Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ
Trang 1KHOA TIN HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
“XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHƯƠNG
IV TIN HỌC 11 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
SÁNG TẠO”
Giảng viên hướng dẫn : Ths Trần Văn Hưng Sinh viên thực hiện : Đặng Thị Thu Hằng Khoa : Tin học
Khóa : 2012 - 2016 Lớp : 12SPT
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016
Trang 2dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình học tập rèn luyện tại trường Đại học
Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong khoa Tin học – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ em
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Trần Văn Hưng - giảng viên khoa Tin học đã nhiệt tình hướng dẫn em thực hiện và hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Thanh Khê thành phố Đà Nẵng đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi cho em có thể hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quý thầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2016 Sinh viên
Đặng Thị Thu Hằng
Trang 3MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu: 3
5 Phương pháp nghiên cứu: 4
6 Bố cục đề tài: 4
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC: 5
1.1.1 Một số khái niệm tổng quan: 5
1.1.2 Tìm hiểu về năng lực sáng tạo: 9
1.1.3 Tư duy sáng tạo 15
1.1.4 Năng lực tư duy sáng tạo: 19
1.1.5 Tìm hiểu về hệ thống dạy học trực tuyến 32
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 33
1.2.1 Mục đích dạy Tin học ở phổ thông nói chung và chương 4 Tin học 11 nói riêng 33
1.2.2 Nội dung tin học lớp 11 ở phổ thông 34
1.2.3 Đặc điểm và chức năng của chương 4 môn Tin học 11 và khả năng bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh 36
1.2.4 Khả năng rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông qua dạy học 38
Trang 4NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG QUA
DẠY CHƯƠNG 4 TIN HỌC 11 40
2.1 THỰC TRẠNG DẠY TIN HỌC LỚP 11 TẠI TRƯỜNG THPT 40
2.1.1 Mục đích dạy môn tin học 40
2.1.2 Thực trạng dạy tin học tại trường THPT 42
2.2 CÁC CƠ SỞ ĐỂ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 43
2.3 XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP NHƯ THẾ NÀO CHO ĐẠT HIỆU QUẢ 44
2.3.1 Xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn: 44
2.3.2 Xây dựng các biện pháp phải đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của giáo viên với vai trò tự giác, tích cực và độc lập của học sinh: 44
2.3.3 Xây dựng các biện pháp phải đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức và yêu cầu phát triển: 45
2.4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP CỤ THỂ 46
2.4.1 Biện pháp 1: Bồi dưỡng cho học sinh hứng thú và nhu cầu học Tin học, giúp học sinh thấy đó như là nhu cầu cần thiết của bản thân 46
2.4.2 Biện pháp 2: Hướng dẫn và tập luyện cho học sinh khả năng vận dụng các kiến thức, kỹ năng vào giải các bài toán ở chương 4 53
2.3.3 Biện pháp 3: Hướng dẫn và tập luyện cho học sinh phân tích nội dung, cách giải để từ đó tìm ra cách giải khác nhau và biết nhận xét, đánh giá để chỉ ra cách giải hay nhất 56
2.3.4 Biện pháp 4: Hướng dẫn và tập luyện cho học sinh phân tích, phát hiện, đề xuất bài toán mới từ bài toán đã giải ra 61
2.3.5 Biện pháp 5: Hướng dẫn học sinh phân tích các yếu tố của bài toán để chỉ ra cách giải độc đáo, sáng tạo đối với bài toán đã cho 66
Trang 52.4 TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 72
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHƯƠNG 4 TIN HỌC 11 THEO HƯƠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO 73
3.1 CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ 73
3.1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu dạy học tiếp cận năng lực tư duy sáng tạo 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác của nội dung dạy học hướng tiếp cận phát triển năng lực tư duy sáng tạo 76
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học 77
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo phát huy tối đa vai trò của các giác quan trong quá trình dạy học 78
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính tương tác trong e-learning 79
3.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHƯƠNG 4 TIN HỌC 11 THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO 80
3.2.1 Xác định mục tiêu dạy-học 80
3.2.2 Phân tích logic cấu trúc nội dung dạy-học 82
3.2.3 Sưu tầm, tìm hiểu các tài liệu phù hợp nội dung dạy học theo hướng phát triển năng lực sáng tạo 83
3.2.4 Chuẩn bị giáo án để chỉ định việc nhập liệu thông tin vào phần mềm PowerPoint 85
3.2.5 Khâu đóng gói bài giảng 91
3.3 TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 92
I KẾT LUẬN 93
II KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 6HS : Học sinh
GV : Giáo viên THPT : Trung học phổ thông THCS : Trung học cơ sở CNTT : Công nghệ thông tin QTDH : Quá trình dạy học PPDH : Phương pháp dạy học GS.TS : Giáo sư tiến sĩ
ICT : Information and communications technology
Trang 7Số hiệu bảng Tên bảng Trang
3.1 Bảng quy trình xây dựng bài giảng bằng hệ
3.2 Phân tích logic cấu trúc nội dung dạy-học của
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học – từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì qua việc học Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục Trước bối cảnh đó cũng như để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình sau năm 2015, việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học là cần thiết
