1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân – nghiên cứu trên địa bàn hà nội

80 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU (6)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (6)
    • 1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu (7)
      • 1.2.1. Mục tiêu (7)
      • 1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu (7)
    • 1.3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu (7)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (7)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (8)
      • 1.3.3. Phương pháp nghiên cứu (8)
    • 1.4. Cấu trúc của đề tài luận án (8)
    • 1.5. Những đóng góp mới của luận án (8)
      • 1.5.1. Đóng góp về mặt lý thuyết (8)
      • 1.5.2. Đóng góp về mặt thực tiễn (9)
  • CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (9)
    • 2.1. Nông nghiệp hữu cơ và vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ (9)
      • 2.1.1. Nông nghiệp hữu cơ (9)
      • 2.1.2. Vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ (13)
      • 2.1.3. Bản chất kinh tế của sản xuất nông nghiệp hữu cơ và sự chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân (13)
    • 2.2. Tổng quan các nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ (14)
      • 2.2.1. Tổng quan nghiên cứu về ý định chấp nhận của người nông dân (14)
      • 2.2.2. Tổng quan các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân (15)
    • 2.3. Lý thuyết nghiên cứu về ý định của người nông dân (18)
      • 2.3.1. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of planned behavior – TPB) (18)
      • 2.3.2. Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (Norm Activation Model – NAM) (19)
      • 2.3.3. Lý thuyết phổ biến đổi mới (Innovation Diffusion Theory – IDT) (20)
      • 2.3.4. Lý thuyết động lực bảo vệ (Protection motivation theory - PMT) (20)
  • iv 2.4. Khoảng trống nghiên cứu (0)
    • 2.4.1. Các nội dung kế thừa (21)
    • 2.4.2. Khoảng trống nghiên cứu (21)
    • 2.4.3. Hướng nghiên cứu của đề tài (22)
    • 2.5. Căn cứ xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu (22)
      • 2.5.1. Kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM) (22)
      • 2.5.2. Kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT), lý thuyết động lực bảo vệ (PMT) (23)
    • 2.6. Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu (0)
      • 2.6.1. Mô hình nghiên cứu (23)
      • 2.6.2. Các giả thuyết nghiên cứu (24)
  • CHƯƠNG 3: BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
    • 3.1. Bối cảnh nghiên cứu (28)
      • 3.1.1. Lúa hữu cơ (28)
      • 3.1.2. Rau hữu cơ (29)
      • 3.1.3. Cây ăn quả hữu cơ (30)
      • 3.1.4. Chè hữu cơ (31)
      • 3.1.5. Dược liệu hữu cơ (31)
      • 3.1.6. Đánh giá chung (32)
      • 3.1.7. Định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Hà Nội (33)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 3.2.1. Quy trình và phương pháp nghiên cứu (33)
      • 3.2.2. Nghiên cứu định tính (34)
      • 3.2.3. Nghiên cứu định lượng (35)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (40)
    • 4.1. Kết quả nghiên cứu định tính (40)
      • 4.1.1. Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của mô hình NAM (40)
      • 4.1.2. Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của lý thuyết IDT và PMT (40)
      • 4.1.3. Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của lý thuyết TPB (40)
    • 4.2. Kết quả nghiên cứu định lượng (41)
      • 4.2.1. Thống kê mẫu nghiên cứu (41)
      • 4.2.2. Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha (41)
      • 4.2.3. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) (45)
      • 4.2.4. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA) (49)
      • 4.2.5. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (51)
    • 4.3. So sánh mô hình nghiên cứu theo nhóm của các biến kiểm soát bằng phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm (54)
      • 4.3.1. Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo giới tính (54)
      • 4.3.2. Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo độ tuổi (56)
      • 4.3.3. Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo trình độ học vấn (56)
      • 4.3.4. Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo kinh nghiệm làm nông nghiệp (56)
      • 4.3.5. Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo thu nhập hàng năm từ nông nghiệp (57)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (58)
    • 5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu (58)
    • 5.2. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm thúc đẩy ý định sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân (59)
      • 5.2.1. Kiến nghị giải pháp nhằm thay đổi nhận thức của nông dân về giá trị sản xuất nông nghiệp hữu cơ (59)
      • 5.2.2. Kiến nghị giải pháp để phát triển nông nghiệp hữu cơ thành công nhằm thay đổi nhận thức về rủi ro của người nông dân về sản xuất nông nghiệp hữu cơ (60)
      • 5.2.3. Một số đề xuất, kiến nghị với chính quyền Thành phố Hà Nội (63)
    • 5.3. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo (64)
      • 5.3.1. Hạn chế của nghiên cứu (64)
      • 5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo (65)
    • 5.4. Kết luận (65)

Nội dung

Có nhiều nguyên nhân làm cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hà Nội chưa phát triển được trong thời gian qua, một trong những nguyên nhân là người sản xuất trực tiếp sản xuất người nông

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

Tính cấp thiết của đề tài

Sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất nông nghiệp thâm canh đã tạo ra một khối lượng lương thực thực phẩm rất lớn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên của hơn sáu tỷ người trên hành tinh này Lợi thế năng suất cao của nông nghiệp thâm canh đã và đang đưa phương thức này phát triển lên đến đỉnh cao của nó Trong đó, sự đóng góp của khoa học công nghệ được ghi nhận như là yếu tố quyết định cho nông nghiệp thâm canh tồn tại và phát triển Thế nhưng, việc sử dụng nhiều loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp thâm canh (Pimentel và cộng sự,

2005; Carvalho, 2006), dẫn đến vô số thách thức như suy giảm sức khỏe con người, đặc biệt là sinh sản và hệ thống thần kinh trung ương (Von Duszeln, 1991; Singh,

