so sánh sự khác nhau về đặc điểm, thành tựu của nền văn hóa Đại Việt dưới thời Lý –Trần Hồ và Lê Sơ. Ảnh hưởng của những yếu tố văn hóa này đối với nền chính trị của nhà nước quân chủ Việt Nam thế kỷ XI XVI.
Trang 1Câu hỏi: Hãy nêu và so sánh sự khác nhau về đặc điểm, thành tựu của nền văn hóa
Đại Việt dưới thời Lý –Trần- Hồ và Lê Sơ ? Ảnh hưởng của những yếu tố văn hóa này đối với nền chính trị của nhà nước quân chủ Việt Nam thế kỷ XI- XVI
1 Sự khác nhau về đặc điểm, thành tựu của nền văn hóa Đại Việt dưới thời Lý
–Trần- Hồ và Lê Sơ
Giáo
dục
Năm 1070, Nhà Lý dựng Văn Miếu ở Thăng Long để thờ
Khổng Tử và là nơi dạy học cho
các con vua Năm 1075, khoa
thi đầu tiên được mở để tuyển
chọn quan lại Năm 1076, mở
Quốc tử giám cho con em quý
tộc đến học Sau đó, nhà Lý mở
rộng cho con em quan lại và
những người giỏi trong nước
vào đây học tập
Nhà Lý có quan tâm tới giáo dục nhưng thể lệ và quy trình thi
cử còn thiếu chặt chẽ, nhà nước
chỉ mở khoa thi tuyển chọn
nhân tài khi có nhu cầu
Đối tượng được giáo dục dự thi tập trung vào con em quý
tộc, quan lại
Chưa coi trọng những chính sách khuyến khích giáo dục, thi
cử
Ngoài Văn Miếu ở Thăng Long, ở các địa phương, hệ thống trường học có đến cấp phủ huyện, các lớp học có đến cấp xã Quy trình thi cử chặt chẽ, được tổ chức đều đặn và quy củ Nhà nước qui định cứ 3 năm mở một
kì thi Hương, năm sau mở kì thi hội Qui chế thi cũng khoa học và chặt chẽ hơn với các qui định về
“bảo kết hương thi” và “Cung khai tam đại”
Đối tượng dự thi được mở rộng con em mọi tầng lớp nhân dân (Trừ con cháu nhà xướng ca, ngụy quan, chống đối triều đình) đều được dự thi
Chính sách khuyến khích giáo dục, thi cử được chú trọng Nhà nước định lệ xướng danh, vinh quy, những người đỗ đạt cao được khắc tên vào bia Tiến sĩ đặt tại Văn Miếu …
Nền giáo dục, khoa cử thời Lê
sơ mang tính thế tục Phổ cập và bình đẳng, nó đã trí thức hóa tầng lớp quan liêu
Tư
tưởng
Chủ trương một chính sách khoan dung, hòa hợp giữa ba
Các nhà vua thời Lê sơ đã từ
bỏ chính sách khoan dung Tam
Trang 2dòng tư tưởng Nho, Phật, Đạo,
đó chính là tư tưởng “tam giáo
đồng nguyên” Tuy nhiên, đây
là thời kỳ mà Đạo Phật phát
triển cực thịnh Chùa chiền được
xây dựng khắp nơi, nhiều người
đi tu Đặc biệt các vua dưới thời
Lý, Trần rất sùng Đạo Phật
Có rất nhiều vị sư tăng nổi tiếng trong cả nước, có uy tín và
địa vị chính trị- xã hội
Mặc dù từ nửa cuối thời Trần đến đời Hồ, Phật giáo và Đạo
giáo ngày càng bị mất dần vị thế
trên chính trường và trong giáo
dục chính thống, song những tư
tưởng, giáo lý Phật, Đạo không
bị mai một mà còn hòa nhập vào
đời sống xã hội lúc bấy giờ
giáo đồng nguyên để chuyển sang một chính sách văn hóa đơn nguyên quan phương, độc tôn Nho giáo và Nho học
Triều đình Lê sơ đã cấm quý tộc quan lại xây chùa mới, hạn chế việc đi lại của sư tăng, đạo sĩ (Điều 301 Luật Hồng Đức), cấm quan liêu trong triều kết giao với tăng, đạo Không được Nhà nước khuyến khích nhưng Phật, Đạo thời Lê sơ vẫn tồn tại trong xã hội, được mọi giới thừa nhận nhất
là quần chúng nhân dân
Văn
học và
sử học
Có 2 dòng văn học chính : văn học Phật giáo và văn học
yêu nước dân tộc
Thế kỷ đầu tiên của thời Lý
đã để lại trong di sản dân tộc 3
áng thơ văn cô đúc mà gây được
một ấn tượng phi thường, đó là
tờ Chiếu dời đô bài văn Lộ Bố
và bài thơ Nam Quốc Sơn Hà
Văn học chữ Hán như Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo;
Phú Sông Bạch Đằng của
Trương Hán Siêu Chữ Nôm có
Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố
làm giàu cho tiếng Việt
Cơ quan chuyên viết sử ra đời (Quốc sử viện) do Lê Văn
Hưu đứng đầu Năm 1272, ông
Có 2 khuynh hướng văn thơ nổi trội dưới thời Lê sơ : văn thơ yêu nước dân tộc và văn thơ cung đình
Đặc biệt, bộ chính sử Đại Việt
sử ký toàn thư của các sử thần nhà Lê (Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh), phát triển từ bộ
sử gốc Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu trước đó, là một tác phẩm quý giá Ở đây, lần đầu tiên, Ngô
Sĩ Liên đã đưa truyền thuyết Hùng Vương - An Dương Vương vào chính sử dân tộc
Về địa lý, đáng kể là cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi và tập bản đồ hành chính quốc gia soạn dưới thời Lê Thánh Tông, thường
Trang 3biên soạn xong bộ "Đại Việt sử
kí" gồm 30 quyển Đây là bộ
chính sử đầu tiên có giá trị của
nước ta
gọi là Hồng Đức bản đồ vẽ chi tiết 13 thừa tuyên và các phủ huyện Các tác phẩm địa lý này cũng đã được bổ sung ở những thời kỳ sau
Nghệ
thuật
Múa rối nước là môn nghệ thuật đặc sắc Trong các lễ hội,
có nhiều trò vui tạp kỹ mang
tính dân gian như đấu vật, chọi
gà, cờ người, bơi chải, đánh đu,
leo dây, đá cầu, trò nhại, hất
phết, cưỡi ngựa đánh cầu…
Nhìn chung, khuynh hướng cung đình, quan phương trong nghệ thuật thời Lê sơ đã thắng thế, do ảnh hưởng của văn hóa Đông Á Nho giáo, mang tính giáo điều, công thức Thời
kỳ này, văn hóa dân gian bị hạ thấp, thậm chí bị miệt thị
Năm 1448, điệu múa dân
gian lý liên (rí ren) bị coi là dâm
tục, nhảm nhí và bị cấm Năm
1462, cấm các con nhà phường chèo không được đi thi, mà nạn nhân gần 2 thế kỷ sau đó là nhà văn hóa lớn Đào Duy Từ Kiến
trúc,
điêu
khắc
Thời Lý – Trần – Hồ cũng để lại nhiều công trình về nghệ
thuật kiến trúc- điêu khắc Nhìn
chung, kiến trúc thời Lý mang
tính hoành tráng, quy mô; kiến
trúc thời Trần mang tính thực
dụng, khoẻ khoắn Tinh thần
Phật giáo đã thấm đượm trong
các công trình này
Các bức phù điêu đời Lý- Trần phần lớn đều chạm khắc
các hình tượng Phật giáo (toà
sen, lá đề, sóng nước), hình
tượng các tiên nữ múa hát, các
hình tượng rồng uốn khúc (loại
rồng giun đơn giản và khoẻ
khoắn)
Ngoài ba pho tượng đá chùa Ngọc Khám (Bắc Ninh) đến nay hình ảnh điêu khắc Phật giáo thời
Lê Sơ rất mờ nhạt Thay vào đó
là nền điêu khắc lăng mộ của các vua Lê ở Lam Sơn (Thanh Hoá) Tám lăng vua Lê và hai bà Hoàng hậu đều theo hình thức của lăng vua Lê Thái Tổ làm
Trang 4Nhiều công trình nghệ thuật
nổi tiếng và đặc sắc được xây
dựng như: Chùa Một Cột, tháp
Báo Thiên (Thăng Long), tháp
Chương Sơn (Nam Định),
chuông chùa Trùng Quang (Bắc
Ninh, tháp Phổ Minh (Nam
Định), thành Tây Đô (Thanh
Hóa),…
2 Ảnh hưởng của những yếu tố văn hóa này đối với nền chính trị của nhà nước
quân chủ Việt Nam thế kỷ XI- XVI
a Thời Lý – Trần - Hồ
Thời kỳ này, các vua và hoàng tộc đều sùng Phật; nhiều đường lối, chính sách của Nhà nước đều được các trí thức Phật giáo tham gia xây dựng Vì vậy, đường lối chính trị thời kỳ này mang đậm tinh thần khoan dung, từ bi của Phật giáo
Việc Lý Công Uẩn lên ngôi lập nên triều Lý chính là nhờ sự đóng góp tích cực của thiền sư Vạn Hạnh.Bởi vậy, không phụ sự tin tưởng của thầy, Lý Công Uẩn đã vận dụng sáng tạo và linh hoạt tinh thần của Phật giáo để ổn định triều chính và đưa ra chính sách trị quốc, an dân, theo tinh thần khoan dung, bình đẳng của Phật giáo Đội ngũ
quan lại thời Lý-Trần được chia là 4 ban:Ban Văn, Ban Võ, Thái giám
Ban và Tăng Ban, mỗi ban được giao một quyền hạn và trách nhiệm khác nhau Trong đó Tăng Ban có vai trò giáo chủ tinh thần đã góp phần giáo dục, định hướng tư tưởng cho giai cấp thống trị và toàn xã hội “Pháp luật thời Lý thì rộng rãi khoan dung, pháp luật thời Trần có phần nghiêm minh, hà khắc hơn; nhưng nhìn chung cả giai đoạn Lý - Trần, pháp luật nhà nước còn phần nào quan tâm và chiếu cố đến quyền lợi dân chúng”