Tin học là môn học công cụ có tính trừu tượng và tính phổ dụng Những tri thức và kỹ năng Tin học cùng với phương pháp làm việc trong Tin học, đã trở thành công cụ để học tập những môn khác trong nhà trường, là công cụ của nhiều ngành khoa học khác cũng như hoạt động trong đời sống thực tế Bởi vậy, dạy Tin học không chỉ đơn thuần là tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh những tri thức và kỹ năng Tin học mà còn phải góp phần phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh
Trong thời đại của chúng ta sự bùng nổ công nghệ thông tin đã tác động đến công cuộc phát triển kinh tế xã hội loài người Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của công nghệ thông tin, truyền thông
Trang 10cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức
Ngày nay khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu, trong đó có lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo Trong giáo dục đào tạo công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong những năm gần đây và các trường đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập
Hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạo yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học Xem công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học
CNTT có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển các năng lực cho tất cả các bộ môn nói chung và bộ môn Tin học nói riêng
Nhận thức được tầm quan trọng của các vấn đề nêu trên nên em chọn “XÂY
DỰNG HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHƯƠNG IV TIN HỌC 11
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu chương 4 tin học lớp 11
- Nghiên cứu hoạt động dạy và học theo hướng phát triển năng lực hiện nay ở trường THPT
- Nghiên cứu thực trạng dạy tin học theo hướng phát triển năng lực tư duy sáng tạo
- Nghiên cứu quá trình sử dụng hệ thống e-learning trong trường học
- Nghiên cứu tình trạng dạy môn Tin học tại trường THPT
Trang 113 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của năng lực tư duy sáng tạo và biểu hiện của tư duy sáng tạo ở học sinh đổi mới
- Nghiên cứu hệ thống e-learning, các webside học tập trực tuyến
- Nghiên cứu phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực tư duy sáng tạo
- Xây dựng bài giảng điện tử theo hướng phát triển năng lực tư duy sáng tạo
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ làm rõ một số vấn đề sau:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản của tư duy, tư duy sáng tạo và năng lực tư duy sáng tạo
- Nghiên cứu những biểu hiện của năng lực tư duy sáng tạo của học sinh trung học phổ thông và sự cần thiết cần rèn luyện và phát triển năng lực
Trang 12tư duy sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học chương
4 tin 11
- Đề xuất biện pháp cần thiết để rèn luyện và phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học chương 4 tin
11
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu luận:
- Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu về giáo dục học, tâm lý học, các sách giáo khoa, sách bài tập, các tạp chí, sách, báo, các phương pháp nhằm phát triển và rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho tin học
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Bước đầu tìm hiểu tình hình dạy học và rút ra một số nhận xét về việc “XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHƯƠNG IV TIN HỌC 11 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO.”
- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên và một số sách tham khảo có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu một số tài liệu về đổi mới phương pháp giáo dục, tạp chí giáo dục, tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng năng lực…
- Nghiên cứu các đề tài về e-learning
6 Bố cục đề tài:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Một số biện pháp rèn luyện và phát triển năng lực tư duy
sáng tạo cho học sinh phổ thông qua dạy chương 4 tin học 11
- Chương 3: Xây dựng hệ thống bài giảng điện tử chương 4 Tin học 11 theo hướng phát triển năng lực tư duy sáng tạo
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC:
1.1.1 Một số khái niệm tổng quan:
1.1.1.1 Khái niệm năng lực:
Theo GS.TS Đinh Quang Báo thì năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống.[1]
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.[6] Theo quan điểm của Weinert - CEO LinkedIn - đưa ra vào năm 2001:
“Năng lực là khả năng và kỹ năng có sẵn trong mỗi cá nhân hoặc có thể học được để thể hiện có hiệu quả các tình huống xác định trong cuộc sống, đồng thời biết vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”
Như vậy, ta có thể thấy khái niệm về năng lực được nhiều tác giả khác nhau ở trong và ngoài nước định nghĩa, được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc và hoàn cảnh được nhắc đến Nhưng các định nghĩa có thể diễn đạt bằng từ ngữ khác nhau nhưng nội hàm tương đối thống nhất và khẳng định kiến thức, kỹ năng, thái độ là ba chất liệu quan trọng nhất để hình thành năng lực tương ứng trên cơ sở rèn luyện, trải nghiệm hoạt động nhất định
1.1.1.2 Phân loại năng lực:
Vấn đề phát hiện, bồi dưỡng và phát triển năng lực cho học sinh là một trong những vấn đề cơ bản của chiến lược nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
Trang 14nhân lực của Đảng ta Có 2 loại năng lực cơ bản: năng lực chung và năng lực
riêng biệt
Năng lực chung: là những năng lực cần cho nhiều hoạt động khác nhau
Là điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có kết quả
Năng lực chuyên biệt: là những năng lực thể hiện độc đáo các sản phẩm riêng biệt có tính chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu của một lĩnh vực, hoạt động chuyên biệt với kết quả cao Hai loại năng lực chung và riêng luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau
Như chúng ta đã biết tri thức, kỹ năng, kỹ xảo không đồng nhất với năng lực nhưng có quan hệ mật thiết với năng lực Năng lực góp phần làm cho sự tiếp xúc tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo một cách tốt hơn Năng lực mỗi người dựa trên cơ sở tư chất nhưng mặt khác điều chủ yếu là năng lực hình thành, rèn luyện và phát triển trong những hoạt động tích của con người dưới tác động của rèn luyện dạy học và giáo dục
- Năng lực tự quản lý và phát triển bản thân
Nhóm 2: năng lực về quan hệ xã hội
- Năng lực giao tiếp
- Năng lực hợp tác
Nhóm 3: năng lực công cụ
Trang 15- Năng lực sử dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông (ICT)
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ
- Năng lực tính toán
Đặc điểm cơ bản của từng năng lực:
Năng lực tự học: tự học cũng là một phương thức học tập có hiệu
quả và song song với sự đổi mới của nền giáo dục của các nước trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng Tuy nhiên trong nhiều năm gần đây, việc đổi mới phương pháp để nâng cao hiệu quả dạy học nói chung, dạy học Tin học nói riêng đã được chú ý, đầu tư nhiều, nhưng chưa thật chú trọng nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh Qua thực tế nghiên cứu cho thấy các em học sinh phổ thông cần dành nhiều thời gian để tự học, tự nghiên cứu nhằm nâng cao kiến thức nhưng lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn, phân loại sách để học và nghiên cứu trước nguồn tài liệu quá phong phú Nhiều học sinh không biết phải tự học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập cao Vì vậy tăng cường năng lực tự học cho học sinh là một yếu tố quan trọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục [1]
Năng lực phát hiện vấn đề: Năng lực hoạt động trí tuệ của HS khi
đứng trước những vấn đề, những bài toán cụ thể, có mục tiêu và tính hướng đích cao đòi hỏi phải huy động khả năng tư duy tích cực và sáng tạo nhằm tìm
ra lời giải cho vấn đề Năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của bài toán [1]
Năng lực sáng tạo: Khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa
trên tổ hợp các phẩm chất độc đáo của cá nhân đó Năng lực sáng tạo là cái tiềm ẩn bên trong cá nhân, sáng tạo là sự hiện thực hóa năng lực sáng tạo của chủ thể bằng những sản phẩm sáng tạo Một khi có năng lực sáng tạo thì liệu
có ngay sản phẩm sáng tạo hay không? Trong đa số trường hợp, có năng lực
Trang 16sáng tạo của bản thân cá nhân thì chưa đủ, cần phải có điều kiện, môi trường sáng tạo để năng lực sáng tạo đó phát huy [1]
Năng lực tự quản lý và phát triển bản thân: Đánh giá được ảnh
hưởng của các yếu tố tác động đến hành động, việc làm của mình, trong học tập và trong cuộc sống hằng ngày Biết huy động, sử dụng nguồn lực có sẵn
để xây dựng và thực hiện kế hoạch cá nhân nhằm đạt mục đích học tập; biết học tập độc lập; biết suy nghĩ và hành động hướng vào mục tiêu của mình phù hợp với hoàn cảnh Thường xuyên tự đánh giá, tự điều chỉnh được hành động của bản thân; thích ứng được những thay đổi hay những tình huống mới [1]
Năng lực giao tiếp: Chủ động trong giao tiếp; tôn trọng, lắng nghe có
phản ứng tích cực trong giao tiếp Lựa chọn nội dung, ngôn ngữ phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp; biết kiềm chế; tự tin khi nói trước nhiều người [1]
Năng lực hợp tác: Tự nhận trách nhiệm và vai trò của mình trong
hoạt động chung của nhóm; phân tích các công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ đáp ứng được mục đích chung Phân tích được khả năng của từng thành viên để tham gia đề xuất phương án phân công công việc; dự kiến phương án phân công, tổ chức hoạt động hợp tác [1]
Năng lực sử dụng CNTT và truyền thông (ICT): Sử dụng đúng
cách các thiết bị ICT để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể; nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ bản; sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau; tổ chức và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên mạng Xác định được thông tin cần thiết để thực hiện nhiệm vụ học tập; tìm kiếm được thông tin với các chức năng tìm kiếm đơn giản và tổ chức thông tin phù hợp; đánh giá sự phù hợp của thông tin, dữ liệu
đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt ra; xác lập mối liên hệ giữa kiến thức đã biết với thông tin mới thu thập được và dùng thông tin đó để giải quyết các nhiệm vụ học tập và trong cuộc sống [1]
Trang 17Năng lực sử dụng ngôn ngữ: Nghe hiểu, chắt lọc được thông tin bổ
ích từ lời giải thích, cuộc thảo luận; nói với cấu trúc logic, biết cách lập luận chặt chẽ; đọc và lựa chọn các thông tin quan trọng từ văn bản, tài liệu; viết đúng các dạng văn bản với cấu trúc hợp lý, đúng chính tả, đúng cấu trúc câu Phát âm được tổ hợp phụ âm, tỉnh lược âm, đồng hóa, nối âm, nhịp điệu, ngữ điệu; sử dụng hợp lí từ vựng mẫu câu trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ.[1]
Năng lực tính toán: Vận dụng thành thạo các phép toán trong học tập
và cuộc sống; sử dụng hiệu quả các kiến thức, kỹ năng về đo lường, ước tính trong các tình huống ở nhà trường cũng như trong cuộc sống Sử dụng hiệu quả các thuật ngữ, ký hiệu toán học; sử dụng được thống kê toán để giải quyết vấn đề nảy sinh trong bối cảnh thực Mô hình hóa toán học được một số vấn
đề thường gặp; vận dụng các bài toán tối ưu trong cuộc sống và học tập.[1]
1.1.2 Tìm hiểu về năng lực sáng tạo:
1.1.2.2 Một số vấn đề cơ bản về tư duy:
Khái niệm:
Trong cuộc sống nói chung, trong lĩnh vực học tập nói riêng, luôn
luôn đòi hỏi con người phải thấu hiểu những cái chưa biết một sâu sắc, đúng đắn và chính xác hơn Do đó phải tiến hành tư duy Vậy tư duy là gì ?