2000; Bretveld và cộng sự, 2006) Sự phụ thuộc của nông nghiệp thâm canh về phân bón hóa học tổng hợp và thuốc trừ sâu đã nổi lên như một yếu tố chính, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và môi trường (Pimentel và cộng sự, 2005) Hơn nữa, trước đây, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng quá mức các hóa chất đã làm suy giảm sức khỏe của đất và các điều kiện môi trường (Taylor và cộng sự, 2003; Arias-Estévez và cộng sự, 2008; Fenner và cộng sự, 2013)

Chính vì vậy, canh tác hữu cơ đã xuất hiện và được coi là hệ thống nông nghiệp thân thiện với môi trường khi tránh sử dụng hóa chất tổng hợp và phân bón

(Venkataraman và Shanmugasundaram, 1992; Roitner Schobesberger và cộng sự,

2008; Mahdi và cộng sự, 2010; Suthar, 2010) Canh tác hữu cơ gắn chặt với hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội (Padel, 2001) Canh tác hữu cơ ít tác động bất lợi đến môi trường hơn so với canh tác thông thường, vốn dựa vào về các yếu tố đầu vào bên ngoài ở một mức độ lớn hơn (Gomiero và cộng sự,

2008) Canh tác hữu cơ còn giúp giảm thiệt hại chung cho môi trường (Pimentel và cộng sự, 2005; Carvalho, 2006) và cải thiện sức khỏe cộng đồng Do đó, khi người nông dân có ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ, các vấn đề bất lợi cho môi trường do nông nghiệp thông thường gây ra có cơ hội được giải quyết

Thực tế cho thấy, nông nghiệp hữu cơ ra đời và càng ngày càng phát triển vì: thứ nhất, giải quyết được mâu thuẫn giữa sản xuất nông nghiệp thâm canh và vấn đề môi trường, vì nông nghiệp hữu cơ đã làm tăng việc sử dụng nguồn giống cây con tự nhiên, làm tăng tính đa dạng của xuất nông nghiệp, làm giảm ô nhiễm đất, nước và sản phẩm nông nghiệp do không sử dụng phân vô cơ dễ tan, thuốc bảo vệ thực vật cho cây trồng, thức ăn chứa nhiều chất kích thích sinh trưởng trong chăn nuôi ; thứ hai, nông nghiệp hữu cơ đảm bảo, duy trì và gia tăng độ màu mỡ lâu dài cho đất, củng cố các chu kỳ sinh học trong nông trại, đặc biệt là các chu trình dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứu chữa, đa dạng các vụ mùa và các loại vật nuôi, phù hợp với điều kiện địa phương; thứ ba, giải quyết được nhu cầu của con người, đó là nhu cầu ăn sạch, ở sạch và môi trường sạch và đẹp, lương thực thực phẩm sạch là những sản phẩm đó chứa các chất dinh dưỡng với hàm lượng như trong tự nhiên vốn có của nó

Trong những năm gần đây, biến đổi môi trường và khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp đang trở thành chủ đề được xã hội quan tâm Người tiêu dùng chuyển dần sang sử dụng thực phẩm an toàn, thực phẩm hữu cơ đã dẫn đến sự gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm thực phẩm hữu cơ (Murphy, 2006; Schifferstein và Oude Ophuis,

1998) Sản xuất thực phẩm hữu cơ toàn cầu cũng cho thấy sự tăng trưởng đáng kể, do đó, thị trường toàn cầu cho các sản phẩm hữu cơ đã tăng trưởng đều đặn không chỉ ở châu Âu và Bắc Mỹ mà ở các nước châu Á cũng vậy (Baker, 2004, Gifford và Bernard, 2005; Setboonsarng và cộng sự, 2006) Vì vậy nông nghiệp hữu cơ ra đời và càng ngày càng phát triển là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển của thế giới tự nhiên và xã hội loài người

Việt Nam có lịch sử sản xuất nông nghiệp và phương thức canh tác hữu cơ từ lâu đời Trước năm 1980, nông dân chủ yếu sử dụng các giống cây trồng bản địa, giống cổ truyền với năng suất thấp, nhu cầu sử dụng phân bón thấp, chủ yếu hấp thu từ phân bón hữu cơ, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt nên rất ít phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đặc biệt là thuốc hoá học Sản xuất nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang từng bước phát triển, diện tích sản xuất hữu cơ tăng nhanh qua các năm, năm 2015 đạt hơn 76 nghìn ha, tăng trên 3,6 lần so với năm 2010, năm 2018 diện tích gieo trồng hữu cơ đã đạt 3,2 ngàn ha lúa, 2 ngàn ha rau, 2,8 ngàn ha chè, 4,7 ngàn ha cây ăn quả, 2,1 ngàn ha điều, 135 ngàn ha nuôi trồng thủy sản… tập trung tại 40 tỉnh, thành phố trên cả nước, sản phẩm hữu cơ được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đến các thị trường Nhật, Đức, Anh, Mỹ, Hàn Quốc, Nga, Singapore, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Italia (Tổng cục thống kê, 2019)

Thành phố Hà Nội với diện tích là hơn 3.300 km2, với dân số khoảng gần 10 triệu người Mặc dù là Thủ đô nhưng có hơn 50% là diện tích là nông nghiệp và khoảng 50% dân số sống ở khu vực nông thôn, gần 40% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Toàn thành phố, có 17 huyện, 1 thị xã, 6 quận còn sản xuất nông nghiệp Trong phát triển kinh tế, nông nghiệp Hà Nội tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng có vị trí

3 quan trọng trong việc cung cấp nông sản đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú và ngày càng tăng của người dân Thủ đô

