Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình, đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình trong thời gian đến.
Tính cấp thiết của đề tài
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) từ nguồn Ngân sách Nhà nước (NSNN) nói chung và vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông nói riêng là một nguồn lực tài chính hết sức quan trọng của quốc gia đối với phát triển kinh tế
- xã hội của cả nước cũng như từng địa phương Nguồn vốn này không những góp phần quan trọng tạo lập cơ sởvật chất kỹthuật cho nền kinh tế, mà còn có tínhđịnh hướng đầu tư, góp phần quan trọng vào việc thực hiện những vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường Do có vai trò quan trọng nên quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông từ ngân sách nhà nước đãđược chú trọng đặc biệt.
Hạ tầng giao thông là một bộ phận quan trọng của giao thông vận tải nói riêng và của hệ thống kết cấu hạtầng kinh tế xã hội nói chung, có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội; là huyết mạch của nền kinh tế; đóng góp to lớn vào quá trình phát triển sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá; cho phép mở rộng giao lưu kinh tế văn hoá giữa các vùng trong cả nước; khai thác sửdụng hợp lý mọi tiềm năng của đất nước; xoá đi khoảng cách về địa lý; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý; phát huy lợi thếcủa từng vùng, từng địa phương, từng ngành; xoáđói giảm nghèo; cũng cốquốc phòng -an ninh…
Tuy nhiên, hệthống hạtầng giao thông của nước ta trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế làm cản trở nhiều tới mục tiêu phát triển chung của đất nước, làm giảm khả năng thu hút vốn đầu tư vào nền kinh tế, và giảm tốc độcông nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, cản trởtiến trình hội nhập kinh tếkhu vực và trên thếgiới.
Trong thời gian qua, Nhà nước dành vốn ngân sách lớn cho đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông để phát triển kinh tế xã hội Việc cân đối, phân bổ và điều hành vốn đối với các Bộ, ngành, địa phương và thành phốtrực thuộc trung ương để triển khai các dự án đầu tư xây dựng thực hiện mục tiêu phát triển kinh tếxã hội bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm và chống lãng phíđang là vấn đềlớn được dư luận xã hội quan tâm Tuy nhiên, thực trạng đã và đang xảy ra những lãng phí, thất thoát vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng đã đặt ra cho các cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương phải tìm ra giải pháp ngăn ngừa lãng phí vốn.
Ban Quản lý dự án Khu vực chuyên ngành Giao thông vận tải Quảng Bình trực thuộc Sở GTVT Quảng Bình, là đơn vị sự nghiệp công lập, có nhiệm vụ thay mặt Chủ đầu tư quản lý và tổ chức thực hiện các dự án sử dụng vốn của Nhà nước và các nguồn vốn khác (nếu có) để đầu tư xây dựng các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Bình do Sở GTVT Quảng Bình làm chủ đầu tư (Quyết định số 131/QĐ-SGTVT ngày 14/4/2009 của Sở GTVT Quảng Bình về việc giao nhiệm vụ và uỷ quyền thực hiện một số công việc trong quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình do Sở GTVT Quảng Bình làm Chủ đầu tư).
Ngay từ khi thành lập, Ban Quản lý dự án Khu vực chuyên ngành Giao thông vận tải Quảng Bình thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý, cấp phát có hiệu quả các nguồn vốn ngân sách đầu tư XDCB về giao thông vận tải được Trung ương và tỉnh giao cho ngành giao thông vận tải; hợp đồng với các tổ chức khảo sát thiết kế thi công xây đựng, lắp đặt các công trình XDCB về giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh Đồng thời đảm bảo tiến độ kỹ thuật, chất lượng công trình, nghiệm thu, bàn giao công trìnhđưavào sử dụng đúng quy định.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác quản lý vốn đầu tư tại Ban quản lý khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình vẫn còn một số hạn chế như công tác quy hoạch còn chồng chéo, công tác khảo sát thiết kế còn sơ sài, chất lượng nghiệm thu công trình chưa đúng yêu cầu Còn hiện tượng chủ đầu tư chậm làm hồ sơ đề nghị phê duyệt Điều này đã làm thất thoát, lãng phí vốn đầu tư đồng nghĩa với việc tăng nguồn vốn phát triển kinh tế xã hội Để giảm thất thoát, lãng phí cần thực hiện từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và khâu kết thúc đầu tư đưa vào sử dụng Trong đó khâu quản lý vốn đầu tư (VĐT) có vị trí rất quan trọng về mặt nhận thức, về lý luận cũng như quá trìnhđiều hành thực tiễn. Đểgiải quyết các vấn đề tồn tại trên, đồng thời cũng là một chuyên viên củaBan QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình tôi chọn đề tài “Hoàn thi ệ n công tác qu ả n lý v ốn đầu tư xây dự ng công trình h ạ t ầ ng giao thông t ạ i Ban QLDA khu v ự c chuyên ngành GTVT t ỉ nh Qu ảng Bình” để làm đề tài luận văn thạc sỹcủa mình.
Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình,đề xuất hệthống giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạtầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình trong thời gian đến.
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạtầng giao thông;
- Phân tích thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2015 - 2017;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh QuảngBìnhđến năm 2025.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn hướng tới trả lời một số vấn đề như sau:
(1) công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông từ ngân sách Nhà nước gồm những nội dung nào?
(2) Quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2015-2017 đãđạt được những kết quả gì?
(3) Có những hạn chế gì trong quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2015- 2017?
(4) Giải pháp nào giúp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới?
Phương pháp nghiên cứu
5.1 Thu th ập thông tin, số liệu
- Thông tin, sốliệu thứcấp: Được thu thập Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình, các cơ quan ban ngành trong vùng và địa phương liên quan.
- Thông tin, sốliệu sơ cấp: Đối tượng khảo sát là các cán bộlàm việc tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình, các đơn vị thi công Công tác điều tra được tiến hành theo phương pháp phát phiếu khảo sát. Để có những đánh giá khách quan về tình hình quản lý vốn đầu tư cho công trình cơ sở hạ tầng giao thông, tác giả tiến hành điều tra các cán bộ thuộc Ban quản lý (36 cán bộ), đơn vị xây lắp (32 cán bộ).
Mục đích khảo sát nhằm thu thập các ý kiến đánh giá của các đối tượng điều tra đối với công tác quản lý vốn đầu tư cho công trình cơ sở hạ tầng giao thông.
Các câu trả lời dựa trên 5 mức độ: 1- Rất không hài lòng; 2- Không hài lòng;
3- Bình thường; 4- Hài lòng; 5- Rất hài lòng
5.2 Phương pháp tổng hợp v à x ử lý số liệu
Việc xử lý và tính toán số liệu được thực hiện trên máy tính theo các phần mềm thống kê thông dụng EXCEL
5.3 Phương pháp phân tích số liệu
-Phương pháp thống kê mô tả: Trên cơ sởcác tài liệu đãđược tổng hợp, vận dụng các phương pháp phân tích thống kê như số tương đối, số tuyệt đối để phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình.
-Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được sửdụng bao gồm so sánh theo chiều ngang và so sánh theo chiều dọc Chiều ngang được so sánh để thống kê mô tả các đánh giá của các đối tượng khác nhau vềcông tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình Phương pháp so sánh theo chiều dọc được sử dụng để đánh giá công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình giao thông qua các năm.
- Phương pháp chuyên gia: phương pháp chuyên gia được sử dụng để tham vấn ý kiến của các chuyên gia đểxây dựng Bảng hỏi và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cương công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT.
- Phương pháp phân tích chuỗi dữ liệu theo thời gian nhằm so sánh biến động qua các năm 2015- 2017.
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, Luận văn được kết cấu thành 3 chương sau: Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn vềquản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạtầng giao thông từ ngân sách nhà nước
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông tại Ban QLDA khu vực chuyên ngành GTVT tỉnh Quảng Bình
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG GIAO THÔNG TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG GIAO THÔNG TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông từ ngân sách nhà nước
1.1.1.1 Khái ni ệm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Vốn đầu tư, cùng với lao động và đất đai là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của mọi quá trình sản xuất Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển và đặc biệt đối với nền kinh tế nước ta hiện nay Vốn là toàn bộ giá trị của đầu tư để tạo ra các tài sản nhằm mục tiêu thu nhập trong tương lai; các nguồn lực được sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư, nếu quy đổi ra thành tiền thì vốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư [11].
Vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư Như vậy theo quan điểm kinh tế vĩ mô, vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm ba nội dung chính là: Vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; Vốn đầu tư tài sản lưu động và Vốn đầu tư vào nhà ở [11]
Theo Khoản 18, Điều 3, Luật Đầu tư số 67/2014/QH13: “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.” [13]
Với phạm vi đầu tư thì có phạm trù tổng vốn đầu tư mà chúng ta gọi là vốn đầu tư phát triển, có thời kỳ gọi là vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm vốn cố định và vốn lưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác.
Vốn đầu tư phát triển gồm: Vốn đầu tư cơ bản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác.
Vốn đầu tư cơ bản là số vốn để tạo ra tài sản cố định (TSCĐ) Nó bao gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sữa chữa lớn TSCĐ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là một thuật ngữ đã được sử dụng khá quen thuộc ở nước ta với nội dung bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế.
Về thực chất vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ bao gồm những chi phí làm tăng thêm giá trị tài sản cố định Như vậy, vốn đầu tư xây dựng cơ bản gồm 2 bộ phận hợp thành: Vốn đầu tư để mua sắm hoặc xây dựng mới TSCĐ mà ta quen gọi là vốn đầu tư cơ bản và chi phí cho sữa chữa lớn TSCĐ.
Vốn lưu động bổ sung bao gồm những khoản đầu tư làm tăng thêm tài sản lưu động (TSLĐ) trong thời kỳ nghiên cứu của toàn xã hội.
Vốn đầu tư phát triển khác bao gồm tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm tăng năng lực phát triển của xã hội Sự phát triển của xã hội ngoài yếu tố làm tăng TSCĐ, TSLĐ còn phải làm tăng nguồn lực khác như; nâng cao dân trí, hoàn thiện môi trường xã hội, cải thiện môi trường sinh thái, hỗ trợ cho các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội và các chương trình phát triển khác.
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Theo Điều 2, Thông tư số 86/2011/TT-BTC: “Vốn NSNN cho đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư bao gồm:[3].
- Vốn trong nước của các cấp NSNN;
- Vốn vay nợ nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nước (phần ngân sách nhà nước).
Các nguồn lực thuộc quyền sở hữu và chi phối toàn diện của Nhà nước được sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư từ NSNN.
NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước tham gia huy động và phân phối vốn đầu tư thông qua hoạt động thu chi của ngân sách”.
1.1.1.2 Đặc điể m v ốn đầu tư xây dự ng công trình h ạ t ầ ng giao thông t ừ ngân sách nhà nướ c
Từ những khái niệm về vốn đầu tư, đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông, có thể thấyvốn đầu tưxây dựng công trình hạ tầng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông từ NSNN gắn với hoạt động thu chi NSNN; việc quản lý, sử dụng theo phân cấp và quy định của pháp luật về chi NSNN cho hoạt động đầu tư phát triển Việc hình thành, phân bổ và cấp phát, sử dụng và thanh quyết toán nguồn vốn này được thực hiện, quản lý chặt chẽ theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của các cơ quan quản lý liên quan; được thực hiện theo phân bổ kế hoạch vốn hàng năm; thời gian thực hiện khá dài.
Thứ hai, vốn đầu tưxây dựng công trình hạ tầng giao thông từ NSNN được sử dụng chủ yếu để đầu tư các công trình, dự án không có khả năng thu hồi vốn theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc đánh giá mang tính toàn diện, trên cơ sở đánh giá tác động cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Thứ ba, vốn đầu tưxây dựng công trình hạ tầng giao thông từ NSNN gắn với dự án đầu tư và quy trình đầu tư rất chặt chẽ từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đến khâu kết thúc đầu tư, nghiệm thu hoàn thành công trình vàđưa vào khai thác sử dụng Việc sử dụng nguồn vốn này gắn với quá trình thực hiện quản lý dự án (QLDA) đầu tư với các khâu liên hoàn với nhau từkhâu quy hoạch, chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, khảo sát, thiết kế, thực hiện đầu tư, thanh quyết toán vốn đầu tư và nghiệm thu đưa vào khai thác sử dụng, thanh tra, kiểm toán.
Thứ tư, vốn đầu tư từ NSNN khá đa dạng Căn cứ tính chất, nội dung, đặc điểm của từng giai đoạn trong quá trìnhđầu tư phân thành các loại vốn: Thực hiện dự án quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, duy tu, bảo dưỡng Vốn đầu tư xây dựng từ NSNN được sử dụng cho đầu tư mới, sửa chữa lớn hoặc mua sắm thiết bị.