Bò ta vàng có ưu điểm là thích nghi với điều kiện chăn nuôi ở Việt nam, nhưng xét về mặt năng suất sản xuất chưa cao : Sức cày kéo yếu, sản lượng sữa thấp, tỉ lệ thịt xẻ từ 42 - 45%.. Do
Trang 1Bài 2: GIỐNG VÀCÔNG TÁC GIỐNG BO Ø
I/ MỘT SỐ GIỐNG BO Ø:
A BÒ BẢN XỨ:
Bò Việt Nam còn gọi là bò ta vàng, bò cỏ hay bò cóc có một số đặc điểm chung : Tai nhỏ, u yếm kém phát triển,lông có màu vàng, vàng nhạt hoặc vàng đậm Nhu cầu dinh dưỡng thấp, mắn đẻ, chịu đựng kham khổ, ít bệnh.Khối lượng trung bình con cái từ 180 - 200kg, con đực từ 250 - 300kg
Bò Việt nam chưa có giống thuần được đặt tên riêng mà gọi theo địa danh của một số tỉnh có bò tốt như : Bò Thanh Hóa, bò Nghệ An, bò Cao bằng, bò Phú yên, bò Bà Rịa, bò Châu Đốc, bò vùng cao nguyên …
Bò ta vàng có ưu điểm là thích nghi với điều kiện chăn nuôi ở Việt nam, nhưng xét về mặt năng suất sản xuất chưa cao : Sức cày kéo yếu, sản lượng sữa thấp, tỉ lệ thịt xẻ từ 42 - 45%
Do đó muốn chăn nuôi bò đạt hiệu quả kinh tế phải cho lai tạo với một số giống bò ngoại phù hợp với mục đích và điều kiện chăn nuôi
B.MỘT SỐ GIỐNG BÒ NGOẠI CAO SẢN
1 Bò chuyên sữa
1.1- Bò Hà Lan (Holstein Friesian):
lông đen vá trắng hoặc trắng vá đen, tỷ lệ đen trắng thông thường là 50%-50%, bò Hà Lan thuần thường có 6 điểm trắng: giữa trán, chóp đuôi và 4 chân Đây là giống bò có sản lương sữa cao nhất và được nuôi với tỷ lệ cao nhất trong các giống bò sữa hiện nay
Khối lượng con đực từ 800 - 1100kg, con cái 500 - 800kg Lượng sữa trung bình 6000-8800kg/chu kỳ (305 ngày), tỷ lệ chất béo 3,5-4% Ở Việt nam hiện nay đa số nhà chăn nuôi bò sữa đều chọn giống nầy Tuy xuất phát từ Hà Lan nhưng đến nay nhiều nước đã nhân thuần giống này thành bò riêng
Trang 2của nước mình như : Bò Hà Lan Pháp, Bò Hà Lan Canada… Hiện nay một số nước nhiệt đới cũng đã nhân thuần giống bò Hà lan ( như bò Hà lan Trung Quốc) nhưng có tầm vóc nhỏ hơn và năng suất thấp hơn
1.2- Bò nâu Thụy Sĩ (Brown Swiss)
lông màu nâu có đốm đen,mũi màu đen Giống nầy cho thịt cao hơn các giống khác, bê con tăng trưởng nhanh Khối lượng con đực 750kg -1000kg, con cái 650kg - 750kg Sản lượng sữa trung bình 5000kg/chu kỳ, tỷ lệ chất béo 4%
1.3-Bò Jersey:
Đây là giống bò sữa có nguồn gốc từ Anh quốc, có tầm vóc tương đối nhỏ nhưng ngoại hình rất đẹp và hiệu suất cho sữa khá cao Bò có sắc lông màu nâu nhạt đốm đen Bò có khả năng gặm cỏ tốt, tuy có nguồn gốc từ xứ ôn đới nhưng có khả năng chịu được khí hậu của nhiệt đới
Khối lượng con đực từ 500-700Kg, con cái từ 350-450Kg Sản lượng sữa trung bình 4000-5000kg/chu kỳ, tỉ lệ chất béo 5-5,4% Bò nầy có sự trưởng
