1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Chất Lượng Thông Tin Trên Báo Cáo

119 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” là công trình ng

Trang 1

TRẦN THỊ KIM THÚY

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

TRẦN THỊ KIM THÚY

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS HUỲNH ĐỨC LỘNG

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của

PGS-TS Huỳnh Đức Lộng Các số liệu, dữ liệu được đưa ra trong luận án là trung thực Những kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kì nghiên cứu nào khác

Phú Yên, tháng 3 năm 2019

Tác giả

Trần Thị Kim Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT

ABSTRACT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Các mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Những đóng góp của luận văn 4

7 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 5

1.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài 5

1.2 Tổng quan các nghiên cứu Việt Nam 9

1.3 Các phương pháp đo lường CLTT BCTC 13

1.4 Nhận xét các nghiên cứu 14

1.5 Xác định khe hổng nghiên cứu 15

1.6 Định hướng nghiên cứu 16

Kết luận chương 1 16

Trang 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18

2.1 Khái niệm CLTT 18

2.2 Khái niệm CLTT BCTC 19

2.3 Các cơ sở lý thuyết 22

2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) 22

2.3.2 Lý thuyết xử lý thông tin (Information Processing Theory) 23

2.3.3 Lý thuyết quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management-TQM) 24

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLTTBCTC của NHTM 25

2.4.1 Quản trị ngân hàng 25

2.4.2 Kiểm soát nội bộ 26

2.4.3 Chất lượng phần mềm kế toán 28

2.4.4 Đào tạo nhân viên 29

2.4.5 Năng lực nhân viên kế toán 30

2.4.6 Áp lực từ thuế 32

2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 34

2.6 Đặc điểm của ngành ngân hàng 34

Kết luận chương 2 36

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

3.1 Qui trình nghiên cứu 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 38

3.2.1 Các giả thuyết nghiên cứu 38

3.2.2 Thiết kế nghiên cứu định tính 39

3.2.3 Kết quả nghiên cứu định tính 39

Trang 6

3.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 40

3.3.1 Thiết kế thang đo 40

3.3.2 Phương pháp chọn mẫu 45

3.3.3 Mẫu khảo sát – Đối tượng khảo sát 45

3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 45

3.4.1 Phương pháp thống kê mô tả 45

3.4.2 Kiểm định Cronbach 46

3.4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 46

3.4.3.1 Kiểm định KMO 46

3.4.3.2 Kiểm định Barlett 47

3.4.3.3 Kiểm định phương sai trích 47

3.4.4 Phân tích hồi quy đa biến 47

3.4.4.1 Kiểm định hệ số hồi quy 47

3.4.4.2 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 47

3.4.4.3 Kiểm định đa cộng tuyến 48

3.4.4.4 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 48

3.4.4.4 Kiểm định phân phối chuẩn phần dư 48

3.4.4.6 Kiểm định phương sai phần dư không đổi 48

Kết luận chương 3 49

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 50

4.1 Kết quả thống kê mô tả mẫu khảo sát 50

4.2 Kết quả thống kê về các biến 51

4.2.1 Biến CLTT BCTC 51

4.2.2 Các biến độc lập 51

Trang 7

4.3 Kiểm định Cronbach 52

4.3.1 Biến độc lập 53

4.3.2 Biến phụ thuộc 56

4.4 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 57

4.4.1 Biến độc lập 57

4.4.2 Biến phụ thuộc 59

4.5 Kết quả phân tích hồi quy 60

4.5.1 Kết quả kiểm định hệ số hồi quy 60

4.5.2 Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 60

4.5.3 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 61

4.5.4 Kết quả kiểm định tự tương quan 61

4.5.4 Kết quả kiểm định phân phối chuẩn phần dư 62

4.5.6 Kết quả kiểm định phương sai phần dư không đổi 63

4.5.7 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 63

4.6 Bàn luận 64

Kết luận chương 4 65

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Các khuyến nghị 67

5.2.1 Khuyến nghị đối với Đào tạo nhân viên 67

5.2.2 Khuyến nghị đối với Quản trị ngân hàng 68

5.2.3 Khuyến nghị đối với Chất lượng phần mềm kế toán 69

5.2.4 Khuyến nghị đối với Năng lực nhân viên kế toán 70

5.2.5 Khuyến nghị đối với Áp lực từ thuế 71

Trang 8

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 72 5.3.1 Hạn chế của đề tài 72 5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ABBank Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh

BCTC Báo cáo tài chính

BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

CLTT Chất lượng thông tin

CMKT Chuẩn mực kế toán

DNNY Doanh nghiệp niêm yết

EAB Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á

Eximbank Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu

FASB Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ

HD Bank Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh HĐQT Hội đồng quản trị

IASB Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế

KSNB Kiểm soát nội bộ

MB Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội

MSB Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải

NHTM Ngân hàng thương mại

NVKT Nhân viên kế toán

OCB Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông

PG Bank Ngân hàng thương mại cổ phần Xăng dầu Petrolimex

Trang 10

Seabank Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á

SGB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương SHB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội

Techcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương

TTKT Thông tin kế toán

VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam

VIB Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế

Vietcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam Vietinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín

VP Bank Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng hợp một số nghiên cứu trên thế giới về đề tài CLTT BCTC 8

Bảng 1.2 Tổng hợp các nghiên cứu Việt Nam về đề tài CLTT BCTC 12

Bảng 2.1 Thang đo Quản trị ngân hàng 26

Bảng 2.2 Thang đo Kiểm soát nội bộ 27

Bảng 2.3 Thang đo Chất lượng phần mềm kế toán 29

Bảng 2.4 Thang đo Đào tạo nhân viên 30

Bảng 2.5 Thang đo nhân tố Năng lực nhân viên kế toán 31

Bảng 2.6 Thang đo nhân tố Áp lực từ thuế 33

Bảng 3.1 Thang đo biến phụ thuộc sử dụng trong nghiên cứu 41

Bảng 3.2 Thang đo các biến độc lập sử dụng trong nghiên cứu 43

Bảng 4.1 Thống kê mô tả đặc điểm của mẫu khảo sát 50

Bảng 4.2 Kết quả thống kê mô tả CLTTBCTC tại các NHTM Việt Nam 51

Bảng 4.3 Kết quả thống kê mô tả các nhân tố ảnh hưởng đến CLTTBCTC tại các NHTM Việt Nam 51

Bảng 4.4 Kết quả kiểm định Cronbach thang đo Quản trị ngân hàng 53

Bảng 4.5 Kết quả kiểm định Cronbach thang đo Kiểm soát nội bộ 53

Bảng 4.6 Kết quả kiểm định Cronbach của thang đo Chất lượng phần mềm kế toán 54

Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Cronbach của thang đo Đào tạo nhân viên 54

Bảng 4.8 Kết quả kiểm định Cronbach của thang đo Năng lực nhân viên kế toán 55

Bảng 4.9 Kết quả kiểm định Cronbach của thang đo Áp lực từ thuế 55

Bảng 4.10 Kết quả kiểm định Cronbach của thang đo CLTT BCTC 56

Bảng 4.11 Kết quả kiểm định KMO và kiểm định Bartlett của các biến độc lập 57

Bảng 4.12 Kết quả kiểm định trọng số nhân tố và tổng phương sai trích của các biến độc lập 57

Bảng 4.13 Ma trận trọng số nhân tố của biến độc lập 58

Bảng 4.14 Kết quả kiểm định KMO và kiểm định Barlett biến phụ thuộc 59

Trang 12

Bảng 4.15 Kết quả kiểm định trọng số nhân tố và tổng phương sai trích của biến

phụ thuộc 59

Bảng 4.16 Kết quả kiểm định hệ số hồi quy 60

Bảng 4.17 Bảng tóm tắt mô hình 60

Bảng 4.18 Kết quả kiểm định F 61

Bảng 4.19 Kết quả kiểm định phương sai phần dư không đổi 63

Bảng 4.20 Kết quả kiểm định các giả thuyết 64

Bảng 4.21 Xác định vị trí của các biến độc lập % 65

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 34Hình 3.1 Qui trình thực hiện nghiên cứu 37Hình 4.1 Biểu đồ của phần dư chuẩn hóa 62

