụng chiết khấu dòng tiền theo thời gian, do đó NPCS

có ý nghĩa trong khoảng thời gian ngắn hạn và dài hạn NPCScó dấu âm khi DFI hoạt động hiệuquả, tức là xã hội đã đ ầu tư tốt khi trao nguồn vốn trợ cấp cho DFI

Trang 19

Tương tự SDI, NPCSkhông tính toán những lợi ích – chi phí của những hoạt động ngoài tíndụng truyền thống của DFI Nếu những lợi ích này đủ lớn, thì một DFI có NPCS dương vẫn cóthể là một DFI hoạt động hiệu quả.

Hai chỉ số SDI và NPCSkhông hoàn hảo, tuy nhiên đây là hai chỉ số nhiều ưu điểm giúp đolường chi phí xã hội của vốn của một tổ chức tài chính phát triển công

2.1.3 Tỷ lệ phụ thuộc trợ cấp

Tỷ lệ phụ thuộc trợ cấp SDR được xây dựng với mục đích hoàn thiện chỉ số SDI, từ đó đolường chi phí xã hội của vốn cho DFI một cách hiệu quả hơn (Khandker, Khality, và Khan,1995)

Chỉ số SDI được tính dựa trên tỉ lệ trợ cấp và doanh thu từ các khoản tín dụng của DFI,trong khi một DFI có thể có doanh thu từ các nghiệp vụ khác, ví dụ như các khoản đầu tư (tráiphiếu kho bạc…), hay thu phí và lệ phí khi cung cấp dịch vụ ngân hàng… Như vậy, DFI có thểgiảm sự phụ thuộc vào trợ cấp bằng cách tăng doanh thu từ tất cả các hoạt động của mình, màkhông phải chỉ từ các nghiệp vụ tín dụng

Tỷ lệ phụ thuộc trợ cấp SDR được tính bằng nguồn trợ cấp trên tổng doanh thu từ cáckhoản tín dụng, đầu tư

Như vậy, SDR luôn nhỏ hơn hoặc bằng với SDI Sử dụng SDR để đánh giá hiệu quả củaDFI, ta sẽ có xu hướng giảm mức phụ thuộc trợ cấp của DFI Điều này thể hiện tình trạng tàichính thực tế của DFI tại thời điểm đó, song lại có thể gây những đánh giá sai lầm (i) DFI là một

tổ chức tài chính phát triển với nhiệm vụ chính là cho vay các chương trình mục tiêu, nếu doanhthu từ các hoạt động khác cao, sẽ gây đánh giá sai lầm về hiệu quả hoạt động của các chươngtrình mục tiêu, (ii) Khi DFI nhận được nhiều lợi nhuận từ hoạt động đầu tư, thì cũng có nghĩa r ủi

ro hoạt động của DFI tăng cao Điều này không có lợi đối với hoạt động bền vững của DFI trongtương lai Đặc biệt là khi DFI sử dụng nguồn vốn xã hội giá rẻ để đầu tư thu lợi trên thị trườngvốn, DFI sẽ thu hẹp nguồn vốn cho vay trong các chương trình mục tiêu (Yaron và Schreiner,2001)

Trang 20

2.1.4 Chỉ số tự bền vững về tài chính

Một chỉ số khác thường được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động về mặt tài chính củamột DFI, đó là Chỉ số tự bền vững về tài chính - FSS FSS được tính bằng thu nhập (loại bỏ cáckhoản trợ cấp) chia cho chi phí (không tính các khoản hỗ trợ) của DFI

Theo Gaul (2009), thì SDI và FSS khá tương tự trong việc đo lường hiệu quả hoạt động,tuy nhiên, có sự khác nhau cơ bản đó là SDI có tính tới nguồn trợ cấp mà DFI được nhận, vàkhông tính tới những nguồn thu khác của DFI ngoài thu nhập từ lãi vay Do vậy, chỉ số FSSthường đánh giá mức độ độc lập tài chính một cách “hào phóng” hơn SDI, tương tự như SDR.Cũng theo Gaul (WB, 2009), thì FSS thường được sử dụng để đánh giá mức độ độc lập tàichính cho một tổ chức tài chính phát triển “trước khi nhận khoản tài trợ mới”, còn SDI thì thườngđược sử dụng để đo lường mức độ phụ thuộc trợ cấp “sau khi nhận tài trợ” Như vậy FSS thườngđược các nhân viên của DFI sử dụng, còn SDI thì thường phản ánh cách nhìn của những nhàhoạch định chính sách Một nhà phân tích cũng sẽ lựa chọn trong các nhóm nhân tố: doanh thu vàchi phí đối với FSS, và thu nhập từ lãi và trợ cấp đối với SDI, nhóm nhân tố nào phù hợp với mụcđích phân tích, từ đó lựa chọn mô hình và chỉ số phù hợp

2.2 Thiết lập công thức đo lường chi phí xã hội của vốn tại một tổ chức tài chính phát triển

Do có nhiều ưu điểm, hai chỉ số SDI và NPCS thường được sử dụng để đánh giá mức độphụ thuộc trợ cấp của một DFI, từ đó đo lường chi phí xã hội của vốn của DFI Tác giả lựa chọnhai chỉ số này để đo lường chi phí xã hội của vốn cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam

2.2.1 Thiết lập công thức ước tính chỉ số phụ thuộc trợ cấp

Chính phủ (và các nhà tài trợ) trợ cấp cho một DFI dưới nhiều hình thức, và được xếp vào 2nhóm: Vốn chủ sở hữu được hỗ trợ và Lợi nhuận được hỗ trợ Trong đó, vốn chủ sở hữu được hỗtrợ gồm 3 hình thức, hỗ trợ trực tiếp bằng tiền, vốn trả trước, và lợi nhuận thực trong kỳ

Trang 21

Lợi nhuận được hỗ trợ cũng gồm 3 hình thức, đó là thu nhập được hỗ trợ, chiết khấu trênkhoản nợ công và chiết khấu trên

chi phí (Xem Hộp 2.1)

Theo Yaron (1992), chỉ số

phụ thuộc trợ cấp SDI được tính

bằng Tổng trợ cấp S chia cho Thu

nhập từ lãi vay LP.i, trong đó LP

là dư nợ cho vay trung bình trong

kỳ, và i là lợi suất của khoản vay

cấp,

m là chi phí vốn kinh tế,

E là vốn chủ sở hữu trung bình trong kỳ,

A là nợ công trung bình của DFI,

c là lãi suất của khoản nợ công,

K là tổng của thu nhập từ trợ cấp (RG) và chiết khấu trên chi phí (DX), vậy K = RG + DX

và P là lợi nhuận kế toán

Công thức này được áp dụng trong Bảng tính chỉ số phụ thuộc trợ cấp (Phụ lục 5)

Như vậy, theo công thức (2.2), trợ cấp S là tổng của ba thành tố

Hộp 2.1 Các nguồn trợ cấp

Tên tài khoản

Ký hiệu Loại trợ cấp

Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền DG

Vốn chủ sở hữu được Hỗ trợ (EG)

Vốn đã góp PC

Vốn chủ sở hữu được Hỗ trợ (EG)

Thu nhập được hỗ trợ RG Lợi nhuận được hỗ trợ (PG)

Chiết khấu trên khoản nợ công

Nguồn: Yaron và Schreiner (2001)

Trang 22

Thành tố thứ nhất E.m chính là chi phí của xã hội để có khoản vốn chủ sở hữu E trung bìnhtrong năm cho DFI hoạt động.

Thành tố thứ hai A.(m-c) là chi phí xã hội trợ cấp cho khoản Nợ công trung bình trong kỳcủa DFI, tính bằng chênh lệch giữa chi phí vốn kinh tế và lãi suất mà DFI phải trả, nhân vớikhoản nợ công trung bình trong kỳ

Thành tố thứ ba K-P là chi phí trợ cấp trực tiếp của chính phủ, trong đó K tính bằng tổngcủa thu nhập từ trợ cấp và chiết khấu trên chi phí, còn P là lợi nhuận kế toán của DFI Do lợinhuận kế toán là khoản thu nhập sau khi được trợ cấp, lấy các khoản trợ cấp trực tiếp trừ đi lợinhuận kế toán ta được khoản mục Trợ cấp ròng cho DFI hoạt động trong kỳ

Ta phân tích thành phần chỉ số SDI theo công thức

.( ) +

Về mặt ý nghĩa, SDI cũng thể hiện phần trăm thay đổi của lợi suất cho vay, làm cho trợ cấpbằng 0 Khi SDI nhỏ hơn hoặc bằng 0, nghĩa là tổ chức tài chính phát triển đó có thể hoạt độngvới chi phí cơ hội của nguồn vốn xã hội mà vẫn có lợi nhuận Điều này cũng có nghĩa là ROE(lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu) đã đi ều chỉnh của DFI sẽ lớn hơn chi phí cơ hội của nguồnvốn xã hội (hay còn gọi là chi phí vốn kinh tế)

2.2.2 Thiết lập công thức ước tính chi phí hiện tại ròng đối với xã hội

2.2.2.1 Công thức

Chi phí hiện tại ròng đối với xã hội (NPCS) được tính dựa trên chiết khấu thời gian củadòng tiền trợ cấp cho DFI và có thể sử dụng trong dài hạn cũng như ngắn hạn NPCSthường được

Trang 23

sử dụng để đo lường chi phí xã hội của nguồn vốn tài trợ cho tổ chức tài chính phát triển DFItrong dài hạn do trong ngắn hạn thì chỉ số SDI có nhiều ưu thế hơn, như phương pháp tính toánđơn giản, nhanh gọn, phân tích dễ hiểu.

Để tính toán chỉ số NPCS, Schreiner(1997) sử dụng công thức tính như sau :

NPCS= (1-δtt)*E0+ ∑(δtt-0,5- δtt)* FFt- δtt*∑TPt (2.4)Trong đó E0là vốn chủ sở hữu đầu kỳ

FFt = [DGt + PCt + RGt + At*(mt – ct) + DXt +TPt] là dòng tiền trợ cấp cho tổ chức DFIđược nghiên cứu

Và TPt= lợi nhuận thực của DFI, được tính bằng lợi nhuận kế toán P trừ đi lợi nhuận được

hỗ trợ PG

Như vậy NPCS, chi phí xã hội của vốn hiện tại ròng của DFI, được hình thành từ 3 thành tốnhư sau :

Thành tố thứ nhất là (1-δtt)*E0, tức là vốn chủ sở hữu tại thời điểm DFI bắt đầu hoạt động,

