1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở việt nam hiện nay

90 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 791,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Chương trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay đang triển khai thực hiện nhằm xây dựng nông thôn mới

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

NGUYỄN VĂN TIẾN

GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội - Năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

NGUYỄN VĂN TIẾN

GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 7

1.1 Cơ sở khoa học 7

1.1.1 Nông thôn: 7

1.1.2 Nông thôn mới 8

1.1.2 Xây dựng nông thôn mới 9

1.1.3 Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 13

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới: 15

1.2 Cơ sở pháp lý 16

1.2.1 Chủ trương, định hướng của Đảng 16

1.2.2 Cơ chế, chính sách của Nhà nước 19

1.3 Cơ sở thực tiễn của huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở Viêt Nam 20

1.3.1.Kinh nghiêm trong nước 20

1.3.2 Kinh nghiệm huy động nguồn lực xây dựng nông thôn ở nước ngoài 22

Chương 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 26

2.1 Cơ chế, chính sách huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay 26

2.1.1 Cơ chế huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 26

2.1.2 Về cơ chế đầu tư 28

2.1.3 Về phân bổ nguồn vốn đầu tư 28

2.1.4 Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện Chương trình 30

2.2 Kết quả Huy động nguồn vốn xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay 31

Trang 4

2.2.1 Huy động vốn Chương trình xây dựng nông thôn mới 31

2.2.2 Kết quả huy động vốn tại 11 xã thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới 34

2.3 Huy động các nguồn lực khác xây dựng nông thôn mới 39

2.3.1 Huy động nguồn lực đất đai xây dựng nông thôn mới 39

2.3.2 Huy động nhân lực xây dựng nông thôn mới 40

2.4 Đánh giá chung 42

2.4.1 Kết quả đạt được 42

2.4.2 Những khó khăn, hạn chế của huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 49

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 52

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 56

3.1 Chủ trương xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới 56

3.2 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 58

3.2.1 Mục tiêu tổng quát: 58

3.2.2 Mục tiêu cụ thể: 58

3.3.1 Tổng nhu cầu vốn đến 2020 59

3.3.2 Cơ cấu huy động vốn xây dựng nông thôn mới 60

3.3.3 Định hướng các nội dung huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới 61

3.4 Giải pháp huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 62

3.4.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 62

3.4.2 Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư, thực hiện vai trò định hướng, hỗ trợ, dẫn dắt, khuyến khích người dân, các tổ chức và cộng đồng tự giác, tích cực tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới 63

Trang 5

3.4.3 Động viên, phát huy nguồn lực tại chỗ trong xây dựng nông thôn mới

65

3.4.4 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, đời sống của người dân nông thôn là giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm tăng cường nguồn lực bền vững xây dựng nông thôn mới 68 3.4.5 Tuyên truyền, vận động tạo sự đồng thuận của người dân và xã hội tham gia xây dựng nông thôn mới; phát huy tính tự chủ, chủ động, tích cực tham gia của người dân 69

3.5 Các điều kiện chủ yếu để thực hiện giải pháp 70

3.5.1 Nâng cao nhận thức về huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 70 3.5.2 Thực hiện tốt phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong đó người dân nông thôn là chủ thể 70 3.5.3 Bổ sung, hoàn thiện chính sách đất đai, tín dụng, ưu đãi đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn 71

KẾT LUẬN 72

Trang 6

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

GDP Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)

HĐND Hô ̣i đồng nhân dân

ODA Viện trợ không hoàn lại

TTg Thủ tướng Chính phủ

USD Đồng đô la Mỹ hay Mỹ kim (United States dollar)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1.2 - Vốn đầu tƣ tại 11 xã điểm, tính đến tháng 7/2011 35 Biểu đồ 1.2 - Cơ cấu vốn huy động tại 11 xã điểm 35 Biểu đồ 2.2 - Cơ cấu vốn huy động tại chỗ ở 11 xã điểm 36 Biểu đồ 1.3 - Cơ cấu huy động vốn xây dựng nông thôn mới 61

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Nông thôn nước ta có quá trình lịch sử lâu đời, gắn liền với nghề trồng lúa Lịch sử quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước gắn với sản xuất nông nghiệp nên phần lớn dân cư nước ta sống quần tụ theo từng dòng họ và theo phạm vi làng, xã Cùng với văn minh lúa nước, làng (bản, thôn, xóm…) đã trở thành nét văn hóa riêng của người Việt Nam từ ngàn năm Nông thôn nước ta luôn chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước Trong các cuộc chiến tranh chống lại các cuộc xâm lược, nông thôn là nơi cung cấp người và của để đánh thắng giặc ngoại xâm Qua hàng ngàn năm phát triển, nông thôn là nơi hình thành và lưu giữ nhiều nét bản sắc văn hóa của dân tộc Ngày nay, nông thôn vừa là nơi cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, nông sản hàng hóa cho xuất khẩu, nhân lực cho các hoạt ñộng kinh tế và ñời sống của ñô thị, vừa là nơi tiêu thụ hàng hóa do các nhà máy ở thành phố sản xuất ra

Nông thôn nước ta hiện nay chiếm trên 80% diện tích tự nhiên của cả nước, nơi sinh sống của gần 70% dân số cả nước; có tổng số 9.071 xã với 15,35 triệu hộ gia đình, số lao động đang làm việc trong khu vực nông lâm thuỷ sản chiếm 48,2% lao động cả nước; nơi bảo tồn và phát triển các truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc Xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, giảm dần khoảng cách giàu nghèo giữa người dân nông thôn với thành thị, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, là cơ sở để đảm bảo an ninh, trật tự, ổn định tình hình chính trị, phát triển kinh tế - xã hội hài hoà và bền vững [2]

Phát triển nông nghiệp, nông thôn là chủ trương xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta qua nhiều giai đoạn cách mạng, và nông nghiệp, nông thôn đã có nhiều that đổi, đạt được những thành tựu quan trọng, nhất là từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới (1986) đến nay Thời gian qua, các bộ, ban ngành Trung ương và địa phương đã tổ chức thực hiện một số mô hình xây dựng

Trang 9

nông thôn mới cấp huyện, xã và cấp thôn ở một số địa phương như: “xây dựng phát triển nông thôn” cấp thôn, bản trước đây và “Chương trình xây dựng nông thôn mới” cấp xã trong những năm gần đây Những mô hình đó đã đạt được những kết quả bước đầu, nhưng việc triển khai ra diện rộng còn nhiều khó khăn, vướng mắc, có mô hình chưa thành công do nhiều nguyên nhân; trong đó, nguyên nhân chủ yếu vẫn là thiếu nguồn lực xây dựng, đầu tư phát triển

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Chương trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay đang triển khai thực hiện nhằm xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế

- xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Đến năm 2015, cả nước có 20% số

xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới; đến năm 2020, có 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới [12]