Trang 14

TÓM TẮT

Mục tiêu chính của nghiên cứu nhằm xác định những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Mô hình nghiên cứu đề xuất về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính có 6 nhân tố, bao gồm: Quản trị ngân hàng, Kiểm soát nội bộ, Chất lượng phần mềm kế toán, Đào tạo nhân viên, Năng lực nhân viên kế toán, Áp lực từ thuế Nghiên cứu sử dụng mô hình nhân tố khám phá (EFA) với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng Số liệu nghiên cứu được thu thập thông qua việc khảo sát 230 mẫu với 42 biến quan sát Kết quả đã chỉ ra rằng Đào tạo nhân viên có ảnh hưởng lớn nhất tới chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính, các nhân tố tiếp theo bao gồm: Quản trị ngân hàng, Chất lượng phần mềm kế toán Hai nhân tố Năng lực nhân viên kế toán và Áp lực từ thuế ảnh hưởng thấp nhất tới chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính

Từ khóa: chất lượng thông tin, chất lượng báo cáo tài chính, ngân hàng thương mại, Việt Nam

Trang 15

ABSTRACT

The main objective of this research is to identify the factors that influence the quality of financial reporting information for Vietnamese Commercial Banks There are six factors in the suggest model of the factors influencing on the quality of financial reporting information, include: Bank Management, Internal Control, Quality of Accounting Software, Staff Training, Accounting Staff Compentence, Tax Pressure The research use the Exploratory Factor Analysis (EFA) model with the support of SPSS software to identify the influencing factors The data of research were collected through surveying 230 samples with 42 observed variables The result show that Staff Training has the greatest influence on the quality of financial reporting quality information, the remaining factors include: Bank Management, Quality of Accounting Software Two factors, Accounting Staff Capacity and Tax Pressure have limited influence on the quality of financial reporting information

Key words: information quality, financial reporting quality, Commercial Banks, Viet Nam

Trang 16

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề chất lượng thông tin (CLTT) kế toán đã được đề cập cụ thể trong các báo cáo của hai tổ chức nghề nghiệp kế toán lớn trên thế giới là FASB, IASB; và trong các quy định của Nhà Nước (Chuẩn mực kế toán Việt Nam, Luật Thương mại Pháp )(Phạm, 2016) Cụ thể, CLTT bao gồm các đặc tính thích hợp, đáng tin cậy

và có thể hiểu được cho người dùng (FASB,1993) CLTT là những thuộc tính làm cho những thông tin hiển thị trên BCTC trở nên có ích cho người sử dụng được đưa

ra bao gồm: đáng tin cậy, thích hợp, có thể hiểu được, có khả năng so sánh (IASB, 2001) Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, CLTT BCTC bao gồm các thuộc tính: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh

Báo cáo tài chính (BCTC) tổng hợp các số liệu từ kế toán nhằm phản ánh về tình hình tài sản, nguồn vốn, nợ phải trả, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh, các luồng tiền của một doanh nghiệp BCTC ngày càng thể hiện được tầm quan trọng khi cung cấp cho các chủ sở hữu, nhà đầu tư, chủ nợ, các tổ chức quản lý, điều hành thị trường, các thông tin thiết yếu giúp cho những đối tượng này tùy theo mục tiêu của mình mà có thể đưa ra những quyết định phù hợp Chính vì điều này, CLTT BCTC là một chủ đề được các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam rất quan tâm Việc nâng cao CLTT BCTC giúp người dùng BCTC đưa ra các nhận xét đúng đắn trong việc thực hiện các quyết định

Ngành ngân hàng khác với các ngành nghề kinh doanh khác, nguồn tài chính được huy động từ người dân và thị trường tài chính Ngoài ra, tại bất kì một quốc gia nào thì mối quan hệ giữa ngành ngân hàng với chính phủ rất chặt chẽ Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại (NHTM) là những nhà tài trợ vốn lớn, đồng thời là công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện mục tiêu kinh tế, chính sách tiền tệ Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh của các NHTM chưa thực sự xứng tầm với tiềm năng của nó Ngân hàng nhà nước buộc phải mua lại và sáp nhập các ngân hàng có tình hình hoạt động yếu kém khi để tỷ lệ nợ xấu liên tục tăng cao, hiệu quả sử dụng đồng

Trang 17

vốn thấp Các ngân hàng thường ghi giảm chi phí cho các khoản nợ xấu và các khoản doanh thu, thu nhập được điều chỉnh tăng là các điều chỉnh về kế toán thường thấy nhất Các thủ thuật như vốn hóa chi phí, ghi nhận thấp những khoản mục dự phòng như là dự phòng nợ xấu, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính, thường được các ngân hàng sử dụng để làm giảm chi phí

Do đó, việc nâng cao CLTT BCTC của các NHTM có ý nghĩa hết sức quan trọng Trước tiên, nâng cao CLTT BCTC sẽ giúp tạo nên một phân tích sâu sắc và cái nhìn tổng quan về tình hình kinh doanh thực tế của các NHTM, từ đó cung cấp

cơ sở vững chắc giúp các nhà điều hành ngân hàng có các quyết định đúng đắn; nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngân hàng; làm cho các nhà đầu tư và khách hàng

có niềm tin vào các BCTC của NHTM, và dễ dàng tiếp cận được thông tin trên BCTC Những điều này sẽ khiến giá trị cũng như năng lực cạnh tranh của các ngân hàng ngày càng gia tăng từ đó giúp hiệu quả hoạt động kinh doanh được nâng cao, doanh thu và lợi nhuận tăng trưởng vững chắc

Trên cơ sở đó, chủ đề nghiên cứu “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM” được tác giả lựa chọn cho luận

văn thạc sĩ của mình

2 Các mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC của các NHTM ở Việt Nam

Trang 18

3 Câu hỏi nghiên cứu

Từ việc đề ra các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, luận văn có ba câu hỏi tương ứng:

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến CLTT BCTC của các NHTM Việt Nam ?

- Mức độ ảnh hưởng các nhân tố đến CLTT BCTC của các NHTM Việt Nam như thế nào?

- Cần đưa ra những khuyến nghị nào để nâng cao CLTT BCTC của các NHTM Việt Nam?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC của các NHTM

tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian: thực hiện luận văn từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 3 năm 2019, thời gian thực hiện khảo sát từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018

+ Không gian: các NHTM tại Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp được tác giả sử dụng cho đề tài của mình bao gồm cả định tính và định lượng Việc thực hiện nghiên cứu hỗn hợp này nhằm thực hiện những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra và tìm ra đáp án cho ba câu hỏi nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu định tính: tác giả tiến hành tham khảo ý kiến chuyên gia từ đó đưa ra các nhân tố chính thức và hoàn thiện thang đo cho các nhân

tố đó và thang đo CLTT BCTC

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: tác giả thực hiện khảo sát thực tế bằng việc phát bảng câu hỏi trực tiếp và gửi qua email Sau khi thực hiện xong việc thu thập dữ liệu, bằng cách sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) có sự

hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.0 để tiến hành các phân tích cần thiết nhằm nhận ra các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC của các NHTM Việt Nam ở mức độ nào

Trang 19

6 Những đóng góp của luận văn

- Về mặt khoa học: Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và tham

khảo những đề tài liên quan nhằm xác định sự ảnh hưởng của các nhân tố đến CLTTBCTC và đưa vào mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh thực tế của các NHTM tại Việt Nam

- Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu đưa ra kết quả giúp cung cấp bằng chứng thực

nghiệm về sự ảnh hưởng của các nhân tố được đưa vào trong mô hình nghiên cứu đến CLTTBCTC của các NHTM Việt Nam và đề xuất các khuyến nghị cho các ngân hàng và các bên liên quan nhằm cải thiện và nâng cao CLTTBCTC của các

NHTM

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu và tài liệu tham khảo, phụ lục kèm theo thì nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương chính như sau:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Trang 20

