Khóa luận tốt nghiệp Page 1 ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TOÁN ---∆--- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH THPT K
Trang 1Khóa luận tốt nghiệp Page 1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA TOÁN -∆ -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH THPT KHI HỌC HÌNH HỌC KHÔNG GIAN LỚP 11
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Ngô Thị Bích Thủy Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ LOAN Lớp : 12ST
Đà nẵng, tháng 5/2016
Trang 2Khóa luận tốt nghiệp Page 2
LỜI CÁM ƠN
Em xin chân thành cám ơn:
Cô Ngô Thị Bích Thủy, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận này
Các thầy cô của tổ Toán, trường trung học phổ thông Phan Thành Tài, các em học sinh, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, ủng hộ trong thời gian làm khóa luận
Trang 3Khóa luận tốt nghiệp Page 3
Contents
LỜI CÁM ƠN 1
CÁC CHỮ VÀ KÍ HIỆU VIẾT TẮT 5
A PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc luận văn 8
B PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1.1 Các vấn đề cơ bản về tư duy 10
1.1.1.1 Khái niệm 10
1.1.1.2 Đặc điểm cơ bản của tư duy 11
1.1.1.3 Phân loại tư duy 15
1.1.1.4 Điều kiện của tư duy 16
1.1.2 Tư duy sáng tạo 17
1.1.2.1 Khái niệm 17
1.1.2.2 Đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo 18
1.1.2.3 Các phương pháp áp dụng có hiệu quả tư duy sáng tạo 21
1.1.3 Năng lực tư duy sáng tạo 24
1.1.3.1 Năng lực 24
1.1.3.2 Năng lực tư duy sáng tạo 25
1.1.3.3 Biểu hiện năng lực tư duy của học sinh THPT trong quá trình giải toán hình không gian lớp 11 28
1.1.4 Thực trạng về dạy học phát triển năng lực tư duy của học sinh THPT về hình học không gian lớp 11 32
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 34
1.2.1 Dạy học giải bài tập 34
1.2.1.1 Vị trí, chức năng của bài tập toán 34
1.2.1.2 Dạy học sinh phương pháp giải bài tập toán 35
1.2.2 Đặc điểm cơ bản của môn hình học không gian 35
1.2.3 Mục đích dạy học bài tập hình học không gian ở phổ thông 35
1.2.4 Nội dung bài tập hình học không gian 11 nâng cao 36
CHƯƠNG 2: 37
Một số biện pháp đề xuất nhằm rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh THPT về hình học không gian 11 37
2.1.CÁC CƠ SỞ ĐỂ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 37
2.2.MỘT SỐ BIỆN PHÁP CỤ THỂ 37
Trang 4Khóa luận tốt nghiệp Page 4
2.2.1 Biện pháp 1: Tăng cường bồi dưỡng cho học sinh hứng thú và nhu cầu học toán từ đó tạo động lực thúc đẩy quá trình nghiên cứu, phát hiện mâu thuẫn và giải quyết vấn đề 37 2.2.2 Biện pháp 2: Giúp học sinh nắm vững các thuật toán và quy trình
có tính thuật toán trong giải bài tập hình học không gian 11 41 2.2.3 Biện pháp 3: Luyện tập cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải toán 43 2.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường luyện tập hoạt động chuyển đổi ngôn ngữ cho học sinh, mở rộng con đường tìm lời giải bài toán Từ đó
khuyến khích học sinh giải bài toán bằng nhiều cách 47 2.2.5 Biện pháp 5: Luyện tập cho học sinh khả năng liên tưởng giữa hình học phẳng và hình học không gian 49 2.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường luyện tập phát triển nhiều bài toán khác nhau từ một bài toán cho trước giúp cho học sinh thấy được mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng thông qua hoạt động khái quát hóa, đặc biệt hóa 52 KẾT LUẬN 56 Tài liệu tham khảo 57
Trang 5Khóa luận tốt nghiệp Page 5
CÁC CHỮ VÀ KÍ HIỆU VIẾT TẮT
THPT : Trung học phổ thông
GV : Giáo viên
dt : danh từ
Trang 6Khóa luận tốt nghiệp Page 6
đường lối đúng đắn trong việc đổi mới và phát triển đất nước: “Phát triển kinh
tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới” Để hình thành nền kinh tế tri thức ở
nước ta, thì cần phải phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo Biện pháp quan trọng để phát triển hai lĩnh vực này là phát huy và nâng cao năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay
Rèn luyện, bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh là một nhiệm vụ
quan trọng của nhà trường phổ thông, đặc biệt trong dạy học môn toán Dạy toán không chỉ đơn thuần là dạy cho học sinh biết được kiến thức, những định
lý toán học Điều quan trọng là dạy cho học sinh có năng lực trí tuệ, phát triển
tư duy Năng lực này sẽ được hình thành và phát triển trong quá trình học tập
Vì vậy cần giúp học sinh phát triển năng lực trí tuệ chung, bồi dưỡng thế giới
quan duy vật biện chứng Luật giáo dục (2005) cũng đặt ra nhiệm vụ phát triển
tư duy sáng tạo cho học sinh: “ Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên
” Theo thang Bloom, sáng tạo là cấp độ tư duy cao nhất trong 6 cấp độ: ghi nhớ, hiểu, áp dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo Theo PGS.TS Tôn Thân tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mới, độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao Theo PGS.TSKH Phan Dũng tư duy sáng tạo là quá
Trang 7Khóa luận tốt nghiệp Page 7