Với mục tiêu xây dựng ngành nông nghiệp Thành phố có cơ cấu hợp lý, chất lượng, hiệu quả, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phát huy được lợi thế so sánh; phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ Thành phố đã tích cực triển khai và thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội thì diện tích sản xuất nông nghiệp hữu có mới chỉ đạt 0,3% diện tích canh tác, mặc dù có tăng qua các năm, những tỷ trọng này là rất thấp, một số mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn đã thành công những chưa được nhân rộng Trong khi đó, Hà Nội là thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm nông nghiêp hữu cơ với dân số nội thành hơn 4 triệu người, trong đó có tới gần 40% là tầng lớp trung lưu và hàng trăm nghìn người nước ngoài đang sinh sống, học tập và làm việc, cùng hàng triệu khách du lịch nước ngoài là thị trường lớn và rất tiềm năng để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp hữu cơ Mặc dù Hà Nội là một trong những địa phương quan tâm phát triển nông nghiệp hữu cơ, với diện tích canh tác hữu cơ khoảng 80-100 ha tập trung chủ yếu ở các huyện Sóc Sơn, Đan

Phượng, Thạch Thất Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ tiêu thụ trên thị trường còn rất chế, ít về chủng loại, số lượng và không rõ nguồn gốc, xuất xứ Quy mô sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Hà Nội còn đơn lẻ, manh mún, quy mô nhỏ, chưa có vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn Sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng đã được phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng

Có nhiều nguyên nhân làm cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hà Nội chưa phát triển được trong thời gian qua, một trong những nguyên nhân là người sản xuất trực tiếp sản xuất (người nông dân) chưa sẵn sàng để chấp nhận, chưa hào hứng để sản xuất nông nghiệp hữu cơ do lo ngại nhiều vấn đề từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ: quy trình, thời gian, sản xuất, tiêu thụ, giá cả… Chính vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề “Các y ế u t ố ả nh h ưở ng t ớ i ý đị nh ch ấ p nh ậ n s ả n xu ấ t nông nghi ệ p h ữ u c ơ c ủ a ng ườ i nông dân – nghiên c ứ u trên đị a bàn Hà N ộ i” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Marketing

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Luận án nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân; từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân

- Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân

- Xây dựng mô hình nghiên cứu để tìm hiểu mức độ ảnh hướng của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân trên địa bàn Hà Nội

- Đề xuất, kiến nghị cho cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, người tiêu dùng nhằm thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân trên địa bàn Hà Nội

1.2.2 Câu h ỏ i nghiên c ứ u Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, luận án sẽ hướng đến tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: có những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân? Những yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân trên địa bàn Hà Nội

- Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: những giải pháp và kiến nghị nào cần thực hiện để thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân?

Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Đố i t ượ ng nghiên c ứ u Đối tượng nghiên cứu của luận án là ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân Người nông dân ở đây là người đại diện hộ nông dân đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp

Trong hai lĩnh vực chính của nông nghiệp hữu cơ là trồng trọt và chăn nuôi thì tác giả tập trung vào đối tượng nghiên cứu là trồng trọt

- Về nội dung: Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân; đề xuất các kiến nghị nhằm thúc đẩy người nông dân chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ, từ đó phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Hà Nội

- Về không gian nghiên cứu: nghiên cứu tập trung tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân đang thực hiện canh tác thông thường ở Hà Nội Tuy nhiên, do sự giới hạn về nguồn lực, tác giả không thể nghiên cứu toàn bộ người nông dân ở Hà Nội nên đã lựa chọn điều tra nông dân tại một số khu vực như Sóc Sơn, Đan Phượng và Thạch

Thất là khu vực chiếm diện tích tương đối lớn trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hà Nội; riêng Thạch Thất có trang trại Hoa Viên sản xuất nông nghiệp hữu cơ với diện tích gần 10 ha, số còn lại nằm rải rác ở Sóc Sơn, Đan

Phượng, Sự đa dạng về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm nông nghiệp và thu nhập hàng năm từ nông nghiệp là tiêu chí được tác giả quan tâm khi tiến hành khảo sát để có thể xác định mối quan hệ giữa các biến nhân khẩu học này với ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ

- Về thời gian nghiên cứu: đối với số liệu thứ cấp (1) về lý thuyết, tác giả thu thập từ các nghiên cứu đã thực hiện có liên quan đến đề tài từ trước cho đến nay, (2) về thực tiễn, tác giả tìm hiểu về sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong giai đoạn 2015 - 2020; đối với số liệu sơ cấp, tác giả thu thập từ phỏng vấn sâu một số chuyên gia và một số nông dân cũng như tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi người nông dân đang thực hiện canh tác thông thường ở một số khu vực ở Hà Nội trong năm 2019; từ đó tác giả đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cho cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân

1.3.3 Ph ươ ng pháp nghiên c ứ u

- Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp: số liệu thứ cấp được thu thập từ các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài được phân tích, so sánh và tổng hợp để hình thành khung lý thuyết, mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

- Phương pháp định tính – phỏng vấn sâu: kiểm tra mức độ phù hợp của từng yếu tố và các quan sát sử dụng trong nghiên cứu; từ đó rút ra các nhóm yếu tố phù hợp với điều kiện môi trường nghiên cứu

- Phương pháp định lượng – điều tra bảng hỏi: đo lường ảnh hưởng của các yếu tố tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân thông qua việc kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu bằng việc sử dụng các kỹ thuật của phần mềm SPSS và AMOS.