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Geert Braam & Ferdy van Beest (2013) thực hiện đo lường CLTT BCTC trong các DNNY tại Hoa Kỳ (theo GAAP), Anh (theo IFRS), dữ liệu nghiên cứu là các BCTC 10-K Đo lường CLTT BCTC theo các tiêu chuẩn về CL của FASB & IASB 2010, đã thiết lập các thang đo đo lường CLTTBCTC cho các thuộc tính CL gồm: trung thực, thích hợp, có thể hiểu được, có khả năng so sánh, kịp thời Nghiên cứu đã cho thấy kết quả rằng CLTT BCTC trong các DN Hoa Kỳ với điểm số 2,94 và các DN Anh là 3,18 Tuy nhiên các tác giả chỉ thực hiện việc xây dựng thang đo và đo lường CLTTBCTC mà chưa tìm hiểu về các nhân tố có ảnh hưởng đến CLTT BCTC của các DNNY

Jouini Fathi (2013) tiến hành xem xét các yếu tố tác động đến CLTT BCTC với mẫu là các DNNY ở Pháp Các nhóm nhân tố được Fathi sử dụng trong nghiên cứu gồm: Các đặc điểm của doanh nghiệp, Đặc điểm HĐQT, Chất lượng kiểm toán, cấu trúc sở hữu của các DNNY ở Pháp Mẫu nghiên cứu là 101 DNNY ở Pháp thời gian từ năm 2004 đến năm 2008 CLTT BCTC được đánh giá theo 78 mục chỉ số công bố và được đánh giá qua các khoản dồn tích Sau khi thực hiện phân tích cần thiết chạy kết quả, các tác giả kết luận rằng: Kích cỡ của HĐQT, sự tham gia của các thành viên vào các cuộc họp của HĐQT, sự hiện diện của công ty kiểm toán thuộc Big 4, tình trạng niêm yết thì tác động thuận chiều đến CLTTBCTC của DNNY tại Pháp Tuy nhiên đề tài này chỉ hạn chế trong phạm vi các DN được niêm yết, cùng với đó thì biến phụ thuộc CLTT BCTC cũng được ước tính bằng chỉ số công bố nên việc đánh giá chỉ số chỉ dựa trên ý kiến chủ quan của nhà nghiên cứu Nghiên cứu của Nesrine Klai & Abdelwahed Omri (2011) đã kiểm tra sự tác động của các yếu tố thuộc cơ chế quản trị đối với CL BCTC cho 22 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Tunisia trong giai đoạn 1997-2007 Nghiên cứu đo lường CLTT BCTC theo hai mô hình: (i) Mc Nichols (2002) – coi

độ lệch chuẩn của phần dư hoặc phần dư từ mô hình tính toán các khoản dồn tích là thước đo CL BCTC, (ii) Ball & Brown (1968) và Collins & Kothari (1989) – mô

Trang 21

hình ước tính mức lợi nhuận hàng năm từ chứng khoán, nếu phần dư từ mô hình có

độ lệch chuẩn cao thì CL BCTC kém Và đi đến kết luận rằng các cơ chế quản trị thể hiện chủ yếu quyền lực của cổ đông nước ngoài, gia đình, cổ đông lớn làm cho thông tin trên BCTC có CL kém, sự hiện diện của họ làm tăng việc quản trị lợi nhuận do theo đuổi các lợi ích cho riêng mình Ngược lại, sự kiểm soát của Nhà nước và các tổ chức tài chính là ảnh hưởng tích cực đối với CLTT BCTC, vì họ đảm bảo việc kiểm soát quản lý và yêu cầu công bố thông tin Quy mô DN và cơ hội tăng trưởng có liên quan đến CL BCTC kém, trong khi đó tỷ lệ nợ cải thiện CLTT BCTC

Nghiên cứu của Ivana Mamis Sacer & Ana Oluic (2013) xem xét sự tác động của công nghệ thông tin đến CL hệ thống TTKT, phân tích các đặc điểm cơ bản của chất lượng hệ thống TTKT, thảo luận về mô hình đo lường CL TTKT Tác giả đã thực hiện các cuộc khảo sát đối với nhân viên kế toán (NVKT) về độ tuổi trung bình của thiết bị và phần mềm máy tính, sự hỗ trợ về công nghệ thông tin, mức độ tác động của công nghệ thông tin đối với kế toán, sự hài lòng đối với hệ thống TTKT vào các năm 2001, 2008, 2012 Đánh giá theo thang đo Likert 5 điểm về các nhân tố: nhận thức của quản lý về tầm quan trọng của hệ thống TTKT, đào tạo và huấn luyện, bản chất của hệ thống TTKT, kiểm toán hệ thống thông tin Trong đó, thang

đo bản chất hệ thống TTKT được đo lường từ các yếu tố: rất dễ sử dụng, ổn định,

có thể nâng cấp và được tích hợp với các hoạt động kinh doanh khác Thêm vào đó, nghiên cứu cũng thực hiện khảo sát về CLTT theo các đặc tính thích hợp, có thể hiểu được, kịp thời, bảo mật, đầy đủ, tin cậy Qua đó, kết luận rằng: công nghệ thông tin tác động đến cách hệ thống TTKT vận hành, đóng góp cho việc chuẩn bị,

xử lý, trình bày và cung cấp TTKT Các công ty cần phải có sự giáo dục phù hợp cho nhân viên và thực hiện kiểm toán liên tục để đảm bảo CL TTKT

Nghiên cứu của Milly Jepchumba Tarus và cộng sự (2015) đã xem xét hai yếu

tố năng lực nhân viên, kế toán trên máy tính ảnh hưởng đến tính chính xác của BCTC tại 25 NHTM ở thành phố Nakuru, Kenya Tính chính xác được đánh giá theo các thang đo: có các giải thích về các giả định và ước tính trong BCTC, ngân

Trang 22

hàng sử dụng các thông tin phi tài chính thích hợp và chính xác để bổ sung cho thông tin tài chính, tính chính xác của quy trình BCTC được tăng cường thông qua

cơ chế kiểm toán nội bộ, có các chỉ dẫn cụ thể về tính chính xác của BCTC Các nhân tố được cho là có ảnh hưởng đến tính chính xác của BCTC, đó là: kiến thức của người sử dụng phần mềm máy tính là ảnh hưởng lớn nhất, tiếp theo là, mức độ đào tạo, sự chuyên nghiệp của nhân viên và đào tạo nội bộ của ngân hàng

Nghiên cứu của Rasha Mahboub (2017) nhằm điều tra các nhân tố tác động đến CL BCTC của các ngân hàng tại Lebanese Các chỉ tiêu đo lường CL BCTC được đánh giá theo tính thích hợp (10 mục), trình bày trung thực (8 mục), có thể hiểu được (8 mục), có thể so sánh được (7 mục), kịp thời (1 mục) Kết quả từ mô hình hồi quy đa biến đã chỉ ra mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa đòn bẩy, cấu trúc sở hữu, quy mô HĐQT với CL BCTC Nhân tố quy mô ngân hàng, lợi nhuận

và sự độc lập HĐQT thì không có ý nghĩa

Olumide A Olowokure và cộng sự (2016) thực hiện xác định sự ảnh hưởng của các nhân tố thuộc đặc điểm của ngân hàng đến CLTT BCTC của NHTM tại Nigeria CLTT BCTC của nghiên cứu đã được xác định theo CL lợi nhuận thông qua các khoản dự phòng rủi ro tín dụng bất thường, để cho có sự phù hợp với đặc điểm của ngành ngân hàng Nghiên cứu đã không tìm thấy chứng cứ nào về mối quan hệ giữa độ tuổi, quy mô, đòn bẩy tài chính với CLTT BCTC

Cùng về chủ đề CLTT BCTC của các NHTM tại Nigeria, đề tài của Adebiyi & Olowookere (2016) đã áp dụng thuần túy cách xác định các khoản dồn tích bất thường theo Dechow và cộng sự (1995) mà chưa có sự sửa đổi cho phù hợp với ngành ngân hàng Các tác giả đã kết luận rằng sự sở hữu của nhà đầu tư tổ chức và nước ngoài có tác động tiêu cực đến CLTT BCTC, còn sở hữu nhà quản lý giúp cải thiện CL BCTC vì giảm mức độ quản trị lợi nhuận

Trang 23

Bảng 1.1 Tổng hợp một số nghiên cứu trên thế giới về đề tài CLTT BCTC

Annual Reports and US 10-K

Reports” (Geert Braam &

Ferdy van Beest, 2013)