Để thực hiện được mục tiêu xây dựng nông thôn mới nêu trên cần nguồn lực rất lớn Trong khi nước ta còn nghèo, nguồn thu ngân sách nhà nước còn hạn chế, thu nhập, tích lũy người dân nông thôn thấp Huy động nguồn lực đảm bảo cân đối với yêu cầu đầu tư phát triển nông thôn là một trong những yếu tố có tính quyết định đến thành công của Chương trình xây

dựng nông thôn mới Việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay” là nhằm góp phần

bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới và đưa ra một số giải pháp có thể huy động cao nhất nguồn lực hiện có vào xây dựng nông thôn nước ta hiện nay

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Xây dựng và phát triển nông thôn là một chủ đề lớn, thu hút sự quan

tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, các học giả Tiêu biểu là “Phát triển

nông thôn" của Phạm Xuân Nam (1997), tác giả đã phân tích khá sâu sắc một

số nội dung về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta; “Nông nghiệp,

nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của Nguyễn Sinh Cúc (2000), là công

trình nghiên cứu về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm, đồng thời là một công trình nghiên cứu công phu về mô hình phát triển của

nông thôn Việt Nam; “Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển kinh tế- xã

hội nông thôn mới, kết hợp truyền thống làng xã với văn minh thời đại” của

Vũ Trọng Khải (2004); Đề tài “Nghiên cứu hệ thống giải pháp phát triển mô hình nông thôn mới” của Hoàng Trung Lập (2007); Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông thôn giai đoạn 2006-2010” của Vũ Trọng Bình đã đề cập đến những vấn đề vướng mắc và đề xuất chính sách trong triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới

Những công trình đó đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân; trong đó có tính đến vấn đề huy động nguồn lực xây dựng nông thôn trong thời kỳ mới ở nước ta, nhằm thống nhất chỉ đạo, huy động nguồn lực xây dựng nông thôn thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, và “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới” tại Quyết định số 800/QĐ- TTg ngày 06/4/2010

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ; phân tích một cách khoa học , đánh giá khách quan thực tra ̣ng , phát hiện những vấn đề cần giải q uyết trong tổ chức thực hiện huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trong thời gian vừa qua để

Trang 11

đề xuất các giải pháp có tính đột phá, khả thi nhằm huy động cao nhất nguồn lực đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển nông thôn

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay

Hay nói cách khác, nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới:

(1) Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở nước ta dựa trên cơ

sở lý luận và thực tiễn nào?

(2) Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới?

(3) Những kết quả đạt được và những việc cần phải làm nhằm huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới?

(4) Giải pháp cần đề xuất nhằm đẩy mạnh huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là huy động nguồn lực vật chất xây dựng nông thôn mới, bao gồm huy động tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, khoa học

và công nghệ Trong khuôn khổ của Luận văn tốt nghiệp cao học, đề tài sẽ chỉ tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu nguồn lực vốn để đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay

- Phạm vi về không gian: Không gian nghiên cứu và thu thập số liệu là địa bàn nông thôn, trọng tâm là 11 xã điểm của Chương trình xây dựng thí

Trang 12

điểm mô hình nông thôn mới Trung ương và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đến hết năm 2013

Về thời gian: Số liệu nghiên cứu, điều tra huy động các nguồn lực đầu

tư phát triển nông thôn nước ta từ năm 2005 đến nay, trong đó tập trung chủ

yếu là từ năm 2008 đến hết năm 2013

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương n pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập số liệu thứ cấp: thông qua các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về xây dựng nông thôn mới, báo cáo của Ban chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới, tài liệu sách báo, tạp chí chuyên ngành nông nghiệp, nông thôn, internet

5.2 Phương pháp thống kê, phân tích số liệu

Thông qua các tài liệu, số liệu thống kê đã có và các số liệu điều tra ở các xã đang xây dựng nông thôn mới để mô tả, so sánh, phân tích số lượng, cơ cấu, tỷ lệ đạt được của các chỉ tiêu kinh tế, từ đoa đưa ra những đánh giá sát thực với tình hình huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

5.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Trao đổi, lấy ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý ở Trung ương và địa phương ở nhiều lĩnh vực khác nhau, có hiểu biết sâu sắc về nông thôn và huy động nguồn lực phát triển nông thôn nhằm củng cố các thông tin, cơ sở phân tích và đề xuất của đề tài đảm bảo tính tính xác, lô gíc và khoa học

6 Những đóng góp của luận văn

- Nghiên cứu của Đề tài góp thêm những luận cứ khoa học về xây dựng nông thôn mới, củng cố tính đúng đắn, niềm tin trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới;

- Kết quả nghiên cứu làm phong phú thêm các hình thức huy động vốn

và tổ chức sử dụng vốn hợp lý, nâng cao tính tự chủ của người dân và trở thành chủ thể thực sự của quá trình xây dựng nông thôn mới

Trang 13

- Đưa ra những khuyến nghị nhằm đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn vốn xây dựng nông thôn mới, điều chỉnh chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương, vùng miền

7 Kết cấu của đề tài

Kết cấu của đề tài gồm có phần mở đầu, nội dung và kết luận

Nội dung đề tài gồm có 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới;

- Chương 2: Thực trạng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay;

- Chương 3: Định hướng, giải pháp huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Nông thôn: Theo quan điểm truyền thống, nông thôn là nơi sinh

sống và làm việc của một bộ phận dân cư và thường được gắn với làng, xóm,

thôn, bản, ấp…; là môi trường kinh tế sản xuất gắn với nghề lúa nước cổ

truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội, cảnh quan văn hoá xây đắp

nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt

chúng ta [9]

Nông thôn là nơi có cộng đồng dân cư chủ yếu là nông dân sống và làm

nghề nông nghiệp là chính (bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi) Hoặc, nông

thôn là địa bàn thuộc đơn vị hành chính cấp xã quản lý, không phải địa bàn

của phường, quận, thị xã, thành phố Nông thôn có các chức năng sau:

- Chức năng sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp cần diện tích lớn, nhất là ngành trồng trọt như

sản xuất lương thực, cây công nghiệp và trồng rừng Do đó, nông thôn là nơi

diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp, có thể nói nông nghiệp

là chức năng tự nhiên của nông thôn, sản xuất dồi dào các sản phẩm nông

nghiệp chất lượng cao Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông

nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật

tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại”

- Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống

Trải qua lịch sử phát triển hàng ngàn năm, các làng xóm ở nông thôn

thường được hình thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập

quán, họ tộc Người dân trong các làng xóm thường cư xử với nhau dựa trên

quan hệ huyết thống và phong tục, tập quán “Cũng chính văn hoá quê hương

ñã sản sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão

Trang 15

yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương.vv , tất cả ñược sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù Các truyền thống văn hoá quý báu này ñòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù Môi trường thành thị là nơi có tính

mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục Do vậy, chỉ có nông thôn với ñặc ñiểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc, dòng tộc mới là môi trường thích hợp nhất