Cấu trúc của đề tài luận án

Luận án được cấu trúc thành 5 chương:

Ch ươ ng 1 Gi ớ i thi ệ u nghiên c ứ u Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài luận án

Ch ươ ng 2 T ổ ng quan nghiên c ứ u Chương này trình bày kết quả của tổng quan nghiên cứu, từ cơ sở lý thuyết tới rà soát các công trình nghiên cứu có liên quan làm lựa chọn và điều chỉnh mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ch ươ ng 3 B ố i c ả nh và ph ươ ng pháp nghiên c ứ u Chương này giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu – liên quan tới thực trạng và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại Hà Nội; phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng để phát hiện vấn đề mới và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Ch ươ ng 4 K ế t qu ả nghiên c ứ u Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới ý định sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nông dân Việt Nam

Ch ươ ng 5 K ế t lu ậ n và ki ế n ngh ị Chương này tổng hợp lại kết quả nghiên cứu để đưa ra các kết luận về giả thuyết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của kết quả nghiên cứu; đề xuất kiến nghị

Những đóng góp mới của luận án

- Luận án đã áp dụng mô hình tích hợp với hai cách tiếp cận: (i) Cách tiếp cận hợp lý dựa trên một số lý thuyết nghiên cứu về hành vi (lý thuyết hành vi có kế hoạch - TPB, lý thuyết phổ biến đổi mới - IDT, lý thuyết động lực bảo vệ - PMT); (ii) Cách tiếp cận đạo đức (mô hình kích hoạt tiêu chuẩn – NAM) trong nghiên cứu ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân Việt nam Kết quả chỉ ra rằng trong các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ thì lợi thế hành vi so sánh có ảnh hưởng mạnh nhất và không có sự khác biệt đáng kể về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố như thái độ, chuẩn chủ quan, cảm nhận khả năng kiểm soát, chuẩn mực cá nhân, chính sách hỗ trợ của Chính phủ

- Mô hình nghiên cứu của luận án gồm 10 thang đo và 50 quan sát để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người

7 nông dân phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đặc biệt khi nghiên cứu ở địa bàn Hà

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân trên địa bàn Hà Nội là khác nhau Trong đó, yếu tố “lợi thế hành vi so sánh của người nông dân” có ảnh hưởng lớn nhất tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Khi lợi ích kinh tế được đảm bảo, người nông dân sẽ chấp nhận chuyển đổi từ canh tác thông thường sang phương thức canh tác hữu cơ

Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước cần có những tác động, thay đổi nhận thức của người nông dân về sản xuất nông nghiệp hữu cơ, khi nhận biết được về sự khác biệt và có kiến thức về sản xuất nông nghiệp hữu cơ, người nông dân sẽ tự tin để thực hiện canh tác hữu cơ, kiểm soát năng suất với nông nghiệp hữu cơ, từ đó thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Thứ ba, dưới giác độ marketing, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị tác động đến chính sách giá cả và kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp hữu cơ nhằm tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên cơ sở đảm bảo ưu tiên so với sản xuất nông nghiệp thông thường

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Nông nghiệp hữu cơ và vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Nguyễn Thế Đặng và cộng sự (2012) đưa ra quan niệm: “Nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở sử dụng các chu trình sinh học có trong tự nhiên Nói một cách khác, phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất mà trong đó các quá trình sản xuất đều theo quy luật sinh học tự nhiên vốn có”

Katić và cộng sự (2010) cho rằng nông nghiệp hữu cơ như một hình thức sản xuất nông nghiệp đặc biệt, là nền tảng cho sản xuất nông nghiệp bền vững Đó là một hình thức sản xuất đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của nguyên tắc bảo vệ bền vững môi trường Còn theo Kilcher (2006) và Henning và cộng sự (1991), nông nghiệp hữu cơ là nền nông nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào hoàn toàn là hữu cơ, cũng đồng nghĩa với nông nghiệp bền vững Lampkin (1994) lại định nghĩa nông nghiệp hữu cơ là nông nghiệp mà tạo ra các hệ thống sản xuất tích hợp, nhân văn, bền vững về môi trường và kinh tế

Liên đoàn phong trào Nông nghiệp hữu cơ Quốc tế (International Federation of Organic Agriculture Movement – IFOAM) đã trình bày định nghĩa sau: Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất duy trì sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người

Nó phụ thuộc vào các quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và các chu kỳ thích nghi với điều kiện địa phương, thay vì sử dụng các yếu tố đầu vào có tác dụng phụ Nông nghiệp hữu cơ là hình thức nông nghiệp tránh hoặc loại bỏ việc sử dụng phân bón hóa học tổng hợp, thuốc trừ sâu, các chất điều tiết tăng trưởng cây trồng và các chất phụ gia trong thức ăn gia súc nhằm giảm thiểu ô nhiễm, đảm bảo sức khỏe con người và tạo ra nông sản sạch

Mặc dù các định nghĩa đưa ra là khác nhau, nhưng tất cả đều cho rằng canh tác hữu cơ là một hệ thống sản xuất thân thiện với môi trường và một phương pháp nông nghiệp bền vững (Scofield 1986; Bowler 1992)

Parrott và cộng sự (2006) đã xác định hai loại hình canh tác hữu cơ ở các quốc gia đang phát triển: canh tác hữu cơ được chứng nhận chính thức và canh tác hữu cơ không chính thức Loại đầu tiên có xu hướng tập trung vào xuất khẩu các sản phẩm hữu cơ, trong khi loại thứ hai liên quan đến các hoạt động quy mô nhỏ để cải thiện sinh kế của từng nông dân (Goldberger, 2008) Bởi vì hệ thống chứng nhận là cần thiết để tiếp cận thị trường quốc tế nhưng điều quan trọng là phát triển thị trường nội địa cho cây trồng được sản xuất thông qua canh tác hữu cơ không chính thức (Parrott và cộng sự, 2006)

Nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng nông nghiệp hữu cơ có những đặc điểm riêng biệt sau (Haccius, 1996):

- Hoạt động sản xuất nông nghiệp theo đường hướng của hệ thống sinh thái Con người, đất đai, cây trồng và vật nuôi là các mặt trong một thể thống nhất, nó như là một thể hữu cơ

- Ý tưởng cơ bản của nông nghiệp hữu cơ là hoạt động kinh tế phải hài hòa với thiên nhiên Vì nếu các hoạt động ấy nằm chệch hướng vận động của các quy luật tự nhiên thì sẽ tạo ra những hệ quả xấu và tất yếu phát triển sẽ không theo chiều bền vững