- Theo các đặc tính

CL BCTC được công bố bởi IASB

- Đo lường theo chỉ

số công bố thông tin gồm 78 mục, các khoản dồn tích

Các đặc điểm của DN, Đặc điểm HĐQT, Chất lượng kiểm toán, cấu trúc sở hữu

3 “Corporate Governance and

Financial Reporting Quality:

The Case of Tunisian Firms”

(Nesrine Klai & Abdelwahed

Omri, 2011)

- Đo lường CLTT BCTC thông qua các khoản dồn tích và theo giá trị chứng khoán

- Sự kiểm soát của cổ đông nước ngoài, các cổ đông lớn, gia đình, các tổ chức tài chính và Nhà nước

- Các biến điều tiết quy mô

DN, tỷ lệ nợ và cơ hội tăng trưởng

4 “Information Technology

and Accounting Information

System’s Quality in Croatian

Middle and Large Companies”

(Ivana Mamis Saser & Ana

Oluis, 2013)

- Các đặc tính CL của BCTC

Nhận thức của quản lý về tầm quan trọng của hệ thống TTKT, huấn luyện

và đào tạo, bản chất của hệ thống TTKT, kiểm toán hệ thống thông tin

Trang 24

5 “Determinants of Accurate

Financial Statements

Reporting In Listed Banks in

Kenya; A Survey of

Commercial Banks In Nakura

Town” (Milly Jepchumba

Tarus và cộng sự , 2015)

- Chỉ đo lường tính chính xác của BCTC

- Năng lực nhân viên

- Hệ thống kế toán trên máy tính

6 “Main Determinants of

Financial Reporting Quality in

the Lebanese Banking Sector”

và quy mô HĐQT

Characteristics and Financial

Reporting Quality of Listed

Nigeria” ( Olowokure và cộng

sự (2016)

- Đo lường CL lợi nhuận bằng các khoản dự phòng rủi

ro tín dụng bất thường

Độ tuổi, quy mô, đòn bẩy

8 “Ownership Structure And

The Quality Of Financial

Olowookere (2016)

- Đo lường từ các khoản dồn tích

- Sở hữu nước ngoài, tổ chức, nhà quản lý

(Nguồn:Tác giả tổng hợp)

1.2 Tổng quan các nghiên cứu Việt Nam

Luận văn thạc sĩ của Cao Thị Lệ Thư (2014) đã kế thừa theo nghiên cứu của

Jouini Fathi (2013) bảng thuyết minh gồm 78 khoản mục, đã đánh giá CLTTKT trên BCTC bằng chỉ tiêu công bố thông tin không trọng số Dữ liệu của luận văn gồm 119 BCTC năm 2013 đã kiểm toán của các DN thuộc các nhóm ngành xây

Trang 25

dựng, công nghệ chế biến và chế tạo Trong đó, mô hình hồi quy gồm có biến phụ thuộc CLTTKT và 11 biến độc lập Luận văn đã nêu ra kết luận rằng: CLTTKT trên BCTC của các DNNY đồng biến với quy mô DN và tỷ lệ thành viên không điều hành của HĐQT; CLTTKT nghịch biến với tỷ lệ cổ phần sở hữu bởi Nhà nước Hạn chế của nghiên cứu là do việc đánh giá chỉ số dựa trên ý kiến chủ quan của nhà nghiên cứu nên việc đánh giá trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Các khoản mục công bố còn nhiều hạn chế khi nêu rõ hết các nội dung cần đánh giá Luận văn thạc sĩ của Phan Minh Nguyệt (2014) đã trình bày các đặc tính CL TTKT theo các quan điểm và theo IASB để làm cơ sở nghiên cứu gồm: thích hợp,

có thể so sánh, có thể hiểu được, đáng tin cậy, chi phí và lợi ích khi lập BCTC Đề tài đã xem xét đến sự tác động của 7 nhân tố tới CL TTKT Luận văn thu thập dữ liệu thông qua phiếu khảo sát 200 đối tượng làm việc ở nhiều ngành nghề Kết quả nghiên cứu đã chỉ rằng 5 nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến CLTTKT trên BCTC là: rủi ro kiểm toán, nhà quản trị DN, việc lập và trình bày BCTC, thuế, lợi ích và chi phí Tuy nhiên việc thu thập số liệu của đề tài với đối tượng khảo sát gồm nhiều thành phần khác nhau, trong đó một số không có hiểu biết về kế toán nên khó có được kết quả chính xác, hợp lý Ngoài ra, đề tài thực hiện nghiên cứu với mẫu khảo sát chỉ vừa đủ để đáp ứng điều kiện về cỡ mẫu tối thiểu nên để phát triển và vận dụng mô hình này vào thực tế được thì cần phải khảo sát một số lượng mẫu lớn Ngoài ra, đề tài này chưa phân tích BCTC theo từng ngành nghề kinh doanh (như địa ốc, sản xuất chế biến, dịch vụ, ngân hàng…) để thấy được ngành nghề của doanh nghiệp cũng là một nhân tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trình bày trên BCTC của các công ty niêm yết

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Trọng Nguyên (2016) xem xét về sự ảnh hưởng

các nhân tố thuộc QTCT đến CLTT BCTC của 195 DNNY ở Việt Nam Để đánh giá CLTT BCTC, đề tài sử dụng các thuộc tính đo lường CLTT BCTC của FASB & IASB 2010 Nghiên cứu chỉ ra kết quả CLTT BCTC của các DN đạt từ loại khá trở xuống Các nhân tố ảnh hưởng cùng chiều đến CLTT BCTC là: Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, sự hiện diện thành viên HĐQT có kiến thức và kinh nghiệm về kế

Trang 26

toán tài chính, số lượng cuộc họp HĐQT, tỷ lệ thành viên ban kiểm soát có chuyên môn tài chính, sự hiện diện của bộ phận kiểm toán nội bộ Có sự khác nhau về CLTT BCTC của các DN theo quy mô và tỷ lệ sở hữu của nhà nước Tuy nhiên các nhân tố được tác giả lựa chọn đánh giá chỉ thuộc lĩnh vực QTCT

Luận án tiến sĩ Phạm Quốc Thuần (2016) với mục tiêu nghiên cứu là CLTT BCTC và những nhân tố tác động đến CLTT BCTC, tìm hiểu sự khác biệt về tác động của các nhân tố đến CLTT BCTC giữa các nhóm DNNY với chưa niêm yết, nhóm DN nhỏ với nhóm DN vừa và lớn của các DN tại Việt Nam Tiến hành nghiên cứu tình huống bằng thảo luận tay đôi và thảo luận nháp, nghiên cứu định tính cũng đã xác định được 10 nhân tố Thực hiện các phân tích định lượng từ dữ liệu thu thập được thông qua việc khảo sát các đối tượng phụ trách kế toán trong các

DN này, với CLTT BCTC được đánh giá theo đặc tính CL của FASB & IASB

2010 Nghiên cứu đưa ra kết quả là: CLTT BCTC được đánh giá với số điểm 3,76/5 điểm; mức độ tác động theo thứ tự, mạnh nhất là Hỗ trợ từ phía nhà quản trị, tiếp theo là các nhân tố Hành vi QTLN, Áp lực từ thuế, Đào tạo và bồi dưỡng nhân viên, Năng lực nhân viên kế toán, hiệu quả của hệ thống KSNB, BCTC được kiểm toán

và chất lượng PMKT Trong đó, chỉ hai nhân tố Áp lực từ thuế và hành vi QTLN là ảnh hưởng ngược chiều, các yếu tố còn lại đều tác động thuận chiều DN có quy mô khác nhau, DNNY hay chưa niêm yết được minh chứng là có sự khác biệt về sự tác động của các nhân tố đến CLTT BCTC