được chiết khấu bằng tỷ lệ chiết khấu xã hội (the social discount rate) Đây là khoản trợ cấp đầu

tiên vào thời điểm DFI bắt đầu hoạt động

Thành tố thứ hai là ∑(δtt-0,5- δtt)* FFt Đây là dòng tiền trợ cấp theo từng năm, được chiếtkhấu về giá trị hiện tại sử dụng tỷ lệ chiết khấu xã hội

Thành tố thứ ba là δtt*∑TPt, lợi nhuận thực của DFI trong năm cuối tính toán đã loại trừ lợinhuận được hỗ trợ PG, sau đó chiết khấu theo thời gian Đây là phần lợi nhuận giả định của DFIvào thời điểm cuối của giai đoạn tính toán Phần lợi nhuận thực này nếu dương sẽ giảm chi phítrợ cấp mà DFI được nhận, còn nếu âm thì có nghĩa là tổ chức DFI được nhận trợ cấp để lợinhuận kế toán dương Do vậy, đây là khoản trợ cấp cuối được tính cho DFI

Như vậy giá trị hiện tại của DFI được tính bằng tổng của 3 thành tố, vốn chủ sở hữu banđầu của DFI, dòng tiền trợ cấp trong kỳ của DFI, và lợi nhuận thực của DFI, tất cả đưa về giá trịhiện tại bằng tỷ lệ chiết khấu xã hội

Trang 24

Trong đó, Schreiner sử dụng tỉ lệ chiết khấu xã hội tính theo công thức của Gittinger(1982), cụ thể là

δtt-0,5 = [1/(1+mt)]1-0,5* ∏[1/(1+mt)] (2.5)

2.2.2.2 Hình thành công thức

Schreiner xác định vào thời điểm thành lập DFI, vốn chủ sở hữu của DFI không phải là mộtchi phí chìm do nguồn lực của xã hội đã đư ợc sử dụng thành lập DFI mà không dành cho mụcđích khác Do vậy, vốn chủ sở hữu thời điểm này E0là một dòng tiền ra:

NPCStại thời điểm đầu = NPCS(1) = δ00*E0=E0

Sau thời điểm đó, DFI sử dụng dòng tiền FFttừ vốn hỗ trợ, vốn trả trước, và các khoảnchiết khấu Do vậy chi phí của dòng tiền trợ cấp của xã hội đã chiết khấu vào DFI này là:

NPCSdòng tiền ra = NPCS(2) = ∑δtt-0,5*[DGt+ PCt+ RGt+ At*(mt– ct) + DXt]

= ∑δtt-0,5* FFt

Vào thời điểm kết thúc khung thời gian, giả định rằng xã hội nhận được dòng tiền vàongang bằng với giá trị hiện tại ròng của DFI Giá trị này bao gồm tất cả dòng tiền trợ cấp từ xãhội vào DFI tới thời điểm t cộng với lợi nhuận thực TP Dòng tiền này được chiết khấu bằng δtt

Trang 25

SDILtính bằng giá trị hiện tại ròng đối với xã hội (NPCS) của DFI chia cho thu nhập từ lãivay của DFI chiết khấu theo thời gian Như vậy SDILcòn có nghĩa là chi phí xã hội của vốn để có

1 đồng lãi vay trong giai đoạn tính toán

Áp dụng vào công thức, SDILđược tính bằng:

Các công thức 2.4 và 2.7 được áp dụng để tính NPCSvà SDIL(Xem phụ lục 6)

2.3 Dữ liệu để đo lường chi phí xã hội của vốn

Theo cơ sở lý thuyết vừa trình bày, ta cần sử dụng nhiều thông số để đo lường chi phí xãhội của vốn, cụ thể theo Hộp 2.2

Trong các thông số này, ngoài các số liệu tài chính thu thập và tính toán từ báo cáo tàichính của tổ chức tài chính phát triển DFI, một số thông số phải thu thập từ các nguồn khác

 Lãi suất trung bình

Đối với vấn đề thiếu số liệu lãi suất trung bình, Schreiner và Yaron (2001) đề xuất sử dụngThu nhập từ lãi vay chia cho Tổng số nợ vay để tính lãi suất cho vay trung bình, và sử dụng Chiphí trả lãi vay chia Tổng số nợ công DFI đi vay để tính lãi suất huy động trung bình cho cáckhoản mục nguồn vốn này

 Chiết khấu trên chi phí

Chiết khấu trên chi phí (Discount on Expenses-DX) là khoản mục gồm các chi phí đượcchính phủ hỗ trợ mà DFI không tính vào chi phí của tổ chức, như hỗ trợ kỹ thuật, bảo lãnh thanhtoán, bảo hiểm tiền gửi miễn phí, chi phí quản lý của cơ quan chủ quản…

Chiết khấu trên chi phí không xuất hiện trên Báo cáo tài chính của DFI, do vậy là mộtkhoản trợ cấp khó thu thập số liệu

Trang 26

 Chi phí vốn kinh tế

Dữ liệu quan trọng nhất trong phương pháp đo lường chi phí xã hội của vốn do Yaron vàSchreiner (2001) đề xuất đó là Chi phí vốn kinh tế Yaron và Schreiner (2001) nhấn mạnh haiđiểm Thứ nhất là chi phí vốn kinh tế được sử dụng trong nghiên cứu không nhất thiết là chi phí