- Sản xuất sẽ phát triển tốt trên cơ sở sử dụng và tăng cường độ phì nhiêu tự nhiên của đất cũng như làm tăng sức đề kháng của cây trồng và vật nuôi đối với sâu bệnh

- Chăn nuôi là một hợp phần thích ứng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ

- Hệ thống canh tác không bị ảnh hưởng của việc sử dụng các nguyên liệu lạ ngoài nông trại như phân vô cơ dễ tan và thuốc hóa học bảo vệ thực vật

2.1.1.2 Cơ sở khoa học của sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Cơ sở khoa học của phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ là đưa quá trình sản xuất theo chu trình sinh học tự nhiên, trong đó các yếu tố tự nhiên sẵn có được sử dụng tối đa, các yếu tố nhân tạo (phân bón vô cơ dễ tan, thuốc hóa học bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng có nguồn gốc vô cơ, thức ăn chăn nuôi giàu chất kích thích ) được loại bỏ

Trong nông nghiệp hữu cơ, mối quan hệ giữa con người, đất đai, cây trồng và vật nuôi được khai thác tối đa Đây là mối quan hệ hữu cơ và nhân quả, vì vậy mỗi một đối tượng đều được tôn trọng và phát huy hết tiềm năng tự nhiên sẵn có của nó

Nguyên tắc cơ bản của canh tác hữu cơ được liệt kê dưới đây (IFOAM, 1992):

- Sản xuất thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao, đủ số lượng

- Phối hợp một cách xây dựng và theo hướng củng cố cuộc sống giữa tất cả các chu kỳ và hệ thống tự nhiên

- Khuyến khích và thúc đẩy chu trình sinh học trong hệ thống canh tác, bao gồm vi sinh vật, quần thể động thực vật trong đất, cây trồng và vật nuôi

- Duy trì và tăng độ phì nhiêu của đất trồng về mặt dài hạn

- Sử dụng càng nhiều càng tốt các nguồn tái sinh trong hệ thống nông nghiệp có tổ chức ở địa phương

- Làm việc càng nhiều càng tốt trong một hệ thống khép kín đối với các yếu tố dinh dưỡng và chất hữu cơ

- Làm việc càng nhiều càng tốt với các nguyên vật liệu, các chất có thể tái sử dụng hoặc tái sinh, hoặc ở trong trang trại hoặc là ở nơi khác

- Cung cấp cho tất cả các con vật nuôi trong trang trại những điều kiện cho phép chúng thực hiện những bản năng bẩm sinh của chúng

- Giảm đến mức tối thiểu các loại ô nhiễm do kết quả của sản xuất nông nghiệp gây ra

- Duy trì sự đa dạng hóa nguồn gen trong hệ thống nông nghiệp hữu cơ và khu vực xung quanh nó, bao gồm cả việc bảo vệ thực vật và nơi cư ngụ của cuộc sống thiên nhiên hoang dã

- Cho phép người sản xuất nông nghiệp có một cuộc sống theo Công ước Nhân quyền của Liên hiệp quốc, trang trải được những nhu cầu cơ bản của họ, có được một khoản thu nhập thích đáng và sự hài lòng từ công việc của họ, bao gồm cả môi trường làm việc an toàn

Tổng quan các nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ

2.2.1 T ổ ng quan nghiên c ứ u v ề ý đị nh ch ấ p nh ậ n c ủ a ng ườ i nông dân Ý định chấp nhận của người nông dân là chủ đề trong nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước Các nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu ý định chấp nhận của người nông dân trong các lĩnh vực khác nhau Luận án sẽ tổng quan một số các công trình trong và ngoài nước về ý định chấp nhận của người nông dân liên quan đến lĩnh vực và khung lý thuyết mà những nghiên cứu này hướng đến

2.2.1.1 Các lĩnh vực đã nghiên cứu

Tổng quan các công trình của các học giả nước ngoài cho thấy ý định chấp nhận của người nông dân được tìm hiểu trong nhiều lĩnh vực khác nhau: nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội và quá trình truyền thông thích ứng với khí hậu đến quyết định của nông dân để áp dụng các chiến lược thích ứng chống lại hạn hán và lũ lụt (Arunrat và cộng sự, 2017); kiểm tra một mô hình giải thích những khó khăn của việc chấp nhận áp dụng công nghệ nông nghiệp chính xác của người nông dân tại

Canada (Aubert và cộng sự, 2012); sử dụng sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ công nghệ thông tin và truyền thông tại Trung Quốc (Amin và Li, 2014); phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc ý định sử dụng đồng cỏ tự nhiên đã được cải tạo tại Brazil (Borges và cộng sự, 2014); tìm hiểu những thay đổi trong ý định, thái độ và niềm tin của nông dân về việc sử dụng công nghệ gen tại New Zealand (Cook và Fairweather, 2003); phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi của nông dân để bảo tồn các thành tựu sinh thái từ thanh toán cho các chương trình dịch vụ hệ sinh thái tại Trung Quốc (Deng và cộng sự, 2016); phân tích ý định của nông dân về việc sử dụng thẻ nông dân tại Indonesia (Djamaludin, 2018); giải thích các cấu trúc tâm lý cơ bản ảnh hưởng đến quyết định của nông dân trong việc mở rộng kinh doanh trang trại của họ sang các dự án tạo thu nhập ngoài nông nghiệp sản xuất thông thường tại Thụy Điển (Hansson và cộng sự, 2012); điều tra ý định thích ứng của người nông dân đối với giá điện, nước và nhiên liệu hoặc áp lực từ người khác để tiến hành các biện pháp thích ứng tại Việt Nam (Le Dang và cộng sự, 2014); kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định của nông dân sử dụng các thực hành quản lý dịch hại tổng hợp tại Iran (Rezaei và cộng sự, 2019); xác định yếu tố tâm lý tiềm ẩn và ảnh hưởng đến ý định của nông dân nhằm đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp tại Brazil (Senger và cộng sự, 2017); các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận và sử dụng chiến lược kiểm soát sinh học của người nông dân để kiểm soát sâu đục thân lúa trên những cánh đồng lúa của tại Iran (Sharifzadeh và cộng sự, 2017); điều tra ý định của nông dân trồng lúa để thực hành nông nghiệp bền vững và để xác định các yếu tố quan trọng có thể được sử dụng cũng như dự đoán ý định thực hành nông nghiệp bền vững tại Malaysia (Terano và cộng sự, 2015); điều tra những yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện các biện pháp môi trường nông nghiệp không trợ cấp tại Netherland (Van Dijk và cộng sự, 2016); nghiên cứu về ý định bảo tồn nước và sự khác biệt trong ý định giữa người nông dân quản lý nước truyền thống và người nông dân đã sử dụng các chiến lược quản lý nước tiên tiến tại Iran (Yazdanpanah và cộng sự, 2014); xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi hành vi của nông dân sản xuất nhỏ thích ứng với biến đổi khí hậu ở các vùng khí hậu chuyển tiếp tại Zimbabwe (Zamasiya và cộng sự, 2017); tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận áp dụng công nghệ tiết kiệm nước được gọi là hệ thống sản xuất lúa gạo tại Trung Quốc (Zhou và cộng sự, 2008)