Tư duy là một quá trình được tiến hành trong bộ óc của từng người cụ thể, được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức tích cực của bản thân mỗi người Tư duy phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết ( Nguyễn Quang Uẩn- Tâm lí học đại cương )
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông:”Tư duy là giai đoạn cao của quá
trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lý” [8]
Trang 18Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (Nhà xuất bản Từ
điển bách khoa Hà Nội 2005):”Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất
được tổ chức một cách đặc biệt -Bộ não người- Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận.v.v ”[9]
Tư duy không thể tách rời ngôn ngữ, nó phải dùng ngôn ngữ làm phương tiện cho mình Nếu không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy không diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận Ngôn ngữ cố định lại các kết quả tư duy và nhờ
đó làm khách quan hóa chúng cho người khác và bản thân chủ thể tư duy Ngược lại, ngôn ngữ được hình thành và hoàn thiện nhờ tư duy
Do đặc điểm của khoa học Tin học, môn Tin có tiềm năng quan trọng
có thể khai thác để hình thành và rèn luyện cho tư duy logic
Tư duy logic là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được dựa trên
sự sử dụng các khái niệm, các kết cấu logic, được tồn tại và vận hành nhờ ngôn ngữ
Đặc điểm cơ bản của tư duy:
a) Tính có vấn đề:
Khi gặp những tình huống mà vấn đề hiểu biết cũ, phương pháp hành động đã biết của chúng ta không đủ giải quyết, lúc đó chúng ta rơi vào “ tình huống có vấn đề”, và chúng ta phải cố vượt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ để đi tới cái mới, hay nói cách khác chúng ta phải tư duy
b) Tính khái quát:
Tư duy có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật của hàng loạt sự sự vật hiện tượng Do đó, tư duy mang khái quát
Trang 19c) Tính độc lập tương đối của tư duy:
Trong quá trình sống con người luôn giao tiếp với nhau, do đó tư duy của từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động biến đổi từ tư duy của đồng loại thông qua những hoạt động có tính chất vật chất Do đó, tu duy không chỉ gắn với từng bộ não của từng cá thể người mà còn gắn với sự tiến hóa của của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của một con người nhất định Mặc dù được tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn nhưng tư duy có tính độc lập tương đối sau khi xuất hiện, sự phát triển của tư duy còn chịu ảnh hưởng của toàn bộ tri thức mà nhân loại đã tích lũy được trước đó Tư duy cũng chịu ảnh hưởng, tác động của các lý thuyết, quan điểm tồn tại cùng thời với nó Mặt khác, tư duy cũng có logic khách quan theo cách hiểu riêng gắn với mỗi con người Đó chính là tính độc lập tương đối của tư duy
d) Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ:
Nhu cầu giao tiếp của con người là điều kiện cần để phát sinh ngôn ngữ Kết quả tư duy được ghi lại bằng ngôn ngữ ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã gắn liền với với ngôn ngữ và được thực hiện thông qua ngôn ngữ Vì vậy, ngôn ngữ chính là cái vỏ hình thức của tư duy Ở thời kỳ sơ khai, tư duy được hình thành thông qua hoạt động vật chất của con người và từng bước được ghi lại bằng các ký hiệu đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến tập hợp, từ
cụ thể đến trừu tượng Hệ thống các ký hiệu đó thông qua quá trình xã hội hóa
và trở thành ngôn ngữ Sự ra đời của ngôn ngữ đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của tư duy và tư duy cũng bắt đầu phụ thuộc vào ngôn ngữ Ngôn ngữ với
tư cách là hệ thống tín hiệu thứ 2 trở thành công cụ giao tiếp công cụ giáo tiếp chủ yếu giữa con người với con người, phát triển cùng với nhu cầu của của nền sản xuất xã hội cũng như sự xã hội hóa lao động
e) Mối quan hệ giữa tư duy và nhận thức:
Trang 20Tư duy là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhận thức Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểu tượng được phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tượng bên ngoài được phản ánh một cách riêng lẻ Giai đoạn này được gọi là tư duy cụ thể Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tư duy tiến hành các thao tác
Các thao tác của tư duy
Môn Tin học là một môn học có tính trừu tượng cao độ, đòi hỏi học sinh phải thường xuyên thực hiện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa… Vì vậy, cần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy này
a) Phân tích - tổng hợp
Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia một hệ thống thành những vật, tách một vật thành những bộ phận riêng rẽ [7]
Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để liên kết những bộ phận thành một vật, liên kết nhiều vật thành một hệ thống [7]
Như vậy, phân tích và tổng hợp là hai thao tác tư duy trái ngược nhau nhưng nó có quan hệ mật thiết với nhau, chúng là hai mặt của quá trình thống nhất Sự phân tích được tiến hành theo hướng tổng hợp, còn sự tổng hợp được thực hiện theo kết quả của phân tích Đây là hai thao tác cơ bản của quá trình tư duy Những thao tác tư duy khác có thể coi là những dạng xuất hiện của phân tích và tổng hợp
b) So sánh
So sánh là xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức Thao tác này liên quan chặt chẽ với thao tác phân tích và tổng hợp [7]
Trang 21c) Trừu tượng hóa - khái quát hóa
Trừu tượng hóa là gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho tư duy Nói cách khác, trừu tượng hóa là tách những đặc điểm bản chất khỏi những đặc điểm không bản chất Sự phân biệt bản chất và không bản chất ở đây chỉ mang ý nghĩa tương đối, nó phụ thuộc vào mục đích hành động [7] Khái quát hóa là hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại; là chuyển từ một tập hợp đối tượng sang một tập hợp lớn hơn chứa tập hợp ban đầu bằng cách nêu bật những thuộc tính chung, những liên hệ, quan
hệ chung nhất định của các phần tử của tập hợp xuất phát Những thuộc tính chung này bao gồm hai loại: những thuộc tính chung giống nhau và những thuộc tính chung bản chất
Như vậy, trừu tượng hóa là điều kiện cần khái quát hóa, chúng có quan hệ qua lại với nhau như quan hệ giữa phân tích và tổng hợp, nhưng ở mức độ cao hơn
d) Những phẩm chất trí tuệ
Việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất trí tuệ có ý nghĩa to lớn đối với việc học tập, công tác và cuộc sống của học sinh Một số phẩm chất trí tuệ quan trọng như:
Tính linh hoạt: Tính linh hoạt của tư duy thể hiện ở khả năng chuyển hướng của quá trình tư duy Trước hết phải rèn luyện cho học sinh khả năng đảo ngược quá trình tư duy, lấy đích của một quá trình đã biết làm điểm xuất phát cho quá trình mới Việc chuyển hướng tư duy có thể là chuyển từ hướng nay sang hướng khác chứ không nhất thiết phải ngược hướng với ban đầu Tính độc lập: Tính độc lập của tư duy thể hiện ở khả năng tự mình phát hiện vấn đề, tự mình xác định phương hướng, tìm ra cách giải quyết, tự mình
Trang 22kiểm tra và và hoàn thiện kết quả đạt được Tính độc lập liên hệ mật thiết với tính phê phán của tư duy Tính chất này thể hiện ở khả năng đánh giá nghiêm túc những ý nghĩ và ý tưởng của người khác và của bản thân mình, có tinh thần hoài nghi khoa học, biết đặt câu hỏi “tại sao ?”,” như thế nào ?” khi lĩnh hội kiến thức
Tính sáng tạo: Tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán là những điều kiện cân thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặt khác nhau của tư duy sáng tạo Tính tư duy sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới: phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo kết quả mới Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cái cũ Cái mới thường nảy sinh, bắt nguồn từ cái cũ, nhưng vấn đề là cách nhìn cái cũ như thế nào ?