Hộp 2.2 Các thông số cần thiết để đo lường SDI và NPC S

Chi phí vốn kinh tế m X X

Vốn chủ sở hữu đầu kỳ E 0 X

Thay đổi ròng trợ cấp trực tiếp DG X X

Thay đổi ròng vốn trả trước PC X X

Tài khoản nợ công trung bình A X X

Lãi suất của khoản nợ công c X X

Thu nhập từ trợ cấp RG X X

Chiết khấu trên chi phí DX X X

Lợi nhuận kế toán P X X

Lợi nhuận thực TP X X

Thu nhập từ lãi vay trung bình LP X X

Lãi suất cho vay trung bình I X X

Vốn chủ sở hữu khi thành lập E 01 E 01 X

Vốn chủ sở hữu năm tính toán E t-1 X

(Nguồn: Yaron và Schreiner, 2001)

Trang 27

để DFI sử dụng nguồn vốn từ chính phủ (nợ công) Thứ hai là chi phí vốn kinh tế không đồngnhất với chi phí cơ hội của một khoản vay tư nhân.

Như vậy, đối với những DFI không hoàn toàn do chính phủ sở hữu, thì chi phí cơ hộicủa nguồn vốn chủ sở hữu sẽ khác với chi phí cơ hội của nguồn vốn vay của DFI Ngược lại, đốivới DFI 100% thuộc sở hữu chính phủ, được chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán thì chi phí

cơ hội của hai nguồn vốn này là như nhau

Yaron và Schreiner (2001) khẳng định việc chọn lựa (hay giả định) con số chi phí vốnkinh tế sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng kết quả tính toán chi phí xã hội của vốn của DFI, đặcbiệt đối với các chỉ số ngắn hạn như SDI, do vậy, các ông đã đưa ra 4 điểm chính cần ghi nhớ khiđưa ra lựa chọn (Xem Hộp 2.3)

Hộp 2.3 Lưu ý khi lựa chọn chi phí vốn kinh tế

Mục đích của việc lựa chọn chi phí vốn kinh tế đó là đo lường chi phí vốn, từ đó hỗ trợ việc

sử dụng nguồn tài trợ công tốt hơn.

Khi lựa chọn có 4 điểm cần chú ý:

- Con số phải có ý nghĩa, gần với chi phí cơ hội thực sự nhất

- Tất cả các nhà phân tích khu vực công nên sử dụng chung một chi phí vốn kinh tế bởi các

dự án công cạnh tranh để thu hút nguồn vốn công, và để so sánh giữa các dự án thì cần một chi phí vốn kinh tế chuẩn.

- Tỷ suất (chi phí vốn kinh tế) cao thì ưu tiên hơn t ỷ suất thấp, trong điều kiện tất cả các yếu

tố khác như nhau, điều này bảo vệ xã hội trước những đối tượng sử dụng tỷ suất chi phí vốn kinh tế thấp để kết luận sai nhằm hỗ trợ dự án “con cưng” của họ.

- Tỷ lệ được lựa chọn phải dựa trên những cơ sở có thể tin tưởng được Lựa chọn sai lầm về chi phí vốn kinh tế sẽ làm lạc hướng những phân tích đánh giá hơn bất cứ vấn đề nào khác.

(Theo Yaron và Schreiner 2001)

Trang 28

Cũng theo các nhà kinh tế này, chi phí vốn kinh tế danh nghĩa thường được lựa chọn từ 5khả năng Cụ thể là chi phí vốn kinh tế danh nghĩa bằng 0, bằng tỷ lệ lạm phát, bằng tỷ lệ lãi suấttiền gửi, bằng chi phí cơ hội của nguồn vốn tư nhân Một lựa chọn nữa là chi phí vốn kinh tế thựcbằng 10%, từ đó chi phí vốn kinh tế danh nghĩa bằng 10% cộng tỷ lệ lạm phát (Phụ lục 4).Trong các con số này, Yaron và Schreiner (2001) khuyến khích sử dụng chi phí vốn kinh tế thực

là 10% do nhiều ưu điểm như đây là con số thường được sử dụng nên dễ so sánh giữa các dự án

và các quốc gia, đồng thời gần với chi phí vốn thực, được Belli (1996) xây dựng có cơ sở

2.4 Các công trình nghiên cứu thực nghiệm sử dụng cùng một khung phân tích

2.4.1 Chi phí xã hội của vốn cho Ngân hàng Phát triển tại Cộng hòa Kiribati

Sử dụng mô hình lý thuyết của Yaron và Schreiner, Sharma và Timiti (2004) đã đo lườngchỉ số SDI và NPCScho Ngân hàng phát triển Kiribati của Cộng hòa Kiribati, một trong các quốcđảo nhỏ trên biển Thái Bình Dương Kiribati là một quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế nhỏ

và yếu Để thúc đẩy phát triển kinh tế, Ngân hàng Phát triển Kiribati đã được chính phủ xây dựng

và cung cấp các khoản vay hỗ trợ kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế và ổn định xã hội

Sharma (2004) sử dụng công thức đã trình bày ở trên để tính SDI và NPCS.Trong đó, đốivới chỉ số quan trọng và khó ước lượng là chi phí vốn kinh tế, Sharma đã sử dụng chi phí vốnkinh tế theo giá thực là 10%, theo đề xuất của Belli (1996) Ngoài ra, Sharma giả định khoản mụcchiết khấu trên chi phí (DX) là bằng 0, do gặp khó khăn khi đo lường khoản mục này

