Có nhiều nguyên nhân làm cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hà Nội chưa phát triển được trong thời gian qua, một trong những nguyên nhân là người sản xuất trực tiếp sản xuất người nông
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
- -
NGUYỄN THỊ MAI
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH CHẤP NHẬN
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ CỦA NGƯỜI
NÔNG DÂN – NGHIÊN CỨU TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành: Marketing
Mã số: 9340101 LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS.TSKH Lương Xuân Quỳ
2 PGS.TS Phạm Văn Tuấn
Hà Nội - 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi
cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi
phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả
Nguyễn Thị Mai
ii
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian dài học tập và làm việc nghiêm túc, NCS đã hoàn thành luận
án với đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu
cơ của người nông dân – Nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội”
Để hoàn thành luận án này, NCS xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến GS.TSKH Lương Xuân Quỳ và PGS.TS Phạm Văn Tuấn đã hỗ trợ và hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu NCS xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo, thầy cô và các nhà khoa học của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đặc biệt là Ban Giám hiệu, Viện Đào tạo Sau đại học, các thầy/cô giáo Khoa Marketing đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho NCS hoàn thành luận án đúng tiến độ Cuối cùng, NCS xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo cơ quan NCS đang công tác, những người đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh giúp đỡ và động viên để hoàn thành luận án
Do hạn chế về thời gian, nguồn lực và số liệu nên luận án có thể còn những thiếu sót, NCS kính mong tiếp tục nhận được sự đóng góp của các nhà khoa học, thầy
cô giáo và đồng nghiệp để có thể hoàn thiện luận án một cách hoàn chỉnh hơn Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu 4
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4 Cấu trúc của đề tài luận án 6
1.5 Những đóng góp mới của luận án 6
1.5.1 Đóng góp về mặt lý thuyết 6
1.5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 7
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 8
2.1 Nông nghiệp hữu cơ và vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ 8
2.1.1 Nông nghiệp hữu cơ 8
2.1.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ 15
2.1.3 Bản chất kinh tế của sản xuất nông nghiệp hữu cơ và sự chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân 15
2.2 Tổng quan các nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ 17
2.2.1 Tổng quan nghiên cứu về ý định chấp nhận của người nông dân 17
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân 19
2.3 Lý thuyết nghiên cứu về ý định của người nông dân 26
2.3.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of planned behavior – TPB) 26
2.3.2 Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (Norm Activation Model – NAM) 28
2.3.3 Lý thuyết phổ biến đổi mới (Innovation Diffusion Theory – IDT) 29
2.3.4 Lý thuyết động lực bảo vệ (Protection motivation theory - PMT) 30
iv 2.4 Khoảng trống nghiên cứu 32
2.4.1 Các nội dung kế thừa 32
2.4.2 Khoảng trống nghiên cứu 32
2.4.3 Hướng nghiên cứu của đề tài 33
2.5 Căn cứ xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu 33
2.5.1 Kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM) 33
2.5.2 Kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT), lý thuyết động lực bảo vệ (PMT) 35
2.6 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 36
2.6.1 Mô hình nghiên cứu 36
2.6.2 Các giả thuyết nghiên cứu 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43
CHƯƠNG 3: BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
3.1 Bối cảnh nghiên cứu 45
3.1.1 Lúa hữu cơ 45
3.1.2 Rau hữu cơ 47
3.1.3 Cây ăn quả hữu cơ 49
3.1.4 Chè hữu cơ 51
3.1.5 Dược liệu hữu cơ 52
3.1.6 Đánh giá chung 54
3.1.7 Định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới 55
3.2 Phương pháp nghiên cứu 56
3.2.1 Quy trình và phương pháp nghiên cứu 56
3.2.2 Nghiên cứu định tính 58
3.2.3 Nghiên cứu định lượng 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 69
4.1 Kết quả nghiên cứu định tính 69
4.1.1 Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của mô hình NAM 69
4.1.2 Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của lý thuyết IDT và PMT 69
4.1.3 Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của lý thuyết TPB 70
4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 71
4.2.1 Thống kê mẫu nghiên cứu 71
4.2.2 Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 72
Trang 44.2.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) 80
4.2.4 Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 87
4.2.5 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 91
4.3 So sánh mô hình nghiên cứu theo nhóm của các biến kiểm soát bằng phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm 98
4.3.1 Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo giới tính 98
4.3.2 Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo độ tuổi 101
4.3.3 Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo trình độ học vấn 101
4.3.4 Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo kinh nghiệm làm nông nghiệp 102
4.3.5 Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm theo thu nhập hàng năm từ nông nghiệp 103
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 104
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 105
5.2 Một số đề xuất, kiến nghị nhằm thúc đẩy ý định sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân 107
5.2.1 Kiến nghị giải pháp nhằm thay đổi nhận thức của nông dân về giá trị sản xuất nông nghiệp hữu cơ 108
5.2.2 Kiến nghị giải pháp để phát triển nông nghiệp hữu cơ thành công nhằm thay đổi nhận thức về rủi ro của người nông dân về sản xuất nông nghiệp hữu cơ 110
5.2.3 Một số đề xuất, kiến nghị với chính quyền Thành phố Hà Nội 116
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 118
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 118
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 119
5.4 Kết luận 120
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 121
KẾT LUẬN CHUNG CỦA LUẬN ÁN 122
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 123
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 1 PHIẾU KHẢO SÁT 132
PHỤ LỤC 2 MÔ TẢ THỐNG KÊ MẪU NGHIÊN CỨU 136
PHỤ LỤC 3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC ĐA NHÓM THEO GIỚI TÍNH 138
vi DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân 21
Bảng 3.1: Diễn biến sản xuất lúa hữu cơ Hà Nội qua các năm 46
Bảng 3.2: Sản xuất lúa hữu cơ phân theo huyện, thị thành 46
Bảng 3.3: Diễn biến sản xuất rau hữu cơ Hà Nội qua các năm 48
Bảng 3.4: Sản xuất rau hữu cơ phân theo huyện, thị thành 49
Bảng 3.5: Diễn biến sản xuất cây ăn quả hữu cơ Hà Nội qua các năm 49
Bảng 3.6: Sản xuất cây ăn quả hữu cơ phân theo huyện, thị 50
Bảng 3.7: Diễn biến sản xuất chè hữu cơ Hà Nội qua các năm 51
Bảng 3.8: Sản xuất chè hữu cơ phân theo huyện, thị 52
Bảng 3.9: Diễn biến sản xuất cây dược liệu hữu cơ Hà Nội qua các năm 53
Bảng 3.10: Sản xuất cây dược liệu hữu cơ phân theo huyện, thị 54
Bảng 3.11: Diễn biến trồng trọt hữu cơ Hà Nội qua các năm 55
Bảng 3.12 Thông tin về người được phỏng vấn 58
Bảng 3.13 Các thang đo sử dụng trong luận án 59
Bảng 3.14 Thang đo yếu tố xây dựng dựa trên TPB 61
Bảng 3.15 Thang đo yếu tố xây dựng dựa trên NAM 62
Bảng 3.16 Thang đo yếu tố xây dựng dựa trên IDT và PMT 63
Bảng 4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu định lượng 72
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo ý định 73
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo thái độ 73
Bảng 4.4 Hệ số Cronbach’s Alpha thang đo thái độ sau khi loại biến AT5 74
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo chuẩn chủ quan 74
Bảng 4.6 Kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo cảm nhận khả năng kiểm soát 75
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo cảm nhận khả năng kiểm soát sau khi loại biến PBC6 75
Bảng 4.8 Kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo cảm nhận khả năng kiểm soát 76
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo nhận thức về kết quả sau khi loại biến AC4 76
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo gán cho trách nhiệm 77
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo chuẩn mực cá nhân 77
Bảng 4.12 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo lợi thế hành vi so sánh 78
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo nhận thức về rủi ro 78
Trang 5vii
Bảng 4.14 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo nhận thức về rủi ro sau khi
loại biến FPR1 79
Bảng 4.15 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo chính sách hỗ trợ của Chính phủ 80
Bảng 4.16 Kiểm định KMO and Bartlett 80
Bảng 4.17 Tổng phương sai giải thích các yếu tố (Total Variance Explained) 82
Bảng 4.18 Ma trận xoay các yếu tố 83
Bảng 4.19 Thang đo hoàn chỉnh để đo lường ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ 84
Bảng 4.20 Bảng trọng số chưa chuẩn hóa và đã chuẩn hóa 88
Bảng 4.21 Độ tin cậy tổng hợp và tổng phương sai rút trích các yếu tố 90
Bảng 4.22 So sánh giữa các mô hình 94
Bảng 4.23 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 95
Bảng 4.24 Trọng số hồi quy chuẩn hóa 95
Bảng 4.25 Sự khác biệt giữa hai mô hình khả biến và bất biến theo giới tính 98
Bảng 4.26 Sự khác biệt giữa hai mô hình khả biến và bất biến theo độ tuổi 101
Bảng 4.27 So sánh hai mô hình khả biến và bất biến theo trình độ học vấn 102
Bảng 4.28 Sự khác biệt giữa hai mô hình khả biến và bất biến theo kinh nghiệm làm nông nghiệp 102
Bảng 4.29 Sự khác biệt giữa hai mô hình khả biến và bất biến theo thu nhập hàng năm từ nông nghiệp 103
viii DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Chu trình khép kín của nông hộ sản xuất nông nghiệp hữu cơ 11
Hình 2.2 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) 27
Hình 2.3 Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM) 28
Hình 2.4 Lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT) 29
Hình 2.5 Lý thuyết động lực bảo vệ (PMT) 31
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu kết hợp TPB và NAM 34
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu kết hợp TPB – IDT – PMT 35
Hình 2.8 Kết hợp các lý thuyết trong nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ 36
Hình 2.9 Mô hình nghiên cứu đề xuất 37
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 56
Hình 4.1 Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA) – dạng chuẩn hóa 87
Hình 4.2 Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) – mô hình 1 91
Hình 4.3 Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) – mô hình 2 92
Hình 4.4 Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) – mô hình 3 93
Hình 4.5 Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) – mô hình 4 (mô hình nghiên cứu của tác giả) 94
Hình 4.6 Mô hình khả biến chuẩn hóa trong phân tích đa nhóm theo giới tính 99
Hình 4.7 Mô hình bất biến chuẩn hóa trong phân tích đa nhóm theo giới tính 100
Trang 6CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất nông nghiệp thâm canh đã tạo
ra một khối lượng lương thực thực phẩm rất lớn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên
của hơn sáu tỷ người trên hành tinh này Lợi thế năng suất cao của nông nghiệp thâm
canh đã và đang đưa phương thức này phát triển lên đến đỉnh cao của nó Trong đó, sự
đóng góp của khoa học công nghệ được ghi nhận như là yếu tố quyết định cho nông
nghiệp thâm canh tồn tại và phát triển Thế nhưng, việc sử dụng nhiều loại phân bón
hóa học và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp thâm canh (Pimentel và cộng sự,
2005; Carvalho, 2006), dẫn đến vô số thách thức như suy giảm sức khỏe con người,
đặc biệt là sinh sản và hệ thống thần kinh trung ương (Von Duszeln, 1991; Singh,
2000; Bretveld và cộng sự, 2006) Sự phụ thuộc của nông nghiệp thâm canh về phân
bón hóa học tổng hợp và thuốc trừ sâu đã nổi lên như một yếu tố chính, ảnh hưởng đến
sức khỏe cộng đồng và môi trường (Pimentel và cộng sự, 2005) Hơn nữa, trước đây,
các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng quá mức các hóa chất đã làm suy giảm sức
khỏe của đất và các điều kiện môi trường (Taylor và cộng sự, 2003; Arias-Estévez và
cộng sự, 2008; Fenner và cộng sự, 2013)
Chính vì vậy, canh tác hữu cơ đã xuất hiện và được coi là hệ thống nông nghiệp
thân thiện với môi trường khi tránh sử dụng hóa chất tổng hợp và phân bón
(Venkataraman và Shanmugasundaram, 1992; Roitner Schobesberger và cộng sự,
2008; Mahdi và cộng sự, 2010; Suthar, 2010) Canh tác hữu cơ gắn chặt với hệ thống
sản xuất nông nghiệp bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội (Padel, 2001) Canh
tác hữu cơ ít tác động bất lợi đến môi trường hơn so với canh tác thông thường, vốn
dựa vào về các yếu tố đầu vào bên ngoài ở một mức độ lớn hơn (Gomiero và cộng sự,
2008) Canh tác hữu cơ còn giúp giảm thiệt hại chung cho môi trường (Pimentel và
cộng sự, 2005; Carvalho, 2006) và cải thiện sức khỏe cộng đồng Do đó, khi người
nông dân có ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ, các vấn đề bất lợi cho môi
trường do nông nghiệp thông thường gây ra có cơ hội được giải quyết
Thực tế cho thấy, nông nghiệp hữu cơ ra đời và càng ngày càng phát triển vì:
thứ nhất, giải quyết được mâu thuẫn giữa sản xuất nông nghiệp thâm canh và vấn đề
môi trường, vì nông nghiệp hữu cơ đã làm tăng việc sử dụng nguồn giống cây con tự
nhiên, làm tăng tính đa dạng của xuất nông nghiệp, làm giảm ô nhiễm đất, nước và sản
phẩm nông nghiệp do không sử dụng phân vô cơ dễ tan, thuốc bảo vệ thực vật cho cây
trồng, thức ăn chứa nhiều chất kích thích sinh trưởng trong chăn nuôi ; thứ hai, nông
2
nghiệp hữu cơ đảm bảo, duy trì và gia tăng độ màu mỡ lâu dài cho đất, củng cố các chu kỳ sinh học trong nông trại, đặc biệt là các chu trình dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứu chữa, đa dạng các vụ mùa và các loại vật nuôi,
phù hợp với điều kiện địa phương; thứ ba, giải quyết được nhu cầu của con người, đó
là nhu cầu ăn sạch, ở sạch và môi trường sạch và đẹp, lương thực thực phẩm sạch là những sản phẩm đó chứa các chất dinh dưỡng với hàm lượng như trong tự nhiên vốn
có của nó
Trong những năm gần đây, biến đổi môi trường và khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp đang trở thành chủ đề được xã hội quan tâm Người tiêu dùng chuyển dần sang sử dụng thực phẩm an toàn, thực phẩm hữu cơ đã dẫn đến sự gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm thực phẩm hữu cơ (Murphy, 2006; Schifferstein và Oude Ophuis, 1998) Sản xuất thực phẩm hữu cơ toàn cầu cũng cho thấy sự tăng trưởng đáng kể, do
đó, thị trường toàn cầu cho các sản phẩm hữu cơ đã tăng trưởng đều đặn không chỉ ở châu Âu và Bắc Mỹ mà ở các nước châu Á cũng vậy (Baker, 2004, Gifford và Bernard, 2005; Setboonsarng và cộng sự, 2006) Vì vậy nông nghiệp hữu cơ ra đời và càng ngày càng phát triển là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển của thế giới tự nhiên và xã hội loài người
Việt Nam có lịch sử sản xuất nông nghiệp và phương thức canh tác hữu cơ từ lâu đời Trước năm 1980, nông dân chủ yếu sử dụng các giống cây trồng bản địa, giống cổ truyền với năng suất thấp, nhu cầu sử dụng phân bón thấp, chủ yếu hấp thu từ phân bón hữu cơ, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt nên rất ít phải sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật đặc biệt là thuốc hoá học Sản xuất nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang từng bước phát triển, diện tích sản xuất hữu cơ tăng nhanh qua các năm, năm 2015 đạt hơn 76 nghìn ha, tăng trên 3,6 lần so với năm 2010, năm 2018 diện tích gieo trồng hữu
cơ đã đạt 3,2 ngàn ha lúa, 2 ngàn ha rau, 2,8 ngàn ha chè, 4,7 ngàn ha cây ăn quả, 2,1 ngàn ha điều, 135 ngàn ha nuôi trồng thủy sản… tập trung tại 40 tỉnh, thành phố trên
cả nước, sản phẩm hữu cơ được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đến các thị trường Nhật, Đức, Anh, Mỹ, Hàn Quốc, Nga, Singapore, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Italia (Tổng cục thống kê, 2019)
Thành phố Hà Nội với diện tích là hơn 3.300 km2, với dân số khoảng gần 10 triệu người Mặc dù là Thủ đô nhưng có hơn 50% là diện tích là nông nghiệp và khoảng 50% dân số sống ở khu vực nông thôn, gần 40% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Toàn thành phố, có 17 huyện, 1 thị xã, 6 quận còn sản xuất nông nghiệp Trong phát triển kinh tế, nông nghiệp Hà Nội tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng có vị trí
Trang 7quan trọng trong việc cung cấp nông sản đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú và ngày
càng tăng của người dân Thủ đô
Với mục tiêu xây dựng ngành nông nghiệp Thành phố có cơ cấu hợp lý, chất
lượng, hiệu quả, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phát huy được lợi thế so sánh;
phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ Thành phố đã
tích cực triển khai và thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng
cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội thì diện
tích sản xuất nông nghiệp hữu có mới chỉ đạt 0,3% diện tích canh tác, mặc dù có
tăng qua các năm, những tỷ trọng này là rất thấp, một số mô hình sản xuất nông
nghiệp hữu cơ trên địa bàn đã thành công những chưa được nhân rộng Trong khi
đó, Hà Nội là thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm nông nghiêp hữu cơ với dân số nội
thành hơn 4 triệu người, trong đó có tới gần 40% là tầng lớp trung lưu và hàng trăm
nghìn người nước ngoài đang sinh sống, học tập và làm việc, cùng hàng triệu khách
du lịch nước ngoài là thị trường lớn và rất tiềm năng để tiêu thụ các sản phẩm nông
nghiệp có chất lượng cao, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp hữu cơ Mặc dù Hà Nội
là một trong những địa phương quan tâm phát triển nông nghiệp hữu cơ, với diện
tích canh tác hữu cơ khoảng 80-100 ha tập trung chủ yếu ở các huyện Sóc Sơn, Đan
Phượng, Thạch Thất Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng sản phẩm nông nghiệp hữu
cơ tiêu thụ trên thị trường còn rất chế, ít về chủng loại, số lượng và không rõ nguồn
gốc, xuất xứ Quy mô sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Hà Nội còn đơn lẻ, manh
mún, quy mô nhỏ, chưa có vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn Sản xuất nông
nghiệp hữu cơ cũng đã được phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng
Có nhiều nguyên nhân làm cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hà Nội chưa
phát triển được trong thời gian qua, một trong những nguyên nhân là người sản xuất
trực tiếp sản xuất (người nông dân) chưa sẵn sàng để chấp nhận, chưa hào hứng để sản
xuất nông nghiệp hữu cơ do lo ngại nhiều vấn đề từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
nông nghiệp hữu cơ: quy trình, thời gian, sản xuất, tiêu thụ, giá cả… Chính vì vậy, tác
giả quyết định lựa chọn vấn đề “Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định chấp nhận sản xuất
nông nghiệp hữu cơ của người nông dân – nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội” làm đề
tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Marketing
- Đề xuất, kiến nghị cho cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, người tiêu dùng nhằm thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân trên địa bàn Hà Nội
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, luận án sẽ hướng đến tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: có những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định chấp
nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân? Những yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân trên địa bàn Hà Nội
- Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: những giải pháp và kiến nghị nào cần thực hiện để
thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân?
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân Người nông dân ở đây là người đại diện hộ nông dân đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp
Trong hai lĩnh vực chính của nông nghiệp hữu cơ là trồng trọt và chăn nuôi thì tác giả tập trung vào đối tượng nghiên cứu là trồng trọt
Trang 81.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp
hữu cơ của người nông dân; đề xuất các kiến nghị nhằm thúc đẩy người nông
dân chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ, từ đó phát triển nông nghiệp hữu
cơ trên địa bàn Hà Nội
- Về không gian nghiên cứu: nghiên cứu tập trung tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng
đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân đang
thực hiện canh tác thông thường ở Hà Nội Tuy nhiên, do sự giới hạn về nguồn
lực, tác giả không thể nghiên cứu toàn bộ người nông dân ở Hà Nội nên đã lựa
chọn điều tra nông dân tại một số khu vực như Sóc Sơn, Đan Phượng và Thạch
Thất là khu vực chiếm diện tích tương đối lớn trong sản xuất nông nghiệp hữu
cơ của Hà Nội; riêng Thạch Thất có trang trại Hoa Viên sản xuất nông nghiệp
hữu cơ với diện tích gần 10 ha, số còn lại nằm rải rác ở Sóc Sơn, Đan
Phượng, Sự đa dạng về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm
nông nghiệp và thu nhập hàng năm từ nông nghiệp là tiêu chí được tác giả quan
tâm khi tiến hành khảo sát để có thể xác định mối quan hệ giữa các biến nhân
khẩu học này với ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ
- Về thời gian nghiên cứu: đối với số liệu thứ cấp (1) về lý thuyết, tác giả thu thập
từ các nghiên cứu đã thực hiện có liên quan đến đề tài từ trước cho đến nay, (2)
về thực tiễn, tác giả tìm hiểu về sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam nói
chung và Hà Nội nói riêng trong giai đoạn 2015 - 2020; đối với số liệu sơ cấp,
tác giả thu thập từ phỏng vấn sâu một số chuyên gia và một số nông dân cũng
như tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi người nông dân đang thực hiện canh tác
thông thường ở một số khu vực ở Hà Nội trong năm 2019; từ đó tác giả đưa ra
một số đề xuất, kiến nghị cho cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy ý định
chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp: số liệu thứ cấp được thu thập từ
các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài được phân tích, so sánh và
tổng hợp để hình thành khung lý thuyết, mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
- Phương pháp định tính – phỏng vấn sâu: kiểm tra mức độ phù hợp của từng yếu
tố và các quan sát sử dụng trong nghiên cứu; từ đó rút ra các nhóm yếu tố phù
hợp với điều kiện môi trường nghiên cứu
- Phương pháp định lượng – điều tra bảng hỏi: đo lường ảnh hưởng của các yếu
tố tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân thông
6
qua việc kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu bằng việc sử dụng các
kỹ thuật của phần mềm SPSS và AMOS
1.4 Cấu trúc của đề tài luận án
Luận án được cấu trúc thành 5 chương:
Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài luận án Chương 2 Tổng quan nghiên cứu Chương này trình bày kết quả của tổng
quan nghiên cứu, từ cơ sở lý thuyết tới rà soát các công trình nghiên cứu có liên quan làm lựa chọn và điều chỉnh mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chương 3 Bối cảnh và phương pháp nghiên cứu Chương này giới thiệu về
bối cảnh nghiên cứu – liên quan tới thực trạng và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại Hà Nội; phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng để phát hiện vấn
đề mới và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu,
kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới
ý định sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nông dân Việt Nam
Chương 5 Kết luận và kiến nghị Chương này tổng hợp lại kết quả nghiên cứu để
đưa ra các kết luận về giả thuyết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của kết quả nghiên cứu; đề xuất kiến nghị
1.5 Những đóng góp mới của luận án
1.5.1 Đóng góp về mặt lý thuyết
- Luận án đã áp dụng mô hình tích hợp với hai cách tiếp cận: (i) Cách tiếp cận hợp lý dựa trên một số lý thuyết nghiên cứu về hành vi (lý thuyết hành vi có kế hoạch - TPB, lý thuyết phổ biến đổi mới - IDT, lý thuyết động lực bảo vệ - PMT); (ii) Cách tiếp cận đạo đức (mô hình kích hoạt tiêu chuẩn – NAM) trong nghiên cứu ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân Việt nam Kết quả chỉ ra rằng trong các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ thì lợi thế hành vi so sánh có ảnh hưởng mạnh nhất và không có sự khác biệt đáng kể về mức
độ ảnh hưởng của các yếu tố như thái độ, chuẩn chủ quan, cảm nhận khả năng kiểm soát, chuẩn mực cá nhân, chính sách hỗ trợ của Chính phủ
- Mô hình nghiên cứu của luận án gồm 10 thang đo và 50 quan sát để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người
Trang 9nông dân phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đặc biệt khi nghiên cứu ở địa bàn Hà
Nội
1.5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mức độ ảnh hưởng của
từng yếu tố đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
trên địa bàn Hà Nội là khác nhau Trong đó, yếu tố “lợi thế hành vi so sánh của người
nông dân” có ảnh hưởng lớn nhất tới ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Khi lợi ích kinh tế được đảm bảo, người nông dân sẽ chấp nhận chuyển đổi từ canh tác
thông thường sang phương thức canh tác hữu cơ
Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước cần có những tác động, thay đổi nhận thức
của người nông dân về sản xuất nông nghiệp hữu cơ, khi nhận biết được về sự khác
biệt và có kiến thức về sản xuất nông nghiệp hữu cơ, người nông dân sẽ tự tin để thực
hiện canh tác hữu cơ, kiểm soát năng suất với nông nghiệp hữu cơ, từ đó thúc đẩy ý
định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Thứ ba, dưới giác độ marketing, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị tác
động đến chính sách giá cả và kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp hữu cơ nhằm tạo
điều kiện thuận lợi khuyến khích sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên cơ sở đảm bảo ưu
tiên so với sản xuất nông nghiệp thông thường
Nguyễn Thế Đặng và cộng sự (2012) đưa ra quan niệm: “Nông nghiệp hữu cơ
là một phương thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở sử dụng các chu trình sinh học có trong tự nhiên Nói một cách khác, phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ
là một phương thức sản xuất mà trong đó các quá trình sản xuất đều theo quy luật sinh học tự nhiên vốn có”
Katić và cộng sự (2010) cho rằng nông nghiệp hữu cơ như một hình thức sản xuất nông nghiệp đặc biệt, là nền tảng cho sản xuất nông nghiệp bền vững Đó là một hình thức sản xuất đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của nguyên tắc bảo vệ bền vững môi trường Còn theo Kilcher (2006) và Henning và cộng sự (1991), nông nghiệp hữu cơ là nền nông nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào hoàn toàn là hữu cơ, cũng đồng nghĩa với nông nghiệp bền vững Lampkin (1994) lại định nghĩa nông nghiệp hữu cơ là nông nghiệp mà tạo ra các hệ thống sản xuất tích hợp, nhân văn, bền vững về môi trường và kinh tế
Liên đoàn phong trào Nông nghiệp hữu cơ Quốc tế (International Federation of Organic Agriculture Movement – IFOAM) đã trình bày định nghĩa sau: Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất duy trì sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người
Nó phụ thuộc vào các quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và các chu kỳ thích nghi với điều kiện địa phương, thay vì sử dụng các yếu tố đầu vào có tác dụng phụ Nông nghiệp hữu cơ là hình thức nông nghiệp tránh hoặc loại bỏ việc sử dụng phân bón hóa học tổng hợp, thuốc trừ sâu, các chất điều tiết tăng trưởng cây trồng và các chất phụ gia trong thức ăn gia súc nhằm giảm thiểu ô nhiễm, đảm bảo sức khỏe con người và tạo ra nông sản sạch
Mặc dù các định nghĩa đưa ra là khác nhau, nhưng tất cả đều cho rằng canh tác hữu cơ là một hệ thống sản xuất thân thiện với môi trường và một phương pháp nông nghiệp bền vững (Scofield 1986; Bowler 1992)
Parrott và cộng sự (2006) đã xác định hai loại hình canh tác hữu cơ ở các quốc gia đang phát triển: canh tác hữu cơ được chứng nhận chính thức và canh tác hữu cơ không chính thức Loại đầu tiên có xu hướng tập trung vào xuất khẩu các sản phẩm hữu cơ, trong khi loại thứ hai liên quan đến các hoạt động quy mô nhỏ để cải thiện
Trang 10sinh kế của từng nông dân (Goldberger, 2008) Bởi vì hệ thống chứng nhận là cần thiết
để tiếp cận thị trường quốc tế nhưng điều quan trọng là phát triển thị trường nội địa
cho cây trồng được sản xuất thông qua canh tác hữu cơ không chính thức (Parrott và
cộng sự, 2006)
Nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng nông nghiệp hữu cơ có những đặc điểm riêng
biệt sau (Haccius, 1996):
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp theo đường hướng của hệ thống sinh thái Con
người, đất đai, cây trồng và vật nuôi là các mặt trong một thể thống nhất, nó như
là một thể hữu cơ
- Ý tưởng cơ bản của nông nghiệp hữu cơ là hoạt động kinh tế phải hài hòa với
thiên nhiên Vì nếu các hoạt động ấy nằm chệch hướng vận động của các quy
luật tự nhiên thì sẽ tạo ra những hệ quả xấu và tất yếu phát triển sẽ không theo
chiều bền vững
- Sản xuất sẽ phát triển tốt trên cơ sở sử dụng và tăng cường độ phì nhiêu tự
nhiên của đất cũng như làm tăng sức đề kháng của cây trồng và vật nuôi đối với
sâu bệnh
- Chăn nuôi là một hợp phần thích ứng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ
- Hệ thống canh tác không bị ảnh hưởng của việc sử dụng các nguyên liệu lạ
ngoài nông trại như phân vô cơ dễ tan và thuốc hóa học bảo vệ thực vật
2.1.1.2 Cơ sở khoa học của sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Cơ sở khoa học của phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ là đưa quá trình
sản xuất theo chu trình sinh học tự nhiên, trong đó các yếu tố tự nhiên sẵn có được sử
dụng tối đa, các yếu tố nhân tạo (phân bón vô cơ dễ tan, thuốc hóa học bảo vệ thực vật,
chất kích thích sinh trưởng có nguồn gốc vô cơ, thức ăn chăn nuôi giàu chất kích
thích ) được loại bỏ
Trong nông nghiệp hữu cơ, mối quan hệ giữa con người, đất đai, cây trồng và
vật nuôi được khai thác tối đa Đây là mối quan hệ hữu cơ và nhân quả, vì vậy mỗi
một đối tượng đều được tôn trọng và phát huy hết tiềm năng tự nhiên sẵn có của nó
Nguyên tắc cơ bản của canh tác hữu cơ được liệt kê dưới đây (IFOAM, 1992):
- Sản xuất thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao, đủ số lượng
- Phối hợp một cách xây dựng và theo hướng củng cố cuộc sống giữa tất cả các
chu kỳ và hệ thống tự nhiên
10
- Khuyến khích và thúc đẩy chu trình sinh học trong hệ thống canh tác, bao gồm
vi sinh vật, quần thể động thực vật trong đất, cây trồng và vật nuôi
- Duy trì và tăng độ phì nhiêu của đất trồng về mặt dài hạn
- Sử dụng càng nhiều càng tốt các nguồn tái sinh trong hệ thống nông nghiệp có
- Cho phép người sản xuất nông nghiệp có một cuộc sống theo Công ước Nhân quyền của Liên hiệp quốc, trang trải được những nhu cầu cơ bản của họ, có được một khoản thu nhập thích đáng và sự hài lòng từ công việc của họ, bao gồm cả môi trường làm việc an toàn
- Quan tâm đến tác động sinh thái và xã hội rộng hơn của hệ thống canh tác hữu cơ
Để minh họa thêm cho nguyên tắc trên, Neuerburg và Padel (1992) đã đưa ra chu trình khép kín trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ (hình 2.1)
Trang 1111
Hình 2.1 Chu trình khép kín của nông hộ sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Nguồn: Neuerburg và Padel (1992)
Năm 2005, hội nghị thường niên của IFOAM tổ chức tại Adelaide - Úc đã thống
nhất một định nghĩa chung về nông nghiệp hữu cơ và xây dựng 4 nguyên tắc, gồm sức
khoẻ, sinh thái, công bằng và cẩn trọng định hướng cho sản xuất và xây dựng các tiêu
chuẩn nông nghiệp hữu cơ trên toàn thế giới IFOAM xây dựng các nguyên tắc làm
căn cứ để xây dựng và phát triển nông nghiệp hữu cơ trên toàn thế giới Các nguyên
tắc này cũng cho thấy những gì mà nông nghiệp hữu cơ sẽ đóng góp cho thế giới, kết
hợp với các nguyên tắc mang tính đạo đức, các nguyên tắc này sẽ như kim chỉ nam
hướng dẫn cho việc xây dựng tiêu chuẩn và các chương trình phát triển nông nghiệp
hữu cơ phù hợp với mỗi quốc gia trên toàn thế giới Nông nghiệp hữu cơ có 4 nguyên
tắc như sau:
Nguyên tắc về sức khoẻ (Health)
Nông nghiệp hữu cơ cần đảm bảo và tăng cường sức khoẻ của đất, của cây trồng,
động vật, con người và cả hành tinh như một thể thống nhất không thể tách rời
Nguyên tắc này chỉ rõ rằng sức khoẻ của mỗi cá thể và quần thể không thể tách rời
khỏi sức khoẻ của hệ sinh thái Đất "khoẻ" tạo ra cây trồng khỏe, để nuôi dưỡng sức
khoẻ của vật nuôi và con người Vai trò của nông nghiệp hữu cơ dù là trong nuôi
trồng, chế biến, tiêu thụ hay tiêu dùng thì đều cần đảm bảo duy trì và tăng cường sức
khoẻ của hệ sinh thái và các sinh vật sống từ nhỏ nhất ở trong đất đến con người Đặc
biệt, nông nghiệp hữu cơ tập trung sản xuất các loại lương thực thực phẩm có chất
Nguồn thức ăn chăn nuôi
từ nông hộ
Phân hữu cơ từ chăn nuôi của nông hộ Nông hộ
Từ hợp phần CN và cây thức ăn gia súc
12
lượng cao, giầu dinh dưỡng để cung cấp và bảo vệ sức khoẻ của con người Trên cơ sở nguyên tắc này, nông nghiệp hữu cơ phải tránh sử dụng các loại phân hoá học tổng hợp, thuốc trừ sâu bệnh, thuốc kháng sinh và các chất kích thích - các nguyên liệu đó
sẽ có ảnh hưởng đối nghịch về sức khoẻ
Nguyên tắc về sinh thái (Ecology)
Nông nghiệp hữu cơ dựa vào hệ sinh thái sống động và chu trình tự nhiên Các thành phần trong hệ sinh thái làm việc cùng nhau, cạnh tranh nhau và cùng nhau duy trì cuộc sống Nguyên tắc này gắn nông nghiệp hữu cơ sâu vào trong hệ sinh thái năng động Nó cho thấy sản xuất phải được dựa vào các tiến trình của sinh thái và sự tái sinh Để có được thức ăn và sức khỏe tốt phải thông qua sinh thái của môi trường sản xuất cụ thể Ví dụ như đối với cây trồng thì cần có một môi trường đất sống động, đối với động vật nuôi cần có hệ sinh thái trang trại, đối với cá và các sinh vật biển là môi trường nước
Các hệ thống canh tác hữu cơ, đồng cỏ chăn thả và thu hái tự nhiên cần phù hợp với các chu trình sinh thái và sự cân bằng trong tự nhiên Quá trình quản lý phải phù hợp với quy mô, với văn hóa với sinh thái và các điều kiện địa phương Giảm thiểu đầu vào bằng cách tái sử dụng, tái chế và quản lý hiệu quả nguồn năng lượng và vật liệu đầu vào để duy trì và cải thiện chất lượng môi trường và bảo tồn các nguồn lực Trong nông nghiệp hữu cơ, để có được sự cân bằng sinh thái cần phải thiết kế các
hệ thống trang trại, thiết lập môi trường sống cho các sinh vật và duy trì tính đa dạng sinh học Bất kỳ ai sản xuất, chế biến, thương mại hay tiêu dùng các sản phẩm hữu cơ cần bảo vệ môi trường sống, cảnh quan chung và sẽ được hưởng lợi từ chính nó
Nguyên tắc về sự công bằng (Fair)
Nông nghiệp hữu cơ cần xây dựng trên mối quan hệ đảm bảo tính công bằng cùng mối quan tâm đến môi trường chung và cơ hội sống cho tất cả các sinh vật Sự công bằng được hiểu như cách ứng xử sự hợp tình hợp lý, sự tôn trọng, và tận tình không mỗi đối với con người và cả với những mối quan hệ với các đời sống khác ở xung quanh Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng tất cả những gì có liên quan đến nông nghiệp hữu cơ cần đối xử trong mối quan hệ như con người đảm bảo công bằng tới tất
cả các tầng lớp và các bên liên quan: nông dân - công nhân - trí thức - nhà phân phối - thương nhân và người tiêu dùng Nó cũng bao hàm rằng các vật nuôi hữu cơ cần được tôn trọng và được cung cấp những cơ hội và điều kiện sống theo bản năng, tập tính tự nhiên và được hưởng phúc lợi
Trang 1213
Công bằng còn được thể hiện trong cách sử dụng và quản lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên không chỉ đảm bảo tính sinh thái mà còn chú trọng đến tính xã hội,
sự tin tưởng đối với các thế hệ tương lai Sự công bằng này đòi hỏi các hệ thống sản
xuất, phân phối và thương mại cần cởi mở và tính toán đến các chi phí thực tế công
bằng cho môi trường và xã hội
Nguyên tắc về sự cẩn trọng (Care)
Nông nghiệp hữu cơ cần được quản lý theo cách phòng ngừa và có trách nhiệm
để bảo vệ môi trường, sức khỏe và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai Lựa
chọn cách quản lý, phát triển và áp dụng công nghệ trong nông nghiệp hữu cơ cần
được chú ý để ngăn ngừa những khả năng rủi ro trước khi áp dụng Nông nghiệp hữu
cơ không chấp nhận sử dụng những công nghệ không thể dự đoán được những hậu quả
của nó như công nghệ gen chẳng hạn Người làm nông nghiệp hữu cơ có thể cố gắng
tìm cách tăng năng suất và hiệu quả sản xuất, nhưng không được gây ra các nguy cơ có
hại cho sức khoẻ và đời sống muôn loài Do đó, các công nghệ mới khi áp dụng cần
được đánh giá và cân nhắc các phương pháp hiện tại đang sử dụng Những hiểu biết
chưa đầy đủ về nông nghiệp và sinh thái khi được đưa vào áp dụng cần phải được cân
nhắc cẩn thận
Nguyên tắc này nhắm tới sự thận trọng và có trách nhiệm như là chìa khoá trong
quản lý, khi lựa chọn công nghệ áp dụng trong nông nghiệp hữu cơ Khoa học là cần
thiết để đảm bảo sản phẩm nông nghiệp hữu cơ là lành, là an toàn và không gây hại
cho môi trường sinh thái Tuy nhiên, mỗi kiến thức khoa học thôi chưa đủ, kinh
nghiệm thực tiễn, kiến thức bản địa, và phương pháp truyền thống cùng các kỹ năng
được tích lũy sẽ mang đến các giải pháp giá trị đã được kiểm chứng qua thời gian của
công nghệ sản xuất nông nghiệp hữu cơ
2.1.1.3 Những ưu điểm và hạn chế của sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Nông nghiệp hữu cơ có những ưu điểm cơ bản sau:
- Sản xuất của nông nghiệp hữu cơ không gây ô nhiễm môi trường đất, nước và
không khí vì nông nghiệp hữu cơ không sử dụng phân bón hóa học như đạm,
kali, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng nên sẽ không còn tàn
dư từ các chất này tích đọng lại và do đó không gây ô nhiễm môi trường
- Sản phẩm của nông nghiệp hữu cơ an toàn Vì được sản xuất trong điều kiện
gần với tự nhiên nên cây trồng, vật nuôi phát triển theo quy luật tự nhiên vốn có
của nó, chính vì vậy mà sản phẩm tạo ra sẽ hoàn toàn theo đúng bản chất tự
- Bên cạnh tác động tích cực đến môi trường, nông nghiệp hữu cơ còn có các chức năng như tạo việc làm, tạo thu nhập, phát triển công nghệ mới pha trộn kiến thức bản địa (Scialabba, 2000) và xây dựng mạng lưới (Hamilton và Fischer, 2003; Wu và Pretty, 2004) Tính đa chức năng của nông nghiệp hữu cơ mang lại lợi thế trong phát triển nông thôn (Darnhofer 2005)
- Nông nghiệp hữu cơ không chỉ đơn thuần là nền nông nghiệp không có chất hóa học, mà nó còn hội tụ đầy đủ các khía cạnh sinh thái, xã hội và kinh tế bền vững Vì vậy nó là một dạng bền vững của nông nghiệp Điều đó có nghĩa rằng, nông nghiệp hữu cơ là phương thức duy trì sự cân bằng sinh thái trong hệ thống canh tác và sử dụng nguồn tài nguyên vốn có theo cách bền vững với một sự chú ý đặc biệt về khía cạnh kinh tế - xã hội của sản xuất Tái tạo chu trình dinh dưỡng, sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên sẵn có, đa dạng hóa là khía cạnh sinh thái quan trọng của nông nghiệp hữu cơ Các mặt của kinh tế - xã hội như an toàn lương thực, thương mại công bằng, tăng cường nguồn lực… cũng là khía cạnh rất quan trọng của nông nghiệp hữu cơ
Tuy nhiên, nông nghiệp hữu cơ cũng có những hạn chế sau:
- Năng suất cây, con giảm hơn so với nông nghiệp thâm canh Khi bắt đầu chuyển từ nông nghiệp thâm canh sang nông nghiệp hữu cơ thường làm giảm năng suất từ 20 - 30% Mặc dù, sau vài năm năng suất từ nông nghiệp hữu cơ sẽ tăng lên, nhưng cũng không thể cao bằng nông nghiệp thâm canh
- Trong trồng trọt, nông nghiệp hữu cơ phụ thuộc lớn vào đất và thời tiết khí hậu
Cơ sở sinh dưỡng của cây trồng trong nông nghiệp hữu cơ là đất, vì vậy độ phì đất sẽ quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm Mặt khác, vì nông nghiệp hữu cơ là gần với tự nhiên, vì thế sự thay đổi khí hậu không theo quy luật sẽ làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến cây trồng
- Nông nghiệp hữu cơ không triệt để trong phòng chống sâu bệnh, dịch bệnh vì nông nghiệp hữu cơ chủ yếu là phòng sâu bệnh, dịch bệnh, chứ ít khi trị nên có thể có một số bệnh không thể loại trừ được
Trang 1315
- Mẫu mã một số sản phẩm từ nông nghiệp hữu cơ có thể không đẹp như của
nông nghiệp thâm canh
2.1.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Sản xuất nông nghiệp đã phải chịu những thách thức kinh tế nghiêm trọng như
sản lượng nông nghiệp giảm sút, giá cả và chi phí đầu vào nông nghiệp gia tăng khiến
nông dân đã tìm kiếm những cách mới để tăng năng suất Sản xuất nông nghiệp hữu cơ
là một công cụ quan trọng để đạt được năng suất xanh và giảm các tác động tiêu cực
của canh tác thông thường Với việc loại bỏ hóa chất tổng hợp đầu vào trong quá trình
sản xuất, ô nhiễm không khí giảm, tái sử dụng chất thải và đa dạng sinh học được cải
thiện, và năng suất của đất được tăng cường (Asadollahpour và cộng sự, 2014)
Canh tác hữu cơ cung cấp sự thay thế trong sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển môi trường bền vững, cải thiện phúc lợi động vật, an toàn thực phẩm và chất
lượng, tăng thu nhập nông thôn và giảm đói nghèo Các nước phát triển và đang phát
triển đã chứng kiến nỗ lực thúc đẩy phát triển canh tác hữu cơ Tổng diện tích hữu cơ
đất nông nghiệp đã tăng từ 11 triệu ha năm 1999 lên 43,1 triệu ha vào năm 2013 trên
toàn thế giới (Willer và Lernoud, 2015)
Ullah và cộng sự (2015) khẳng định rằng áp dụng canh tác hữu cơ không chỉ để
tăng thu nhập cho nông dân mà còn để bảo vệ ô nhiễm môi trường bằng cách tránh các
hóa chất và phân bón độc hại và đề nghị chính phủ, các cơ quan, tổ chức khuyến nông
và tổ chức nghiên cứu nên đóng một vai trò quan trọng để tăng cường nhận thức và lợi
thế của canh tác hữu cơ cho nông dân
2.1.3 Bản chất kinh tế của sản xuất nông nghiệp hữu cơ và sự chấp nhận sản
xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
2.1.3.1 Người nông dân, hộ nông dân và đặc điểm của hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát
triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn
chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân Hộ nông dân là những hộ
chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và
hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó
phân biệt các hoạt động có liên quan với nông nghiệp và không có liên quan với nông
nghiệp Cho đến gần đây có một khái niệm rộng hơn là hộ nông thôn, tuy vậy giới hạn
giữa nông thôn và thành thị cũng là một vấn đề còn tranh luận
16
Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: “Hộ nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao” (Frank, 1988)
Hộ nông dân có những đặc điểm:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất thể hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp,
tự túc Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau
Người nông dân trong luận án là những người nông dân đại diện cho các hộ nông dân đang thực hiện canh tác thông thường ở lĩnh vực trồng trọt
2.1.3.2 Bản chất kinh tế của sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Từ lâu, trong kinh tế học, hành vi của người tiêu dùng đã được thừa nhận phụ thuộc vào sở thích cá nhân chủ quan và nhận thức của họ về một sản phẩm (Basmann, 1956) Người nông dân, với tư cách là người tiêu dùng các công nghệ nông nghiệp, do
đó sẽ có sở thích cá nhân để lựa chọn đối với các chọn công nghệ có sẵn (Hattam, 2006) Lựa chọn sản xuất nông nghiệp hữu cơ là lựa chọn một công nghệ sản xuất áp dụng vào trang trại của người nông dân
Kumbhakar và cộng sự (2009) cho rằng sự khác biệt về năng suất của canh tác hữu cơ và canh tác thông thường phát sinh từ sự khác biệt về công nghệ, công nghệ có thể tạo ra đầu ra như nhau nhưng với đầu vào ít hơn hoặc chi phí thấp hơn hoặc sự khác biệt về hiệu quả kỹ thuật hoặc cả hai Sản xuất hữu cơ chủ yếu dựa trên việc sử dụng đầu vào ít hơn so với sản xuất thông thường Nếu trang trại hữu cơ năng suất thấp hơn, lợi nhuận của họ cũng sẽ thấp hơn và chỉ khi giá đầu ra cao hơn mới có thể
bù đắp thiệt hại này Nếu không, nông nghiệp hữu cơ không thể thu hút những người mới tham gia hoặc để giữ chân những người nông dân lựa chọn công nghệ sản xuất nông nghiệp hữu cơ
2.1.3.2 Sự chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
Ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ trong luận án được hiểu là ý định thông thường, ý định thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ tức là người nông dân có
Trang 1417
dự định hay kế hoạch sản xuất nông nghiệp hữu cơ Cranfield và cộng sự (2010) khẳng
định quyết định chuyển đổi từ canh tác thông thường sang canh tác hữu cơ bắt nguồn
từ sự quan tâm đến nông nghiệp hữu cơ Sự quan tâm có thể được khơi dậy bởi các
động cơ cá nhân hoặc những ảnh hưởng từ bên ngoài Nếu những động cơ cá nhân và
ảnh hưởng bên ngoài đủ mạnh thì người nông dân sẽ quyết định chuyển đổi sang canh
tác hữu cơ Điều quan trọng là phải nhận ra rằng quá trình chuyển đổi sang canh tác
hữu cơ là một quá trình phức tạp kéo dài tối thiểu là 3 năm Để bắt đầu chuyển đổi,
người nông dân phải điều chỉnh các hoạt động trang trại của họ Trong quá trình
chuyển đổi, người nông dân bắt đầu nhận ra lợi ích của sản xuất nông nghiệp hữu cơ
và cả những thách thức khác nhau liên quan đến quá trình chuyển đổi sang sản xuất
hữu cơ Đối với một số nông dân, khi những thách thức lớn hơn so với những lợi ích
ban đầu nhận thấy, họ quyết định không tiếp tục quá trình chuyển đổi Đối với những
người hoàn thành việc chuyển đổi và trở thành nhà sản xuất hữu cơ được chứng nhận,
bức tranh đầy đủ về các lợi ích xuất hiện, trong khi các thách thức đã được loại bỏ Sau
đó, người nông dân tiếp tục thực hiện các quyết định về kênh tiêu thụ và có thể phải
đối mặt với nhiều loại chi phí sau chứng nhận, những chi phí không liên quan đến sản
xuất
2.2 Tổng quan các nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp
hữu cơ
2.2.1 Tổng quan nghiên cứu về ý định chấp nhận của người nông dân
Ý định chấp nhận của người nông dân là chủ đề trong nhiều nghiên cứu ở trong
và ngoài nước Các nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu ý định chấp nhận của người nông
dân trong các lĩnh vực khác nhau Luận án sẽ tổng quan một số các công trình trong và
ngoài nước về ý định chấp nhận của người nông dân liên quan đến lĩnh vực và khung
lý thuyết mà những nghiên cứu này hướng đến
2.2.1.1 Các lĩnh vực đã nghiên cứu
Tổng quan các công trình của các học giả nước ngoài cho thấy ý định chấp nhận
của người nông dân được tìm hiểu trong nhiều lĩnh vực khác nhau: nghiên cứu ảnh
hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội và quá trình truyền thông thích ứng với khí hậu
đến quyết định của nông dân để áp dụng các chiến lược thích ứng chống lại hạn hán và
lũ lụt (Arunrat và cộng sự, 2017); kiểm tra một mô hình giải thích những khó khăn của
việc chấp nhận áp dụng công nghệ nông nghiệp chính xác của người nông dân tại
Canada (Aubert và cộng sự, 2012); sử dụng sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ công nghệ
thông tin và truyền thông tại Trung Quốc (Amin và Li, 2014); phân tích các yếu tố ảnh
và cộng sự, 2016); phân tích ý định của nông dân về việc sử dụng thẻ nông dân tại Indonesia (Djamaludin, 2018); giải thích các cấu trúc tâm lý cơ bản ảnh hưởng đến quyết định của nông dân trong việc mở rộng kinh doanh trang trại của họ sang các dự
án tạo thu nhập ngoài nông nghiệp sản xuất thông thường tại Thụy Điển (Hansson và cộng sự, 2012); điều tra ý định thích ứng của người nông dân đối với giá điện, nước và nhiên liệu hoặc áp lực từ người khác để tiến hành các biện pháp thích ứng tại Việt Nam (Le Dang và cộng sự, 2014); kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định của nông dân sử dụng các thực hành quản lý dịch hại tổng hợp tại Iran (Rezaei và cộng sự, 2019); xác định yếu tố tâm lý tiềm ẩn và ảnh hưởng đến ý định của nông dân nhằm đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp tại Brazil (Senger và cộng sự, 2017); các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận và sử dụng chiến lược kiểm soát sinh học của người nông dân để kiểm soát sâu đục thân lúa trên những cánh đồng lúa của tại Iran (Sharifzadeh
và cộng sự, 2017); điều tra ý định của nông dân trồng lúa để thực hành nông nghiệp bền vững và để xác định các yếu tố quan trọng có thể được sử dụng cũng như dự đoán
ý định thực hành nông nghiệp bền vững tại Malaysia (Terano và cộng sự, 2015); điều tra những yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện các biện pháp môi trường nông nghiệp không trợ cấp tại Netherland (Van Dijk và cộng sự, 2016); nghiên cứu về ý định bảo tồn nước và sự khác biệt trong ý định giữa người nông dân quản lý nước truyền thống và người nông dân đã sử dụng các chiến lược quản lý nước tiên tiến tại Iran (Yazdanpanah và cộng sự, 2014); xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi hành vi của nông dân sản xuất nhỏ thích ứng với biến đổi khí hậu ở các vùng khí hậu chuyển tiếp tại Zimbabwe (Zamasiya và cộng sự, 2017); tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận áp dụng công nghệ tiết kiệm nước được gọi là hệ thống sản xuất lúa gạo tại Trung Quốc (Zhou và cộng sự, 2008)
Tổng quan các công trình của các học giả trong nước cho thấy ý định chấp nhận của người nông dân được tìm hiểu trong một số lĩnh vực: xác định các yếu tố tác động đến quyết định mua bảo hiểm trồng lúa tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An (Nguyễn Duy Chinh và cộng sự, 2016); giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp ứng xử của người nông dân ven biển với biến đổi khí hậu, đồng thời xác định và định lượng các yếu tố có ảnh hưởng rõ ràng và ảnh hưởng không rõ ràng đến
Trang 1519
quyết định ứng xử của người nông dân xã Giao Thiện, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam
Định (Đặng Thị Hoa và cộng sự, 2013); tìm hiểu yếu tố hình thành hiện tượng “điệp
khúc trồng chặt” diễn ra sôi động trong những thập kỷ qua ở vùng đồng bằng sông
Cửu Long, cũng như việc chuyển dịch của người nông dân từ lúa sang tôm như một
hành vi chấp nhận rủi ro (Ngô Thị Phương Lan, 2017); kiểm định các yếu tố ảnh
hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân trên địa bàn tỉnh
Phú Yên (Hoàng Thu Thủy và Bùi Hoàng Minh Thư, 2018)
2.2.1.2 Khung lý thuyết đã sử dụng
Các nghiên cứu về ý định chấp nhận của người nông dân được các học giả tiếp
cận và phân tích dựa trên các khung lý thuyết khác nhau như: sử dụng kết hợp lý
thuyết về sự chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) và lý
thuyết phổ biến đổi mới (Innovation Diffusion Theory – IDT) (Aubert và cộng sự,
2012); sử dụng mô hình TAM (Amin và Li, 2014); sử dụng lý thuyết hành vi có kế
hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) (Arunrat và cộng sự, 2017; Borges và
cộng sự, 2014; Cook và Fairweather, 2003; Deng và cộng sự, 2016; Djamaludin, 2018;
Hansson và cộng sự, 2012; Senger và cộng sự, 2017; Terano và cộng sự, 2015; Van
Dijk và cộng sự, 2016; Yazdanpanah và cộng sự, 2014); sử dụng lý thuyết động lực
bảo vệ (Protection Motivation Theory - PMT) (Le Dang và cộng sự, 2014); sử dụng
kết hợp TPB và mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (Norm Activation Model – NAM)
(Rezaei và cộng sự, 2019); sử dụng kết hợp TAM và IDT (Aubert và cộng sự, 2012);
sử dụng phiên bản mở rộng của TAM là TAM2 kết hợp lý thuyết IDT (Sharifzadeh và
cộng sự, 2017)
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp
nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
Nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ đã được thực
hiện chủ yếu bởi các học giả nước ngoài Trong đó, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến
ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân là đề tài được
nhiều học giả nước ngoài lựa chọn Căn cứ theo nội dung thì các yếu tố ảnh hưởng đến
ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân được chia thành
các nhóm sau:
Thứ nhất, nhóm yếu tố thuộc về nhân khẩu học, tính cách và quan điểm của
người nông dân: độ tuổi (Alexopoulos và cộng sự, 2010; Azam và Banumathi, 2015;
Xie và cộng sự, 2015); giới tính (Azam và Banumathi, 2015); trình độ học vấn (Azam
và Banumathi, 2015); tính sáng tạo (Alexopoulos và cộng sự, 2010); quyền sở hữu đất
20
đai (Azam và Banumathi, 2015); kinh nghiệm, giáo dục và kiến thức (Soltani và cộng
sự, 2013; Azam và Shaheen, 2019); sở thích rủi ro (Xie và cộng sự, 2015); động lực, chuẩn chủ quan (Asadollahpour và cộng sự, 2016); thái độ (Asadollahpour và cộng sự,
2016; Sharifuddin và cộng sự, 2016; Laepple, 2008)
Thứ hai, nhóm yếu tố thuộc về nhận thức của người nông dân: nhận thức về thị trường và sự đóng góp của canh tác hữu cơ để bảo vệ môi trường (Alexopoulos và cộng sự, 2010); an toàn sức khỏe (Aoki, 2014; Asadollahpour và cộng sự, 2014; Cranfield và cộng sự, 2010; Jierwiriyapant và cộng sự, 2012); nhu cầu xã hội và thách thức kinh tế (Cranfield và cộng sự, 2010); sự thành công của các trang trại hữu cơ lân cận và cơ hội xuất khẩu (Jierwiriyapant và cộng sự, 2012); thu nhập và cơ hội (Soltani
và cộng sự, 2013); lợi nhuận, tài chính (Aoki, 2014; Asadollahpour và cộng sự, 2016; Cranfield và cộng sự, 2010, Ullah và cộng sự, 2015); chi phí, chi phí lao động (Ullah
và cộng sự, 2015; Xie và cộng sự, 2015; Asadollahpour và cộng sự, 2016); khả năng tương thích, hiệu quả (Ullah và cộng sự, 2015); năng suất (Cranfield và cộng sự, 2010; Ullah và cộng sự, 2015); lợi ích (Xie và cộng sự, 2015); sự hữu ích, rủi ro (Sharifuddin
và cộng sự, 2016); trồng trọt (Azam và Shaheen, 2018); sự quen thuộc với hệ thống sản xuất hữu cơ (Koutsoukos và Iakovidou, 2013); mục tiêu (Laepple, 2008)
Thứ ba, nhóm yếu tố thuộc về trang trại của người nông dân: quy mô trang trại (Alexopoulos và cộng sự, 2010; Azam và Banumathi, 2015); việc sử dụng trang trại cho thuê (Azam và Shaheen, 2018)
Thứ tư, nhóm yếu tố thuộc về môi trường: kinh tế, thể chế, xã hội (Azam và Shaheen, 2018; Laepple, 2008); môi trường (Cranfield và cộng sự, 2010); đào tạo (Jierwiriyapant và cộng sự, 2012); hỗ trợ từ mạng lưới nông nghiệp, kinh tế, vật lý, sinh học (Jierwiriyapant và cộng sự, 2012); sự cạnh tranh và cơ sở hạ tầng (Koutsoukos và Iakovidou, 2013); sự hợp tác sản xuất (Soltani và cộng sự, 2013); môi trường (Aoki, 2014; Asadollahpour và cộng sự, 2014; Altieri và cộng sự, 2017; Sharifuddin và cộng sự, 2016; Xie và cộng sự, 2015); tiếp cận tín dụng, tiếp cận thông tin (Ma và cộng sự, 2017)
Thứ năm, nhóm yếu tố thuộc về các chính sách truyền thông và hỗ trợ: sự hỗ trợ
và chính sách của chính phủ (Asadollahpour và cộng sự, 2014; Azam và Shaheen, 2018; Soltani và cộng sự, 2013; Cranfield và cộng sự, 2010); mạng lưới tiếp thị (Azam
và Shaheen, 2018; Koutsoukos và Iakovidou, 2013; Cranfield và cộng sự, 2010); kiểm soát sản xuất và chất lượng (Cranfield và cộng sự, 2010)
Trang 1621
Bảng 2.1: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông
nghiệp hữu cơ của người nông dân
1 Alexopoulos và cộng sự
(2010)
Tuổi tác, quy mô trang trại, tính sáng tạo của nông dân, kế hoạch, nhận thức về thị trường và sự đóng góp của canh tác hữu cơ để bảo vệ môi trường
2 Aoki (2014) Lợi nhuận tài chính, sức khỏe, môi trường
3 Asadollahpour và cộng sự
(2014)
Sức khỏe/an toàn, môi trường, động lực về tư tưởng và kinh tế, kiến thức, sự hỗ trợ của chính phủ, lo sợ tương lai và sản xuất
4 Asadollahpour và cộng sự
(2016)
Động lực, lợi nhuận, thách thức, chi phí, thái độ
và chuẩn chủ quan
5 Azam và Banumathi (2015) Trình độ học vấn, tuổi, giới tính, quy mô gia
đình, quyền sở hữu đất đai
6 Azam và Shaheen (2019)
Kinh tế, xã hội, tiếp thị, trồng trọt, chính sách của chính phủ, kinh nghiệm, việc sử dụng trang trại cho thuê
7 Cranfield và cộng sự (2010)
Sức khỏe/an toàn, môi trường, nhu cầu xã hội, lợi nhuận và thách thức kinh tế, quy định của chính phủ, tiếp thị, áp lực tiêu cực, vốn và tài chính, kiểm soát sản xuất và chất lượng, năng suất
8 Jierwiriyapant và cộng sự
(2012)
Đào tạo, sức khỏe, sự thành công của các trang trại hữu cơ lân cận, cơ hội xuất khẩu, khả năng tiếp tục nhận hỗ trợ từ mạng lưới nông nghiệp, kinh tế, vật lý, sinh học
9 Koutsoukos và Iakovidou
(2013)
Mạng lưới tiếp thị, sự cạnh tranh, cơ sở hạ tầng,
sự quen thuộc với hệ thống sản xuất hữu cơ
10 Laepple (2008) Kinh tế, thể chế, xã hội, thái độ, mục tiêu
11 Altieri và cộng sự (2017) Nhận thức về môi trường, tiếp cận tín dụng, tiếp
13 Soltani và cộng sự (2013) Kinh nghiệm, giáo dục và kiến thức, thu nhập và
cơ hội, sự hợp tác sản xuất, hỗ trợ của chính phủ
Alexopoulos và cộng sự (2010) khám phá sự khác biệt giữa a) nông dân thông thường và hữu cơ, b) nông dân hữu cơ có ý định tiếp tục canh tác hữu cơ và nông dân hữu cơ có ý định tái chuyển đổi sang canh tác thông thường Phân tích cho thấy rằng
việc chuyển đổi sang canh tác hữu cơ có liên quan tích cực đến các yếu tố như tuổi tác, quy mô trang trại, tính sáng tạo của nông dân và kế hoạch trang trại cùng với nhận thức về thị trường và sự đóng góp của canh tác hữu cơ để bảo vệ môi trường Mặt khác, nông dân ít đổi mới và năng động hơn, sở hữu trang trại lớn hơn, trải qua giai đoạn giá thấp và không có mạng lưới hỗ trợ dường như có khả năng từ bỏ canh tác hữu cơ
Aoki (2014) tìm thấy động lực sản xuất hữu cơ liên quan đến lợi nhuận tài chính, sức khỏe và lý do môi trường
Asadollahpour và cộng sự (2014) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ bao gồm: các yếu tố thuận lợi và các yếu tố rào cản chuyển đổi
sang nông nghiệp hữu cơ Các yếu tố tạo thuận lợi bao gồm các động lực, lợi nhuận, sức khỏe và an toàn, môi trường , trong đó động lực về tư tưởng và kinh tế là các yếu tố
thúc đẩy quan trọng nhất được đề cập bởi các nhà sản xuất gạo Các yếu tố rào cản
chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ bao gồm những thách thức và chi phí, trong đó thiếu kiến thức, thiếu sự hỗ trợ của chính phủ, lo sợ tương lai và sản xuất được đề cập
là những thách thức quan trọng nhất của việc chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ Asadollahpour và cộng sự (2016) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi canh tác hữu cơ bao gồm các yếu tố thuận lợi và các rào cản Các yếu tố tạo thuận
lợi bao gồm động lực và lợi nhuận; các yếu tố rào cản bao gồm những thách thức và chi phí ; đồng thời tìm hiểu cả ảnh hưởng đến từ thái độ và chuẩn chủ quan
Azam và Banumathi (2015) tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc nông dân
chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ và kết quả cho thấy trình độ học vấn,
Trang 1723
tuổi và giới tính của người nông dân có tác động tích cực; trong khi đó, quy mô gia
đình và quyền sở hữu đất đai không ảnh hưởng nhiều
Azam và Shaheen (2019) đã kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn áp
dụng canh tác hữu cơ của nông dân dựa trên phân loại nhân khẩu học của họ, như trình
độ học vấn, quy mô trang trại, kinh nghiệm canh tác và quyền sở hữu đất đai của nông
dân hữu cơ Nghiên cứu tìm thấy năm yếu tố chính ảnh hưởng đến việc áp dụng canh
tác hữu cơ là kinh tế, xã hội, tiếp thị, trồng trọt, chính sách của chính phủ Nghiên cứu
cũng quan sát thấy rằng tiếp thị và chính phủ là các yếu tố đóng vai trò rất quan trọng
trong việc ảnh hưởng đến quyết định của tất cả các loại nông dân không phân biệt trình
độ học vấn của họ Trong khi đó, các nông dân có nhiều kinh nghiệm canh tác quan
tâm nhiều hơn đến các yếu tố xã hội; nông dân sử dụng trang trại cho thuê thường lo
ngại về khả năng kinh tế của canh tác hữu cơ
Cranfield và cộng sự (2010) đã đề xuất một số lý do khiến các nhà sản xuất
hướng tới canh tác hữu cơ bao gồm các cơ hội thị trường, lợi nhuận, sức khỏe, an toàn,
chất lượng sản phẩm, ý thức hệ, không hài lòng với các hệ thống thông thường và
những thay đổi trong lối sống được phân nhóm thành các yếu tố cụ thể là sức khỏe/an
toàn, môi trường, nhu cầu xã hội, lợi nhuận và thách thức kinh tế Cranfield và cộng
sự (2010) đã giải thích một số yếu tố trở thành rào cản trong việc áp dụng các kỹ thuật
sản xuất hữu cơ như quy định của chính phủ, thiếu tiếp thị, áp lực tiêu cực, không có
vốn và tài chính, kiểm soát sản xuất và chất lượng, vấn đề năng suất như thời gian thu
hoạch dài
Jierwiriyapant và cộng sự (2012) tìm hiểu các yếu tố chính ảnh hưởng đến
quyết định sản xuất lúa hữu cơ và kết quả cho thấy đào tạo là yếu tố quan trọng tác
động tới quyết định của những người nông dân khi áp dụng phương pháp trồng lúa
hữu cơ Ngoài ra, yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng phương pháp nông nghiệp
hữu cơ của nông dân còn là mối quan tâm của họ đối với sức khỏe của chính họ, tiếp
theo là sự thành công của các trang trại hữu cơ lân cận, cơ hội xuất khẩu và khả năng
tiếp tục hỗ trợ từ mạng lưới nông nghiệp Bên cạnh đó, các yếu tố kinh tế, vật lý và
sinh học cũng được các tác giả xem xét trong nghiên cứu này
Koutsoukos và Iakovidou (2013) nhấn mạnh các yếu tố dẫn đến sự từ chối
của hệ thống sản xuất hữu cơ, cụ thể là mạng lưới tiếp thị, cạnh tranh từ một sản
phẩm nhập khẩu, vấn đề cơ sở hạ tầng và việc không quen thuộc với hệ thống sản
xuất hữu cơ
24
Laepple (2008) đã tập trung vào vai trò thái độ của người nông dân trong việc xác định yếu tố ảnh hưởng tới ý định chuyển đổi sang canh tác hữu cơ Nghiên cứu này nằm trong một nghiên cứu lớn được thực hiện nhằm mục đích giải thích quyết định chấp nhận hay không chấp nhận áp dụng canh tác hữu cơ theo thời gian đối với
một loạt các yếu tố như kinh tế, thể chế và xã hội cũng như so sánh thái độ và mục tiêu
của nông dân sản xuất hữu cơ và thông thường
Ma và cộng sự (2017) trong nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng quyết định sản
xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân chịu ảnh hưởng tích cực bởi nhận thức
về môi trường, tiếp cận tín dụng và tiếp cận thông tin Sharifuddin và cộng sự (2016) nghiên cứu nhận thức của người nông dân, cụ thể là
nhận thức được sự hữu ích, rủi ro, mối quan tâm về môi trường, cũng như thái độ ảnh
hưởng đến ý định của họ để áp dụng canh tác hữu cơ Kết quả cho thấy sự hữu ích, mối quan tâm về môi trường và thái độ có ảnh hưởng đáng kể đến ý định áp dụng canh tác lúa gạo hữu cơ đối với cả nông dân sản xuất bán hữu cơ và nông dân sản xuất thông thường Soltani và cộng sự (2013) xác định các yếu tố khuyến khích sản xuất nông nghiệp hữu cơ là kinh nghiệm, giáo dục và kiến thức, thu nhập và cơ hội của một khu vực sản xuất, sự hợp tác sản xuất và hỗ trợ của chính phủ
Ullah và cộng sự (2015) cho rằng chi phí, năng suất, lợi nhuận, khả năng tương thích và hiệu quả có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến việc áp dụng canh tác hữu cơ của nông dân
Xie và cộng sự (2015) đã đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi sang canh tác hữu cơ và cung cấp một số khuyến nghị cho chính sách của chính phủ liên quan đến canh tác hữu cơ Kết quả cho thấy năm yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ đã được phát hiện là: tuổi tác, sở thích rủi ro, chi phí
lao động, lợi ích dự kiến và môi trường Ngoài ra, một số nghiên cứu khi tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân lại tập trung vào thái độ và ý định chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ (Chouichom và Yamao, 2010; Hattam, 2006; Laepple, 2008; Issa và Hamm, 2017)
Chouichom và Yamao (2010) cho rằng nông nghiệp hữu cơ đang trở nên phổ biến ở Đông Nam Á như là một phần của hệ thống nông nghiệp bền vững Các tác giả
đã so sánh các ý định và thái độ đối với các hệ thống canh tác hữu cơ của nông dân trồng lúa hữu cơ (OF) và nông dân trồng lúa phi hữu cơ (NOF) Các cuộc phỏng vấn cho thấy thái độ của họ đối với canh tác hữu cơ dựa trên bốn khía cạnh, đó là: kiến
Trang 1825
thức về canh tác hữu cơ, môi trường, tiếp thị, chi phí và lợi ích Kết quả nghiên cứu
định lượng khẳng định có một mối tương quan về thái độ của cả OF và NOF người
được phỏng vấn trong bốn khía cạnh được kiểm tra Ngoài ra, trình độ học vấn, tổ
chức trang trại và cán bộ khuyến nông có ảnh hưởng tới ý kiến và thái độ của người
được phỏng vấn Trong số những người được phỏng vấn NOF, kinh nghiệm nông
nghiệp có ảnh hưởng đến thái độ của họ đối với canh tác hữu cơ
Hattam (2006) cho rằng nông nghiệp hữu cơ được thừa nhận bởi nông dân sản
xuất quy mô nhỏ ở các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy như là một cơ hội để tiếp
cận một thị trường đang phát triển và năng động, đồng thời, nâng cao năng suất và cải
thiện thu nhập nhưng việc áp dụng nông nghiệp hữu cơ còn chậm Kết quả nghiên cứu
cho thấy, mặc dù họ có thái độ tích cực đối với sản xuất hữu cơ, nhưng ý định chuyển
đổi là tiêu cực Do đó, thái độ không đủ để tạo ra sự chấp nhận và nông nghiệp hữu cơ
có thể là một chiến lược dài hạn nên chuyển đổi trong ngắn hạn là không thể Quan
trọng hơn đối với sự hình thành ý định là các yếu tố như áp lực xã hội nhận thức và
nhận thức dễ dàng chuyển đổi có tác động tích cực và đáng kể đến ý định Vì vậy, việc
thúc đẩy sản xuất hữu cơ sẽ đòi hỏi phải tập trung vào sự bất cân xứng thông tin trong
dân số rộng hơn, phát triển các kỹ năng kỹ thuật và đào tạo các tác nhân chính trong
chuỗi thành phương pháp hữu cơ Điều này sẽ giúp giảm bớt áp lực xã hội tiêu cực đối
với sản xuất hữu cơ và giúp khắc phục sự không chắc chắn cũng như thiếu tự tin về
khả năng của người nông dân để chuyển đổi thành sản xuất hữu cơ
Issa và Hamm (2017) đã khám phá ý định và thái độ của nông dân đối với canh
tác hữu cơ và khả năng họ sẽ chuyển đổi trang trại sang sản xuất hữu cơ trong vòng 5
năm tới Thông qua khảo sát 266 nông dân thông thường của FFV tại 75 ngôi làng
nằm ở các huyện khác nhau của khu vực ven biển Syria và lý thuyết về hành vi có kế
hoạch (TPB), kết quả cho thấy hầu hết nông dân đã sử dụng ít nhất một trong số cách
thực hành cũng là một phần của sản xuất hữu cơ được chứng nhận và giữ thái độ và ý
định tích cực mạnh mẽ để áp dụng sản xuất hữu cơ trong vòng 5 năm tới
Như vậy, có thể thấy nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu
cơ được thực hiện trong nhiều lĩnh vực hoặc ở nhiều quốc gia: canh tác hữu cơ và canh
tác thông thường ở Tây Hy Lạp (Alexopoulos và cộng sự, 2010); lúa hữu cơ ở miền
bắc Thái Lan (Jierwiriyapant và cộng sự, 2012); lúa gạo ở tỉnh Mazandaran, phía bắc
Iran (Asadollahpour và cộng sự, 2014); canh tác hữu cơ ở Peshawar-Pakistan (Ullah
và cộng sự, 2015); canh tác hữu cơ ở tỉnh Giang Tô (Xie và cộng sự, 2015); lúa ở
Sragen Regency, Indonesia (Sharifuddin và cộng sự, 2016); canh tác hữu cơ ở Ấn Độ
(Azam và Shaheen; 2018); bơ ở Mexico (Hattam, 2006); canh tác hữu cơ ở Syria ( Issa
26
và Hamm, 2017); lúa ở đông bắc Thái Lan (Chouichom và Yamao, 2010); canh tác hữu cơ ở Nepal (Aoki, 2014); canh tác hữu cơ ở Hà Lan (Azam và Banumathi, 2015)
Về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu, thứ nhất, lý thuyết được sử dụng khi
nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ là lý thuyết về hành vi có
kế hoạch (TPB) (Asadollahpour và cộng sự, 2016; Laepple, 2008; Hattam, 2006; Issa và
Hamm, 2017); thứ hai, phương pháp được sử dụng khi nghiên cứu ý định chấp nhận sản
xuất nông nghiệp hữu cơ là sự kết hợp cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng Asadollahpour và cộng sự (2014, 2016) lựa chọn phỏng vấn mười nhà sản xuất gạo đã nhận được chứng nhận sản phẩm tốt cho sức khỏe từ tổ chức tiêu chuẩn đã được phỏng vấn, sau đó tiền hành khảo sát 250 nhà sản xuất gạo Azam và Banumathi (2015) thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi có cấu trúc bao gồm tổng số 160 nông dân hữu
cơ và thông thường, sau đó áp dụng mô hình hồi quy logistic để phân tích dữ liệu Jierwiriyapant và cộng sự (2012) đã tiến hành các cuộc khảo sát và phỏng vấn sâu đối với người nông dân trồng lúa hữu cơ Sharifuddin và cộng sự (2016) đã tiến hành khảo sát 600 nông dân trồng lúa và phỏng vấn sâu hai nhóm đối tượng cụ thể là nông dân sản xuất bán hữu cơ và nông dân sản xuất thông thường Ullah và cộng sự (2015) phỏng vấn
100 người nông dân ở 4 khu vực canh tác, sau đó cũng áp dụng mô hình hồi quy logistic
để phân tích dữ liệu Xie và cộng sự (2015) tiến hành khảo sát về sự sẵn sàng canh tác hữu cơ của các nông dân nhỏ và áp dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trong xử lý
dữ liệu Chouichom và Yamao (2010) tiến hành phỏng vấn 100 nông dân trồng lúa hữu
cơ và 100 người nông dân trồng lúa phi hữu cơ, sau đó tiến hành kiểm định Chi-Square
và t-test để định lượng các mối tương quan trong nghiên cứu Issa và Hamm (2017) khảo sát 266 nông dân thông thường ở các huyện khác nhau để tìm hiểu về ý định và thái độ đối với canh tác hữu cơ
2.3 Lý thuyết nghiên cứu về ý định của người nông dân
2.3.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of planned behavior – TPB)
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) được Ajzen (1985) phát triển dựa trên lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Do lý thuyết hành động hợp lý bị giới hạn khi dự đoán hành vi trong những tình huống mà ở đó các tác nhân không thể kiểm soát hoàn toàn hành vi của họ khi thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan không đủ để giải thích cho hành vi của họ (Hansen và cộng sự, 2004) Vì vậy, lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình TRA Yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi
Trang 1927
thực hiện hành vi, điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội
để thực hiện hành vi (Ajzen, 1991)
TPB cho rằng hành vi thực tế của người nông dân chịu sự tác động bởi cả ý
định và nhận thức kiểm soát hành vi của họ Trong khi đó, ý định của người nông dân
lại bị tác động bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi
TPB đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu với mục đích
dự đoán ý định sử dụng và hành vi cụ thể của các cá nhân Hơn nữa, các nghiên cứu
thực nghiệm đã cho thấy sự phù hợp của mô hình này trong việc nghiên cứu hành vi
của người nông dân (Borges và cộng sự, 2014; Deng và cộng sự, 2016; Djamaludin,
2018; Laepple, 2008; Nguyen và Nguyen, 2020; Senger và cộng sự, 2017)
Hình 2.2 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)
Nguồn: Ajzen, 1991
TPB đã thu hút được sự chú ý ngày càng tăng từ các nhà nghiên cứu trong lĩnh
vực nông nghiệp Nhiều nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết này làm khung khái niệm
chính cho mô hình nông dân quyết định áp dụng công nghệ mới TPB đã được sử dụng
để hiểu người nông dân nhận thực hành bảo tồn đất (Wauters và cộng sự, 2010), việc
áp dụng cải tiến hệ thống quản lý đồng cỏ tự nhiên (Borges và cộng sự, 2014), việc đa
dạng hóa trang trại (Hansson và cộng sự, 2012), quyết định liên quan đến sử dụng đất
ở đầu nguồn (Poppenborg và Koellner, 2013), chiến lược thay đổi khí hậu và bảo tồn
nước (Yazdanpanah và cộng sự, 2014), sự phát triển của hành vi bảo tồn môi trường
trong trang trại (Deng và cộng sự, 2016), ý định đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp
(Senger và cộng sự, 2017), ý định sử dụng thẻ nông dân (Djamaludin, 2018) Đối với
việc chuyển đổi sang canh tác hữu cơ, một số nghiên cứu cũng áp dụng mô hình TPB
làm khung lý thuyết chính như Hattam (2006) ở Mexico; Asadollahpour và cộng sự
(2016) ở Iran; Issa và Hamm (2017)
2.3.2 Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (Norm Activation Model – NAM)
Được phát triển bởi Schwartz (1977), NAM là một mô hình để giải thích hành
vi ý định vị tha và ủng hộ môi trường (Onwezen và cộng sự, 2013) Dựa trên NAM, các hành vi/ý định vị tha là một chức năng của các chuẩn mực cá nhân (personal norm – PN) được kích hoạt bởi hai yếu tố: quy cho trách nhiệm (ascription of responsibility
- AR) và nhận thức về kết quả (awareness of consequences - AC) (Schwartz, 1977)
PN là tiền đề gần nhất cho ý định/hành vi, là một khía cạnh cốt lõi của mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (Harland và cộng sự, 1999)
Khi mọi người nhận thức được hậu quả tiêu cực của việc không thực hiện hành
vi cho người khác (tức là AC) và cảm thấy có trách nhiệm cá nhân do hậu quả (tức là AR), những cá nhân đó sẽ cảm thấy có nghĩa vụ đạo đức cá nhân để thực hiện hành vi, lần lượt có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định của cá nhân (Setiawan và cộng sự, 2014; Shin và cộng sự, 2018) Tùy thuộc vào mức độ phù hợp của hành vi cá nhân với chuẩn mực cá nhân của một người mà người đó có thể phát triển một cảm giác tự hào hoặc tội lỗi
Hành vi ủng hộ môi trường là một trong những điều quan trọng các khía cạnh của hành vi ủng hộ xã hội (De Groot và Steg, 2009; Steg và De Groot, 2010) Theo đó, NAM có nguồn gốc từ một bối cảnh ủng hộ xã hội và đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu để giải thích không chỉ ý định/hành vi ủng hộ xã hội mà còn cả ý định ủng hộ môi trường/hành vi trong một loạt các bối cảnh (Bamberg và cộng sự, 2007; Bamberg và Möser, 2007; Chen và Tung, 2014; Han và cộng sự, 2010; Harland
và cộng sự, 1999; Kim và Han, 2010; Klöckner, 2013; Onwezen và cộng sự, 2013; Zhang và cộng sự, 2013) De Groot và Steg (2009) chỉ ra rằng hành vi ủng hộ môi trường của người được cho là trường hợp đặc biệt của hành vi ủng hộ xã hội vì nó cũng ngụ ý rằng mọi người đem lại lợi ích cho người khác, không có lợi ích cá nhân trực tiếp nào được nhận khi tham gia vào các hành vi này Do đó, hành vi ủng hộ xã hội bao gồm hành vi môi trường (De Groot và Steg, 2009; Steg và De Groot, 2010)
Hình 2.3 Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM)
Ý định và hành vi
Trang 2029
NAM đã được áp dụng để dự đoán hành vi môi trường như bảo tồn năng lượng
(Black và cộng sự, 1985), lựa chọn chế độ du lịch (Hunecke, Blobaum, Matthies, và
Hoger, 2001), tái chế (Bratt, 1999; Hopper và Nielsen, 1991; Park và Ha, 2014), mua
các sản phẩm bao bì hỗ trợ môi trường (Thogersen, 1999), ra quyết định liên quan đến
môi trường của khách thăm bảo tàng (Han và Hyun, 2017), hành vi giao thông bền
vững (Liu và cộng sự, 2017)
NAM kết hợp cùng TPB đã được áp dụng trong nghiên cứu của Rezaei và cộng
sự (2019) về ý định của nông dân sử dụng các thực hành quản lý dịch hại tổng hợp
(IPM) - một phương pháp kiểm soát dịch hại thân thiện với môi trường
2.3.3 Lý thuyết phổ biến đổi mới (Innovation Diffusion Theory – IDT)
Hình 2.4 Lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT)
Nguồn: Rogers, 2003
IDT có thể được coi là một trong những lý thuyết phổ biến đã cố gắng khám
phá các yếu tố ảnh hưởng sự chấp nhận của cá nhân đối với một sự đổi mới hoặc một
công nghệ mới (Al-Jabri và Sohail, 2012) IDT mô tả quá trình thông qua những ý
tưởng, thực tiễn hoặc công nghệ mới được lan truyền vào một hệ thống xã hội (Rogers,
2003) Nghiên cứu chính thức về IDT bởi nghiên cứu của Bryce Ryan và Neal Gross
(1943), từ lĩnh vực xã hội học; sau đó đã lan rộng ra nhiều lĩnh vực khác và nhiều
nghiên cứu hỗ trợ các nguyên lý của nó (Rogers, 2003, 2004) Các ngành học trong đó
lý thuyết này đã được áp dụng bao gồm nhân chủng học, truyền thông, địa lý, xã hội
học, tiếp thị, chính trị, y tế công cộng và kinh tế học (Moseley, 2004; Rogers, 2004)
Rogers (1962) đã lập luận trong IDT rằng các cá nhân có được thông tin từ
những người xung quanh, đặc biệt là những người đã trải qua quá trình tương tự và
đưa ra quyết định mới Quá trình phổ biến rất quan trọng trong nông nghiệp vì nông
dân có xu hướng dựa vào thông tin từ người xung quanh họ (Berger, 2001) và hàng
Trong đó, phổ biến được định nghĩa là quy trình mà một sự đổi mới được truyền đạt thông qua các kênh nhất định theo thời gian giữa các thành viên của một hệ thống xã hội (Rogers, 2003) Hall (2003) nói rằng trong nghiên cứu về đổi mới thuật ngữ phổ biến thường được sử dụng để mô tả quá trình mà các cá nhân hoặc các nhóm (công ty) trong xã hội/nền kinh tế áp dụng công nghệ mới hoặc thay thế công nghệ cũ bằng công nghệ mới Đổi mới được định nghĩa là một ý tưởng, thực hành hoặc đối tượng được coi là mới bởi một cá nhân hoặc đơn vị chấp nhận (Rogers, 2003) Kết quả cuối cùng của sự phổ biến là việc áp dụng, thực hiện và thể chế hóa
IDT thống trị hệ thống lý thuyết và thực hành khuyến nông khắp nơi trên thế giới trong hơn nửa thế kỷ IDT được khẳng định là tốt và được áp dụng cho mô trình sản xuất canh tác nông nghiệp hữu cơ (Padel, 2001) Trong khi những đổi mới thường được nghiên cứu liên quan đến sự phát triển công nghệ, thì khía cạnh xã hội của sự đổi mới đã được xem xét trong các nghiên cứu về canh tác hữu cơ (Vartdal, 1993; Sutherland và Darnhofer, 2012) Canh tác hữu cơ là gần nhất với nguyên tắc sinh thái của nông nghiệp bền vững, so với nông nghiệp thông thường, thì khá đổi mới (Beauchesne và Bryant, 1999) Coi nông nghiệp hữu cơ là hình thức nông nghiệp đổi mới phức tạp, Sutherland và Darnhofer (2012) tuyên bố rằng nông nghiệp hữu cơ đã trở nên dễ chấp nhận hơn khi mà người ta thấy nó có lãi, đặc biệt là nếu nó có lãi hơn hơn các trang trại thông thường lân cận Theo Padel (2001), IDT có thể giúp hiểu được quá trình phổ biến nông nghiệp hữu cơ trong một cộng đồng và cách thức mà quá trình này có thể được hỗ trợ và cải thiện, ví dụ, thông qua hệ thống thông tin trong nông nghiệp hoặc khuyến nông
2.3.4 Lý thuyết động lực bảo vệ (Protection motivation theory - PMT)
PMT (Floyd và cộng sự, 2000; Maddux và Rogers, 1983; Rogers, 1975) ban đầu được đề lập như là một lý thuyết chính trong các nghiên cứu về rủi ro sức khỏe
Nó đã được áp dụng trong các nghiên cứu khác về bảo vệ hành vi trong bối cảnh chiến tranh hạt nhân (Wolf và cộng sự, 1986), bảo tồn nước (Kantola và cộng sự, 1983) và trong truyền thông marketing (Cismaru và Lavack, 2006; Tanner và cộng sự, 1989) PMT cũng đã được sử dụng trong nghiên cứu về mối nguy hiểm tự nhiên, vấn đề môi trường (Grothmann và Reusswig 2006; Mulilis và Lippa, 1990; Zaalberg và Midden,
Trang 21Có bốn yếu tố cốt lõi trong quy trình của PMT: nhận thức về rủi ro, đánh giá để
đối phó, đối phó không đúng cách và động lực bảo vệ (Milne và cộng sự, 2000) Thứ
nhất, nhận thức về rủi ro (threat appraisal) (nhận thức mức độ nghiêm trọng của nguy
cơ và tính dễ bị tổn thương) và phần thưởng phản ứng không đúng cách (bên ngoài và
bên trong phần thưởng) (Gebrehiwot và Van Der Veen, 2015) Mức độ nghiêm trọng
tùy theo cách đánh giá của cá nhân về việc gây hại cuộc sống hoặc tài sản (Grothmann
và Patt 2005) Theo Milne và cộng sự (2000), nhận thức càng cao về rủi ro, cá nhân
càng có nhiều khả năng được thúc đẩy ý định để bảo vệ chính mình, nghĩa là, càng có
nhiều khả năng ý định hành vi bảo vệ sẽ được hình thành Thứ hai, đánh giá để đối phó
(coping appraisal) đánh giá khả năng nhận thức để thực hiện hành vi đối phó, cũng
như hiệu quả nhận thức của các phản ứng đối phó để ngăn chặn nguy cơ bị đe dọa
(Arthur và Quester 2004; Maddux và Rogers 1983) Đánh giá để đối phó đến sau quá
trình nhận thức rủi ro Nó chỉ bắt đầu nếu nhận thức về rủi ro vượt quá mức cho phép
(Schwarzer 1992) Thứ ba và thứ tư, kết quả của hai quá trình trung gian nhận thức
này có thể sẽ dẫn đến việc đối phó không đúng cách (maladaptive coping) Nếu cá
nhân phản ứng bảo vệ, trước tiên họ sẽ hình thành một ý định hoặc quyết định để có
hành động phòng ngừa Điều này được dẫn đến thúc đẩy động lực bảo vệ (protection
motivation) (Grothmann và Reusswg 2006) Nói chung, động lực bảo vệ đồng nghĩa
với ý định thực hiện hành vi (Gebrehiwot và Van Der Veen, 2015)
Nhận thức
về rủi ro
Đối phó không đúng cách
Đánh giá
để đối phó
Động lực bảo vệ/ ý định hành vi
32
Như vậy, PMT đưa ra giả thuyết rằng động lực để bảo vệ bản thân khỏi một mối đe dọa hoặc nguy hiểm có mối quan hệ thuận chiều với nhận thức của cá nhân khi nhận thấy rằng mối đe dọa là nghiêm trọng; cá nhân dễ bị đe dọa; biện pháp đối phó được khuyến nghị là có hiệu quả trong việc ngăn chặn đe dọa hoặc nguy hiểm; và cá nhân có thể thực hiện các biện pháp đối phó (Gebrehiwot và Van Der Veen, 2015) PMT đã được sử dụng làm lý thuyết nền trong một số nghiên cứu về ý định và hành vi của người nông dân như: ý định và hành vi của người nông dân liên quan đến biến đổi khí hậu (Le Dang và cộng sự, 2014; Ghanian và cộng sự, 2020); hành vi của người nông dân liên quan đến môi trường (Wang và cộng sự, 2019); hành vi thích ứng với hạn hán của người nông dân (van Duinen và cộng sự, 2015)
2.4 Khoảng trống nghiên cứu
2.4.1 Các nội dung kế thừa
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ đã được các học giả thực hiện Một số nội dung mà luận án sẽ kế thừa
từ các nghiên cứu trước:
- Ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong đó có nhóm yếu tố thuộc về người nông dân (nhân khẩu học, tính cách, quan điểm, nhận thức, trang trại), nhóm yếu tố thuộc về môi trường và các chính sách của cơ quan quản lý Nhà nước
- Sử dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) để nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ
2.4.2 Khoảng trống nghiên cứu
Một là, tổng quan nghiên cứu cho thấy nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến
ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ với sự kết hợp các lý thuyết khác nhau chưa từng được thực hiện tại bối cảnh Việt Nam
Hai là, việc chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ liên quan đến khía cạnh đạo đức, bảo vệ môi trường, do đó cần được tiếp cận theo hai khung lý thuyết là cách tiếp cận hợp lý dựa trên một số lý thuyết nghiên cứu về hành vi và cách tiếp cận đạo đức
Ba là, kết hợp các lý thuyết khi nghiên cứu về ý định của người nông dân đã được thực hiện trong một số nghiên cứu (Rezaei và cộng sự, 2019, Yanakittkul and Aungvaravong, 2017), tuy nhiên việc kết hợp các lý thuyết theo cách tiếp cận hợp lý
Trang 2233
và cách tiếp cận đạo đức trong nghiên cứu ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu
cơ của người nông dân chưa được thực hiện
Bốn là, các công trình nghiên cứu trên cũng chưa phân tích thỏa đáng tác động
của yếu tố lợi nhuận Trong điều kiện kinh tế thị trường yếu tố lợi nhuận và sự sắc bén
của chính sách do nhà nước ban hành giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với ý kiến
chấp nhận phát triển nông nghiệp hữu cơ của người sản xuất
2.4.3 Hướng nghiên cứu của đề tài
Dựa trên tổng quan các công trình nghiên cứu đã thực hiện trong và ngoài nước,
tác giả dự định hướng nghiên cứu của đề tài như sau:
- Kết hợp các lý thuyết theo cách tiếp cận hợp lý và cách tiếp cận đạo đức khi
nghiên cứu ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân,
nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội
- Căn cứ vào mô hình lý thuyết tích hợp xác định các yếu tố và mức độ ảnh
hưởng của từng yếu tố đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của
người nông dân, nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội Yếu tố lợi nhuận sẽ được tính
đến trong quá trình nghiên cứu ý kiến chấp nhận của người dân và giải pháp cần
thực hiện
- Nghiên cứu sự tác động của các biến kiểm soát như: giới tính, độ tuổi, trình độ
học vấn, kinh nghiệm làm nông nghiệp và thu nhập hàng năm từ nông nghiệp
đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân, nghiên
cứu trên địa bàn Hà Nội
2.5 Căn cứ xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu
2.5.1 Kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và mô hình kích hoạt tiêu
chuẩn (NAM)
TPB đã được xác nhận trong nhiều bối cảnh và do đó, lý thuyết này được cho là
một trong những lý thuyết thống trị (Armitage và Conner, 2001; Onwezen và cộng sự,
2013) Tuy nhiên, rất nhiều các nhà nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội/môi trường
đã khẳng định rằng TPB chưa thực sự đầy đủ và hiệu quả bởi vì lý thuyết xã hội học
này bỏ lỡ qua khía cạnh khác nhau của quá trình quyết định liên quan đến con người
(Bamberg và Möser, 2007; Han, 2015; Han và Yoon, 2015; Ong và Musa, 2011)
Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu sử dụng TPB trong thập kỷ qua đã tích cực thực hiện
một nỗ lực mở rộng bằng cách kết hợp một số biến quan trọng trong một môi trường
quan tâm cụ thể hơn là ứng dụng trực tiếp của lý thuyết này (Bamberg và Möser, 2007;
34
Han và cộng sự, 2010; Hsu và Huang, 2012; Meng và Choi, 2016; Quintal và cộng sự, 2010) Các nhà nghiên cứu cũng đồng ý rằng chức năng của các biến trong lý thuyết hành vi kế hoạch ban đầu khác nhau ở khuôn khổ mở rộng
Tương tự, NAM thường được coi là một trong các lý thuyết phù hợp nhất để giải thích một hành vi ủng hộ môi trường (Han, 2015; Zhang và cộng sự, 2013) Tuy nhiên, lý thuyết này bỏ qua tầm quan trọng của quá trình ý chí và quá trình không có ý chí, đó là cơ sở của việc lựa chọn mô hình, trong việc khám phá một quá trình và hành
vi ra quyết định (Fornara và cộng sự, 2016; Han, 2015; Hunecke, Blöbaum, Matthies,
và Höger, 2001; Onwezen và cộng sự, 2013) Các nghiên cứu trước đây về hành vi ủng hộ môi trường có thừa nhận bản chất của các quy trình này trong việc củng cố ý định/hành vi có trách nhiệm với môi trường (Bamberg và cộng sự, 2007; Chen và Tung, 2014; Han, 2014; Harland và cộng sự, 1999, 2007; Klöckner, 2013; Klöckner và Matthies, 2004) NAM là một mô hình mạnh trong việc giải thích các hành vi ủng hộ xã hội/ủng hộ môi trường (Onwezen và cộng sự, 2013; Anh và Zhan, 2018; Zhang và cộng
sự, 2018) nhưng lại bỏ qua tầm quan trọng của cả quá trình ý chí và không ý chí được coi là yếu tố thiết yếu trong lựa chọn mô hình cần thiết hướng dẫn hành vi của cá nhân (Han, 2015; Han và Hyun, 2017) Điều này đã khiến NAM không thể giải thích hoàn toàn các hành vi tự hình thành hoặc có chủ đích (Ganjkhanlo, 2018)
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu kết hợp TPB và NAM
Nguồn: Rezaei và cộng sự (2019)
Cảm nhận khả năng kiểm soát
Chuẩn chủ quan
TPB
NAM
Trang 242.6.2 Các giả thuyết nghiên cứu
2.6.2.1 Các giả thuyết xuất phát từ lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)
Ý định (Intention - IN) thể hiện động lực của cá nhân trong việc đưa ra quyết định hoặc kế hoạch có ý thức để nỗ lực thực hiện hành vi cụ thể (Conner và Armitage, 1998) TPB cho rằng ý định của một cá nhân có thể được dự đoán với độ chính xác cao bởi thái độ (Attitude - AT) đối với một hành vi nhất định, cảm nhận khả năng kiểm soát (Perceived behavioral control - PBC) và chuẩn chủ quan (Subjective norms - SN) (Ajzen, 1991, 2002)
Thái độ thể hiện mức độ đánh giá của một cá nhân về một hành vi là tích cực hay không tích cực (Ajzen, 1991) Thái độ đối với một hành vi phụ thuộc vào đánh giá tổng thể về hành vi và niềm tin vào kết quả mong muốn của nó (Tan và cộng sự, 2017) Nói chung, thái độ tích cực hơn của các cá nhân đối với một hành vi có thể dẫn đến để có ý định thực hiện hành vi đó nhiều hơn (Gao và cộng sự, 2017a) Thái độ có thể được xem như một yếu tố quyết định cơ bản về ý định của một cá nhân (Yadav và Pathak, 2017; Li và cộng sự, 2018; Rezaei và cộng sự, 2018a) Nông dân sẽ có ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ chỉ khi họ tin rằng việc thực hành là hữu ích
và mang lại kết quả tích cực cho họ
Chuẩn mực chủ quan đề cập đến nhận thức về áp lực xã hội khi một cá nhân thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi (Ajzen, 1991) Nhận thức của mỗi cá nhân về sự chấp thuận của một người quan trọng đối với một hành vi sẽ đủ để thúc đẩy
ý định thực hiện hành vi (Shin và Hancer, 2016) Nhận thức cao về các tiêu chuẩn chủ quan liên quan có thể làm tăng xác suất thực hiện một hành vi cụ thể (Gao và cộng sự, 2017a) Nếu nông dân cảm thấy rằng họ chịu áp lực xã hội, sức ép tâm lý của xã hội khi sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nhiều khả năng họ sẽ có xu hướng sử dụng những thực hành đó
Nhận thức kiểm soát hành vi thể hiện đánh giá của một cá nhân về mức độ đơn
giản hoặc khó khăn liên quan đến việc thực hiện hành vi đang được thúc đẩy (Ajzen, 2002) Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh ảnh hưởng trực tiếp của cảm nhận khả năng kiểm soát đến ý định (Chen, 2017; Tan và cộng sự, 2017; Li và cộng sự, 2018) Theo đó, ý định mạnh mẽ của các cá nhân để thực hiện một hành động
cụ thể sẽ chịu ảnh hưởng bởi mức độ kiểm soát bản thân (Gao và cộng sự, 2017a) Khi người nông dân cảm thấy họ có kiến thức, kỹ năng và nguồn lực phù hợp để sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nhiều khả năng họ sẽ hình thành ý định
Trang 2539
Xuất phát từ lý thuyết TPB, nghiên cứu này đã đưa ra các giả thuyết sau:
Giả thuyết H1: Thái độ có ảnh hưởng tích cực đến ý định chấp nhận sản xuất
nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
Giả thuyết H2: Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định chấp nhận
sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
Giả thuyết H3: Cảm nhận khả năng kiểm soát có ảnh hưởng tích cực đến ý
định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
2.6.2.2 Các giả thuyết xuất phát từ mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM)
Nhận thức về kết quả (Awareness of consequences - AC) là nhận thức của cá
nhân về tác động tích cực của hành động ủng hộ xã hội đối với người khác hoặc đánh
giá của họ đối với những thứ khác (De Groot và Steg, 2009) Quy cho trách nhiệm
(Ascription of responsibility - AR) cho thấy cảm giác trách nhiệm của cá nhân đối với
kết quả của các hành vi ủng hộ xã hội (De Groot và Steg, 2009) Chuẩn mực cá nhân
(Personal norm - PN) còn thể hiện nghĩa vụ đạo đức trong việc thực hiện một hành
động cụ thể hoặc kiềm chế nó (Schwartz và Howard, 1981)
Áp dụng mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM) với ý định chấp nhận sản xuất
nông nghiệp hữu cơ cho thấy nông dân nhận thức được kết quả tích cực của việc thực
hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ và cảm thấy trách nhiệm về kết quả sẽ có nghĩa vụ
đạo đức để sử dụng những thực hành để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và bảo vệ
môi trường Cảm giác về nghĩa vụ này, đến lượt nó, dẫn đến một ý định mạnh mẽ để
sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Chính vì vậy, xuất phát từ mô hình kích hoạt tiêu chuẩn NAM, nghiên cứu này
đã đưa ra các giả thuyết sau:
Giả thuyết H4: Nhận thức về kết quả có ảnh hưởng tích cực đến chuẩn mực
cá nhân của người nông dân
Giả thuyết H5: Quy cho trách nhiệm có ảnh hưởng tích cực đến chuẩn mực cá
nhân của người nông dân
Giả thuyết H6: Nhận thức về kết quả có ảnh hưởng tích cực đến gán cho trách
nhiệm của người nông dân
2.6.2.3 Các giả thuyết xuất phát từ việc kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch
(TPB) và mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM)
40
Zhang và cộng sự (2017) đã khẳng định rằng một cá nhân có nhận thức về kết quả tích cực của việc thực hiện một hành vi cụ thể sẽ có nhiều khả năng hình thành các đánh giá thuận lợi về hành vi đó AC phản ánh niềm tin của một cá nhân về thái độ đối với đối tượng nhất định, nó có thể được coi là yếu tố quyết định thái độ đối với đối tượng đó (Park và Ha, 2014) Dựa trên với các nghiên cứu trước đó (Han, 2014, 2015; Park và Ha, 2014; Han và Hyun, 2017), nghiên cứu này đã đưa ra giả thuyết rằng AC
có mối quan hệ với AT Khi nông dân nhận thức được kết quả tích cực của việc sản xuất nông nghiệp hữu cơ thì nhiều khả năng có một thái độ thuận lợi hơn đối với việc thực hiện nó
Ngoài ra, AC cũng liên quan trực tiếp đến SN, khi các cá nhân nhận thức về một kết quả hành vi cụ thể sẽ có một hiểu rõ hơn về tác động của hành vi đó đối với người khác và môi trường (Schwartz, 1977) Bằng chứng thực nghiệm đã được cung cấp bởi một số nghiên cứu về tác động trực tiếp của AC lên SN (Bamberg và Möser, 2007; Park và Hà, 2014; Han, 2015; Zhang và cộng sự, 2017)
PN được kích hoạt khi một cá nhân nhận thấy hành động ủng hộ xã hội sẽ dẫn đến ảnh hưởng tích cực đến cá nhân khác (tức là nhận thức về kết quả - consequences)
và khi cá nhân đó cảm thấy có trách nhiệm những hậu quả tiêu cực có thể xảy ra do anh ấy/cô ấy không hành động Schwartz (1977) và Huijts và cộng sự (2013) đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa PN và ý định xã hội và các tác giả đã chỉ ra rằng PN định hướng ý định hành vi (Udo và Bagchi, 2019)
Do đó, các giả thuyết được đề xuất là:
Giả thuyết H7: Nhận thức về kết quả có ảnh hưởng tích cực đến thái độ của người nông dân
Giả thuyết H8: Nhận thức về kết quả có ảnh hưởng tích cực đến chuẩn chủ quan của người nông dân
Giả thuyết H9: Chuẩn mực cá nhân có ảnh hưởng tích cực đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
2.6.2.4 Các giả thuyết xuất phát từ việc kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT) và lý thuyết động lực bảo vệ (PMT)
Lợi thế hành vi so sánh (Comparative Behaviors’ Usefulness – CBU) so sánh những lợi thế của hành vi của nông dân, điều chỉnh dựa trên lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT) (Rogers, 2003), được quan tâm để áp dụng cho hành vi sản xuất hữu cơ Theo
đó, lý thuyết thảo luận về các yếu tố có ảnh hưởng đến việc áp dụng đổi mới như sau:
Trang 2641
(1) lợi thế tương đối, (2) sự tương hợp, (3) sự phức tạp, (4) khả năng thử nghiệm và (5)
khả năng quan sát Aubert và cộng sự (2012) đề cập đến bốn lợi thế tương đối dựa trên
tầm quan trọng của nông dân khi áp dụng công nghệ nông nghiệp chính xác: (1) năng
suất mở rộng, (2) giảm chi phí đầu vào, (3) thông tin được cải thiện để ra quyết định
và (4) tác động môi trường thấp hơn Sattler và Nagel (2010) chỉ ra ba loại lợi thế
tương đối: các điều khoản của chi phí, điều khoản về nhu cầu thời gian, và các điều
khoản rủi ro
Nhận thức rủi ro của người nông dân (Farmers’ Perception of Risk – FPR) là
nhận thức rủi ro của nông dân về những gì có thể xảy ra với hành vi sản xuất trong
nông nghiệp của họ (Yanakittkul và Aungvaravong, 2017) Dựa trên lý thuyết động
lực bảo vệ (PMT), Le Dang và cộng sự (2014) cho thấy nhận thức rủi ro của nông dân
đến từ tác động của thay đổi khí hậu đến năng suất, sức khỏe của nông dân, tài chính
của nông dân và ảnh hưởng từ ý định của nông dân để thích ứng với hành vi
Chính sách hỗ trợ của chính phủ (Support of Government Policies – SGP) là
một yếu tố chính sách xuất phát từ chính phủ để hỗ trợ và định hình hành vi của người
nông dân như một động lực bên ngoài (Yanakittkul và Aungvaravong, 2017) Smit và
cộng sự (2009) phát hiện ra rằng động lực bên ngoài từ điều kiện kinh tế đã thúc đẩy
nông dân thay đổi canh tác hữu cơ vì họ tin rằng nó sẽ bền vững hơn so với canh tác
thông thường Ngoài ra, Bennbedgaard và cộng sự (2003) xác định rằng động lực kinh
tế là một yếu tố thiết yếu làm cho nông dân nhận ra rằng trồng trọt hữu cơ sẽ làm cho
khỏe mạnh hơn và dẫn đến thu nhập cao hơn Mặt khác, động lực bên ngoài cho nông
dân được chính phủ hỗ trợ trong việc cung cấp thông tin, thiết bị và đảm bảo giá sản
phẩm (Le Dang và cộng sự, 2014) Thông thường, cần có thời gian khoảng ba năm để
chuyển đổi canh tác thông thường sang áp dụng phương pháp canh tác hữu cơ (FAO,
2015; Swezey và cộng sự, 1998; Raynold, 2000; Tranter và cộng sự, 2009) và người ta
nhận thấy rằng trong giai đoạn chuyển đổi sớm, tổng thể sản lượng cây trồng giảm
đáng kể (Meena, 2010; Lohr và Salomonsson, 2000; Pacini và cộng sự, 2003) và ảnh
hưởng xấu đến lợi nhuận (Läpple và Van Rensburg, 2011) Do đó, Chính phủ cần hỗ
trợ và thúc đẩy canh tác hữu cơ bằng cách cung cấp trợ cấp chuyển đổi (Rezvanfar và
Olhan, 2011; Soltani và cộng sự, 2014; McBride và Greene, 2007) Sự hỗ trợ của
chính phủ trở thành một yếu tố mở rộng lý thuyết IDT trong nghiên cứu của Mandari
và cộng sự (2017)
Chính vì vậy, các giả thuyết được đề xuất như sau:
Giả thuyết H10: Lợi thế hành vi so sánh có ảnh hưởng tích cực đến ý định
chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
42
Giả thuyết H11: Nhận thức về rủi ro có ảnh hưởng tích cực đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
Giả thuyết H12: Chính sách hỗ trợ của Chính phủ, chính quyền địa phương
có ảnh hưởng tích cực đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
Trang 2743
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương 2, tác giả đã tiến hành tổng quan các nghiên cứu về ý định chấp
nhận của người nông dân và tổng quan các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý
định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân Trong đó, với tổng
quan các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông
nghiệp hữu cơ của người nông dân, tác giả đã xác định 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm:
nhóm yếu tố thuộc về nhân khẩu học, tính cách và quan điểm của người nông dân;
nhóm yếu tố thuộc về nhận thức của người nông dân; nhóm yếu tố thuộc về trang trại
của người nông dân; nhóm yếu tố thuộc về môi trường; nhóm yếu tố thuộc về các
chính sách truyền thông và hỗ trợ, đồng thời cũng tìm hiểu các lý thuyết và phương
pháp nghiên cứu mà các tác giả trước đây đã thực hiện khi nghiên cứu về ý định chấp
nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân ở các nước trên thế giới
Trong chương 2, tác giả cũng hệ thống cơ sở lý thuyết về nông nghiệp hữu cơ,
vai trò của nông nghiệp hữu cơ và các lý thuyết nghiên cứu về ý định của người nông
dân như: lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM),
lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT) và lý thuyết động lực bảo vệ (PMT)
Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra căn cứ xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên
cứu Mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên việc kết hợp hai cách tiếp cận hợp lý gồm lý
thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), lý thuyết phổ biến đổi mới (IDT), lý thuyết động
lực bảo vệ (PMT) và mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM) Trong đó đối với các giả
thuyết, được đưa ra dựa trên kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và mô hình
kích hoạt tiêu chuẩn (NAM); kết hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và lý thuyết
phổ biến đổi mới (IDT) cùng lý thuyết động lực bảo vệ (PMT) 12 giả thuyết đã được
đề xuất gồm:
- Giả thuyết H1: Thái độ có ảnh hưởng tích cực đến ý định chấp nhận sản xuất
nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
- Giả thuyết H2: Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định chấp nhận sản
xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
- Giả thuyết H3: Cảm nhận khả năng kiểm soát có ảnh hưởng tích cực đến ý định
chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
- Giả thuyết H4: Nhận thức về kết quả có ảnh hưởng tích cực đến chuẩn mực cá
nhân của người nông dân
Luận án muốn nhấn mạnh thêm vấn đề quan hệ giữa lợi nhuận và ý định chấp nhận phát triển nông nghiệp hữu cơ của người dân cũng như của những bên có liên quan Người nông dân nếu có lợi nhuận họ sẽ phát triển nông nghiệp hữu cơ Người tiêu dùng nếu có sản phẩm nông nghiệp hữu cơ chính xác thì họ sẵn sàng tiêu dùng nông sản hữu cơ Nhà phân phối, nhà khoa học và những người liên quan nếu có lợi ích họ cũng tham gia phát triển nông nghiệp hữu cơ Trong nghiên cứu của mình tác giả cố định các yếu tố khác mà chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến ý định chấp nhận phát triển nông nghiệp hữu cơ của người nông dân Cạnh tranh giữa nông sản hữu cơ và nông sản không hữu cơ có ảnh hưởng lớn đến ý kiến chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người dân
Trang 2845
CHƯƠNG 3 BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Bối cảnh nghiên cứu
Phát triển nông nghiệp hữu cơ là hướng phát triển bền vững mà nền nông
nghiệp Việt Nam nói chung và nông nghiệp Hà Nội nói riêng cần hướng tới Tuy
nhiên thách thức đối với nông nghiệp hữu cơ hiện nay là đời sống người dân còn thấp
và dân trí chưa cao, do vậy việc sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng gặp nhiều khó khăn
và thách thức, nhất là vấn đề nâng cao nhận thức cho cả cộng đồng về giá trị của nông
nghiệp hữu cơ
Hà Nội với tổng diện tích đất tự nhiên 335.859 ha, trong đó đất nông lâm
nghiệp và nuôi trồng thủy sản là 196.009 ha, chiếm khoảng 58% Sản xuất nông
nghiệp khá phát triển ở các huyện ngoại thành Hà Nội Với đặc điểm địa hình các
huyện ngoại thành có nhiều vùng sinh thái (vùng núi, vùng đồi gò đồng bằng thấp, bãi
ven sông), nguồn nước dồi dào, hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, rất thuận
lợi cho phát triển nền nông nghiệp nói chung và nông nghiệp hữu cơ nói riêng theo
hướng hàng hóa tập trung Trong đó nông nghiệp Thủ đô có thị trường lớn, hấp dẫn và
giàu tiềm năng phát triển với khoảng 10 triệu dân đang cư trú, công tác, học tập, du
lịch và đang có xu hướng ngày càng tăng Theo thống kê của Sở Nông nghiệp phát
triển nông thôn Hà Nội, hiện nay lương thực, thực phẩm sản xuất trên địa bàn mới chỉ
cung cấp được khoảng 52% thịt các loại, 64% cá, 65% trứng gia cầm, 20% sữa, 44%
gạo tẻ, 55% rau củ tươi và 17% các loại quả tươi Do vậy, nhu cầu về lương thực, thực
phẩm trên địa bàn vẫn còn dư địa rất lớn, nhất là đối với các sản phẩm nông nghiệp
đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm như sản phẩm rau hữu cơ, các loại quả
hữu cơ, quả đặc sản ngày càng tăng cao Lợi thế về vị trí địa lý của các huyện sản xuất
nông nghiệp gần trung tâm nội thành trung tâm sẽ trở thành cơ hội vô cùng lớn cho
nông nghiệp hữu cơ Thành phố phát triển vì nó giúp giảm chi phí vận chuyển và đảm
bảo độ dinh dưỡng và tươi ngon của các mặt hàng nông sản Dưới đây là một số kết
quả quan trọng của sản xuất hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.1.1 Lúa hữu cơ
* Diện tích gieo trồng: Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và phát triển nong thôn
Hà Nội, trong giai đoạn 2015-2020 diện tích gieo trồng lúa toàn thành phố có xu
hướng giảm dần từ 200.531 ha (2015) xuống 174.000 ha (2020), tốc độ giảm bình
quân đạt 0,03%/năm Sản lượng thóc năm 2020 đạt 1.003 nghìn tấn, giảm bình quân
3,02%/năm, giảm 26,5 nghìn tấn so với năm 2015 Ngược lại với xu hướng trên, diện
46
tích gieo trồng lúa hữu cơ toàn thành phố có xu hướng tăng mạnh từ 36 ha (2015) lên 426,2 ha (2020) đạt 0,24% tổng diện tích gieo trồng lúa toàn thành phố Năng suất lúa hữu cơ không biến động nhiều, tăng từ 47,0 tạ/ha (2015) lên 47,8 tạ/ha (2020) và thấp hơn so với năng suất lúa sản xuất thông thường Sản lượng lúa hữu cơ tăng từ 169 tấn
2015 2018 2019 2020 2015- 2020
1 Diện tích gieo trồng (ha)
Nguồn: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội (2020)
* Diện tích canh tác: Năm 2020 tổng diện tích canh tác lúa hữu cơ đạt 213,1 ha trong đó có 130 ha được cấp chứng nhận hữu cơ tại huyện Chương Mỹ (xã Đồng Phú,
xã Nam Phương Tiến) và 83,1 ha canh tác chuyển đổi hữu cơ tập trung tại huyện Thường Tín 7 ha (xã Khánh Hà), huyện Phú Xuyên 2 ha, huyện Mỹ Đức 21,2 ha (xã
Mỹ Thành), huyện Thanh Oai 52,9 ha (xã Tam Hưng) Sản xuất lúa hữu cơ Hà Nội tập
trung chính vào hai giống lúa là Bắc Thơm và giống lúa Japonica
Bảng 3.2: Sản xuất lúa hữu cơ phân theo huyện, thị thành
Đơn vị: DT: ha, SL: tấn
STT Hạng mục Năm 2015 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
DTCT SL DTCT SL DTCT SL DTCT SL
Trang 2947
Nguồn: Kết quả điều tra và tổng hợp Viện Quy hoạch và TKNN (2020)
3.1.2 Rau hữu cơ
* Diện tích gieo trồng: Đến năm 2020, thành phố Hà Nội có tổng diện tích gieo
trồng rau các loại 34.000 ha, tăng thêm 2.273 ha so với năm 2015 (31.727 ha), tốc độ
tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015-2020 đạt 1,39%/năm Sản lượng rau hàng năm
đạt 720.000 tấn, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 2,05%/năm Chủng loại rau gieo
trồng khá phong phú với trên 40 loại, chủ yếu gieo trồng ở vụ đông xuân Diện tích
gieo trồng rau hữu cơ tăng trưởng nhanh qua các năm trong giai đoạn 2015 – 2020,
tăng từ 135 ha (2015), chiếm tỷ lệ 0,43% tổng diện tích rau toàn thành phố lên 502 ha
(2020, chiếm tỷ lệ 1,48% diện tích rau toàn thành phố Năng suất rau trồng hữu cơ
bình quân đạt 188,7 tạ/ha thấp hơn từ 10 – 15% so với rau trồng thông thường Cụ thể
48
năng suất rau trồng hữu cơ bằng 90,1% năng suất rau trồng thông thường Các giống rau hữu cơ được gieo trồng thường là rau xanh ăn lá (rau cải, rau muống, rau mùng tơi, rau bầu ), rau lấy củ quả (dưa chuột, cà chua, mướp đắng, bí đỏ, bí xanh, bầu ) Sản lượng rau hữu cơ tăng từ 2.491 tấn (2015) lên 9.677 tấn (2020), tốc độ tăng trưởng bình quân năm đạt 31,18% Khoảng 80% sản lượng rau hữu cơ tiêu thụ qua các siêu thị, chuỗi thực phẩm, bếp ăn tập thể; 20% còn lại được tiêu thụ qua các mối quan
hệ thân quen giữa người bán và người mua hoặc qua thương lái thu gom
Bảng 3.3: Diễn biến sản xuất rau hữu cơ Hà Nội qua các năm
Tăng trưởng bình quân (%/năm)
2015 2018 2019 2020 2015-2020
1 Diện tích gieo trồng (ha)
Nguồn: Kết quả điều tra và tổng hợp Viện Quy hoạch và TKNN (2020)
* Diện tích canh tác: Tính đến năm 2020, tổng diện tích canh tác rau hữu cơ Hà Nội đạt 167,4 ha trong đó có 62,7 ha được cấp chứng nhận hữu cơ, tập trung tại các huyện Sóc Sơn 37,5 ha (xã Thanh Xuân, Tân Dân, Đông Xuân, Hiền Ninh), huyện Đông Anh 1,5 ha (xã Tàm Xá), huyện Thạch Thất 15 ha (xã Yên Bình), huyện Phú Xuyên 1,2 ha (xã Minh Tân, Hồng Thái), huyện Mỹ Đức 2,5 ha (xã Chúc Sơn, Đồng Phú), huyện Đan Phượng 5 ha (xã Đan Phượng, Liên Trung) Diện tích chuyển đổi hữu cơ đạt 104,7 ha, tập trung tại huyện Đông Anh 11 ha (xã Tàm Xá, Tiên Dương,
Cổ Loa, Nguyên Khê, Vân Nội), huyện Quốc Oai 3 ha (xã Phượng Cách, Cộng Hòa), huyện Ba Vì 1 ha, huyện Thạch Thất 10 ha (xã Yên Bình, Yên Trung), thị xã Sơn Tây
2 ha (xã Viên Sơn), huyện Thanh Trì 1,4 ha ( xã Duyên Hà), huyện Chương Mỹ 2 ha (xã Chúc Sơn, Nam Phương Tiến), huyện Thanh Oai 10 ha (xã Dân Hòa, Hồng Dương), huyện Thường Tín 6 ha (xã Ninh Sở, Duyên Hà), huyện Phú Xuyên 8,5 ha (xã Minh Tân, Hồng Thái), huyện Mỹ Đức 13,5 ha (xã Chúc Sơn, Đồng Phú), huyện Đan Phượng 36,3 ha (xã Thọ Xuân, Đan Phượng, Liên Trung)
Trang 30Nguồn: Kết quả điều tra và tổng hợp Viện Quy hoạch và TKNN (2020)
3.1.3 Cây ăn quả hữu cơ
Cây ăn quả là nhóm cây chủ lực chiếm tỷ lệ lớn trong nhóm cây lâu năm của
thành phố Hà Nội Cây ăn quả được trồng tập trung ở hai vùng chính: đồi gò và bãi
ven sông, chủ yếu ở các huyện Ba Vì, Chương Mỹ, Sóc Sơn, Quốc Oai, Gia Lâm, Đan
Phượng Tại các vùng đất bãi ven sông: cây ăn quả sinh trưởng, phát triển tốt; Trình
độ thâm canh của người dân cao; Năng suất quả tại một số vùng tương đối ổn định qua
các năm, chất lượng ngon Tại các vùng đồi gò: Cây ăn quả được trồng tập trung, tạo
vùng hàng hóa lớn, có xã trồng tập trung hàng trăm hecta, tuy nhiên trình độ thâm
canh của người dân chưa cao, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới còn có hạn chế
Bảng 3.5: Diễn biến sản xuất cây ăn quả hữu cơ Hà Nội qua các năm
Tăng trưởng bình quân (%/năm)
2015 2018 2019 2020 2015-2020
1 Diện tích (ha)
2 Sản lượng (tấn)
50
Tăng trưởng bình quân (%/năm)
2015 2018 2019 2020 2015-2020
- Cây ăn quả 222.447 251.742 259.470 300.888 6,23
Nguồn: Kết quả điều tra và tổng hợp Viện Quy hoạch và TKNN (2020)
Giai đoạn 2015 đến 2020 diện tích cây ăn quả Hà Nội tăng nhanh từ 15.726 ha (2015) lên 21.880 ha (2020), tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,83%/năm Sản lượng cây ăn quả tăng từ 222.447 tấn (2015) lên 300.888 tấn (2020), tốc độ tăng bình quân đạt 6,23%/năm
Trong giai đoạn 2015-2020, diện tích cây ăn quả hữu cơ Hà Nội tăng từ 15,8ha (2018) chiếm tỷ lệ 0,1% so với tổng diến tích cây ăn quả toàn thành phố lên 73 ha (2020) chiếm tỷ lệ 0,3% so với tổng diện tích cây ăn quả toàn thành phố Sản lượng cây ăn quả hữu cơ tăng từ 238 tấn (2018) chiếm tỷ lệ 0,1% so với tổng sản lượng cây
ăn quả toàn thành phố lên 1.344 tấn (2020) chiếm tỷ lệ 0,4% so với tổng sản lượng cây
ăn quả toàn thành phố
Bảng 3.6: Sản xuất cây ăn quả hữu cơ phân theo huyện, thị
Đơn vị: DT: ha, SL: tấn
STT Hạng mục Năm 2015 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Trang 3151
Chủng loại cây ăn quả Hà Nội khá phong phú và đa dạng với các loại quả chủ
lực như chuối, cam, bưởi, ổi, nhãn, vải, táo Hiện tại sản phẩm quả của Hà Nội đã có
nhãn hiệu, thương hiệu như: Bưởi Chương Mỹ, Bưởi Phúc Thọ, Bưởi Quế Dương,
Bưởi sạch Sóc Sơn, Bưởi tôm vàng Đan Phượng, Nhãn muộn Đại Thành, Nhãn muộn
Hoài Đức, Chuối Vân Nam, Cam Kim An, Ổi Đông Dư, Ổi Tiến Thịnh Tuy nhiên,
hiện nay Hà Nội mới phát triển được hai loại quả hữu cơ là ổi và bưởi
Tính đến năm 2020, tổng diện tích trồng cây ăn quả hữu cơ thành phố Hà Nội đạt
73 ha, trong đó diện tích được cấp chứng nhận hữu cơ là 0 ha, diện tích chuyển đổi
hữu cơ là 73 ha Diện tích trồng ổi hữu cơ tập trung tại các huyện Mê Linh 5 ha (xã
Tiến Thịnh), huyện Gia Lâm 2 ha (xã Đông Dư); bưởi hữu cơ tại huyện Ứng Hòa 15
ha (xã Đồng Tiến), huyện Chương Mỹ 21 ha (xã Nam Phương Tiến), huyện Mỹ Đức
14,7 ha (xã Bột Xuyên), huyện Đan Phượng 14,8 ha (xã Thượng Mỗ), huyện Hoài Đức
0,5 ha (xã Cát Quế)
3.1.4 Chè hữu cơ
Cây chè là cây công nghiệp lâu năm chủ yếu của thành phố Hà Nội Trong giai
đoạn 2015-2020, diện tích trồng chè giảm dần từ 2.876 ha (2015) xuống còn 58 ha
(2020) do chuyển đổi đất sang các mục đích phi nông nghiệp Những năm gần đây Hà
Nội hầu như không phát triển chè trồng mới mà chú trọng đầu tư thâm canh trên diện
tích chè hiện có Nhờ vậy mà năng suất chè không ngừng gia tăng từ 85,7 tạ/ha (2015)
lên 89 tạ/ha (2020) Sản lượng chè búp tươi trung bình đạt 21.800 tấn/năm Hình thành
04 chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ chè trên địa bàn các huyện Sóc Sơn, Chương Mỹ,
Quốc Oai, Ba Vì
Bảng 3.7: Diễn biến sản xuất chè hữu cơ Hà Nội qua các năm
Tăng trưởng bình quân (%/năm)
cơ mà đang thực hiện sản xuất chè chuyển đổi hữu cơ, tập trung tại thị xã Sơn Tây 3,1
ha (xã Đường Lâm, Thanh Mỹ), huyện Quốc Oai 10 ha (xã Hòa Thạch), huyện Ba Vì 23,4 ha (xã Ba Trại)
Bảng 3.8: Sản xuất chè hữu cơ phân theo huyện, thị
Đơn vị: DT: ha, SL: tấn
STT Hạng mục Năm 2015 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Nguồn: Kết quả điều tra và tổng hợp Viện Quy hoạch và TKNN (2020)
3.1.5 Dược liệu hữu cơ
Với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi, thành phố Hà Nội có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển cây dược liệu đặc hữu, giá trị kinh tế cao Thực tế, thành phố đã và đang có thêm nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ cây trồng này, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân…
Nguồn gen dược liệu được trồng trên địa bàn thành phố khá đa dạng, có khoảng
176 nguồn gen cây dược liệu được gieo trồng trên địa bàn 16 quận, huyện của thành phố Nhưng tập trung nhiều tại huyện Sóc Sơn và Ba Vì Đây là hai huyện miền núi có rừng, điều kiện thời tiết khí hậu rất thích hợp cho các loại cây dược liệu, như: Khôi tía,
Trang 3253
trà hoa vàng, thìa canh, kim ngân hoa, đương quy, cát cánh, sachi, bạc hà, tàu bay,
đinh lăng, trà hoa cúc Nhật, mộc hoa, nhân trần Còn các loại dược liệu: Cà gai leo,
cây mật gấu, hoàn ngọc, râu mèo được trồng nhiều ở những vùng bán sơn địa của
huyện Chương Mỹ và Thạch Thất, Đan Phượng Tại các huyện đồng bằng như: Gia
Lâm, Thường Tín, Phú Xuyên, chủ yếu trồng các loại dược liệu: Nghệ, hoa nhài, đinh
lăng, ngải cứu, thục địa, kim tiền thảo, chùm ngây
Bảng 3.9: Diễn biến sản xuất cây dược liệu hữu cơ Hà Nội qua các năm
Tăng trưởng bình quân (%/năm)
2015 2018 2019 2020 2015-2020
Nguồn: Kết quả điều tra và tổng hợp Viện Quy hoạch và TKNN (2020)
Đến năm 2020 toàn diện tích cây dược liệu ở Hà Nội đạt khoảng 835 ha, sản
lượng đạt 4.175 tấn chủ yếu trồng tại các quận, huyện: Phú Xuyên 270ha, Sóc Sơn
171ha, Gia Lâm gần 131,3ha, Long Biên gần 65ha, Đông Anh 70ha, Mỹ Đức 61,2ha,
Thường Tín gần 36,4ha và huyện Ba Vì 30ha
Hiện nay Hà Nội chưa có diện tích cây dược liệu được cấp chứng nhận hữu cơ;
diện tích cây dược liệu sản xuất chuyển đổi hữu cơ là 74,2 ha, tập trung tại các huyện
Sóc Sơn 32 ha (xã Xuân Giang cây thảo dược râu mèo, thìa canh, kim ngân hoa, hoa
sen; xã Bắc Sơn cây trà hoa vàng, kim ngân hoa, khôi tía, cúc hoa, râu mèo, Minh Trí
đậu biếc, cúc la mã); huyện Thường Tín 1,2 ha (xã Khánh Hà cây chùm ngây, cà gai
leo); huyện Mỹ Đức 41 ha (xã Mỹ Thành cây cà gai leo)
cơ đã được cấp chứng nhận, có thương hiệu uy tín trên thị trường như gạo hữu cơ Đồng Phú, rau hữu cơ Sóc Sơn
Trang 3355
Bảng 3.11: Diễn biến trồng trọt hữu cơ Hà Nội qua các năm
Tăng trưởng bình quân (%/năm)
Nguồn: Kết quả điều tra và tổng hợp Viện Quy hoạch và TKNN (2020)
3.1.7 Định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Hà
Nội trong thời gian tới
Hà Nội đưa ra định hướng phát triển nông nghiệp trên địa bàn: Phát triển nông
nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, có quản lý, giám sát và truy
suất được nguồn gốc nhằm tạo ra những sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng cũng
như bảo vệ môi trường Xác định phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn là quan
điểm nhất quán, lâu dài của Thành phố Mục tiêu đến năm 2025 phát triển được diện
tích canh tác hữu cơ đạt khoảng 2% diện tích canh tác nông nghiệp, giá trị sản lượng
nông nghiệp hữu cơ đạt 5% tổng giá trị sản lượng sản xuất nông nghiệp
Trong bối cảnh khu vực ngoại thành Hà Nội đang trong qúa trình đô thị hóa tiếp
tục diễn ra mạnh, nhanh trong những năm tới Năm 2025, dự báo dân số của thành phố
Hà Nội khoảng hơn 9,0 triệu người (riêng nhân khẩu thành thị có khoảng gần 6 triệu
người), nhu cầu nông sản sạch và nông sản hữu cơ tương đối lớn do thu nhập của
người dân ngày càng tăng, xu hướng tiêu dùng thay đổi khi người dân quan tâm hơn
đến chất lượng sản phẩm và sự an toàn cho sức khỏe hơn trước đây đã cho thấy triển
vọng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Hà Nội là rất lớn
56
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Quy trình và phương pháp nghiên cứu
3.2.1.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả xây dựng trên cơ sở tổng quan nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được thực hiện thông qua các bước: tìm hiểu cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu để xây dựng mô hình và thang đo; nghiên cứu định tính để kiểm tra các biến độc lập và phụ thuộc, xác định mối quan hệ giữa các yếu tố; nghiên cứu định lượng để kiểm định độ tin cậy của các thang đo (Cronbach’s Alpha); nghiên cứu định lượng chính thức để kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình bằng phân tích
Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lượng (N = 318)
Đề xuất các giải pháp
Mô hình và thang đo
Kiểm tra các biến độc lập và phụ thuộc, xác định mối quan hệ giữa các nhân tố
Phân tích độ tin cậy (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình bằng phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM), kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, kiểm định tác động của các biến kiểm soát
Trang 353.2.3 Nghiên cứu định lượng
3.2.3.1 Các biến và thang đo
Bảng 3.13 Các thang đo sử dụng trong luận án
1 Ý định (IN)
Ý định thể hiện động lực của người nông dân trong việc đưa ra quyết định hoặc
kế hoạch có ý thức để nỗ lực thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ (điều chỉnh
Rezaei và cộng sự (2019)
2 Thái độ (AT) Thái độ thể hiện đánh giá của người nông dân về thực hành sản xuất nông nghiệp
hữu cơ (điều chỉnh dựa trên nghiên cứu của Ajzen, 1991)
Yanakittkul và Aungvaravong (2017)
3 Chuẩn chủ quan (SN)
Chuẩn mực chủ quan đề cập đến nhận thức về áp lực xã hội khi người nông dân
thực hiện hoặc không thực hiện sản xuất nông nghiệp hữu cơ (điều chỉnh dựa trên
Yanakittkul và Aungvaravong (2017)
5 Nhận thức về kết quả
(AC)
Nhận thức về kết quả là nhận thức của người nông dân về tác động tích cực của
thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ (điều chỉnh dựa trên nghiên cứu của De
Rezaei và cộng sự (2019)
6 Quy cho trách nhiệm
(AR)
Quy cho trách nhiệm cho thấy cảm giác trách nhiệm của người nông dân đối với
kết quả của việc thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ (điều chỉnh dựa trên
Chuẩn mực cá nhân còn thể hiện nghĩa vụ đạo đức trong việc thực hành sản xuất
nông nghiệp hữu cơ (điều chỉnh dựa trên nghiên cứu của Schwartz và Howard,
Rezaei và cộng sự (2019)
8 Lợi thế hành vi so sánh
(CPU)
Lợi thế hành vi so sánh so sánh những lợi thế của thực hành sản xuất nông nghiệp
hữu cơ (điều chỉnh dựa trên nghiên cứu của Rogers, 2003)
Yanakittkul và Aungvaravong (2017)
9 Nhận thức về rủi ro (FPR)
Nhận thức rủi ro của người nông dân là nhận thức rủi ro của nông dân về những
gì có thể xảy ra với thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ (điều chỉnh dựa trên
Yanakittkul và Aungvaravong (2017)
10 Chính sách hỗ trợ của
Chính phủ (SGP)
Chính sách hỗ trợ của chính phủ là các chính sách xuất phát từ chính phủ để hỗ trợ và định hình việc thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân
như một động lực bên ngoài (điều chỉnh dựa trên nghiên cứu của Yanakittkul và
Yanakittkul và
Aungvaravong (2017)
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trang 3661
Các thang đo được rút ra từ tổng quan nghiên cứu, có điều chỉnh căn cứ vào kết
quả phỏng vấn sâu Mỗi thang đo đo lường bởi một số biến quan sát do các học giả
từng sử dụng trong nghiên cứu của mình Các biến quan sát và thang đo hầu hết được
sử dụng từ các nghiên cứu nước ngoài, được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt và sau
đó được dịch ngược lại từ tiếng Việt sang tiếng Anh Tác giả đã tập hợp các bộ quan
sát cho từng thang đo dựa trên tổng quan các nghiên cứu trước Sau khi hoàn thiện bản
dịch các bộ thang đo, tác giả có tham khảo thêm ý kiến của một số chuyên gia và
người nông dân (đối tượng trực tiếp trả lời) để đảm bảo lựa chọn bộ quan sát phù hợp
với nghiên cứu của mình đồng thời các biến quan sát và thang đo được dịch chính xác,
rõ ràng và không làm thay đổi đáng kể ý nghĩa
Các biến quan sát được đo bằng thang đo Likert với thang điểm đánh giá từ 1
đến 5 Mức độ đồng ý của người trả lời sẽ tăng dần từ 1 đến 5, trong đó 1 – hoàn toàn
không đồng ý, 2 – không đồng ý, 3 – trung hòa, 4 – đồng ý, 5 – hoàn toàn đồng ý
Bảng 3.14 Thang đo yếu tố xây dựng dựa trên TPB
Tôi dự định thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ trong
Tôi sẽ nỗ lực thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Tôi đang lên kế hoạch thực hành sản xuất nông nghiệp
2 Thái độ (AT)
Chất lượng sản phẩm từ canh tác hữu cơ tốt hơn nông
Canh tác hữu cơ tốt cho sức khỏe của tôi và các thành
Các sản phẩm từ canh tác hữu cơ là tốt cho sức khỏe
3 Chuẩn chủ quan (SN)
Các thành viên trong gia đình muốn tôi chuyển đổi sang
Các tin tức từ phương tiện truyền thông trên truyền hình,
đài phát thanh hoặc báo dẫn đến lựa chọn canh tác hữu cơ
Việc hình thành các nhóm nông dân về canh tác hữu cơ sẽ
Việc hình thành các nhóm nông dân về canh tác hữu cơ sẽ
gia tăng các khoản thu và có được chứng nhận về canh tác
hữu cơ
SN5 Việc hình thành các nhóm nông dân về canh tác hữu cơ sẽ
62
4
Cảm nhận khả năng kiểm soát (PBC)
Tôi biết sự khác biệt giữa canh tác hữu cơ và canh tác
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Các yếu tố xây dựng dựa trên TPB được mô tả bởi bốn thang đo là ý định (3 quan sát), thái độ (5 quan sát), chuẩn chủ quan (6 quan sát), cảm nhận khả năng kiểm soát (6 quan sát) Trong đó, ý định được đo bằng nhiều thang đo khác nhau nhưng ở nghiên cứu này tác giả sử dụng 3 quan sát trong thang đo của Ajzen (2002) và Rezaei và cộng sự (2019) Đối với thái độ, tác giả sử dụng 5 quan sát được kiểm định trong bốn nghiên cứu của Deng và cộng sự (2016); Yazdanpanah và cộng sự (2014); L€ apple and Kelley (2013); Yanakittkul và Aungvaravong (2017) 6 quan sát của thang đo chuẩn chủ quan được tác giả kế thừa từ nghiên cứu của Chin và cộng sự (2016); Chang và cộng sự (2016); Deng và cộng sự (2016); Le Dang và cộng sự (2014); Van Dijk và cộng sự (2016) và Yanakittkul và Aungvaravong (2017) Cảm nhận khả năng kiểm soát được đo lường bởi 6 quan sát kế thừa từ nghiên cứu của Borges và cộng sự (2016); Yazdanpanah
và cộng sự (2014); L€ apple and Kelley (2013); Van Dijk và cộng sự (2016); Borges và cộng sự (2016); Yanakittkul và Aungvaravong (2017) Các biến được đo lường bằng thang đo Likert từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý)
Bảng 3.15 Thang đo yếu tố xây dựng dựa trên NAM
1 Nhận thức về kết quả (AC)
Thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ ngăn ngừa sâu
Thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ giảm thiểu ô
Thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ giúp giảm
Thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ có thể ngăn chặn nguy cơ đa dạng sinh học thực vật và sự xâm nhập
Thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ ngăn ngừa hoặc giảm nguy cơ về bệnh tật tiềm ẩn ảnh hưởng đến
Thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ giúp cải thiện
Trang 3763
trách nhiệm
(AR) sử dụng thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ Tôi nhận thấy xảy ra các vấn đề môi trường nếu tôi
không sử dụng các thực hành sản xuất nông nghiệp hữu
cơ trong trang trại của mình
AR2 Tôi tin rằng mỗi nông dân phải có trách nhiệm sử dụng
Theo tôi, tất cả nông dân phải chịu trách nhiệm về các mối nguy hại cho sức khỏe con người do lạm dụng thuốc trừ sâu
AR4
3 Chuẩn mực cá nhân
(PN)
Tôi cảm thấy bắt buộc về mặt đạo đức khi thực hành
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ phù hợp với các nguyên
Tôi sẽ cảm thấy có lỗi khi không thực hành sản xuất
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Các yếu tố xây dựng dựa trên NAM mô tả bởi ba thang đo là nhận thức về kết
quả (6 quan sát), gán cho trách nhiệm (4 quan sát) và chuẩn mực cá nhân (6 quan sát)
Đối với thang đo nhận thức về kết quả được tác giả kế thừa 6 quan sát đến từ nghiên
cứu của Aktar và cộng sự (2009); Abdollahzadeh và cộng sự (2015); Zhang và cộng sự
(2017); Rezaei và cộng sự (2019) Thang đo gán cho trách nhiệm gồm 4 quan sát đến
từ nghiên cứu của Setiawan và cộng sự (2014); Shin và cộng sự (2018); Rezaei và
cộng sự (2019) Để làm rõ thang đo chuẩn mực cá nhân, tác giả sử dụng 6 quan sát
được kế thừa từ các nghiên cứu của Godin và cộng sự (2005); Shin và Hancer (2016);
Rezaei và cộng sự (2019) Các biến được đo lường bằng thang đo Likert từ 1 (hoàn
toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý)
Bảng 3.16 Thang đo yếu tố xây dựng dựa trên IDT và PMT
1 hành vi so Lợi thế
sánh (CPU)
Sản phẩm từ canh tác hữu cơ được bán với giá cao hơn so với sản phẩm
Máy móc và thiết bị sử dụng trong canh tác hữu cơ không khác với
Lao động được sử dụng để canh tác hữu cơ không khác với canh tác
Chi phí canh tác hữu cơ thấp hơn chi phí canh tác nông nghiệp thông
Nguy cơ tiếp xúc với độc tố được sử dụng trong các quy trình từ nông
Nguy cơ các thành viên trong gia đình bị ngộ độc, bị nhiễm độc tố từ FPR3
64
việc tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp thông thường
Rủi ro của các sản phẩm nông nghiệp thông thường vượt quá yêu cầu
Chính phủ hỗ trợ các chính sách hỗ trợ nông dân trong việc phê duyệt
Chính phủ hỗ trợ các chính sách có được kiến thức và thông tin về canh
Chính phủ hỗ trợ các chính sách để sản xuất thiết bị, chẳng hạn như hạt
Chính phủ hỗ trợ các chính sách đảm bảo giá của sản phẩm từ canh tác
Chính phủ hỗ trợ các chính sách khám phá thị trường mới cho canh tác
Chính phủ hỗ trợ các chính sách cung cấp các khoản vay lãi suất thấp
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Các yếu tố xây dựng dựa trên IDT và PMT mô tả bởi ba thang đo là lợi thế hành vi so sánh (5 quan sát), nhận thức về rủi ro (5 quan sát) và chính sách hỗ trợ của Chính phủ (7 quan sát) Thang đo lợi thế hành vi so sánh được tác giả kế thừa 5 quan sát đến từ nghiên cứu của Aubert và cộng sự (2012); Sattler và Nagel (2010); Aubert
và cộng sự (2012); Yanakittkul và Aungvaravong (2017) Trong khi đó, thang đo nhận thức về rủi ro gồm 5 quan sát đến từ nghiên cứu của Le Dang và cộng sự (2014); Yanakittkul và Aungvaravong (2017) Để chứng minh các giả thuyết liên quan đến thang đo chính sách hỗ trợ của Chính phủ, tác giả sử dụng 7 quan sát được kế thừa từ các nghiên cứu của Le Dang và cộng sự (2014); Yanakittkul và Aungvaravong (2017) Các biến được đo lường bằng thang đo Likert từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý)
3.2.3.2 Thiết kế nghiên cứu
a Thiết kế bảng hỏi
Kết cấu bảng hỏi:
- Phần mở đầu: giới thiệu với người trả lời về mục đích, ý nghĩa và tính bảo mật
của thông tin mà họ sẽ cung cấp
- Phần 1: Tìm hiểu mức độ đồng ý của người trả lời về các phát biểu liên quan
đến các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ
- Phần 2: Tìm hiểu thông tin cá nhân của người trả lời
Trang 3865
Quy trình xây dựng bảng hỏi được thiết kế theo trình tự 3 bước như sau:
- Xác định thang đo và các biến quan sát cho từng thang đo trên cơ sở tổng quan
nghiên cứu Các biến quan sát của từng thang đo phần lớn được kế thừa và dịch
từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên để xây dựng bảng hỏi bằng tiếng Việt thì tác
giả đã phối hợp với hai chuyên gia vừa thông thạo tiếng Anh, vừa có kinh
nghiệm trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh dịch xuôi từ tiếng Anh
sang tiếng Việt và sau đó dịch ngược lại từ tiếng Việt sang tiếng Anh để đảm
bảo việc chuyển đổi ngôn ngữ là chính xác, rõ ràng, mạch lạc và không làm
thay đổi đáng kể ý nghĩa của các biến quan sát trong từng thang đo Các biến
quan sát cho từng thang đo được đưa vào bảng hỏi người trả lời dưới dạng mức
độ đồng ý từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý)
- Bảng hỏi nháp được gửi đến 30 đối tượng để đánh giá và nhận xét nhằm đảm
bảo không có sự hiểu lầm về từ ngữ và nội dung của từng câu hỏi, kiểm tra các
thang đo
- Trên cơ sở khảo sát thử 30 đối tượng, tác giả tiến hành hoàn thiện bảng hỏi để
thực hiện phỏng vấn trực tiếp và gửi qua Hội nông dân, qua doanh nghiệp tiêu
thụ sản phẩm hữu cơ và trực tiếp khảo sát các hội nhóm của nông dân sản xuất
nông nghiệp hữu cơ để có thể có được kết quả khảo sát từ đúng khách thể
nghiên cứu đã lựa chọn là nông dân đại diện cho hộ đang sản xuất nông nghiệp
thông thường, hộ nông dân nằm trong vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ
b Thiết kế mẫu
Mức kỳ vọng về độ tin cậy, phương pháp ước lượng, số lượng tham số cần ước
lượng và mức kỳ vọng về độ tin cậy trong nghiên cứu quyết định quy mô mẫu nghiên
cứu Trong nghiên cứu của mình, Tabachnick và Fidell (2006) đã kết luận rằng, kích
thước mẫu cần đảm bảo tối thiểu là N ≥ 8m + 50 (trong đó m là số biến độc lập của mô
hình) Hair và cộng sự (2010) cho rằng đối với phân tích yếu tố thì kích thước mẫu sẽ
phụ thuộc vào số lượng biến quan sát được đưa vào phân tích và số quan sát phải đạt
mức tối thiểu gấp 5 lần so với số lượng biến quan sát sử dụng Hoàng Trọng và Chu
Nguyễn Mộng Ngọc (2008) xác định số quan sát tối thiểu phải bằng 4 đến 5 lần số
biến trong phân tích yếu tố
Mẫu điều tra của tác giả là những người nông dân đại diện cho các nông hộ
đang thực hành canh tác thông thường (và một số đại diện cho nông hộ đang canh tác
hữu cơ) tại địa bàn thành phố Hà Nội tại một số khu vực như Sóc Sơn, Đan Phượng và
Thạch Thất Tác giả lựa chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện và để đảm bảo tính đại
66
diện, mẫu nghiên cứu cố gắng được phân bổ đa dạng về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm nông nghiệp và thu nhập làm nông nghiệp
Tác giả thu thập danh sách các hộ nông dân đang thực hiện canh tác thông thường ở
3 khu vực là Sóc Sơn, Đan Phượng và Thạch Thất, là các khu vực chiếm diện tích tương đối lớn, thuộc vùng quy hoạch sản xuất nông nghiệp ổn định đã được phê duyệt, có vùng sản xuất chuyên canh tập trung, có tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hà Nội, là 3/7 huyện có sản phẩm nông nghiệp hữu cơ được công nhận, đảm bảo tính đại diện cho các huyện tham gia sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở danh sách có được, tác giả tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên mỗi khu vực 150 người nông dân đại diện cho các hộ nông dân
Thứ hai, phân tích yếu tố EFA nhằm nhóm gọn các biến quan sát ban đầu thành những yếu tố mới có ý nghĩa, đồng thời phát hiện cấu trúc tiềm ẩn giữa các khái niệm nghiên cứu Đầu tiên, tác giả thực hiện hai kiểm định là kiểm định KMO và Barlett’s KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là chỉ số thể hiện mức độ phù hợp của phân tích nhân tố khám phá (EFA), hệ số KMO nằm trong khoảng từ 0,5 đến 1 thì kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) được cho là phù hợp Sau đó, để xác định những yếu tố chính, tác giả sử dụng phương pháp rút trích yếu tố dựa vào giá trị Eigenvalue Những
Trang 3967
yếu tố nào có giá trị Eigenvalue lớn hơn 1 mới có thể được giữ lại trong mô hình phân
tích (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)
Thứ ba, phân tích nhân tố khẳng định (CFA): cho phép kiểm định cấu trúc lý
thuyết của các thang đo cũng như mối quan hệ giữa một khái niệm nghiên cứu với các
khái niệm nghiên cứu khác mà không bị sai lệch so với sai số đo lường (SDoenkamp
và Van Trijp, 1991) Các hệ số sử dụng trong CFA gồm: Chi-square điều chỉnh theo
bậc tự do (CMIN/df); chỉ số thích hợp so sánh (CFI); chỉ số Tucker và Lewis (TLI);
chỉ số RMSEA Mô hình được xem là thích hợp nếu Chi-square có P_value > 0,05
Nghiên cứu sử dụng kết hợp với tiêu chuẩn CMIN/df cho kiểm định Chi-square Với
cỡ mẫu N > 200, tác giả sử dụng tiêu chuẩn CMIN/df < 5 Ngoài ra, các tiêu chuẩn
khác cũng cần quan tâm như GFI, TLI, CFI ≥ 0,9 (Bentler và Bonett, 1980) RMSEA
≤ 0,08 hoặc nếu RMSEA ≤ 0,05 là rất tốt (Steiger, 1990) chứng tỏ mô hình nghiên cứu
là phù hợp với dữ liệu thị trường
Thứ tư, phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM): được sử dụng để kiểm định mô
hình và các giả thuyết nghiên cứu Cụ thể:
- Kiểm định các giả thuyết về các quan hệ nhân quả có phù hợp (FIT) với dữ liệu
thực nghiệm hay không
- Kiểm định khẳng định (InnfirReting) các quan hệ giữa các biến
- Kiểm định các quan hệ giữa các biến quan sát và không quan sát (biến tiềm ẩn)
- Là phương pháp tổ hợp phương pháp hồi quy, phương pháp phân tích yếu tố,
phân tích phương sai
- Ước lượng độ giá trị khái niệm (cấu trúc yếu tố) của các độ đo trước khi phân
tích sơ đồ đường (path analysis)
- Cho phép thực hiện đồng thời nhiều biến phụ thuộc (nội sinh)
- Cung cấp các chỉ số độ phù hợp cho các mô hình kiểm định
- Cho phép cải thiện các mô hình kém phù hợp bằng cách sử dụng linh hoạt các
hệ số điều chỉnh MI (Modification Indices)
- SEM cung cấp các công cụ có giá trị về thống kê khi dùng thông tin đo lường để
hiệu chuẩn các quan hệ giả thuyết giữa các biến tiềm ẩn
- SEM giúp kiểm định giả thuyết các mô hình, kiểm định thống kê chúng (vì EFA
và hồi quy có thể không bền vững nhất quán về mặt thống kê)
68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Ở chương 3, tác giả mô tả bối cảnh nghiên cứu, đó là thực trạng sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội: trên rau, lúa, cây ăn quả, chỉ ra được những tồn tại, những tiềm năng và lợi để làm cơ sở xác định rõ ràng hơn vấn đề trong phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Hà Nội và khẳng định tầm quan trọng của nghiên cứu đề tài, mục tiêu nghiên cứu là đề xuất, kiến nghị cho cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân trên địa bàn Hà Nội
Tiếp đó, tác giả tập trung mô tả phương pháp nghiên cứu Trong đó, quy trình nghiên cứu tiến hành theo 5 bước là tìm hiểu cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu, nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng và đưa ra đề xuất, kiến nghị Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp định tính – phỏng vấn sâu và phương pháp định lượng – điều tra bảng hỏi khi tiến hành nghiên cứu về ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ – nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội Trong nghiên cứu định tính, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 5 chuyên gia về nông nghiệp để làm rõ hơn về tính logich của bảng hỏi, của những thông tin cần thu thập, phỏng vấn sâu 5 người nông dân đang thực hiện canh tác thông thường trên địa bàn thành phố Hà Nội để làm rõ hơn thông tin bảng hỏi Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính để hoàn thiện bảng hỏi Các cuộc phỏng vấn được thực hiện tại nơi làm việc hoặc nơi ở của người được phỏng vấn với thời lượng khoảng 1 tiếng đồng hồ Nội dung của buổi phỏng vấn sâu được ghi âm, lưu trữ và mã hóa trong máy tính Sau đó, đoạn ghi âm được gỡ băng, tổng hợp và phân tích để đưa ra kết luận nhằm tìm hiểu điểm giống và khác nhau giữa mô hình lý thuyết và thực tế tại Hà Nội - Việt Nam Từ kết quả phỏng vấn sâu, tác giả xác định mô hình nghiên cứu chính thức Với mô hình đó, tác giả đã tiến hành khảo sát thử với 10 người, làm cơ sở hoàn thiện các thang đo các biến số trong mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu chính thức gồm 10 yếu tố và các biến quan sát được kế thừa từ các nghiên cứu trước Dựa trên 10 yếu tố và các biến quan sát, tác giả thiết kế nghiên cứu gồm thiết kế bảng hỏi, thiết kế mẫu, thu thập dữ liệu và
mô tả cách phân tích dữ liệu gồm phân tích độ tin cậy (Cronbach’s Alpha), Phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM)
Trang 4069
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Kết quả nghiên cứu định tính
Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 05 chuyên gia về nông nghiệp và 05 người
nông dân Quá trình phỏng vấn sâu giúp tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý
định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân, hoàn thiện và khẳng
định mô hình nghiên cứu trước khi điều tra trên diện rộng
4.1.1 Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của mô hình NAM
“Tôi cảm thấy nông nghiệp hữu cơ an toàn cho người sử dụng nên tôi nghĩ
mình nên bắt đầu tìm hiểu việc thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ”
(Nông dân, Nữ, 31-40 tuổi, 6-10 năm làm nông nghiệp)
“Tôi có đọc nhiều bài viết về các vụ ngộ độc thực phẩm, tôi thấy mình cần có
trách nhiệm đạo đức khi sản xuất thực phẩm phục vụ người tiêu dùng, tôi sẽ lưu ý đến
việc thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ trong một vài năm tới”
(Nông dân, Nam, 20—30 tuổi, 1-5 năm làm nông nghiệp)
“Tôi đã tìm hiểu về nông nghiệp hữu cơ và biết về lợi ích của hình thức sản
xuất nông nghiệp hữu cơ đối với môi trường và sức khỏe của người tiêu dùng Tôi tin
rằng mỗi người nông dân phải có trách nhiệm thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ
để góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe của người tiêu dùng”
(Nông dân, Nữ, 31-40 tuổi, 6-10 năm làm nông nghiệp)
“Tôi cho rằng càng ngày người nông dân càng quan tâm đến khía cạnh đạo đức
và môi trường khi thực hành sản xuất nông nghiệp”
(Chuyên gia, Nam, 51-60 tuổi, trên 15 năm kinh nghiệm)
Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy người nông dân ngày càng quan tâm hơn đến
khía cạnh đạo đức của việc canh tác hữu cơ Khi quan tâm đến khía cạnh này, người
nông dân có động lực hơn trong việc thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ
4.1.2 Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của lý thuyết IDT và PMT
“Tôi được biết rằng sản phẩm từ nông nghiệp hữu cơ được bán với giá cao hơn
so với sản phẩm thông thường Tôi cũng đã nghĩ đến chuyển sang thực hành nông
nghiệp hữu cơ để có thu nhập nhiều hơn”
(Nông dân, Nam, 20—30 tuổi, 1-5 năm làm nông nghiệp)
70
“Tôi đang tìm hiểu về nông nghiệp hữu cơ, tôi thấy máy móc – thiết bị - lao động sử dụng để canh tác hữu cơ về cơ bản không khác với canh tác thông thường”
(Nông dân, Nữ, từ 20-30 tuổi, trên 1-5 năm làm nông nghiệp)
“Tôi lo lắng về nguy cơ gây hại sức khỏe khi canh tác thông thường, tôi đang hướng đến phát triển bền vững thông qua thực hành nông nghiệp hữu cơ trong trang trại của mình”
(Nông dân, Nữ, từ 51-60 tuổi, trên 15 năm làm nông nghiệp)
“Tôi có dự định thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ nhưng đang lo ngại về cách chính sách hỗ trợ của Nhà nước như kiến thức, phê duyệt chứng chỉ, thị trường, tài chính…”
(Nông dân, Nữ, từ 31-40 tuổi, từ 6 đến 10 năm làm nông nghiệp)
“Tôi đã từng nhiều lần chia sẻ với người nông dân về sự khác biệt giữa canh tác hữu cơ và canh tác thông thường, tôi thấy họ khá thích thú với thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ vì lý do chi phí, lao động, máy móc thiết bị và chính sách hỗ trợ của Nhà nước nhằm phát triển nền nông nghiệp an toàn cho môi trường và sức khỏe của người tiêu dùng”
(Chuyên gia, Nữ, trên 50 tuổi, trên 10 năm kinh nghiệm quản lý nông nghiệp)
Để tiến tới chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ, người nông dân được phỏng vấn đã tỏ ra lo ngại về nhiều yếu tố như chính sách của Nhà nước, trang thiết bị, giá bán… Đây được coi là những yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân ở một số khu vực tại thành phố Hà Nội
4.1.3 Các kết quả từ phỏng vấn sâu các yếu tố của lý thuyết TPB
“Tôi thấy hàng xóm của mình đã chuyển sang thực hành nông nghiệp hữu cơ nhưng tôi vẫn còn do dự, cần tìm hiểu thêm trước khi chuyển từ canh tác thông thường sang canh tác hữu cơ”
(Nông dân, Nữ, từ 31-40 tuổi, từ 6 đến 10 năm làm nông nghiệp)
“Tôi đã tìm hiểu trên nhiều phương tiện như báo chí, kinh nghiệm của người khác về thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tôi tự tin mình có thể làm được”
(Nông dân, Nam, 20—30 tuổi, 1-5 năm làm nông nghiệp)
“Tôi đang lên kế hoạch thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ trong năm tới sau khi thấy hàng xóm và người mình quen thu được thành công từ hình thức này”
(Nông dân, Nữ, từ 20-30 tuổi, trên 1-5 năm làm nông nghiệp)