VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn sống thiết yếu cho con người và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Nó không chỉ là nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp, mà còn là không gian sống của con người Tuy nhiên, sự phân bố đất đai không đồng đều đã tạo ra các mối quan hệ phức tạp về quản lý đất Do đó, việc quản lý đất đai hiệu quả là cần thiết để giải quyết các vấn đề liên quan và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.
Bản đồ địa chính là tài liệu thiết yếu trong hồ sơ địa chính, đóng vai trò quan trọng trong thống kê đất đai và là cơ sở cho quy hoạch, giao đất, thu hồi đất, cũng như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Với mức độ chi tiết cao, bản đồ này thể hiện thông tin về từng thửa đất, bao gồm loại đất và chủ sử dụng, do đó có tính pháp lý cao và hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý đất đai.
Việc thành lập bản đồ địa chính đóng vai trò quan trọng trong quản lý đất đai, đặc biệt khi xã hội ngày càng phát triển Sự áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất là yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng suất lao động, giảm sức lao động của con người và tự động hóa quy trình sản xuất Công nghệ điện tử và tin học đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả ngành đất đai.
Bài viết này tập trung vào việc tìm hiểu quy trình công nghệ và ứng dụng của các thiết bị hiện đại trong đo đạc và thành lập bản đồ địa chính, cùng với các phần mềm xử lý số liệu Là sinh viên ngành Quản lý đất đai, việc nắm bắt và áp dụng tiến bộ khoa học là rất cần thiết Để chuẩn bị cho công việc sau khi tốt nghiệp, tôi đã thực hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ tin học và máy RTK SQ-GNSS thành lập mảnh bản đồ địa chính tỉ lệ 1/2000 tại xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông”, dưới sự hướng dẫn của TH.S Đỗ Sơn Tùng và sự hỗ trợ từ Đội sản xuất số 5, Công Ty CP Tài Nguyên Và Môi Trường Phương Bắc.
Mục tiêu của đề tài
+ Áp dụng quy trình công nghệ và xây dựng bản đồ địa chính tỷ lệ lớn từ các số liệu đo vẽ ngoại nghiệp
Ứng dụng công nghệ tin học và máy RTK SQ-GNSS đã giúp tạo ra một mảnh bản đồ địa chính với tỉ lệ 1:2000 tại xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
Ý nghĩa của đề tài
Việc áp dụng công nghệ máy RTK SQ-GNSS trong đo đạc địa chính không chỉ nâng cao độ chính xác mà còn giúp cải thiện hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, đảm bảo quá trình thực hiện nhanh chóng và đầy đủ hơn.
Đo vẽ chi tiết để thành lập bản đồ địa chính theo công nghệ số là một phần quan trọng trong việc hiện đại hóa hệ thống hồ sơ địa chính, tuân thủ quy định của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường.
QUAN TÀI LIỆU
Cơ sở khoa học
2.1.1 Tổng quan về bản đồ, bản đồ địa chính
Bản đồ là hình ảnh ký hiệu hoá của thực tế địa lý, phản ánh chọn lọc các yếu tố và đặc điểm không gian Nó là kết quả của sự sáng tạo của tác giả và được thiết kế chủ yếu để phục vụ cho việc hiểu biết về mối quan hệ không gian.
Bản đồ là hình ảnh hoặc mô hình của bề mặt trái đất, các thiên thể hoặc không gian vũ trụ, được xác định một cách toán học và thu nhỏ, nhằm tổng quát hóa và phản ánh các đối tượng phân bố trên đó, sử dụng hệ thống ký hiệu đã được chấp nhận.