Bảng 2.1 SDI và NPC S của Ngân hàng phát triển Kiribati

Trang 29

2.4.2 Chỉ số phụ thuộc trợ cấp của Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác nông nghiệp Thái Lan

Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác nông nghiệp Thái Lan (BAAC) là một tổ chức tài chínhphát triển của chính phủ với mục đích phát triển nông nghiệp và nông thôn, mục tiêu trở thànhngân hàng nông nghiệp hàng đầu Châu Á Townsend và Yaron (2001) đã sử dụng khung phântích tính chỉ số SDI đã giới thiệu để đánh giá hiệu quả hoạt động của BAAC

Nghiên cứu áp dụng công thức đã giới thiệu, sử dụng số liệu từ báo cáo tài chính củaBAAC Đặc biệt, nghiên cứu ước lượng chi phí vốn kinh tế bằng lãi suất đi vay trong trường hợpmất hỗ trợ từ chính phủ, tính bằng lãi suất tiền gửi trên thị trường điều chỉnh với tỷ lệ dự trữ tốithiểu và chi phí quản lý, cùng với tiền huy động được và tiền gửi bổ sung

Đồng thời lợi nhuận P được tính bằng lợi nhuận trước thuế hàng năm, điều chỉnh cho cáckhoản nợ khó đòi, lạm phát…

Theo kết quả nghiên cứu, trong giai đoạn 1985-1995, chỉ số SDI của BAAC dao động trongmột khoảng an toàn ở mức từ 10% đến 55% Như vậy, BAAC không thể hiện xu hướng độc lậptài chính, song đây là bằng chứng cho thấy BAAC đã có chỉ số SDI thấp hơn hầu hết các tổ chứctín dụng nông nghiệp chính phủ khác Với việc hạn chế sử dụng trợ cấp, dù là một ngân hàng củachính phủ, BAAC đã không bị sụp đổ như các ngân hàng tương tự ở Mỹ Latinh do các áp lựcchính trị

Nghiên cứu cũng phát hiện chỉ số SDI tăng, giảm theo xu hướng tăng giảm của lạm phát(Phụ lục 7) Điều này là do khi SDI phải chịu lãi suất đi vay tăng do ảnh hưởng của lạm phát,song không thể điều chỉnh tỉ lệ lãi suất cho vay tăng phù hợp, chủ yếu do áp lực chính trị yêu cầugiữ mức lãi suất danh nghĩa không đ ổi cho những khoản nợ nông nghiệp

Trang 30

CHƯƠNG 3 ĐO LƯỜNG CHI PHÍ XÃ HỘI CỦA VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT

TRIỂN VIỆT NAM

Những kết quả tính toán trong chương này có nguồn từ tính toán của tác giả, sử dụng số liệuBáo cáo tài chính của NHPT và một số giả định khác

3.1 Giới thiệu tổng quan về Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) được Chính phủ thành lập năm 2006 (Thủ tướngChính phủ, 2006), với chức năng, nhiệm vụ huy động vốn trung và dài hạn, tiếp nhận và quản lýcác nguồn vốn của Nhà nước để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu củaNhà nước Ngoài ra, NHPT còn được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ làm chủ đầu tư xâydựng tuyến đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, thực hiện bảo lãnh cho các doanh nghiệp vayvốn ngân hàng thương mại

Hệ thống NHPT chính thức đi vào hoạt động trên phạm vi cả nước từ ngày 01/7/2006 theoĐiều lệ tổ chức và hoạt động được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số110/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 Bộ máy của NHPT được tổ chức thành hệ thống từ Trungương đến các tỉnh, thành phố Hoạt động của NHPT tập trung hỗ trợ vào các ngành, lĩnh vực,chương trình kinh tế lớn của đất nước và các vùng, miền khó khăn cần khuyến khích đầu tư.Như hình minh họa 3.1, trong nền kinh tế, NHPT đóng vai trò một ngân hàng chính sách,trong đó nhận những khoản tài trợ từ Chính phủ để cho vay vốn ưu đãi đ ối với một số dựán/khách hàng mục tiêu và ưu tiên trong nền kinh tế Cơ sở lựa chọn khách hàng của NHPT dựavào danh mục do Chính phủ quyết định, trong đó ưu tiên những ngành kinh tế trọng điểm nhưcông nghiệp năng lượng, cơ sở hạ tầng, công nghiệp phụ trợ, địa bàn khó khăn, chương trình kinh

tế của Chính phủ, các dự án/hợp đồng xuất khẩu sản phẩm ưu tiên (sản phẩm có lợi thế cạnhtranh hoặc khuyến khích xuất khẩu)

Phụ lục 8 mô tả cụ thể về nhiệm vụ, chức năng, mô hình quản lý hiện nay của NHPT, đồngthời giới thiệu sơ lược về chính sách của Nhà nước đối với các nghiệp vụ chính của NHPT nhưTín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, quản lý vốn nước ngoài, bảo lãnh, huy động vốn,… tronggiai đoạn 2006-2011

Trang 31

Hình 3.1 Mô tả nguồn vốn và tài sản nghiệp vụ của NHPT

Như vậy trên thực tế, NHPT vẫn là một tổ chức tài chính phát triển, mà chưa trở thành mộtNgân hàng Phát triển, tuy nhiên đang hướng tới trở thành một Ngân hàng Phát triển hiệu quả và

Tín dụng xuất khẩu (chủ yếu là ngắn hạn)

Cho vay từ nguồn

ủy thác (ODA…)

Nghiệp vụ khác (Bảo lãnh,…) Tín dụng đầu tư (trung, dài hạn)

Trang 32

bền vững (Thủ tướng Chính phủ, 2013) Thực tế này ảnh hưởng tới những nhận xét, đo lường vàđánh giá về hiệu quả hoạt động, cụ thể trong trường hợp này là chi phí xã hội của vốn của NHPT.