Phân loại tư duy:
Cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có sự thống nhất khi phân loại tư duy, tuy nhiên có 2 cách phân loại tư duy phổ biến nhất:
Phân loại tư duy theo đối tượng (của tư duy): với cách phân loại này ta có các loại tư duy sau:
- Tư duy kinh tế
- Tư duy chính trị
- Tư duy văn học
- Tư duy toán học
- Tư duy nghệ thuật…
a) Phân loại tư duy theo theo đặc trưng của tư duy: Với cách phân loại này ta
có các loại tư duy sau :
- Tư duy cụ thể
Trang 23- Tư duy trừu tượng
- Tư duy logic
- Tư duy biện chứng
- Tư duy sáng tạo
- Tư duy phê phán
1.1.3 Tư duy sáng tạo
1.1.3.1 Tư duy sáng tạo nghĩa là gì ?
“ Sáng tạo” hiểu theo Từ điển tiếng Việt là tạo ra giá trị mới về vật chất và tinh thần [8] Tìm ra cách giải quyết mới, không bị gò bó hay phụ thuộc vào cái đã có Hoặc theo Đại từ điển tiếng Việt, sáng tạo là làm ra cái mới chưa ai làm Tìm tòi làm tốt hơn mà không bị gò bó [10]
Những hoạt động tư duy có sáng kiến gọi là tư duy sáng tạo Đặc điểm lớn nhất của tư duy sáng tạo là tính đổi mới, tức là tính khác lạ, mới mẻ
Tư duy sáng tạo còn có một đặc tính nữa là tính độc đáo, tức là khi suy nghĩ vấn đề thường không dập khuôn theo những quy tắc hoặc tri thức thông thường, biết giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, ứng biến
Tư duy sáng tạo có tính khởi đầu, sản sinh ra một sản phẩm phức tạp Tư duy sáng tạo có tính phát minh, trực giác tưởng tượng và phát triển liên tục Kiến thức trước đó được tổng hợp và mở rộng để sản sinh ra những ý tưởng mới Và những ý tưởng mới này chịu sự phân tích, phê phán và tính hiệu quả của chúng được xét đến trong việc giải quyết bài toán
1.1.3.2 Các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo
a) Tính nhuần nhuyễn:
Trang 24Tính nhuần nhuyễn của tư duy thể hiện ở năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của các tình huống, hoàn cảnh, đưa
ra giả thuyết mới Các nhà tâm lý học rất coi trọng yếu tố chất lượng của ý tưởng sinh ra, lấy đó làm tiêu chí để đánh giá sáng tạo
Mặt khác, tính nhuần nhuyễn còn thể hiện ở chỗ khả năng tìm ra được nhiều tình huống, góc độ, khía cạnh khác nhau, từ đó tìm ra được phương án tối ưu
Ví dụ: Viết chương trình nhập từ bàn phím số nguyên dương
N(N<=100) và dãy A gồm N số nguyên A1,A2, ,An có trị tuyệt đối không lớn hơn 1000 Hãy đưa ra thông tin sau:
Số lượng số chẵn lẻ trong dãy
Đứng trước bài này thì tính nhuần nhuyễn của học sinh được thể hiện:
Liên tưởng bài toán tương tự:” nhập vào một số nguyên dương N và
kiểm tra số đó là số chẵn hay số lẻ.”
Biết tạo ra một mảng, sử dụng công thức a[i] mod 2 để kiểm tra số đó
là chẵn hay lẻ và đếm số lượng số chẵn và số lẻ
b) Tính linh hoạt :
Tính mềm dẻo và tính linh hoạt của tư duy là năng lực dễ dàng, nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, chuyển từ góc độ quan niệm này sang góc độ quan niệm khác, có khả năng định nghĩa lại sự vật, hiện tượng, xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong những mối liên hệ mới hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản chất của sự vật và điều phán đoán Tính linh hoạt của tư duy còn thể hiện ở chỗ biết thay đổi phương pháp cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, không bị gò bó, rập khuôn bởi những
gì đã có Kịp thời và nhanh chóng điều chỉnh hướng suy nghĩ khi gặp trở ngại
và tìm ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề
Trang 25Ví dụ: Nhập vào từ bàn phím một xâu a Kiểm tra xâu đó có phải là
xâu đối xứng (còn được gọi là xâu palindrome) hay không? Xâu đối xứng có tính chất: đọc nó từ phải sang trái cũng giống như đọc từ trái sang phải
Liên tưởng đến bài toán tương tự: Viết chương trình nhập từ bàn phím
1 xâu a Đưa ra màn hình xâu a được viết theo thứ tự ngược lại.(ví dụ 3 bài kiểu xâu)
Biết sử dụng cái đã có để vận dụng vào bài toán mới ở đây học sinh hiểu được Thực chất là ta tạo ra một xâu mới ngược lại với xâu ban đầu
c) Tính độc đáo:
Tính độc đáo là khả năng tìm và quyết định phương thức mới Đây là đặc trưng cơ bản nhất của của tư duy sáng tạo với các dạng tư duy khác
Ví dụ: Viết chương trình nhập vào một xâu và cho biết có bao nhiêu từ
trong xâu đó Để đơn giản ta định nghĩa từ là một dãy liên tục các kí tự không chứa dấu cách Dấu cách là dấu tách từ duy nhất
Như vậy, tính độc đáo trong bài toán này là phát hiện ra để đếm từ ta
có thể tạo ra biến đếm để đếm các kí tự trống trong xâu Để bài toán được giải quyết một cách chặt chẽ hơn, trong trường hợp xâu của ta có chứa các kí tự trống đầu xâu, cuối xâu và giữa các từ có nhiều hơn 1 dấu cách ta sử dụng các câu lệnh để xóa các dấu cách đó