ñể giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương Ngoài ra, các cảnh quan nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu sắc văn hoá làng xã đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời ñất giao hoà, thuận theo tự nhiên với

sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát triển hài hoà cũng như chú trọng sự kế tục phát triển của các dân tộc” (Cù Ngọc Hưởng, 2006)

- Chức năng sinh thái

Nói đến nông nghiệp là nói đến cây trồng, vật nuôi Cây trồng, một mặt cung cấp cho con người những nông sản cần thiết, một mặt có tác dụng cải tạo môi trường, làm đẹp cảnh quan… do đó, nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung có chức năng sinh thái Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo nguyên vv phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất vv

1.1.2 Nông thôn mới

Đã có một số nghiên cứu, diễn giải và phân tích thế nào là nông thôn mới Nông thôn mới có thể hiểu, trước tiên phải là nông thôn chứ không phải

là thị trấn, thị tứ; là nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống Nếu so sánh giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, xã hội và chức năng mới,

mô hình mới Ngày 04 tháng 6 năm 2010 Thủ Tướng Chính phủ ban hành

Trang 16

Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 Tại quyết định này, mục tiêu chung của Chương trình được xác định là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn ñịnh, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy, nông thôn mới có thể hiểu là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần ñược nâng cao, môi trường sinh thái ñược bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững

Đơn vị nông thôn mới, theo Thông tư 54/2009/TT-BNN&PTNT ngày

21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới quy định: huyện nông thôn mới là huyện có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới; tỉnh nông thôn mới là tỉnh có 75% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới; xã nông thôn mới đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

1.1.2 Xây dựng nông thôn mới

Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào về “xây dựng nông thôn mới” Tuy nhiên , có thể hiểu xây dựng nông thôn mới là mô ̣t chương trình tổng hợp liên quan đến mo ̣i mặt hoạt động thuộc lĩnh vực nông nghiê ̣p, nông thôn và nông dân, là quá trình xây dựng nông thôn theo những tiêu chí mới phù hợp với yêu cầu, tính chất của thời đại Xây dựng nông thôn theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, xây dựng nông thôn gắn với phát triển đô thị theo quy

Trang 17

hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ

Nội dung xây dựng NTM được thể hiện trong chương trình MTQG xây dựng NTM (Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010), gồm 11 nội dung sau:

(1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới:

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;

- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã

(2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội:

- Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hoá);

- Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí NTM và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hoá thể thao trên địa bàn xã Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hoá xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về y tế trên địa bàn xã Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số

xã đạt chuẩn;

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về giáo dục trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

- Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ Đến 2015 có 65% số

xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;

Trang 18

- Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến 2015 có 45%

số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hoá) Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hoá hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)

(3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, có hiệu quả kinh tế cao;

- Tăng cường công tác khuyến nông; Đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp;

- Cơ giới hoá nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;

- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm "mỗi làng một sản phẩm", phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;

- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn

(4) Giảm nghèo và An sinh xã hội

- Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a

của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

- Tiếp tục triển khai Chương trình MTQG về giảm nghèo;

- Thực hiện các chương trình an sinh xã hội

(5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất

- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;

- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;

- Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn;

Trang 19

(6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn

Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

(7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ cư dân nông thôn

Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực Y

tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

(8) Xây dựng đời sống văn hoá, thông tin và truyền thông nông thôn

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia NTM về văn hoá, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

- Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

(9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ

sinh môi trường nông thôn;

- Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; Cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…

(10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội

- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;

- Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ ở các vùng này;

- Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong

hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới;

Trang 20

(11) An ninh, trật tự xã hội nông thôn

- Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;

- Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự

xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới

1.1.3 Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

- Nguồn lực, theo nghĩa chung nhất đó là tổng hoà các yếu tố vốn, tài

nguyên thiên nhiên, lao động, khoa học và công nghệ có thể huy động nhằm phát triển kinh tế - xã hội Nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới bao gồm các yếu tố chủ yếu là: vốn, hệ thống kết cấu hạ tầng sản xuất nông nghiệp, hạ tầng nông thôn; số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động nông thôn; đất đai, nguồn nước; giống, công nghệ sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản, thủ công

mỹ nghệ…Trong đó, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng

Vốn: là một yếu tố sản xuất đầu vào nhưng lại là kết quả đầu ra của

nền kinh tế Vốn vật chất gồm máy móc, thiết bị, nhà xưởng,… và hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế của quốc gia Vốn bằng tiền là một nhân tố không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế Trong quá trình đầu tư, sự gia tăng của vốn làm gia tăng tổng cầu (gia tăng chi tiêu) và do đó tác động làm tăng sản lượng và công ăn việc làm…Vốn xây dựng nông thôn mới, bao gồm toàn

bộ hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, cơ sở vât chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại dịch vụ ở nông thôn; vốn tự có và vốn vay bằng tiền trong dân, các tổ chức kinh tế đầu tư phát triên nông nghiệp, nông thôn

Lao động là một bộ phận của dân số trong độ tuổi quy định có tham gia

lao động có sức khoẻ, học vấn, kiến thức, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm, ý thức, thái độ, tác phong của người lao động Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét dựa trên cơ cấu của nguồn lao động theo ngành nghề, tính chất lành nghề, chất lượng chuyên môn, trình độ tổ chức của lao động

Trang 21

Tài nguyên thiên nhiên là tất cả những yếu tố tự nhiên mà con người có

thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Tài nguyên thiên nhiên bao gồm các yếu tố như: đất đai, nguồn nước, các loại động, thực vật, khoáng sản, năng lượng là những yếu tố tài nguyên không thể thiếu và

có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất nông, lâm, thuỷ sản Trong quan trọng nhất là nguồn tài nguyên đất đai

Khoa học và công nghệ: hệ thống tri thức, phương pháp, kiến thức, kỹ

năng và những thông tin cần thiết nhằm biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của con người Trình độ khoa học kỹ thuật, kỹ năng sản xuất là nhân tố quan trọng góp phần làm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và phong phú sản phẩm hàng hoá ở nông thôn

- Phân loại nguồn lực xây dựng nông thôn mới:

+ Phân loại theo nguồn gốc, có thể chia thành nguồn lực của nhà nước

và nguồn lực trong dân;

+ Phân loại theo lãnh thổ có thể chia thành nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước;

+ Phân loại theo lĩnh vực: có thể chia thành nguồn lực vật chất và nguồn lực con người;

+ Phân loại theo địa điểm, phạm vi huy động nguồn lực xây dựng nông thôn, có thể phân chia thành nguồn lực bên trong (nguồn lực tại chỗ): nguồn lực có trong ranh giới địa bàn xã; nguồn lực bên ngoài: nguồn lực đến từ bên ngoài ranh giới xã như nguồn lực của nhà nước, tổ chức, cá nhân ở ngoài phạm vi xã như huyện, tỉnh, Trung ương, nước ngoài