3.2.1 Những hình thức trợ cấp của Chính phủ cho NHPT

3.2.1.1 Vốn chủ sở hữu được hỗ trợ

Yaron đưa ba khoản mục trợ cấp xếp vào danh mục vốn chủ sở hữu được hỗ trợ (EG), đó làkhoản mục trợ cấp trực tiếp bằng tiền (DG), khoản mục vốn trả trước (PC) và lợi nhuận thực(TP)

Theo định nghĩa của Yaron, trợ cấp trực tiếp bằng tiền mặt là khoản mục (bằng tiền haybằng hiện vật) được Chính phủ (hay nhà tài trợ) trao trực tiếp cho DFI khi thành lập hoặc trongquá trình hoạt động, mà không coi là một

thu nhập, không tính vào phần lợi nhuận

kế toán của DFI Trong khi đó, vốn trả

trước là tỷ lệ cổ phần mà Chính phủ (hay

nhà tài trợ) sở hữu của DFI

Trong trường hợp của NHPT, do

NHPT là một ngân hàng 100% vốn nhà

nước, do vậy tác giả sử dụng khoản mục

vốn chủ sở hữu (gồm vốn điều lệ, quỹ

của NHPT và lợi nhuận chưa phân phối)

cho khoản mục vốn trả trước Đối với

khoản mục trợ cấp trực tiếp bằng tiền, do

Trang 33

3.2.1.2 Nợ công

Khoản mục Nợ công được tính bằng tổng các khoản mục NHPT đi vay Chính phủ, gồm cócác khoản vay Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng khác, và các khoản huyđộng từ phát hành giấy tờ có giá (chủ yếu là Trái phiếu Chính phủ và Trái phiếu do Chính phủbảo lãnh) Khoản mục nợ công loại trừ khoản mục Nợ phải thu do các khoản nợ này thườngkhông phải trả lãi

Về khoản mục vốn ủy thác (chủ yếu là nguồn ODA cho vay lại), trong Báo cáo Tài chính,NHPT hạch toán vào phần Tài sản hoạt động nghiệp vụ (Tài sản) và Vốn ủy thác (Nguồn vốn),tuy nhiên theo hướng dẫn của NHNN (Phụ lục 9) thì khoản mục này phải hạch toán vào Mục Tàisản khác (Các khoản phải thu) và Mục Nợ phải trả (Các khoản phải trả khác) Do không phải trảlãi huy động, khoản mục này không được tính vào Nợ công của NHPT

3.2.1.3 Chiết khấu trên chi phí

Chiết khấu trên chi phí (DX) là khoản mục gồm các chi phí được chính phủ hỗ trợ mà DFIkhông tính vào chi phí của tổ chức, như hỗ trợ kỹ thuật, bảo lãnh thanh toán, bảo hiểm tiền gửimiễn phí, chi phí quản lý của cơ quan chủ quản (Bộ Tài chính là cơ quan chủ quản của NHPT),các chi phí khác (phí học tập, chuyên gia tư vấn, phí đi lại cho nhân viên…)

Khoản mục này trong nghiên cứu này được giả định bằng 0 vì nhiều nguyên nhân Nguyênnhân chủ yếu là do số liệu về các phương thức hỗ trợ không chính thức cho NHPT là rất khó thuthập Nghiên cứu không thể lượng hóa giá trị của các cam kết hỗ trợ từ Chính phủ như bảo lãnhthanh toán (Thủ tướng Chính phủ, 2006) NHPT được hỗ trợ không chính thức từ Chính phủ, tuynhiên NHPT cũng phải thực hiện các yêu cầu không chính thức khác từ Chính phủ Khoản mụcchi phí này cũng không có số liệu thực tế Những chi phí bất thành văn này chủ yếu do ảnhhưởng từ thể chế nên không thể lượng hóa Với giả định khoản mục chiết khấu trên chi phí DXbằng 0, nghiên cứu sẽ tồn tại hạn chế Kết quả tính toán do đó chưa thực sự đúng với thực tế, cònđánh giá thấp mức trợ cấp NHPT nhận được Tuy nhiên, đây là hạn chế phổ biến thường gặp khiđánh giá hiệu quả hoạt động của một tổ chức có vốn nhà nước tại Việt Nam Một số nghiên cứu

đo lường SDI khác cũng bỏ qua khoản mục này, như nghiên cứu của Sharma (2004)