Luận án tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) đánh giá CL BCTC của các DNNY trên thị trường chứng khoán thông qua cách đo lường CL lợi nhuận theo mô hình Jones điều chỉnh và EBO điều chỉnh Mẫu của nghiên cứu gồm có 283 quan sát trong khoảng thời gian ba năm từ 2012 – 2014 Bằng các phân tích định lượng đã chỉ ra rằng CL BCTC của các DNNY trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam chưa cao Nhóm các nhân tố được đưa vào xem xét rất đa dạng gồm: cơ cấu sở hữu vốn, QTCT, cơ cấu vốn, đặc điểm thị trường, hiệu quả công ty Kết quả chỉ ra rằng có 17 nhân tố tác động đến CL BCTC với 4 nhân tố mới là: tính trì hoãn của BCTC, thị trường niêm yết, thời gian niêm yết, khả năng thanh toán nhanh

Trang 27

Phạm Thanh Trung (2016) thực hiện nghiên cứu CLTT BCTC của các DN nhỏ và vừa ở TP Hồ Chí Minh, và các nhân tố ảnh hưởng đến Nghiên cứu đề xuất hai nhóm nhân tố là: Công tác kế toán và khung pháp lý kế toán CLTT BCTC đánh giá theo các tiêu chuẩn của Beest và cộng sự (2009), tác giả đã lựa chọn 9 khoản mục cho nghiên cứu của mình: thích hợp (2 khoản mục), trung thực (2 khoản mục),

dễ hiểu (2 khoản mục), có khả năng so sánh (2 khoản mục), kịp thời (1 khoản mục)

Và đã tìm ra được 7 nhân tố: hình thức sổ sách kế toán, thuế, bộ máy kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, nhà quản lý, hệ thống chứng từ kế toán, mục tiêu lập BCTC

có sự tác động thuận chiều đến CLTT BCTC của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh

Bảng 1.2 Tổng hợp một số nghiên cứu Việt Nam về đề tài CLTT BCTC

lường CLTTBCTC

Các nhân tố ảnh hưởng

1 “Đánh giá các nhân tố bên trong

doanh nghiệp tác động đến chất lượng

TTKT trên BCTC của các CTNY ở sở

giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí

Minh” (Cao Thị Lệ Thư , 2014)

- Các chỉ số thông tin công bố theo Fathi (2013)

- Quy mô DN, tỷ lệ thành viên không điều hành của HĐQT, tỷ lệ cổ phần sở hữu bởi Nhà nước

2 “Xác định và đo lường mức độ ảnh

hưởng của các nhân tố đến chất lượng

thông tin kế toán trình bày trên báo

cáo tài chính của các công ty niêm yết

ở Việt Nam” (Phan Minh Nguyệt,

2014)

- Theo các đặc tính CL của BCTC

- Rủi ro kiểm toán, nhà quản trị DN, việc lập và trình bày BCTC, thuế, lợi ích và chi phí

3 “Tác động của QTCT đến CLTT

BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt

Nam” (Nguyễn Trọng Nguyên, 2016)

- Theo các đặc tính CL của BCTC

- Các nhân tố thuộc quản trị công ty

Trang 28

4 “Các nhân tố tác động đến chất

lượng thông tin báo cáo tài chính trong

các doanh nghiệp Việt Nam” (Phạm

Quốc Thuần, 2016)

- Theo các đặc tính CL của BCTC

- Hành vi QTLN, Áp lực

từ thuế, Đào tạo và bồi dưỡng nhân viên, Năng lực NVKT, hiệu quả của KSNB, BCTC được kiểm toán và CL PMKT Hai biến kiểm soát: Niêm yết

và Quy mô DN

5 “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng BCTC của các công ty niêm yết

trên thị trường chứng khoán – bằng

chứng thực nghiệm tại Việt Nam”

(Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016)

- Đo lường theo CL lợi nhuận trên 2

cơ sở kế toán

và thị trường

- Các nhóm nhân tố: cơ cấu sở hữu, QTCT, đặc điểm thị trường, hiệu quả công ty, cơ cấu vốn

6 “Đo lường mức độ tác động của các

nhân tố đến chất lượng thông tin trên

báo cáo tài chính của các doanh

nghiệp nhỏ và vừa ở TP Hồ Chí Minh”

(Phạm Thanh Trung, 2016)

- Theo các đặc tính CL của BCTC

- Hình thức sổ sách kế toán, bộ máy kế toán, thuế, nhà quản lý, hệ thống tài khoản kế toán, mục tiêu lập BCTC, hệ thống chứng từ kế toán

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

1.3 Các phương pháp đo lường CLTT BCTC

Theo Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), có 2 phương pháp đo lường CLTT BCTC được sử dụng chủ yếu, đó là:

- Phương pháp (1): Đo lường CLTT BCTC theo các đặc tính của CL BCTC được công bố trong báo cáo của các tổ chức nghề nghiệp kế toán trên thế giới và chuẩn mực kế toán tại các quốc gia Trong đó tính thích hợp, trung thực, có khả năng so sánh, có thể hiểu được, có thể kiểm chứng, kịp thời là những đặc tính CL theo IASB, FASB thường được các nhà nghiên cứu sử dụng để đo lường CLTT

Trang 29

BCTC (Beest và cộng sự (2009), Braam & Beest (2013), Nguyễn Trọng Nguyên (2016), Phạm Quốc Thuần (2016) )

- Phương pháp (2): Đo lường theo CL lợi nhuận

+ Các khoản dồn tích: Nhiều nghiên cứu đã đưa ra mô hình nhằm xác định giá trị các khoản dồn tích có điều chỉnh, nếu giá trị các khoản dồn tích này có giá trị cao thì CLTT BCTC kém, và ngược lại Các nghiên cứu tiêu biểu cho cách đo lường này có thể kể đến như: DeAngelo (1986), Jones (1991), Dechow và cộng sự (1995), Kothari và cộng sự (2005)

+ Giá trị thích hợp của TTKT: Một số mô hình theo phương pháp này là: mô hình tỷ suất sinh lợi (Easton & Harris, 1991), mô hình EBO của Edward Bell Ohlson, mô hình này được bổ sung thêm biến sự thay đổi thu nhập trên một cổ phiếu (EPS1) tạo thành mô hình EBO điều chỉnh

Sử dụng phương pháp (2) là những nghiên cứu: Klai & Omri (2011), Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), Jouni Fathi (2013)

Việc thực hiện đo lường CLTT BCTC có nhiều cách tiếp cận khác nhau là do tùy theo mục tiêu của nghiên cứu, không gian nghiên cứu của từng đề tài Nhưng điều cuối cùng mà các nhà nghiên cứu hướng đến là thiết lập các đặc tính CL để nâng cao hơn nữa CLTT BCTC

- Về cách đo lường CLTT BCTC: chủ yếu dựa vào các đặc tính chất lượng được công bố bởi IASB, FASB và CL lợi nhuận

- Về những nhân tố ảnh hưởng: có thể chia thành các nhóm chính như sau: nhóm nhân tố bên trong DN (bao gồm: quản trị công ty, quản trị lợi nhuận, hệ thống

kế toán trên máy tính, chất lượng PMKT, năng lực NVKT, KSNB, giáo dục và đào

Trang 30

tạo nhân viên ), nhóm nhân tố bên ngoài (kiểm toán độc lập, thuế), nhóm nhân tố thuộc đặc điểm của DN (niêm yết, quy mô, cơ cấu sở hữu, đòn bẩy, lợi nhuận)

- Về mức độ ảnh hưởng và chiều hướng của các nhân tố ảnh hưởng có sự khác biệt giữa các nghiên cứu

1.5 Xác định khe hổng nghiên cứu

Trước đây, các đề tài về CLTT BCTC trên thế giới cũng như tại Việt Nam thường tập trung theo hướng nghiên cứu CLTT BCTC của những DNNY, tuy nhiên

sự nghiên cứu chuyên sâu cho các DN theo từng ngành nghề kinh doanh cụ thể, đặc biệt là các ngành có BCTC tính đặc thù cao như bảo hiểm, ngân hàng vẫn còn rất khiêm tốn

