1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân – nghiên cứu trên địa bàn hà nội

116 13 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Tới Ý Định Chấp Nhận Sản Xuất Nông Nghiệp Hữu Cơ Của Người Nông Dân – Nghiên Cứu Trên Địa Bàn Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Mai
Người hướng dẫn GS.TSKH. Lương Xuân Quỳ, PGS.TS. Phạm Văn Tuấn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Marketing
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU (6)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (0)
    • 1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu (7)
      • 1.2.1. Mục tiêu (7)
      • 1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu (7)
    • 1.3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu (7)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (7)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (8)
      • 1.3.3. Phương pháp nghiên cứu (8)
    • 1.4. Cấu trúc của đề tài luận án (9)
    • 1.5. Những đóng góp mới của luận án (9)
      • 1.5.1. Đóng góp về mặt lý thuyết (9)
      • 1.5.2. Đóng góp về mặt thực tiễn (10)
  • CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (10)
    • 2.1. Nông nghiệp hữu cơ và vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ (10)
      • 2.1.1. Nông nghiệp hữu cơ (10)
      • 2.1.2. Vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ (16)
      • 2.1.3. Bản chất kinh tế của sản xuất nông nghiệp hữu cơ và sự chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân (16)
    • 2.2. Tổng quan các nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ (18)
      • 2.2.1. Tổng quan nghiên cứu về ý định chấp nhận của người nông dân (18)
      • 2.2.2. Tổng quan các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân (19)
    • 2.3. Lý thuyết nghiên cứu về ý định của người nông dân (23)
      • 2.3.1. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of planned behavior – TPB) (23)
      • 2.3.2. Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (Norm Activation Model – NAM) (24)
      • 2.3.3. Lý thuyết phổ biến đổi mới (Innovation Diffusion Theory – IDT) (25)
      • 2.3.4. Lý thuyết động lực bảo vệ (Protection motivation theory - PMT) (26)
  • iv 2.4. Khoảng trống nghiên cứu (0)
    • 2.4.1. Các nội dung kế thừa (27)
    • 2.4.2. Khoảng trống nghiên cứu (27)
    • 2.4.3. Hướng nghiên cứu của đề tài (28)
    • 2.5. Căn cứ xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu (28)
      • 2.5.1. Kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM) (28)
      • 2.5.2. Kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT), lý thuyết động lực bảo vệ (PMT) (30)
    • 2.6. Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu (30)
      • 2.6.1. Mô hình nghiên cứu (30)
      • 2.6.2. Các giả thuyết nghiên cứu (32)
  • CHƯƠNG 3: BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1. Bối cảnh nghiên cứu (36)
      • 3.1.1. Lúa hữu cơ (36)
      • 3.1.2. Rau hữu cơ (38)
      • 3.1.3. Cây ăn quả hữu cơ (40)
      • 3.1.4. Chè hữu cơ (42)
      • 3.1.5. Dược liệu hữu cơ (43)
      • 3.1.6. Đánh giá chung (45)
      • 3.1.7. Định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Hà Nội (0)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (46)
      • 3.2.1. Quy trình và phương pháp nghiên cứu (46)
      • 3.2.2. Nghiên cứu định tính (49)
      • 3.2.3. Nghiên cứu định lượng (50)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (59)
    • 4.1. Kết quả nghiên cứu định tính (0)
      • 4.1.1. Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của mô hình NAM (59)
      • 4.1.2. Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của lý thuyết IDT và PMT (59)
      • 4.1.3. Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của lý thuyết TPB (59)
    • 4.2. Kết quả nghiên cứu định lượng (60)
      • 4.2.1. Thống kê mẫu nghiên cứu (60)
      • 4.2.2. Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha (60)
      • 4.2.3. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) (65)
      • 4.2.4. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA) (72)
      • 4.2.5. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (76)
    • 4.3. So sánh mô hình nghiên cứu theo nhóm của các biến kiểm soát bằng phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm (80)
      • 4.3.1. Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo giới tính (80)
      • 4.3.2. Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo độ tuổi (82)
      • 4.3.3. Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo trình độ học vấn (82)
      • 4.3.4. Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo kinh nghiệm làm nông nghiệp 102 4.3.5. Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo thu nhập hàng năm từ nông nghiệp (82)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (84)
    • 5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu (84)
    • 5.2. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm thúc đẩy ý định sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân (85)
      • 5.2.1. Kiến nghị giải pháp nhằm thay đổi nhận thức của nông dân về giá trị sản xuất nông nghiệp hữu cơ (85)
      • 5.2.2. Kiến nghị giải pháp để phát triển nông nghiệp hữu cơ thành công nhằm thay đổi nhận thức về rủi ro của người nông dân về sản xuất nông nghiệp hữu cơ (86)
      • 5.2.3. Một số đề xuất, kiến nghị với chính quyền Thành phố Hà Nội (92)
    • 5.3. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo (93)
      • 5.3.1. Hạn chế của nghiên cứu (93)
      • 5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo (94)
    • 5.4. Kết luận (94)

Nội dung

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu Mục tiêu tổng quát: Luận án nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân; từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân.

- Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân

Mô hình nghiên cứu được xây dựng nhằm tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân tại Hà Nội Nghiên cứu này sẽ giúp xác định các yếu tố quyết định và cung cấp cái nhìn sâu sắc về xu hướng chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ trong cộng đồng nông dân.

Để thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân tại Hà Nội, cần có các đề xuất và kiến nghị cụ thể cho cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng Các cơ quan quản lý cần xây dựng chính sách hỗ trợ và cung cấp thông tin về lợi ích của nông nghiệp hữu cơ Doanh nghiệp có thể hợp tác với nông dân để phát triển chuỗi cung ứng bền vững, trong khi người tiêu dùng nên nâng cao nhận thức về giá trị của sản phẩm hữu cơ, từ đó tạo ra thị trường ổn định cho nông sản hữu cơ.

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, luận án sẽ hướng đến tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:

Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân tại Hà Nội Các yếu tố này có thể bao gồm nhận thức về lợi ích của nông nghiệp hữu cơ, hỗ trợ từ chính quyền, và kiến thức về kỹ thuật canh tác hữu cơ Hiểu rõ cách thức mà những yếu tố này tác động đến quyết định của nông dân sẽ giúp thúc đẩy sự chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp bền vững hơn.

Để thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân, cần thực hiện một số giải pháp và kiến nghị quan trọng Trước hết, cần tăng cường đào tạo và cung cấp thông tin về lợi ích của nông nghiệp hữu cơ cho nông dân Thứ hai, chính sách hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ chính phủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ Cuối cùng, xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm hữu cơ và khuyến khích hợp tác giữa các nông dân sẽ giúp nâng cao giá trị sản phẩm và tăng cường sự chấp nhận của người dân đối với nông nghiệp hữu cơ.

Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân Người nông dân ở đây là người đại diện hộ nông dân đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Trong hai lĩnh vực chính của nông nghiệp hữu cơ là trồng trọt và chăn nuôi thì tác giả tập trung vào đối tượng nghiên cứu là trồng trọt.

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân bao gồm nhận thức về lợi ích, kiến thức về kỹ thuật canh tác hữu cơ và hỗ trợ từ chính quyền Để thúc đẩy người nông dân chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ, cần có các kiến nghị như tổ chức các khóa đào tạo, cung cấp thông tin và tạo điều kiện tiếp cận thị trường Những biện pháp này sẽ góp phần phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Hà Nội, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nông dân đang canh tác thông thường tại Hà Nội Do hạn chế về nguồn lực, tác giả chỉ khảo sát nông dân ở một số khu vực như Sóc Sơn, Đan Phượng và Thạch Thất, nơi có diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ đáng kể Đặc biệt, Thạch Thất nổi bật với trang trại Hoa Viên, có diện tích gần 10 ha Tác giả chú trọng đến sự đa dạng về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm nông và thu nhập hàng năm từ nông nghiệp để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố nhân khẩu học này và ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Trong nghiên cứu này, tác giả đã thu thập số liệu thứ cấp từ các nghiên cứu trước đây liên quan đến lý thuyết và thực tiễn sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội, trong giai đoạn 2015 - 2020 Đối với số liệu sơ cấp, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu với các chuyên gia và nông dân, cùng với việc khảo sát nông dân canh tác thông thường tại một số khu vực ở Hà Nội vào năm 2019 Từ những dữ liệu này, tác giả đề xuất một số kiến nghị cho cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nông dân.

Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp được áp dụng để xử lý số liệu thứ cấp từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, nhằm xây dựng khung lý thuyết, mô hình và giả thuyết nghiên cứu.

Phương pháp định tính, đặc biệt là phỏng vấn sâu, được sử dụng để đánh giá mức độ phù hợp của các yếu tố và quan sát trong nghiên cứu Qua đó, nghiên cứu có thể xác định các nhóm yếu tố phù hợp với điều kiện môi trường nghiên cứu, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân.

6 qua việc kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu bằng việc sử dụng các kỹ thuật của phần mềm SPSS vàAMOS.

Cấu trúc của đề tài luận án

Luận án được cấu trúc thành 5 chương:

Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài luận án.