Bản đồ địa chính là tài liệu quan trọng nhất trong hồ sơ địa chính, có giá trị pháp lý cao và phục vụ cho việc quản lý đất đai từng thửa đất và từng chủ sử dụng Khác với các loại bản đồ chuyên ngành khác, bản đồ địa chính có tỷ lệ lớn và được đo vẽ trên phạm vi toàn quốc Thông tin trên bản đồ địa chính thường xuyên được cập nhật để phản ánh các thay đổi hợp pháp về đất đai, với công tác cập nhật có thể diễn ra hàng ngày Hiện nay, nhiều quốc gia đang hướng tới việc xây dựng bản đồ địa chính đa chức năng, vì vậy, nó còn được coi là bản đồ cơ bản quốc gia.
Địa chính là tổng hợp các tài liệu xác định ranh giới, phân loại, số lượng và chất lượng đất đai, cùng với quyền sở hữu và quyền sử dụng đất Những thông tin này là cơ sở cho việc phân bổ, đánh thuế và quản lý đất Ngoài ra, địa chính còn bao gồm trách nhiệm thành lập, cập nhật và bảo quản các tài liệu liên quan Bản đồ địa chính gốc đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện thông tin này.
Bản đồ địa chính là tài liệu thể hiện hiện trạng sử dụng đất, bao gồm các thửa đất và đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa, cùng các yếu tố quy hoạch và địa lý liên quan Bản đồ này được lập trong phạm vi một số đơn vị hành chính cấp xã hoặc huyện, và phải được xác nhận bởi cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh Bản đồ địa chính gốc là nền tảng để xây dựng bản đồ địa chính cho các xã, phường, thị trấn, và các thông tin trên bản đồ cấp xã cần được chuyển lên bản đồ địa chính gốc.
Bản đồ thể hiện toàn bộ thửa đất hoặc các thửa đất liền kề, bao gồm cả những đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất, cùng với các yếu tố quy hoạch đã được phê duyệt và các yếu tố địa lý liên quan trong một đơn vị hành chính cấp xã Nếu thửa đất liên quan đến nhiều xã, bản trích đo cần thể hiện rõ đường địa giới hành chính xã để xác định diện tích thửa đất cho từng xã, và phải được cơ quan thực hiện, ủy ban nhân dân xã và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận.
Thửa đất là diện tích đất được xác định bởi ranh giới cụ thể trên thực địa hoặc trong hồ sơ Ranh giới thực địa được xác định qua các cạnh thửa đất, thường là các mốc giới tự nhiên hoặc đường nối giữa các dấu mốc cố định tại các đỉnh của thửa đất Trong khi đó, ranh giới trong hồ sơ địa chính cũng được mô tả bằng các cạnh thửa, tương ứng với ranh giới tự nhiên hoặc đường nối giữa các mốc địa giới.
Tên gọi của đất thể hiện mục đích sử dụng, được quy định theo thông tư số 08/2007/TT-BTNMT Trên bản đồ địa chính, loại đất được ký hiệu tương ứng với mục đích sử dụng Để đảm bảo tính chính xác, loại đất trên bản đồ phải phản ánh đúng hiện trạng khi đo vẽ và được chỉnh lý sau khi đăng ký quyền sử dụng đất.
Diện tích thửa đất được thể hiện theo đơn vị mét vuông (m²), được làm tròn đến một số (01) chữ số thập phân Vd: 136.3 m² g Trích đo địa chính
Lập bản đồ địa chính là quá trình đo vẽ để xác định ranh giới và diện tích của khu đất hoặc thửa đất, đặc biệt ở những khu vực chưa có bản đồ hoặc bản đồ hiện có không đáp ứng yêu cầu Quá trình này quan trọng cho việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, đăng ký quyền sử dụng đất, và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hồ sơ địa chính là tài liệu cần thiết để thực hiện các thủ tục này một cách hợp pháp và hiệu quả.