Nguồn lực bên trong hay là nguồn lực tại chỗ, nguồn lực nội tại (nguồn lực tại chỗ) bao gồm: ngân sách xã, vốn của dân, vốn của doanh nghiệp, vốn vay của người dân và doanh nghiệp và các nguồn lực khác trong địa bàn của

xã tham gia xây dựng nông thôn mới

- Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới là việc tính toán, cân

đối, động viên, thu hút nguồn vốn, tài nguyên, lao động, khoa học công nghệ

Trang 22

của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước xây dựng nông thôn Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới được hiểu là việc phân

bổ, động viên, thu hút vốn bằng tiền, cơ sở vật chất kỹ thuật nông thôn, lao động, nguồn tài nguyên đất đai, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào xây dựng nông thôn mới; huy động nguồn lực bên trong (tại chỗ), nguồn lực bên ngoài hoặc nguồn lực nguồn lực nhà nước, nguồn lực trong dân, nguồn lực của các tổ chức Trong đề tài này trọng tâm nghiên cứu là huy động nguồn lực vốn: vốn vất chất và vốn bằng tiền để xây dựng nông thôn mới

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới:

- Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng nông thôn và đời sống, thu nhập của người dân nông thôn: những nơi có cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng tốt, giao thông thuận lợi, gần các đô thị; thương mại, dịch vụ phát triển; thu nhập, mức sống của người dân cao có khả năng thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển nông thôn lớn hơn, nhanh hơn vùng sâu, vùng xa có mức thu nhập của người dân thấp, kết cấu hạ tầng nông thôn kém phát triển

- Chủ trương, chính sách phát triển nông thôn của Đảng, Nhà nước: Chủ trương, chính sách, sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới, tăng nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước; các chính sách hỗ trợ, thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển nông thôn có ảnh hưởng rất lớn đến huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

- Trình độ sản xuất, cơ cấu sản xuất, tốc độ phát triển kinh tế nông thôn

có vai trò đảm bảo nguồn lực lâu dài, bền vững trong xây dựng nông thôn mới Cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá đối với cả trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, ngành nghề, dịch vụ; chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn; công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông, khuyên công nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, có hiệu

Trang 23

quả kinh tế cao và nâng cao trình độ sản xuất của dân cư; vấn đề cơ giới hoá nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm "mỗi làng một sản phẩm", phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương để giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập cho người dân nông thôn; giải quyết việc làm cho nông dân và giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội,…là yếu tố quyết định cho phát triển nông thôn mới và tăng cường huy động nội lực tại chỗ cho xây dựng nông thôn mới

- Năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ quản lý các cấp, nhất là cán bộ cấp cơ sở là yếu tố đảm bảo sử dụng đúng, có hiệu quả nguồn lực đầu tư từ ngân sách Nhà nước; tổ chức vận động, tham gia quản lý của người dân, đảm bảo huy động tối đa nguồn lực xây nông thôn mới

- Sự đồng thuận, hưởng ứng tham gia của người dân từ khâu xây dựng

kế hoạch, thực hiện, quản lý, giám sát thực hiện; hưởng lợi của người dân từ kết quả xây dựng nông thôn, niềm tin của người dân vào việc huy động và sử dụng nguồn lực là động lực để huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

1.2 Cơ sở pháp lý

1.2.1 Chủ trương, định hướng của Đảng

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của Đảng trong suốt các thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có

vị trí chiến lược quan trọng, là cơ sở, là lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, xã hội bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái

Ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã rất chú trọng xây dựng “đời sống mới” ở vùng nông thôn

và coi đó là biện pháp hiệu quả, nhằm xoá bỏ tàn dư lạc hậu do chế độ cũ để lại Đây cũng là biện pháp để từng bước giáo dục nhân dân nhận thức được tính ưu việt của chế độ xã hội mới và trách nhiệm của mình đối với việc xây

Trang 24

dựng xã hội mới Ngày 03/4/1946, “Uỷ Ban vận động Đời sống Trung ương” được thành lập nhằm đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động xây dựng đời sống mới trong toàn quốc Đây chính là chủ trương đầu tiên để tiến hành xây dựng nông thôn mới ở nước ta Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm của mình trong việc xây dựng nông thôn mới, quá trình xây dựng nông thôn mới vẫn tiếp tục duy trì và phát huy

Nói về nông nghiệp, nông thôn, Cương lĩnh phát triển đất nước đã được

xây dựng năm 1991 đã chỉ rõ: “phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp

hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện” Thực hiện chủ trương đó, công cuộc đổi mới do Đảng ta

khởi xướng và lãnh đạo đã luôn coi trọng và lấy nông nghiệp, nông thôn là khâu đột phá trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương khoá VII (1993) đã ra nêu

rõ “Cần đẩy tới một bước quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn” Như vậy, ngay từ những năm 90 Đảng ta đã có chủ trương xây dựng nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ngày 10/11/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW

về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong đó thể hiện rõ quan điểm là “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp hoá với thực hiện dân chủ hoá và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực ở nông thôn; tạo ra sự phân công lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xoá đói giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn, thực hiện có kết quả mục tiêu phát triển dân số”

Trang 25

Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã ra Nghị quyết về “đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010” Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung tổng quát công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là: “ là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, ñưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện ñại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường” Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa

IX đã chỉ ra ra 5 quan điểm trong xây dựng nông thôn đó là:

+ Coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là nhiệm

vụ quan trọng hàng đầu;

+ Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất ; thúc ñẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững

+ Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối ña các nguồn lực từ bên ngoài

+ Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện ñại hóa nông nghiệp, nông thôn ; giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa và thuần phong mỹ tục

+ Kết hợp chặt chẽ công nghiệp hóa, hiện ñại hóa nông nghiệp, nông thôn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu: "Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng"; "Ðẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn

và nông dân”

Trang 26

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa X đã ban hành Nghị quyết "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, xác định rõ mục tiêu, đề ra các nhiệm vụ và giải pháp toàn diện, cụ thể, huy động cả hệ thống chính trị và toàn xã hội giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định rõ 3 nội dung: phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững trên cơ

sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn; xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân

1.2.2 Cơ chế, chính sách của Nhà nước

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai thực hiện theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết số 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 về sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình; Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 21/3/2013 về bổ sung cơ chế đầu tư Chương trình nông thôn mới; số 342/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 về sửa đổi một

số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới); Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn

Chính phủ đã ban hành 2 Nghị định (Nghị định số 61/2010/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn) Nội dung chủ yếu về đầu tư và vốn đầu tư:

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (BKHĐT) đã ban hành Thông tư số 06/2011/TT-BKHĐT, Bộ Tài chính (BTC) đã ban hành Thông tư số 84/2011/TT-BTC ngày 16/6/201, Hướng dẫn thực hiện Nghị định

