Qua đó có thể thúc đẩy việc nâng cao kỹ năng sử dụng tin học của học sinh khiếm thính và khiếm thị, góp phần thay đổi cách nhìn của cộng đồng đối với người khuyết tật và thúc đẩy việc hò
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên – Th.S Đoàn Duy Bình Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong công trình này
Đà Nẵng, ngày 12 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Không có công việc nào thành công mà không có sự nỗ lực hết mình của nhóm người đầy tâm huyết Do đó, chúng tôi cần phải cảm ơn rất nhiều người tuyệt vời vì sự cống hiến quý báu của họ để chúng tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận này
Đầu tiên, chúng tôi xin gửi lời biết ơn chân thành tới ban lãnh đạo nhà trường, cùng các thầy, cô giáo trong khoa Tin học trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, những người đã tận tình dạy dỗ, truyền lại cho chúng tôi kiến thức và những bài học kinh nghiệm quý giá
Chân thành cảm ơn cô hiệu trưởng Nguyễn Thị Tuyết Lan trường tư thục chuyên biệt Thanh Tâm, thầy phó hiệu trưởng Nguyễn Duy Tuyên trường chuyên biệt Tương Lai, cô hiệu trưởng Th.s Lê Thị Tuyết Mai trường phổ thông
chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu đã tạo điều kiện cho chúng tôi tiếp xúc với trường, các thầy cô và các bạn học sinh để chúng tôi có cơ hội hoàn thành tốt khóa luận này
Cảm ơn tất cả các thầy cô giáo phụ trách bộ môn tin học và các bạn học sinh ở các trường chuyên biệt đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi trong quá trình khảo sát thực tế tại trường
Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Th.s Đoàn Duy Bình, người tận tình hướng dẫn chúng tôi hoàn thành khóa luận này
Mặc dù chúng tôi đã rất cố gắng để hoàn thành khóa luận song chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp,
bổ sung của quý thầy cô và các bạn để khóa luận của chúng tôi được hoàn chỉnh hơn
Cuối cũng xin đến tất cả mọi người lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 12 tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận 3
4.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
4.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học 4
5 Đóng góp của luận văn 4
6 Cấu trúc của khóa luận 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Khái niệm khuyết tật 6
1.2 Phân loại trẻ khuyết tật 6
1.2.1 Trẻ khiếm thính 6
1.2.2 Trẻ khiếm thị 7
1.3 Các hình thức giáo dục trẻ khuyết tật 8
1.3.2 Giáo dục chuyên biệt 8
1.3.3 Giáo dục hội nhập 9
1.3.3 Giáo dục hòa nhập 10
1.4 Những khó khăn về học tập của học sinh khiếm thính và khiếm thị 11
1.5 Tin học với người học sinh khuyết tật 12
1.5.1 Đặc thù môn tin 12
1.5.2 Vai trò của tin học với người khuyết tật 13
1.5.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học môn tin học cho học sinh khuyết tật trong các trường chuyên biệt 14
1.6 Tình hình giáo dục tin học ở học sinh khuyết tật tại thành phố Đà Nẵng 17
Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC TIN HỌC CỦA HỌC SINH KHIẾM THÍNH VÀ KHIẾM THỊ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 19
2.1 Khái quát về quá trình khảo sát 19
2.2 Thực trạng dạy và học tin học của học sinh khuyết tật ở một số trường chuyên biệt tại thành phố Đà Nẵng 20
2.2.1 Trường Phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu 20
2.2.2 Trường chuyên biệt Tương Lai 24
2.2.3 Trường Chuyên biệt Tư thục Thanh Tâm 27
2.3 Kết quả khảo sát qua điều tra bằng phiếu anket 29
2.3.1 Tin học đối với học sinh khuyết tật 29
2.3.2 Sự yêu thích của học sinh khuyết tật với môn tin học 30
2.3.3 Nội dung chương trình tin học đang học đối với học sinh khuyết tật 31
2.3.4 Phương tiện thiết bị học tin học ở trường 31
2.3.5 Khó khăn của học sinh khuyết tật khi học tin học 32
2.3.6 Số tiết tin trong tuần 32
2.3.7 Mong muốn của học sinh khuyết tật để học môn tin đạt hiệu quả 33
Trang 52.3.8 Theo ngành tin học trong tương lai 33
2.4 Những khó khăn của học sinh khuyết tật tiếp cận với tin học 33
2.4.1 Học sinh khiếm thị 33
2.4.2 Học sinh khiếm thính 35
2.5 Tình hình tiếp cận tin học của học sinh khiếm thính và khiếm thị tại các trường chuyên biệt thành phố Đà Nẵng 35
2.5.1 Về cơ sở vật chất 35
2.5.2 Về đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy học 36
2.5.3 Về học sinh 37
Chương 3 GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH KHIẾM THÍNH VÀ KHIẾM THỊ TIẾP CẬN TIN HỌC 40
3.1 Giải pháp chung 40
3.1.1 Chương trình học 40
3.1.2 Phương pháp dạy tin học cho trẻ khuyết tật 41
3.1.3 Cơ sở vật chất 42
3.2 Giải pháp cho từng đối tượng 42
3.2.1 Học sinh khiếm thính 42
3.2.2 Đối với trẻ khiếm thị 44
3.3 Đề xuất, khuyến nghị 47
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 49
1 Kết quả đạt được 49
2 Những hạn chế 49
3 Hướng phát triển 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 51