Chương 2 Tổng quan nghiên cứu Chương này trình bày kết quả của tổng quan nghiên cứu, từ cơ sở lý thuyết tới rà soát các công trình nghiên cứu có liên quan làm lựa chọn và điều chỉnh mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh và vấn đề nghiên cứu.

Chương 3 Bối cảnh và phương pháp nghiên cứu Chương này giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu – liên quan tới thực trạng và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại Hà Nội; phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng để phát hiện vấn đề mới và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới ý định sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nông dân Việt Nam.

Chương 5 Kết luận và kiến nghị Chương này tổng hợp lại kết quả nghiên cứu để đưa ra các kết luận về giả thuyết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của kết quả nghiên cứu; đề xuất kiến nghị

Những đóng góp mới của luận án

1.5.1 Đóng góp về mặt lý thuyết

Luận án áp dụng mô hình tích hợp với hai cách tiếp cận: một là dựa trên lý thuyết hành vi (TPB, IDT, PMT) và hai là cách tiếp cận đạo đức (NAM) để nghiên cứu ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nông dân Việt Nam Kết quả cho thấy lợi thế hành vi so sánh có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định này, trong khi các yếu tố như thái độ, chuẩn chủ quan, cảm nhận khả năng kiểm soát, chuẩn mực cá nhân và chính sách hỗ trợ của Chính phủ không có sự khác biệt đáng kể về mức độ ảnh hưởng.

Luận án nghiên cứu sử dụng mô hình gồm 10 thang đo và 50 quan sát nhằm khám phá các yếu tố tác động đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nông dân tại Việt Nam, với trọng tâm là khu vực Hà Nội.

1.5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nông dân tại Hà Nội có sự khác biệt Trong số đó, "lợi thế hành vi so sánh của người nông dân" là yếu tố có tác động mạnh nhất Khi lợi ích kinh tế được đảm bảo, nông dân có xu hướng chuyển đổi từ canh tác truyền thống sang phương thức canh tác hữu cơ.

Cơ quan quản lý nhà nước cần tác động đến nhận thức của người nông dân về sản xuất nông nghiệp hữu cơ Khi nông dân hiểu rõ sự khác biệt và có kiến thức về nông nghiệp hữu cơ, họ sẽ tự tin hơn trong việc canh tác và kiểm soát năng suất Điều này sẽ thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ, góp phần phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp.

Nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị về chính sách giá cả và kênh phân phối cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp hữu cơ và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nó so với sản xuất nông nghiệp thông thường.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Nông nghiệp hữu cơ và vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ

2.1.1 Nông nghiệp hữu cơ 2.1.1.1 Khái niệm

Nguyễn Thế Đặng và cộng sự (2012) định nghĩa nông nghiệp hữu cơ là phương thức sản xuất nông nghiệp dựa trên các chu trình sinh học tự nhiên Nông nghiệp hữu cơ tuân theo quy luật sinh học tự nhiên, đảm bảo quy trình sản xuất diễn ra một cách tự nhiên và bền vững.

Nông nghiệp hữu cơ được xem là hình thức sản xuất nông nghiệp đặc biệt và là nền tảng cho sản xuất nông nghiệp bền vững, theo Katić và cộng sự (2010) Nó đáp ứng tốt các yêu cầu về bảo vệ môi trường bền vững Kilcher (2006) và Henning cùng cộng sự (1991) định nghĩa nông nghiệp hữu cơ là nền nông nghiệp sử dụng hoàn toàn các yếu tố đầu vào hữu cơ, tương đương với nông nghiệp bền vững Theo Lampkin (1994), nông nghiệp hữu cơ tạo ra các hệ thống sản xuất tích hợp, nhân văn và bền vững về môi trường cũng như kinh tế.

Liên đoàn phong trào Nông nghiệp hữu cơ Quốc tế (IFOAM) định nghĩa nông nghiệp hữu cơ là hệ thống sản xuất bảo vệ sức khỏe đất, hệ sinh thái và con người Hệ thống này dựa vào các quy trình sinh thái và đa dạng sinh học, thích ứng với điều kiện địa phương, thay vì sử dụng các yếu tố đầu vào gây hại Nông nghiệp hữu cơ loại bỏ việc sử dụng phân bón hóa học tổng hợp, thuốc trừ sâu và các chất phụ gia, nhằm giảm ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe con người và sản xuất nông sản sạch.

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, canh tác hữu cơ được công nhận là một hệ thống sản xuất thân thiện với môi trường và là phương pháp nông nghiệp bền vững.

Parrott và cộng sự (2006) phân loại canh tác hữu cơ ở các quốc gia đang phát triển thành hai loại: canh tác hữu cơ được chứng nhận chính thức và canh tác hữu cơ không chính thức Canh tác hữu cơ được chứng nhận thường tập trung vào xuất khẩu sản phẩm, trong khi canh tác hữu cơ không chính thức chủ yếu liên quan đến các hoạt động quy mô nhỏ nhằm cải thiện đời sống.

Hệ thống chứng nhận là yếu tố quan trọng giúp nông dân tiếp cận thị trường quốc tế, tuy nhiên, việc phát triển thị trường nội địa cho các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ không chính thức cũng cần được chú trọng (Goldberger, 2008; Parrott và cộng sự).

Nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng nông nghiệp hữu cơ có những đặc điểm riêng biệt sau (Haccius, 1996):

Hoạt động sản xuất nông nghiệp cần tuân theo nguyên tắc của hệ sinh thái, trong đó con người, đất đai, cây trồng và vật nuôi tạo thành một thể thống nhất, tương tác chặt chẽ với nhau như một hệ thống hữu cơ.

Nông nghiệp hữu cơ hướng tới việc tạo ra sự hài hòa giữa hoạt động kinh tế và thiên nhiên Khi các hoạt động này không tuân theo quy luật tự nhiên, chúng có thể gây ra những hệ quả tiêu cực, dẫn đến sự phát triển không bền vững.

Sản xuất nông nghiệp sẽ tiến bộ khi tập trung vào việc tối ưu hóa và nâng cao độ phì nhiêu tự nhiên của đất, đồng thời cải thiện khả năng chống chịu của cây trồng và vật nuôi trước các loại sâu bệnh.

- Chăn nuôi là một hợp phần thích ứng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ.

Hệ thống canh tác này không bị tác động bởi việc sử dụng các nguyên liệu lạ bên ngoài nông trại, như phân vô cơ dễ tan và thuốc bảo vệ thực vật hóa học.

2.1.1.2 Cơ sở khoa học của sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ dựa trên cơ sở khoa học là tuân theo chu trình sinh học tự nhiên, tận dụng tối đa các yếu tố tự nhiên sẵn có Điều này đồng nghĩa với việc loại bỏ các yếu tố nhân tạo như phân bón vô cơ dễ tan, thuốc hóa học bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng vô cơ, và thức ăn chăn nuôi chứa nhiều chất kích thích.

Trong nông nghiệp hữu cơ, mối quan hệ giữa con người, đất đai, cây trồng và vật nuôi được tối ưu hóa, tạo nên sự liên kết chặt chẽ và bền vững Mỗi yếu tố trong hệ sinh thái này đều được tôn trọng, giúp phát huy tối đa tiềm năng tự nhiên của chúng.

Nguyên tắc cơ bản của canh tác hữu cơ được liệt kê dưới đây (IFOAM, 1992):

- Sản xuất thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao, đủ số lượng.

- Phối hợp một cách xây dựng và theo hướng củng cố cuộc sống giữa tất cả các chu kỳ và hệ thống tự nhiên.

Khuyến khích và thúc đẩy chu trình sinh học trong hệ thống canh tác là rất quan trọng, bao gồm việc duy trì sự cân bằng của vi sinh vật, quần thể động thực vật trong đất, cũng như tối ưu hóa sự phát triển của cây trồng và vật nuôi.

- Duy trì và tăng độ phì nhiêu của đất trồng về mặt dài hạn.

- Sử dụng càng nhiều càng tốt các nguồn tái sinh trong hệ thống nông nghiệp có tổ chức ở địa phương.

- Làm việc càng nhiều càng tốt trong một hệ thống khép kín đối với các yếu tố dinh dưỡng và chất hữu cơ.

- Làm việc càng nhiều càng tốt với các nguyên vật liệu, các chất có thể tái sử dụng hoặc tái sinh, hoặc ở trong trang trại hoặc là ở nơi khác.

- Cung cấp cho tất cả các con vật nuôi trong trang trại những điều kiện cho phép chúng thực hiện những bản năng bẩm sinh của chúng.

- Giảm đến mức tối thiểu các loại ô nhiễm do kết quả của sản xuất nông nghiệp gây ra.

Duy trì sự đa dạng hóa nguồn gen trong nông nghiệp hữu cơ là rất quan trọng, bao gồm việc bảo vệ thực vật và bảo vệ môi trường sống của động thực vật hoang dã xung quanh.

Người sản xuất nông nghiệp cần được đảm bảo quyền sống theo Công ước Nhân quyền của Liên hiệp quốc, để có thể đáp ứng các nhu cầu cơ bản, đạt được thu nhập hợp lý và cảm thấy hài lòng với công việc của mình, trong đó bao gồm cả việc được làm việc trong một môi trường an toàn.