1.1.3.3 Mối liên hệ giữa tư duy sáng tạo với các loại hình tư duy khác
a) Với tư duy biện chứng:
Trong tư duy biện chứng khi xem xét sự vật, phải xem xét một cách đầy đủ với tất cả tính phức tạp của nó, tức là phải xem xét sự vật trong tất cả các mặt, các mối quan hệ trong tổng thể những mối quan hệ phong phú, phức tạp và muôn vẻ của nó với sự vật khác Đây là cơ sở để học sinh học tin một cách sáng tạo, không gò bó, rập khuôn, luôn luôn đi theo con đường mòn đã có sẵn Bên cạnh đó chúng ta còn phải xem xét sự vật trong sự mâu thuẫn và
Trang 26thống nhất, giúp học sinh học tin một cách chủ động và sáng tạo, thể hiện ở khả năng phát hiện vấn đề và định hướng cho cách giải quyết vấn đề Do đó,
tư duy biện chứng góp phần quan trọng và đắc lực trong việc rèn luyện năng
lực tư duy sáng tạo cho học sinh
b) Với tư duy logic:
Các quy luật cơ bản của tư duy logic yêu cầu trong quá trình tư duy phải giữ vững một cách nghiêm ngặt tính đồng nhất của các tiền đề Từ đó kết luận rút ra mới đúng đắn Nếu trong quá trình lập luận mà đánh tráo, thay đổi nội dung các tiền đề thì không thể nào đi đến kết luận chính xác được Các quy luật này có tính chất bắt buộc trong một dạng kết cấu tư duy chính xác ở điều kiện phản ánh cái ổn định tương đối mà tất cả mọi người, mọi ngành khoa học đều phải tuân theo Do vậy, để đi đến cái mới trong tin học, phải kết hợp được
tư duy logic và tư duy biện chứng Trong việc phát hiện vấn đề và định hướng cho cách giải quyết vấn đề thì tư duy biện chứng đóng vai trò chủ đạo Còn khi hướng giải quyết vấn đề đã có thì tư duy logic giữ vai trò chính nhằm xác định tính đúng đắn của một phán đoán mới Các kiến thức Tin học được hình thành chủ yếu thông qua con đường trừu tượng hóa và được phát triển theo các quy luật của tư duy biện chứng, nhưng việc sắp xếp trình bày chúng lại mang tính hình thức triệt để dựa trên các quy luật của tư duy logic Do đó, tư duy nói chung và tư duy sáng tạo trong tin học nói riêng cần có sự thống nhất
biện chứng giữa tư duy biện chứng và tư duy logic
c) Tư duy phê phán:
Nếu xem tư duy phê phán như là suy diễn và tư duy sáng tạo như là suy luận quy nạp, thì chúng ta hiểu được rằng tại sao chúng ta đã và đang không quan tâm nhiều đến việc dạy tư duy sáng tạo cho học sinh Suy luận quy nạp
là quá trình con người đi đến một kết luận tổng quát từ các quan sát riêng lẻ,
cụ thể Nhiều lần, một nhà khoa học tiến hành các quan sát, khám phá ra các
Trang 27quy luật và thiết lập nên các kết luận khoa học Trong khoa học điều đó gọi là nghiên cứu thực nghiệm Nhưng ta biết rằng suy luận quy nạp bản thân nó không chứng minh được rằng một quy luật tổng quát duy nhất là tồn tại Và nền tảng của tư duy phê phán được xác định bởi triết gia là logic Một cách để chứng minh điều gì là đúng và công nhận tính đúng đắn của nó cho mọi tình huống khác đó là sử dụng tư duy logic Mặc dù tư duy phê phán khác hẳn với
tư duy sáng tạo, nhưng chúng có vai trò hỗ trợ cho nhau trong quá trình học
tin
1.1.4 Năng lực tư duy sáng tạo:
1.1.4.1 Năng lực tư duy sáng tạo trong tin học là gì?
Trong thời đại ngày nay, khi nhận thức của con người đã đạt đến một trình độ cao hơn thì năng lực tư duy không còn giữ nguyên nghĩa mà đã trở thành năng lực tư duy sáng tạo Bởi lẽ, người ta không chỉ tư duy để có những khái niệm về thế giới, mà còn sáng tạo nhằm thay đổi thế giới làm cho thế giới ngày càng tốt đẹp hơn Với học sinh trung học phổ thông nói riêng, năng lực tư duy sáng tạo đã trở thành một trong những điều kiện cần thiết để đem lại cho họ một công việc hứa hẹn khi ra trường hay xa hơn nữa là một chỗ đứng vững chắc trong xã hội và trên thế giới
Do đó, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, học sinh phải được rèn luyện và phát triển năng lực tư duy sáng tạo, coi nó như là hành trang để bước vào đời
Năng lực tư duy sáng tạo trong Tin học là năng lực tư duy sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu Tin học (khoa học), là năng lực tư duy đối với hoạt động sáng tạo tin học, tạo ra những kết quả tốt, mới, khách quan, cống hiến những lời giải hay, những công trình tin học có giá trị đối với việc dạy học,
Trang 28giáo dục và sự phát triển của khoa học nói riêng cũng như đối với hoạt động thực tiễn của xã hội nói chung
1.1.4.2 Một số biểu hiện năng lực tư duy sáng tạo của học sinh trung học phổ thông trong quá trình giải bài tập Tin học:
Tư duy sáng tạo góp phần rèn luyện và phát triển nhân cách cũng như các năng lực trí tuệ cho học sinh, bồi dưỡng hứng thú và nhu cầu học tập, khuyến khích học sinh say mê tìm tòi, sáng tạo Decartes cũng đã có câu nói nổi tiếng