Tổng quan các công trình của các học giả trong nước cho thấy ý định chấp nhận của người nông dân được tìm hiểu trong một số lĩnh vực: xác định các yếu tố tác động đến quyết định mua bảo hiểm trồng lúa tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An (Nguyễn Duy Chinh và cộng sự, 2016); giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp ứng xử của người nông dân ven biển với biến đổi khí hậu, đồng thời xác định và định lượng các yếu tố có ảnh hưởng rõ ràng và ảnh hưởng không rõ ràng đến

19 quyết định ứng xử của người nông dân xã Giao Thiện, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Đặng Thị Hoa và cộng sự, 2013); tìm hiểu yếu tố hình thành hiện tượng “điệp khúc trồng chặt” diễn ra sôi động trong những thập kỷ qua ở vùng đồng bằng sông

Cửu Long, cũng như việc chuyển dịch của người nông dân từ lúa sang tôm như một hành vi chấp nhận rủi ro (Ngô Thị Phương Lan, 2017); kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân trên địa bàn tỉnh

Phú Yên (Hoàng Thu Thủy và Bùi Hoàng Minh Thư, 2018)

2.2.1.2 Khung lý thuyết đã sử dụng

Các nghiên cứu về ý định chấp nhận của người nông dân được các học giả tiếp cận và phân tích dựa trên các khung lý thuyết khác nhau như: sử dụng kết hợp lý thuyết về sự chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) và lý thuyết phổ biến đổi mới (Innovation Diffusion Theory – IDT) (Aubert và cộng sự,

2012); sử dụng mô hình TAM (Amin và Li, 2014); sử dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) (Arunrat và cộng sự, 2017; Borges và cộng sự, 2014; Cook và Fairweather, 2003; Deng và cộng sự, 2016; Djamaludin, 2018;

Hansson và cộng sự, 2012; Senger và cộng sự, 2017; Terano và cộng sự, 2015; Van

Dijk và cộng sự, 2016; Yazdanpanah và cộng sự, 2014); sử dụng lý thuyết động lực bảo vệ (Protection Motivation Theory - PMT) (Le Dang và cộng sự, 2014); sử dụng kết hợp TPB và mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (Norm Activation Model – NAM)

(Rezaei và cộng sự, 2019); sử dụng kết hợp TAM và IDT (Aubert và cộng sự, 2012); sử dụng phiên bản mở rộng của TAM là TAM2 kết hợp lý thuyết IDT (Sharifzadeh và cộng sự, 2017)

2.2.2 T ổ ng quan các nghiên c ứ u v ề các y ế u t ố ả nh h ưở ng đế n ý đị nh ch ấ p nh ậ n s ả n xu ấ t nông nghi ệ p h ữ u c ơ c ủ a ng ườ i nông dân

Nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ đã được thực hiện chủ yếu bởi các học giả nước ngoài Trong đó, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân là đề tài được nhiều học giả nước ngoài lựa chọn Căn cứ theo nội dung thì các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân được chia thành các nhóm sau:

Thứ nhất, nhóm yếu tố thuộc về nhân khẩu học, tính cách và quan điểm của người nông dân: độ tuổi (Alexopoulos và cộng sự, 2010; Azam và Banumathi, 2015;

Xie và cộng sự, 2015); giới tính (Azam và Banumathi, 2015); trình độ học vấn (Azam và Banumathi, 2015); tính sáng tạo (Alexopoulos và cộng sự, 2010); quyền sở hữu đất

20 đai (Azam và Banumathi, 2015); kinh nghiệm, giáo dục và kiến thức (Soltani và cộng sự, 2013; Azam và Shaheen, 2019); sở thích rủi ro (Xie và cộng sự, 2015); động lực, chuẩn chủ quan (Asadollahpour và cộng sự, 2016); thái độ (Asadollahpour và cộng sự, 2016; Sharifuddin và cộng sự, 2016; Laepple, 2008)