Hồ sơ địa chính là tài liệu quan trọng phục vụ cho việc quản lý Nhà nước về sử dụng đất, bao gồm thông tin chi tiết về từng thửa đất của người sử dụng theo từng đơn vị hành chính cấp xã Hồ sơ này bao gồm bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai và văn bản lưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2.1.1.3 Mục đích thành lập bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính được thành lập nhằm mục đích sau:
Cơ sở pháp lý cho việc giao đất, thực hiện đăng ký đất đai, thu hồi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng như giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở là rất quan trọng.
Xác nhận hiện trạng địa giới hành chính của các cấp xã, huyện, tỉnh và thể hiện rõ ràng sự biến động của từng loại đất trong phạm vi xã là rất quan trọng Việc này không chỉ giúp quản lý tài nguyên đất đai hiệu quả mà còn đảm bảo tính chính xác trong việc lập kế hoạch phát triển địa phương.
+ Làm cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cải tạo đất, thiết kế xây dựng các điểm dân cư, đường giao thông
+ Làm cơ sở để thanh tra tình hình sử dụng đất và tranh chấp đất đai + Làm cơ sở để thống kê và kiểm kê đất đai
+ Làm cơ sở để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai ở các cấp
2.1.1.4 Yêu cầu cơ bản đối với bản đồ địa chính
Điểm trắc địa là các vị trí được đánh dấu tại thực địa bằng các dấu mốc đặc biệt, có vai trò quan trọng trong việc xác định các điểm đặc trưng trên đường biên thửa đất cũng như các đặc điểm của địa vật và địa hình Trong quản lý địa chính, việc kiểm soát các dấu mốc và tọa độ của chúng là cần thiết để đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong quản lý đất đai.
Yếu tố đường bao gồm các đoạn thẳng, đường thẳng và đường cong nối các điểm trên thực địa, trong đó đoạn thẳng cần xác định tọa độ hai điểm đầu và cuối để tính chiều dài và phương vị Đối với đường gấp khúc, cần quản lý các điểm đặc trưng, còn các đường cong có hình dạng hình học cơ bản như cung tròn thì cần quản lý điểm đầu, cuối và bán kính Thửa đất là đơn vị cơ bản của đất đai, đại diện cho một mảnh đất với diện tích xác định, được giới hạn bởi một đường bao khép kín thuộc về một chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng nhất định Mỗi thửa đất có thể chứa một hoặc nhiều loại đất, với đường ranh giới có thể là con đường, bờ ruộng, tường xây hoặc rào cây.
Thửa đất phụ là những thửa nhỏ nằm trên một thửa đất lớn, có đường ranh giới phân chia không ổn định và được sử dụng cho các mục đích khác nhau, như trồng cây khác nhau và có mức tính thuế khác nhau Loại thửa đất này thường xuyên thay đổi chủ sử dụng, tạo nên sự đa dạng trong việc quản lý và sử dụng đất.
Cơ sở pháp lý
-Luật đất đai năm 2013, ngày 29/11/2013 của Quốc hội
Vào cơ sở dữ liệu trị đo
Hiển thị, sửa chữa trị đo
Xử lý mã, tạo bản đồ tự động
Sửa chữa đối tượng bản đồ
Lưu trữ bản đồ file DGN
Sửa chữa lỗi (MRFClean, MRFFlag), tạo vùng
Tạo bản đồ địa chính
Lưu trữ, in bản đồ
Quyết định số 235/2000/QĐ-TCĐC, được ban hành vào ngày 26 tháng 06 năm 2000 bởi Tổng cục trưởng Tổng cục địa chính, công bố hệ thống phần mềm chuẩn thống nhất áp dụng cho toàn ngành địa chính.
-Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2013 số 45/2013/QH13
- Quyết định 08/2008/QĐ- BTNMT ngày 10/11/2008 Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200; 1:500; 1:1000; 1:2000; 1:50000; 1:10000
Công văn số 1734/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ ngày 23/11/2015 của Tổng cục Quản lý Đất đai hướng dẫn cách giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc xác định mật độ thửa đất trung bình của bất động sản.