về tầm quan trọng của năng lực tư duy đối với sự tồn tại của con người trong
vũ trụ: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”[11] Nguyên lý cơ bản đó của ông mang ý nghĩa tiến bộ trong lịch sử, bởi nó khẳng định được rằng mọi khoa học chân chính đều phải xuất phát từ sự nghi ngờ, “nghi ngờ ở đây không phải là hoài nghi chủ nghĩa, mà là sự nghi ngờ về phương pháp luận, nghi ngờ để đạt đến
sự tin tưởng”,có nghĩa là tư duy
Trên cơ sở cho học sinh làm quen với một số hoạt động sáng tạo nhằm rèn luyện năng lực, giáo viên đưa ra một số bài tập có thể giúp học sinh vận dụng sáng tạo nội dung kiến thức và phương pháp có được trong quá trình học tập, mức độ biểu hiện của học sinh được sắp xếp theo thứ tự tăng dần của năng lực
tư duy sáng tạo Đối với học sinh phổ thông có thể thấy các biểu hiện của năng lực tư duy sáng tạo trong việc học các bài ở chương 4 tin 11 qua các khả
Trang 29tất cả học sinh đều phải cố gắng đạt được Biểu hiện năng lực tư duy sáng tạo của học sinh ở khả năng này được thể hiện là: với nội dung kiến thức và
kỹ năng đã được học, học sinh biết biến đổi những bài tập trong một tình huống cụ thể hoàn toàn mới nào đó về những cái quen thuộc, những cái đã biết để áp dụng vào giải một cách dễ dàng, từ đó học sinh thể hiện được tính
sáng tạo của bản thân khi giải những bài toán đó
Ví dụ 1: viết chương trình nhập từ bàn phím 2 số nguyên dương M,N(M<N), tính và đưa ra màn hình tổng các số chia hết cho 5 trong phạm vi từ M đến N
Writeln(’tong S la:’,s);
Readln End
Trang 30Ví dụ 2: Viết chương trình nhập vào một mảng tính và đưa ra màn hình tổng các số chia hết cho 5 có trong mảng
Input: Nhập vào một mảng các số nguyên
Output: Đưa ra màn hình: tổng các số chia hết cho 5
Readln(n);
S:=0;
For i:=1 to n do Begin
Writeln(’nhap so phan tu thu :’,i,’:’);
Trang 31Writeln(’ tong cac so chia het cho 5 la:’,s);
Readln;
End
Tính nhuần nhuyễn được thể hiện khi :
Biết áp dụng các thuật giải đã có sẵn để giải một bài toán mới, hay vận dụng trực tiếp các kiến thức, kỹ năng vào bài toán mới ở chỗ sử dụng lại công thức chia hết cho 5 và công thức tính tổng các số chia hết cho 5 :
b) Có khả năng phát hiện, đề xuất cái mới từ vấn đề quen thuộc
Khi đứng trước một bài tập học sinh nhận ra được vấn đề mới trong các điều kiện, vấn đề quen thuộc; phát hiện ra chức năng mới trong những đối tượng quen thuộc, tránh được sự rập khuôn máy móc, dễ dàng điều chỉnh được hướng giải quyết trong điều kiện mới, đây cùng là biểu hiện tạo điều kiện để học sinh rèn luyện tính mềm dẻo của tư duy
Ví dụ 1: Viết chương trình nhập vào một kí tự hoa sau đó hiển thị dạng chữ
thường của nó
Input: nhập vào một kí tự hoa
Trang 32Output: in ra kí tự thường của nó
Chương trình:
Program vd1;
Var ch: char;
Begin Write(’nhap vao ki tu hoa’); readln(ch);
Writeln(’chu thuong tuong ung la,’ #(ord(ch)+32));
Readln End
Từ bài toán trên giáo viên hướng dẫn cho học sinh phát hiện bài toán mới là: Viết chương trình nhập vào một xâu và in ra màn hình một xâu kết quả có các kí tự đầu là chữ hoa, các kí tự tiếp theo của từ là chữ thường Các kí tự nếu là chữ hoa thì phải chuyển sang chữ thường bằng hàm s[i]:=chr(ord(s[i])+32) tức là sử dụng lại câu lệnh ở ví dụ 1
Ví dụ 2: Viết chương trình nhập vào một xâu và in ra màn hình một xâu kết
quả có các kí tự đầu từ là chữ hoa, các kí tự tiếp theo của từ là chữ thường
Trang 33Begin Write(’nhap vao mot xau:’); readln(s);
For i:=1 to length(s) do
If s[i]<>’’ then
If s[i]=1 then S[i]:=upcases([i]);
Else
If s[i-1]=’’ then s[i]:=upcase(s[i]) Else
If s[i]=upcase(s[i]) then S[i]:=chr(ord(s[i]+32);
Write(’xau viet theo kieu moi la:’, s);
Readln;
End
Khả năng phát hiện, đề xuất cái mới từ vấn đề quen thuộc được thể hiện khi : Bài toán ở ví dụ 1 là viết chương trình ”nhập vào kí tự hoa và in ra kí tự thường của nó.” Trong khi ở ví dụ 2 yêu cầu nhập vào một xâu và in ra kí tự đầu tiên là hoa và các kí tự sau là thường Sự sáng tạo được thể hiện ở chỗ học sinh biết sử dụng hàm: s[i]:=chr(Ord(s[i])+32) đã học ở chương 3 để chuyển từ chữ hoa sang chữ thường và biết cách sử dụng câu lệnh if trong từng trường hợp để đã học để áp dụng vào bài toán Đồng thời biết áp dụng thêm kiến thức mới vào để giải bài toán được hoàn chỉnh Áp dụng hàm Upcase để chuyển kí tự đầu tiên từ chữ thường sang chữ hoa, sử dụng kiểu dữ liệu mới là kiểu xâu trong bài toán này
Trang 34Như vậy chúng ta có thể thấy từ một bài toán quen thuộc chúng ta chuyển đổi lại theo dạng khác, giúp học rèn luyện và phát triển các năng lực,
đặc biệt là năng lực sáng tạo, tránh sự máy móc, rập khuôn khi giải các bài tập
lập trình
c) Có khả năng phối hợp nhiều công cụ, phương pháp khác nhau để giải
