CPI: Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng DANH MỤC BẢNG Bảng 4.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị Bảng 4.2: Lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình Bảng 4.3: Hệ số truyền dẫn tỷ giá hố
Trang 1- -
B I TH THU NG
DIỄN BIẾN CỦ TRUYỀN DẪN
TỶ GIÁ TẠI VIỆT N M:
ĐÁNH GIÁ BẰNG PHƯƠNG PHÁP VARs
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp.HCM
-oOo -
B I TH THU NG
DIỄN BIẾN CỦ TRUYỀN DẪN
TỶ GIÁ TẠI VIỆT N M:
ĐÁNH GIÁ BẰNG PHƯƠNG PHÁP V Rs
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHO HỌC:
TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 3Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
từ thầy cô và bạn bè Đầu tiên, tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến thầy Quốc Bảo, người đã rất tận tình góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình hướng dẫn tôi làm luận văn
Tôi cũng hết sức biết ơn các bạn học cùng lớp Tài chính doanh nghiệp Đêm 3 Khóa 19 Sau Đại học : Trương Huệ Nam, Phan Thành Hưng, Nguyễn Thị Linh, Thùy Anh; Nguyễn Hữu Tuấn - học viên cao học Khóa 17; em Nguyễn Anh Khoa - Super-Moderator at Master of Economics Forum, em Phú Khánh sinh viên đại học Khóa 35, cô Trần Thị Tuấn Anh- giảng viên khoa Toán Thống kê,… những người đã động viên , cung cấp một số tài liệu bổ ích giúp tôi hoàn thành luận văn Tôi đặc biệt cảm ơn cô Tuấn Anh, em Khánh, Nguyễn Hữu Tuấn, đã hết sức nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình hiểu về mô hình VARs và phần mềm thống kê Eview trong một khoảng thời gian hạn hẹp để hoàn thiện cho luận văn
Cuối cùng, cho tôi xin gởi lời cảm ơn đến tất cả các quý thầy cô đã tận tình truyền đạt những kiến thức nền tảng trong hai năm tôi theo học cao học Nhân đây tôi cũng có dịp bày tỏ lòng biết ơn của mình đến những người thân trong gia đình, những người đã dành những điều kiện tốt nhất giúp cho tôi có thể hoàn thành luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013
Bùi Thị Thu Nga
Trang 4Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ
từ Thầy Nguyễn Khắc Quốc Bảo Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, và đều có chú thích nguồn gốc sau mỗi trích dẫn để dễ tra cứu, kiểm chứng
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013
Bùi Thị Thu Nga
Trang 5CPI: Consumer Price Index (Chỉ số giá tiêu dùng)
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị
Bảng 4.2: Lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình
Bảng 4.3: Hệ số truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến các biến PRICE_OIL, IMP, CPI, REAL_IMPORT từ cú sốc NEER 1%
Bảng 4.4: Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi của IMP:
Bảng 4.5: Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi của CPI
Bảng 4.6: Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi của REAL_IMPORT
Trang 6Hình 4.6 Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi của REAL_IMPORT
MỤC LỤC
PHẦN 1 8
Trang 71.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 8
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 9
1.4 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU: 9
PHẦN 2 THẢO LUẬN VỀ KHUNG LÝ THUYẾT 11
CỦA TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 11
2.1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN : 12
2.1.1 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa nhập khẩu 12
2.1.2 Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI): 12
2.2 BẲNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 13
2.2.1 Bằng chứng thực nghiệm về mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái trên thế giới: 13
2.2.2 Bằng chứng thực nghiệm về mức độ truyền dẫn của tỷ giá ở Việt Nam: 17 PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG: 19
3.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU: 23
3.3 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN: 26
PHẦN 4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ 27
CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ: 27
4.2 ĐỘ TRỄ CHO MÔ HÌNH VAR: 28
4.3 HÀM PHẢN ỨNG XUNG (IMPULSE RESPONSE) 29
4.4 PHÂN RÃ PHƯƠNG SAI (VARIANCE DECOMPOSITION) 35
PHẦN 5 43
KẾT LUẬN 43
5.1 CÁC KẾT LUẬN CỦA LUẬN VĂN 43
5.2 CÁC HẠN CHẾ CỦA LUẬN VĂN: 44
5.3 ĐỀ XUẤT NGHIÊN CỨU TIẾP THEO: 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 8PHỤ LỤC 2 : 53 Phản ứng xung của DPRICE_OIL, DNEER, IMP, DCPI do tác động của 1 độ lệch chuẩn cú sốc tỷ giá hối đoái: 53
Trang 9TÓM TẮT