Thông tư số 49/2016/TT-BTNMT, ban hành ngày 28/12/2016 bởi Bộ Tài nguyên và Môi trường, quy định về quy trình giám sát, kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu các công trình, sản phẩm liên quan đến quản lý đất đai Thông tư này nhằm đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong công tác quản lý đất đai, đồng thời nâng cao chất lượng các công trình và sản phẩm được thực hiện trong lĩnh vực này.
- Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Theo Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được quy định rõ ràng.
- Căn cứ Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Căn cứ thông tư số 25/2014/TT-BTNMT quy định về Bản Đồ Địa Chính
- Căn cứ phụ lục của thông tư 25/2014/TT-BTNMT
2.3.1.Tổng quan hệ thống GNSS
Hệ thống GNSS, ra đời vào những năm 70 của thế kỷ 20, ban đầu được ứng dụng trong quân sự nhưng đã nhanh chóng lan rộng ra các lĩnh vực kinh tế và xã hội, đặc biệt là trong ngành Trắc Địa-Bản Đồ Công nghệ GNSS đã rút ngắn đáng kể các giai đoạn đo đạc và thành lập bản đồ, giúp giảm chi phí, nhân công và thời gian trong quá trình sản xuất Trắc Địa Bản Đồ.
GNSS (Hệ thống Định vị Toàn cầu) là thuật ngữ chung chỉ các hệ thống định vị toàn cầu dựa trên vệ tinh, bao gồm GPS (Hoa Kỳ), Hệ thống định vị Galileo (Liên minh châu Âu), GLONASS (Liên bang Nga) và Hệ thống định vị Bắc Đẩu (Trung Quốc).
-GPS (Global Positioning System) dùng để chỉ hệ thống định vị toàn cầu do Bộ quốc phòng Mỹ thiết kế và điều hành
-GLONASS (Global Orbiting Navigation Satellite System, Hệ thống vệ tinh dẫn đường quỹ đạo toàn cầu do Liên bang Sô viết (cũ) thiết kế và điều hành
-GALILEO là một hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu được xây dựng bởi Liên Minh Châu Âu GALILEO khác với GPS (Hoa Kì) và GLONASS
(Liên Bang Nga) ở chỗ nó là một hệ thống định vị được điều hành và quản lí bởi các tổ chức dân dụng, phi quân sự
Hệ thống định vị Bắc Đẩu là một dự án của Trung Quốc nhằm phát triển một hệ thống vệ tinh định vị độc lập Tên gọi này có thể ám chỉ đến một hoặc cả hai thế hệ hệ thống định vị của quốc gia này.
Công nghệ RTK
2.4.1.Khái niệm RTK Định vị động học thời gian thực ( RTK ) là một kỹ thuật điều hướng vệ tinh được sử dụng để tăng cường độ chính xác của dữ liệu vị trí xuất phát từ các hệ thống định vị dựa trên vệ tinh (hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu, GNSS ) như GPS, GLONASS và GALILEO Nó sử dụng các phép đo pha của sóng mang tín hiệu cùng với nội dung thông tin của tín hiệu và dựa vào một trạm tham chiếu duy nhất hoặc trạm ảo nội suy để cung cấp hiệu chỉnh thời gian thực, cung cấp độ chính xác đến từng centimet
2.4.2 Nguyên lý hoạt động của công nghệ RTK (REAL-TIME
Bộ máy GPS bao gồm một máy tĩnh (Base) được đặt tại điểm gốc, thường là điểm mốc địa chính của nhà nước hoặc đường chuyền hạng IV trong công trình Máy này được cài đặt tọa độ điểm gốc theo hệ VN-2000 cùng với các tham số chuyển đổi từ hệ tọa độ quốc tế.