quyết một vấn đề
Đứng trước một bài tập mang tính sáng tạo cao, đòi hỏi học sinh phải vận
dụng rất nhiều kiến thức khác nhau và nhiều phương pháp, cách giải khác
nhau Đồng thời học sinh cũng phải biết phối hợp các kiến thức và phương
pháp đó, huy động những kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân cộng với sự nổ
lực, phát huy năng lực quản lí và phát triển bản thân, năng lực tư duy sáng tạo
cao của cá nhân để tìm tòi, giải quyết vấn đề
Ví dụ: Có một hộp chứa một dãy bi xanh, đỏ, vàng lẫn lộn Viết chương trình
sắp xếp sao cho các bi xanh đưa về phía trước tiếp theo là bi đỏ cuối cùng là
A: Array [1 max]of Byte;
{Ta quy uoc a[i]=1 –> Bi Xanh;A[i]=2 Bi Do;a[i]=3-> Bi Vang}
Trang 35End;
{Sap xep lai}
For i:=1 to N-1 do For j:= i+1 to N do
If A[i]>A[j] then BEGIN
Sự sáng tạo có khả năng phối hợp nhiều công cụ, phương pháp khác nhau
để giải quyết một vấn đề thể hiện ở chỗ: Học sinh biết sử dụng phối hợp câu
Trang 36lệnh điều kiện if then, câu lệnh lặp for và sử dụng hàm Upcase để giải bài toán
Giải bài toán này do phải vận dụng, tập hợp nhiều kiến thức như kiến thức về cấu trúc rẽ nhánh, cấu trúc lặp và các kỹ năng như nhìn nhận, phân tích, suy luận nên rất hiệu quả trong việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh
d) Có khả năng tìm được nhiều cách giải khác nhau đối với bài toán đã cho
Đây là biểu hiện của học sinh khi đứng trước những bài toán có những đối tượng, những quan hệ có thể xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau Đứng trước những bài toán loại này học sinh biểu hiện khả năng, năng lực chuyển
từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, thể hiện năng lực nhìn một đối tượng toán học dưới nhiều khía cạnh khác nhau
Ví dụ: Viết chương trình nhập vào một xâu rồi đưa ra màn hình số kí tự khác
nhau ở trong xâu đó [3]
Giải:
Xác định :
Input: Nhập vào một xâu
Output: Thông báo số kí tự khác nhau trong xâu
If length(s)=0 then Write (‘xau rong.’) Else
Trang 37Begin Dem:=1;
For i:=2 to length(s) do {kiem tra phia truoc s[i] co ky tu s[j] nao going s[i] hay khong } Begin
If length(s)=0 then Write (‘xau rong.’) Else
Begin Dem:=1;
A[1]:=s[1];
For I :=2 to length(s) do Begin
Trang 38J:= 1;
While(j<=dem) and (A[j]<>S[i]) do j:=j+1;
If j<dem then Begin
Var A: Array [1 255] of Boolean;
{A[i] = True -> ky tu chua duoc duyet }
{A[i]= False -> ky tu da duoc duyet }
Trang 39Begin dem:=dem+1;
A[i]:= False;
{danh dau tat ca ky tu giong s(i)}
For j:=i+1 to dai do
If S[i]=S[j] then A[j]:=false;
+ Phần tử đầu tiên của mảng là phần tử đầu tiên của chuỗi
+ Duyệt các phần tử của chuỗi từ 2 đến n, nếu phần tử nào khác với các số phần tử trong mảng thì được vào mảng
+ Số phần tử trong mảng chính là số phần tử khác nhau trong chuỗi + Giả sử ở đây ta chỉ đếm 128 kí tự cơ sở của bảng mã ASCII
Cách 3:
+ Ta sử dụng một mảng gồm 255 phần tử kiểu Boolean
Trang 40+ Ta cho I chạy từ 1 đến độ dài của xâu gán A[i]:=true tức là các kí tự chưa được duyệt Gán dem:=0 cho vòng lặp I chạy tiếp từ 1 đến dai nếu kí tự chưa được duyệt rồi thì tăng dem lên một đơn vị
+ Đánh dấu các kí tự giống s[i]
1.1.5 Tìm hiểu về hệ thống dạy học trực tuyến
1.1.5.1 Thế nào là hệ thống học trực tuyến ?
Hệ thống học trực tuyến (hay còn gọi là e-learning) là phương thức học ảo thông qua một máy vi tính nối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra đề cho học viên học trực tuyến từ xa Giáo viên có thể truyền tải hình ảnh và âm thanh qua đường truyền băng thông rộng hoặc kết nối không dây (WiFi, WiMAX), mạng nội bộ (LAN) Mở rộng ra, các cá nhân hay các tổ chức đều
có thể tự lập ra một trường học trực tuyến (e-school) mà nơi đó vẫn nhận đào tạo học viên, đóng học phí và có các bài kiểm tra như các trường học khác.[5]
1.1.5.2 Ưu nhược điểm của hệ thống dạy học trực tuyến
a) Ưu điểm
Giáo dục trực tuyến cho phép đào tạo mọi lúc mọi nơi, truyền đạt kiến thức theo yêu cầu, thông tin đáp ứng nhanh chóng Học viên có thể truy cập các khoá học bất kỳ nơi đâu như văn phòng làm việc, tại nhà, tại những điểm Internet công cộng, 24 giờ một ngày, 7 ngày trong tuần.[5]
Tiết kiệm chi phí: Giúp giảm khoảng 60% chi phí bao gồm chi phí đi lại và chi phí tổ chức địa điểm Học viên chỉ tốn chi phí trong việc đăng kí khoá học
và có thể đăng kí nhiều khoá học mà họ cần.[5]
Tiết kiệm thời gian: Giúp giảm thời gian đào tạo từ 20-40% so với phương pháp giảng dạy truyền thống nhờ hạn chế sự phân tán và thời gian đi lại
Uyển chuyển và linh động: Học sinh có thể chọn lựa những khoá học có sự chỉ dẫn của giáo viên trực tuyến hoặc khoá học tự tương tác (Interactive Self-