Các chủ đề kế toán trong ngành ngân hàng thường tập trung nghiên cứu về đề tài quản trị lợi nhuận, CL lợi nhuận Theo sự tìm hiểu của tác giả, thì các nghiên cứu về CLTT BCTC trong ngành ngân hàng thì rất ít, chỉ có một vài nghiên cứu được thực hiện Như nghiên cứu của Adebiyi & Olowookere (2016) đánh giá CLTT BCTC của các ngân hàng tại Nigeria theo thước đo về quản trị lợi nhuận bằng các khoản dồn tích được tính toán dựa trên công thức từ Dechow và cộng sự (1995), theo như một số lập luận của các nhà nghiên cứu khác thì cách làm này tồn tại nhiều hạn chế vì ngành ngân hàng có đặc thù riêng về kế toán riêng nếu như áp dụng mô hình Dechow và cộng sự thông thường như là áp dụng cho các ngành nghề khác thì kết quả nghiên cứu không thuyết phục Mô hình này chủ yếu tính toán các khoản dồn tích dựa vào chi phí khấu hao tài sản cố định, mà trong ngành ngân hàng thì chi phí này chỉ có một tỷ trọng nhỏ không như các ngành công nghiệp sản xuất khác Olowokure và cộng sự (2016) cũng đánh giá CLTT BCTC theo QTLN, nhưng được

đo lường bằng khoản dự phòng rủi ro tín dụng Qua đó có thể thấy rằng, các nghiên cứu về CLTT BCTC của ngành ngân hàng rất hạn chế, một số ít nghiên cứu được tiến hành, nhưng QTLN lại được dùng để làm căn cứ đánh giá CLTT BCTC, điều này không thể đánh giá đầy đủ các thuộc tính, thành phần, cấp bậc của CLTT BCTC theo các tiêu chuẩn mà IASB, FASB đã đưa ra Nghiên cứu của Rasha (2017) đã dùng các đặc điểm CL của BCTC là tiêu chuẩn về CLTT BCTC, nhưng

Trang 31

chỉ là nhân tố thuộc bên trong và thuộc đặc điểm ngân hàng, chưa nghiên cứu về sự tác động của các nhân tố bên ngoài Còn nghiên cứu của Tarus và cộng sự (2015) chỉ xem xét đến đặc tính thích hợp của BCTC và hai yếu tố được đưa vào xem xét là: năng lực nhân viên và kế toán trên máy tính mà chưa có nhiều các nhân tố khác, chưa đánh giá đầy đủ các đặc tính của CLTT BCTC

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC của các DNNY hoặc cụ thể cho một nhóm ngành nào đó như: xây dựng, vận tải, bất động sản đã được nghiên cứu nhiều Tuy nhiên, khi tìm hiểu về đề tài này tại Việt Nam, tác giả vẫn chưa tìm thấy nghiên cứu nào về CLTT BCTC của ngành ngân hàng Các nghiên cứu về CLTT BCTC thường loại trừ ngành ngân hàng ra khỏi mẫu nghiên cứu vì những đặc thù riêng trong ngành nghề và quy định kế toán

1.6 Định hướng nghiên cứu

Luận văn sẽ sử dụng các thuộc tính chất lượng theo IASB, FASB để đánh giá CLTT BCTC Xác định các nhân tố, đề xuất mô hình nghiên cứu, thiết lập thang đo cho biến phụ thuộc CLTT BCTC, các biến độc lập là các nhân tố ảnh hưởng Thực hiện các kỹ thuật phân tích nhằm xác định rõ các nhân tố và mức độ mà nó ảnh hưởng đến CLTT BCTC của các NHTM tại Việt Nam Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các khuyến nghị phù hợp nhằm cải thiện và nâng cao CLTT BCTC

Kết luận chương 1

Trong chương này, tác giả đã trình bày tổng quan về các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về CLTT BCTC và các nhân tố được đưa vào để xem xét sự tác động của nó đối với CLTT BCTC Qua đó thấy rằng, chủ đề này được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm đến Nhưng nhiều nghiên cứu về CLTT BCTC của các DNNY trên thị trường chứng khoán đã loại trừ ngành ngân hàng ra khỏi mẫu nghiên cứu Các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam đã nhận được sự quan tâm trong những năm vừa qua, tuy nhiên theo sự tìm hiểu của tác giả vẫn chưa có các nghiên cứu về CLTT BCTC Vì vậy, CLTT BCTC của các ngân hàng là một vấn đề cần thiết đáng để nghiên cứu

Trang 32

Chương 2 sẽ nêu ra các lý thuyết cơ sở, khái niệm liên quan, các cơ sở để xây dựng thang đo các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu, lập ra bảng câu hỏi để phỏng vấn ý kiến các chuyên gia

Trang 33

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Khái niệm CLTT

Trong đời sống hàng ngày, thông tin là một nhu cầu rất cơ bản Thông tin được tổ chức tuân theo một số quan hệ logic nhất định, trở thành một thành phần của tri thức, đòi hỏi phải được khai thác và nghiên cứu một cách hệ thống Trong lĩnh vực kinh tế, thông tin là những gì con người thu nhận được từ dữ liệu (có thể là những sự kiện, những con số) và xử lý dữ liệu nhằm tạo ra sự hiểu biết, tạo ra các tri thức và những nhận thức tốt hơn về các vấn đề được quan tâm Nói cách khác, thông tin là những dữ liệu nhận được và sẽ được xử lý, đối chiếu và rất có ích cho người sử dụng nhằm làm cơ sở để đưa ra các quyết định (Wang & Strong, 1996) Thông tin có nhiều mức độ chất lượng khác nhau và là một vấn đề còn nhiều tranh luận do tính chủ quan trong những đánh giá về nó Sau đây là một số quan điểm về khái niệm CLTT của các nhà khoa học trên thế giới và trong nước được tác giả tổng hợp lại:

Theo nghiên cứu của Wang & Strong (1998) và Batini & Scannapieco (2006) thì thông tin chất lượng cần đảm bảo bốn tiêu chuẩn : (1) Bản chất bên trong của thông tin (Intrinsic IQ) là tính chính xác, khách quan, đáng tin cậy (2) Khả năng tiếp cận của thông tin (Accessibility IQ) là tính dễ truy cập, bảo mật (3) Ngữ cảnh của thông tin (Contextual IQ) gồm thích hợp, giá trị tăng thêm, kịp thời, đầy đủ, số lượng dữ liệu ; (4) Trình bày thông tin (Representational IQ) gồm có khả năng diễn giải, dễ hiểu, súc tích và nhất quán

Theo CobiT, CLTT phải đáp ứng bảy tính chất sau: hữu hiệu và hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ, đáng tin cậy

Huang và cộng sự (1999) định nghĩa CLTT là thông tin phù hợp để người dùng thông tin sử dụng Ngoài ra, thông tin không chỉ phù hợp yêu cầu người dùng

mà còn đáp ứng các thông số kỹ thuật (Kahn & Strong, 1998)

Dựa theo các khái niệm về CLTT được nêu ra bởi các nhà nghiên cứu, có thể đưa ra khái niệm CLTT như sau: CLTT bao gồm một tập hợp các tiêu chuẩn được quy định của thông tin bao gồm tính chính xác, tính đầy đủ, tính tuân thủ, tính

Trang 34

khách quan, sự tin cậy, có thể giải thích được, có thể truy cập được, có thể hiểu được, rõ ràng, súc tích, nhất quán và có thể so sánh được nhằm đáp ứng các đòi hỏi của người sử dụng một cách kịp thời, đầy đủ, thích hợp và chính xác

2.2 Khái niệm CLTT BCTC

CLTT BCTC phụ thuộc vào đặc tính chất lượng được nêu rõ trong các báo cáo của IASB, FASB và trong CMKT của các nước Luận văn sẽ lần lượt đề cập đến từng quan điểm về CLTT BCTC nhằm chọn ra quan điểm gồm các đặc tính CL phù hợp thực hiện đề tài Các CMKT về CLTT BCTC được các tổ chức nghề nghiệp kế toán như FASB, IASB quy định; hoặc được tiêu chuẩn hóa trong các quy định của Nhà Nước (CMKT Việt Nam, Ủy ban CMKT Úc - AASB); hoặc được các nhà khoa học đưa ra trong các công trình nghiên cứu cơ bản về CLTT BCTC

Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế IASB (2010): các đặc tính CLTT BCTC

bao gồm hai thuộc tính cơ bản (trung thực, thích hợp) và bốn thuộc tính bổ sung (đáng tin cậy, có thể hiểu được, kịp thời và có thể so sánh được) (IASB, 2010)

Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính tại Hoa Kỳ FASB (2010): CLTT