WGS-84 về hệ tọa độ VN-2000 , có thể có một hay nhiều máy động (Rover) đặt tại những điểm cần đo
Cả hai máy đều thu tín hiệu từ vệ tinh, trong khi máy tĩnh có hệ thống Radio link liên tục phát tín hiệu cải chính giữa hệ tọa độ WGS-84 và VN-2000 Các máy Rover sẽ nhận các tín hiệu cải chính này để điều chỉnh tọa độ điểm cần đo trên hệ tọa độ VN-2000.
Phương pháp đo RTK là kỹ thuật đo động xử lý tức thời, sử dụng một trạm cơ sở (trạm Base) để thu thập dữ liệu từ vệ tinh nhân tạo, nhằm tính toán các nguyên đa trị một cách chính xác.
2.5 Thiết bị RTK SQ-GNSS
Thiết bị định vị RTK SQ-GNSS, với độ chính xác 1cm trên mỗi điểm đo, đang được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam cho các công việc như đo đạc địa chính, địa hình, khảo sát, vẽ bản đồ, quy hoạch, đo sâu và khảo sát bề mặt đáy sông hồ biển.
Thiết bị định vị SQ-GNSS tích hợp công nghệ từ ba hệ thống vệ tinh GPS, GLONASS và Beidou, cùng với giải pháp cải chính RTK, mang lại độ chính xác lên đến centimet Dữ liệu cải chính từ trạm Base được truyền đến máy đo Rover qua công nghệ 3G của các nhà mạng di động tại Việt Nam hoặc qua sóng Radio kèm bộ Radio Giải pháp 3G cho phép truyền dữ liệu mà không bị giới hạn về khoảng cách, không gian hay vật cản, vượt trội hơn so với công nghệ thu phát sóng Radio truyền thống.
Mỗi thiết bị SQ-GNSS có khả năng hoạt động như trạm Base hoặc máy đo Rover, cho phép dễ dàng chuyển đổi giữa các vai trò thông qua ứng dụng Khi kết hợp từ 2-3 bộ thiết bị, có thể thiết lập một trạm Base phục vụ cho 3-5 máy đo Rover Thêm vào đó, mỗi thiết bị SQ-GNSS cũng có thể thực hiện đo độc lập, lưu trữ dữ liệu cạnh thô và tham gia vào các công tác đo cạnh tĩnh.
Tất cả ứng dụng đều tương thích với các thiết bị sử dụng hệ điều hành Android, hệ điều hành phổ biến nhất hiện nay Người dùng có thể dễ dàng tải và cài đặt miễn phí từ Cửa Hàng Ứng Dụng Google Play trên mọi điện thoại và máy tính bảng chạy Android.
* 1 bộ RTK SQ-GNSS bao gồm:
- 01 thiết bị SQ-GNSS (đều có thể sử dụng làm Base / Rover / Đo tĩnh độc lập)
- 01 RTK Anten GPS L1/L2 + BDS B1/B2/B3 + GLONASS G1/G2
- 02 cáp Anten, 3 mét mỗi sợi
- 01 cáp dữ liệu DB9 + Nguồn
- Hộp nhựa chuyên dụng (01 hộp dùng chung cho 02 bộ)
Số lượng kênh thu đồng thời 192 kênh
Hệ thống vệ tinh định vị GPS L1+L2, Glonass G1, Beidou B1+B3 Công nghệ cải chính RTK Có hỗ trợ, đạt sai số đến centimet
Tần số xuất tọa độ tối đa đạt 10Hz, cho phép đo 10 vị trí trong 1 giây Độ chính xác khi đo độc lập là 1,5 m theo phương ngang và 3,0 m theo phương đứng Đối với độ chính xác RTK, phương ngang đạt 1cm + 1ppm, trong khi phương đứng là 1,5cm + 1ppm Khi di chuyển, độ chính xác đạt 0,03m/s.