Thứ hai, nhóm yếu tố thuộc về nhận thức của người nông dân: nhận thức về thị trường và sự đóng góp của canh tác hữu cơ để bảo vệ môi trường (Alexopoulos và cộng sự, 2010); an toàn sức khỏe (Aoki, 2014; Asadollahpour và cộng sự, 2014; Cranfield và cộng sự, 2010; Jierwiriyapant và cộng sự, 2012); nhu cầu xã hội và thách thức kinh tế (Cranfield và cộng sự, 2010); sự thành công của các trang trại hữu cơ lân cận và cơ hội xuất khẩu (Jierwiriyapant và cộng sự, 2012); thu nhập và cơ hội (Soltani và cộng sự, 2013); lợi nhuận, tài chính (Aoki, 2014; Asadollahpour và cộng sự, 2016; Cranfield và cộng sự, 2010, Ullah và cộng sự, 2015); chi phí, chi phí lao động (Ullah và cộng sự, 2015; Xie và cộng sự, 2015; Asadollahpour và cộng sự, 2016); khả năng tương thích, hiệu quả (Ullah và cộng sự, 2015); năng suất (Cranfield và cộng sự, 2010; Ullah và cộng sự, 2015); lợi ích (Xie và cộng sự, 2015); sự hữu ích, rủi ro (Sharifuddin và cộng sự, 2016); trồng trọt (Azam và Shaheen, 2018); sự quen thuộc với hệ thống sản xuất hữu cơ (Koutsoukos và Iakovidou, 2013); mục tiêu (Laepple, 2008)

Thứ ba, nhóm yếu tố thuộc về trang trại của người nông dân: quy mô trang trại

(Alexopoulos và cộng sự, 2010; Azam và Banumathi, 2015); việc sử dụng trang trại cho thuê (Azam và Shaheen, 2018)

Thứ tư, nhóm yếu tố thuộc về môi trường: kinh tế, thể chế, xã hội (Azam và

Shaheen, 2018; Laepple, 2008); môi trường (Cranfield và cộng sự, 2010); đào tạo (Jierwiriyapant và cộng sự, 2012); hỗ trợ từ mạng lưới nông nghiệp, kinh tế, vật lý, sinh học (Jierwiriyapant và cộng sự, 2012); sự cạnh tranh và cơ sở hạ tầng (Koutsoukos và Iakovidou, 2013); sự hợp tác sản xuất (Soltani và cộng sự, 2013); môi trường (Aoki, 2014; Asadollahpour và cộng sự, 2014; Altieri và cộng sự, 2017; Sharifuddin và cộng sự, 2016; Xie và cộng sự, 2015); tiếp cận tín dụng, tiếp cận thông tin (Ma và cộng sự, 2017)

Thứ năm, nhóm yếu tố thuộc về các chính sách truyền thông và hỗ trợ: sự hỗ trợ và chính sách của chính phủ (Asadollahpour và cộng sự, 2014; Azam và Shaheen, 2018; Soltani và cộng sự, 2013; Cranfield và cộng sự, 2010); mạng lưới tiếp thị (Azam và Shaheen, 2018; Koutsoukos và Iakovidou, 2013; Cranfield và cộng sự, 2010); kiểm soát sản xuất và chất lượng (Cranfield và cộng sự, 2010)

Bảng 2.1: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân

Stt Tác giả Yếu tố ảnh hưởng

Lý thuyết nghiên cứu về ý định của người nông dân

2.3.1 Lý thuy ế t hành vi có k ế ho ạ ch (Theory of planned behavior – TPB)

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) được Ajzen

(1985) phát triển dựa trên lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Do lý thuyết hành động hợp lý bị giới hạn khi dự đoán hành vi trong những tình huống mà ở đó các tác nhân không thể kiểm soát hoàn toàn hành vi của họ khi thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan không đủ để giải thích cho hành vi của họ (Hansen và cộng sự, 2004) Vì vậy, lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình TRA Yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi

27 thực hiện hành vi, điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi (Ajzen, 1991)

TPB cho rằng hành vi thực tế của người nông dân chịu sự tác động bởi cả ý định và nhận thức kiểm soát hành vi của họ Trong khi đó, ý định của người nông dân lại bị tác động bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi

TPB đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu với mục đích dự đoán ý định sử dụng và hành vi cụ thể của các cá nhân Hơn nữa, các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy sự phù hợp của mô hình này trong việc nghiên cứu hành vi của người nông dân (Borges và cộng sự, 2014; Deng và cộng sự, 2016; Djamaludin,

2018; Laepple, 2008; Nguyen và Nguyen, 2020; Senger và cộng sự, 2017)

Hình 2.2 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)

TPB đã thu hút được sự chú ý ngày càng tăng từ các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp Nhiều nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết này làm khung khái niệm chính cho mô hình nông dân quyết định áp dụng công nghệ mới TPB đã được sử dụng để hiểu người nông dân nhận thực hành bảo tồn đất (Wauters và cộng sự, 2010), việc áp dụng cải tiến hệ thống quản lý đồng cỏ tự nhiên (Borges và cộng sự, 2014), việc đa dạng hóa trang trại (Hansson và cộng sự, 2012), quyết định liên quan đến sử dụng đất ở đầu nguồn (Poppenborg và Koellner, 2013), chiến lược thay đổi khí hậu và bảo tồn nước (Yazdanpanah và cộng sự, 2014), sự phát triển của hành vi bảo tồn môi trường trong trang trại (Deng và cộng sự, 2016), ý định đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp

(Senger và cộng sự, 2017), ý định sử dụng thẻ nông dân (Djamaludin, 2018) Đối với việc chuyển đổi sang canh tác hữu cơ, một số nghiên cứu cũng áp dụng mô hình TPB làm khung lý thuyết chính như Hattam (2006) ở Mexico; Asadollahpour và cộng sự

Nhận thức kiểm soát hành vi Ý định Hành vi

2.3.2 Mô hình kích ho ạ t tiêu chu ẩ n (Norm Activation Model – NAM) Được phát triển bởi Schwartz (1977), NAM là một mô hình để giải thích hành vi ý định vị tha và ủng hộ môi trường (Onwezen và cộng sự, 2013) Dựa trên NAM, các hành vi/ý định vị tha là một chức năng của các chuẩn mực cá nhân (personal norm – PN) được kích hoạt bởi hai yếu tố: quy cho trách nhiệm (ascription of responsibility

- AR) và nhận thức về kết quả (awareness of consequences - AC) (Schwartz, 1977)

PN là tiền đề gần nhất cho ý định/hành vi, là một khía cạnh cốt lõi của mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (Harland và cộng sự, 1999)

Khi mọi người nhận thức được hậu quả tiêu cực của việc không thực hiện hành vi cho người khác (tức là AC) và cảm thấy có trách nhiệm cá nhân do hậu quả (tức là AR), những cá nhân đó sẽ cảm thấy có nghĩa vụ đạo đức cá nhân để thực hiện hành vi, lần lượt có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định của cá nhân (Setiawan và cộng sự, 2014; Shin và cộng sự, 2018) Tùy thuộc vào mức độ phù hợp của hành vi cá nhân với chuẩn mực cá nhân của một người mà người đó có thể phát triển một cảm giác tự hào hoặc tội lỗi

Hành vi ủng hộ môi trường là một trong những điều quan trọng các khía cạnh của hành vi ủng hộ xã hội (De Groot và Steg, 2009; Steg và De Groot, 2010) Theo đó, NAM có nguồn gốc từ một bối cảnh ủng hộ xã hội và đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu để giải thích không chỉ ý định/hành vi ủng hộ xã hội mà còn cả ý định ủng hộ môi trường/hành vi trong một loạt các bối cảnh (Bamberg và cộng sự, 2007; Bamberg và Mửser, 2007; Chen và Tung, 2014; Han và cộng sự, 2010; Harland và cộng sự, 1999; Kim và Han, 2010; Klửckner, 2013; Onwezen và cộng sự, 2013; Zhang và cộng sự, 2013) De Groot và Steg (2009) chỉ ra rằng hành vi ủng hộ môi trường của người được cho là trường hợp đặc biệt của hành vi ủng hộ xã hội vì nó cũng ngụ ý rằng mọi người đem lại lợi ích cho người khác, không có lợi ích cá nhân trực tiếp nào được nhận khi tham gia vào các hành vi này Do đó, hành vi ủng hộ xã hội bao gồm hành vi môi trường (De Groot và Steg, 2009; Steg và De Groot, 2010)

Hình 2.3 Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM)

Nhận thức về kết quả

Quy cho trách nhiệm Ý định và hành vi

NAM đã được áp dụng để dự đoán hành vi môi trường như bảo tồn năng lượng

(Black và cộng sự, 1985), lựa chọn chế độ du lịch (Hunecke, Blobaum, Matthies, và

Hoger, 2001), tái chế (Bratt, 1999; Hopper và Nielsen, 1991; Park và Ha, 2014), mua các sản phẩm bao bì hỗ trợ môi trường (Thogersen, 1999), ra quyết định liên quan đến môi trường của khách thăm bảo tàng (Han và Hyun, 2017), hành vi giao thông bền vững (Liu và cộng sự, 2017)

NAM kết hợp cùng TPB đã được áp dụng trong nghiên cứu của Rezaei và cộng sự (2019) về ý định của nông dân sử dụng các thực hành quản lý dịch hại tổng hợp

(IPM) - một phương pháp kiểm soát dịch hại thân thiện với môi trường

2.3.3 Lý thuy ế t ph ổ bi ế n đổ i m ớ i (Innovation Diffusion Theory – IDT)

Hình 2.4 Lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT)

IDT có thể được coi là một trong những lý thuyết phổ biến đã cố gắng khám phá các yếu tố ảnh hưởng sự chấp nhận của cá nhân đối với một sự đổi mới hoặc một công nghệ mới (Al-Jabri và Sohail, 2012) IDT mô tả quá trình thông qua những ý tưởng, thực tiễn hoặc công nghệ mới được lan truyền vào một hệ thống xã hội (Rogers,

2003) Nghiên cứu chính thức về IDT bởi nghiên cứu của Bryce Ryan và Neal Gross

(1943), từ lĩnh vực xã hội học; sau đó đã lan rộng ra nhiều lĩnh vực khác và nhiều nghiên cứu hỗ trợ các nguyên lý của nó (Rogers, 2003, 2004) Các ngành học trong đó lý thuyết này đã được áp dụng bao gồm nhân chủng học, truyền thông, địa lý, xã hội học, tiếp thị, chính trị, y tế công cộng và kinh tế học (Moseley, 2004; Rogers, 2004)

Rogers (1962) đã lập luận trong IDT rằng các cá nhân có được thông tin từ những người xung quanh, đặc biệt là những người đã trải qua quá trình tương tự và đưa ra quyết định mới Quá trình phổ biến rất quan trọng trong nông nghiệp vì nông dân có xu hướng dựa vào thông tin từ người xung quanh họ (Berger, 2001) và hàng

Khả năng quan sát xóm (Buttel và cộng sự, 1990) Các quá trình phổ biến trong nông nghiệp cần thiết đặc biệt khi nghiên cứu ở cấp địa phương vì những người khác rất dễ quan sát, những người đi qua trang trại và những người nông dân khác (Burton, 2004; Scmit và Rounsevell, 2006)

Trong đó, phổ biến được định nghĩa là quy trình mà một sự đổi mới được truyền đạt thông qua các kênh nhất định theo thời gian giữa các thành viên của một hệ thống xã hội (Rogers, 2003) Hall (2003) nói rằng trong nghiên cứu về đổi mới thuật ngữ phổ biến thường được sử dụng để mô tả quá trình mà các cá nhân hoặc các nhóm (công ty) trong xã hội/nền kinh tế áp dụng công nghệ mới hoặc thay thế công nghệ cũ bằng công nghệ mới Đổi mới được định nghĩa là một ý tưởng, thực hành hoặc đối tượng được coi là mới bởi một cá nhân hoặc đơn vị chấp nhận (Rogers, 2003) Kết quả cuối cùng của sự phổ biến là việc áp dụng, thực hiện và thể chế hóa

Khoảng trống nghiên cứu

BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 26/06/2021, 15:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w