Bài nghiên cứu đo lường mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái bằng việc xem xét lại sự phát triển theo thời gian ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái tại Việt Nam lên mặt bằng giá cả thông qua giá cả nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng trong nước Bằng cách
sử dụng phương pháp VAR (tự hồi quy vec tơ vector autoregression) , nghiên cứu này cho thấy tỷ giá truyền dẫn theo dòng thời gian đã thay đổi ra sao và bao nhiêu ? Thời kỳ mẩu là Tháng 01 năm 2001 đến Tháng 12 năm 2010
Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá nhập khẩu là -0.8502 sau 6 tháng kể từ tác động của cú sốc tỷ giá đầu tiên
Tương tự, tỷ lệ truyền dẫn lên giá tiêu dùng trong nước CPI có xu hướng tăng đều và đến kỳ thứ 11 , sau tháng thứ 11 thì giảm dần đến tháng thứ 24 Hệ số truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá tiêu dùng trong nước CPI là 0.6726 sau 11 tháng kể
từ tác động của cú sốc tỷ giá đầu tiên, như vậy hệ số truyền dẫn vào giá tiêu dùng thì chậm hơn so với giá nhập khẩu 1 tháng và độ lớn cũng thấp hơn
Các con số ước lượng này, mong rằng sẽ có đóng góp nhỏ trong công tác hoạch định chính sách vĩ mô khi công cụ tỷ giá hối đoái được sử dụng hiệu quả
Trang 10PHẦN 1 GIỚI THIỆU
1.1 GIỚI THIỆU:
Bài viết này xem xét lại sự phát triển theo chuỗi thời gian của biến động tỷ giá vào mặt bằng giá cả thông qua giá nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam trong ngắn hạn
Trong bài này, một tỷ lệ truyền dẫn được định nghĩa là một sự tương ứng tỷ
lệ phần trăm của giá hàng hóa trên thị trường đích - thị trường sau cùng (tức là, nơi
nó được mua) đối với sự thay đổi tỷ lệ phần trăm trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Nó cũng được ghi nhận trong các bài nghiên cứu là mức độ của truyền dẫn
có thể có một kết quả quan trọng lên ảnh hưởng của tiền tệ cũng như chính sách tỷ giá hối đoái
Người ta lưu ý rằng, để có một cuộc thảo luận hữu ích về một cuộc cải cách của chế độ tỷ giá hối đoái , đầu tiên chúng ta phải có một đánh giá định lượng đáng tin cậy về mức độ truyền dẫn tỷ giá
Trong những năm gần đây , một số nghiên cứu chỉ ra rằng có một sự suy giảm trong truyền dẫn tỷ giá hối đoái , đặc biệt là lên giá cả nhập khẩu , trong khi những người khác đã bác bỏ khả năng này, và cuộc tranh luận đã bắt gặp nhiều sự chú ý từ các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà nghiên cứu Đặc điểm chính đầu tiên của nghiên cứu này là nó sử dụng các phương pháp VAR tham số thời gian khác nhau làm thế nào truyền dẫn tỷ giá tại Việt Nam đã phát triển theo thời gian
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Bài viết đề cập đến cơ chế truyền dẫn tỷ giá đến mặt bằng giá cả trong ngắn hạn và các nhân tố vi mô, vĩ mô tác động đến mức truyền dẫn tỷ giá lên giá nhập khẩu , chỉ số giá tiêu dùng dựa trên cơ sở lý luận từ tổng hợp kết quả các bài nghiên
cứu trước đây
Nội dung nghiên cứu chính nhằm giải quyết vấn đề sau:
Trang 11 Đo lường mức độ truyền dẫn TGHĐ trong ngắn hạn vào mặt bằng giá
cả tại Việt Nam thông qua giá nhập khẩu và giá cà tiêu dùng
Đo lường hiệu ứng cú sốc kinh tế vĩ mô lên hiệu ứng truyền dẫn TGHĐ
Qua phân tích định lượng, tác giả mong có một cái nhìn về việc đóng góp
từ số liệu đến vấn đề hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, bởi lẽ ước lượng được thời gian và độ lớn của mức truyền dẫn tỷ giá vào giá cả sẽ giúp đưa ra những quyết định cân nhắc hơn khi sử dụng công cụ tỷ giá của chính sách tiền tệ nhằm đảm bảo mục tiêu chung hướng đến bình ổn giá cả, ổn định kinh tế vĩ mô theo hoạch định kinh tế của nhà nước
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Bài làm sử dụng các phương pháp phân tích định tính, kết hợp với so sánh, tổng hợp, đối chiếu các kết quả nghiên cứu về mức truyền dẫn tỷ giá đến giá cả nhập khẩu, giá tiêu dùng trong nước ; bên cạnh đó có sử dụng phân tích định lượng nhằm đo lường hệ số truyền dẫn qua mô hình Tự hồi quy vecto - Vector autoregression model (VAR) phân rã phương sai của mô hình này
Các bước kiểm định, thực hiện ước lượng của mô hình này sử dụng phần mềm định lượng thống kê Eview
1.4 KẾT CẤU CỦ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
Kết cấu của bài phân tích được tổ chức như sau:
-Phần đầu tiên giới thiệu về vấn đề nghiên cứu
-Phần 2 thảo luận về khung lý thuyết của truyền dẫn tỷ giá hối đoái
-Phần 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, lựa chọn mô hình, trình bày về
mô hình VAR cùng những ưu và nhược điểm, giải thích các biến và nguồn dữ liệu
dùng trong mô hình
-Trong phần 4, trình bày kết quả đo lường được từ mô hình thực nghiệm: Kiểm tra sự phát triển của truyền dẫn tỷ giá lên giá cả nhập khẩu, giá tiêu dùng trong nước trong ngắn hạn