Thời gian xác định tọa độ lần đầu Nhỏ hơn 50 giây
Thời gian khởi động Nhỏ hơn 10 giây
Cổng giao tiếp Cổng COM DB9-RS232, Bluetooth
Các Phần mềm đo
2.6.1 Phần mềm đo tĩnh (SQ-GNSS đo tĩnh)
Phương pháp đo tĩnh là kỹ thuật quan trọng trong trắc địa địa hình, được áp dụng để xác định hiệu tọa độ giữa hai điểm với độ chính xác cao Phương pháp này đáp ứng các yêu cầu khắt khe trong công tác đo đạc vị trí tương hỗ.
Số vệ tinh tối thiểu cho cả hai trạm quan sát là 3, nhưng thường lấy là 4 để đề phòng trường hợp thu tín hiệu vệ tinh bị gián đoạn
Khoảng thời gian quan sát cần đủ dài để đồ hình phân bố vệ tinh thay đổi, từ đó xác định số nguyên đa trị của sóng tải Điều này cũng giúp thu thập nhiều trị đo, nhằm đạt độ chính xác cao và ổn định trong kết quả quan sát.
Phần mềm GNSS-đo tĩnh mang lại độ chính xác cao nhất trong định vị tương đối bằng GPS, với khả năng đạt đến độ chính xác centimet, thậm chí milimet, cho khoảng cách giữa hai điểm lên tới hàng chục và hàng trăm kilômét.
Nhược điểm: phương pháp đo GPS tĩnh có nhược điểm là thời gian đo kéo dài, do vậy năng suất đo thường không cao
2.6.2.Phương pháp đo động (SQ- GNSS Rover)
Phương pháp đo động giúp xác định vị trí tương đối của nhiều điểm so với một điểm đã biết, chỉ cần thu thập tín hiệu trong vòng một phút tại mỗi điểm đo.
Để xác định số nguyên đa trị của tín hiệu vệ tinh, phương pháp này yêu cầu ít nhất hai máy thu và một cạnh đáy đã biết gối lên điểm có tọa độ xác định.
Để thực hiện đo đạc, ta đặt một máy thu cố định (Base) tại điểm A, đầu cạnh đáy, để thu tín hiệu vệ tinh liên tục trong suốt chu kỳ đo Tại điểm B, cuối cạnh đáy, ta đặt một máy thu di động (Rover) để thu tín hiệu đồng thời với máy cố định trong khoảng thời gian từ 1 đến 20 phút, quá trình này gọi là khởi đo (initialization) Sau đó, máy di động sẽ di chuyển đến các điểm đo cần xác định, dừng lại tại mỗi điểm để thu tín hiệu trong một phút Cuối cùng, máy di động quay trở về điểm xuất phát tại điểm B và thực hiện lần thu tín hiệu thứ hai trong một phút để hoàn tất quá trình đo.
Phương pháp đo động yêu cầu cả máy cố định và máy di động phải thu tín hiệu liên tục từ ít nhất 4 vệ tinh trong suốt quá trình đo Để đảm bảo tín hiệu không bị gián đoạn, tuyến đo cần được bố trí ở khu vực thoáng đãng Nếu tín hiệu bị gián đoạn, cần khởi động lại cạnh đáy xuất phát hoặc sử dụng một cạnh đáy dự phòng khác Độ dài của cạnh đáy có thể từ 2m đến 5km.
Hình2.5 Màn hình hiển thị của phần mềm SQ GNSS-Rover
2.6.3.Phần Mềm SQ-GNSS Base ( SQ-GNSS Base Station)
Chương trình SQ-GNSS - Base kết nối thiết bị SQ-GNSS với Server trung tâm qua internet (3G hoặc Wifi), cho phép truyền dữ liệu cải chính liên tục từ máy Base Để thoát chương trình, người dùng cần chọn “Ngắt các kết nối” và nhập đúng Base-Port cùng Base-ID Theo dõi số liệu đã truyền T# phải liên tục nhảy; nếu không, cần kiểm tra thiết bị SQ-GNSS và cáp Anten Chức năng xem dữ liệu 30 giây giúp xác định dữ liệu cải chính có đúng định dạng nhị phân hay không.
Hình2.6 Phần mềm SQ-GNSS Base
2.6.4.Phần mềm SQ-GNSS Config (SQ-GNSS Config)
-Ứng dụng dùng để lưu dữ liệu đo tĩnh cho thiết bị định vị SQ-GNSS vào file dữ liệu thô
Hình2.7 Phần mềm SQ-GNSS Config
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Quy trình và phương pháp đo vẽ biên tập bản đồ địa chính xã Đức Mạnh,huyện Đắk Mil,tỉnh Đắk Nông
- Phạm vi: khu vực Bò Vàng thuộc thôn Đức Thuận xã Đức Mạnh- huyện Đắk Mil - tỉnh Đắk Nông.
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: khu Bò Vàng, thôn Đức Thuận Xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông
- Địa điểm thực tập: Đội sản xuất số 5-công ty CP Tài Nguyên Và Môi Trường Phương Bắc
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ 10 tháng6 đến ngày 28 tháng 9.
Nội dung nghiên cứu
3.3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên:
+ Vị trí địa lý, tọa độ
3.3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:
+ Điều kiện kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân, mức sống của người dân
+ Điều kiện xã hội: số dân, số hộ khẩu
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội
3.3.2 Công tác thành lập bản đồ địa chính xã Đức Mạnh,huyện Đắk Mil,Tỉnh Đắk Nông
3.3.2.2 Thành lập lưới a Công tác ngoại nghiệp
Công tác chuẩn bị cho việc đo vẽ bản đồ bao gồm thu thập tài liệu liên quan, khảo sát thực địa khu vực đo và thiết kế sơ bộ lưới trên bản đồ nền.
* Chọn điểm, đóng cọc thông thông hướng
* Đo GPS b Công tác nội nghiệp
* Bình sai và vẽ lưới
3.3.2.3 Đo vẽ chi tiết và biên tập bản đồ bằng phần mềm MicroStation, FAMIS
* Ứng dụng phần mềm MicroStation và FAMIS thành lập bản đồ địa chính
3.3.3 Một số thuận lợi và khó khăn và đề xuất giải pháp trong quá tình đo đạc bản đồ địa chính xã Đức Mạnh,huyện Đắk Mil,tỉnh Đắk Nông
Phương pháp nghiêm cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp
+ Điều kiện kinh tế - xã hội
+ Tình hình quản lý đất đai tại khu vực nghiên cứu
+ Thu thập các quyết định, quy định, tài liệu hướng dẫn thực hiện, các công trình nghiên cứu có liên quan
3.4.2 Phương pháp đo đạc ngoại nghiệp a Chuẩn bị máy móc:
- 1 bộ máy GPS RTK-SQ GNSS do Mỹ sản xuất phục vụ cho công tác đo vẽ lưới và đo chi tiết
- 1 chiếc diện thoại ANDROID có kết nối 3g và BLUETOOTH
- 1 chiếc xe máy Dream phục vụ di chuyển b Nhân lực:
- 1 người cho mỗi máy Rover
Dụng cụ: sổ ghi chép, bút, cọc, sơn, để đánh dấu
3.4.3 Phương pháp xử lý dữ liệu đo
- Sử dụng sợi cáp USB để đưa dữ liệu từ điện thại sang máy tính
3.4.4 Phương pháp biên tập bản đồ địa chính bằng phần mềm Famis và Microstation
Nhập số liệu đo chi tiết là bước đầu tiên trong quy trình, tiếp theo là thành lập bản vẽ và sửa lỗi nếu có Sau đó, tạo topology cho tâm thửa và đánh số hiệu thửa là rất quan trọng Việc vẽ nhãn thửa và kiểm tra kết quả đo cũng không kém phần cần thiết Cuối cùng, in bản đồ và kiểm tra, nghiệm thu các tài liệu hoàn tất quy trình.