BCTC được phân theo 2 nhóm là: Đặc điểm cơ bản (tính thích hợp và đáng tin cậy); (2) và đặc điểm thứ yếu (có thể so sánh được và nhất quán) (FASB, 2010)

Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS CLTT BCTC bao gồm các thuộc tính:

trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh (Chuẩn mực kế toán số 1, 2002)

Quan điểm của các nhà nghiên cứu về CLTT BCTC

Bất kỳ BCTC của một công ty nào cũng phải có các đặc điểm về CL BCTC theo quy định của IASB, FASB, hoặc theo luật kế toán của từng quốc gia Vấn đề

về CLTT BCTC đã được các nhà nghiên đưa ra các nhận định khác nhau, tuy nhiên chúng đều hướng về các đặc tính của một BCTC được đưa ra bởi IASB, FASB Theo Bushman & Smith (2001, 2003) trích trong Klai & Omri (2011) thì thông tin tài chính là cơ sở cho các quyết định đầu tư của những người tham gia thị trường vốn Nó hữu ích cho chủ sở hữu, chủ nợ, đối tác công ty và cơ quan quản lý nhà nước vì giúp xác định hiệu quả kinh doanh của công ty trong quá khứ, dự đoán

Trang 35

khả năng sinh lợi trong tương lai và theo dõi hành động của nhà quản lý Thông tin được công bố phải đáng tin cậy và phù hợp để hỗ trợ người dùng BCTC trong quá trình ra quyết định (Fathi, 2013)

Theo Beest và cộng sự (2009) thì việc đo lường CLTT BCTC theo các đặc tính định tính sẽ giúp đánh giá toàn diện BCTC theo các yêu cầu của IASB, FASB Các tác giả này nhận định rằng việc đo lường CLTT BCTC sử dụng các công cụ để phát hiện hành vi QTLN sẽ chủ yếu đo lường theo chất lượng lợi nhuận (thông tin tài chính), phản ánh hiệu quả kinh doanh của công ty thay vì CLTT BCTC Tuy nhiên CLTT BCTC là một khái niệm rộng hơn, không chỉ đề cập đến thông tin tài chính mà còn liên quan đến công bố thông tin và các thông tin phi tài chính khác giúp người dùng có cái nhìn toàn diện hơn về công ty để có thể đưa ra quyết định Việc đánh giá CLTT BCTC theo các đặc tính CL của IASB và FASB sẽ xem xét đến các khía cạnh hữu ích của thông tin trên BCTC cho các đối tượng sử dụng Tóm lại, những tiêu chuẩn được đưa ra để đánh giá CLTT BCTC trong các bài nghiên cứu của các tác giả cũng như CMKT Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với công bố của FASB, IASB Trong luận văn này, tác giả sẽ lựa chọn đo lường CLTT BCTC theo các đặc tính của IASB, FASB nhằm có sự đánh giá toàn diện về CLTT BCTC của các NHTM tại Việt Nam Các đặc tính được lựa chọn xác định CLTT BCTC gồm có: thích hợp, trung thực, kịp thời, có khả năng so sánh, có thể hiểu được, có thể kiểm chứng

 Đặc tính nền tảng của CLTT:

- Thích hợp: thông tin phải phù hợp với yêu cầu trong việc ra quyết định của

người sử dụng Thông tin hữu ích cho người dùng khi có tính dự đoán, tính xác nhận hoặc cả hai (IASB, 2010)

+ Tính dự đoán: người sử dụng sẽ sử dụng thông tin như là nguồn dữ liệu

đầu vào từ đó đưa ra các kết quả dự đoán trong tương lai

+ Tính xác nhận: khi thông tin xác nhận hoặc thay đổi các đánh giá trước

đây

Trang 36

- Trung thực: Sự trung thực của thông tin được xem xét qua ba tính chất:

trung lập, đầy đủ và không có sai lệch trọng yếu (IASB, 2010) Các đặc tính đó được hiểu như sau:

+ Đầy đủ: Thể hiện rằng BCTC chứa đầy đủ các thông tin thiết yếu để hiểu

về một hiện tượng, có tất cả các mô tả và giải thích cần thiết Đối với một số khoản mục, một mô tả đầy đủ yêu cầu giải thích các sự kiện quan trọng về đặc trưng và bản chất của khoản mục đó, các yếu tố và hoàn cảnh có thể ảnh hưởng đến đặc trưng, bản chất, và quy trình xác định giá trị (IASB, 2010)

+ Trung lập: Một mô tả trung lập là không có sự thiên lệch trong việc giải

thích hoặc trình bày thông tin tài chính Một mô tả trung lập không có thành kiến, tăng nặng, nhấn mạnh, xem nhẹ hoặc bị điều chỉnh để thông tin tài chính được nhìn nhận một cách thuận lợi hay bất lợi bởi người dùng Thông tin trung lập không có nghĩa là không có mục tiêu hoặc không ảnh hưởng đến hành vi Trái lại, thông tin

có tính thích hợp sẽ ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng (IASB, 2010)

+ Không sai sót: là không có lỗi hoặc thiếu sót trong miêu tả các hiện tượng

và qui trình được sử dụng để sản xuất thông tin đã được lựa chọn và áp dụng Không có lỗi thì cũng không phải là hoàn toàn chính xác trên tất cả các khía cạnh Chẳng hạn như: các ước lượng thì không thể đánh giá được là chính xác hay không Tuy nhiên, việc nêu rõ các ước tính có thể là trung thực nếu giá trị được chỉ ra rõ ràng và việc ước lượng là chính xác, bản chất và giới hạn của quy trình ước lượng được giải thích, việc lựa chọn và áp dụng quy trình phù hợp cho việc ước lượng thì không có các sai sót (IASB, 2010)

Các đặc tính làm gia tăng CLTT:

- Kịp thời: thông tin luôn sẵn có cho việc ra quyết định Nói chung, thông tin

càng cũ thì càng ít hữu ích (IASB, 2010)

- Có khả năng so sánh: Thông tin báo cáo của một thực thể sẽ có ích hơn nếu

có thể được so sánh với thông tin tương tự của các thực thể khác, và với thông tin tương tự giữa các khoảng thời gian khác nhau của cùng một thực thể So sánh được

là đặc tính giúp người dùng nhìn ra các điểm tương tự và khác biệt giữa các khoản

Trang 37

mục Tính nhất quán nghe có vẻ liên quan đến so sánh nhưng khác nhau Nhất quán

là sử dụng cùng một phương pháp cho cùng một khoản mục, theo từng giai đoạn cho một thực thể hoặc một giai đoạn cho các thực thể Những thông tin cần phải nhất quán thì mới có khả năng so sánh (IASB, 2010)

- Có thể kiểm chứng: các thông tin trên BCTC cần phải phản ánh đúng sự

thật về các hiện tượng kinh tế Tính chất này có thể hiểu là có được sự đồng thuận

từ những người quan tâm độc lập và có hiểu biết về thông tin, mặc dù không nhất thiết là phải hoàn toàn đồng ý, rằng một mô tả cụ thể là trình bày trung thực Cần phải kiểm chứng thông tin cả về số lượng lẫn giá trị Kiểm chứng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp (IASB, 2010)

- Có thể hiểu được: Phân loại, mô tả và trình bày thông tin rõ ràng, súc tích

làm cho nó dễ hiểu Một số hiện tượng vốn đã phức tạp và không được hiểu dễ dàng Loại bỏ thông tin về những hiện tượng đó từ BCTC có thể làm cho thông tin trên BCTC dễ hiểu hơn Tuy nhiên, những báo cáo đó sẽ không đầy đủ và do đó có khả năng làm cho người sử dụng hiểu sai (IASB, 2010)

2.3 Các cơ sở lý thuyết

2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)

Lý thuyết này được phát triển bởi nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976)

Lý thuyết đã nêu ra mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên đại diện Bên ủy nhiệm

sẽ để bên đại diện thay mặt cho mình ra quyết định, xử lý công việc trong quá trình công ty hoạt động