Trang 34

3.2.1.4 Thu nhập từ trợ cấp

Đây là khoản trợ cấp trực tiếp của Chính

phủ cho DFI trong kỳ, được tính làm thu nhập

chính thức trong Báo cáo tài chính để tính lợi

nhuận kế toán

Thu nhập từ trợ cấp của NHPT được lấy

từ con số cấp bù chênh lệch lãi suất và phí

quản lý hàng năm Đây là số thực nhận, trên

thực tế, số trợ cấp NHPT đề xuất thường cao hơn con số này và được hỗ trợ muộn từ nửa nămđến 1 năm với năm tính toán và đề xuất

Sau khi điều chỉnh theo chỉ số lạm phát (Tổng cục thống kê, 2005-2011) thì chi phí vốnkinh tế danh nghĩa (m) được tính bằng công thức m = m’*(1+π) +π

Trong đó m’ là chi phí vốn kinh tế thực, π là tỷ lệ lạm phát

3.2.3 Lãi suất trung bình

Lãi suất trung bình cho các khoản nợ NHPT đi vay được xác định bằng chi phí trả lãi vaychia cho Nợ công trung bình trong kỳ Tương tự, lãi suất trung bình cho phần tài sản nghiệp vụcho vay của NHPT được tính bằng thu nhập từ lãi vay chia cho tổng khoản tín dụng NHPT chovay trung bình trong kỳ

Hộp 3.2 Thời gian nhận cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý của NHPT

Theo Báo cáo số liệu cấp bù chênh lệch lãi suất của NHPT gửi Bộ Tài chính tháng 2/2013 thì năm 2012 Ngân sách Nhà nước chưa cấp bù đủ cho NHPT các khoản phát sinh trong các năm 2010 và 2011.

Trang 35

Do hệ thống thông tin số liệu của NHPT không chi tiết từng khoản mục, do vậy tác giả sửdụng các số liệu này để tính lãi suất trung bình trong năm của NHPT, theo đề xuất của Schreiner

và Yaron (2001)

3.3 Phân tích các thông số đầu vào

Để tính toán các chỉ số chi phí xã hội của vốn cho NHPT, tác giả tính toán các thông số đầuvào theo Bảng 2.1

Các thông số này được lấy từ Báo cáo tài chính của NHPT trong giai đoạn 2004-2011,ngoại trừ chi phí vốn kinh tế Báo cáo tài chính này được NHPT công bố tại Báo cáo thường niên.Phụ lục số 11 trình bày chế độ kế toán và hai Báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán và Báo cáokết quả hoạt động) của NHPT

Do đặc thù cần tính toán số liệu lãi suất hòa đồng đầu v ào và lãi suất hòa đồng đầu ra đểtính cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý, Chế độ kế toán của NHPT do Bộ Tài chính banhành có điểm đặc thù NHPT kết hợp song song hai phương pháp kế toán dồn tích và kế toándòng tiền, trong đó kế toán dòng tiền chỉ được dùng

để hạch toán các khoản thu lãi từ khoản cho vay và

chi trả lãi cho các nguồn huy động

3.3.1 Chi phí vốn kinh tế

Theo khung lý thuyết, Chi phí vốn kinh tế là

con số quan trọng và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến

kết quả đo lường khoản mục trợ cấp của Chính phủ

cho NHPT từ đó ảnh hưởng đến chất lượng đo

lường chi phí xã hội của vốn của NHPT

Tác giả đã sử dụng 4 mức chi phí vốn kinh tế

thường dùng (theo Yaron và Schreiner 2001) để thử

đo lường việc áp dụng các chi phí vốn kinh tế khác

Hộp 3.3 Các kịch bản chi phí

vốn kinh tế danh nghĩa tác giả sử dụng

Kịch bản 1 m=0%

Kịch bản 2 m= tỷ lệ lạm phát Kịch bản 3 m=lãi suất tiền gửi (tác giả tính bằng 150% lãi suất cơ bản của NHNN giai đoạn 2006-2011).

Kịch bản 4 m= 10%+tỷ lệ lạm phát (Theo đề xuất của Belli (1996)).

Kịch bản 5 m=7%+tỷ lệ lạm phát (được sử dụng trong nghiên cứu này).

Trang 36

nhau sẽ tác động đến SDI như thế nào Kịch bản thứ 5 sử dụng chi phí vốn kinh tế bằng 7% cộngvới tỉ lệ lạm phát (được tác giả sử dụng trong nghiên cứu).

Kết quả tính toán được trình bày cụ thể tại Phụ lục số 12

Kết quả tính toán cho thấy, sự lựa chọn chi phí vốn kinh tế có ảnh hưởng lớn đến kết quả

đo lường SDI trong ngắn hạn SDI trong kịch bản 3 giảm dần do ở đây chi phí vốn kinh tế đượctính bằng lãi suất tiền gửi danh nghĩa trên thực tế mà không phụ thuộc vào chỉ số lạm phát

Hình 3.2 Chỉ số SDI theo các kịch bản chi phí vốn kinh tế

Hình 3.3 Chỉ số SDI dài hạn theo các kịch bản chi phí vốn kinh tế

Trang 37

Như vậy, chỉ số lạm phát có ảnh hưởng lớn đến chỉ số SDI thông qua chi phí vốn kinh tếtrong trường hợp chi phí này có tính tới lạm phát.