Đo lường hiệu ứng cú sốc kinh tế vĩ mô lên hiệu ứng truyền dẫn TGHĐ
Trang 12-Phần 5 là kết luận của bài nghiên cứu về các kết quả đạt được, hạn chế của bài làm đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 13PHẦN 2 THẢO LUẬN VỀ KHUNG LÝ THUYẾT
CỦ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Tầm ảnh hưởng của truyền dẫn tỷ giá tác động đến cách thức nền kinh tế quốc nội phản ứng với những biến động trong tỷ giá
Từ khía cạnh nhập khẩu, khi đồng nội tệ bị đánh giá cao, nếu mức độ được phản ánh trong giá nguyên vật liệu thô nhập khẩu, thì sản phẩm trung gian được nhập khẩu và hàng hóa trong nước được làm từ những nguyên liệu thô nhập khẩu với giá thấp (tức là tỷ giá truyền dẫn thấp), sẽ gây ra ít áp lực giảm phát hơn cho nền kinh tế trong nước
Mặt khác, các hộ gia đình và công ty trong nước sẽ không thể nhận được lợi ích nào từ giá thấp hơn của hàng hóa họ mua Điều này ám chỉ rằng sự gia tăng trong
số lượng hàng nhập khẩu sẽ bị giới hạn
Từ khía cạnh xuất khẩu, nếu các công ty xuất khẩu không thể truyền dẫn mức ảnh hưởng cùa một đồng nội tệ mạnh đến giá cả hàng hóa nhập khẩu, khi đo lường với một đơn vị tiền tề nước ngoài (tức là tỷ giá truyền dẫn về phía xuất khẩu thấp), thì lợi nhuận trên một đơn vị hảng hóa xuất khẩu khi đo lường bằng đồng nội tệ cũng sẽ thấp hơn Trong khi đó một tranh luận cho rằng có một sự liên kết chặt giữa các đơn vị tiền
tệ, thông qua việc gây ra sự đánh giá cao một đồng tiền, giá cả trong nước thấp hơn, làm tệ hơn tài khoản vãng lai thông qua kích thích hàng nhập khẩu và không kích thích hàng hóa xuất khẩu Vì vậy, các ảnh hưởng xấu trên các sản phẩm đầu ra sẽ yếu trong trường hợp tỷ giá truyền dẫn bị giới hạn
Mặc dù tầm quan trọng của truyền dẫn từ lâu đã được công nhận , những phát triển gần đây trong nghiên cứu học thuật của trường phái Keaynes mới với các
mô hình kinh tế vĩ mô mở ( hoặc " Các học thuyết mới về Kinh tế vĩ mô của nền kinh tế mở " ) đã đổi mới sự quan tâm của các chuyên gia trong chủ đề này
Không giống như các mô hình " Chu kỳ kinh doanh thực toàn cầu " mà đã được phát triển trước đó , loại hình mô hình này được đặc trưng bởi mức giá danh
Trang 14nghĩa cố định cứng nhắc Hậu quả là , tác động của các mô hình có thể thay đổi đáng kể tùy thuộc vào các giả định cơ bản về truyển dẫn tỷ giá hối đoái Đáng chú
ý nhất , tác động ban đầu trên tác động chính sách có thể bị ảnh hưởng, phân tích lợi ích như vậy đã trở thành khả thi, chính xác bởi vì loại mô hình này bắt đầu với nền tảng vi mô vững chắc , trong đó bao gồm tận dụng hàm hữu dụng theo từng hộ gia đình
2.1 TỔNG QU N LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN CỦ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN :
2.1.1 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa nhập khẩu
_Luật một giá (LOP):
Theo Luật một giá (LOP), các hàng hóa giống nhau được bán cùng một mức giá ở các quốc gia khác nhau khi tính chung một đồng tiền
Gọi P là giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia A
P* đại diện cho giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia B
E là tỷ giá hối đoái của đồng tiền của quốc gia A so với đồng tiền của quốc gia B
Nếu luật một giá là đúng với hàng hóa i thì giá của hàng hóa i là:
Pi = E (1)
Nếu LOP đúng với tất cả các loại hàng hóa ở tất cả các quốc gia thì lý thuyết hiệu ứng ngang giá sức mua trong điều kiện tuyệt đối tồn tại và thể hiện như sau:
P = EP* (1’)
Với P và P* là mức giá ở hai quốc gia A và B
2.1.2 Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI):
Theo Bailliu và Bouakez (2004), cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng CPI gồm 02 bước:
Trang 15- Đầu tiên, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái sẽ được truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu, mức độ và tốc độ của truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu phụ thuộc vào các yếu tố: kỳ vọng về thời điểm phá giá, chi phí của việc điều chỉnh giá cả và nhu cầu hàng hóa nhập khẩu…
- Kế đến, sự thay đổi của chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng CPI Mức độ chỉ số giá tiêu dùng CPI bị ảnh hưởng thì phụ thuộc vào tỷ
lệ của các hàng hóa nhập khẩu này trong rổ hàng hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng CPI
Bên cạnh đó, mức độ truyền dẫn vào chỉ số giá tiêu dùng lại phụ thuộc vào các yếu tố: sự phá giá đồng nội tệ sẽ làm cho giá cả hàng hóa nhập khẩu cao, từ đó làm gia tăng nhu cầu hàng hóa nội địa