thành sinh dục sớm, con cái từ 12-14 tháng tuổi đã cho phối lần đầu
1.4 Bò Ayrshire
Đây là giống bò chuyên sữa có nguồn gốc từ Anh, sắc lông màu trắng vá đỏ hoặc trắng đốm đỏ Bò nầy trưởng thành sinh dục khá sớm, giống nầy có khả năng gặm cỏ cao và năng động tuy nhiên khó quản lý Bò Ayrshire là kết quả tạp giao giữa bò Hà Lan, bò Jersey,bò
Trang 3Guernsey và bò địa phương của Anh Trọng lượng bò cái trung bình 600kg,
bò đực 700-1100kg Sản lượng sữa từ 5000-6400kg chu kỳ
2) Bò chuyên thịt
2.1- Bò Charolais
tiếng trên thế giới, thường được dùng lai tạo các nhóm bò địa phương để nuôi thịt Sắc lông màu kem, con đực nặng trung bình 1200
- 1400kg con cái 800kg.Bê nuôi thịt 12 tháng có thể đạt 500kg - 550kg (tăng trong mỗi ngày 1,200 -1,500kg), 30 tháng tuổi đạt 1000kg Tỉ lệ thịt xẻ đạt 65-70%
2.2- Bò Hereford :
Nguồn gốc ở Anh được nuôi nhiều
ở các nước ôn đới Sắc lông màu đỏ có đốm trắng ở đầu mặt, bụng,
4 chân và đuôi Khối lượng trung bình con đực trưởng thành 900 - 1000kg, con cái 600 - 700kg Bê thiến nuôi thịt 15 - 18 tháng đạt 500kg, tỉ lệ thịt xẻ 65-70%
2.3- Bò Aberdeen Angus :
Nguồn gốc từ Anh là giống bò thịt nhỏ con và rất được ưa chuộng ở Châu Aâu vì hệ số chuyển hóa thức ăn tốt và khả năng nuôi con tốt Màu lông đen tuyền hoặc đỏ Trọng lượng con cái 550-650kg con đực 850-950kg Tỷ lệ thịt xẻ 65-70%
Trang 42.4- Bò Brahman :
Có nguồn gốc từ Ấn Độ và Braxin được Mỹ lai tạo thành giống bò thịt cho các xứ nhiệt đới, u yếm rất phát triển Có 2 dòng : Brahman đỏ có sắc lông màu vàng đến màu đỏ, Brahman trắng có sắc lông từ màu trắng xám đến đen nhạt ở đầu mút cơ thể, tai to cụp xuống Khối lượng đực trưởng thành
600 - 700kg, con cái 400 - 500kg, tỉ lệ xẻ thịt 55%
2.5- Bò Santa - Gertrudis : Do Mỹ lai tạo, có sắc lông màu đỏ
thẩm, u nhỏ, yếm khá phát triển Thân hình có dạng hình chữ nhật Bò nầy được lai tạo từ bò Shorthorn (5/8) và bò Brahman (3/8).Khối lượng bò đực trưởng thành 800 - 1000kg, bò cái 600 - 700kg, tỉ lệ xẻ thịt đạt 63 - 70%
3 Giống bò kiêm dụng :
3.1- Bò Sind :
Có nguồn gốc từ Pakistan, sắc lông từ màu vàng cháy đến màu nâu đỏ, phần đầu mút cơ thể sắc lông sâm lại U cao, yếm rộng con cái âm hộ có nhiều nếp nhăn, khối lượng con đực 400-450kg, con cái trung bình 350kg, năng suất sữa trung bình 2000kg/chu kỳ
Khả năng cày kéo tốt, ở nông thôn gọi là bò bô bầu, thường được dùng lai với bò ta tạo bò lai Sind, tỉ lệ thịt xẻ 50%
Trang 53.2- Bò Ongole :
Có nguồn gốc từ Ấn Độ, có sắc lông màu xám trắng, chân cao, u yếm khá phát triển Khối lượng bò đực trưỏng thành 450-550kg, bò cái 400kg, bò này ở nông thôn gọi là bò bô sào Năng suất sữa khoảng