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin đã tạo nên một bước ngoặt cho nhân loại Trong thế giới hiện đại, tin học là một lĩnh vự khoa học- công nghệ mũi nhọn quyết định sự phát triển của nhiều ngành nghề khác biệt Nó đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống, mọi tầng lớp và mọi thành viên trong xã hội, trong đó có người khuyết tật
Nhờ có công nghệ thông tin mà con người có thể nắm bắt được cả thế giới Đối với người khuyết tật, công nghệ thông tin nói chúng và tin học nói chung càng trở nên cần thiết hơn Tin học trở thành cầu nối của họ với thế giới bên ngoài Thông qua máy tính và intenet, người khuyết tật được đáp ứng và thỏa mãn như cầu giao tiếp, chia sẻ và tìm hiểu kiến thức Qua đó, giúp người khuyết tật tìm kiếm những cơ hội, nâng cao nhận thức và cải thiện cuộc sống
Tin học là một môn học mới với ngành giáo dục nói chung và giáo dục chuyên biệt nói riêng Vì tin học là một môn mới, học sinh khuyết tật lại có những đặc thù riêng Bên cạnh đó, hầu hết các trường chuyên biệt đều thiếu giáo viên dạy tin và chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc giảng dạy môn tin Cho nên, hiện nay, việc tiếp cận tin học nói chung vẫn là một việc khó khăn với phần đông người khuyết tật nói chung và học sinh khiếm thính, khiếm thị nói riêng tiếp cận với tin học
Chính vì những lý do trên mà chúng tôi chọn đề tài: “Khảo sát thực trạng,
đưa ra giải pháp để giúp học khuyết tật tiếp cận với tin học” làm khóa luận của
chúng tôi Qua đó có thể thúc đẩy việc nâng cao kỹ năng sử dụng tin học của học sinh khiếm thính và khiếm thị, góp phần thay đổi cách nhìn của cộng đồng đối với người khuyết tật và thúc đẩy việc hòa nhập người khuyết tật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đặc biệt công nghệ thông tin Là một sinh viên năm cuối chuyên ngành sư phạm tin học, chúng tôi mong muốn được hoàn thành tốt khóa luận này Trong đề tài này, chúng tôi sẽ nghiên cứu thực tiễn ở một số trường chuyên biệt
Trang 82 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi chọn đề tài này với mục đích:
- Giúp giáo viên cũng như học sinh khiếm thính và khiếm thị có thêm tài liệu, phương pháp dạy và học đúng đắn để có thể đạt được hiệu quả cao trong việc tiếp cận với tin học
- Để nắm bắt được những khó khăn, bất cập của việc tiếp cận tin học trong các trường dành cho trẻ khuyết tật
- Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học, nâng cao ý thức khát vọng của học sinh Khuyến khích sự phát triển, ý thức trách nhiệm của học sinh trong quá trình học tập
- Từ đó có thể giúp định hướng nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với từng đối tượng để họ tự nuôi sống bản thân và khẳng định giá trị của mình trong cuộc sống
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ các vấn đề về trẻ khuyết tật: thế nào là trẻ khuyết tật, các dạng khuyết tật, các khó khăn trong việc học tập của học sinh khiếm thính và khiếm thị, tin học với trẻ khuyết tật…
- Nghiên cứu thực trạng tình hình dạy và học, cơ sở vật chất phục vụ cho việc thực hành bộ môn Tin học tại một số trường chuyên biệt trong thành phố Đà Nẵng
- Tìm hiểu chương trình dạy tin học dành cho các em khiếm thính và khiếm thị
- Khảo sát, đánh giá thực trạng, phân tích các khó khăn mà học sinh khuyết tật gặp phải khi học tin học
- Đề xuất các giải pháp các phương pháp tiếp cận tin học phù hợp với học sinh khiếm thính và khiếm thị
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu và tìm hiểu thực tế dạy và học tin học ở trẻ khiếm thính và khiếm thị
- Nghiên cứu nội dung chương trình học dành cho học sinh khiếm thính và khiếm thị tại một số trường chuyên biệt
- Đối tượng khảo sát: Các học sinh khiếm thính, khiếm thị
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu và tìm hiểu thực tế tại 3 trường có trẻ khuyết tật :
+ Trường chuyên biệt Tương Lai:
Cơ sở 1: 22 Trần Bình Trọng, Đà Nẵng
Cơ sở 2: 102 Huy Cận, Quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng
+ Trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu
+ Trường chuyên biệt Thanh Tâm (157B Phan Tứ, phường Mỹ An Quận Ngũ Hành Sơn)
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập tài liệu, tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn phục vụ trực tiếp cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
4.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp quan sát: Nhằm mục đích tìm hiểu việc dạy và học, thái độ
học tập của học sinh khiếm thính và khiếm thị Một số vấn đề ảnh hưởng tới việc dạy và học Bộ môn Tin học
- Quan sát trường học về cơ sở vật chất, lớp học, phòng máy
- Dự giờ một số tiết dạy thực hành tại phòng máy ở một số trường dạy trẻ
Trang 10* Phương pháp điều tra bằng trò chuyện:
- Tiến hành trao đổi với một số học sinh khiếm thính và khiếm thị về các vấn
đề xoay quanh việc học tin học như: khó khăn, biện pháp tự khắc phục, kiến thức…Bên cạnh đó cũng tiến hành trao đổi với một số giáo viên dạy tin vể vấn đề dạy tin học Những khó khăn, bất cập và cách khắc phục trong việc học và dạy tin học
* Phương pháp điều tra bằng anket:
- Điều tra trên học sinh khiếm thính và khiếm thị để tìm hiểu thực trạng về việc học tin học của học sinh khiếm thính và khiếm thị tại các trường chuyên biệt
* Phương pháp phân loại: Phương pháp này được sử dụng để phân loại các
dạng khiếm thính và khiếm thị, để có những phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với học sinh khiếm thính và khiếm thị, phù hợp với nội dung chương trình đã được quy định cụ thể ở từng đối tượng
4.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Các phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý các kết quả điều tra về định lượng, tính phần trăm
5 Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Đầu tiên là nói lên tầm quan trọng của bộ môn tin học đối
với xã hội nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng Thứ hai là, nói lên lợi ích của môn tin học đối với người khuyết tật Thứ ba là, nêu lên các khó khăn mà trẻ khuyết tật gặp phải khi học tin học Cuối cùng là, đề xuất một số biện pháp nhằm giảm bớt khó khăn của các em khiếm thính và khiếm thị trong học thực hành bộ môn tin học, để các em có húng thú và học tốt bộ môn này hơn…
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp tài liệu tham khảo cũng như kinh nghiệm có
tính bổ ích cho sinh viên ngành sư phạm Tin học, giáo viên quan tâm tới đối tượng học sinh khiếm thính và khiếm thị nói chung và các giáo viên ở các trường chuyên biệt nói riêng Nhằm góp phần nâng cao hiệu dạy, học Tin học ở trường chuyên biệt Góp một phần nhỏ trong việc hướng nghiệp cho trẻ khuyết tật
Trang 116 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, kết luận và hướng phát triển, khóa luận của chúng tôi được chia làm ba chương:
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm khuyết tật
Khái niệm 1: Trẻ khuyết tật là trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc hoặc sai lệch các chức năng của cơ thể dẫn đến gặp khó khăn nhất định trong tự chăm sóc bản thân hoặc không thể theo được chương trình giáo dục phổ thông nếu không được hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục, dạy học và những trang thiết bị trợ giúp cần thiết
1.2 Phân loại trẻ khuyết tật
1.2.1 Trẻ khiếm thính
1.1.2.1 Khái niệm
Là những trẻ bị suy giảm hay mất khả năng nghe ở các mức độ khác nhau, dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ hoặc câm, khó khăn trong giao tiếp và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của trẻ
1.1.2.2 Phân loại
Trẻ khiếm thính được phân chia thành các mức độ sau:
Mức 1: điếc nhẹ (20-40dB) Trẻ nghe được âm thanh, lời nói bình thường trong
môi trường yên tĩnh Mức 2: điếc vừa (41-70dB) Trẻ nghe được tiếng nói to khi nhìn hình miệng
trong môi trường yên tĩnh Nếu có máy trợ thính phù hợp, trẻ có thể nghe được bình thường
Mức 3: điếc nặng (71-90dB) Trẻ có thể nghe được một số âm thanh tiếng nói
nếu có máy trợ thính phù hợp, có thể giao tiếp bằng lời
Mức 4: điếc sâu (>90dB) Trẻ chỉ có thể nghe được những âm thanh lớn như
tiếng trống, tiếng sấm Trẻ chủ yếu giao tiếp bằng
cử chỉ điệu bộ
Trang 131.2.2 Trẻ khiếm thị
1.2.2.1 Khái niệm
- Trẻ khiếm thị là trẻ dưới 18 tuổi có khuyết tật thị giác, chỉ sự suy giảm hay
mất khả năng nhìn như mù hay nhìn kém Tuy đã có phương pháp trợ giúp nhưng
vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử dụng mắt
- Tình trạng khiếm thị được xác định dựa trên thị lực và thị trường
+ Thị lực: là khả năng mắt phân biệt 2 điểm ở gần nhau nhất trong một khoảng nhất định
+ Thị trường: là khả năng nhìn bao quát của mắt trong không gian xác định với tư thế cầu mắt và đầu giữ nguyên vị trí
- Người bình thường, có thị lực bằng 1 Vis (10/10); thị trường ngang (góc nhìn bao quát theo chiều ngang) một mắt là 1500; cả hai mắt là 1800; thị trường dọc (góc nhìn bao quát theo chiều đứng) là 1100
- Nhìn kém: (low vision)
+ Nhìn quá kém: Thị lực từ 0,04 - 0,08 Vis khi có các phương tiện trợ giúp tối đa Trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong học tập khi sử dụng mắt và cần được giúp đỡ thường xuyên trong sinh hoạt và học tập
+ Nhìn kém: Thị lực còn 0,09 - 0,3 Vis khi đã có các phương tiện trợ giúp tối đa trẻ vẫn gặp khó khăn trong hoạt động Tuy nhiên, trẻ này có khả năng tự phục
vụ, ít cần sự giúp đỡ thường xuyên của mọi người, còn chủ động trong mọi hoạt
Trang 141.3 Các hình thức giáo dục trẻ khuyết tật
1.3.2 Giáo dục chuyên biệt
1.3.2.1 Khái niệm
Giáo dục chuyên biệt là phương thức giáo dục tách biệt trẻ em có cùng dạng
khuyết tật vào cơ sở giáo dục riêng Những trẻ khuyết tật có cùng dạng, cùng mức
độ được học theo một chương trình riêng với phương pháp riêng biệt
1.3.2.2 Mục tiêu của giáo dục chuyên biệt
- Mục tiêu nhân đạo
- Mục tiêu chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng
- Mục tiêu giám sát, quản lý
1.3.2.3 Ưu, nhược điểm của giáo dục chuyên biệt
a Ưu điểm
Mô hình giáo dục chuyên biệt đã xuất hiện rất sớm và tồn tại cho đến ngày
nay (3 thế kỷ), nó đã làm cho một bộ phận nhỏ trẻ khuyết tật được chăm sóc và giáo
dục Giáo dục chuyên biệt hình thành và phát triển phù hợp với những điều kiện xã hội, kinh tế và phù hợp với trình độ nhận thức, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của nhân loại Nó đóng vai trò tích cực trong lịch sử phát triển của giáo dục trẻ khuyết tật
b Nhược điểm
Đánh giá không đúng về trẻ khuyết tật: coi trẻ khuyết tật là những trẻ thấp kém, không có khả năng sống và học tập như những trẻ khác Người ta chỉ nhìn thấy những khiếm khuyết của trẻ, không nhìn thấy được những mặt tích cực, những cái trẻ có thể làm được Điều này dẫn tới cách tổ chức giáo dục: tách trẻ ra khỏi cộng đồng, phương pháp giáo dục đặc biệt: gây nên những hạn chế trong quá trình nhận thức
Mang lại cho trẻ những mặc cảm, tự ti là những cản trở không cho trẻ phát triển hết khả năng của mình Hơn nữa, sự tách biệt này tạo tiền đề cho sự tách biệt khỏi cộng đồng sau này Từ nhỏ trẻ đã không được hưởng quyền bình đẳng về học
Trang 15tập thì lớn lên, khi trưởng thành, họ không thể trở thành những thành viên bình đẳng ngoài xã hội
- Giáo dục chuyên biệt tạo ra môi trường bị hạn chế về nhiều mặt Môi trường này không mở ra cơ hội để trẻ khuyết tật phát triển hết những tiềm năng của mình Thí dụ một trẻ bị điếc học trong trường chuyên biệt sẽ không có cơ hội tốt hơn để phát triển ngôn ngữ như ở phổ thông, ngoài xã hội Người ta sử dụng trong trường chuyên biệt những chương trình riêng, phương pháp riêng - những cái đã được hạn chế theo dạng khuyết tật và đồng thời cũng hạn chế luôn điều kiện để trẻ
tự phát triển Chính vì vậy, hiệu quả giáo dục trong các trường chuyên biệt rất thấp Nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp lại phải bắt đầu lại từ đầu để tái hòa nhập xã hội
- Mô hình giáo dục chuyên biệt rất tốn kém: chi phí cao cho xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giáo viên riêng, Chi phí cho trường chuyên biệt nội trú: 5 triệu/trẻ/năm; trường chuyên biệt bán trú: 2,5-3 triệu/trẻ/năm; trường hòa nhập: 6 trăm ngàn bồi dưỡng chuyên môn/trẻ
- Ngoài ra, với mô hình này thường không huy động được lực lượng xã hội tham gia giáo dục Thực hiện mô hình giáo dục chuyên biệt sẽ làm cho phần lớn trẻ khuyết tật bị thất học
Trong hoàn cảnh hiện nay, nước ta vẫn duy trì các cơ sở giáo dục chuyên biệt, tiến tới phát triển các cơ sở này thành các “trung tâm nguồn” vừa là nơi nghiên cứu, vừa là nơi bồi dưỡng giáo viên
1.3.3 Giáo dục hội nhập
1.3.3.1 Khái niệm
Giáo dục hội nhập là phương thức giáo dục trẻ khuyết tật trong lớp học chuyên biệt được đặt trong trường phổ thông bình thường Trong quá trình giáo dục trẻ khuyết tật nào có đủ điều kiện sẽ được học chung ở một số môn học hoặc tham gia một số hoạt động cùng trẻ bình thường
Trang 161.3.3.2 Mục tiêu của giáo dục hội nhập
Giáo dục hội nhập, về bản chất vẫn dựa vào mô hình y tế - Lấy phục hồi chức năng làm mục tiêu giáo dục Trẻ được phân loại qua các trắc nghiệm về y tế,
tâm lý, xã hội v.v và được xếp vào các nhóm, mức độ tật khác nhau Trẻ được tiến hành phục hồi chức năng để có thể tiếp cận đến sự phát triển như trẻ lành trong các trường, trung tâm chuyên biệt hoặc được học tại các lớp chuyên biệt trong trường phổ thông Sau khi “xét thấy” đã có sự phát triển gần với trẻ lành, trẻ được đưa vào học trong trường phổ thông ở một số tiết học hoặc tham gia vào một số các hoạt động cùng trẻ lành
1.3.3.3 Ưu, nhược điểm của giáo dục hội nhập
+ Phần lớn học sinh không qua được cấp tiểu học
+ Trẻ lĩnh hội được rất ít các kỹ năng xã hội, ra trường không hoà nhập được vào xã hội
+ Đầu ra cho trẻ lớn tuổi rất bế tắc, trẻ không biết làm gì
+ Nhiều trẻ bị ức chế về tâm lý, không muốn học trong lớp chuyên biệt
Trang 17giáo dục phổ thông được chú ý cải thiện sao cho đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi học sinh, kể cả những học sinh có khó khăn đặc thù Đây là mô hình giáo dục tiến bộ nhất được biết đến trong lĩnh vực giáo dục trẻ khuyết tật
Hòa nhập không có nghĩa là “xếp chỗ” cho trẻ khuyết tật vào học lớp học bình thường trong trường phổ thông và không phải tất cả mọi trẻ đều đạt trình độ như nhau trong mục tiêu giáo dục
Trẻ khuyết tật cũng có những nhu cầu và năng lực nhất định Chính từ quan điểm này mà trẻ khuyết tật cần được xem là chủ thể chứ không phải là đối tượng thụ động của các tác động giáo dục, thực hiện lý tưởng “trường học cho mọi trẻ em,
trong một xã hội cho mọi người”
1.3.3.2 Giáo dục hòa nhập đáp ứng mục tiêu giáo dục, đào tạo con người
- Học để biết
- Học để làm
- Học để cùng chung sống
- Học để tự khẳng định mình
1.4 Những khó khăn về học tập của học sinh khiếm thính và khiếm thị
Với sự giới hạn của mình, đặc biệt là ở người khuyết tật về trí tuệ hoặc cơ quan thu nhận cảm giác (khiếm thính, khiếm thị) khả năng tiếp thu tri thức là khá khó khăn, khuyết tật vận động thì bị ảnh hưởng ít hơn Người khuyết tật cần một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết của mình, điều này đôi khi yêu cầu đầu tư về cơ sở vật chất nhiều hơn so với giáo dục thông thường, do
đó nếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền, cơ quan giáo dục và bản thân gia đình không tốt, việc duy trì học tập tiếp lên cao hầu như là bất khả thi
Trẻ khó khăn về nhìn (khiếm thị) cần phương tiện trợ thị lực hoặc cần được tiếp nhận thông tin qua các giác quan khác nhau, đặc biệt là xúc giác và thính giác Chữ Braille và các sơ đồ, mô hình nổi có vai trò quan trọng trong quá trình giúp trẻ
mù lĩnh hội tri thức
Trang 18Trẻ khó khăn về nghe (khiếm thính) cần các phương tiện trợ thính và môi trường nghe - nói thuận lợi, hoặc các hình thức giao tiếp qua kênh thị giác thay thế ngôn ngữ nói thuần túy
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam, trình độ học vấn của người khuyết tật ở Việt Nam rất thấp 41% số người khuyết tật chỉ biết đọc biết viết; 19,5% học hết cấp một; 2,75% có trình độ trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ học nghề, và ít hơn 0.1% có bằng đại học hoặc cao đẳng Nhìn chung, chỉ có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyên môn, và chỉ hơn 4% người có việc làm ổn định Hiện có hơn 40% người khuyết tật sống dưới chuẩn nghèo (Bộ LĐTBXH, 2005)
1.5 Tin học với người học sinh khuyết tật
1.5.1 Đặc thù môn tin
Thực hành trên máy tính là chủ yếu và bắt buộc
Đối với môn tin học rất khó dạy khi giáo viên hoàn toàn không được dùng máy tính để minh họa hay thực hành các thao tác mẫu của bài học Nếu thầy và trò trên lớp được học tập hoàn toàn với phấn và bảng (học chay), việc tiếp thu kiến thức bài học có thể suy giảm đến 90% Mặc dù theo thiết kế của chương trình và cố gắng của các tập thể tác giả sách giáo khoa việc trình bày các kiến thức của bài học đã cố gắng độc lập tối đa với các thao tác cụ thể trên máy tính, việc truyền đạt của giáo viên vẫn phụ thuộc rất nhiều vào việc minh họa hay trình diễn trên máy tính Nhiều kiến thức và bài học được diễn đạt thông qua các bước thực hành và thao tác cụ thể trên máy tính Rất nhiều bài học (ví dụ các bài học Tin học văn phòng) được diễn đạt hoàn toàn thông qua các thao tác cụ thể với phần mềm Cần chú ý đặc điểm này
để giáo viên chủ động trong việc diễn đạt bài học trong trường hợp không có máy tính trình diễn trên lớp
- Kiến thức môn học gắn liền với công nghệ và thay đổi rất nhanh trên thế giới
Trang 19- Môi trường thực hành rất đa dạng và không thống nhất
- Là một môn học mới chưa có nhiều kinh nghiệm và về lý luận cũng như thực tế cho việc giảng dạy trong các nhà trường chuyên biệt dành cho trẻ khuyết tật
Tin học là một ngành công nghệ khá mới mẻ đối với Việt Nam và phát triển rất nhanh trên thế giới Tại Việt Nam, chưa bao giờ Tin học được đưa vào nhà trường thành môn học chính thức và phổ cập đại trà (thời điểm 2005) Chính vì các
lý do trên mà Tin học, Máy tính mặc dù đối với xã hội đã phổ cập nhưng đối với các trường dành cho trẻ khuyết tật còn rất mới
1.5.2 Vai trò của tin học với người khuyết tật
Công nghệ thông tin (CNTT) đã tạo nên một bước ngoặt cho nhân loại Nó thu hẹp mọi khoảng cách địa lý, dân tộc, quốc gia… Nhờ có CNTT mà con người
có thể nắm bắt được cả thế giới Đối với người khuyết tật, CNTT lại càng trở nên cần thiết hơn CNTT đã trở thành cầu nối của họ với thế giới bên ngoài Tuy nhiên, hiện nay việc tiếp cận với CNTT nói chung vẫn là một điều khó khăn đối với phần đông người khuyết tật Thế nhưng đây không phải là điều bất khả thi
Nhận thấy vai trò quan trọng của CNTT đối với người khuyết tật, Bộ Thông tin và truyền thông đã quan tâm nghiên cứu các biện pháp nhằm hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận CNTT như việc ban hành Thông tư số 28/2009/TT-BTTTT ngày 14/9/2009 quy định việc áp dụng tiêu chuẩn, công nghệ hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận CNTT&TT Kèm theo Thông tư này là Danh mục tiêu chuẩn hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng CNTT&TT Trên cơ sở Danh mục tiêu chuẩn hỗ trợ người khuyết tật, Bộ TT&TT cũng đang từng bước nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia tương ứng trong danh mục để từng bước cụ thể hóa áp dụng phù hợp và thuận tiện tại Việt Nam, nhằm góp phần nâng cao điều kiện sống, làm việc cho người khuyết tật
CNTT là chiếc chìa khóa vàng giúp người khuyết tật tiếp cận với thế giới bên
Trang 20CNTT giúp người khuyết tật nắm bắt mọi thông tin bên ngoài, giúp họ mở mang kiến thức trong mọi lĩnh vực và tạo lập các mối quan hệ Không những thế, CNTT còn trở thành kế sinh nhai của không ít người khuyết tật
Để người khuyết tật có thể tiếp cận với CNTT đã là một điều khó khăn, việc giúp họ ứng dụng CNTT vào cuộc sống lại càng khó khăn hơn gấp bội Các cơ quan chức năng cần đưa ra các biện pháp, quy định cụ thể để hỗ trợ người khuyết tật trong việc tiếp cận CNTT Bên cạnh đó, cần sự phối hợp của các bộ, ban, ngành liên quan và cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT
1.5.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học môn tin học cho học sinh khuyết tật trong các trường chuyên biệt
Như chúng ta đều biết, người khuyết tật là những người rất thiệt thòi về nhiều mặt Nhưng ở họ có một ý chí phấn đấu mạnh mẽ, họ không phó mặc số phận của mình mà họ biết vươn lên trong cuộc sống Bằng chứng là các trẻ em khuyết tật
đã đến trường, và không ngừng học tập, các em muốn sẽ trở thành người có ích cho
xã hội Ngày nay, công nghệ thông tin phát triển không ngừng, nó giúp ích cho cuộc sống chúng ta, và môn tin cũng đã được đưa vào dạy học ở các trường nói chung và trường dành cho trẻ khuyết tật nói riêng Tuy nhiên việc dạy và học tin ở các trường dành cho trẻ khuyết tật không phải là việc đơn giản, nó chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng:
1.5.3.1 Nội dung chương trình giảng dạy
Sách giáo khoa là những kiến thức chính cơ bản các em cần tiếp thu Nội dung sách giáo khoa phải phù hợp với khả năng của học sinh thì chất lượng đào tạo mới đạt kết quả cao Đối với học sinh khuyết tật, có ngoại hình và trí tuệ hoàn toàn khác đối với những học sinh bình thường nên khả năng tiếp thu của các em sẽ khác
Nếu kiến thức ở sách giáo khoa quá khó, các em sẽ không tiếp thu bài giảng của giáo viên được, cũng như không tốt cho sức khỏe các em
Nếu quá dễ, kết quả đào tạo sẽ không cao
Trang 21Vì vậy, kiến thức sách giáo khoa phù hợp sẽ vừa đảm bảo được kết quả đào tạo, vừa không quá sức đối với các em Đồng thời cũng giúp giáo viên dễ truyền đạt kiến thức hơn
1.5.3.2 Đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy
Giáo viên ở các trường chuyên biệt cần có niềm đam mê với nghề, lòng nhiệt huyết, tấm lòng yêu trẻ, có tình thương người, đặc biệt các em học sinh khuyết tật
Gv phải hiểu biết về tâm lý trẻ chuyên biệt Phải thông thạo ngôn ngữ nói của người khuyết tật (đối với người khuyết tật câm điếc)
Phương pháp giáo dục trẻ khuyết tật cần được đặc biệt chú tâm, vì trẻ khuyết tật không giống với các trẻ bình thường khác cả về ngoại hình và tâm lý
Phương pháp dạy của giáo viên là yếu tố quyết định trong việc truyền đạt kiến thức tới các em, phương pháp dạy của phù hợp với bài dạy sẽ giúp học sinh tiếp thu bài một cách nhanh chóng, đồng thời sử dụng các phương pháp khác nhau đối với từng đối tượng khuyết tật khác nhau Ví dụ: Đối với học sinh khiếm thính thì không thể giảng giải bằng cách thuyết trình, mà phải dùng các hình ảnh minh họa
Đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy là yếu tố quan trọng trong việc tiếp thu bài học của các em học sinh, cũng như sự đam mê môn học đó của các em
1.5.3.3 Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất của các trường chuyên biệt là toàn bộ phương tiện vật chất và
kỹ thuật khác nhau nhằm phục vụ cho hoạt động giáo dục học sinh Bao gồm đồ dùng dạy học, đồ chơi, những của cải vật chất và tinh thần, môi trường thiên nhiên xung quanh trường
Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy nhiều nhất Những trẻ này thường phải có sự hỗ trợ về phương tiện giảng dạy và cơ
sở vật chất đầy đủ thì mới dễ lĩnh hội được kiến thức mà giáo viên truyền đạt
Nó là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trinh giáo dục, góp phần quyết định
Trang 22chuyên biệt có ảnh hưởng lớn đến việc giảng dạy cho giáo viên và kết quả học tập của học sinh
Hiệu quả của cơ sở vật chất trong công tác giáo dục học sinh phụ thuộc đáng
kể vào khả năng khai thác và sử dụng của giáo viên trong các hoạt động của nhà trường, phụ thuộc vào hướng chỉ đạo của ban quản lý
- Trước hết, phòng máy đầy đủ các em có thế thực hành tốt
- Máy chiếu phục vụ cho việc dạy và học (đối với một số đối tượng)
- Máy phù hợp với từng đối tượng khuyết tật:
+ Khoảng cách từ ghế ngồi đến bàn phím, màn hình
+ Có bàn phím dành riêng cho trẻ khuyết tật
Phần mềm hỗ trợ việc học cho các em theo từng đối tượng khuyết tật
Để chất lượng dạy và học môn tin học hiệu quả hơn thì điều kiện cần là đáp ứng tốt về cơ sở vật chất để cho các em có điều kiện thực hành, giáo viên truyền đạt kiến thức một cách dễ dàng hơn
Tâm lý: Có muốn học hay không? Nếu em học sinh đó không muốn học thì
dù cơ sở vật chất tốt đến mấy, giáo viên nhiệt tình có phương pháp giảng dạy phù hợp và hay đến mấy thì em đó cũng không thể nắm kiến thức của môn học
Trang 231.6 Tình hình giáo dục tin học ở học sinh khuyết tật tại thành phố Đà Nẵng
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ngành giáo dục đào tạo Đà Nẵng đã
có bước chuyển mình thực sự Khởi đầu là hội nghị công nghệ thông tin (năm 2001) trong ngành giáo dục đào tạo Đà Nẵng thu hút sự tham gia của các sở, ngành khu vực ven biển miền Trung Sau hội nghị này, mọi chiến lược đẩy mạnh môn tin học được định hình rõ nét, ngân sách địa phương đầu tư cho ngành GD-ĐT công nghệ thông tin liên tục phát triển Cũng từ đó, tình hình giáo dục cho người khuyết tật ngày càng được chú trọng và đẩy mạnh Người khuyết tật đã từng bước vượt lên những khó khăn, khuyết điểm của mình để từng bước hòa nhập với cuộc sống, tham gia học tập, lao động và cống hiến hết mình cho đất nước
Nhìn chung, hầu hết các trường đều được trang bị máy vi tính và các phương tiện phục vụ cho các em tham gia học tập môn tin Theo chỉ thị của ủy ban nhân dân thành phố đang lập đề án huy động vốn từ phụ huynh học sinh và các công ty đóng trên địa bàn Không chỉ nỗ lực trong công tác đào tạo, nhiều năm qua, ngành GD-ĐT Đà Nẵng còn đạt được nhiều tiến bộ trong công nghệ ứng dụng các phần mềm phục vụ quản lý Ngoài ra, sở giáo dục cũng đã nhận thấy được lực lượng giáo viên giảng dạy môn tin học tại các trường nói chung và tại các trường dạy trẻ khuyết tật toàn thành phố nói riêng là quá mỏng, chủ yếu từ môn toán hoặc môn lý chuyển sang Năng lực giảng dạy của các giáo viên rất hạn chế, chưa được đào tạo chuyên sâu theo đặc thù giáo dục ở các trường chuyên biệt, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập môn tin học cho các em khuyết tật Vì thế, sở GD-ĐT đã có kế hoạch bồi dưỡng, tổ chức các lớp tập huấn về sử dụng công nghệ thông tin trong công tác giảng dạy nhất là chuyên môn hóa đội ngũ dạy tin
1.7 Một số phần mềm hỗ trợ học sinh khiếm thị tiếp xúc với CNTT
1.7.1 JAWS
Là phần mềm cho phép máy tính nói chuyện với người sử dụng Phần mềm này hoạt động bằng cách đọc to tất cả hoặc một phần nội dung hiển thị trên màn
Trang 24những người quan tâm việc làm cho trang web của mình thân thiện, có thể tiếp cận được đối với người khiếm thị
JAWS còn được hỗ trợ với thiết bị hiển thị thông tin bằng chữ nổi Braille (tương tự như bàn phím) Thiết bị này được điều khiển điện tử hóa, trong đó các nốt nhỏ tạo thành chữ nổi lên trên bàn phím tương ứng với các ký tự xuất hiện trên màn hình máy tính
1.7.2 NDC
Đây là một trình soạn thảo văn bản tương tự Microsoft word nhưng có khả năng đọc màn hình (các chức năng nút công cụ, nội dung văn bản) Các thao tác của người sử dụng được chuyển thành tiếng nói theo nhiều chế độ: đọc từng chữ, từng
từ hay từng câu Phần mền còn có chức năng chuyển văn bản từ chữ thường sang chữ nổi để in qua máy in chữ nổi giúp người khiếm thị có thể đọc được Chương trình có dung lượng 106 MB
Trang 25Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC TIN HỌC CỦA HỌC SINH KHIẾM THÍNH
VÀ KHIẾM THỊ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Khái quát về quá trình khảo sát
* Mục đích khảo sát: Khảo sát thực trạng dạy và học tin học của học sinh
khuyết tật tại thành phố Đà Nẵng, để xác định cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp giúp học sinh khiếm thính và khiếm thị có phương pháp tiếp cận tin học được tốt hơn
* Nội dung khảo sát: Thực trạng dạy và học tin học của học sinh khuyết tật
tại thành phố Đà Nẵng Trú trọng vào học sinh khiếm thính và khiếm thị
* Đối tượng khảo sát:Nghiên cứu và tìm hiểu thực tế tại 3 trường có trẻ
khuyết tật:
+ Trường chuyên biệt Tương Lai:
Cơ sở 1: 22 Trần Bình Trọng, Đà Nẵng
Cơ sở 2: 102 Huy Cận, Quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng
+ Trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu
+ Trường chuyên biệt Thanh Tâm
* Phương pháp khảo sát:
- Trò chuyện, quan sát
- Điều tra bằng phiếu (anket): 10 học sinh khiếm thính tại các lớp Đ8, Đ5, Đ3 cơ sở 2 trường Chuyên biệt Tương Lai Và 5 học sinh khiếm thị lớp 7 trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Tổng số học sinh điều tra 15 học sinh
* Thời gian khảo sát: Tháng 11 - 12/2011 và tháng 4/2012
Trang 262.2 Thực trạng dạy và học tin học của học sinh khuyết tật ở một số trường chuyên biệt tại thành phố Đà Nẵng
2.2.1 Trường Phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu
2.2.1.1 Giới thiệu chung
Trường Mù Nguyễn Đình Chiểu (nay đổi
thành trường Phổ thông Chuyên biệt Nguyễn
Đình Chiểu) được thành lập theo quyết định số
3474/QĐ ngày 11/8/1992 của UBND Tỉnh
Quảng Nam Đà Nẵng(cũ) trực thuộc trường
Cao Đẳng Sư Phạm Đà Nẵng( nay là trường Đại
Học sư phạm) Ngày 9/12/1992 trường chính thức đi vào hoạt động với việc khai giảng lớp học đầu tiên Đến ngày 31/01/1993, UBND thành phố Đà Nẵng có quyết định số 223/QĐUB chuyển trường Mù Nguyễn Đình Chiểu trực thuộc sở Giáo dục
và Đào tạo TP Đà Nẵng
+ Hiệu trưởng trường : Th.s Lê Thị Tuyết Mai
+ Ngày mới thành lập, trường thu nhận 17 học sinh khiếm thị, đến nay trường đã có 125 em học sinh khuyết tật
2.2.1.2 Cơ sở vật chất
- Toàn trường có 1 phòng máy, gồm 8 máy,
các máy cũ kĩ hoạt động không được tốt Các máy
được trang bị trang các phần mềm hỗ trợ cho người
khiếm thị như: NDC, JAWS, DUBURY
- Các thiết bị trong phòng máy: 1 máy chiếu,
mỗi máy có trang bị thêm tai phone Tuy nhiên các thiết bị đang bị hư hỏng
Trang 272.2.1.3 Chương trình dạy
- Không có chương trình chuẩn nào dành cho học sinh khuyết tật
- Do mỗi dạng khuyết tật có các đặc thù khác biệt, nên nếu dạy các kiến thức trong SGK thì không hiệu quả vì sách không viết cụ thể cho từng đối tượng riêng
- Giáo viên phải dựa vào đặc điểm khuyết tật của từng đối tượng và lứa tuổi để linh hoạt chọn bài dạy cho phù hợp với các em
- Giáo viên chưa được đào tào, tập huấn về công tác giảng dạy môn tin
- Chương trình dạy tin cho trẻ khuyết tật do giáo viên tạo ra nhờ: chọn lọc sách giáo khoa, tìm tòi trên mạng và sách tham khảo bên ngoài…
+ Học sinh cấp 2 dạy tin học lớp 9 ->12 chọn phù hợp với đối tượng Áp dụng thêm một số phần mềm cho những học sinh cao hơn
+ Học sinh 11, 12 dạy nâng cao , có các phần mềm hướng dẫn học sinh truy cập Internet để tự học, tự tìm tòi
* Mong muốn của giáo viên
- Có một chương trình dạy tin phù hợp (chuẩn) dành cho từng đối tượng học khuyết tật
- Giáo viên được tập huấn chuyên môn
- Có một phương pháp dạy tin hiệu quả
Trang 28- Nếu em nào có năng khiếu về tin, khả năng tiếp thu tin học tốt thì định hướng cho các em đi học tin học ở các trường đào tạo nghề tin, còn không thì chỉ dạy tin để xóa mù tin học
- Với mỗi đối tượng thì chọn một phần mềm
riêng để dạy:
+ Đối với mù hoàn toàn có phần mềm như
NDC, JAW, DUBURY hỗ trợ để dạy
+ Nhìn kém: Dùng Word, powerpoint để dạy như học sinh sáng nhưng tạo các màu tương phản để cho các em dễ nhìn hơn
+ Quá kém: Thì kết hợp cả 2 phương pháp trên, vừa dùng phần mềm và vừa dùng powerpoint
- Những lớp cơ bản dùng phần mềm NDC vì phần mềm có hỗ trợ TV, loa, đánh chữ nào thì đọc chữ đó, ngoài ra có hỗ trợ nghe tai phone
- Học sinh lớn tuổi hơn, có khả năng ngoại ngữ tốt thì dùng phần mềm Jaw
để dạy cho các em học truy cập internet
- Đối tượng khác như khiếm thính thì dạy như học sinh sáng bình thường, nhưng giáo viên phải học thêm các kí hiệu, chậm phát triển thì dạy đơn giản hơn, chậm hơn, chương trình được chia nhỏ ra
- Một lớp dạy tin có thể chứa 1 loại khuyết tật, có lớp thì chứa nhiều dạng khuyết tật khác nhau
- Giáo viên tâm sự: “Khó khăn khi dạy tin cho học sinh khuyết tật là khi dạy một lớp có tất các đối tượng trên Với những lớp dạy như vậy thì phải dạy từng em một, rất mất thời gian và không truyền được hết kiến thức trong bài”
Trang 29- Học tin vào ngày thứ 5 hàng tuần, chia làm hai ca sáng và chiều, ai thích học thì đăng ký chứ không bắt buộc học
- Không có chương trình học cụ thể và
thiếu giáo viên dạy, rất ít khi có giáo viên dạy nên
đa số các em lên học hỏi các bạn đã biết Học
cách sử dụng máy tính, cách vào trang wed tìm
tài liệu
- Các phần mềm hỗ trợ học sinh khiếm thính tiếp xúc với tin học không giúp các em được nhiều và khó dùng VD: Phần mềm NDC vào tìm kiếm tài liệu trên trang web không được, đọc tiếng việt thì không chuẩn còn phần mềm tiếng anh thì tạm được, JAWS hay nhưng với những người học tiếng anh kém thì gặp nhiều khó khăn
- Bên cạnh đó qua tâm sự của em Nam, chúng tôi biết được khó khăn của em khi tiếp cận với tin học
là do phần mềm đọc màn hình bằng tiếng anh, mặt khác các phần mềm tiếng việt thì không lướt web được
- Đa số các em rất thích học tin, vì nhờ tin học các em được biết nhiều thông tin, tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhiều hơn Các em không thấy lạc lõng với mọi người
* Mong muốn của các em: Sau này có phần mềm hỗ trợ học sinh khiếm thính
tiếp xúc với tin học bằng tiếng Việt chuẩn, giúp học sinh khuyết tật có thể lướt web, đọc sách…
Trang 302.2.2 Trường chuyên biệt Tương Lai
2.2.2.1 Giới thiệu chung
Hiệu trưởng nhà trường : Cô Trần Bích Thủy
a Cơ sở vật chất
Gồm 2 cở sở:
+ Cơ sở 1: 22 Trần Đình Trọng, Đà Nẵng (Dạy học sinh chậm phát triển trí tuệ) Có 17 phòng trong đó: có 11 phòng học và 1 phòng đo thính lực cho người khiếm thính với các trang thiết bị hiện đại và kỹ
thuật viên do Ủy ban Hà lan II tài trợ Bên cạnh
đó còn có phòng " Điều hòa các giác quan " dành
cho trẻ tự kỷ với đội ngũ tư vấn viên có nhiều
kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục trẻ tự kỷ
+ Cơ sở 2: 102 Huy Cận, Quận Cẩm Lệ,
Đà Nẵng cơ sở này dạy học sinh khiếm thính Tổng số phòng: 13 trong đó có 09 phòng học; 01 phòng bộ môn; 01 phòng âm nhạc và 02 phòng khác Có sân chơi vườn hoa Giai đoạn 2 sẽ xây dựng khu dạy nghề và các phòng chức năng cho học sinh khuyết tật