Trong đường lối bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Nhân sinh quan Phật giáo cũng hòa nhập trong lòng dân tộc Triều đình đã có được đường lối kháng chiến phù hợp lại có sự trợ giúp đắc lực từ Phật giáo Phật giáo đã trở thành vũ khí tinh thần giúp triều đại liên kết nhân tâm, thống nhất các lực lượng trong xã hội để tập trung vào mục tiêu chung, góp phần tạo nên ý chí “quyết không chịu khuất phục” trước bất cứ kẻ thù nào Cũng chính bản lĩnh này, đã tạo nên
Trang 5sức mạnh giúp người Việt thời Lý - Trần sẵn sàng đương đầu với những kẻ thù hùng mạnh
Thời Lý-Trần, việc trấn áp các thế lực chống đối không phải lúc nào cũng kết thúc bằng “máu”, mà lại bằng hình phạt rất khoan dung, nhân đạo Có thể thấy, nhân sinh quan Phật giáo cũng ảnh hưởng mạnh mẽ trong lối ứng xử của các nhà chính trị(Thái Tử Phật Mã thời Lý; thời Trần có vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông ) với những
kẻ chống đối Cũng nhờ tinh thần ấy, ở triều đại Lý và Trần đều
không xảy ra bạo động lớn, không thường xuyên có cảnh tranh cướp ngôi vua,anh em trong hoàng tộc chém giết lẫn nhau
b Thời Lê Sơ
Do ảnh hưởng của Nho giáo, trong thiết chế quân chủ tuyệt đối thời Lê sơ, vai trò của nhà vua đã được đẩy lên rất cao với chủ nghĩa
"tôn quân" Theo đó, nhà vua là "con Trời" Người giữ mệnh Trời, thay Trời trị dân ; các ấn tín của vua đều khắc chữ "Thuận thiên thừa vận", "Đại thiên hành hóa" Điện Kính Thiên được xây trong Hoàng thành Thăng Long Hoàng đế là người chủ tế duy nhất trong các buổi
tế lễ (tế Trời, tế Tôn miếu, tế Khổng Tử), là Tổng chỉ huy quân đội (Lê Thánh Tông đích thân cầm quân đi đánh Champa) Thời Lê Thánh Tông, chức Tướng quốc (Tể tướng) đầu triều và một số chức danh đại thần khác đã bị bãi bỏ Hoàng đế trực tiếp điều khiển triều đình
Quyền lực của các quý tộc tôn thất cũng bị hạn chế, không được lập quân vương hầu, phủ đệ, Lê Thánh Tông bỏ lệ ban Quốc tính Thời Lê
sơ, một số công thần có uy tín và quyền lực cao đã bị nghi kỵ và lần lượt bị giết hại, như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lê Khả, Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Nguyễn Trãi
Các vua Lê rất chú ý đến việc xây dựng hệ thống điển chế pháp luật, kết hợp chặt chẽ giữa lễ và pháp Nhà nước đưa lễ vào luật, luật
và lễ hỗ trợ nhau tạo ra một xã hội hướng Nho Trong những bộ luật
đó có nhiều điều đề cao vấn đề lễ của Nho gia, bao gồm các lễ giáo và nghi lễ Nhìn chung, vấn đề lễ rất được coi trọng, bởi hình thái ý thức này giúp khuôn mẫu hóa và ổn định các hành vi đạo đức, lối sống của con người, khiến xã hội đi vào trật tự, dễ quản lý Thuyết “chính danh” được tôn trọng thực hiện đã giúp cho mỗi con người trong xã hội đều có những chuẩn mực hành vi riêng (được gọi là khuôn mẫu văn hóa) do địa vị xã hội của mình quy định Như vậy, triều Lê đã cụ thể hóa giáo lý Nho gia bằng các luật lệ và những giáo điều khá chi tiết, bao gồm cả việc giảng giải các đạo lý về cương thường, điều
Trang 6chỉnh các hành vi trong ứng xử của mỗi cá nhân trong đời sống cho hợp “lễ” như: trung hiếu, tiết nghĩa; các quy định về tôn ti trật tự ; quy định về các nghi lễ cúng tế giỗ chạp, ma chay, cưới xin; quy định các nghi tiết về trang phục, ăn uống, quy chế nhà cửa, xe kiệu cho đúng với phận vị của từng lớp người trong xã hội Qua các điều quy định trong Quốc triều hình luật - bộ luật được coi là quan trọng bậc nhất của triều Lê, chúng ta thấy rất rõ việc nhà nước đề ra những điều
lệ cụ thể nhằm thể chế hóa lễ để cai trị, giáo hóa dân chúng và trừng phạt những hành vi làm ảnh hưởng đến lễ nghi ấy trong đời sống xã hội theo tư tưởng của Nho gia