1700 - 2000kg/chu kỳ
Khả năng cày cấy kém hơn bò Sind, không được ưa chuộng nhiều ở Việt nam,hiện nay nhóm nầy còn rất ít
3.3- Bò Simmental
Hướng sữa thịt có nguồn gốc từ Châu Aâu, chủ yếu từ Thu5y Sĩ và Pháp, sắc lông màu đỏ hoặc vàng sậm Thường có 6 điểm trắng: mặt, đuôi và 4 chân Khối lượng con đực trưởng thành 800-1200kg, con cái 600kg Năng suất sữa 4000kg/chu kỳ, tỉ lệ thịt xẻ 50%
C CÁC NHÓM BÒ LAI
Theo các số liệu điều tra (từ năm 1978 đến nay) ở các Tỉnh miền Đông Nam bộ lượng bò lai chiếm từ 70 - 80% trên tổng đàn, nhóm lai chủ yếu là bò lai Sind kế là bò lai Ongole và bò sữa
1) Bò lai Sind
Đây là nhóm bò lai chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng đàn bò của các tỉnh miền đông, bò này được lai giữa bò Sind với bò địa phương hoặc với các nhóm bò lai khác, mức độ máu lai có khác nhau nên trọng lượng và màu sắc cũng rất biến động, màu tương đối giống bò Sind
Trang 6Khối lượng con đực trưởng thành 350 - 450kg, con cái 270-300Kg Lượng sữa khoảng 1000kg/chu kỳ, tỉ lệ thịt xẻ 50%
2) Bò lai Ongole :
Số lượng bò nầy còn rất ít do không được ưa chuộng, có sắc lông màu trắng pha vàng, lượng con đực trưởng thành 380 - 430kg, con cái 250kg, lượng sữa kém hơn bò lai Sind
3) Bò lai Holstein Friesian
Là nhóm bò lai giữa bò đực Hà Lan
và bò cái lai Sind hoặc lai Ongole ở
các mức độ lai khác nhau, lai đời thứ
nhất có 50% máu bò Hà lan, người
chăn nuôi thường gọi là bò sữa F1,
có sắc lông màu nâu đen, sản lượng
sữa từ 2000-3000Kg/chu kỳ; lai giữa
bò đực Hà Lan và con cái F1 gọi là
bò F2, có sản lượng sửa cao hơn bò
F1, có sắc lông lang tắng đen
4) Các nhóm bò lai khác
Ngoài ra còn các nhóm lai khác với số lượng ít hơn như bò lai nâu Thụy Sĩ, bò lai Jersey, bò lai Sahiwal, bò lai Herefore, bò lai Charolais cũng có mặt tại một số Tỉnh của Việt Nam Khối lượng và năng suất của bò lai nầy tùy thuộc vào phẩm giống của con mẹ và phương thức nuôi dưỡng
II.MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHỌN GIỐNG
1- Chọn bò cày kéo :
Bò cày kéo tốt có thân hình hơi dài (trường mình) trước cao hơn sau, vạm vỡ, 4 chân đều nhau và cao Đầu to, miệng rộng, mặt gân guốc Ngực và vai nở nang, bụng tròn phát triển cân đối Tính nết hiền lành khi luyện tập và chăn dắt, nhanh nhẹn khi làm việc Thường chọn nhóm lai Sind hoặc lai Ongele
2- Chọn bò nuôi thịt
Bò nuôi thịt cơ thể phải nở nang "vai u thịt bắp", nhìn chung có dạng hình chữ nhật, ngực sâu rộng, mông đùi nở nang, chân thấp Yêu cầu đối với bò thịt là phải có khả năng tăng trọng cao trong thời gian vỗ béo, đạt khối lượng xuất chuồng cao và tỉ lệ thịt cao
3- Chọn giống bò sinh sản :
a) Chọn bò cái :
Trang 7Bò cái sinh sản tốt, nhìn chung là những con có sức khoẻ tốt, các bộ phận thân mình cân đối, đặc biệt là phần mông, khung chậu to và vú đều phát triển tốt Bốn chân vững chắc không vòng kiền
b) Chọn bò đực giống
Đực giống tốt phải có ngoại hình cân đối, tầm vóc và khối lượng lớn Nhìn chung phải khỏe mạnh, vạm vở, tính chất nhanh nhẹn hăng hái Đầu cổ to rắn chắc, ngực nở, vai rộng, bụng thon, mông dài, 4 chân vững chắc, dịch hoàn tương đối đều không quá sa xuống
4- Chọn bò nuôi sữa
a) Chọn theo nguồn gốc :
Kiểm tra mguồn gốc là cách xem xét thành tích của đời trước (cha, mẹ, ông, bà ) để đánh giá bản thân con bò sữa Đây là một căn cứ không thể thiếu được trong chọn bò sữa Thông thường kiểm tra nguồn gốc từ ba đến năm đời
b) Giám định ngoại hình thể chất :
Bò sữa có loại hình thanh, đầu cổ cân đối, ngực nở, bụng phát triển, tròn; đặc biệt vú to các núm đều tỉnh mạch vú nổi rõ, chân vững chắc Nhìn chung bò sữa có dạng hình tam giác, phía đầu nhỏ phía sau to.Thường giám định bò sữa vào các lứa tuổi: sơ sinh, 6 tháng, 12 tháng, 24 tháng, lứa đẻ 1, lứa đẻ 3
c) Kiểm tra thể trọng :
Các giống bò sữa khác nhau và các lứa tuổi khác nhau thì thể trọng cũng khác nhau Kiểm tra định kỳ và so sánh với bảng tiêu chuẩn kiểm tra thể trọng của từng giống
d) Chọn theo năng suất sữa :
Năng suất của bò thay đổi theo chu kỳ cho sữa (lứa đẻ) cao nhất là ở chu kỳ 3 Trong mỗi chu kỳ sản lượng sữa của các tháng cũng khác nhau, cao nhất là tháng thứ 2, thứ 3 sau đó giảm dần, dựa theo tiêu chuẩn xếp cấp về năng suất sữa để đánh giá
III GIÁM ĐỊNH TUỔI VÀ KHỐI LƯỢNG BÒ
1- Cách giám định tuổi qua răng
Có nhiều phương cách giám định tuổi bò, giám định tuổi qua răng là tương đối chính xác Răng bò ló 2 loại : Răng sữa và răng vỉnh viển Bò từ 2 đến 5 tuổi căn cứ vào việc thay răng để đoán tuổi, sau đó căn cứ vào độ mòn của răng để tính tuổi bò trên 6 tuổi (hình )
Bò 2 năm tuổi thay 2 răng (thay cặp răng giữa ) Bò 3 năm tuổi thay 4 răng (thay tiếp cặp áp giữa )
Trang 8Bò 4 năm tuổi thay 6 răng (thay tiếp cặp áp góc ) Bò 5 năm tuổi thay 8 răng (thay luôn cặp răng góc )
2- Cách xác định khối lượng bò
Có thể dùng công thức đơn giản sau để tính thể trọng của bò từ 2 tuổi trở lên
Khối lượng (kg) = VN2 x DTC x 90 ± 5%
Trong đó :
VN : là chiều đo vòng ngực, đo bằng thước dây, tính bằng m
DTC : là chiều dài thân chéo, đo bằng thước dây từ điểm trước của xương bả vai đến điểm cuối xương ngồi (hình )
Đối với bò mập mạp thì cộng thêm 5% trên số Kg tính được
Đối với bò gầy ốm thì trừ bớt 5% trên số Kg tính được