1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng việc sử dụng công nghệ thông tin của giáo viên trong dạy học ở trường THPT

48 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề ở trên và để thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy tại các trường phổ thông em đã mạnh dạn chọn đề tài “Thực trạng việc sử dụng công nghệ thông tin

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA TIN HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề Tài: “Thực trạng việc sử dụng công nghệ thông tin của

giáo viên trong dạy học ở trường THPT”

GVHD: Th.S Lê Viết Chung SVTH: Nguyễn Thị Thu Hằng Lớp: 10SPT

Chuyên ngành: Sư phạm Tin học

Đà Nẵng, 5/ 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm

ơn chân thành nhất đến thầy hướng dẫn: Thạc sĩ Lê Viết Chung đã tận tình hướng dẫn

tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong khoa Tin học

cùng các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã trực tiếp giảng dạy,

truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập tại trường

và nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện khóa luận này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo ở trường THPT Hòa Vang và

THPT Phan Châu Trinh đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập và thực hiện

khóa luận tốt nghiệp

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn, trình độ, kỹ năng của

bản thân còn nhiều hạn chế nên khóa luận này của tôi không tránh khỏi những thiếu

sót Rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo, bổ sung thêm của thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh Viên

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 5

DANH MỤC BẢNG 6

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài: 8

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 9

4 Phương pháp nghiên cứu: 9

5 Nội dung luận văn: 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 10

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu: 10

1.1.1 Ngoài nước 10

1.1.2 Việt Nam 12

1.2 Công nghệ thông tin và nội dung ứng dụng CNTT trong dạy học phổ thông: 13

1.2.1 Khái niệm công nghệ thông tin: 13

1.2.2 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phổ thông: 14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA GIÁO VIÊN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT 16

2.1 Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc sử dụng CNTT vào quá trình dạy học 16 2.2 Các điều kiện để sử dụng CNTT vào dạy học 17

2.3 Mức độ sử dụng CNTT 19

2.3.1 Mức độ sử dụng CNTT trong các tiết lên lớp 20

2.3.2 Mức độ sử dụng các phần mềm dạy học 21

2.3.3 Mức độ khai thác Internet 24

2.4 Phạm vi sử dụng CNTT 27

2.5 Hiệu quả của việc sử dụng CNTT vào dạy học 30

2.6 Thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng CNTT 33

2.6.1 Thuận lợi 33

2.6.2 Khó khăn 38

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA GIÁO VIÊN TRONG DẠY HỌC 41

3.1 Nâng cao nhận thức của giáo viên: 41

3.2 Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho việc sử dụng CNTT trong dạy học: 41

3.3 Tổ chức các buổi tập huấn cho giáo viên về việc sử dụng CNTT trong dạy học: 42

Trang 4

3.4 Mở rộng phạm vi sử dụng CNTT vào dạy học: 42

3.5 Tăng cường mức độ sử dụng CNTT vào dạy học: 43

3.6 Cần có một chuẩn về kỹ năng sử dụng CNTT trong dạy học của giáo viên: 43

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

1 KẾT LUẬN 44

2 KIẾN NGHỊ 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Các điều kiện để sử dụng CNTT vào dạy học 18

Biểu đồ 2: Mức độ sử dụng CNTT vào dạy học 20

Biểu đồ 3: Thuận lợi của giáo viên trong quá trình sử dụng CNTT vào dạy học 34

Biểu đồ 4: Khó khăn của giáo viên trong quá trình sử dụng CNTT vào dạy học 39

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Các điều kiện để sử dụng CNTT vào dạy học 17Bảng 2: Mức độ sử dụng CNTT vào dạy học 20Bảng 3:Mức độ sử dụng các phần mềm dạy học (Trường THPT Hòa Vang) 22Bảng 4: Mức độ sử dụng các phần mềm dạy học (Trường THPT Phan Châu Trinh) 23Bảng 5: Mức độ khai thác Internet của giáo viên (Trường THPT Hòa Vang 24Bảng 6: Mức độ khai thác Internet của giáo viên (Trường THPT Phan Châu Trinh 25Bảng 7: Phạm vi sử dụng CNTT vào dạy học của giáo viên (Trường THPT Hòa Vang) 28Bảng 8: Phạm vi sử dụng CNTT vào dạy học của giáo viên (Trường THPT Phan Châu Trinh) 28Bảng 9: Hiệu quả việc sử dụng CNTT vào dạy học (Trường THPT Hòa Vang) 30Bảng 10: Hiệu quả việc sử dụng CNTT vào dạy học (Trường THPT Phan Châu Trinh) 30Bảng 11: Thuận lợi của giáo viên trong quá trình sử dụng CNTT vào dạy học 33Bảng 12: Kỹ năng sử dụng CNTT của giáo viên (Trường THPT Hòa Vang) 36Bảng 13: Kỹ năng sử dụng CNTT cuả giáo viên (Trường THPT Phan Châu Trinh) 36Bảng 14: Khó khăn của giáo viên trong quá trình sử dụng CNTT vào dạy học 38