Điều này sẽ tạo sức ép tăng giá hàng hóa nội địa và tăng lương, nếu giá cả hàng hóa và lương tăng sẽ tiếp tục tạo sức ép lên chỉ số giá tiêu dùng trong nước
Sự ảnh hưởng của chỉ số giá nhập khẩu vào chỉ số giá tiêu dùng thể hiện qua 01 trong 02 cách sau, theo tác giả Bạch Thị Phương Thảo (2011)
_Khi hàng hóa nhập khẩu được dùng cho mục đích tiêu dùng cuối cùng, thì chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng
_Khi hàng hóa nhập khẩu là nguyên nhiên vật liệu được dùng cho quá trình sản xuất thì chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá sản xuất và thông qua
đó sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng
2.2 BẲNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN
CỦ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
2.2.1 Bằng chứng thực nghiệm về mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái trên thế giới:
nghiên cứu học thuật này , phát triển một mô hình hai quốc gia theo giả định của truyền dẫn tỷ giá hối đoái hoàn hảo Họ cho thấy rằng , trong mô hình của họ , chính sách nới lỏng tiền tệ của một quốc gia luôn luôn cải thiện lợi ích của các quốc
gia khác
Trang 16Đó là không có quốc gia nào nghèo với ủng hộ của các quốc gia giáng
giềng Mặt khác , Betts và Devereux (2000) phát triển một mô hình trong đó các
công ty xuất khẩu , trong ngắn hạn , ấn định giá mà họ tính phí trong thị trường đích trong các đơn vị tiền tệ của người mua Nói cách khác, họ cho rằng truyền dẫn tỷ giá hối đoái là zero trong thời gian ngắn hạn Kết quả cho thấy một sự mở rộng tiền
tệ có thể cải thiện tình trạng trên
Một lý do khác tại sao vấn đề truyền dẫn tỷ giá hối đoái đã thu hút nhiều sự chú ý trong nghiên cứu của lý thuyết kinh tế vĩ mô là, (tùy thuộc vào những gì người ta cho là nguyên nhân chính của sự sụt giảm truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo thời gian từ báo cáo của nhiều nhà quan sát), người ta có thể rút ra tác động rất khác nhau đến kinh tế vĩ mô
Ví dụ, Taylor (2000) lập luận rằng, trong một môi trường lạm phát thấp,
các doanh nghiệp trở nên do dự hơn đối với các thay đổi của truyền dẫn trong chi phí sản xuất đến giá hàng hóa mà họ cung cấp
Phỏng đoán của Taylor cung cấp một ý nghĩa quan trọng đối với những sự phát triển giá cả trong tương lai Miễn là sự lạm phát thấp, ổn định được duy trì, sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vẫn còn thấp và sự lạm phát tiếp tục duy trì ở cấp thấp và
ổn định Điều này tạo nên một vòng luân chuyển giữa sự phát triển của giá cả và hành vi định giá của doanh nghiệp.Trong trường hợp này, cam kết phát triển gía thấp và ổn định bởi ngân hàng trung ương được củng cố bởi lịch sử của nó Để khám phá sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát trong tương lai từ kinh tế vĩ
mô, những nghiên cứu gần đây đã không tập trung vào định giá xuất khẩu của các công ty, được phân tích mạnh mẽ cho đến đầu những năm 1990, mà tập trung vào giá nhập khẩu của các quốc gia để ước tính sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu của các quốc gia
thêm Họ đưa ra giả thuyết rằng có một sự thay đổi chế độ chính sách tiền tệ, và cho rằng quan điểm chính sách này đã trở nên ngày càng mang tính kháng cự lạm phát
Họ cho rằng sự thay đổi này có thể có gây ra sự sụt giảm trong truyền dẫn tỷ giá
Trang 17 Về phía các phân tích thực nghiệm , Campa và Goldberg (2005 ),
trong số những nhà phân tích khác, có mối quan tâm cao trong việc phân tích truyền dẫn tỷ giá
Các nghiên cứu thuộc về dòng nghiên cứu này thường lấy các giá cả trong nước ( hoặc giá xuất khẩu hoặc giá nhập khẩu ) làm biến phụ thuộc , và sử dụng tỷ giá hối đoái tốt nhất có thể là nhân tố tác động giá cả, và ước tính mô hình phương trình hồi quy đơn
Martin , Reeve và Rogers (2005) báo cáo rằng tỷ lệ truyền dẫn lên giá nhập khẩu
(ví dụ , tỷ lệ phần trăm tăng bao nhiêu khi giá nhập khẩu tăng tương ứng với tỷ lệ phần trăm sự mất giá trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa) đã giảm từ khoảng 0,5 trong những năm 1980 xuống còn khoảng 0,2
Ngược lại, Hellerstein , Daly và Marsh (2006 ) lập luận rằng việc
giảm này thấp hơn, đi xuống từ khoảng 0,56 đến xung quanh 0,51
(2006), sử dụng VAR phân tích những thay đổi của ảnh hưởng truyền dẫn tỷ giá hối
đoái trên giá trong nước ở các nước Đông Nam Á được xem xét sử dụng phân tích VAR bao gồm một số chỉ số giá cả và các biến kinh tế vĩ mô trong nước cũng như
tỷ giá hối đoái