Trong công ty cổ phần, các cổ đông là chủ sở hữu (bên ủy nhiệm) thường ủy quyền cho nhà quản lý (bên đại diện) tiến hành việc vận hành tại công ty với mục đích đem lại lợi ích nhiều nhất cho mình, nhưng các nhà quản lý họ lại có sự tư lợi cho riêng mình Các cổ đông thường mong muốn công ty mình có được kết quả kinh doanh tốt mang tính bền vững và lâu dài Tuy vậy, các nhà quản lý chỉ chú trọng đến lợi nhuận ngắn hạn, trong thời gian họ làm việc tại công ty Vấn đề này phát sinh từ việc phân chia quyền sở hữu và quyền kiểm soát trong một công ty, tạo

ra xung đột lợi ích trong một doanh nghiệp Xung đột này là vấn đề quan trọng hàng

Trang 38

đầu mà các nguyên tắc quản trị cần giải quyết Do đó, các doanh nghiệp sẽ tìm cách hạn chế vấn đề này bằng các chính sách QTDN vững chắc và hiệu quả QTDN thiết lập các cơ chế quản trị hiệu quả để kiểm tra và giám sát mọi hoạt động của người quản lý, đảm bảo lợi ích cho cổ đông Do đó, các cổ đông cần phải lập ra các hoạt động giám sát phù hợp để bảo vệ lợi ích cho mình, điều này sẽ giúp cho các cổ đông

có được sự công bố thông tin chi tiết, minh bạch từ các nhà quản lý, CLTT vì thế cũng được tăng cao Lý luận này được nêu ra nhằm giải thích cho sự góp mặt của nhân tố quản trị ngân hàng và KSNB trong mô hình nghiên cứu đề xuất của luận văn

Ngoài ra, Áp lực từ thuế cũng là một trong những nguyên nhân làm cho các nhà quản lý điều chỉnh các khoản mục trên BCTC Những lúc khó khăn về tình hình tài chính, nhà quản lý có khả năng giảm số thuế phải nộp sao cho thấp nhất bằng cách điều chỉnh giảm lợi nhuận, vì các căn cứ tính toán số thuế phải nộp thường dựa vào lợi nhuận Mục đích cho việc làm này nhằm giữ danh tiếng cho mình và có thể

có được những ưu đãi từ các cổ đông, tránh được hình phạt theo các thỏa thuận trong hợp đồng

2.3.2 Lý thuyết xử lý thông tin (Information Processing Theory)

Đây là một trong những lý thuyết thuộc về lý thuyết ngẫu nhiên (Bolon, 1998),

lý thuyết này được đưa ra vào năm 1973 bởi Galbraith Theo đó, một tổ chức hoạt động có tốt không, điều này phụ thuộc vào năng lực xử lý thông tin có thỏa mãn các nhu cầu thông tin không Và năng lực xử lý đó có hiệu quả hay không thì phải xem

nó có đáp ứng được nhu cầu thông tin tại đơn vị không Trong môi trường kinh doanh, nếu khả năng xử lý thông tin của các công ty thỏa mãn các nhu cầu về thông tin thì sẽ giúp cho công việc kinh doanh của tổ chức có được hiệu quả cao

Với mỗi loại hình tổ chức khác nhau thì nhu cầu thông tin khác nhau Các tổ chức phải tổ chức việc xử lý thông tin sao cho thỏa mãn các yêu cầu thông tin cho đơn vị của mình theo nhiều cách khác nhau nhằm hạn chế tính chất không chắc chắc

từ môi trường để có thể có được những quyết định chính xác, hạn chế rủi ro và mang lại hiệu quả kinh doanh tốt nhất cho DN

Trang 39

Lý thuyết này dùng để giải thích về tác động của chất lượng phần mềm kế toán (PMKT) đến CLTT BCTC Một DN sở hữu một PMKT chất lượng có thể xử lý thông tin tốt và nhu cầu xử lý thông tin được đáp ứng, phù hợp với đặc điểm của

DN Điều này giúp cho các DN có được thông tin cần thiết chính xác và kịp thời từ

đó có được cơ sở để đưa ra các quyết định kinh doanh, sẽ giúp cải thiện hơn nữa CLTT BCTC của DN

2.3.3 Lý thuyết quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management-TQM)

Theo TCVN ISO 8402:1999 “Quản lý chất lượng toàn diện TQM là cách quản

lý một tổ chức tập trung vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của tất cả các thành viên nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho xã hội” Theo lý thuyết này, các tổ chức muốn đạt được sự tăng trưởng bền vững thì cần phải áp dụng cách thức quản lý huy động nguồn lực con người thông qua sự tham gia của toàn bộ nhân viên Lý thuyết cũng nêu ra tầm quan trọng của việc tập huấn và đào tạo nhân viên, các chính sách khen thưởng, xây dựng hệ thống hướng vào nhân viên, tổ chức các hoạt động nhóm

Một trong các đặc trưng hoạt động của TQM đó là đào tạo và tập huấn thường xuyên cho các thành viên của doanh nghiệp về nhận thức cũng như về kỹ năng thực hiện công việc

Sự ảnh hưởng của Năng lực NVKT, Đào tạo nhân viên đến CLTT BCTC được giải thích theo lý thuyết này Một DN thường xuyên có các chương trình huấn luyện, đào tạo nhằm cải thiện trình độ cho NVKT sẽ giúp cho họ nắm bắt kịp thời các sự thay đổi về quy định trong kế toán, nâng cao kỹ năng làm việc Các thông tin

về kế toán nếu được giải quyết nhanh chóng và chính xác sẽ giúp nâng cao hơn nữa CLTT BCTC

Trang 40

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLTTBCTC của NHTM

2.4.1 Quản trị ngân hàng

Một trong những chức năng quan trọng nhất của quản trị doanh nghiệp (QTDN) là đảm bảo quy trình BCTC đạt chất lượng (Cohen và cộng sự, 2004) Trong các nghiên cứu học thuật đã cho thấy mối liên kết giữa việc yếu kém trong quản trị với CL BCTC kém như thao túng lợi nhuận, gian lận BCTC và KSNB yếu (Dechow và cộng sự, 1996; Beasley, 1996; Beasley và cộng sự, 2000; Klein, 2002) Một số nghiên cứu cũng đưa ra kết quả về từng đặc điểm của QTDN như: tính độc lập của HĐQT sẽ giúp cho việc công bố ra bên ngoài các thông tin có chất lượng tốt (Beekes và cộng sự, 2004), quy mô của HĐQT lớn hơn có thể cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho công ty và có thể có khả năng giám sát tốt, vì vậy có thể dẫn đến CLTT BCTC cao hơn (Haji & Ghazali, 2013)

Klai & Omri (2011) cho rằng CLTT BCTC bị ảnh hưởng bởi cơ cấu quản trị, với sự kiểm soát của Nhà nước và tổ chức tài chính thì liên quan đến CL BCTC cao, các ảnh hưởng từ cổ đông nước ngoài, gia đình, cổ đông lớn làm cho BCTC có CL kém

Một số nghiên cứu cho rằng kiến thức chuyên môn của ban quản trị có ảnh hưởng tích cực đến CL BCTC Có các chuyên gia trong HĐQT thì luôn tạo được một mức độ tin cậy vào BCTC được trình bày (Onourah & Imence, 2016) Nghiên cứu Ismail & King (2007) cho rằng kiến thức kế toán của chủ sở hữu và nhà quản lý

sẽ giúp cho công nghệ tin học phù hợp với chiến lược kinh doanh Trong khi đó, Kankanamage (2015) đã đi đến kết luận rằng chuyên môn HĐQT có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến CL BCTC, bằng cách sử dụng QTLN làm thước đo

Tại Việt Nam, Nguyễn Trọng Nguyên (2016), Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), Phạm Quốc Thuần (2016) cũng đã nêu ra sự ảnh hưởng của các yếu tố thuộc QTDN tới CLTT BCTC, gồm có: các đặc điểm về HĐQT, ủy ban kiểm toán, ban kiểm soát, cơ cấu sở hữu, sự hỗ trợ của ban quản trị Luận văn thạc sĩ của Phan Minh Nguyệt (2014), Phạm Thanh Trung (2016) cũng hỗ trợ thêm bằng chứng về mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa giữa nhà quản trị với CLTT BCTC

Ngày đăng: 26/06/2021, 14:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w