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Trong những năm gần đây ngành Công nghệ thông tin (CNTT) nói riêng và Khoa học công nghệ nói chung có sự bùng nổ mạnh mẽ đã tác động vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo công nghệ thông tin cũng có tác động mạnh mẽ làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học Mặt khác giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của công nghê thông tin thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho ngành công nghệ thông tin Xác định được tầm quan trọng đó năm học 2008-2009 Bộ giáo dục và đào tạo đã phát động năm học ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học công nghệ thông tin như là một công

cụ hỗ trợ đắc lực cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn Nhưng làm thế nào để ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả trong các tiết dạy đó là vấn đề mà bất cứ giáo viên nào cũng gặp phải khi có ý định đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy

Thời gian gần đây, phong trào thi đua soạn bài giảng điện tử để đổi mới cách dạy và học đã được nhiều giáo viên hưởng ứng tích cực Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy vẫn còn một số tồn tại Điển hình như bài giảng còn nặng về kênh chữ, chưa khai thác được kênh hình Một số bài giảng còn trình bày thông tin trên máy tính thay bảng viết, dẫn đến tình trạng học sinh khó nắm được bố cục bài giảng Điều đó cũng có nghĩa là giáo viên chưa khai thác được tính ưu việt của CNTT trong dạy học Bên cạnh đó, không ít giáo viên chưa khai thác hiệu quả tính năng của phần mềm PowerPoint trong thiết kế bài giảng Mặt khác, kỹ năng khai thác thông tin trên internet của giáo viên còn hạn chế nên các tài liệu đưa vào bài giảng chưa được phong phú, đa dạng

Và tôi cũng đã tìm hiểu và được biết các anh chị khóa trước chưa có anh chị nào tìm hiểu về vấn đề này

Từ những vấn đề ở trên và để thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong

giảng dạy tại các trường phổ thông em đã mạnh dạn chọn đề tài “Thực trạng việc sử

dụng công nghệ thông tin của giáo viên trong dạy học ở trường THPT” làm đề tài

nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình

Trang 9

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Nghiên cứu thực trạng sử dụng công nghệ thông tin của giáo viên trong dạy học

từ đó đề xuất những biện pháp để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng CNTT trong giảng dạy

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: thực trạng việc sử dụng CNTT của giáo viên trong dạy học ở

trường phổ thông

Phạm vi nghiên cứu:

₋ Trường THPT Hòa Vang (Cẩm Lệ - Đà Nẵng)

₋ Trường THPT Phan Châu Trinh (Hải Châu - Đà Nẵng)

4 Phương pháp nghiên cứu:

₋ Nghiên cứu các tài liệu sư phạm, báo cáo khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

₋ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Anket), phỏng vấn

₋ Phương pháp thống kê toán học

5 Nội dung luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng việc sử dụng công nghệ thông tin của giáo viên trong dạy học

ở trường THPT

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng công nghệ

thông tin của giáo viên trong dạy học

Trang 10

Công nghệ thông tin (Information Technology - IT) là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng KHCN hiện nay Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu nhập thông tin CNTT thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị xã hội khác Trong giáo dục đào tạo CNTT là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Hiệu quả rõ rệt là chất lựơng giáo dục tăng lên cả về mặt lý thuyết và thực hành Vì thế, nó là chủ đề lớn được tổ chức văn hóa giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra thành chương

trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền

giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT ”

Như vậy, CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), đang tạo ra những thay đổi của một cuộc cách mạng giáo dục Điều này đã được chứng minh rất rõ ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Ngoài nước

Trên thế giới, các nước phát triển như Cộng hòa Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…đều sớm chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Các nước này đã xây dựng rất nhiều chương trình quốc gia về tin học hóa Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật, là chìa khóa để xây dựng và phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực, trên toàn thế giới

Trang 11

Với quan điểm như trên, các nước đã đề ra những chính sách, kế hoạch để phát triển việc ứng dụng CNTT hết sức cụ thể Ví dụ:

Cộng hòa Pháp: Chính sách quốc gia đầu tiên mang tên Plan de Cancul đề

xuất vào giữa những năm 60, dưới thời Tổng thống De Gaulles

Nhật Bản: Đề ra “Kế hoạch về một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia tới