Chi phí vốn kinh tế ảnh hưởng lớn đến độ lớn của các khoản trợ cấp, từ đó ảnh hưởng tớikết quả tính chỉ số SDI trong ngắn hạn và dài hạn Đồng thời, xu hướng tăng - giảm của chỉ số bịảnh hưởng bởi lạm phát trong trường hợp chi phí vốn kinh tế có tính tới lạm phát

3.3.2 Vốn chủ sở hữu

Khoản mục Vốn chủ sở hữu trung bình trong kỳ của NHPT tăng qua các năm, tuy nhiênmức tăng này không đều

Hình 3.4 Biến động của vốn chủ sở hữu trung bình

Trong giai đoạn 2006-2008, vốn chủ sở hữu của NHPT chỉ tăng tương ứng là 1,67%, 4,46%

và 9,54%, thể hiện trong giai đoạn đầu NHPT đang trong quá trình tổ chức bộ máy và chưa đượcNhà nước tăng mức hỗ trợ về vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, trong hai năm 2008-2009, cùng với xuhướng tăng vốn mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại, NHPT cũng được Chính phủ hỗ trợtăng vốn lớn, với mức tăng của hai năm 2009-2010 lên tới hơn 40% Đến năm 2011, tỷ lệ tăngvốn chủ sở hữu của NHPT giảm mạnh xuống mức 6,44% thể hiện xu hướng tăng vốn đã kết thúc

và hệ lụy của việc tăng vốn quá nhanh đang bắt đầu xuất hiện

Trang 38

3.3.3 Nợ công trung bình

Khoản mục nợ công giảm mạnh (hơn 23%) trong năm 2006 là năm chuyển giao giữa Quỹ

Hỗ trợ Phát triển và NHPT, trong đó NHPT thay đổi hình thức huy động vốn từ trợ cấp hoàn toàntrước kia sang phát hành trái phiếu Chính phủ

Hình 3.5 Biến động của nợ công trung bình

Đến giai đoạn 2007-2008 là giai đoạn NHPT tăng trưởng mạnh về cho vay, NHPT tăng huyđộng vốn để đảm bảo tăng trưởng tín dụng là nguyên nhân chính khiến số nợ công tăng tới 30%(2007) và hơn 40% (2008) Giai đoạn 2009-2011 NHPT tăng trưởng chậm lại do khó khăn kinh

tế, kết quả là nợ công của NHPT chỉ tăng dưới 20% trong giai đoạn này (thậm chí xuống 8% vàonăm 2010)

3.3.4 Tín dụng cho vay ròng

Năm 2006 là năm chuyển giao, trong đó NHPT cơ cấu lại các khoản cho vay và giảm một

số hình thức cho vay (tín dụng xuất khẩu dài hạn) Đến giai đoạn 2008-2009, Khoản mục tíndụng cho vay ròng của NHPT tăng trưởng mạnh, tới gần 30% vào năm 2008 và hơn 25% vàonăm 2009

Trang 39

Hình 3.6 Biến động của khoản mục tín dụng cho vay ròng

3.3.5 Thu nhập từ trợ cấp

Thu nhập từ trợ cấp là khoản mục biến động thất thường nhất Năm 2007 và năm 2010NHPT nhận được số trợ cấp giảm tương ứng là 37% và 28% Đây là do các năm này thị trườngvốn ổn định với lãi suất ít biến động, lạm phát thấp

Hình 3.7 Biến động trong thu nhập từ trợ cấp

Đối với năm 2008, năm khủng hoảng kinh tế với lạm phát lên cao, NHPT đã đư ợc nhậnmức trợ cấp tăng 84% so với năm 2007, chủ yếu là do phải huy động vốn với lãi suất cao songvẫn giữ mức lãi suất cho vay ở mức thấp Tương tự, năm 2009 và 2011 là các năm NHPT được

Trang 40

nhận mức trợ cấp tăng xấp xỉ 60% so với năm trước Đặc biệt năm 2009 nhận trợ cấp cao hơn60% so với năm 2008 là do độ trễ trả lãi của các khoản vay của NHPT thường là 1 năm (Thờigian trả khoản lãi huy động đầu tiên trong giai đoạn lãi suất tăng mạnh).

3.3.6 Lợi nhuận kế toán

Lợi nhuận kế toán của NHPT giảm mạnh trong các năm 2007, 2009, 2010 song lại tăng tớihơn 470% vào năm 2008

Hình 3.8 Biến động trong lợi nhuận kế toán

Khoản mục này tăng mạnh vào năm 2008 vì khoản thu lãi cho vay tín dụng xuất khẩu ngắnhạn và khoản thu lãi cho vay khác tăng, theo Báo cáo tài chính NHPT Nguyên nhân là do lãi suấttín dụng xuất khẩu điều chỉnh nhanh do đây là khoản vay ngắn hạn, còn lãi suất tín dụng đầu tưkhông tăng nhiều do tín dụng đầu tư là nghiệp vụ cho vay trung dài hạn, với lãi suất duy trì cốđịnh trong suốt thời gian dự án từ khi giải ngân Biến động lãi suất làm cho thu nhập từ lãi vaycủa NHPT tăng và lợi nhuận kế toán tăng tương ứng Một phần nguyên nhân là do chi phí trả lãichưa tăng ngay, do độ trễ trả lãi vay của NHPT thường là một năm Đây cũng là lý do lợi nhuận

kế toán năm 2009 và 2010 của NHPT giảm hơn 25%/năm

2006 2007 2008 2009 2010 2011

Ngày đăng: 26/06/2021, 15:56

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w