Trang 27

61/2010/NĐ-CP của Chính phủ Thủ tướng Chính phủ (TTg) đã ban hành các Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg và 60/2010/QĐ-TTg về việc ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015 để hỗ trợ cho các địa phương có diện tích đất trồng lúa…

1.3 Cơ sở thực tiễn của huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở Viêt Nam

1.3.1.Kinh nghiêm trong nước

1.3.1.1 Đề án thí điểm phát triển nông thôn mới cấp xã,

Từ năm 2001, Ban Kinh tế Trung ương đã cùng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các bộ, ngành và địa phương đã bắt đầu triển khai xây dựng mô hình điểm “Phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá” tại 18 xã điểm do Trung ương trực tiếp chỉ đạo và khoảng 200 xã điểm của các địa phương Chương trình gồm 5 nội dung cơ bản: (1) phát triển kinh tế hàng hoá với một cơ chế phù hợp khai thác được lợi thế của địa phương, có thị trường tiêu thụ; (2) phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với nền nông nghiệp hàng hoá đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá; (3) xây dựng khu dân cư văn minh; (4) tăng cường công tác văn hoá, y

tế, giáo dục trong nông thôn và xây dựng đội ngũ cán bộ; (5) tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, phát huy vai trò của cán bộ tổ chức quần chúng, thực hiện tập trung dân chủ [4]

Chương trình phát triển nông thôn cấp xã đã triển khai một số hoạt động như: đào tạo cho cán bộ các xã điểm, qui hoạch, lồng ghép các chương trình, dự án về khuyến nông, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho

18 xã điểm Nhờ vậy, cơ sở hạ tầng và bộ mặt nông thôn của một số xã điểm

đã có sự thay đổi đáng kể, nhiều hệ thống nước sạch, xử lý nước thải đã hình thành và đi vào hoạt động có hiệu quả; sản xuất nông nghiệp và ngành nghề

có hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, mô hình phát triển nông thôn mới cấp xã bộc lộ một số vấn đề tồn tại: (1) mô hình được xây dựng theo đề án đầu tư phát triển, người dân ở "điểm" có tâm lý

Trang 28

trông chờ vào nhà nước mà chưa coi trọng việc huy động nguồn nội lực cộng đồng nên chưa mang tính xã hội cao, thiếu tính bền vững trong xây dựng nông thôn mới; (2) Kế hoạch xây dựng mô hình đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn nhưng lại không có nguồn vốn đảm bảo nên hầu hết các đề án xã xây dựng lên đều không có tính khả thi; (3) Đội ngũ cán bộ xã chưa nắm vững yêu cầu và phương pháp triển khai đề án; (4) Bộ máy tổ chức chỉ đạo triển khai chương trình chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình tổ chức thực hiện, dẫn đến hiệu quả thấp

1.3.1.2 Đề án thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp thôn, bản

Năm 2007, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thí điểm Đề án Xây dựng nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận mới “dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ” Đề án thí điểm này được triển khai trên địa bàn 17 thôn, làng thuộc 17 xã của 15 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng kinh tế khác nhau Nội dung thực hiện chủ yếu gồm: đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng; cải thiện điều kiện sống cho người dân nông thôn; hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp, dịch vụ nông thôn để nâng cao thu nhập và phát triển mỗi làng một nghề Chương trình xây dựng 17 thôn, bản thực hiện mô hình nông thôn mới do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư, mức chi chỉ đạt khoảng 600-800 triệu đồng/thôn-bản, chủ yếu hỗ trợ người dân và thôn bản cải tạo các công trình thiết yếu trên địa bàn và hỗ trợ người dân thay đổi giống cây trồng, vật nuôi [4]

Qua 2 năm thực hiện, chương trình đã hình thành được 15 mô hình, tổ chức của người dân (Ban phát triển thôn bản) là đại diện của cộng đồng dân

cư thôn, bản để tự chủ trong việc bàn bạc, lựa chọn, quyết định các nội dung, việc làm cần thiết cho cộng đồng, cách huy động nội lực tại chỗ cho xây dựng nông thôn mới Mô hình mới đã khơi dậy ý thức tự chủ, sáng tạo của người dân trong phát huy nội lực xây dựng nông thôn; xác định rõ hơn nội dung, phương pháp, cách làm, mối quan hệ phối hợp giữa các cấp theo phương pháp tiếp cận từ cộng đồng thôn, bản Tuy vậy, do chưa có tiêu chí nông thôn mới

Trang 29

nên việc xác định mục tiêu, kế hoạch phát triển còn gặp nhiều khó khăn; thiếu nguồn lực, nên khi thực hiện cán bộ và người dân đều rất lúng túng, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện; do chưa có cơ chế đặc thù về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và tài chính, nên việc triển khai huy động nguồn lực xây dựng

mô hình nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận từ cộng đồng gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng, chưa thể triển khai nhân rộng

Nghiên cứu việc huy động nguồn lực triển khai xây dựng mô hình nông thôn mới thời gian qua có thể rút ra một số kinh nghiệm là:

- Xây dựng nông thôn mới cần có bộ tiêu chí chuẩn mực, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực Nguồn lực cần có để xây dựng nông thôn mới là rất lớn, huy động nguồn lực cần dựa vào nội lực là chính nhằm đảm bảo tính bền vững Tuy nhiên, trong điều kiện mức tích luỹ của người dân nông thôn còn thấp, thì đầu tư từ ngân sách Nhà nước có tính mở đường, dẫn dắt, thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư phát triển nông thôn

- Xây dựng Nông thôn mới là công cuộc vì dân, do dân Vì vậy, xây dựng nông thôn mới phải hướng vào giải quyết những vấn đề thiết thực, mang lại hưởng thụ trực tiếp cho người dân nông thôn, đồng thời cộng đồng dân cư phải được bàn bạc và quyết định, tổ chức thực hiện, đảm bảo phát huy nội lực của người dân

1.3.2 Kinh nghiệm huy động nguồn lực xây dựng nông thôn ở nước ngoài

1.3.2.1 Hàn Quốc

Sau chiến tranh Triều Tiên, Hàn quốc là một quốc gia kém phát triển về kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng nhiều chính sách kích thích kinh tế nông thôn phát triển như: phát triển doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn, chương trình kinh doanh nhỏ trong các hộ nông nghiệp, chương trình nhà máy Sae-maul được hưởng các chế độ ưu tiên cung cấp diện, viễn thong, các kỹ năng quản lý từ chương trình phát triển công nghiệp nhỏ và vừa

Trang 30

Chủ trương của chính phủ là đầu tư hạ tầng để nông dân tự mình đứng lên, sản xuất chế biến tại chỗ Nông dân là người chủ đích thực Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản, cho nông dân thuê máy nông nghiệp Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác Mỗi làng một doanh nghiệp hoặc vài doanh nghiệp gắn đầu vào và đầu ra cho sản phẩm Các ngành phải trợ giúp nông nghiệp nâng cao đời sống nông dân và ngư dân Tổng thống Park nhận ra rằng “viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự giúp chính mình, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn” Ý tưởng đó là nền tảng của phong trào Saemaul (xây dựng làng mới) với cách làm như sau:

- Chính phủ đưa ra thử nghiệm 10 dự án lớn trong phát triển nông thôn, gồm: mở rộng và nắn thẳng đường xá, làm lại mái nhà bếp và hàng rào, xây dựng giếng nước công cộng và khu giặt giũ công cộng… Chính phủ kêu gọi

sự đóng góp của nguời dân và xin nguồn viện trợ từ bên ngoài gồm vật liệu, công nghệ là chính

- Người dân, cộng đồng tự lựa chọn dự án, tiêu chí lựa chọn dự án mới

là phải xuất phát từ lợi ích thiết thực của người dân, điều kiện sống của người dân được cải thiện, tất cả mọi người dân đều được hưởng lợi lâu dài Các dự

án do chính quyền xã đó quản lý và được chính quyền quận, huyện phê duyệt

- Việc trợ cấp của Chính phủ từ năm thứ 2 trở đi có phân biệt và theo nguyên tắc chỉ cấp cho các xã đã hoàn thành kế hoạch năm trước và xã hoàn thành tốt hơn sẽ được hỗ trợ nhiều hơn, thúc đẩy sự thi đua nỗ lực của mỗi cộng đồng

Sau 8 năm triển khai phong trào saemaul, nông thôn Hàn Quốc đã hoàn thành cơ bản về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn (các tuyến đường liên thôn đạt hơn 42.000 km, đường nội đồng đạt gần 69.000km, cơ bản đã làm thay đổi cục diện đời sống nông thôn; nhà dân ở khu vực nông thôn đã dần hiện đại, số hộ có điện tăng từ 27% lên 100%, tất cả các giếng nước được bơm

Trang 31

bằng mô-tơ điện); thu nhập bình quân của các hộ gia đình nông thôn tăng lên

3 lần (thu nhập của nông dân tăng lên 3.000 đô la Mỹ (USD)/người/năm) và cao hơn thu nhập của người dân thành phố; khu vực nông thôn của Hàn Quốc trở thành xã hội năng động, có khả năng tự tích luỹ, tự đầu tư và tự phát triển

1.3.2.2.Trung Quốc

Trung Quốc rất coi trọng đến phát triển nông thôn, nhất là hạ tầng nông thôn, nhằm giảm cách biệt giữa thành thị và nông thôn Về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, thông qua thay đổi chính sách hỗ trợ về thuế, Chính phủ còn hỗ trợ cho các nhà đầu tư vào phát triển sản xuất nông nghiệp

và cơ sở hạ tầng vùng nông thôn, nhất là cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp công nghệ cao với mức vốn hỗ trợ tăng đáng kể; từ năm 2002-2007, Chính phủ Trung Quốc đã chi gần 300 tỷ nhân dân tệ cho xây dựng các công trình

cơ bản của nông nghiệp Trong 6 năm qua, Trung Quốc đã xây dựng hơn 1,3 triệu km đường nông thôn, đã tăng được 100 triệu mẫu diện tích được tưới nước theo mô hình tiết kiệm, đã giải quyết các khó khăn về nước cho gần 100 triệu nhân khẩu ở nông thôn Các đầu tư cho cơ sở hạ tầng đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, hỗ trợ ứng dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp đồng thời cũng cải thiện điều kiện làm việc cho nông dân và điều kiện sinh hoạt cho các khu vực nông thôn

Đối với sản xuất nông nghiệp, Trung Quốc coi trọng thực thi chính sách cung cấp cho nông dân giống lúa tốt, năng suất cao, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất của nông dân; coi trọng việc đào tạo cán bộ quản lý, chuyên môn nông nghiệp kỹ thuật cao, tổ chức tốt các mô hình triển khai công nghệ sản xuất nông nghiệp, ước tính trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX tiến

bộ khoa học - công nghệ đã đóng góp tới 30% tổng số giá trị gia tăng của nông nghiệp Trung Quốc Đồng thời, coi trọng đến nâng cao thu nhập của nông dân qua chính sách thuế và giá; từ năm 1994, Chính phủ Trung Quốc đã đưa vấn đề giá thu mua ngũ cốc vào luật, giá thu mua sẽ được tăng cao hơn mức giá trên thị trường nhằm khuyến khích người nông dân chuyển sản xuất bông và cây lấy dầu sang trồng ngũ cốc

Trang 32

Kết luận chương 1

Nông thôn là địa bàn rộng lớn, có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia Xây dựng, phát triển nông thôn là quá trình lâu dài, bền bỉ đòi hỏi có nguồn lực lớn xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn Trong quá trình thực hiện huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, chính sách và nguồn lực của Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc

hỗ trợ địa phương và nông dân thực thi các chương trình phát triển nông thôn; đồng thới huy động sự đóng góp và phát huy vai trò chủ động của người dân trong tổ chức thực hiện

Kinh nghiệm được rút ra là: để thực hiện thành công xây dựng và

phát triển nông thôn, cần phải huy động được nguồn lực lớn từ Nhà nước đầu tư vào những khâu thiết yếu như phát triển hạ tầng giao thông, sản xuất, phát triển ngành nghề, sản phẩm mũi nhọn Nguồn lực nhà nước có tính chất mở đường, kích thích, định hướng, thúc đẩy người dân và các thành phần kinh tế, hộ gia đình tham gia đầu tư vào nông thôn Đồng thời, phát huy được tính chủ đông, tự giác của người dân nông thôn nhằm huy động được nguồn lực to lớn trong dân xây dựng nông thôn, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của chính mình

Để đảm bảo sự thành công trong xây dựng nông thôn điều cốt lõi là có

sự quyết tâm cao của Chính phủ; tinh thần ý thức, sự tham gia tích cực của người dân trong huy động các nguồn lực xây dựng nông thôn Tùy vào tình hình, bối cảnh cụ thể của từng địa phương, vùng miền để có những chính sách, kế hoạch và bước đi, cách làm thích hợp

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Cơ chế, chính sách huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Cơ chế huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định ban hành là một chương trình khung toàn diện để cộng đồng chung sức xây dựng một nông thôn mới hiện đại

Về cơ chế huy động được thực hiện theo hướng đa dạng hoá các nguồn vốn thông qua: Lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc

gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động tối đa nguồn lực của địa phương, trong đó Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tăng

tỷ lệ vốn thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã để lại cho ngân sách xã, ít nhất 70% thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới; huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân; các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư; các nguồn vốn tín dụng; các nguồn vốn hợp pháp khác Trong đó, cơ chế hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước được quy định cụ thể tại Quyết định 695/QĐ-TTg ngày 8/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi nguyên tắc, cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020:

- Nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình

Trong giai đoạn đầu thực hiện Chương trình, nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính

phủ phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, theo đó “Hỗ trợ

Trang 34

100% từ Ngân sách Trung ương cho: công tác quy hoạch; đường giao thông đến trung tâm xã; xây dựng trụ sở xã; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức

về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ thôn bản, cán bộ hợp tác xã”

Đến ngày 08/6/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 695/QĐ-TTg sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, theo đó:

+ Hỗ trợ 100% từ ngân sách nhà nước cho: Công tác quy hoạch; xây dựng trụ sở xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ thôn bản, cán bộ hợp tác xã

+ Đối với các xã thuộc các huyện nghèo thuộc Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ, hỗ trợ tối đa 100% từ ngân sách nhà nước cho: Xây dựng đường giao thông đến trung tâm xã, đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã, thôn, bản; công trình thể thao thôn, bản; xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; phát triển sản xuất và dịch vụ; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản Đối với các xã còn lại, hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước cho những nội dung này

Việc sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình đã tạo điều kiện cho các địa phương trong việc huy động các nguồn lực để triển khai Chương trình trên địa bàn, đồng thời khắc phục được một số vấn đề tồn tại Chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) không quy định bắt buộc nhân dân đóng góp, chỉ vận động bằng các hình thức thích hợp để nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương Hộ nghèo tham gia trực tiếp lao động để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương được chính quyền địa phương xem xét, trả thù lao theo mức

Trang 35

phù hợp với mức tiền lương chung của thị trường lao động tại địa phương và khả năng cân đối ngân sách địa phương

2.1.2 Về cơ chế đầu tư

Cơ chế đầu tư của Chương trình được thực hiện theo Quyết định số 800/QĐ-TTg, trong đó quy định về chủ đầu tư theo hướng phân cấp tối đa cho cấp xã Tuy nhiên, cũng đã phát sinh một số vấn đề vướng mắc liên quan đến thủ tục đầu tư đối với những công trình quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản nhưng cũng phải thực hiện theo quy trình như với những công trình quy mô lớn, kỹ thuật cao, việc này đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thực hiện các dự án trên địa bàn các xã

Để tháo gỡ vướng mắc này, ngày 21/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã

có Quyết định số 498/QĐ-TTg bổ sung cơ chế đầu tư, theo đó: Đối với các công trình quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, các địa phương được áp dụng cơ chế đầu tư đặc thù theo hướng không phải lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật, trên

cơ sở thiết kế mẫu, thiết kế điển hình chỉ cần lập dự toán đơn giản và chỉ định cho người dân và cộng đồng trong xã tự làm

Quy định bổ sung này đã tạo điều kiện cho các địa phương triển khai thực hiện các dự án đầu tư theo đề án xây dựng nông thôn mới được duyệt do thủ tục đã được đơn giản hóa, phù hợp với thực tế tại các địa phương Cơ chế đặc thù này cũng đã góp phần hình thành phong trào và cách làm hết sức sáng tạo tại nhiều địa phương (Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Hà Nam, Ninh Bình…) qua việc nhà nước hỗ trợ xi măng và một số vật tư khác, người dân và cộng đồng đóng góp công sức, hiến đất để làm đường giao thông nông thôn, các công trình thủy lợi…

2.1.3 Về phân bổ nguồn vốn đầu tư

Trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2013, phân bổ nguồn vốn ngân sách Trung ương trực tiếp cho Chương trình ưu tiên cho các địa phương thuộc diện chỉ đạo điểm của Trung ương và các xã đăng ký phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2015:

Trang 36

- Đối với nguồn vốn đầu tư phát triển phân bổ như sau:

+ 11 xã điểm của Ban Bí thư: Trong giai đoạn từ năm 2009 – 2011, ngân sách Trung ương đã hỗ trợ bình quân khoảng 30 tỷ đồng/xã Năm 2013

hỗ trợ 30 tỷ cho 9 xã (trừ 02 xã của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh)

+ 03 xã do Chủ tịch nước bảo trợ: Nguồn vốn hỗ trợ các xã này chủ yếu huy động từ các doanh nghiệp, hiện chưa bố trí vốn ngân sách Trung ương cho các xã Dự kiến sẽ phân bổ vốn hỗ trợ từ năm 2014 trở đi

+ 01 xã do Tổng Bí thư chỉ đạo: Năm 2013 ngân sách Trung ương hỗ trợ cho xã 30 tỷ đồng

+ Năm 2011: Hỗ trợ bình quân 670 triệu đồng/xã cho 270 xã để thực hiện cải tạo, nâng cấp đường liên thôn, khu văn hóa thể thao thôn, hệ thống cung cấp nước sạch, hầm biogas…

+ Năm 2012 - 2013: Hỗ trợ bình quân 1 tỷ đồng/xã cho 30% tổng số xã

để thực hiện nâng cấp , sửa chữa, cải tạo các công trình cơ sở hạ tầng hiện có trên địa bàn thôn, bản, ấp

+ Các xã còn lại: Năm 2011: Hỗ trợ bình quân 300 triệu đồng/xã cho

420 xã (trừ các xã thuộc 13 tỉnh, thành phố tự cân đối ngân sách) để thực hiện cải tạo, nâng cấp đường liên thôn, khu văn hóa thể thao thôn, hệ thống cung cấp nước sạch, hầm biogas… Năm 2012 – 2013: Hỗ trợ bình quân 500 triệu đồng/xã cho 20% tổng số xã (trừ các xã thuộc 12 tỉnh, thành phố tự cân đối ngân sách) để tập trung theo mục tiêu của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

+ Không hỗ trợ vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Trung ương

cho 12 tỉnh, thành phố tự túc ngân sách trong giai đoạn 2011-2015 (gồm Hà

Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ngãi, Khánh Hòa,

TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Cần Thơ)

- Đối với nguồn vốn sự nghiệp:

+ Công tác quy hoạch: Hỗ trợ bình quân 150 triệu đồng/xã cho 100%

số xã;

Trang 37

+ Về đào tạo, tập huấn: Hỗ trợ bình quân 15 triệu đồng/xã cho 100% số

xã, trong đó các xã thuộc các tỉnh điểm, huyện điểm thì mức hỗ trợ có cao hơn so với các xã khác

+ Về phát triển sản xuất: Có mức độ hỗ trợ khác nhau giữa các xã, cụ thể: (i) đối với các huyện điểm, tỉnh điểm thì mức hỗ trợ bình quân là 250 triệu đồng/xã cho 30% số xã; (ii) đối với các địa phương còn lại thì mức hỗ trợ bình quân 170 triệu đồng/xã cho 20% tổng số xã

+ Về hình thức tổ chức sản xuất: Hỗ trợ bình quân 100 triệu/xã cho 30% tổng số xã

+ Không hỗ trợ vốn sự nghiê ̣p cho 04 tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết

về NSTW lớn hơn 50% (Hà Nội, Hồ Chí Minh , Bình Dương, Bà Rịa Vũng

Tàu) ;