năm2000” đã được công bố vào năm 1972

Đài Loan: Từ những năm 1980, “Kế hoạch 10 năm phát triển CNTT ở Đài

Loan” đã chỉ rõ những vấn đề then chốt mà chính phủ làm để phát triển CNTT, tạo

khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường thế giới

Singapore: Ngày 28/4/1997, Bộ Giáo dục Singapore đã khởi động kế hoạch

tổng thể về Công nghệ thông tin trong giáo dục (Master Plan for IT in Education) Đây được coi là một bản kế hoạch chi tiết nhằm tích hợp CNTT vào hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng những thách thức của thế kỉ XXI Mục tiêu chính là sử dụng CNTT như một công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc trang bị cho học sinh (HS) những kỹ năng học tập, kỹ năng tư duy sáng tạo và khả năng giao tiếp Với chương trình này, mọi trẻ em của Singapore sẽ được đảm bảo cơ hội tiếp cận với môi trường học đường mang đậm màu sắc CNTT Sau 5 năm thực hiện (1997 – 2002), giáo dục Singapore đã thành công trong việc khai thác CNTT nhằm trang bị cho HS những kỹ năng học tập, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giao tiếp Kết quả hơn 70% HS được khảo sát ở các cấp học cho rằng việc sử dụng CNTT làm tăng kiến thức cho các em và hơn 80% HS đồng ý rằng

sử dụng CNTT làm cho bài học trở nên thú vị hơn Với những thành công đạt được như trên, tháng 7/2002, Bộ giáo dục Singapore đã công bố Kế hoạch tổng thể CNTT 2 nhằm kế thừa và phát huy những thành công của Kế hoạch 1 và tiếp tục đưa ra những định hướng chung cho các trường trong việc tận dụng những cơ hội CNTT đem lại để phục vụ giảng dạy và học tập

Hàn Quốc xác định rõ: Mục tiêu chiến lược của chính sách đẩy mạnh tin học

hóa ở Hàn Quốc là xây dựng một xã hội thông tin phát triển vào năm 2000 Để thực

hiện mục tiêu này, chính phủ Hàn Quốc thành lập “Quỹ thúc đẩy CNTT” do Bộ

Thông tin và Truyền thông quản lí Tương ứng, có hai cơ quan chỉ đạo và điều phối: Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử thuộc ban đổi mới

Trang 12

chính phủ của Tổng Thống (Theo tin “Chính phủ điện tử Hàn Quốc” trên tạp chí

PCWorldVN cập nhật ngày 01/4/2008)

Chính nhờ những bước đầu tư về phát triển CNTT mà những quốc gia nói trên

đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục trong mấy thập kỉ

qua

1.1.2 Việt Nam

Ở Việt Nam, từ năm 1994 Bộ GD&ĐT đã chủ trương đưa máy tính vào các nhà

trường với mục đích dạy học Tin học và làm phương tiện dạy học các môn học khác

Cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật (KHKT) tiếp tục phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức Sự bùng nổ của Internet, của các sản phẩm phần mềm Tin học ứng dụng kéo theo sự phát triển của đời sống xã hội, làm thay đổi nhận thức của con người, đi vào mọi lĩnh vực, ngành nghề và trong đó có giáo dục và đào tạo Được các cấp, ngành từ phía Bộ chủ quản, các cơ quan hỗ trợ phát triển, nhu cầu trao đổi thông tin, học tập, quản lý ngày một đa dạng và là một xu thế của thế kỷ XXI Giáo dục luôn được coi là nền tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại Do đó các sản phẩm phần mềm dạy học ra đời phù hợp với chương trình giáo dục và đặc điểm tâm sinh lí HS Việt Nam Các phần mềm đó đem đến cho người dùng nhiều chọn lựa cho mình những công cụ hỗ trợ đắc lực trong công việc, trong giáo dục, học tập

Mục tiêu kế hoạch là đến năm 2015, Việt Nam có khoảng 30% số lượng sinh viên CNTT, điện tử, viễn thông sau khi tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để tham gia thị trường lao động quốc tế; đảm bảo 100% học sinh trung cấp chuyên nghiệp và học nghề được đào tạo các kiến thức và kỹ năng ứng dụng về CNTT; 100% học sinh trung học cơ sở và 80% học sinh tiểu học được học tin học Cũng vào giai đoạn năm 2015, 65% số giáo viên có đủ khả năng ứng dụng CNTT

để hỗ trợ cho công tác giảng dạy, bồi dưỡng Đến cuối năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng, giáo viên dạy nghề, sinh viên có máy tính dựng riêng

Định hướng phát triển CNTT giai đoạn năm 2020, 70% lao động trong các doanh nghiệp được đào tạo về CNTT; trên 90% giảng viên đại học và trên 70% giáo viên cao đẳng về CNTT có trình độ từ thạc sĩ trở lên, trên 30% giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ

Trang 13

Trong dạy học, CNTT được sử dụng như là một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo nhà trường nâng cao chất lượng quản lý, giúp các thầy cô giáo nâng cao chất lượng dạy học Học sinh có thể sử dụng máy tính như một công cụ học tập nhằm nâng cao chất lượng hình thành kiến thức mới, bởi lẽ CNTT có chức năng riêng của nó, đó là: thu thập, xử lí, lưu giữ và truyền dữ liệu CNTT sẽ làm thay đổi không chỉ nội dung

mà còn làm thay đổi phương pháp (PP) truyền đạt của người thầy trong dạy học Trong mỗi giờ học, giáo viên (GV) có thể minh họa bài giảng một cách sinh động thông qua hình ảnh, âm thanh Thậm chí GV còn có thể tiến hành các thí nghiệm minh họa trực tiếp trong khi giảng Thông qua việc nối mạng Internet, GV và HS có thể biết thêm các tài liệu tham khảo cần thiết ngay trong khi học Vì máy tính có khả năng lưu trữ thông tin nên thông qua máy tính, GV có thể làm tăng hàng trăm, hàng chục lượng thông tin trong một bài giảng Quan trọng hơn cả, nhờ có CNTT, HS có thể tự học mọi lúc, mọi nơi… Đây chính là tiêu chí mà Đảng và nhà nước đang hướng tới trong việc đào tạo con người mới Như vậy, việc ứng dụng CNTT trong dạy học chính là cơ sở tất yếu để thực hiện đổi mới mục tiêu GD&ĐT hiện nay

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của CNTT đối với sự phát triển kinh

tế xã hội (KTXH), đặc biệt là đối với GD&ĐT nhằm đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách hết sức quan trọng để đẩy mạnh việc ứng dụng và quản lí việc ứng dụng CNTT

Ở Việt Nam cũng có hai tổ chức tương đương là Ban chỉ đạo quốc gia về CNTT và Ban chỉ đạo về cải cách hành chính Mặt khác, tại các cơ quan quản lí nhà nước đã có

Đề án tin học hóa quản lí hành chính nhà nước (2001 – 2005) ban hành kèm theo quyết định số: 112/2001/QĐ - TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng chính phủ về giáo dục

Như vậy, ứng dụng CNTT vào giáo dục là một xu thế mới của nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai lâu dài Tuy nhiên,việc ứng dụng CNTT như thế nào trong các nhà trường cho có hiệu quả đang còn là một vấn đề phải bàn cãi

1.2 Công nghệ thông tin và nội dung ứng dụng CNTT trong dạy học phổ thông:

1.2.1 Khái niệm công nghệ thông tin:

Trang 14

Công nghệ thông tin viết tắt là CNTT (Tiếng Anh là Information Technology hay là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, CNTT là sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu nhập thông tin (Bách khoa toàn thư Wikipedia)

Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết số

49/CP của Chính phủ ký ngày 04 / 08 / 1993 “về phát triển CNTT ở nước ta trong

những năm 90”: Công nghệ thông tin (CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học,

các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội

Theo luật CNTT số 67/2006/QH 11 ngày 29/6/2006 (Điều 4 Giải thích từ ngữ):

“CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại

để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số.”

Tóm lại: CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ

liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin Như vậy, “CNTT là một hệ thống

các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh

tế, xã hội, văn hóa,… của con người”

1.2.2 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phổ

thông:

Theo Chỉ thị 29/CT của Trung Ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhà trường Chỉ thị 29 nêu rõ: “Ứng dụng và phát triển CNTT trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập ở tất cả các môn học”

Theo Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11, ngày 29/6/2006: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất

Trang 15

lượng, hiệu quả của các hoạt động này”

Trong nhiệm vụ năm học 2005-2006 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh: “Khẩn trương triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT từ nay đến năm 2010 của chính phủ và đề án dạy Tin học ứng dụng CNTT và truyền thông giai đoạn 2005-2010 của ngành”

Chiến lược phát triển giáo dục 2005-2010 chỉ rõ: “Nhanh chóng áp dụng CNTT vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục và quản lý”

Theo thông tư số 53/2012/TT-BGDĐT ngày 20/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về tổ chức hoạt động, sử dụng thư điện tử và cổng thông tin điện tử tại sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo và các cơ sở GDMN, GDPT và GDTX

Khi nói đến ứng dụng CNTT trong dạy học nghĩa là:

 Tăng cường đầu tư cho việc giảng dạy môn tin học cho cán bộ, giáo viên và học sinh

 Sử dụng CNTT làm công cụ hỗ trợ việc dạy và học các môn học (Soạn giáo

án điện tử, khai thác tốt phần mềm thiết kế bài dạy: Phần mềm Microsoft Powerpoint, Violet,…)

 Tăng cường khai thác thông tin trên mạng Internet để tra cứu và xây dựng giáo án điện tử có chất lượng…

Trong các nhà trường phổ thông hiện nay, tùy theo mức độ nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lí (CBQL), giáo viên, trang bị cơ sở vật chất về CNTT…mà nội dung

sử dụng CNTT trong dạy học ở các nhà trường là rất khác nhau

Có thể nói, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập trong các nhà trường CNTT đang trở thành một cánh cửa góp phần rút ngắn khoảng cách trong giáo dục giữa các vùng miền, là phương tiện để tiến tới một “xã hội học tập”

Trang 16

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA GIÁO VIÊN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT

2.1 Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc sử dụng CNTT vào quá trình dạy học

Để thực hiện việc sử dụng CNTT vào dạy học đạt hiệu quả cao thì cần phải có

sự nhận thức đúng đắn về vai trò của nó Giáo viên là người có vai trò cực kì quan trọng, quyết định hiệu quả của việc sử dụng CNTT vào dạy học Hơn ai hết, họ phải có nhận thức đúng đắn về vai trò của việc ứng dụng này Vì vậy khi tiến hành phát phiếu điều tra cho giáo viên ở hai trường THPT Hòa Vang và THPT Phan Châu Trinh, tôi đã

sử dụng một câu hỏi phỏng vấn kèm theo “Theo thầy (cô) thì việc sử dụng CNTT vào

dạy học có cần thiết không?” Kết quả là ở trường THPT Hòa Vang có 20/24 giáo

viên chiếm 83.3 %, trường THPT Phan Châu Trinh có 17/24 giáo viên chiếm 70.8% cho là việc sử dụng CNTT vào dạy học là cần thiết Điều này cho thấy hầu hết thầy cô giáo, những người đang trực tiếp giảng dạy tại hai trường THPT trên đều có nhận thức rất cao về vai trò của việc sử dụng CNTT vào dạy học Đây là điều kiện cơ bản đầu tiên để việc sử dụng CNTT vào dạy học ở trường THPT đạt hiệu quả Theo tôi thì nhận thức trên xuất phát từ vai trò của CNTT đối với việc đổi mới nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học

Đi sâu vào tìm hiểu việc sử dụng CNTT trong quá trình dạy học, tôi đã quan sát bảng đăng kí sử dụng phòng máy và đăng kí mượn máy projector, tôi thấy mỗi tuần chỉ có khoảng 20-25 tiết/tuần ở trường THPT Hòa Vang và 30-35 tiết/tuần ở trường THPT Phan Châu Trinh Số tiết này so với tổng số tiết/tuần là khá ít và mức độ sử dụng giáo án điện tử của giáo viên chỉ ở mức trung bình Khi được hỏi “Thầy (cô) sử dụng CNTT trong những tiết dạy nào?” thì đa phần giáo viên ở 2 trường THPT Hòa Vang và THPT Phan Châu Trinh cho biết rằng: Thường sử dụng CNTT khi các tiết dạy có nội dung cần phải sử dụng CNTT (nhưng rất ít) và khi có tiết thao giảng Vậy

có thể thấy rằng nội dung dạy học là một tiêu chí để các thầy cô giáo lựa chọn việc sử dụng hay không sử dụng CNTT

Trang 17

Bên cạnh đó, ở trường THPT Hòa Vang có 4/24 giáo viên chiếm 16,7%, trường THPT Phan Châu Trinh có 7/24 giáo viên chiếm 29.2% cho rằng việc sử dụng CNTT trong dạy học là không cần thiết Khi tìm hiểu nguyên nhân thì thấy rằng đây thường

là những giáo viên có độ tuổi khá cao, thường là sắp về hưu Một mặt họ ít chú trọng đến công tác sử dụng CNTT vào dạy học, mặt khác kĩ năng CNTT của bộ phận giáo viên này cũng có những hạn chế nhất định Ngoài ra theo tôi thấy thì ngay thực trạng việc sử dụng CNTT trong dạy học hiện nay vẫn chưa thực sự thuyết phục những thầy

cô giáo đó tin vào vai trò của CNTT đối với việc nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục học sinh

Như vậy, đại đa số giáo viên của hai trường THPT Hòa Vang và THPT Phan Châu Trinh đều nhận thức được đúng đắn vai trò của việc sử dụng CNTT vào dạy học, tuy nhiên việc sử dụng CNTT vào dạy học của giáo viên vẫn chưa thật sự tốt Nhưng chính nhờ nhận thức đó sẽ thúc đẩy họ đẩy mạnh hoạt động sử dụng CNTT vào dạy học, mang lại hiệu quả cao

2.2 Các điều kiện để sử dụng CNTT vào dạy học

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của việc sử dụng CNTT vào dạy học trong nhà trường như: vật chất, con người, tài chính và chính sách Vậy thì ở trường THPT Hòa Vang và THPT Phan Châu Trinh có những điều kiện để sử dụng CNTT vào dạy học như thế nào? Những điều kiện đó ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả của việc sử dụng CNTT vào dạy học? Và trong các yếu tố, điều kiện đưa ra thì yếu

tố, điều kiện nào là quan trọng nhất? Để làm rõ những vấn đề đó, tôi đã đưa ra câu hỏi

“Theo thầy (cô) iều quan trọng nhất trong việc sử dụng CNTT vào dạy học là gì?”

Kết quả thu được như sau:

Bảng 1: Các điều kiện để sử dụng CNTT vào dạy học

Trang 18

Giáo viên có kĩ năng sử dụng tốt 2 8.3 0 0 Nhà trường yêu cầu (bắt buộc) giáo

Biểu đồ 1: Các điều kiện để sử dụng CNTT vào dạy học

Ghi chú:

1: Có cơ sở vật chất (máy tính, mạng, máy chiếu…) đầy đủ

2: Giáo viên có ý thức sử dụng trong giảng dạy

3: Giáo viên có kĩ năng sử dụng tốt

4: Nhà trường yêu cầu (bắt buộc) giáo viên sử dụng

Từ bảng và biểu đồ trên chúng ta có thể thấy rằng, ở trường THPT Hòa Vang

có 15 giáo viên chiếm 62,5 % số giáo viên được hỏi chọn phương án “Có cơ sở vật chất (máy tính, mạng và máy chiếu…) đầy đủ” là điều kiện quan trọng nhất cho việc

sử dụng CNTT Với phương án này thì ở trường THPT Phan Châu Trinh có 23 giáo viên chiếm 95.8 % giáo viên được khảo sát đã chọn

Như vậy, theo ý kiến giáo viên của 2 trường THPT Hòa Vang và THPT Phan Châu Trinh thì cơ sở vật chất đầy đủ bao gồm một hệ thống máy tính nối mạng, các phòng dạy học đa chức năng có trang bị máy tính và màn hình chiếu là điều kiện cần thiết nhất để việc sử dụng CNTT vào dạy học mang lại hiệu quả cao Đây cũng là ý kiến hợp lý bởi những điều kiện vật chất nêu trên là những điều kiện đầu tiên không

Trang 19

thể thiếu nếu muốn sử dụng CNTT Đó cũng là lý do mà rất nhiều trường THPT hiện nay khó sử dụng CNTT vào dạy học một cách thường xuyên và hiệu quả

Ngoài điều kiện cơ sở vật chất thì một điều kiện quan trọng đối với việc sử dụng CNTT vào dạy học đó chính là yếu tố con người Trong việc sử dụng CNTT vào dạy học này, yếu tố con người thể hiện rõ ở ý thức, kĩ năng Theo kết quả điều tra ở bảng trên thì ở trường THPT Hòa Vang có 7/24 giáo viên chiếm 29.2%, trường THPT

Phan Châu Trinh có 1/24 giáo viên chiếm 4.2% được hỏi lựa chọn phương án “ iáo

viên có thức sử dụng trong giảng dạy”, cũng có 2 giáo viên trường THPT Hòa Vang

chiếm 8.3 % số giáo viên được khảo sát chọn phương án “ iáo viên có kĩ năng sử

dụng tốt” Chúng ta có thể thấy rằng giáo viên của 2 trường đã xác định được vai trò

của mình trong việc sử dụng CNTT vào dạy học Thật sự thì việc sử dụng CNTT vào dạy học muốn thực hiện tốt thì trước hết người thực hiện phải có ý thức tự giác Chỉ khi giáo viên, người trực tiếp sử dụng CNTT vào dạy học xác định được vai trò của mình thì mới có thể thúc đẩy họ vượt qua khó khăn, nâng cao tri thức, rèn luyện kĩ năng của mình Ngoài việc nhận thức được vai trò của mình đối với việc sử dụng CNTT vào dạy học, thì kĩ năng CNTT của giáo viên là một điều kiện không thể thiếu khi đưa CNTT vào giảng dạy trong nhà trường

Vấn đề ở đây là cả giáo viên của 2 trường đều thấy điều kiện thuận lợi để sử dụng CNTT vào dạy học đó chính là có cơ sở vật chất đầy đủ Số lượng giáo viên lựa chọn phương án này chiếm tỉ lệ lớn nhất, trong khi điều kiện về ý thức, kĩ năng CNTT của giáo viên chiếm tỉ lệ rất thấp Điều này theo tôi là không phù hợp lắm Bởi điều kiện vật chất là rất cần thiết nhưng điều kiện về con người theo tôi vẫn giữ vai trò quyết định hơn cả

Ngoài ra, yếu tố pháp lý như “ Nhà trường yêu cầu (bắt buộc) giáo viên sử dụng” thì lại không có giáo viên nào lựa chọn phương án này

Như vậy có nhiều điều kiện nhằm đảm bảo thành công cho việc sử dụng CNTT vào dạy học Trong đó, theo giáo viên của trường THPT Hòa Vang và THPT Phan Châu Trinh thì cơ sở vật chất của nhà trường vẫn giữ vai trò quan trọng nhất

2.3 Mức độ sử dụng CNTT

Để nghiên cứu thực trạng việc sử dụng công nghệ thông tin của giáo viên trong dạy học ở trường THPT, tôi muốn tìm hiểu mức độ của việc sử dụng CNTT trong các

Trang 20

tiết học, mức độ sử dụng các phần mềm dạy học và mức độ khai thác internet

2.3.1 Mức độ sử dụng CNTT trong các tiết lên lớp

Để tìm hiểu mức độ của việc sử dụng CNTT trong dạy học nói chung, tôi sử

dụng câu hỏi: “Thầy (cô) quan tâm sử dụng CNTT m c ộ nào ” kết quả thu

được như sau:

Không bao giờ 4 16.6 7 29.2

Biểu đồ 2: Mức độ sử dụng CNTT vào dạy học

Từ kết quả trên chúng ta thấy ở trường THPT Hòa Vang có 12 giáo viên chiếm 50% giáo viên được khảo sát, trường THPT Phan Châu Trinh có 13 giáo viên chiếm 54,2% giáo viên được khảo sát đã cho rằng việc sử dụng CNTT vào dạy học chỉ được thực hiên ở mức độ “thỉnh thoảng”, đây là câu trả lời được nhiều giáo viên ở 2 trường

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không bao giờ

Hòa Vang Phan Châu Trinh

Trang 21

chọn nhiều nhất Việc sử dụng CNTT vào dạy học có thể được xem là cách làm mới cho nên chúng ta không thể thực hiện một cách đại trà nhanh chóng, nhất là trong điều kiện về cơ sở vật chất còn có những hạn chế nhất định Cho nên, cũng dễ hiểu khi số giáo viên cuả cả 2 trường cho rằng mức độ sử dụng CNTT vào dạy học chỉ ở mức độ

thỉnh thoảng

Tiếp theo ở vị trí thứ 2 là phương án “thường xuyên” được 7 giáo viên chiếm 29.2 % của trường THPT Hòa Vang và 4 giáo viên chiếm 16.6% của trường THPT Phan Châu Trinh lựa chọn Trong quá trình nghiên cứu bằng phương pháp phỏng vấn tôi được biết, theo rất nhiều giáo viên của 2 trường thì việc sử dụng CNTT vào dạy học chỉ bó gọn trong các tiết dạy bằng bài giảng điện tử Vậy thì trong 1 tuần, số tiết dạy có sử dụng bài giảng điện tử chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với tổng số tiết Thế nhưng việc sử dụng CNTT vào dạy học không chỉ bó gọn trong phạm vi tiến hành hoạt động dạy học trên lớp mà còn có thể sử dụng để thiết kế bài giảng, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu Nếu như vậy thì việc

sử dụng CNTT vào dạy học hoàn toàn có thể sử dụng thường xuyên, thậm chí là rất thường xuyên để nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, nâng cao tính tích cực học tập và sáng tạo của học sinh

Vấn đề ở đây là với trường THPT Hòa Vang thì có 4 giáo viên chiếm 16.6%, trường THPT Phan Châu Trinh có 7 giáo viên chiếm 29.2% giáo viên được khảo sát đã chọn câu trả lời là “không bao giờ” Lý giải cho vấn đề này là như đã trình bày ở trên thì số giáo viên chọn câu trả lời “không bao giờ” đều là những giáo viên đã có tuổi, đa phần là sắp đến tuổi về hưu nên khả năng sử dụng CNTT trong dạy học của thầy cô có phần hạn chế, không đem lại được hiệu quả cao, có lẽ vì vậy mà các thầy cô đã không

Trang 22

mềm dạy học của bộ môn mình phụ trách Vì vậy mà tôi muốn tìm hiểu mức độ sử

dụng các phần mềm dạy học ở trường THPT, tôi đã sử dụng câu hỏi: “Thầy (cô)

từng sử dụng phần mềm nào trong quá trình dạy học của mình ”.Kết quả như sau:

Bảng 3:Mức độ sử dụng các phần mềm dạy học (Trường THPT Hòa Vang)

thảo văn bản Toán) 0 0 1 4.2 2 8.3 21 87.5 Crocodile Chemistry 0 0 0 0 2 8.3 22 91.7 Crocodile Physic 0 0 0 0 0 0 24 100 Phần mềm khác

Đứng thứ 2 về mức độ sử dụng là phần mềm Violet Có 4 giáo viên (chiếm 16.7%) rất thường xuyên, 8 giáo viên (chiếm 33.3%) thỉnh thoảng và 12 giáo viên (chiếm 50%) chưa bao giờ sử dụng

Các phần mềm còn lại như Flash, Mapple, Latex, Crocodile Chemistry được rất

ít giáo viên sử dụng

Trang 23

Ngoài ra chỉ có 2 giáo viên (chiếm 8.3%) rất thường xuyên sử dụng phần mềm khác

Phần mềm Crocodile Physic giáo viên chưa bao giờ sử dụng

Bảng 4: Mức độ sử dụng các phần mềm dạy học (Trường THPT Phan Châu

Mapple (phần mềm giải

toán) 0 0 1 4.2 1 4.2 22 91.6 Latex (phần mềm soạn

thảo văn bản Toán) 0 0 1 0 0 0 24 100 Crocodile Chemistry 0 0 0 0 0 0 24 100 Crocodile Physic 0 0 0 0 0 0 24 100 Phần mềm khác

( ) 0 0 3 12.5 0 0 21 87.5

Qua bảng điều tra giáo viên trường THPT Phan Châu Trinh chúng ta thấy phần mềm sử dụng thường xuyên nhất vẫn là Microsoft office Powerpoint Có 6 giáo viên (chiếm 25%) thường xuyên sử dụng, 10 giáo viên (chiếm 41.7%) thỉnh thoảng và có 8 giáo viên (chiếm 33.3%) chưa bao giờ sử dụng

Xếp thứ 2 về mức độ sử dụng phần mềm là phần mềm Violet, có 4 giáo viên (chiếm 16.7%) thường xuyên, 3 giáo viên (chiếm 12.5%) thỉnh thoảng và 17 giáo viên (chiếm 70.8%) chưa bao giờ sử dụng

Các phần mềm như Mapple, phần mềm khác ít được giáo viên sử dụng Các phần mềm còn lại thì giáo viên chưa bao giờ sử dụng

Trang 24

Qua hai bảng kết quả điều tra ở 2 trường thì chúng ta thấy rằng mức độ sử dụng phần mềm Microsoft office Powerpoint vẫn cao nhất Đây là điều dễ hiểu bởi Powerpoint là phần mềm xuất hiện từ lâu, dễ sử dụng và có thể sử dụng cho mọi môn học Và các phần mềm dạy học sử dụng trong dạy học mà giáo viên trường THPT Hòa Vang và trường THPT Phan Châu Trinh đã sử dụng là rất thiếu tính đa dạng

Trong số 48 giáo viên ở cả 2 trường mà tôi đã điều tra thì chỉ có 5 giáo viên sử dụng phần mềm khác tương ứng với bộ môn mà mình đang giảng dạy

Qua các phương pháp nghiên cứu khác nhau thì tôi rút ra kết luận rằng, có rất ít các phần mềm dạy học bộ môn được các thầy cô giáo của 2 trường THPT Hòa Vang

và THPT Phan Châu Trinh sử dụng Phần mềm thường xuyên được sử dụng nhiều nhất là Microsoft office Powerpoint Tuy nhiên, PowerPoint chỉ là sử dụng như là một công cụ để trình chiếu Muốn nâng cao hiệu quả việc sử dụng CNTT vào dạy học nhằm nâng cao hứng thú, phát huy tính tích cực chủ động tự học, tự nghiên cứu của học sinh cũng như hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp dạy học thì phải có các biện pháp nhằm giúp giáo viên tiếp cận và sử dụng tốt các phần mềm dạy học bộ môn

2.3.3 Mức độ khai thác Internet

Muốn sử dụng CNTT vào dạy học, hướng dẫn học sinh khai thác tốt thông tin, muốn hướng dẫn học sinh tự học bằng CNTT thì ngoài những tri thức chuyên môn thì luôn cần phải biết sử dụng thành thạo máy tính điện tử có kết nối internet Do vậy, khi nghiên cứu thực trạng sử dụng CNTT vào dạy học tôi muốn tìm hiểu mục đích khai thác và mức độ khai thác, sử dụng internet của giáo viên Sau đây là kết quả điều tra

Bảng 5: Mức độ khai thác Internet của giáo viên (Trường THPT Hòa Vang

sơ đồ, mô hình… 8 33.3 11 45.8 1 4.2 4 16.7 Trả lời thắc mắc cho học 0 0 0 0 0 0 24 100

Ngày đăng: 26/06/2021, 13:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5]. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
[8]. Nông Thu Hằng (2013) Tham luận “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học”. <http://bacninh.edu.vn/ver2/portal.php?u=ktthhn&mod=news&new=5993&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
[1]. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, http://vi.wikipedia.org/wiki/Công nghệ thông tin Link
[2]. Biện pháp quản lý hoạt động Ứng dụng CNTT vào dạy học trong các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. <http://www.doko.vn/luan- van/ung-dung-cntt-trong-day-hoc-o-truong-pho-thong-viet-nam-130897&gt Khác
[3]. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, quyết định số: 112/ 2001/ QĐ- TTg ngày 25/7/2001 về Đề án tin học hoá quản l hành chính nhà nước (2001-2005) Khác
[4]. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Nghị quyết số 49/CP ngày 04/8/93 về phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90 Khác
[6]. Kỹ năng Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học (2013). <http://www.giaoduc.edu.vn/news/chuyen-hoc-duong-753/ky-nang-ung-dung-cntt-trong-day-hoc-213006.aspx&gt Khác
[7]. Nông Văn Sinh (2013) Chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục. <http://luanvan.co/luan-van/de-tai-thuc-trang-ung-dung-cntt-trong-nha-truong-pho-thong-hien-nay-39064/&gt Khác
[9]. Sở giáo dục và đào tạo, công văn số 788/ HD- SGD &ĐT về Hướng dẫn công tác ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin năm học 2008 -2009 Khác
[10]. Về Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. <http://thpttt-hahuytap- qn.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=198:ve-ung-dung-cong-nghe-thong-tin-trong-day-hoc&catid=132&Itemid=386&gt Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w