trình suy nghĩ đưa người giải từ không biết cách đạt đến mục đích đến biết cách đạt đến mục đích hoặc từ không biết cách tối ưu đạt đến mục đích đến biết cách tối ưu đạt đến mục đích trong một số cách đã biết Trong dạy học toán hiện nay, giáo viên và học sinh thường quan tâm đến kết quả suy nghĩ, chẳng hạn khi đặt các câu hỏi hoặc yêu cầu giải các bài tập, giáo viên thường quan tâm, đánh giá các câu trả lời, lời giải và đáp số mà ít khi đi vào hướng dẫn học sinh quá trình suy nghĩ để có được kết quả đó Do đó, nhiệm vụ cần thiết đối với người giáo viên hiện nay là mở rộng trí tuệ, hình thành năng lực, kỹ năng cho học sinh chứ không phải làm đầy trí tuệ của các em bằng truyền thụ các tri thức đã có Việc
mở rộng trí tuệ đòi hỏi giáo viên phải biết cách dạy cho học sinh tự suy nghĩ, phát huy hết khả năng, năng lực của bản thân mình để giải quyết vấn đề mà học sinh gặp phải trong quá trình học tập và trong cuộc sống
Để hoàn thành được mục tiêu trên, chúng ta cần có phương pháp dạy học
mới để khơi dậy và phát huy tư duy sáng tạo của người học Vậy “tư duy sáng
tạo” là gì? Quy luật phát triển của năng lực tư duy sáng tạo như thế nào? Làm thế nào rèn luyện và phát triển năng lực đó? Để giải quyết những vấn đề trên,
tôi chọn đề tài nghiên cứu “Rèn luyện và phát triển năng lực tư duy sáng tạo
của học sinh THPT khi học về hình học không gian lớp 11”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu về lý luận, thực tiễn các vấn đề cơ bản cùng biểu hiện của năng lực tư duy sáng tạo ở học sinh THPT, tôi đề ra những biện pháp cần thiết nhằm rèn luyện và phát triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh THPT
về hình học không gian lớp 11, góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh và đào tạo của nhà trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản của tư duy, tư duy sáng tạo và năng lực tư duy sáng tạo
Trang 8Khóa luận tốt nghiệp Page 8
+ Những biểu hiện và sự cần thiết của năng lực tư duy sáng tạo đối với học sinh THPT qua dạy học hình học không gian
+ Các biện pháp cần thiết để rèn luyện và phát triển năng lực tư
duy sáng tạo của học sinh THPT về hình học không gian
- Phạm vi nghiên cứu:
Chủ yếu nghiên cứu kiến thức hình học không gian trong sách giáo khoa hình học lớp 11 (xuất bản năm)
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu về giáo dục học, tâm lý học, các sách giáo khoa, sách bài tập, báo chí, các bài tham khảo có liên quan tới logic toán học, năng lực tư duy sáng tạo
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Bước đầu tìm hiểu tình hình dạy học và rút ra một số nhận xét về việc “ rèn luyện và phát triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh lớp
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghên cứu
5 Cấu trúc luận văn
B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1.Một số vấn đề cơ bản về tư duy
1.1.2.Tư duy sáng tạo
Trang 9Khóa luận tốt nghiệp Page 9
1.1.3.Năng lực tư duy sáng tạo
1.1.4.Thực trạng về dạy học phát triển năng lực tư duy của học sinh THPT về hình học không gian lớp 11
1.2.CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1.Dạy học giải bài tập
1.2.2.Đặc điểm cơ bản của môn hình học không gian lớp 11 (sách nâng cao)
1.2.3.Mục đích dạy học bài tập hình học không gian ở phổ thông
1.2.4.Nội dung bài tập hình học không gian lớp 11 nâng cao
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THPT VỀ HÌNH HỌC 11 NÂNG CAO 2.1.Các cơ sở để đề xuất các biện pháp thực hiện
2.2 Một số biện pháp đề xuất nhằm rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh THPT về hình học không gian 11
KẾT LUẬN
Trang 10Khóa luận tốt nghiệp Page 10
B PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Các vấn đề cơ bản về tư duy
1.1.1.1 Khái niệm
Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần,
đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (Nhà xuất bản Từ điển
bách khoa Hà Nội 2005); Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ
chức một cách đặc biệt -Bộ não người- Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận.v.v
Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của "ý niệm tuyệt đối" với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất Theo George Wilhemer Fridrick Heghen: "Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhân thức tư biện
mà thôi".[1] Karl Marx nhận xét: "Đối với Heghen, vận động của tư duy được ông nhân cách hóa dưới tên gọi "ý niệm" là chúa sáng tạo ra hiện thực; hiện thực chỉ là hình thức bề ngoài của ý niệm".[2]
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao Về lý thuyết, Karl Marx cho rằng:
"Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được cải tạo / tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh".[3]
Những luận cứ này còn dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm của Ivan Petrovich Pavlov, nhà sinh lý học, nhà tư tưởng người Nga Bằng các thí nghiệm tâm-sinh lý áp dụng trên động vật và con người, ông đi đến kết luận:
"Hoạt động tâm lý là kết quả của hoạt động sinh lý của một bộ phận nhất định của bộ óc".[4]
Trang 11Khóa luận tốt nghiệp Page 11
1.1.1.2 Đặc điểm cơ bản của tư duy
a Tính có vấn đề của tư duy.
- Vấn đề là những tình huống, hoàn cảnh chứa đựng một mục đích, một vấn đề mới mà những hiểu biết cũ, những phương pháp hành động cũ tuy còn cần thiết song không đủ sức giải quyết
- Tư duy chỉ xuất hiện khi gặp những hoàn cảnh, tình huống có vấn đề Muốn giải quyết vấn đề đó con người phải tìm cách thức giải quyết mới Tức là con người phải tư duy
Ví dụ: Giả sử để giải một bài toán, trước hết học sinh phải nhận thức
được yêu cầu, nhiệm vụ của bài toán, sau đó nhớ lại các quy tắc, công thức, định lí có liên quan về mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm, phải chứng minh để giải được bài toán Khi đó tư duy xuất hiện
Có phải tư duy luôn luôn xuất hiện ?
Không phải bất cứ hoàn cảnh nào tư duy cũng xuất hiện Vấn đề chỉ trở nên "tình huống có vấn đề" khi chủ thể nhận thức được tình huống có vấn đề, nhận thức được mâu thuẫn chứa đựng trong vấn đề, chủ thể phải có nhu cầu giải quyết và phải có những tri thức liên quan đến vấn đề Chỉ trên cơ sở đó tư duy mới xuất hiện
b Tính gián tiếp của tư duy.
- Tư duy con người không nhận thức thế giới một cách trực tiếp mà
có khả năng nhận thức nó một cách gián tiếp Tính gián tiếp của tư duy được thể hiện trước hết ở việc con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy Nhờ có ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy tắc, khái niệm, công thức, quy luật…) và kinh nghiệm của bản thân vào quá trình tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát…)để nhận thức được cái bên trong, bản chất của sự vật hiện tượng
Ví du: Để giải một bài toán thì trước hết học sinh phải biết được yêu cầu,
nhiệm vụ của bài toán, nhớ lại các công thức, định lí…có liên quan để giải bài toán Ta thấy rõ rằng trong quá trình giải bài toán đó con người đã dùng ngôn
Trang 12Khóa luận tốt nghiệp Page 12
ngữ mà thể hiện là các quy tắc, định lí… ngoài ra còn có cả kinh nghiệm của bản thân chủ thể thông qua nhiều lần giải toán trước đó
- Tính gián tiếp của tư duy còn được thể hiện ở chỗ, trong quá trình tư duy con người sử dụng những công cụ, phương tiện (như đồng hồ, nhiệt kế, máy móc…) để nhận thức đối tượng mà không thể trực tiếp tri giác chúng
- Nhờ có tính gián tiếp mà tư duy của con người đã mở rộng không giới hạn khả năng nhận thức của con người, con người không chỉ phản ánh những gì diễn ra trong hiện tại mà còn phản ánh được cả quá khứ và tương lai
Ví dụ: Dựa vào những thành tựu và tri thức các nhà khoa học lưu lại mà
chúng ta tính toán được nhiều về vũ trụ, mà kết quả là chúng ta phát hiện thêm nhiều thiên hà mới mà chúng ta chưa một lần đặt chân đến
- Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ
c Tính trừu tượng và khái quát của tư duy.
- Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không phản ánh sự vật, hiện tượng một cách cụ thể và riêng lẻ Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó mà khái quát những sự vật hiện tượng riêng lẻ, nhưng có những thuộc tính chung thành một nhóm, một loại, một phạm trù Nói cách khác tư duy mang tính trừu tượng và khái quát
+ Trừu tượng là dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho tư duy
+ Khái quát là dùng tri óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại, một phạm trù theo những thuộc tính, liên hệ, quan hệ chung nhất định
Trừu tượng và khái quát có mối liên hệ mật thiết với nhau ở mức độ cao Không có trừu tượng thì không thể tiến hành khái quát, nhưng trừu tượng mà không khái quát thì hạn chế quá trình nhận thức
Trang 13Khóa luận tốt nghiệp Page 13
- Nhờ có đặc điểm này mà con người không chỉ giải quyết được những nhiệm vụ hiện tại mà còn có thể giải quyết được những nhiệm vụ của tương lai, trong khi giải quyết nhiệm vụ cụ thể vẫn có thể sắp xếp nó vào một nhóm, một loại, một phạm trù để có những quy tắc, những phương pháp giải quyết tương tự
Ví dụ: Khi tính diện tích hình chữ nhật ta có công thức: S = (a x b).Công
thức này được áp dụng cho nhiều trường hợp tương tự với nhiều con số khác nhau
d Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ.
- Tư duy mang tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tượng và khái quát
là do nó gắn chặt với ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không thể diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy (khái niệm, phán đoán…)cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận
Ví dụ: Nếu không có ngôn ngữ thì những công thức toán học sẽ không có
và không thể hiện được những hiểu biết về tự nhiên
- Ngôn ngữ cố định lại kết quả của tư duy, là phương tiện biểu đạt kết quả
tư duy, do đó có thể khách quan hóa kết quả tư duy cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm thanh vô nghĩa Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là tư duy mà chỉ là phương tiện của tư duy
- Ngôn ngữ của chúng ta ngày nay là kết quả của quá trình phát triển tư duy lâu dài trong lịch sử phát triển của nhân loại, do đó ngôn ngữ luôn thể hiện kết quả tư duy của con người
Ví dụ: Công thức tính diện tích hình vuông S = (a x a) là kết quả của quá
trình con người tìm hiểu tính toán Nếu không có tư duy thì rõ ràng công thức này vô nghĩa
e Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính
- Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác, trong đó:
Trang 14Khóa luận tốt nghiệp Page 14
+ Cảm giác là một quá trình tâm lí phản ánh từng thuộc tính riêng
lẻ của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta
+ Tri giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta
- Tư duy phải dựa vào nhận thức cảm tính, dựa trên những tài liệu cảm tính, trên kinh nghiệm, trên cơ sở trực quan sinh động Tư duy thường bắt đầu
từ nhận thức cảm tính, trên cơ sở nhận thức cảm tính mà nảy sinh tình huống có vấn đề Nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệ trực tiếp giữa tư duy với hiện thực, là cơ sở của những khái quát kinh nghiệm dưới dạng những khái niệm, quy luật… là chất liệu của những khái quát hiện thực theo một nhóm, một lớp, một phạm trù mang tính quy luật trong quá trình tư duy
- X.L.Rubinstein – nhà tâm lí học Xô viết đã viết: “nội dung cảm tính bao giờ cũng có trong tư duy trừu tượng, tựa hồ như làm thành chỗ dựa của tư duy”
- Lênin từng nói: “không có cảm giác thì không có quá trình nhận thức nào cả”
- Ngược lại, tư duy và những kết quả của nó ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính: làm cho khả năng cảm giác của con người tinh vi, nhạy bén hơn, làm cho tri giác của con người mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa Chính vì lẽ đó, Ph.Angghen đã viết: “nhập vào với mắt của chúng ta chẳng những có các cảm giác khác mà còn có cả hoạt động tư duy của
ta nữa”
Kết luận
Từ những đặc điểm trên đây của tư duy, ta có thể ra những kết luận cần thiết:
- Phải coi trọng việc phát triển tư duy cho học sinh Bỡi lẽ, không
có khả năng tư duy học sinh không học tập và rèn luyện được
Trang 15Khóa luận tốt nghiệp Page 15
- Muốn kích thích học sinh tư duy thì phải đưa học sinh vào những tình huống có vấn đề và tổ chức cho học sinh độc lập, sáng tạo giải quyết tình huống có vấn đề
- Việc phát triển tư duy phải được tiến hành song song và thông qua truyền thụ tri thức Mọi tri thức đều mang tính khái quát, nếu không
tư duy thì không thực sự tiếp thu, lại không vận dụng được những tri thức đó
- Việc phát triển tư duy phải gắn với việc trau dồi ngôn ngữ Bởi lẽ
có nắm vững ngôn ngữ thì mới có phương tiện để tư duy có hiệu quả
- Tăng cường khả năng trừu tượng và khái quát trong suy nghĩ
- Việc phát triển tư duy phải gắn liền với việc rèn luyện cảm giác, tri giác, năng lực quan sát và trí nhớ Bỡi lẽ, thiếu những tài liệu cảm tính thì tư duy không thể diễn ra được
- Để phát triển tư duy không còn con đường nào khác là thường xuyên tham gia vào các hoạt động nhận thức và thực tiễn Qua đó tư duy của con người sẽ không ngừng được nâng cao
1.1.1.3 Phân loại tư duy
Nhân loại đã đặt cho tư duy rất nhiều loại hình tư duy như tư duy lôgic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo, tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận, tư duy khoa học, tư duy triết học v.v Về bản chất, tư duy chỉ có một, đó là sự việc hình thành mới hoặc tái tạo lại các liên kết giữa các phần tử ghi nhớ Sự phân chia ra các loại hình tư duy nhằm mục đích hiểu sâu và vận dụng tốt tư duy trong hoạt động của hệ thần kinh Có thể phân loại tư duy theo các loại dưới đây:
Trang 16Khóa luận tốt nghiệp Page 16
a) Phân loại theo cách thể hiện
- Tư duy bằng hình tượng
- Tư duy bằng ngôn ngữ
b) Phân loại theo cách vận hành
- Tư duy kinh nghiệm
- Tư duy sáng tạo
- Tư duy trí tuệ
- Tư duy phân tích
- Tư duy tổng hợp
c) Phân loại theo tính chất
- Tư duy rộng hay hẹp
- Tư duy nông hay sâu
- Tư duy logic
- Tư duy phi logic
- Tư duy lý luận
- Tư duy đơn giản hay phức tạp
d) Phân loại theo nội dung
- Tư duy khoa học
- Tư duy nghệ thuật
- Tư duy triết học
- Tư duy tín ngưỡng
1.1.1.4 Điều kiện của tư duy
Tư duy là hoạt động cao cấp của hệ thần kinh và để thực hiện được tư duy cần có những điều kiện Có các điều kiện cơ bản và điều kiện riêng cho từng loại hình tư duy
Điều kiện cơ bản:
- Hệ thần kinh phải có năng lực tư duy Đây là điều kiện tiên quyết, điều kiện về bản thể Thiếu điều kiện này thì không có tư duy nào được thực hiện Năng lực tư duy thể hiện ở ba loại hình tư duy là kinh nghiệm, sáng
Trang 17Khóa luận tốt nghiệp Page 17
tạo và trí tuệ Ba loại hình tư duy này mang tính bẩm sinh nhưng có thể bị biến đổi trong quá trình sinh trưởng theo xu hướng giảm dần từ trí tuệ xuống kinh nghiệm, nhưng sự bộc lộ của chúng lại theo chiều hướng ngược lại đây là biểu hiện của mối quan hệ giữa năng lực bẩm sinh với môi trường sống và trực tiếp là môi trường kinh nghiệm
- Hệ thần kinh đã được tiếp nhận kinh nghiệm, tiếp nhận tri thức Đây là điều kiện qua trọng Không có kinh nghiệm, không có tri thức thì các quá trình tư duy không có cơ sở để vận hành Kinh nghiệm, tri thức là tài nguyên cho các quá trình tư duy khai thác, chế biến Để tư duy tốt hơn thì nguồn tài nguyên này cũng cần nhiều hơn Học hỏi không ngừng sẽ giúp
tư duy phát triển
Điều kiện riêng Điều kiện riêng được đặt ra nhằm giúp cho mỗi loại hình tư duy thực hiện được và thực hiện tốt nhất Ví dụ muốn có tư duy về lĩnh vực vật lý thì hệ thần kinh phải có các kiến thức về vật lý Muốn tư duy về lĩnh vực nào thì phải có kinh nghiệm, tri thức về lĩnh vực đó Muốn có tư duy lý luận thì phải có sự kết hợp giữa năng lực tư duy trí tuệ với tư duy triết học
Tư duy sáng tạo là quá trình tìm cách nhận thức, phát hiện ra quy luật của
sự vật, có ý thức luôn tìm ra cái mới để hiểu rõ hơn bản thân của sự vật, hiện tượng cũng như tìm ra nguyên nhân, ngăn chặn, loại bỏ cái xấu và phát triển cái tốt
Trang 18Khóa luận tốt nghiệp Page 18
Như vậy, tư duy sáng tạo là một thuộc tính bản chất của con người để tồn tại và phát triển những gì tốt đẹp và loại bỏ, ngăn chặn những điều có hại đối với con người
1.1.2.2 Đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo
a, Tính nhuần nhuyễn
Tính nhuần nhuyễn trong tư duy dùng dễ dàng, thoải mái và tự nhiên trong suy nghĩ để phát hiện và nhận thức bản chất sự vật Nó được thể hiện qua việc vận dụng thao tác tư duy đạt mức thành thạo nhằm giải quyết vấn đề nhanh chóng, hình thành ý tưởng mới nhiều càng có khả năng xuất hiện ý tưởng độc đáo Bên cạnh đó, nó còn thể hiện khả năng tìm ra giải pháp, đặc biệt phương án tối ưu trên nhiều tình huống
- VÍ DỤ 1.1: Cho tứ diện ABCD, M là một điểm tùy ý trong tứ diện Chứng minh rằng: MA + MB + MC + MD có giá trị không đổi
+ Liên tưởng bài toán trong mặt phẳng: “Cho tam giác ABC, M điểm tùy
ý thuộc tam giác Chứng minh MA + MB + MC có giá trị không đổi.” + Biết xét trường hợp thuộc 1 trong 4 đỉnh của tứ diện để chỉ ra rằng: “
Tổng MA + MB + MC + MD chính là chiều cao của tứ diện”
+ Xét trường hợp M trùng tâm của tứ diện thì hiển nhiên
Trang 19Khóa luận tốt nghiệp Page 19
- VÍ DỤ 1.2: “Hai đường thẳng cùng song song với một đường thẳng thứ
ba thì song song với nhau” liên tưởng đến “Hai mặt phẳng cùng song song với một mặt phẳng thứ ba thì song song với nhau”
- VÍ DỤ 1.3: “Đường thẳng a song song với đường thẳng b và đường thẳng
b vuông góc với đường thẳng c thì đường thẳng a vuông góc với đường thẳng c”
b, Tính linh hoạt
Tính mềm dẻo và linh hoạt thể hiện khả năng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, chuyển từ đối tượng suy nghĩ này sang đối tượng suy nghĩ khác, biết thay đổi phương pháp cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, không bị gò bó, rập khuôn bởi những gì đã có, kịp thời và nhanh chóng điều chỉnh hướng suy nghĩ khi gặp trở ngại và tìm ra hướng giải quyết mới cho vấn đề
Trang 20Khóa luận tốt nghiệp Page 20
- VÍ DỤ 1.4: Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình thoi cạnh a
Từ đó ta sẽ có được góc SHO là góc cần tìm và vận dụng phương án tốt nhất
để giải bài toán
c, Tính độc đáo
Tính độc đáo của tư duy thể hiện ở khả năng phát hiện ra cái mới, khác
lạ, không bình thường trong quá trình nhận thức sự vật Đây là đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo, là dấu hiệu để phân biệt tư duy sáng tạo và các tư duy khác
- VÍ DỤ 1.5: Tìm giao tuyến của hai mặt phẳng
Cách giải toán hình học không gian nhanh nhất:
Cách 1: Tìm 2 điểm chung của 2 mặt phẳng đó
+ Điểm chung thứ nhất thường dễ thấy
+ Điểm chung thứ hai là giao điểm của 2 đường thẳng còn lại, không trùng điểm chung thứ nhất
Cách 2: Nếu trong 2 mặt phẳng có chứa 2 đường thẳng song song thì chỉ cần
tìm 1 điểm chung, khi đó giao tuyến sẽ đi qua điểm chung và song song với
2 đường thẳng này
- VÍ DỤ 1.6: Tìm giao điểm của đường thẳng a và mặt phẳng (P)
Trang 21Khóa luận tốt nghiệp Page 21
Cách giải toán hình học không gian nhanh nhất:
+ Ta tìm giao điểm của a với một đường thẳng b nào đó nằm trong (P) + Khi không thấy đường thẳng b, ta thực hiện theo các bước sau:
1 Tìm một mp (Q) chứa a
2 Tìm giao tuyến b của (P) và (Q)
3 Gọi: A = a ∩ b thì: A = a ∩ (P)
1.1.2.3 Các phương pháp áp dụng có hiệu quả tư duy sáng tạo
Tập kích não: Đây là một phương pháp dùng để phát triển nhiều giải đáp sáng tạo cho một vấn đề Phương pháp này hoạt động bằng cách tập trung sự suy nghĩ vào vấn đề đó; các ý niệm và hình ảnh về vấn đề trước hết được nêu ra một cách rất phóng khoáng và ngẫu nhiên theo dòng tư tưởng, càng nhiều thì càng đủ và càng tốt, rồi vấn đề được xem xét từ nhiều khía cạnh và nhiều cách (nhìn) khác nhau Sau cùng các ý kiến sẽ được phân nhóm, đánh giá và tổng hợp thành các giải pháp cho vấn đề đã nêu
Thu thập ngẫu nhiên: là kĩ thuật cho phép liên kết một kiểu tư duy mới với kiểu tư duy đang được sử dụng Cùng với sự có mặt của kiểu tư duy mới này thì tất cả các kinh nghiệm sẵn có cũng sẽ được nối vào với nhau Phương pháp này rất hữu ích khi cần những ý kiến sáng rõ hay những tầm nhìn mới trong quá trình giải quyết một vấn đề Đây là phương pháp có thể dùng bổ sung thêm cho quá trình tập kích não
Nới rộng khái niệm: là một cách để tìm ra các tiếp cận mới về một vấn đề khi mà tất cả các phương án giải quyết đương thời không còn dùng được Phương pháp này triển khai nguyên tắc "lui một bước" để nới rộng tầm nhìn
về vấn đề
Kích hoạt: Tác động chính của phương pháp này là để tư tưởng được thoát
ra khỏi các nền nếp kiến thức cũ mà đã từng được dùng để giải quyết vấn đề Chúng ta tư duy bằng cách nhận thức và trừu tượng hóa thành các kiểu rồi tạo phản ứng lại chúng Các phản ứng đối đáp này dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ và sự hữu lý của các kinh nghiệm này Tư tưởng của chúng ta
Trang 22Khóa luận tốt nghiệp Page 22
thường ít vượt qua hoặc đứng bên ngoài của các kiểu mẫu cũ Trong khi chúng ta có thể tìm ra câu trả lời như là một "kiểu khác" của vấn đề, thì cấu trúc não bộ sẽ gây khó khăn cho chúng ta để liên kết các lời giải này Phương pháp kích hoạt sẽ làm nảy sinh các hướng giải quyết mới
Sáu chiếc mũ tư duy (six thinking hats): là một kĩ thuật được nhằm giúp các
cá thể có được nhiều cái nhìn về một đối tượng, những cái nhìn này sẽ khác nhiều so với một người thông thường có thể thấy được Đây là một khuôn mẫu cho sự tư duy và nó có thể kết hợp thành lối suy nghĩ định hướng Trong phương pháp này thì các phán xét có giá trị sẽ có chỗ đứng riêng của chúng, nhưng các phê phán đó sẽ không được phép thống trị như là thường thấy trong lối suy nghĩ thông thường Phương pháp này được dùng chủ yếu
là để kích thích lối suy nghĩ song song, toàn diện và tách riêng cá tính (như
là bản ngã, các thành kiến, ) với chất lượng
DOIT: là phương pháp để gói gọn, hay kết hợp, các phương pháp tư duy sáng tạo lại với nhau và dẫn ra các phương pháp về sự xác định ý nghĩa và đánh giá của vấn đề DOIT giúp tìm ra kỹ thuật sáng tạo nào là tốt nhất Chữ DOIT là chữ viết tắt trong tiếng Anh bao gồm
D - Define problem nghĩa là Xác định vấn đề
O - Open mind and Apply creative techniques tức là Cởi mở ý tưởng và
Áp dụng các kỹ thuật sáng tạo
I - Identify the best solution là Xác định lời giải đáp tốt nhất
T- Transform là Chuyển đổi
Đơn vận: Đây là phương pháp mạnh giải quyết vấn đề bằng cách đem nó vào sự vận chuyển đơn nhất Phương pháp này thích hợp để giải quyết những vấn đề trong môi trường kỹ nghệ sản xuất Nó đưa phương pháp DOIT lên một mức độ tinh tế hơn Thay vì nhìn sự sáng tạo như là một quá trình tuyến tính thì cái nhìn của đơn vận đưa quá trình này vào một vòng khép kín không đứt đoạn Nghĩa là sự hoàn tất cùng với sự thực
Trang 23Khóa luận tốt nghiệp Page 23
hiện tạo thành một chu kì dẫn tới chu kì mới nâng cao hơn của sự sáng tạo
Giản đồ ý: phương pháp này là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Nó có thể dùng như một cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay để phân tích một vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh Phương pháp này củng cố thêm khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau cũng như nâng cao khả năng nhớ theo chuỗi
dữ kiện xảy ra theo thời gian Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng được liên
hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn
Tương tự hoá: xem vấn đề như là một đối tượng So sánh đối tượng này với một đối tượng khác, có thể là bất kì, thường là những bộ phận hữu cơ của tự nhiên Viết xuống tất cả những sự tương đồng của hai đối tượng, các tính chất về vật lý, hoá học, hình dạng, màu sắc cũng như là chức năng và hoạt động Sau đó, xem xét sâu hơn sự tương đồng của cả hai, xem có gì khác nhau và qua đó tìm thấy được những ý mới cho vấn đề
Tương tự hoá cưỡng bức: là một cách mở rộng tầm nhìn hay bóp méo những kiến thức hiện hữu để tạo ra những sáng kiến mới
Tư duy tổng hợp: là một quá trình phát hiện ra các mối liên hệ làm thống nhất các bộ phận mà tưởng chừng như là tách biệt Đây là phương thức ghép đặt các sự kiện lại với nhau để mở ra một tầm nhìn mới cho tất cả các loại vấn đề Phương pháp này không chỉ dùng trong nghiên cứu khoa học mà còn trong nhiều lĩnh vực khác như nghệ thuật, sáng tác hay ngay cả trong lĩnh vực sử dụng tài hùng biện như chính trị, luật
Đảo lộn vấn đề (reversal): Đây là một phương pháp cổ điển được áp dụng
triệt để về nhiều mặt trên một vấn đề nhằm tìm ra các thuộc tính chưa được thấy rõ và khả dĩ biến đổi được đối tượng cho phù hợp hơn
Cụ thể hoá và Tổng quát hoá
Trang 24Khóa luận tốt nghiệp Page 24
TRIZ: (Viết tắt từ Nga ngữ Teoriya Resheniya Izobreatatelskikh
Zadatch (Теория решения изобретательских задач), Anh ngữ:the Theory of Inventive Problem Solving) tức là Lý thuyết giải quyết sáng tạo cho vấn đề Đây là lý thuyết sáng tạo được thống kê và tổng hợp thành
40 gợi ý khác nhau và được ghi ra cụ thể cho người áp dụng tùy theo tình huống của vấn đề
Nhiều phương pháp trình bày trên đây vẫn còn được những người phát minh
ra chúng giữ độc quyền trong việc đào tạo và in ấn các tài liệu giáo khoa
1.1.3 Năng lực tư duy sáng tạo
1.1.3.1 Năng lực
Trong Tâm lý học, năng lực là một trong những vấn đề được quan tâm nghiên cứu bởi nó có ý nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn bởi “sự phát triển năng lực của mọi thành viên trong xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp với khả năng của cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có kết quả hơn,…và cảm thấy hạnh phúc khi lao động” Trong nền Tâm
lý học Liên xô từ năm 1936 đến 1941 có rất nhiều các công trình nghiên cứu về những vấn đề năng lực, có thể điểm qua một số các công trình nổi tiếng của các tác giả như: Năng lực toán học của V.A.Crutetxki, V.N Miaxisốp; năng lực văn học của Côvaliốp, V.P Iaguncôva… những công trinh nghiên cứu này đưa ra được các định hướng cơ bản cả về mặt và thực tiễn cho các nghiên cứu sau này của dòng Tâm lý học Liên xô trong những nghiên cứu về năng lực
Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, con người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này được gọi là năng lực Theo quan điểm của Tâm lý học mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ Như chung ta đã biết, nội dung và tính chất của hoạt động được quy định bởi nội dung và tính chất của đối tượng của nó Tuỳ thuộc vào nội dung và tính chất của đối tượng mà hoạt động đòi hỏi ở chủ thể những yêu cầu xác định Nói một cách khác thì mỗi một hoạt động khác nhau, với tính chất và mức độ khác nhau sẽ đòi hỏi ở cá nhân những
Trang 25Khóa luận tốt nghiệp Page 25
thuộc tính tâm lý (điều kiện cho hoạt động có hiệu quả) nhất định phù hợp với
nó Như vậy, khi nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là
sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong
đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó
đạt được kết quả mong muốn Do đó chúng ta có thể định nghĩa năng lực như
sau: “Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao” Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà
khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực cũng thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy của hoạt động giảng dạy…
Năng lực: dt (H lực: sức) Khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn “Năng lực” theo Từ điển tiếng Việt là khả năng đủ
để làm một công việc nào đó hay “Năng lực” là những điều kiện được tạo ra
hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó
1.1.3.2 Năng lực tư duy sáng tạo
Năng lực tư duy sáng tạo trong Toán học là năng lực tư duy sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu Toán học ( khoa học), là năng lực tư duy đối với hoạt động sáng tạo toán học, tạo ra những kết quả tốt, mới, khách quan, cống hiến những lời giải hay, những công trình tóa học có giá trị đối với việc dạy học, giáo dục và sự phát triển của khoa học nói riêng cũng như đối với hoạt động thực tiễn của xã hội nói chung
Thời hiện đại, khi đất nước đang ngày một phát triển về mọi mặt kinh tế- văn hoá – xã hội, học sinh THPT (lớp 11) cũng luôn là tầng lớp có năng lực tư duy
Trang 26Khóa luận tốt nghiệp Page 26
sáng tạo đáng khích lệ Họ đã thể hiện tri thức tuyệt vời của bản thân trong các cuộc thi quốc tế, đem lại vinh quang cho đất nước Họ cũng có những công trình nghiên cứu được đánh giá cao và trở thành lực lượng tri thức chủ lực của 1 Việt Nam “hoá rồng” trong tương lai.Tuy nhiên, để có thể đem hết tài năng sáng tạo của mình phục vụ tổ quốc ngày mai, học sinh lớp 11 và THPT cần phải làm những gì ngày hôm nay, nếu năng lực tư duy sáng tạo được coi như là điều kiện quyết định mọi sự thành bại của xã hội, công ty, xí nghiệp và các cá nhân? Dưới
đây có 10 cách kích thích sự sáng tạo, khả năng ứng biến và năng lực quan sát:
- Tin tưởng mình có sức sáng tạo: Trở lực lớn nhất đối với việc kích thích sức sáng tạo là tự cho mình không có sức sáng tạo Sở dĩ nhiều người có quan niệm này là do cha mẹ, thầy giáo sai lầm đổ cho Họ cho rằng sức sáng tạo là cái gì không thể với tới được, đối với các nhà phát minh họ kính nhi viễn chi
Kỳ thức thì khả năng sáng tạo không có gì thần bí cả Thật ra đó cũng chỉ là liên tưởng bình thường mà thôi
- Lập tức nắm lấy linh cảm: khi ý thức đã ở vào trạng thái ngủ hoặc chìm đắm ở những công việc khác thì tiềm thức vẫn tiếp tục hoạt động Chính trong lúc này linh cảm xuất hiện, cho nên nếu tiện thì cạnh giường nên có giấy bút và máy ghi âm, để khi nào linh cảm chợt đến thì ghi ngay lại Làm như vậy, kết quả đạt được hơn hẳn là cứ cố gắng kéo dài suy nghĩ gây nên sự mệt nhọc, thiếu ngủ
- Không thoả mãn với hiện trạng: Bằng lòng với hiện trạng thì không thể nào bật ra sức sáng tạo được, cần phải thoát khỏi nếp nghĩ cũ kỹ, thay đổi nhịp đi bình thường
Hãy làm như cách vẽ tranh, ghi vấn đề lên trang giấy Vẽ tranh có liên quan đến hoạt động bán cầu não phải, nó có thể tạo nên hình ảnh, quan niệm và trực giác Viết chữ có liên quan đến bán cầu trái phụ trách tri thức, chữ số logic Theo dòng tư tưởng cứ để cho ngọn bút vẽ vung lên, sẽ ra cái vấn đề anh suy nghĩ, từ nhiều góc độ miêu tả nó, sau đó não sẽ điều khiển biến thành một bức
Trang 27Khóa luận tốt nghiệp Page 27
tranh sinh động Dần dần sau khi tạo thành thói quen dùng thị giác và tri giác xử
lý vấn đề, bạn sẽ ngạc nhiên phát hiện ra rằng linh cảm sáng tạo cũng dễ thôi
- Thay đổi hoàn cảnh mới: Việc thay đổi hoàn cảnh mới có quan hệ mật thiết với sức sáng tạo Do vậy, thỉnh thoảng bạn nên đi bách bộ trong công viên hoặc trên bãi biển để kích thích sức sáng tạo Cuối tuần lễ về sống vài ngày ở nông thôn cũng làm nảy sinh những ý tưởng mới mẻ
- Suy nghĩ nhiều phương án: Những nhà quản lý giàu sức sáng tạo luôn nói: “Phương pháp này hay đấy, nhưng thử nghĩ xem còn có phương pháp nào tốt hơn nữa không”
Muốn tìm được nhiều cách giải quyết thì phải dựa vào sự suy nghĩ, hễ gặp vấn đề gì khó, cần phải ghi ngay lại và viết ra những sự việc liên quan và cách giải quyết mà mình nghĩ ra được, sau đó tìm hỏi những người mà mình cho
là có thể góp cho những ý kiến hay
- Đặt mình vào lĩnh vực mới: Bằng mọi cách đặt mình vào lĩnh vực mới hoặc bắt mình phải từ bỏ hoạt động cũ kỹ chây lười thì có thể bật ra sức sáng tạo Hoạt động tốt nhất là rèn luyện, đánh thức bán cầu não bình thường ít khi
sử dụng đến Như vậy mới nảy sinh ra những sáng kiến thần kỳ
- Thường xuyên tự hỏi mình: như vậy, bạn có thể khẳng định hay sửa chữa, hoặc hoàn toàn vứt bỏ nếp nghĩ cũ Bất kể sử dụng phương pháp hỏi nào, bạn đều có thể mở ra cánh cửa của sự sáng tạo
- Tin tưởng là mình có thể thực hiện được: Tư tưởng này có thể làm cho anh giải thoát được áp lực, tạo nên sự xuất hiện tư duy mới, bởi thoải mái tiếp nhận mình, tin vào mỗi phương pháp mà mình làm, dần dần sẽ bật ra lời giải đáp
- Hình thành nhóm nghiên cứu: Từ 5 đến 8 người nên tập hợp nhau lại cùng nghiên cứu một vấn đề, mỗi người có thể tuỳ ý đưa ra những phương án giải quyết khác nhau
Điều quan trọng là lúc đầu không nên phê bình, tranh cãi gì cả, ý kiến của bất kỳ người nào, dù là kỳ quái đi chăng nữa cũng được đối xử bình đẳng, làm
Trang 28Khóa luận tốt nghiệp Page 28
cho mỗi người đều được tự do thoải mái không e ngại, ra sức phát huy trí tưởng tượng của mình Khi đã nêu ra hết, nhóm mới ghi lại đưa ra thảo luận Để tiết kiệm thời gian, trước khi tranh luận mỗi người nên đọc lại bản ghi chép trước
đã Phương pháp thú vị và hữu hiệu này có thể động viên nhiều bộ óc cùng nghĩ
ra cách giải quyết
- Biến suy nghĩ thành hành động: Tất cả những suy nghĩ đều phải được kiểm nghiệm trong thực tế, có thể mới biết suy nghĩ sáng tạo nào là đúng Cần phải thử xem điểm nào dùng được, điểm nào không dùng được Khẳng định khả năng sáng tạo của mình, rồi đưa vào thực tiễn làm như vậy bạn có thể trở thnàh thiên tài đầy sáng tạo
1.1.3.3 Biểu hiện năng lực tư duy của học sinh THPT trong quá trình giải toán hình không gian lớp 11
Trên cơ sở cho học sinh làm quen với hoạt động sáng tạo nhằm rèn luyện năng lực, giáo viên đưa ra một số bài tập có thể giúp học sinh vận dụng sáng tạo nội dung kiến thức và phương pháp có được trong quá trình học tập, mức độ biểu hiện của học sinh được sắp xếp theo thứ tự tăng dần của năng lực tư duy sáng tạo Đối với học sinh THPT có thể thấy các biểu hiện của năng lực tư duy sáng tạo trong việc giải bài tập hình học không gian có các khả năng sau
a, Có khả năng vận dụng thành thạo kiến thức, kỹ năng đã biết và phát hiện, đề xuất cái mới từ vấn đề quen thuộc
VÍ DỤ 1.9: Cho đường thẳng AB và điểm M nằm ngoài đường thẳng
AB Tính d(M,AB)