Kết quả phân tích từ VAR cho thấy rằng (1) mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu là khá cao ở các nước khủng hoảng kinh tế (2) sự truyền dẫn đến chỉ số CPI nói chung là thấp, với một ngoại lệ đáng chú ý là Indonesia: và (3) ở Indonesia, cả hai phản ứng xung lực của sự biến đổi chính sách tiền tệ trước những cú sốc tỷ giá hối đoái và truyền dẫn đến CPI đối với các cú sốc chính sách tiền tệ là tích cực, lớn và có ý nghĩa thống kê Do đó, chính sách tiền tệ tích cực ở Indonesia cũng như mức độ cao sự đáp ứng chỉ số CPI với những thay đổi của tỷ giá hối đoái là yếu tố quan trọng dẫn đến những tác động leo thang của giá cả trong nước và sự sụt giảm đáng kể, rõ ràng của tỷ giá hối đoái trong nước trong giai đoạn hậu khủng hoảng
Trang 18 Một ví dụ trong một bài nghiên cứu trong đó sử dụng các dữ liệu của
Nhật Bản là Parsons và Sato (2008 ), các tác giả này sử dụng một bộ dữ liệu rất chi tiết về giá xuất khẩu của Nhật Bản Ngoài ra, Otani , Shiratsuka , và Shirota
(2003) phân tích sự phát triển lịch sử của truyền dẫn tỷ giá lên chỉ số giá cả nhập
khẩu
Ngoài ra, Otani , Shiratsuka , và Shirota (2006) xây dựng một chỉ số giá
nhập khầu, chỉ số này loại trừ ảnh hưởng của dầu thô và tất cả các sản phẩm đầu vào khác , và kiểm định lại sự sụt giảm trong truyền dẫn tỷ giá
Một cách tiếp cận thực nghiệm quan trọng khác là phương pháp ước tính của mô hình vector - tự hồi quy (sau đây gọi tắt VAR) , có tính đến sự phụ thuộc song phương có thể có giữa những biến giá cả và tỷ giá hối đoái Bài nghiên cứu gần đây này cũng thuộc về dòng nghiên cứu thứ hai của nghiên cứu thực nghiệm Trong phạm vi nghiên cứu học thuật này, bài nghiên cứu này có liên quan chặt chẽ
với Ito và Sato (2008), cũng đã sử dụng dữ liệu từ các nước châu Á để ước tính
VAR
Tương ứng với mối quan tâm cao trong cả nghiên cứu học thuyết và cả trong thực nghiệm trong các nghiên cứu khoa học, vấn đề truyền dẫn thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách từ sự khởi đầu của việc nới lỏng tiền tệ gần đây trong nước Mỹ
Như các Ban Đại diện Quỹ bắt đầu giảm lãi suất chính sách từ giữa năm
2007 , một số đưa ra một mối lo ngại rằng điều này có thể gây ra lạm phát trong nước Mỹ thông qua sự mất giá của đồng đôla Mỹ
Mối lo lắng này một phần dựa trên sự gia tăng cổ phiếu của cả xuất khẩu và nhập khẩu trong GDP của Hoa Kỳ Frederic S Mishkin , người đã từng là một thành viên Hội đồng quản trị của Ban Đại diện Quỹ tại thời điểm đó , phản biện vấn đề này trong bài phát biểu của mình có tiêu đề " truyền dẫn tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ " , vào ngày 07 Tháng Ba năm 2008 Ông chỉ ra rằng sự sụt giảm trong truyền dẫn tỷ giá sẽ làm suy yếu ảnh hưởng của biến động tỷ giá trên giá cả trong nước
Trang 19 Etsuro Shioji trước đó đã kiểm tra sự biến động về dữ liệu lịch sử của
truyền dẫn tỷ giá lên giá cả nhập khẩu tại Nhật Bản trong Shioji, Vu và Takeuchi (2007) Khi chúng tôi chia toàn bộ thời gian mẫu thành hai phần, khoảng thời gian nghiên cứu sau năm 1990 đã chứng kiến sự giảm đáng kể trong tỷ lệ truyền dẫn, so với thời kỳ trước năm 1990 Mặt khác, không có sự khác biệt rõ ràng giữa hai mẫu giai đoạn phụ khi xem xét trên khía cạnh xuất khẩu
với các kết quả trước đó , ví dụ , kiểm soát đối với các tác động của giá dầu, nhưng
kết quả về mặt định tính vẫn không có gì thay đổi Một vấn đề với phương pháp phân tích mẫu phụ VAR này là nó không thể biết tại thời điểm nào một sự thay đổi
cơ cấu bắt đầu và quy trình này diễn ra nhanh như thế nào
Để khắc phục hạn chế này, trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận TVP - VAR Phương pháp này cho phép các hệ số VAR ( hình thức giảm) thay đổi theo thời gian Ví dụ , điều này cho phép chúng tôi vẽ ra một đồ thị mô tả sự biến động của truyền dẫn tỷ giá từ tỷ giá hối đoái đến giá nhập khẩu Bằng cách kiểm tra số liệu, có thể biết khi nào tỷ lệ truyền dẫn bắt đầu giảm,
và liệu việc này xảy ra đột ngột trong một thời gian ngắn hoặc phải mất một thời gian dài Bài nghiên cưu này sử dụng phương pháp này và nghiên cứu quá trình biến động lịch sử của tỷ suất truyền dẫn , không chỉ đối với xuất khẩu và giá nhập khẩu mà còn đến giá trong nước Vấn đề của truyền dẫn tác động đến giá cả hàng hóa Nhật Bản đã được nghiên cứu bởi Shioji và Uchino (2009) sử dụng phương pháp VAR với việc chia mẫu, trong khi nghiên cứu này nhằm mục đích tiến hành một phân tích chi tiết hơn bằng cách sử dụng TVP -VAR
( Theo Shioji , một phương pháp ước lượng tham số thời gian khác nhau đã
được áp dụng cho các vấn đề truyền động tỷ giá hối đoái đầu tiên của Sekine (2006))
2.2.2 Bằng chứng thực nghiệm về mức độ truyền dẫn của tỷ giá ở Việt Nam:
Trang 20 Theo tác giả Võ Văn Minh (2009) đã đo lường tác động của tỷ giá
hối đoái truyền dẫn vào mặt bằng giá cả tại Việt Nam ,bằng việc sử dụng mô hình VARs, thông qua chỉ số giá nhập khẩu và tỷ lệ lạm phát trong nước
Kết quả nghiên cứu của tác giả Võ Văn Minh cho thấy mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái là 1.04 sau 6 tháng và 0.21 sau 12 tháng đối với chỉ số giá nhập khẩu
Và là con số âm sau 4 tháng , tích lũy sau 12 tháng là 0.13 (con số này là khá thấp
so với các nước trong khu vực) đối với chỉ số giá tiêu dùng
Vì thế, tác giả Võ Văn Minh cũng đã đề xuất cần có một sự linh hoạt hơn của cơ chế tỷ giá hối đoái , chẳng hạn như cho phép có sự biến động lớn hơn trong biên độ của tỷ giá hối đoái
Bài nghiên cứu về các yếu tố tác động đến lạm phát CPI tại Việt Nam
giai đoạn từ 2000-2010 của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành
(2010), cho ra kết quả đo lường được là khi Ngân hàng nhà nước tăng 1% tỷ giá
chính thức USD/VND tạo áp lực gia tăng lạm phát, đồng thời tỷ giá hối đoái giải thích đóng góp 19% mức lạm phát CPI sau 12 tháng , 30% sau 17 tháng
Bài nghiên cứu này cũng kết luận tỷ giá hối đoái là yếu tố quan trọng trong biến động của lạm phát, nhưng trong bài này lại sử dụng tỷ giá chính thức giữa đồng VND và USD (chứ không phải là tỷ giá hữu hiệu của đồng Việt Nam và đồng tiền của các đối tác thương mại chính yếu với Việt Nam)
Bài nghiên cứu của tác giả Bạch Thị Phương Thảo (2011), bài này
dùng phương pháp VAR đo lường mức độ truyền dẫn của cú sốc tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực (NEER) lên các chỉ số giá tại Việt Nam trong giai đoạn từ Quý 1-2001 đến Quý 2-2011 : bao gồm có chỉ số giá tiêu dung CPI, chỉ số giá sản xuất PPI, và chỉ số giá nhập khẩu IMP
Kết quả của bài nghiên cứu đo lường được là truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên giá nhập khẩu IMP là lớn nhất, sau đó đến giá sản xuất PPI, và sau cùng là giá tiêu dùng CPI; con số cụ thể của mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá vào giá cả tiêu dùng là 0.13 sau 4 quý và 0.39 sau 5 quý
Trang 21PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết sử dụng các phương pháp : phân tích định tính, đồng thời sử dụng phương pháp mô tả thống kê, so sánh, tổng hợp Kết hợp phương pháp phân tích định lượng nhằm đo lường hệ số truyền dẫn qua mô hình Tự hồi quy vecto - Vector autoregression model (VAR)
3.1 PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG:
Dựa vào mô hình của bài nghiên cứu: “The Evolution of the Exchange Rate Pass-Throungh in Japan : Re – evaluation Based on Time-Varying Parameter VAR” của Etsuro Shioji – Professor, Faculty of Economics, Hitotsubashi University Các ý tưởng cơ bản đằng sau phương pháp VAR được nêu ra trong bài viết này Một giải thích chi tiết hơn có thể được tìm thấy trong các phụ lục của Shioji và Uchino (2011), và một lập luận chính xác hơn có thể được tìm thấy trong Kim và Nelson (1999)
Một mô hình VAR với hai biến và một độ trễ được xem xét Biểu thị giá trị
của hai biến trong khoảng thời gian t như xt và yt, Sau đó, mô hình hình thức giảm (
reduced form) có thể được viết như sau :
Trong đó: aij (i = 1 hoặc 2, j = 1 hoặc 2), bi (i = 1 hoặc 2) là các thông số
cố định , và uxt và uyt là sai số ( error terms ) Đồng thời, giả định ma trận hiệp phương sai của sai số là thời gian bất biến, và viết nó như sau:
Trang 22Ở đây, hai sai số được phép có tương quan với nhau Điều này nêu ra một khó khăn sau đây khi một trong những cố gắng để rút ra một kết luận từ những phân tích trên
Ví dụ, hãy xem xét một câu hỏi: khi có một cú sốc từ bên ngoài đơn vị lên
xt, làm thế nào các giá trị của xt và yt sẽ phát triển theo thời gian? Trong trường
hợp này, nó có vẻ là không phù hợp với giả định rằng có một cú sốc duy nhất lên kỳ
hạn lỗi đầu tiên, uxt
Như uxt và uyt có tương quan lẫn nhau, có vẻ như cho rằng, bất cứ khi nào
có sự thay đổi đến uxt, uyt cũng thay đổi cùng một lúc Tuy nhiên, nếu đó là trường
hợp, nó trở nên không thể tiến hành một thí nghiệm trong đó chỉ có một số lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi một cú sốc
Để giải quyết vấn đề này, người ta thường cho rằng, đằng sau mô hình hình
thức giảm reduced form này , có một mô hình cấu trúc, trong đó hai sai số trong
mô hình kỳ hạn giảm được xác định bởi hai cú sốc cấu trúc trực giao lẫn nhau trong
các mô hình cấu trúc Các mối quan hệ sau đây thường được giả định:
e Var
Trong các mô hình cấu trúc trên, sự thay đổi ngẫu nhiên trong nền kinh tế