+ Đối với các tỉnh , thành phố có tỷ lệ điều tiết về NSTW dưới 50% (Quảng Ninh, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Đồng Nai, Khánh Hoà, Cần Thơ) được hỗ trợ một phần kinh phí tương đương 50% mức hỗ trợ các địa phương khác để phục vụ cho phát triển sản xuất

+ Riêng đối với tỉnh Quảng Ngãi là tỉnh có nhiều huyện nghèo thuộc Chương trình 30a nên mức hỗ trợ bằng 100% mức hỗ trợ các địa phương khác

2.1.4 Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện Chương trình

Cơ cấu vốn huy động để thực hiện Chương trình theo Quyết định số 800/QĐ-TTg gồm: i) Vốn ngân sách Trung ương và địa phương (khoảng 40%), bao gồm: Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình,

dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo trên địa bàn: khoảng 23%; Vốn trực tiếp cho chương trình: khoảng 17%; ii) Vốn tín dụng (bao gồm tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại): khoảng 30%; iii) Vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác: khoảng 20%; iv) Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư: khoảng 10%

Trang 38

2.2 Kết quả Huy động nguồn vốn xây dựng nông thôn mới ở nước

ta hiện nay

2.2.1 Huy động vốn Chương trình xây dựng nông thôn mới

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, dự toán ngân sách hàng năm từ năm 2009 đến nay đều tăng, năm 2009 mức đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn tăng 34,7%; năm 2010 tăng 29,7% và năm

2011 tăng 26,5% Dự toán ngân sách nhà nước năm 2011 cao gấp 2,21 lần

so với năm 2008; tỷ trọng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn so với tổng chi ngân sách nhà nước đã tăng từ 32,8% năm 2008 lên 39,8% năm 2011 Tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn từ ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ của cả nước giai đoạn 2006-2008 là 147.000 tỷ đồng, chỉ chiếm khoảng 45%; trong 3 năm 2009-2011 đạt gần 290.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 52% tổng vốn đầu tư phát triển, trong đó đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp gần 106.000 tỷ đồng, bằng 37% tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn Ngoài ra, mỗi năm nhà nước còn chi khoảng 7 đến 8 ngàn tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, dịch bệnh…; hơn 2 ngàn tỷ đồng hỗ trợ nông dân thông qua chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp và khoảng 8 ngàn tỷ đồng (vốn xổ số kiến thiết) đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Tổng số vốn huy động xây dựng giao thông gần 33 ngàn tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp khoảng 11,2% (chưa kể đóng góp 24 triệu ngày công lao động)

Trong 3 năm 2011-2013, Ngân sách nhà nước đã bố trí 255 nghìn tỷ đồng từ ngân sách Trung ương đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, tăng 1,54 lần so với 3 năm trước đó; các tỉnh, thành phố đã bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương 44,6 nghìn tỷ đồng Huy động từ các nguồn khác 323,1 nghìn tỷ đồng, trong đó có 231,3 nghìn tỷ đồng vốn tín dụng (chiếm 47,75%), vốn doanh nghiệp 30 nghìn tỷ đồng (chiếm 5,96%), vốn góp của dân 62,8 nghìn tỷ đồng (chiếm 12,9%)

Trang 39

Tính đến 31/12/2010, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn cả nước đạt 382 nghìn tỷ đồng (tăng 54,91% so với cuối năm 2008) với khoảng 10 triệu hộ nông dân còn dư nợ tại ngân hàng Tỉ trọng vốn đầu tư trung và dài hạn chiếm tới 42,6% Mặc dù trong bối cảnh phải thắt chặt tín dụng nói chung, song Chính phủ vẫn tiếp tục ưu tiên tăng tín dụng cho nông nghiệp – nông thôn

Trên thực tế, ngân sách Trung ương trong 03 năm qua (2011-2013) đã

hỗ trợ cho 59 tỉnh và các bộ ngành là 4.920 tỷ đồng, so với dự kiến phân bổ của Quốc hội cho cả giai đoạn 2011 - 2015 là 12.000 tỷ đồng, mới chỉ bố trí được gần 41%

Ngân sách địa phương: Theo tổng hợp báo cáo của các địa phương, trong

02 năm 2011-2012 đã có 55/63 tỉnh, thành phố bố trí ngân sách địa phương cho Chương trình xây dựng nông thôn mới với tổng kinh phí là 18.091 tỷ đồng (năm

2012 khoảng 11.449 tỷ, tăng 72% so với năm 2011) Trong đó các tỉnh, thành phố tự túc ngân sách chiếm khoảng 71% (cao nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương) Năm 2013 các địa phương ước tính bố trí khoảng 12.594 tỷ đồng cho Chương trình

Để tăng nguồn lực từ ngân sách địa phương cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, trong những năm qua, một số địa phương như Hưng Yên, Khánh Hoà… đã chủ động ban hành cơ chế huy động nguồn lực từ chuyển đổi mục đích sử dụng đất Một số địa phương như Nghệ An, Ninh Bình đã có cơ chế mua trả chậm xi măng của các doanh nghiệp xi măng trên địa bàn để hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn

Như vậy, so với cơ cấu theo Quyết định 800/QĐ-TTg thì cơ cấu vốn của Chương trình trong 03 năm qua cho thấy nguồn ngân sách của Nhà nước

là thấp hơn so với dự kiến (33,9%), nhất là nguồn vốn ngân sách Trung ương chỉ chiếm chưa đến 4%

Trang 40

Ước tính nguồn vốn huy động các năm (tỷ đồng)

Ngân sách địa phương 6.642 11.449 12.594 30.685 29,2%

Vốn nước ngoài (chưa có số

liệu)

Vốn khác (doanh nghiệp và huy

động đóng góp của người dân,

cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn đã tập trung vào điều chỉnh mức chi đầu tư từ ngân sách nhà nước cho nông nghiệp – nông thôn, đồng thời khuyến khích tăng đầu tư từ các thành phần kinh tế cho khu vực này

Tuy nhiên, đầu tư nguồn ngân sách cho khu vực này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, hàng năm chỉ đảm bảo giải quyết được khoảng 50-55% yêu cầu vốn đầu tư; bên cạnh đó các thành phần kinh tế khác đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn rất thấp, kể cả vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài Theo số liệu thống kê từ 2005-2008 vốn FDI đầu tư cho nông, lâm, thủy sản cao nhất chỉ chiếm 1,2% tổng vốn đầu tư FDI cho các ngành, lĩnh vực (năm

2005 chiếm 0,6%, 2006 chiếm 1,2%, 2007 giảm còn 0,2%, 2008 là 0,6%, năm

2009 chiếm khoảng 0,8%) [6] Có thể thấy, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước đầu tư cho nông thôn đã tăng nhanh (tăng 1,95 lần từ năm 2009 đến 2011),

Ngày đăng: 26/06/2021, 09:17

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm