Đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động đến số thu ngân sách nhà nước trên địa bàn các tỉnh Miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn từ năm 2005-2017.. Tổng hợp từ các cơ sở lý thuyết, các bài ngh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***&&***
NGUYỄN HỮU HUY LÂM
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***&&***
NGUYỄN HỮU HUY LÂM
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN CÁC
TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân Hàng
Mã ngành :8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu này tôi xin chân thành cảm ơn Giáo Sư Tiến Sỹ Dương Thị Bình Minh đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố
Hồ Chí Minh đã giảng dạy và cung cấp cho tối rất nhiều kiến thức bổ ích trong suốt thời gian theo học chương trình sau đại học tại trường Đại Học Kinh Tế Tp Hồ Chí Minh
Và sau cùng xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ
và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian thực hiện
Trang 4Lời Cam Đoan
Tôi tên Nguyễn Hữu Huy Lâm, tôi xin cam đoan đây là luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, các thông tin trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Trang 5MỤC LỤC Trang phụ bìa
4.1 Đối tượng nghiên cứu :……….… Trang 4 4.2 Phạm vi nghiên cứu ……… Trang 4
5 Những đóng góp mới của đề tài ……… Trang 5 6.Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của đề tài …… Trang 5
7 Bố cục đề tài ……… Trang 5
Trang 6CHƯƠNG II : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Trang 7
1 Khái quát về THU NSNN Trang 7
1.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nước Trang 7 1.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước Trang 8 1.3 Phân loại các nguồn thu của ngân sách nhà nước Trang 9 1.3.1.Căn cứ theo tính chất : Trang 9 1.3.2 Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ Trang 10 1.3.3 Căn cứ theo nội dung Trang 10 1.3.4 Phân loại các nguồn thu ngân sách nhà nước hiện hành tại Việt Nam Trang 11
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước Trang 13
3 Các nghiên cứu thực nghiệm đã công bố có lên quan đến đề tài Trang 17
3.1 Các bài nghiên cứu về thực nghiệm trong nước : Trang 17 3.2 Các bài nghiên cứu về thực nghiệm nước ngoài : Trang 18
4 Mô hình nghiên cứu của đề tài Trang 19
Trang 75.Kỳ vọng dấu hệ số hồi quy của các biến độc lập trong mô hình của đề tài
Trang 27
6 Đơn vị của tiến trong mô hình hồi quy đề tài Trang 28
6 Các mô hình hồi quy dữ liệu bảng được sử dụng trong đề tài Trang 30
7.1 Mô hình Pooled OLS ( Hồi quy kết hợp tất cả các quan sát ) Trang 30 7.2 Mô hình FEM ( Mô hình ảnh hưởng cố định ) Trang 30 7.3 Mô hình REM ( Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên ) Trang 32 Tổng kết chương III: Trang 33
CHƯƠNG IV : PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NGÂN SÁCH BẰNG MÔ HÌNH Trang 34
1 Thống kê mô tả dữ liệu các biến trong mô hình hồi quy của đề tài Trang 34 2.Kết quả hồi quy Trang 34 2.1 Kết quả hồi quy của mô hình hồi quy kết hợp tất cả các quan sát (Pooled OLS)
Trang 35
2.2 Kết quả hồi quy theo mô hình tác động cố định (FEM) Trang 36 2.3 Kết quả hồi theo mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) Trang 37
3 So sánh và kiểm định tính phù hợp của từng mô hình Trang 38
3.1So sánh mô hình Pooled OLS và REM Trang 38 1.1.2 So sánh mô hình Pooled OLS và FEM Trang 38 1.1.3 So sánh mô hình REM và FEM Trang 39 4.Kiểm định các hiện tượng làm sai lệch kết quả hồi quy Trang 41 4.1Hiện tượng tự tương quan Trang 41 4.2 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi Trang 41 4.3 Kiểm định hiện tượng phụ thuộc chéo giữa các đối tượng Trang 42
Trang 84.4 Kiểm định tính dừng của các biến Trang 42
5.Hiệu chỉnh mô hình FEM và kết quả hồi quy của đề tài Trang 44 5.1 Hiệu chỉnh mô hình FEM Trang 44 5.2 Kết quả hồi quy của đề tài cũng như mức ý nghĩa hồi quy các biến trong đề tài
Trang 44 5.3 Tổng hợp kỳ vọng và mức ý nghĩa hồi quy các biến trong đề tài Trang 45
6.Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế trên địa bàn tỉnh thành Đông Nam Bộ Trang 47
Tổng kết chương IV Trang 48
CHƯƠNG V : KẾT LUẬN, HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP Trang 50
1 Kết Luận Trang 54
2 Hàm ý chính sách và các giải pháp Trang 51
3 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo Trang 54
Kết luận chương V Trang 55
5 Kết luận chung của đề tài Trang 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9mô hình bài nghiên cứu trang 45
Trang 10Xã hội không thể hoạt động, duy trì sự ổn định và phát triển nếu như không có
bộ máy Nhà Nước điều khiển mọi hoạt động trong xã hội, duy trì an ninh trật tự, đề ra các chính sách, các giải pháp để xã hội càng phát triển vững mạnh, nâng cao thu nhập người dân Để Nhà Nước thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình đối với xã hội thì cần một nguồn quỹ để đảm bảo duy trì hoạt động Nhà Nước, cũng như để Nhà Nước thực hiên các hoạt động chi để phục vụ cho nhu cầu phát triển của xã hội nguồn quỹ đó là ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước bao gồm thu ngân sách Nhà nước
và chi ngân sách Nhà nước, trong đó Thu ngân sách nhà nước là quá trình tổ chức huy động các nguồn tài chính của xã hội vào quỹ ngân sách để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Vì vậy ý thức được tầm quan trọng của thu ngân sách nhà nước đối với hoạt động của nhà nước tác giả tiến hành nghiên cứu các yếu tố tác động đến số thu ngân sách nhà nước
Đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động đến số thu ngân sách nhà nước trên địa bàn các tỉnh Miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn từ năm 2005-2017 Đây là khu vực
có số thu ngân sách chiếm hơn 50 % tổng thu ngân sách của Việt Nam trong giai đoạn này, nhưng chưa có một bài nghiên cứu nào về các yếu tố ảnh hưởng đến số thu ngân sách của khu vực Thông qua việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến số thu ngân sách khu vực Đông Nam Bộ, tác giả đề xuất các giải pháp để có thể giữ vững và nâng cao hơn nữa số thu ngân sách của các tỉnh thành này
Tổng hợp từ các cơ sở lý thuyết, các bài nghiên cứu định lượng trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, tác giả xây dựng các yếu tố có khả năng tác động đến số thu ngân sách bao gồm các yếu tố : Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành (GDP) ; Tỷ trọng sản phẩm trong nước khu vực nông nghiệp GDP ; Ty trọng độ mở thương mại/ GDP; Số chi đầu tư phát triển từ ngân sách; Số chi cho giáo dục từ ngân sách; Số lượng doanh nghiệp cuối cùng là Lạm phát đại diện là chỉ số giá CPI Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tich định lượng, tác giả đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đế này đến số thu ngân sách của khu vực
Trang 11giáo dục, Số lượng doanh nghiệp và Lạm phát có tác động đến số thu ngân sách nhà nước Tỷ trọng Nông nghiệp/ GDP; Tỷ trọng độ mở thương mại/ GDP; Số chi đầu tư phát triển từ ngân sách không có tác động đến số thu ngân sách nhà nước
Từ kết quả hồi quy của bài nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số biện pháp để cải thiện số thu ngân sách tại khu vực các tỉnh thành Miền Đông Nam Bộ, qua đó các
cơ quan quản lý nhà nước , các nhà hoạch định chính sách của vực này và của cả Việt Nam có thể cải thiện tốt hơn nữa số thu ngân sách của khu vực cũng như của Việt Nam
Từ khóa : Ngân sách nhà nước; thu ngân sách nhà nước; tổng sản phẩn theo giá
hiện hành; tỷ trọng độ mở thương mại
Trang 12
Society cannot operate, maintain stability and development if there is no State apparatus to control all activities in society, maintain order and security, set policies and solutions for the commune The association grows stronger and improves people's income In order for the State to well perform its functions and duties towards society,
it is necessary to have a fund to ensure the maintenance of the State's activities, as well as for the State to carry out spending activities to serve the needs Social development of the fund source is the state budget State budget includes State budget revenue and State budget expenditure, in which state budget revenue is the process of mobilizing social financial resources into budget fund to ensure expenditure needs gorvernment's Therefore, being aware of the importance of the state budget revenue for the operation of the state, the author studies the factors affecting the state budget revenue.The study investigates the factors affecting the state budget revenue in the provinces of the Southeast in the period from 2005-2017 This is an area with a number of budget revenues accounting for more than 50% of Vietnam's total budget revenue during this period, but there has not been any research on the factors affecting the budget revenue of this region Through studying the factors affecting the revenue
of the Southeast region, the author proposed solutions to maintain and further improve the budget revenues of these provinces
Summing up the theoretical basis, the domestic and foreign quantitative research papers related to the topic, the author builds the factors that can affect the budget revenue including the following factors: General domestic products at current prices (GDP); Proportion of domestic agricultural products GDP; trade open weight / GDP; Expenditures on development investment from the budget; The amount spent on education from the budget; The final number of enterprises is Inflation represented as CPI price index Using quantitative analysis method, the author assesses the influence
of these factors on the revenue of the region
The results of the study show that Total products at current prices, Education, Number of Enterprises and Inflation have an impact on the state budget revenue Agriculture density / GDP; Proportion of open trade / GDP; The amount of spending
on development investment from the budget has no impact on the state budget revenue
From the regression results of the study, the author has proposed a number of measures to improve the budget revenue in the provinces of the Eastern South Vietnam, through which the state management agencies and planners policy policy of this region and of Vietnam can further improve the region's revenue as well as of Vietnam
Trang 14Chương I : MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1 Tầm quan trọng của số thu ngân sách đối với các hoạt động kinh tế
xã hội
Xã hội không thể hoạt động, duy trì sự ổn định và phát triển nếu như không
có bộ máy Nhà Nước điều khiển mọi hoạt động trong xã hội, duy trì an ninh trật tự,
đề ra các chính sách, các giải pháp để xã hội phát triển vững mạnh, nâng cao thu nhập người dân Để nhà nước thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình đối với xã hội thì cần một nguồn quỹ để nhà nước duy trì hoạt động cũng như để thực hiên các hoạt động chi phục vụ cho nhu cầu phát triển của xã hội nguồn quỹ đó là ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước bao gồm thu ngân sách Nhà nước và chi ngân sách Nhà nước, trong đó Thu ngân sách nhà nước là quá trình tổ chức huy động các nguồn tài chính của xã hội vào quỹ ngân sách để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Thu ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện chức năng, vai trò cùa nhà nước Chi ngân sách nhà nước cũng để đảm bảo thực hiện chức năng, vai trò của nhà nước bao gồm các khoản chi từ ngân sách nhà nước cho các doanh nghiệp , cơ quan , tổ chức , dân cư trong nước và nước ngoài , chi đầu tư phát triển kinh tế - xã hội , đảm bảo quốc phòng an ninh , đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước , chi trả nợ nhà nước , chi viện trợ nước ngoài , các khoản chi khác
Trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước, nguồn thu từ thuế luôn là nguồn thu chính, chiếm tỷ trọng lớn và thường chiếm hơn 90 % tổng nguồn thu của Ngân sách nhà nước Đây là nguồn thu chính của ngân sách của mỗi quốc gia, là nguồn quỹ chính để đảm bảo bộ máy nhà nước hoạt động duy trì sự ổn định xã hội, bảo đảm
an ninh quốc phòng Ngân sách nhà nước là nguồn kinh phí để nhà nước thực hiện
Trang 15các chính sách an sinh xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng v.v thực hiện các nhiệm vụ cũng như các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn nhất định
Tại Việt Nam, theo các số liệu thống kê các năm gần đây thì số thu ngân sách nhà nước của khu vực các tỉnh Đông Nam Bộ luôn chiếm trên 50% tổng số thu ngân sách của Việt Nam Các tỉnh Đông nam bộ của Việt Nam bao gồm : Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu, Tây Ninh Mặc dù nhiều năm nay đã có nhiều bài nghiên cứu trong nước nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến số thu ngân sách, tuy nhiên khu vực Đông Nam Bộ đến nay chưa có bài nghiên cứu nào về các yếu tố tác động đến số thu ngân sách khu vực này mặc dù đây là khu vực chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách quốc gia và đó là lý do để người viết thực hiện bài nghiên cứu này
1.2 Khái quát kết quả thu ngân sách các tỉnh thành Miền Đông Nam Bộ giai đoạn từ năm 2005 – 2017 và lý do lựa chọn đề tài
Như đã trình bày ở trên, mặc dù ngân sách nhà nước là nguồn quỹ chính để nhà nước thực hiện các chức năng của mình, tuy nhiên hiện nay tại địa bàn các tỉnh Đông Nam Bộ vẫn chưa có nghiên cứu nào về các yếu tố ảnh hưởng đến số thu ngân sách trên địa bàn khu vực Đây là khu vực rất năng động, đang có tốc phát triển rất nhanh và có mức đóng góp rất lớn cho ngân sách quốc gia Số liệu thu ngân sách các tỉnh thành khu vực Đông Nam Bộ so với cả nước được thể hiện theo bảng sau :
Số thu ngân sách của Việt Nam
Tỷ trọng thu ngân sách cách các tỉnh Đông Nam Bộ / Việt Nam
Trang 16( Nguồn : Tổng Cục Thống Kê và các Cục Thống Kê các tỉnh thành Đông Nam
Bô giai đoạn 2005-2017)
Qua số liệu trên cho thấy tỷ trọng đóng góp cho ngân sách quốc gia của các tỉnh thành Đông Nam Bộ mặc dù rất cao trong tổng ngân sách quốc gia ( bao gồm
cả số thu từ khai thác dầu thô và khí đốt của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ) nhưng đang có
xu hướng giảm dần đều qua các năm Điều này cho thấy tốc độ tăng thu của khu vực này đang thấp đi so với bình quân chung của cả nước dẫn đến tỷ trọng đóng góp cho ngân sách quốc gia có khuynh hướng giảm dần Vì vậy để tìm hiểu về các yếu có ảnh hương đến số thu ngân sách của khu vực các tỉnh Đông nam bộ nơi mà
số thu ngân sách trung bình chiếm trên 50 % tổng thu ngân sách của Việt Nam, tác giả tiến hành nghiên cứu các yếu tố tác động đến số thu ngân sách khu vực kinh tế quan trọng này Thông qua kết quả của bài nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra các khuyến nghị về chính sách cho các cơ quan quản lý nhà nước tại các tỉnh thành Miền Đông Nam Bộ nhằm cải thiện số thu ngân sách của khu vực và nâng cao hơn nữa tỷ trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước của các tỉnh thành này
Trang 172.Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu lý thuyết và phân tích các yếu tố tác động đến số thu ngân sách
Nhà nước tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ và mức độ tác động của các nhân tố này
Từ đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách phù hợp nhằm đảm bảo và gia tăng bền vững nguồn thu ngân sách nhà nước tại các tỉnh này
3.Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Mục đích chính của đề tài là để trả lời cho các câu hỏi sau :
- Số thu ngân sách nhà nước tại các tỉnh thành miền Đông Nam Bộ chịu ảnh
hưởng bởi các yếu tố nào
- Các yếu tố này ảnh hưởng như thế nào ( cùng chiều hay ngược chiều ) và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đối với số thu ngân sách nhà nước tại các tỉnh thành miền Đông Nam Bộ
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến số thu ngân sách Nhà nước tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ bao gồm 05 tỉnh và 01 thành phố gồm : Đồng Nai , Bình Dương, Bình Phước , Bà Rịa Vũng Tàu, Tây Ninh
và Thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Về phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến số thu ngân sách nhà nư ớc của khu vực các tỉnh thành Đông Nam Bộ trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2017
Trang 185 Những đóng góp mới của đề tài
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến số thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ bao gồm các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước , Bà Rịa Vũng Tàu, Tây Ninh và Thành Phố Hồ Chí Minh Đây là khu vực
có số thu ngân sách chiếm trên 50% tổng thu ngân sách nhà nước của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2017 nhưng chưa có một bài nghiên cứu nào nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến số thu ngân sách của khu vực Mặt khác do tỷ trọng đóng góp vào ngân sách quốc gia của khu vực này đang có khuynh hướng giảm dần, nguồn thu từ khai thác dầu thô và khí đốt của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đang ngày càng cạn kiệt Vì vậy tác giả tiến hành nghiên cứu các yếu tố tác động đến số thu ngân sách nhà nước của khu vực này ( không bao gồm số thu từ khai thác dầu thô và khí đốt ) từ kết quả của bài nghiên cứu sẽ đề xuất các khuyến nghị về chính sách nhằm ổn định và gia tăng hơn nữa nguồn thu ngân sách khu vực
6.Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là phương pháp nghiên cứu định lượng Bằng việc tổng hợp khung lý thuyết có liên quan đến đề tài, tác giả xác định các yếu tố tác đến số tác động đến số thu ngân sách nhà nước khu vực các tỉnh thành Miền Đông Nam Bộ từ đó xây dựng mô hình kinh tế lượng của đề tài
Sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng để hồi quy dữ liệu của đề tài bằng phần mềm thống kê Stata 14
Các phương pháp hồi quy dự liệu bảng được sử dụng trong đề tài là : Phương pháp bình phương bé nhất ( Mô hình Pool OLS) ; Mô hình tác động cố định ( Fixed Effects Model – FEM ) ; Mô hình tác động ngẫu nghiên ( Random Effects Model –
REM )
7 Bố cục đề tài
Bố cục của đề tài gồm 05 chương : Chương I là phần mở đầu; Chương II là phần cơ sở lý luận; Chương III là phần thiết kế nghiên cứu; Chương IV phần phân
Trang 19tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách bằng mô hình; Chương V là phần hàm
ý chính sách và kết luận
Tóm tắt chương I
Chương này chủ yếu nói lên lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu đối với khu vực các tỉnh thành Đông Nam bộ Chương này cũng trình bày mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng như những đóng góp mới sau khi thực đề tài nghiên cứu Sau cùng trình bày phương pháp nghiên cứu và mô hình của đề tài
Trang 20CHƯƠNG II : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG HỢP CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Khái quát về THU NSNN
1.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nước
Như mọi loại nguồn quỹ tài chính khác, Ngân sách nhà nước luôn có hai phần là phần thu ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước, đây là quỹ tiền tệ
để Nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình Như vậy thu ngân sách nhà nước là một trong hai thành phần của Ngân sách nhà nước, đây cũng là nguồn thu chính của tài chính công
Có nhiều khái niệm về Ngân sách nhà nước, chẳng hạn “ Ngân sách nhà nước là một đạo luật tài chính cơ bản do quốc hội quyết định , thông qua đó các khoản thu , chi tài chính nhà nước được thực hiện trong một niên khóa tài chính” “ (
Sử Đình Thành – Bùi Thị Mai Hoài, 2009, trang 213) hay theo như quy định tại điều 1 Luật ngân sách nhà nước năm 2002 thì : “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Riêng về khái niệm về thu ngân sách nhà nước một trong hai thành phần tạo nên ngân sách nhà nước thì căn cứ theo khoản 1 điều 2 của luật số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 về Ngân sách nhà nước quy định : “ Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật “
Ngoài ra theo định nghĩa được ghi trong Niên giám thống kê năm
2005-2017 của Tổng cục thống kê thì thu ngân sách nhà nước được định nghĩa nhu sau :
“ Thu ngân sách nhà nước gồm toàn bộ các nguồn thu vào ngân sách nhà nước từ các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ , từ dân cư trong nước và các nguồn thu ngoài nước , bao gồm các khoản : Thu từ thuế, phí , lệ phí , thu từ các hoạt động
Trang 21kinh tế của nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân ; thu từ viện trợ nước ngoài , và các khoản thu khác.”
Còn theo tác giả Sử Đình Thành – Vũ Thị Minh Hằng ( 2008) thì thu ngân sách nhà nước được định nghĩa như sau “ Thu ngân sách là quá trình tổ chức huy động các nguồn tài chính xã hội vào quỹ ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Nguồn tài chính xã hội được huy động vào ngân sách bằng những phương thức và hình thức khác nhau Hình thức truyền thống được sử dụng từ trước cho đến nay để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là thuế Ngoài ra nhà nước còn có nguồn thu từ hoạt động kinh tế nhà nước, các khoản thu huy động được nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách và một số khoản thu khác “ ( Sử Đình Thành –
Vũ Thị Minh Hằng , 2008, trang 176)
Tóm lại, thu ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản tiền tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỹ ngân sách nhà nước đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu xác định của nhà nước ( Sử Đình Thành – Vũ Thị Minh Hằng , 2008, trang 176)
Và “ Trong cơ cấu thu của ngân sách nhà nước công ở hầu hết các quốc gia trên thế giới , thuế luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi nó được trích xuất chủ yếu từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực nhà nước ( Dương Thị Bình Minh, 2005, trang 76)
1.2 Đặc điểm của thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng của thu nhập công, thu ngân sách nhà nước có các đặc điểm chính như sau :
- Đặc điểm thứ nhất : Phần lớn các thu ngân sách nhà nước được xây dựng trên nền tảng nghĩa vụ công dân, điển hình là thuế Ngoài ra thu ngân sách nhà nước còn bao gồm các khoản thu dựa trên cơ sở trao đổi như lệ phí và phí thuộc ngân sách nhà nước; các khoản thu do thỏa thuận như : vay mượn Các khoản thu
do người dân tự nguyện đóng góp chiếm tỷ lệ không đáng kể
Trang 22- Đặc điểm thứ hai : Là các khoản thu không mang tính bồi hoàn trực tiếp Các tổ chức và cá nhân nộp thuế cho nhà nước không có nghĩa là phải mua một hàng hóa hay dịch vụ nào đó của nhà nước Tuy nhiên , Nhà nước sẽ dùng thuế nhằm tạo ra nhằm tạo ra những hàng hóa và dịch vụ công và tất cả hàng hóa và dịch
vụ công sẽ được thụ hưởng bởi chính người dân trong nước Như thế, các khoản thu ngân sách nhà nước được chuyển trở lại cho dân chúng một các gián tiếp và công cộng
Đặc điểm thứ ba : Thu ngân sách nhà nước gắn chặt với việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước Nhà nước thu để tài trợ cho mọi hoạt động của nhà nước , tức thu để chi tiêu công chứ không phải thu để tìm kiếm lợi nhuận Do đó , ngân sách nhà nước phát triển theo các nhiệm vụ của Nhà nước Không thể đòi hỏi Nhà nước gia tăng hoạt động của mình trên cơ sở giảm mức động viên từ GDP
Đặc điểm thứ tư : Việc thu ngân sách nhà được thực hiện theo đúng quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về thu ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước cũng góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.3 Phân loại các nguồn thu của ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước bao gồm rất nhiều loại, ngoài các khoản thu chính
từ thuế, phí, lệ phí còn có các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và các cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Để cung cấp thông tin một cách có hệ thống, công khai, minh bạch, đảm bảo trách nhiệm, đáp ứng nhu cầu quản lý của các đối tượng thì việc phân loại các khoản thu theo những tiêu thức nhất định là việc hết sức quan trọng Việc phân loại tốt giúp cho công tác quản lý và sử dụng các nguồn thu của ngân sách đúng theo quy định của pháp luật, thuận lợi cho công tác báo cáo của các cơ quan quản lý thu ngân sách Có thể phân loại thu ngân sách Nhà nước theo các tiêu chí sau :
1.3.1 Căn cứ theo tính chất :
Thu ngân sách nhà nước được chia thành hai nhóm là các khoản thu thuế và các khoản không phải thu thuế :
Trang 23- Các khoản thu thuế bao gồm các sắc thuế mà nhà nước ban hành dưới hình thức luật , là những khoản thu mang tính chất bắt buộc , không bồi hoàn trực tiếp và xây dựng trên nghĩa vụ công dân Thuế chiếm tỷ phần đa số trong tổng thu ngân sách nhà nước ở hầu hết các quốc gia
- Các khoản thu không phải thuế : lệ phí và phí, quyên góp , vay mượn , cho thuê tài sản … Đây là những khoản thu mang tính đối giá và được xây dựng trên sự thỏa thuận giữa dân chúng và chính phủ Mặc dù giữ tỷ phần nhỏ trong tổng thu ngân sách nhà nước song chúng không thể thiếu trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước
- Thu nước ngoài : đầu tư nước ngoài , viện trợ nước ngoài , vay nợ nước ngoài Đây là những nguồn lực có thể giúp đất nước mau chóng tích tụ và tập trung vốn đầu tư vào nhiều công trình then chốt Từ đấy, tạo ra những bước chuyển đáng kể, hoặc nói cách khác là tạo ra những cú hích cơ bản trong tiến trình phát triển
1.3.3 Căn cứ theo nội dung
Thu ngân sách nhà nước bao gồm những khoản thu không mang nội dung kinh tế và những khoản thu mang nội dung kinh tế
- Khoản thu không mang nội dung kinh tế gồm có thuế, các khoản quyên góp, viện trợ nước ngoài và thu khác Thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhất tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị Khoản thu này được xây dựng trên cơ sở trao đổi nghĩa vụ giữa công dân và nhà nước Quyên góp và viện trợ nước ngoài là những khoản thu hình thành trên cơ sở tự
Trang 24nguyện Chúng ngày càng nhỏ dần về mặt tỷ trọng Các khoản thu viện trợ từ nước ngoài ngày càng mang tính hoàn lại và luôn kèm theo những điều kiện về chính trị, kinh tế, quân sự hoặc về văn hóa xã hội… Thu khác gồm các khoản thu từ phạt vi cảnh, thanh lý tài sản tịch thu , thu từ quà biếu tặng …
- Khoản thu mang nội dung kinh tế gồm lệ phí, phí, vay nợ, cho thuê công sản, bán tài nguyên thiên nhiên… Lệ phí và phí là những khoản thu mang tính đối giá Tỷ trọng của lệ phí và phí nhỏ so với thuế nhưng góp phần rất quan trọng cho quá trình nâng cao hiệu quả cung cấp và sử dụng hàng hóa, dịch vụ công , đảm bảo phân phối một cách tương đối công bằng phúc lợi xã hội cho mọi thành viên trong xã hội Lệ phí và phí còn là cầu nối gắn kết khu vực công và khu vực tư Vay
nợ trong và ngoài nước là những khoản thu có tính bồi hoàn Chúng mang tính hai mặt Mặt tích cực là đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích tụ vốn để tạo ra những công trình lớn khi mà các khoản thu từ thuế , lệ phí và phí chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu chi đầu tư phát triển của nhà nước Mặt khác, những công trình đầu tư từ vay
nợ nếu không mang lại lợi ích kinh tế - xã hội như mong muốn thì nợ trở thành một gánh nặng do phải trả vốn và lãi hàng năm Tùy thuộc cách thức sử dụng và hiệu quả đạt được , nợ được gọi là đòn bẩy hay gánh nặng Do đó, vấn đề không phải ở chỗ nên vay nợ hay không mà ở chỗ vay nợ nhằm mục đích gì và sử dụng nợ như thế nào Cho thuê công sản bao gồm cho thuê đất, cho thuê bầu trời , mặt nước, vùng lãnh thổ … khoản thu này tương đối hấp dẫn , nhưng cái giá phải trả là sự tổn hại về môi trường thiên nhiên sau thời hạn cho thuê Thu từ bán tài nguyên thiên nhiên là những khoản thu do bán quặng, dầu thô, thanh nguyên khai, sản vật của rừng nguyên sinh, đá tảng ” ( Dương Thị Bình Minh, 2005, trang 79-80)
1.3.4 Phân loại các nguồn thu ngân sách nhà nước hiện hành tại Việt Nam
Theo quy định nguồn thu ngân sách nhà nước theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành ( Luật ngân sách số 83/2015/QH13 ) thì thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu sau :
- Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí ;
Trang 25- Toàn bộ các khoản thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
( Trích khoản 1 điều 5 Luật ngân sách số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015) Ngoài ra theo như định nghĩa được ghi trong các ấn phẩm thống kê của Tổng cục thống kê giải thích nguồn hình thành chỉ tiêu thu ngân sách hàng năm thì “ Thu ngân sách nhà nước gồm toàn bộ các nguồn thu từ ngân sách nhà nước từ các đơn vị sản xuất , kinh doanh, dịch vụ , từ dân cư trong nước và các nguồn thu từ ngoài nước , bao gồm các khoản : Thu từ thuế, lệ phí , thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước , các khoản đóng góp của cá nhân ; thu viện trợ nước ngoài , các khoản thu khác “
Trong tổng nguồn thu ngân sách , nguồn thu từ Thuế là nguồn thu chính thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn thu Hiện nay tại Việt Nam có tổng cộng 09 sắc thuế và các khoản phí và lệ phí như sau :
1/ Thuế Giá trị gia tăng
2/ Thuế Thu nhập doanh nghiệp
3/ Thuế Thu nhập cá nhân
4/ Thuế Tiêu thụ đặc biệt
5/Thuế Xuất khẩu – Thuế Nhập khẩu
6/ Thuế Tài nguyên
7/Thuế Bảo vệ môi trường
8/ Thuế Sử dụng đất nông nghiệp ( Hiện đang được miễn nộp đến năm 2020 theo Nghị quyết số 55/2010/QH12 )
9/ Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp
10/ Các khoản Phí và lệ phí theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trong đó nhóm Thuế trực thu bao gồm : thuế Thu nhập doanh nghiệp; thuế Thu nhập cá nhân; Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp; Thuế Tài nguyên Nhóm
Trang 26thuế gián thu bao gồm : Thuế Giá trị gia tăng; Thuế Tiêu thụ đặc biệt ; Thuế Bảo vệ môi trường; Thuế Xuất khẩu; Thuế Nhập khẩu
Ngoài các sắc thuế nêu trên, hiện tại Nhà nước Việt Nam đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật quy định một số khoản thu khác như Phí, Lệ Phí,Lệ phí trước bạ, Thu tiền thuê đất, tiền sử dụng đất
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước
Có nhiều ý kiến về các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước, chẳng hạn “ thu ngân sách nhà nước trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh
tế xã hội Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề đồng thời là yếu tố khách quan hình thành các khoản thu ngân sách nhà nước “( Sử Đình Thành – Vũ Thị Minh Hằng, 2009, trang 176) Ngoài ra theo tác giả Dương Thị Bình Minh thì thu ngân sách nhà nước bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như trình độ hiện đại hóa trong thanh toán và hạch toán, trình độ nhận thức của dân chúng ( trình
độ nhận thức càng cao thì ý thức chấp hành pháp luật càng tốt do đó nhà nước sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện thu ngân sách), năng lực pháp lý của bộ máy nhà nước, hiệu quả hoạt động của chính phủ.( Dương Thị Bình Mình, 2005, trang 80-83)
Theo các bài nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước tác giả tổng hợp được thì các yếu tố sau đây có ảnh hưởng đến số thu ngân sách nhà nước, bao gồm :
- Yếu tố GDP Bình Quân : Đây là yếu tố rất quan trọng trong việc xây dựng
các yếu tố ảnh hưởng đến số thu ngân sach nhà nước đã được sử dụng trong rất nhiều bài nghiên cứu trước đây cả trong và ngoài nước Yếu tố này thể hiện mức độ phát triển của một quốc gia, một khu vực, yếu tố này càng cao chứng tỏ khu vực hay quốc gia này có trình độ phát triển cao và ngược lại Khi mức độ phát triển càng cao, thu nhập người dân càng cao thì nguồn thu của ngân sách quốc gia sẽ cao tương ứng
Có nhiều định nghĩa về GDP , theo giải thích tại Niên giám thông kê Việt Nam năm 2016 thì :
Trang 27GDP ( Tổng sản phẩm trong nước ) là giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong khoảng thời gian nhất định Tổng sản phẩm trong nước được tính theo giá hiện hành và giá so sánh Có 3 phương pháp tính :
Phương pháp sản xuất : Tổng sản phẩm trong nước bằng tổng giá trị tăng thêm theo giá cơ bản của tất cả các ngành kinh tế cộng với thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
Giá trị tăng thêm là giá trị hàng hóa và dịch vụ mới tạo ra của các ngành kinh
tế trong một thời kỳ nhất định Giá trị tăng thêm là một bộ phận của giá trị sản xuất bằng chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian Giá trị tăng thêm được tính theo giá hiện hành và giá so sánh
Giá cơ bản là số tiền người sản xuất nhận được do bán hàng hóa hay dịch vụ sản xuất ra, trừ đi thuế đánh vào sản phẩm, cộng với trợ cấp sản phẩm Giá cơ bản không bao gồm phí vận tải và phí thương nghiệp không do người sản xuất trả khi bán hàng
Giá sản xuất là số tiền người sản xuất nhận được do bán hàng hóa hay dịch
vụ sản xuất ra trừ đi thuế VAT được khấu trừ hay thuế được khấu trừ tương tự Giá sản xuất không bao gồm chi phí vận tải và phí thương mại không do người sản xuất chi trả khi bán hàng
Các phương pháp tính GDP :
Phương pháp thu nhập : Tổng sản phẩm trong nước bằng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai , mày móc Theo phương pháp này , tổng sản phẩm trong nước gồm 4 yếu tố ( 1) Thu nhập của người lao động từ sản xuất ( bằng tiền và hiện vật ) ; (2) Thuế sản xuất ; (3) Khấu hao tai sản cố định dung trong sản xuất ; (4) Thặng dư sản xuất
Trang 28Phương pháp sử dụng cuối cùng : Tổng sản phẩm trong nước bằng tổng của
3 yếu tố : Tiêu dung cuối cùng của hộ dân cư và nhà nước; Tích lũy tài sản ( Cố định, lưu động, quý hiếm ) và chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành thường được dung để nghiên cứu cơ cấu kinh tế , mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong sản xuất , mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với phần huy động vào ngân sách
( Trích trang 155-156 Niên giám thống kê Việt Nam năm 2016 )
Yếu tố GDP bình quân được sử dụng rất nhiều bài nghiên cứu trước như trong bài nghiên cứu của Nguyễn Phi Khanh( 2013), nghiên cứu của Trần Mạnh Khương (2016), nghiên cứu của Carola Pessino và Ricardo Fenochietto ( 2010), nghiên cứu của Piancastelli (2001)
- Yếu tố tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP : Yếu tố này thường được sử dụng trong các bài nghiên cứu để giải thích mức độ dễ thu thuế trong việc hành thu vào ngân sách nhà nước Do chính sách miễn giảm đối với số thu thuế từ nông nghiệp cũng như sự gia tăng của các ngành thương mại , dịch vụ và công nghiệp trong nền kinh tế nên tỷ trọng ngành nông nghiệp đang giảm trong quy mô của nền kinh tế điều này dẫn đến yếu tố này thường ảnh hưởng ngược chiều với số thu ngân sách Yếu tố này được đưa vào nhiều bài nghiên cứu trước như trong bài nghiên cứu của Trần Văn Vũ (2010), bài nghiên cứu của Nguyễn Phi Khanh( 2013), nghiên cứu của Trần Mạnh Khương (2016), nghiên cứu của Carola Pessino và Ricardo
Fenochietto ( 2010), nghiên cứu của Piancastelli (2001)
- Tỷ trọng Độ mở thương mại/GDP : Yếu tố này thể hiện độ cởi mở của nền kinh tế, được tính bằng tổng giá trị nhập cộng với giá trị xuất khẩu chia cho GDP
Sự gia tăng của tỷ trọng độ mở thương mại thường sẽ tác động tích cực đến nguồn thu ngân sách nhà nước bởi vì khi thực hiện chính sách cởi mở hơn của nền kinh tế, trong gia đoạn đầu nguồn thu thuế có thể giảm do chính sách khuyến khích xuất khẩu cũng như giảm thuế nhập khẩu để thực hiện các cam kết thương mại buộc nhà nước tăng các khoản thu khác để bù đắp thiếu hụt nguồn thu, tuy nhiên khi doanh
Trang 29thu xuất khẩu và nhập khẩu tăng thì các sắc thuế thu trong nội địa sẽ tăng và số thu ngân sách nhà nước sẽ tăng tương ứng Yếu tố này được đưa vào nhiều bài nghiên cứu trước như trong bài nghiên cứu của Nguyễn Phi Khanh (2013), nghiên cứu của Trần Mạnh Khương (2016), nghiên cứu của Carola Pessino và Ricardo Fenochietto
( 2010), nghiên cứu của Piancastelli (2001)
- Số chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách :
Theo định nghĩa về chi ngân sách nhà nước thì : Chi ngân sách nhà nước gồm toàn bộ các khoản chi từ ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp , cơ quan, đơn vị, tổ chức, dân cư trong nước và ngoài nước , bao gồm các khoản : Chi đầu tư phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng , an ninh , đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước , chi trả nợ nhà nước, chi viện trợ nước ngoài , các khoản chi khác ( Trang 157 sách niên giám thống kê 2016 của Tổng cục thống kê )
Sự gia tăng quy mô nền kinh tế luôn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, đặc biệt là cơ sở hạ tầng giao thông, các khoản chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước thường được dùng phần lớn để chi cho xây dựng cơ sở
hạ tầng nhằm tạo môi trường thuận lợi cho nền kinh tế tiếp tục phát triển Yếu tố này trước đây đã được sử dụng trong bài nghiên cứu của Trần Văn Vũ (2010)
- Yếu tố giáo dục hay trình độ dân trí : Để công tác thu thuế của một quốc gia hay một vùng diễn ra tốt đẹp thì phụ thuộc rất nhiều ý thức tuân thủ pháp luật trong
đó có pháp luật thuế của người nộp thuế Trình độ dân trí cao thường có ý thức chấp hành pháp luật tốt và muốn có trình độ dân trí cao thì yếu tố hỗ trợ từ các khoản chi cho giáo dục từ ngân sách rất quan trọng góp phần nâng cao dân trí cho toàn xã hội
từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của xã hội Do đó để nghiên cứu sự tác động của giáo dục đến số thu ngân sách nhà nước, tác giả sử dụng biến đại diện là
số chi cho giáo dục từ ngân sách nhà nước để nghiên cứu sự tác động của giáo dục đến số thu ngân sách với kỳ vọng yếu tố này có tác động tích cực đến số thu ngân sách Yếu tố này đã được sử dụng trong bài nghiên cứu trước của Carola Pessino
và Ricardo Fenochietto ( 2010)
Trang 30- Số lượng doanh nghiệp : Người nộp thuế chính là đối tượng tạo nên nguồn thu thuế cho ngân sách , người nộp thuế có thể doanh nghiệp hoặc cá nhân Trong
cơ cấu nguồn thu của Việt Nam nguồn thu từ đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn Doanh nghiệp được thực hiện nghiên cứu trong đề tài được định nghĩa là “ Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, thành lập theo Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc theo Hiệp định ký kết giữa chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài, bao gồm các loại hình doanh nghiệp : Doanh nghiệp nhà nước; Doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài “ ( trích trang 273 Niên giám thống kê năm ) Đây là lực lượng chính tạo nên số thu cho ngân sách nhà nước, yếu tố này đã được đưa các bài nghiên cứu trước đây của Trần Văn Vũ (2010), nghiên cứu của Trần Mạnh Khương (2016)
- Lạm phát : Yếu tố thường được sử dụng để đánh giá tác động của lạm phát đến số thu ngân sách và được đại diện bằng chỉ số giá tiêu dùng ( CPI ) Yếu tố này
đã được đưa vào nhiều bài nghiên cứu trước của Nguyễn Phi Khanh( 2013), nghiên cứu của Carola Pessino và Ricardo Fenochietto ( 2010), nghiên cứu của Piancastelli
(2001)
- Các yếu tố khác
3 Các nghiên cứu đã công bố có lên quan đến đề tài
3.1 Các bài nghiên cứu về thực nghiệm trong nước :
Theo nghiên cứu của Trần Văn Vũ (2015) trong luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Long An trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013 cho thấy tăng trưởng số lượng doanh nghiệp trên địa bàn có ảnh hưởng tích cực đến số thu ngân sách còn tăng tưởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp , tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, tăng trưởng dân số trung bình, tăng trưởng chi đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước chưa có ảnh hưởng đến số thu ngân sách
Trang 31Nghiên cứu của Nguyễn Phi Khanh (2013 ) trong luận văn thạc sĩ nghiên cứu các yếu tố tác động đến tổng số thu thuế của các quốc gia Đông nam á trong đó
có Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012 cho thấy thu nhập bình quân đầu người và độ mở thương mại có tác động đến số thu ngân sách ( tác động cùng chiều ) trong khi đó tỷ trọng ngành nông nghiệp , ngành công nghiệp trong GDP và lạm phát không có tác động đến số thu ngân sách tại các quốc gia này
Nghiên cứu của Trần Mạnh Khương ( 2016 ) trong luận văn thạc sĩ nghiên cứu các yếu tố tác động đến số thu ngân sách nhà nước tại 13 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long trong giai đoạn từ năm 2005 đế năm 2014 cho thấy GDP bình quân đầu người, tỷ lệ thu chi ngân sách, số lượng doanh nghiệp, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động có tác động đến số thu ngân sách, các yếu tố tỷ trọng nông nghiệp trong GDP,
mở cửa thương mại, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh không có tác động đến số thu ngân sách
3.2 Các bài nghiên cứu về thực nghiệm nước ngoài :
- Nghiên cứu của Cheliah ( 1971) nghiên cứu xu hướng thu thuế tại các nước đang phát triển, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng ngành khoáng sản, tỷ trọng xuất khẩu không bao gồm khoáng sản có tác động cùng chiều đến tổng số thu thuế, trong khi đó tỷ tỷ trọng ngành nông nghiệp có tác động ngược chiều đến số thu thuế, thu nhập bình quân đầu người không có tác động đến số thu thuế
- Nghiên cứu của Tanzi ( 1992 ) nghiên cứu chính sách tài khóa trong các nền kinh tế đang chuyển đổi, kết quả nghiên cứu cho thấy ngành khoáng sản và tỷ trọng xuất khẩu không bao gồm khoáng sản có tác động cùng chiều đến tổng số thu thuế, ngược lại thu nhập bình quân đầu người không có tác động đến số thu thuế
Theo kết quả nghiên cứu của Leuthold ( 1991 ) về đóng góp của thuế tại các nền kinh tế đang phát triển, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng mậu dịch tác động cùng chiều đến số thu thuế , trong khi đó tỷ trọng nông nghiệp tác động ngược chiều đến số thu thuế còn tỷ tỷ trọng ngành khoáng sản và viện trợ nước ngoài không tác động đến số thu thuế
Trang 32Nghiên cứu của Stotsky và Wolde Mariam ( 1997) nghiên cứu tác động thuế
ở châu phi khu vực cận Sahara, kết quả nghiên cứu cho thấy số thu thuế có tác động cùng chiều với tỷ trọng xuất khẩu và thu nhập bình quân đầu người và có tác động ngược chiều đối với tỷ trọng ngành nông nghiệp và tỷ trọng ngành khoáng sản
Nghiên cứu của Ghara ( 1998 ) nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách kinh tế
và tham nhũng đến số thu thuế, kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố GDP bình quân người, độ mở thương mại, tỷ trọng xuất khẩu, tình trạng khu vực khai khoáng dầu
mỏ và phi dầu mỏ, cải cách cấu trúc và phát triển nhân lực có tác động cùng chiều đến số thu thuế; các yếu tố tỷ trọng ngành nông nghiệp, tỷ trọng ngành khoáng sản, lạm phát và tham nhũng có tác động ngược chiều đến số thu thuế và tỷ lệ thay đổi điều khoản mậu dịch, tỷ lệ thay đổi tỷ giá hối đoái thực, thay đổi nợ nước ngoài/GDP không có tác động đến số thu thuế
Nghiên cứu của Carola Pessino và Ricardo Fenochietto ( 2010) nghiên cứu
nỗ lực thu thuế của 96 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2016 cho thấy mối liên cùng chiều hê giữa số thu thuế/GDP với mức độ phát triển ( GDP bình quân dầu người ), độ mở thương mại ( Nhập khẩu và xuất khẩu /GDP) , giáo dục ( chi tiêu cho giáo dục/GDP) và mối quan hệ ngược chiều giữa lạm phát, phân phối thu nhập ( hệ số GINI) , tỷ trọng ngành nông nghiệp/GDP và tham nhũng với số thu ngân sách
Nghiên cứu của Piancastelli (2001) dựa trên dữ liệu của 75 nước phát triển
và đang phát triển cho thấy thu nhập bình quân đầu người, tỷ trọng ngành công nghiệp và độ mở thương mại có ảnh hưởng tích cực đến số thu ngân sách trong khi
đó tỷ trọng ngành nông nghiệp có ảnh hưởng tiêu cực đến số thu thuế
4 Mô hình nghiên cứu của đề tài
Qua nghiên cứu các mô hình của các bài nghiên cứu trong và ngoài nước được trình bày trên đây tác giả kế thừa một số mô hình trong bài nghiên cứu của tác giả Trân Văn Vũ ( 2010), mô hình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phi Khanh (2013), mô hình nghiên cứu của tác giả Trần Mạnh Khương (2016), mô hình nghiên
Trang 33cứu của Piancastelli (2001) và đặc biệt là mô hình nghiên cứu của tác giả Carola Pessino và Ricardo Fenochietto ( 2010) là phù hợp với khung lý thuyết của đề tài, trên cơ sở đó tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài như sau :
- Biến GDP bình quân người ( GDPBQ)
- Biến tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP (TTNNGHIEP)
- Biến độ mở thương mại (TTDMTM)
- Biến chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước (CDT)
- Biến chi cho giáo dục từ ngân sách nhà nước (CGD)
- Biến số lượng doanh nghiệp (SODN)
- Biến lạm phát (CPI)
+ β0 : Hệ số chặn
+ βi : Độ dốc
+ Sai số : Uit
Tổng kết chương II : Chương này trình bày các cơ sở lý luận của đề tài , nêu
và tổng kết các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Từ cơ sở lý luận và kết quả tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài tác giả xác định các yếu tố tác động đến số thu ngân sách từ đó xây dựng mô hình hồi quy của bài nghiên cứu
Trang 34CHƯƠNG III
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
1.Mô hình nghiên cứu
Từ kết quả xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước trên địa bàn các tỉnh thành Đông Nam Bộ đã trình bày trong chương II , tác giả xây dựng
mô hình nghiên cứu của đề tài như sau:
Mô hình nghiên cứu của đề tài được khái quát như sau :
Sơ đồ : Mô hình nghiên cứu của đề tài
( Nguồn: Theo đề xuất của tác giả )
Mô hình nghiên cứu của các yếu tố GDP bình quân người, tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp/GDP, tỷ trọng độ mở thương mại/GDP,số chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách, số chi giáo dục từ ngân sách và lạm phát đến số thu ngân sách khu vực các tỉnh thành Đông Nam Bộ trong giai đoạn từ năm 2005-2017
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định lượng
- Mô hình kinh tế lượng của đề tài :
Tỷ trọng Độ mở thương mại / GDP
Chi cho Đầu tư phát
Trang 35 Biến thu ngân sách ( THUNS)
- Thu ngân sách nhà nước : thu ngân sách nhà nước gồm toàn bộ các nguồn thu từ ngân sách nhà nước từ các đơn vị sản xuất , kinh doanh, dịch vụ , từ dân cư trong nước và các nguồn thu từ ngoài nước , bao gồm các khoản : Thu từ thuế, lệ phí , thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước , các khoản đóng góp của cá nhân ; thu viện trợ nước ngoài , các khoản thu khác
Dữ liệu biến thu ngân sách nhà nước được lấy từ phần Thu ngân sách nhà nước trong phần Tài khoản quốc gia của các ấn phẩm niên giám thống kê trong kỳ nghiên cứu tại các Đông Nam Bộ Riêng đối với khu vực Bà Rịa Vũng Tàu số thu ngân sách đưa vào đề tài không bao gồm số thu ngân sách từ khai thác dầu thô
+ Các biến độc lập
Biến này được đưa vào mô hình với kỳ vọng rằng khi tổng sản phẩm quốc nội tăng,thu nhập bình quân tăng thì thu ngân sách cũng sẽ tăng tương ứng Hệ số hồi quy của biến được kỳ vọng dương tức khi thu nhập bình quân tăng thì số thu ngân sách cũng sẽ tăng
Dữ liệu về GDP theo giá hiện hành hàng năm được trích trong phần Tài khoản quốc gia, ngân sách nhà nước, bảo hiểm của các ấn phẩm niên giám thống kê các tỉnh thành khu vực Đông nam bộ trong các năm từ năm 2005 -2017 Riêng số liệu của GDP tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu sẽ không bao gồm GDP hình thành từ khai thác dầu và khí đốt
Việc loại bỏ số liệu GDP từ khai thác dầu thô và khí đốt để có cách nhìn rõ ràng tác động của việc gia tăng tổng sản phảm quốc nội từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của khu vực đến số thu ngân sách nhằm đề xuất các chính sách phù hợp Tránh việc tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội phụ thuộc quá nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên trong khi trữ lượng dầu mỏ và khí đốt đang ngày càng cạn kiệt
Trang 36GDP bình quân người được tính công thức sau :
GDPBQ = GDP của Tỉnh i tại thời điểm t
Dân số trung bình của tỉnh i tại thời điểm t tương ứng
Biến này được đưa vào mô hình để giải thích việc mức độ dễ thu thuế của khu vực Hiện tại cơ cấu ngành kinh tế thường được chia theo 03 nhóm ngành chính là ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Nền kinh tế càng phát triển thì mức độ đóng góp của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế càng ít đi ngược lại mức
độ đóng góp cho nền kinh tế của ngành công nghiệp và dịch vụ càng gia tăng Do
đó hệ số hồi quy của biến tỷ trọng nông nghiệp / GDP dự kiến là âm tức tỷ trọng ngành nông nghiệp có tác động ngược chiều với số thu ngân sách
Dữ liệu của biến tỷ trọng ngành kinh tế trong GDP cũng được trích trong phần Tài khoản quốc gia, ngân sách nhà nước, bảo hiểm của các ấn phẩm niên giám thống kê các tỉnh thành khu vực Đông nam bộ theo 03 ngành chính là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Biến này được đưa vào mô hình với kỳ vọng rằng khi độ mở thương mại tăng, doanh thu xuất khẩu và nhập khẩu tăng, doanh thu của nền kinh tế sẽ tăng do đó thu ngân sách sẽ tăng tương ứng Hệ số hồi quy của Biến được kỳ vọng dương tức khi
độ mở thương mại tăng thì số thu ngân sách cũng sẽ tăng
Chỉ tiêu này là tổng giá trị giá xuất khẩu hàng hóa cộng với tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa sau đó chia cho GDP của các tỉnh thành Đông Nam Bộ trong một năm Trong cán cân thương mại hàng hóa, trị giá xuất khẩu được tính theo giá FOB, trị giá nhập khẩu được tính theo giá CIF
Số liệu của biến Độ mở thương mại được lấy từ tổng số trị giá xuất khẩu hàng hóa cộng với trị giá nhập khẩu hàng hóa theo theo từng năm tại trong các ấn phẩm thống kê các tỉnh Đông Nam Bộ mục Thương mại và du lịch nhân với tỷ giá USD /
Trang 37VNĐ bình quân trong năm sau đó chia cho GDP của từng tỉnh thành phố tương ứng theo từng năm để ra tỷ trọng độ mở thương mại trên GDP
Biến này được đưa vào các bài nghiên cứu với kỳ vọng việc tăng chi cho đầu
tư phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng khu vực Sự phát triển của
cơ sở hạ tầng sẽ tạo động cho kinh tế khu vực phát triển góp phần gia tăng tổng thu nhập và thu ngân sách nhà nước của khu vực Do đó hệ số hồi quy biến chi cho đầu tư phát triền từ ngân sách được kỳ vọng là dương tức khi số chi cho đầu tư phát triển tăng thì số thu ngân sách cũng tăng
Dữ liệu về chi cho đầu tư phát triển được lấy từ phần Chi ngân sách nhà nước mục Chi đầu tư phát triển theo từng tỉnh thành khu vực Đông nam bộ trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2017
Biến này được đưa vào mô hình làm biến đại diện để nghiên cứu sự tác động của giáo dục với số thu ngân sách với kỳ vọng rằng giáo dục có tác động tích cực đến số thu ngân sách Bởi vì sự gia tăng đầu tư cho giáo dục sẽ góp phần nâng cao dân trí, khi rằng trình độ dân trí cao thì ý thức chấp hành pháp luật sẽ cao trong đó
có ý thức chấp hành pháp luật thuế dẫn đến công tác thu thuế của nhà nước được thuận tiện và dễ dàng hơn, do đó số thu ngân sách cũng sẽ tăng Hệ số hồi quy của biến số chi giáo dục từ ngân sách nhà nước được kỳ vọng là dương tức khi số chi cho giáo dục tăng thì thu ngân sách cũng tăng tương ứng
Dữ liệu về chi cho chi cho giáo dục được lấy từ phần Chi ngân sách nhà nước mục Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề theo từng tỉnh thành khu vực Đông nam bộ trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2017 chia cho GDP của từng tỉnh thành tương ứng
Biến này được đưa vào đề tài với kỳ vọng rằng việc gia tăng số lượng doanh nghiệp sẽ góp phần gia nguồn thu cho ngân sách bởi vì đây là lực lượng chính tạo
Trang 38nên số thu cho ngân sách Do đó hệ số hồi quy của biến được kỳ vọng là dương tức khi số lượng doanh nghiệp tăng thì thu ngân sách cũng tăng
Dữ liệu về số lượng doanh nghiệp được lấy từ phần doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh cá thể trong các ấn bản Niên giám thông kê của từng tỉnh thành khu vực Đông nam bộ trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2017
Yếu tố này được đưa vào mô hình nghiên cứu để đánh giá tác động của lạm phát đến số thu ngân sách và được đại diện bằng chỉ số giá tiêu dùng ( CPI ) của các tỉnh thành trong khu vực nghiên cứu
Hệ số hồi quy của biến được kỳ vọng là âm tức chỉ số lạm phát có tác động ngược chiều đến số thu ngân sách
Biến này sẽ được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI được lấy theo chỉ tiêu chỉ
số giá tiêu dùng tháng 12 năm báo cáo so với tháng 12 năm trước của cùng tỉnh thành để tính chỉ số lạm phát trong đề tài trong mục Chỉ số giá của các ấn phẩm niên giám thông kê các tỉnh thành khu vực Đông nam bộ trong giai đoạn từ năm 2005- 2017
- Nguồn và phương pháp thu thập dữ liệu : Nguồn dữ liệu là nguồn thứ cấp, được lấy từ các ấn phẩm Niên giám thống kê hàng năm của Cục thống kê các tỉnh thành Đông Nam Bộ và ấn phẩm Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2017 Ngoài ra dữ liệu còn được lấy trên các trang Web Sở Tài Chính, Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư, Sở Công Thương của các tỉnh, thành phố này
3.Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp nghiên cứu định lượng
Để thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến số thu ngân sách tác giả đã lần lượt thực hiện các bước sau :
Trang 39Bước 1 : Xây dựng mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu ngân sách nhà nước khu vực cá tỉnh Miền Đông Nam Bộ
Bước 2 : Nghiên cứu định tính cá yếu tố tác động đến thu ngân sách nhà nước của các tác giả trong và ngoài nước, tiến hành tổng hợp các bài nghiên cứu định lượng trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nhằm khẳng định mối quan
hệ giữa các yếu tố với thu ngân sách nhà nước từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài
Bước 3 : Thực hiện nghiên cứu định lượng về các phương pháp ước lượng, cách chọn các biến đại diện cũng như tiến hành thu thập dữ liệu của bài nghiên cứu
Bước 4 : Tiến hành phân tích mô hình nghiên cứu của đề tài bằng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng và lựa chọn mô hình hồi quy dữ liệu bảng phù hợp Các
mô hình hồi quy dữ liệu bảng được áp dụng trong đề tài lần lượt là : Mô hình Pool OLS), Mô hình tác động cố định ( Fixed Effects Model – FEM ), Mô hình tác động ngẫu nghiên ( Random Effects Model – REM ) Kiểm các khuyết tật của mô hình
đã chọn và hiệu chỉnh mô hình đã chọn để có kết quả hồi quy của đề tài Trên cơ sở kết quả hồi quy tiến hành bình luận mối liên hệ các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước đã xây dựng
Bước 5: Khẳng định ( hay bác bỏ ) các kỳ vọng ban đầu của các yếu tố tác động đến thu ngân sách nhà nước và tiến hành đề xuất các giải pháp phù hợp
4 Mô hình hồi quy của đề tài
Trang 402 Biến tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP, viết tắt : TTNNGHIEP
3 Biến độ mở thương mại, viết tắt : TTDMTM
4 Biến chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, viết tắt :CDT
5 Biến chi cho giáo dục từ ngân sách nhà nước, viết tắt : CGD
6 Biến số lượng doanh nghiệp, viết tắt : SODN
7 Biến lạm phát, viết tắt :CPI