là do hai loại cú sốc cấu trúc, cụ thể là ext và eyt Phương trình (3) đại diện cho một
Trang 23hạn chế đó, trong khi "cú sốc x "hoặc ext ảnh hưởng đến biến x đồng thời cũng là,"
cú sốc y "hoặc eyt không có tác dụng
Mặt khác, biến y được phép bị ảnh hưởng đồng thời cũng bởi cả hai loại cú sốc Phương trình (4) đại diện cho các giả định rằng hai loại cú sốc cấu trúc là không tương quan với nhau Các thông số cấu trúc trong mô hình này được xác định thông qua áp dụng phân hủy (phân tích) Cholesky lên ma trận hiệp phương sai của
các kỳ hạn sai số, ∑
Cách tiếp cận VAR trong bài viết này cho phép các thông số trong mô hình
" hình thức giảm" tương ứng với phương trình (1), thay đổi theo thời gian Có nghĩa là, trong ví dụ này, hệ số aij và chặn bi được phép thay đổi theo thời gian Tính năng này của phương pháp cho phép chúng ta nghiên cứu cách thức ảnh hưởng của từng loại cú sốc cho mỗi biến phát triển theo thời gian
Mặt khác, các ma trận hiệp phương sai ∑ được giả định là thời gian bất biến Điều này cho thấy hệ số của các mối quan hệ đương thời, Cij trong phương
trình (3), và sự thay đổi của các cú sốc cấu trúc, € 2
x và € 2 y trong phương trình (4),
không đổi theo thời gian
Điều này sẽ có nghĩa là, trong phân tích sau, tác động đồng thời của mỗi loại cú sốc cấu trúc trên mỗi biến (tức là, kích thước của các chức năng đáp ứng xung IRF trong giai đoạn đầu tiên) là thời gian bất biến Mặt khác, phản ứng xung
từ giai đoạn thứ hai trở đi được phép có thời gian biến đổi, và chúng ta sẽ tập trung
vào những phần của các phản ứng xung (phản ứng đẩy) ( the impulse responses )
dưới đây
Một trong những hạn chế của phương pháp tiếp cận VAR là, khi một trong
những cố gắng để ước tính một mô hình đó là quá lớn, chúng ta có thể phải đối mặt với một giới hạn của khả năng tính toán của máy tính
Đối với lý do này, bài viết của Etsuro Shioji sẽ cố gắng để hạn chế số lượng các biến trong mô hình VAR hồi quy đơn bằng các mô hình ước lượng cho bên xuất khẩu và bên nhập khẩu riêng Ngoài ra, số lượng các độ trễ là giới hạn 6, mặc
Trang 24dù trước đó nó là thường dụng một số lượng trễ lớn như 12 trong trường hợp dữ liệu hàng tháng
-Phân tích mức tác động của cú sốc mỗi biến trong việc giải thích biến động của một biến trong mô hình qua chức năng phân rã phương sai (Variance decomposition)
Hạn chế của mô hình V R:
Bên cạnh những ưu điểm nổi trội của mô hình Var :
_ Không cần xác định biến nào là biến nội sinh và biến nào là biến ngoại sinh
_ Có thể sử dụng phương pháp OLS cho từng phương trình riêng rẽ
_ Với một số ít biến trong mô hình nhưng tính tin cậy của dự báo thu được tốt hơn so với một mô hình hệ phương trình đồng thời gồm nhiều biến và nhiều
phương trình, thì mô hình Var còn vướng phải một số hạn chế:
Do trọng tâm mô hình được đặt vào dự báo nên VAR ít phù hợp cho
phân tích chính sách
Khi xét đến mô hình VAR phải xét đến tính dừng của các biến trong
mô hình Yêu cầu đặt ra khi ta ước lượng mô hình VAR là tất cả các biến phải dừng, nếu trong trường hợp các biến này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân để đảm bảo chuỗi dừng Càng khó khăn hơn nữa nếu một hỗn hợp chứa các biến có tính dừng và các biến không có tính dừng thì việc biến đổi dữ liệu không phải là việc dễ
dàng
Trang 25 Khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ thích hợp Giả sử mô hình VAR đang xét có bốn biến và mỗi biến sẽ có 6 trễ đưa vào từng phương trình Như xem xét ở trên thì số hệ số phải ước lượng là 42.6+4=100 Và nếu ta tăng số biến và
số trễ đưa vào mỗi phương trình thì số hệ số mà ta phải ước lượng sẽ khá lớn Ngoài
ra, khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ còn được thể hiện ở chỗ nếu ta tăng độ dài của trễ sẽ làm cho bậc tự do giảm, do vậy mà ảnh hưởng đến chất lượng các ước lượng
3.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU:
Dữ liệu thứ cấp hàng tháng trong suốt bài phân tích, và kéo dài khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2001 đến Tháng 12 năm 2010, gồm 120 quan sát ( được thu thập từ các nguồn : Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO), Bộ Tài chính Việt Nam (MoF), Ngân Hàng Thế giới (WB) và Thống kê tài chính thế giới (IFS) )
Kỳ gốc được chọn cho 5 biến quan sát (price_oil, NEER, IMP, CPI, real_import) là tháng 06-2005
Giá dầu thô (oil-price) lấy theo giá dầu U.K Brent đơn vị USD/thùng Nguồn: thống kê tài chính quốc tế IMF
Biến đầu tiên, giá quốc tế của dầu thô, tính bằng đô la Mỹ, bao gồm để giảm thiểu khả năng phản ứng của các biến trong VAR để các giá dầu có thể bị nhầm lẫn với một phản ứng với tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hiệu dụng danh nghĩa (NEER)