Tổng quan các nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ

2.2.1 Tổng quan nghiên cứu về ý định chấp nhận của người nông dân Ý định chấp nhận của người nông dân là chủ đề trong nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước Các nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu ý định chấp nhận của người nông dân trong các lĩnh vực khác nhau Luận án sẽ tổng quan một số các công trình trong và ngoài nước về ý định chấp nhận của người nông dân liên quan đến lĩnh vực và khung lý thuyết mà những nghiên cứu này hướng đến.

2.2.1.1 Các lĩnh vực đã nghiên cứu

Nghiên cứu của các học giả nước ngoài cho thấy ý định chấp nhận của người nông dân được khám phá qua nhiều lĩnh vực, đặc biệt là ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội và quá trình truyền thông thích ứng với khí hậu Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong quyết định của nông dân về việc áp dụng các chiến lược thích ứng nhằm đối phó với hạn hán và lũ lụt.

Nghiên cứu của Arunrat và cộng sự (2017) đã phân tích mô hình giải thích những khó khăn mà nông dân Canada gặp phải trong việc chấp nhận công nghệ nông nghiệp chính xác.

Nghiên cứu của Aubert và cộng sự (2012) tập trung vào việc sử dụng sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ công nghệ thông tin tại Trung Quốc Amin và Li (2014) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng đồng cỏ tự nhiên đã được cải tạo tại Brazil Cook và Fairweather (2003) tìm hiểu sự thay đổi trong ý định, thái độ và niềm tin của nông dân về công nghệ gen tại New Zealand Deng và cộng sự (2016) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định bảo tồn thành tựu sinh thái từ các chương trình dịch vụ hệ sinh thái tại Trung Quốc Djamaludin (2018) nghiên cứu ý định của nông dân Indonesia về việc sử dụng thẻ nông dân Hansson và cộng sự (2012) giải thích các cấu trúc tâm lý ảnh hưởng đến quyết định mở rộng kinh doanh trang trại tại Thụy Điển Le Dang và cộng sự (2014) điều tra ý định thích ứng của nông dân Việt Nam với giá điện, nước và nhiên liệu Rezaei và cộng sự (2019) kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thực hành quản lý dịch hại tổng hợp tại Iran Senger và cộng sự (2017) xác định yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến ý định đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp tại Brazil Sharifzadeh và cộng sự (2017) nghiên cứu ý định chấp nhận chiến lược kiểm soát sinh học đối với sâu đục thân lúa tại Iran Terano và cộng sự (2015) điều tra ý định thực hành nông nghiệp bền vững của nông dân trồng lúa tại Malaysia Van Dijk và cộng sự (2016) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện biện pháp môi trường nông nghiệp không trợ cấp tại Hà Lan Yazdanpanah và cộng sự (2014) nghiên cứu ý định bảo tồn nước giữa nông dân quản lý nước truyền thống và nông dân sử dụng chiến lược quản lý nước tiên tiến tại Iran Zamasiya và cộng sự (2017) xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của nông dân sản xuất nhỏ trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu tại Zimbabwe Cuối cùng, Zhou và cộng sự (2008) tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận công nghệ tiết kiệm nước trong sản xuất lúa gạo tại Trung Quốc.

Nghiên cứu của các học giả trong nước cho thấy ý định chấp nhận của người nông dân được khảo sát qua nhiều lĩnh vực khác nhau Một nghiên cứu tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An, đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm trồng lúa (Nguyễn Duy Chinh và cộng sự, 2016) Đồng thời, các yếu tố tác động đến quyết định áp dụng biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu của nông dân ven biển cũng được phân tích, trong đó có việc xác định và định lượng các yếu tố ảnh hưởng rõ ràng và không rõ ràng.

19 quyết định ứng xử của người nông dân xã Giao Thiện, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Nghiên cứu của Đặng Thị Hoa và cộng sự (2013) đã chỉ ra hiện tượng "điệp khúc trồng chặt" diễn ra sôi động tại vùng đồng bằng sông Cửu Long trong những thập kỷ qua Ngô Thị Phương Lan (2017) cũng đã phân tích việc chuyển dịch của người nông dân từ trồng lúa sang nuôi tôm như một hành vi chấp nhận rủi ro Bên cạnh đó, Hoàng Thu đã kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân tại tỉnh Phú Yên.

Thủy và Bùi Hoàng Minh Thư, 2018).

2.2.1.2 Khung lý thuyết đã sử dụng

Nghiên cứu về ý định chấp nhận của người nông dân đã được thực hiện dựa trên nhiều khung lý thuyết khác nhau, bao gồm sự kết hợp giữa mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT) (Aubert và cộng sự, 2012), cũng như việc áp dụng mô hình TAM (Amin và Li, 2014) và lý thuyết hành vi có kế hoạch.

Planned Behavior – TPB) (Arunrat và cộng sự, 2017; Borges và cộng sự, 2014; Cook và

Fairweather, 2003; Deng và cộng sự, 2016; Djamaludin, 2018; Hansson và cộng sự,

2012; Senger và cộng sự, 2017; Terano và cộng sự, 2015; Van Dijk và cộng sự, 2016;

Yazdanpanah và cộng sự, 2014); sử dụng lý thuyết động lực bảo vệ (Protection

Motivation Theory (PMT) integrates the Theory of Planned Behavior (TPB) and the Norm Activation Model (NAM) to understand behavioral intentions (Le Dang et al., 2014; Rezaei et al., 2019) Additionally, it combines the Technology Acceptance Model (TAM) with Innovation Diffusion Theory (IDT) to analyze technology adoption (Aubert et al., 2012) This extended version of existing models provides a comprehensive framework for examining motivational factors influencing behavior and technology acceptance.

TAM là TAM2 kết hợp lý thuyết IDT (Sharifzadeh và cộng sự, 2017).

2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân

Nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ chủ yếu được thực hiện bởi các học giả nước ngoài, tập trung vào việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người nông dân Các yếu tố này được phân loại thành nhiều nhóm khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong các yếu tố tác động đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Nhóm yếu tố nhân khẩu học, tính cách và quan điểm của người nông dân bao gồm độ tuổi, giới tính và trình độ học vấn Các nghiên cứu của Alexopoulos và cộng sự (2010), Azam và Banumathi (2015), cùng Xie và cộng sự (2015) đã chỉ ra rằng những yếu tố này có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi và quyết định của người nông dân.

Banumathi, 2015); tính sáng tạo (Alexopoulos và cộng sự, 2010); quyền sở hữu đất

Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định và hành vi của cá nhân, bao gồm 20 đai (Azam và Banumathi, 2015), kinh nghiệm, giáo dục và kiến thức (Soltani và cộng sự, 2013; Azam và Shaheen, 2019), sở thích rủi ro (Xie và cộng sự, 2015), động lực, chuẩn chủ quan (Asadollahpour và cộng sự, 2016), cùng với thái độ (Asadollahpour và cộng sự, 2016; Sharifuddin và cộng sự, 2016; Laepple, 2008).

Nhóm yếu tố nhận thức của người nông dân bao gồm nhận thức về thị trường và vai trò của canh tác hữu cơ trong bảo vệ môi trường, cũng như an toàn sức khỏe Các yếu tố xã hội và thách thức kinh tế, cùng với sự thành công của các trang trại hữu cơ lân cận và cơ hội xuất khẩu, cũng ảnh hưởng đến quyết định của họ Thu nhập, lợi nhuận, và tình hình tài chính là những yếu tố quan trọng, bên cạnh chi phí lao động và khả năng tương thích với hệ thống sản xuất Năng suất và lợi ích từ canh tác hữu cơ, cùng với mức độ quen thuộc với hệ thống này, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mục tiêu của người nông dân.

Thứ ba, nhóm yếu tố thuộc về trang trại của người nông dân: quy mô trang trại

(Alexopoulos và cộng sự, 2010; Azam và Banumathi, 2015); việc sử dụng trang trại cho thuê (Azam và Shaheen, 2018).

Nhóm yếu tố môi trường bao gồm các yếu tố kinh tế, thể chế và xã hội (Azam và Shaheen, 2018; Laepple, 2008), cùng với môi trường tự nhiên (Cranfield và cộng sự, 2010) Đào tạo là một yếu tố quan trọng (Jierwiriyapant và cộng sự, 2012), cùng với sự hỗ trợ từ các mạng lưới nông nghiệp, kinh tế, vật lý và sinh học (Jierwiriyapant và cộng sự, 2012) Sự cạnh tranh và cơ sở hạ tầng cũng đóng vai trò quan trọng (Koutsoukos và Iakovidou, 2013), bên cạnh hợp tác sản xuất (Soltani và cộng sự, 2013) Các yếu tố môi trường khác được nhấn mạnh (Aoki, 2014; Asadollahpour và cộng sự, 2014; Altieri và cộng sự, 2017; Sharifuddin và cộng sự, 2016; Xie và cộng sự, 2015), cùng với việc tiếp cận tín dụng và thông tin (Ma và cộng sự, 2017).

Nhóm yếu tố liên quan đến chính sách truyền thông và hỗ trợ bao gồm sự hỗ trợ và chính sách của chính phủ, mạng lưới tiếp thị, cũng như kiểm soát sản xuất và chất lượng Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự can thiệp của chính phủ (Asadollahpour và cộng sự, 2014; Azam và Shaheen, 2018) và các mạng lưới tiếp thị hiệu quả (Azam và Shaheen, 2018; Koutsoukos và Iakovidou, 2013) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm (Cranfield và cộng sự, 2010).

Bảng 2.1: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân đã chỉ ra rằng có năm nhóm yếu tố chính tác động đến quyết định này Các học giả nước ngoài đã phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa những yếu tố này và ý định của người nông dân trong việc chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Lý thuyết nghiên cứu về ý định của người nông dân

2.3.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of planned behavior – TPB)

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) được Ajzen

Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) được phát triển vào năm 1985 nhưng gặp hạn chế trong việc dự đoán hành vi khi các tác nhân không kiểm soát hoàn toàn hành vi của mình Để khắc phục điều này, Ajzen đã xây dựng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) bằng cách bổ sung yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi, phản ánh mức độ dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi, phụ thuộc vào sự sẵn có của nguồn lực và cơ hội (Hansen và cộng sự, 2004; Ajzen, 1991).

TPB cho rằng hành vi của người nông dân bị ảnh hưởng bởi cả ý định và nhận thức kiểm soát hành vi Ý định này, trong khi đó, lại chịu tác động từ thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi của họ.

TPB đã được chấp nhận và ứng dụng phổ biến trong các nghiên cứu nhằm dự đoán ý định sử dụng và hành vi của cá nhân Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh tính hiệu quả của mô hình này trong việc phân tích hành vi của nông dân (Borges và cộng sự, 2014; Deng và cộng sự, 2016; Djamaludin, 2018).

Laepple, 2008; Nguyen và Nguyen, 2020; Senger và cộng sự, 2017).

Nhận thức kiểm soát hành vi

Hình 2.2 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)

Lý thuyết TPB đang thu hút sự chú ý từ các nhà nghiên cứu nông nghiệp, trở thành khung khái niệm chính cho mô hình quyết định áp dụng công nghệ mới của nông dân Nhiều nghiên cứu đã ứng dụng TPB để hiểu các vấn đề như thực hành bảo tồn đất (Wauters và cộng sự, 2010), cải tiến quản lý đồng cỏ (Borges và cộng sự, 2014), đa dạng hóa trang trại (Hansson và cộng sự, 2012), quyết định sử dụng đất ở đầu nguồn (Poppenborg và Koellner, 2013), chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo tồn nước (Yazdanpanah và cộng sự, 2014), phát triển hành vi bảo tồn môi trường (Deng và cộng sự, 2016), và ý định đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp.

Nghiên cứu của Senger và cộng sự (2017) cùng với Djamaludin (2018) đã chỉ ra rằng ý định sử dụng thẻ nông dân có vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi sang canh tác hữu cơ Một số nghiên cứu, như Hattam (2006) tại Mexico và Asadollahpour cùng các cộng sự, đã áp dụng mô hình Thuyết hành vi dự kiến (TPB) làm khung lý thuyết chính để phân tích vấn đề này.

2.3.2 Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (Norm Activation Model – NAM) Được phát triển bởi Schwartz (1977), NAM là một mô hình để giải thích hành viý định vị tha và ủng hộ môi trường (Onwezen và cộng sự, 2013) Dựa trên NAM, các hành vi/ý định vị tha là một chức năng của các chuẩn mực cá nhân (personal norm – PN) được kích hoạt bởi hai yếu tố: quy cho trách nhiệm (ascription of responsibility - AR) và nhận thức về kết quả (awareness of consequences - AC) (Schwartz, 1977) PN là tiền đề gần nhất cho ý định/hành vi, là một khía cạnh cốt lõi của mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (Harland và cộng sự, 1999).

Khi mọi người nhận thức rõ ràng về hậu quả tiêu cực của việc không thực hiện hành vi có trách nhiệm và cảm thấy trách nhiệm cá nhân đối với những hậu quả đó, họ sẽ có nghĩa vụ đạo đức để hành động Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến ý định của cá nhân, và mức độ phù hợp của hành vi với chuẩn mực cá nhân sẽ quyết định cảm giác tự hào hoặc tội lỗi mà họ trải qua (Setiawan và cộng sự, 2014; Shin và cộng sự, 2018).

Hành vi ủng hộ môi trường đóng vai trò quan trọng trong hành vi ủng hộ xã hội (De Groot và Steg, 2009; Steg và De Groot, 2010) Mô hình NAM, phát triển từ bối cảnh ủng hộ xã hội, đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu để giải thích ý định và hành vi liên quan đến cả ủng hộ xã hội lẫn môi trường trong nhiều tình huống khác nhau (Bamberg và cộng sự, 2007; Bamberg và Mửser, 2007; Chen và Tung, 2014; Han và cộng sự, 2010; Harland và cộng sự, 1999; Kim và Han, 2010; Klửckner, 2013; Onwezen và cộng sự, 2013; Zhang và cộng sự).

Hành vi ủng hộ môi trường được coi là một trường hợp đặc biệt của hành vi ủng hộ xã hội, theo nghiên cứu của De Groot và Steg (2009) Điều này có nghĩa là khi tham gia vào các hành vi môi trường, mọi người đang mang lại lợi ích cho cộng đồng mà không nhận được lợi ích cá nhân trực tiếp Do đó, hành vi ủng hộ xã hội bao gồm cả hành vi ủng hộ môi trường (De Groot và Steg, 2009; Steg và De Groot, 2010).

Nhận thức về kết quả

Hình 2.3 Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM)

NAM đã được áp dụng để dự đoán hành vi môi trường như bảo tồn năng lượng

(Black và cộng sự, 1985), lựa chọn chế độ du lịch (Hunecke, Blobaum, Matthies, và

Nghiên cứu của Hoger (2001) chỉ ra rằng tái chế (Bratt, 1999; Hopper và Nielsen, 1991; Park và Ha, 2014) và việc mua các sản phẩm bao bì thân thiện với môi trường (Thogersen, 1999) đóng vai trò quan trọng trong quyết định liên quan đến môi trường của khách tham quan bảo tàng (Han và Hyun, 2017) Ngoài ra, hành vi giao thông bền vững cũng được nhấn mạnh trong nghiên cứu của Liu và cộng sự (2017).

NAM kết hợp cùng TPB đã được áp dụng trong nghiên cứu của Rezaei và cộng sự

(2019) về ý định của nông dân sử dụng các thực hành quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) - một phương pháp kiểm soát dịch hại thân thiện với môi trường.

2.3.3 Lý thuyết phổ biến đổi mới (Innovation Diffusion Theory – IDT)

Các quá trình phổ biến trong nông nghiệp rất quan trọng khi nghiên cứu ở cấp địa phương, vì chúng dễ dàng quan sát bởi những người đi qua trang trại và các nông dân khác (Burton, 2004; Schmit và Rounsevell, 2006).

Phổ biến được hiểu là quy trình truyền đạt sự đổi mới qua các kênh trong một hệ thống xã hội theo thời gian (Rogers, 2003) Hall (2003) nhấn mạnh rằng thuật ngữ này thường mô tả quá trình mà cá nhân hoặc nhóm (công ty) trong xã hội/nền kinh tế áp dụng công nghệ mới hoặc thay thế công nghệ cũ Đổi mới được định nghĩa là một ý tưởng, thực hành hoặc đối tượng mới.

Hình 2.4 Lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT)

N g u ồ n:R o g e r s,2003 coi là mới bởi một cá nhân hoặc đơn vị chấp nhận

IDT đã thống trị lý thuyết và thực hành khuyến nông toàn cầu trong hơn 50 năm, được công nhận là hiệu quả trong mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ (Padel, 2001) Trong khi đổi mới thường tập trung vào công nghệ, khía cạnh xã hội của đổi mới trong nông nghiệp hữu cơ lại gần gũi với nguyên tắc sinh thái của nông nghiệp bền vững, tạo ra sự khác biệt so với nông nghiệp truyền thống (Beauchesne và Bryant, 1999) Nông nghiệp hữu cơ được xem như một hình thức nông nghiệp đổi mới phức tạp (Sutherland và Darnhofer).

Nông nghiệp hữu cơ đã trở nên dễ chấp nhận hơn từ năm 2012, đặc biệt khi người ta nhận thấy nó mang lại lợi nhuận cao hơn Lý thuyết IDT là một trong những lý thuyết phổ biến nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận của cá nhân đối với đổi mới và công nghệ mới.

(Al-Jabri và Sohail, 2012) IDT mô tả quá trình thông qua những ý tưởng, thực tiễn hoặc công nghệ mới được lan truyền vào một hệ thống xã hội

(Rogers, 2003) Nghiên cứu chính thức về IDT bởi nghiên cứu của Bryce Ryan và Neal

Gross (1943), từ lĩnh vực xã hội học; sau đó đã lan rộng ra nhiều lĩnh vực khác và nhiều nghiên cứu hỗ trợ các nguyên lý của nó (Rogers, 2003, 2004).

Lý thuyết này đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều ngành học, bao gồm nhân chủng học, truyền thông, địa lý, xã hội học, tiếp thị, chính trị, y tế công cộng và kinh tế học (Moseley).

Khoảng trống nghiên cứu

BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 26/06/2021, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w