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu quả NEER là thước đo của tỷ giá hối đoái được sử dụng trong bài này
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương NEER, được tính với rổ tiền tệ từ 20 đối tác xuất nhập khẩu chính của Việt Nam, được quy về kỳ gốc Tháng 6 năm 2005
Nguồn: GSO, MoF và IMF
Trang 26Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu đa phương NEER cũng được sử dụng trong bài nghiên cứu của Mc.Carthy, J (2000), Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007)
NEER Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu đa phương (Norminal Effective Exchange Rate) phản ánh sự thay đổi giá trị của đồng nội tệ VND với tất cả các đồng tiền trong rổ tiền tệ được chọn (chưa tính đến tương quan sức mua, điều chỉnh theo lạm phát)
Công thức tính NEER như sau:
∑
Với:
n: số lượng đối tác thương mại chính của Việt Nam
: tỷ trong của đồng tiền nước j tại thời điểm t, tương ứng tỷ trọng thương mại của nước j trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với các nước được lựa chọn
: tỷ giá danh nghĩa của đồng tiền nước j so với VND tại thời điểm t (số VND cần để đổi lấy 1 đơn vị tiền tệ nước j) Do con số này không có sẵn, ta áp dụng công thức tính sau:
Trong đó là tỷ giá của đồng tiền đại diện so với USD
Trong bài nghiên cứu này, tác giả chọn rổ tiền tệ gồm đồng tiền của 20 đối tác thương mại chính của Việt Nam, với tổng tỷ trọng xuất nhập khẩu trung bình hơn 75%, đó là Nhật, Singapor, Úc, Hàn Quốc , Trung Quốc, Mỹ, Thái lan, Đức , Malaysia, United Kingdom, Russian Federation, Indonesia, Switzerland, Cambodia, New Zealand, Lao People's , Democratic Republic, Sweden, Denmark, Argentina, Crezch Republic, Egypt
(Kết quả được trình bày ở Phụ lục )
Chỉ số giá nhập khẩu (IMP, Import Price Index)
Trang 27Chỉ số giá nhập khẩu được tính theo quý, 6 tháng và năm; cho ba gốc: năm gốc cơ bản, gốc kỳ trước và gốc cùng kỳ năm trước
Các số liệu về chỉ số giá nhập khẩu được tính toán bằng cách chuyển đổi chỉ số giá xuất khẩu của các đối tác thương mại với Việt Nam công thức tính như sau:
Trong đó:
EXPi: là chỉ số giá xuất khẩu của đối tác thương mại i
wi: tỷ trọng giao dịch của đối tác thứ i với Việt Nam
Chỉ số giá tiêu dùng (hay được viết tắt là CPI), là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian
Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng
Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung
là Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước hay Chỉ số điều chỉnh GDP)
Số liệu CPI được cập nhật từ Tổng cục Thống kê , năm 2005 được chọn là năm gốc của CPI trong bài
(Quyền số để tính CPI được xác định năm 2005 và bắt đầu áp dụng từ tháng
6 năm 2005 Quyền số này dựa trên kết quả của hai cuộc điều tra là Điều tra mức sống dân cư Việt nam 1997-1998 và Điều tra kinh tế hộ gia đình năm 1999 )
Trang 28 Sản lượng Nhập khẩu: (hay còn gọi là Nhập khẩu thực,Real_Import) Các Giá trị nhập khẩu danh nghĩa của hàng hóa thay đổi theo sự thay đổi cả
về số lượng và giá cả trên một đơn vị của nó Nhập khẩu thực, trong đó có tỷ lệ Giá trị nhập khẩu danh nghĩa / Chỉ số giá nhập khẩu , đại diện cho chuyển động nhập khẩu trong điều kiện thực tế bằng cách loại bỏ những ảnh hưởng từ sự thay đổi giá
Đầu tiên, tổng giá trị nhập khẩu được chia thành mười nhóm, cách phân loại biên soạn bởi Tổng Cục Thống kê Tiếp theo, mười loại được tổng hợp sau khi
số liệu trong mỗi nhóm được loại trừ biến động giá do lạm phát: : máy móc thiết bị phụ tùng; điện tử, máy tính và linh kiện; xăng dầu; hóa chất; sắt thép; vải; ô tô; thức
ăn gia súc; sản phẩm từ dầu mỏ
3.3 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN:
Chuỗi dữ liệu đưa vào mô hình, được thực hiện tuần tự như sau với phần
mềm Eview:
_ Thực hiện kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian của các biến đưa vào,
do điều kiện bắt buộc của mô hình VAR là chuỗi dữ liệu phải dừng Dùng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị ADF (Augmented Dickey- Fuller) để kiểm định tính dừng
_ Tìm độ trễ tối ưu cho mô hình VAR : các biến đã đưa vào bằng công cụ VAR Lag Other Selection Criteria trong Eview
_ Tính toán tác động của cú sốc tỷ giá trong ngắn hạn lên các biến của nhập khẩu qua hàm phản ứng xung Impulse Response
_ Dùng chức năng phân rã phương sai (Variance decomposition) phân tích tầm quan trọng của mỗi biến trong việc giải thích những thay đổi của giá nhập khẩu, giá tiêu dùng trong ngắn hạn qua biến động của truyền dẫn tỷ giá