Các số liệu và tài liệu trong luận văn “Xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả tiền gửi tại Ngân hàng thương mại của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam”là trung thực và chưa được công bố trong bất
Trang 1-*** -
LUẬN VĂN THẠC SĨ
XÂY DỰNG KỊCH BẢN MÔ PHỎNG CHI TRẢ TIỀN
GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA
BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM
Ngành: Tài chính ngân hàng
NGUYỄN BỘI THƯỜNG
Hà Nội - 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-*** -
LUẬN VĂN THẠC SĨ
XÂY DỰNG KỊCH BẢN MÔ PHỎNG CHI TRẢ TIỀN
GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA
BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM
Ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 8340201
Họ và tên: Nguyễn Bội Thường
Người hướng dẫn: TS Cao Thị Hồng Vinh
Hà Nội - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài
liệu trong luận văn “Xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả tiền gửi tại Ngân hàng
thương mại của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam”là trung thực và chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiền, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, các giảng viên chuyên ngành, khoa Tài chính – Ngân hàng và Khoa Sau đại học của trường Đại học Ngoại Thương đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tại trường Đặc biệt,
tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn – TS Cao Thị Hồng Vinh đã dành thời gian truyền tải kinh nghiệm, luôn tận tình, tâm huyết hướng
dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn
bè đã giúp đỡ, động viên và khuyến khích tôi – sự động viên này là điều thực sự quan trọng giúp tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
Trong bản luận văn chắc hẳn không tránh khỏi những hạn chế vè thiếu sót Tôi mong muốn nhận được nhiều đóng góp quý báu đến từ các thầy cô giáo và bạn học
để đề tài được hoàn thiện hơn nữa và có ý nghĩa thiết thực để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG, HÌNH vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN vii
DANH MỤC VIẾT TẮT viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG KỊCH BẢN MÔ PHỎNG CHI TRẢ TIỀN GỬI TẠI NHTM CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 6
1.1 Lý luận về bảo hiểm tiền gửi và chi trả bảo hiểm tiền gửi tại Ngân hàng thương mại 6
1.1.1 Khái quát về bảo hiểm tiền gửi 6
1.1.2 Khái quát về hoạt động chi trả BHTG 10
1.1.3 Khái quát về quy trình chi trả BHTG 12
1.2 Lý luận về xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả bảo hiểm tiền gửi tại Ngân hàng thương mại 13
1.2.1.Khái quát kịch bản mô phỏng 13
1.2.2 Khái quát về quy trình xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả 17
1.2.3 Các phương pháp sử dụng trong xếp hạng rủi ro ngân hàng 21
1.2.4 Kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng mô phỏng kịch bản 24
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN XÂY DỰNG KỊCH BẢN MÔ PHỎNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 30
2.1 Khái quát về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 30
2.1.1 Khái quát về các bộ phận thực hiện chi trả bảo hiểm tiền gửi 30
2.1.2 Kết quả thực hiện chi trả bảo hiểm tiền gửi tại Ngân hàng thương mại 33
2.2 Quy trình phân loại các nhóm rủi ro ngân hàng 37
2.2.1 Phân loại các ngân hàng theo nguyên tắc hướng dẫn của IADI 37
Trang 62.2.2 Mục tiêu thực hiện phân loại nhóm rủi ro của ngân hàng 42
2.3 Tiến hành thực hiện kịch bản chi trả theo phân nhóm rủi ro của ngân hàng 43
2.3.1 Lựa chọn NHTM phát sinh nghĩa vụ chi trả (Mô phỏng) 43
2.3.2 Lựa chọn NHTM ủy quyền chi trả (Mô phỏng) 45
2.3.3 Xây dựng kịch bản giai đoạn trước khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm 45
2.3.4 Xây dựng kịch bản giai đoạn sau khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm 51
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT KỊCH BẢN MÔ PHỎNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI PHÙ HỢP VỚI CÁC NHÓM NGÂN HÀNG 59
3.1 Kịch bản tiếp nhận, xử lý chung đối với hệ thống ngân hàng tại Việt Nam 59
3.1.1 Danh sách mẫu biểu ngân hàng cần gửi cho BHTG để tính toán số tiền chi trả 59
3.1.2 Giả định các trường hợp xảy ra trong kịch bản tính toán số tiền chi trả bảo hiểm 62
3.2 Kịch bản đối với ngân hàng có mức rủi ro cao 66
3.2.1 Xác định NHTM phát sinh nghĩa vụ chi trả 66
3.2.2 Quy trình giai đoạn tính toán số tiền chi trả 66
3.2.3 Quy trình giai đoạn trước khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm 78
3.2.4 Xác định ngân hàng ủy quyền chi trả 79
3.2.5 Quy trình giai đoạn sau khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm 79
3.3 Nhóm ngân hàng có độ rủi ro trung bình 80
3.3.1 Xác định NHTM phát sinh nghĩa vụ chi trả 80
3.3.2 Quy trình giai đoạn tính toán số tiền chi trả 80
3.3.3 Quy trình giai đoạn trước khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm 85
3.3.4 Xác định ngân hàng ủy quyền chi trả 85
Trang 7hiểm 85
3.4 Nhóm ngân hàng có độ rủi ro thấp 86
3.4.1 Xác định NHTM phát sinh nghĩa vụ chi trả 86
3.4.2 Quy trình giai đoạn tính toán số tiền chi trả 86
3.4.3 Quy trình giai đoạn trước khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm 91
3.4.4 Quy trình giai đoạn sau khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 8DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Hình 1.1 – Mô hình vai trò BHTG 10
Hình 1.2: Quy trình tiến hành chi trả BHTG 12
Hình 3.1:Tổng tài khoản tiền gửi của ngân hàng A 67
Hình 3.2: Tổng số tiền gửi tại ngân hàng A 67
Hình 3.3: Tổng số đối tượng gửi tiền tại ngân hàng A 68
Hình 3.4: Tổng số tiền vay tại ngân hàng A 69
Hình 3.5: Tài khoản vừa gửi tiền vừa vay tiền tại ngân hàng A 70
Hình 3.6:Tổng tài khoản tiền gửi của ngân hàng B 81
Hình 3.7: Tổng số tiền vay tại ngân hàng B 82
Hình 3.8:Tổng tài khoản tiền gửi của ngân hàng C 87
Hình 3.9: Tổng số tiền vay tại ngân hàng C 88
Trang 9Xây dựng kịch bản chi trả bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền là một bước vô cùng quan trọng để có thể chuẩn bị cho quá trình chi trả diễn ra hiệu quả, nhanh chóng
và chính xác, từ đó thể hiện sự quan tâm đến nhu cầu của người gửi tiền và giảm thiểu chi phí kinh tế - xã hội của các vụ đổ vỡ ngân hàng Chi trả tiền gửi được bảo hiểm còn đảm bảo quyền lợi bình đẳng của tất cả người gửi tiền và gia tăng niềm tin công chúng vào hệ thống ngân hàng Đặc biệt nếu xét về góc độ cần chấm dứt hoạt động của những ngân hàng không có khả năng phát triển trong hệ thống có quá nhiều ngân hàng yếu kém Người gửi tiền được bồi thường trên cơ sở tiền được tích lũy từ các khoản tiền gửi của họ tại các ngân hàng (tối đa lên đến hạn mức chi trả)
Qua nghiên cứu, xây dựng đề tài, người viết đã có cách thức làm việc hiệu quả, hiểu biết sâu rộng hơn về hoạt động chi trả tiền gửi được bảo hiểm tại Việt Nam, đưa
ra được kịch bản mô phỏng chi trả BHTG được bảo hiểm tại NHTM có tính khả thi
và các giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện nghiệp vụ chi trả tiền gửi được bảo hiểm không chỉ đối với hệ thống QTDND mà có thể áp dụng cho cả các NHTM trong thời gian tới
Trang 10DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt Giải nghĩa
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của hoạt động nghiên cứu ứng dụng
Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) là tạo điều kiện cho người gửi tiền nhanh chóng tiếp cận được với tiền gửi được bảo hiểm của mình khi ngân hàng bị phá sản, chính vì vậy nghiệp vụ chi trả tiền bảo hiểm đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì niềm tin của người gửi tiền đối với BHTGVN nói riêng và hệ thống tài chính ngân hàng nói chung Tuy vậy, BHTGVN chưa chi trả bảo hiểm tiền gửi cho bất kỳ NHTM nào Thời gian tới, với chủ trương của Chính phủ là quyết liệt trong tái cơ cấu nền kinh tế, xử
lý ngân hàng, doanh nghiệp yếu kém Do vậy, cần có nghiên cứu, xây dựng, hướng dẫn cơ chế, biện pháp xử lý các ngân hàng đổ vỡ hoặc có nguy cơ đổ vỡ.Hoạt động chi trả cần đạt được những mục tiêu chi trả kịp thời, đầy đủ và chính xác Như vậy, việc đánh giá hoạt động chi trả là công việc phức tạp cần được nghiên cứu toàn diện
và kỹ lưỡng Do đó đề tài nghiên cứu đánh giá, nâng cao chất lượng xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả là một công việc quan trọng và cần thiết
Xuất phát từ thực tế hoạt động chi trả của BHTGVN
Từ khi thành lập đến nay BHTGVN mới chỉ thực hiện chi trả tiền bảo hiểm cho
39 TCTGBHTG là QTDND bị giải thể bắt buộc tại 11 tỉnh, thành phố trên toàn quốc (theo Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Báo cáo thường niên các năm) mà chưa thực hiện chi trả tiền bảo hiểm cho bất kỳ NHTM nào Trong khi đó vai trò của NHTM đối với nền kinh tế là vô cùng quan trọng, tác động đến nhiều mặt của cuộc sống, khi có sự
cố xảy ra với NHTM công tác chi trả tiền bảo hiểm sẽ gặp phải một số khó khăn do chưa lường hết được các tình huống có thể xảy ra
Để đảm bảo ổn định hệ thống tài chính ngân hàng và để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập, thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của BHTGVN đòi hỏi BHTGVN phải có một quy trình chi trả tiền bảo hiểm hoàn thiện, kịp thời, sẵn sàng trong mọi tình huống đặc biệt là đối với các NHTM có quy mô lớn Chính vì vậy, việc xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả tiền gửi được bảo hiểm tại NHTM là vô cùng cần thiết, tạo điều kiện cho BHTGVN chủ động đối phó với các tình huống xảy
Trang 12ra trong trường hợp phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm tại NHTM Điều này giúp
số lượng lớn người gửi tiền tại các NHTM tiếp cận với tiền bảo hiểm một cách nhanh chóng, BHTGVN chi trả kịp thời, chính xác, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người gửi tiền và cho chính BHTGVN, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống NHTM và sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng
Qua việc thực hiện kịch bản mô phỏng chi trả BHTG tại NHTM sẽ đánh giá được quy trình, công nghệ, năng lực tài chính, khả năng triển khai, hiệu quả của khung pháp lý và hoạt động hiện tại của BHTGVN, xác định những trở ngại chính trong việc thực hiện chi trả đối với NHTM, từ đó có những đề xuất, kiến nghị sửa đổi những hạn chế của quy trình chi trả
Xuất phát từ yêu cầu của hội nhập quốc tế
Hoạt động ngân hàng quốc tế ngày càng phát triển nhanh chóng đòi hỏi cần phải
có sự hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các TCBHTG và các cơ quan giám sát trong việc xử lý những vụ đổ vỡ xuyên quốc gia
Để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập, để đảm bảo ổn định hệ thống tài chính ngân hàng đòi hỏi BHTGVN phải có một quy trình chi trả tiền gửi được bảo hiểm hoàn thiện, kịp thời, sẵn sàng trong mọi tình huống Hiện nay trên thế giới các nước hầu như đã có quy trình chi trả tiền gửi được bảo hiểm hoàn thiện và sẵn sàng chi trả khi TCTD đổ vỡ, BHTGVN có thể học tập kinh nghiệm và thực tế chi trả của các nước trên thế giới để áp dụng vào thực tế Việt Nam
Chính vì vậy, việc xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả tiền gửi được bảo hiểm tại NHTM là vô cùng cần thiết, đề xuất các giải pháp khả thi trong tổ chức thực hiện, tạo điều kiện cho người gửi tiền tiếp cận với tiền bảo hiểm một cách nhanh chóng, TCBHTG chi trả chính xác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền
và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các TCTD và sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu xây dựng hoạt động chi trả BHTG tại Việt Nam xuất phát từ các thực tiễn nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài
“Xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả tiền gửi tại Ngân hàng thương mại của
Trang 13Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, hoạt động BHTG và chi trả BHTG của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã được nhiều học giả nghiên cứu cho thấy được tầm quan trọng ngày càng tăng của hoạt động này đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Thái Huy với đề tài “Nâng
cao hiệu quả hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” năm 2010 đã nghiên cứu
một số nội dung trong hoạt động BHTG, thực trạng hoạt động và những khó khăn
của BHTGVN khi áp dụng “Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu
quả” do Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế (IADI) ban hành, để từ đó đề ra những
giải pháp, kiến nghị giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTGVN Trong đó, tác giả có đề cập tới độ quan trọng của việc xây dựng kịch bản chi trả tiền gửi dựa theo những chuẩn mực quốc tế và tình trạng áp dụng ở Việt Nam.Đây là đề tài được nghiên cứu trong giai đoạn trước khi Luật BHTG Việt Nam được ban hành, cơ sở pháp lý đối với các nghiệp vụ nói chung chưa được hoàn thiện do đó để áp dụng vào điều kiện hiện nay còn cần nhiều chỉnh sửa cho phù hợp với thực tế hiện nay
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Bắc năm 2017 với đề tài “Hoạt động
chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại Thành phố
Hà Nội” đã hệ thống các lý luận cơ bản về hoạt động chi trả, đánh giá thực trạng hoạt
động chi trả của Chi nhánh Hà Nội làm căn cứ đề xuất những giải pháp để hoàn thiện hoạt động chi trả của chi nhánh cho giai đoạn đến năm 2025 Tuy nhiên, tác giả mới tập trung nghiên cứu trong phạm vi một chi nhánh của BHTGVN, một số nội dung quan trọng về mục tiêu xây dựng kịch bản để rút ngắn thời hạn chi trả, ứng dụng CNTT hỗ trợ chi trả và sự phối hợp hoạt động giữa Chi nhánh Hà Nội với Trụ sở chính, các đơn vị bên ngoài chưa được làm rõ
Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Đăng Quân năm 2018, với đề tài
“Hoạt động bảo hiểm tiền gửi theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn các ngân hàng thương mại” đã phân tích các vấn đề lý luận pháp luật về BHTG, đánh giá thực tiễn
pháp luật BHTG tại Việt Nam; đánh giá những ưu điểm và những vấn đề bất cập trong các quy định pháp luật của pháp luật về BHTG hiện hành, việc xây dựng kịch
Trang 14bản chi trả cũng được tác giả đề cập tới và đưa ra hành lang pháp lý phù hợp
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về BHTG trong nước đã làm sáng tỏ được những nội dung lý luận cơ bản về BHTG, thực trạng hoạt động của BHTGVN
và những giải pháp hoàn thiện các hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN, bảo đảm quyền lợi của NGT, góp phần bảo đảm an toàn cho cả hệ thống TCNH Việt Nam trong giai đoạn hội nhập Tuy nhiên, các công trình trên hầu hết mang nặng tính lý thuyết, lập luận dựa trên đánh giá mang tính định tính mà chưa đi sâu phân tích kịch bản mà BHTG cần chi trả khi có một ngân hàng bị đổ vỡ Vì thế việc xây dựng một kịch bản chi trả đầy đủ, chi tiết, phù hợp với hành lang pháp lý hiện nay đồng thời đưa ra cách xây dựng bộ số liệu chính xác, cụ thể và vẫn đơn giản, dễ sử dụng để công tác chi trả diễn ra nhanh chóng và hiệu quả là vô cùng cần thiết
Kết quả nghiên cứu của các tài liệu, đề tài nghiên cứu đã được công bố nêu trên
sẽ là những tiền đề, nội dung gợi mở mà tác giả kế thừa có chọn lọc để thực hiện
nghiên cứu đề tài “Xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả tiền gửi tại Ngân hàng thương mại của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam”
3 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên những kịch bản mô phỏng chi trả tiền gửi của quốc tế và thực tiễn chi trả tiền gửi tại Việt Nam để xây dựng và đưa ra một hệ thống kịch bản phù hợp nhất với thực trạng hệ thống ngân hàng của Việt Nam Bằng cách phân chia hệ thống ngân hàng của Việt Nam thành các nhóm có mức độ rủi ro là: Rủi ro thấp, rủi ro trung bình
và rủi ro cao, đề tài đưa ra các kịch bản tương ứng với mỗi nhóm ngân hàng này để
có kịch bản chi trả có thể bám sát, phân tích cụ thể các trường hợp chi trả và phát huy vai trò của mình khi áp dụng vào trường hợp thực tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các bước xây dựng kịch bản phù hợp nhất với các nhóm ngân hàng có mức độ rủi ro khác nhau, bên cạnh đó là nghiên cứu các kịch bản chi trả của quốc tế để áp dụng phù hợp với thực tế của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực tiễn chi trả của BHTGVN đã từng chi trả cho các tổ chức tín dụng nào, các mặt tích cực, hạn chế và kết hợp với các nghiên cứu
Trang 15về thực trạng chi trả quốc tế để đưa ra các kịch bản chi trả phù hợp nhất đối với mỗi nhóm ngân hàng
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để thu thập các nguồn thông tin như:
- Số liệu của BHTGVN (Báo cáo thường niên các năm, báo cáo tổng hợp liên quan đến hoạt động chung và hoạt động chi trả của BHTGVN)
- Kế thừa và sử dụng chọn lọc kết quả nghiên cứu của luận văn, luận án, các thông tin trên sách báo, tạp chí khoa học, các trang thông tin điện tử
5.2 Phương pháp định tính
- Phương pháp phân tích, sắp xếp các số liệu thu thập được và sử dụng để tính toán số tiền chi trả
- Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm đối chiếu giữa quy định pháp luật
về BHTG ở Việt Nam với quy định BHTG tại các quốc gia khác trên thế giới; giữa thực tế hoạt động chi trả của BHTGVN với các tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả BHTG, giữa số tiền cần chi trả và tổng nguồn vốn của BHTG
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng nhằm chỉ ra những nhận định chung, ý kiến đánh giá sau nội dung phân tích ở từng tiểu mục, đặc biệt phương pháp tổng hợp được sử dụng để tóm tắt các chương và kết luận chung của luận văn
6 Kết cấu của đề tài
Đề tài được bố cục theo 3 chương:
Chương 1: Tổng quan lý luận về xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả tiền gửi tại NHTM của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Chương 2: Mô phỏng chi trả của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm áp dụng tại Việt Nam
Chương 3: Xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả bảo hiểm tiền gửi phù hợp với các nhóm ngân hàng có độ rủi ro khác nhau
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG KỊCH BẢN MÔ PHỎNG CHI TRẢ TIỀN GỬI TẠI NHTM CỦA
BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM
1.1 Lý luận về bảo hiểm tiền gửi và chi trả bảo hiểm tiền gửi tại Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát về bảo hiểm tiền gửi
1.1.1.1 Bảo hiểm tiền gửi
Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng (TCNH) tại mỗi quốc gia luôn tiềm ẩn sự rủi ro và nhạy cảm, do đó để ổn định kinh tế - xã hội trong tình huống xảy ra đổ vỡ ngân hàng, tại mỗi quốc gia luôn có một tổ chức đứng ra bảo vệ NGT Trong quá khứ, tại các nước phát triển, mặc dù chưa có một hệ thống BHTG nhưng Chính phủ tại quốc gia đó cũng đã sử dụng công cụ “bảo hiểm ngầm” - dù không công khai cam kết việc bảo vệ tiền gửi của người dân nhưng trong tình huống có bất kỳ một ngân hàng nào đổ vỡ thì Chính phủ sẽ đứng ra chi trả cho NGT
Tuy nhiên, chính sách “bảo hiểm ngầm” này đã không đem lại đủ lòng tin cho người dân đối với hệ thống TCNH, vì vậy BHTG ra đời và chuyển từ “bảo hiểm ngầm” sang công cụ bảo vệ tiền gửi công khai Hoạt động BHTG công khai được thực hiện lần đầu tiên tại New York (Hoa Kỳ) vào năm 1892 với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, nhằm giải quyết sự đổ vỡ mang tính chất định kỳ của các ngân hàng Hoa Kỳ giai đoạn thế kỷ XIX Sau thời gian hoạt động thử nghiệm hiệu quả đến năm 1933, Chính phủ Hoa Kỳ đã chính thức thành lập FDIC và
mô hình này đã được nhiều quốc gia tham khảo và vận dụng Đến nay, hệ thống BHTG đã được thành lập tại hơn 100 quốc gia
Trải qua thời gian hoạt động và phát triển của các hệ thống BHTG, khái niệm
bảo hiểm tiền gửi có thể hiểu khái quát: “Bảo hiểm tiền gửi là một sự đảm bảo rằng
số dư gốc và lãi cộng dồn của các tài khoản tiền gửi nhất định sẽ được thanh toán tới một giới hạn nhất định”(Frederic S Mishkin (2001) , với tác dụng chính là giúp
các nhà hoạch định chính sách duy trì các chiến lược BHTG để duy trì niềm tin của NGT đối với mạng ATTC mỗi quốc gia, giảm nguy cơ đồng loạt rút tiền - rủi ro chính
Trang 17dẫn đến khủng hoảng kinh tế tài chính
Luật BHTG Việt Nam năm 2012 quy định: “Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm
hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”(Quốc hội (2012), Luật Bảo hiểm tiền gửi số
06/2012/QH13, ban hành ngày 18/6/2012, Hà Nội.)
Trong luận văn này, ta sẽ sử dụng định nghĩa về bảo hiểm tiền gửi được nêu trong Luật BHTGVN vì định nghĩa này phản ánh đúng nhất bản chất hoạt động của
cơ quan BHTG tại Việt Nam
1.1.1.2 Hệ thống bảo hiểm tiền gửi
Theo Luật BHTG 2012 hoạt động BHTG bao gồm những đối tượng khác nhau:
• Tổ chức BHTG
Tổ chức BHTG là loại hình tổ chức được thành lập và có thể hoặc không phải
là một phần của NHTW Một số TCBHTG là các tổ chức tư nhân có sự ủng hộ của Chính phủ hoặc là tổ chức tư nhân hoàn toàn, được Chính phủ cho phép tiếp nhận đóng góp tài chính từ TCTGBHTG theo quy định tại quốc gia đó
Theo định nghĩa của IADI năm 2014: “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là một thực
thể pháp lý chịu trách nhiệm cung cấp bảo hiểm tiền gửi, đảm bảo tiền gửi hoặc các
cơ chế bảo vệ tiền gửi tương tự khác” (theo IADI (2014))
Luật BHTG Việt Nam năm 2012 quy định: “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ
chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng” (theo Quốc hội
(2012), Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13, ban hành ngày 18/6/2012, Hà Nội.) Trong khuôn khổ đề tài này người viết sẽ bám sát định nghĩa về Bảo hiểm tiền gửi được quy định trong Luật bảo hiểm tiền gửi của nước ta BHTGVN chính là một
tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận để đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng
• Đối tượng được bảo hiểm tiền gửi
Đối với TCBHTG, đối tượng được BHTG là người có khoản tiền gửi tại
Trang 18TCTGBHTG “Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho TCBHTG nhưng
có quyền yêu cầu TCBHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền lãi tích lũy trên tiền gửi đó trong hạn mức chi trả tiền gửi của TCBHTG có thể là toàn bộ hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia” (theo Luật BHTG Việt Nam 2012)
Mọi người gửi tiền tại tổ chức tín dụng được bảo hiểm thì đều được bảo hiểm cho số tiền gửi của mình Khi tổ chức tín dụng phá sản thì BHTGVN sẽ chi trả số tiền tối đa bằng hạn mức tiền gửi cho mỗi người gửi tiền, giúp người gửi tiền có niềm tin vào hệ thống tín dụng
• Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
“Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi Theo thông lệ quốc tế, hiện nay trên thế giới có hai xu hướng tham gia BHTG, đó là các tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia BHTG một cách bắt buộc hoặc tham gia tự nguyện” (theo Bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam (2008)) Dù là hình thức nào thì vẫn còn những hạn chế tồn tại, song hình thức gia nhập bảo hiểm bắt buộc được đánh giá là có nhiều ưu điểm hơn nên
phần lớn được các quốc gia áp dụng
Ở Việt Nam, “Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi của cá nhân”(theo Luật BHTG (2012)) Bên cạnh đó, cơ chế tham gia
BHTG là bắt buộc và TCTGBHTG phải đóng phí trên tổng số dư tiền gửi theo tỷ lệ theo luật định
Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi (TCTGBHTG) là những tổ chức tín dụng được cấp chứng nhận BHTG sẽ phải đóng phí hàng kỳ cho BHTGVN Hiện nay, mọi
tổ chức tín dụng ở Việt Nam bao gồm ngân hàng, quỹ tín dụng và tổ chức tài chính
vi mô đều bắt buộc tham gia bảo hiểm tiền gửi Khi các tổ chức này bị phá sản, BHTGVN sẽ đứng ra chi trả cho những cá nhân gửi tiền có tiền gửi tại tổ chức tín dụng này
1.1.1.3 Vai trò của BHTG
Theo Báo cáo thường niên của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, ta có thể khái quát
vai trò của BHTG như sau:
Trang 19-BHTG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người gửi tiền, nâng cao
niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính, ngân hàng Đối với bất kỳ quốc gia nào thì vấn đề bảo vệ người tiêu dùng cũng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, chính
vì vậy BHTG chính là công cụ tài chính hữu hiệu mà Chính phủ sử dụng nhằm bảo
vệ người gửi tiền BHTG có nhiệm vụ thay mặt Chính phủ bảo vệ tiền gửi của người dân, trong trường hợp TCTGBHTG phá sản thì BHTG có trách nhiệm chi trả số tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền Chính sự bảo vệ này tạo được niềm tin cho người gửi tiền vào hệ thống tài chính – ngân hàng nói riêng và vào Chính phủ nói chung
- BHTG góp phần trong việc đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng Với sự đảm bảo của BHTG, người gửi tiền có thể yên tâm gửi
tiền tại bất kỳ TCTGBHTG nào, đó có thể là QTDND nhỏ hoặc NHTM lớn BHTG
đã tạo ra một môi trường bình đẳng cho tất cả các TCTD, đặc biệt là các TCTD có quy mô nhỏ bằng một hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm giống nhau Nếu không
có BHTG thì người gửi tiền sẽ phân vân khi phải lựa chọn gửi tiền tại các NHTM lớn hay các QTDND nhỏ, nhưng với sự đảm bảo của BHTG thì họ có thể yên tâm rằng tiền gửi của mình vẫn được an toàn dù gửi ở bất kỳ TCTGBHTG nào Chính điều đó
đã thúc đẩy hoạt động tín dụng phát triển bình đằng, lành mạnh tránh được tình trạng thu hẹp cơ hội khách hàng đến với các TCTD quy mô nhỏ
- BHTG góp phần thúc đẩy quá trình huy động vốn phục vụ phát triển kinh
tế và ổn định xã hội Để phát triển kinh tế và ổn định xã hội Nhà nước sử dụng rất
nhiều kênh thu hút vốn trong đó tiền gửi tại các TCTD là một kênh vô cùng quan trọng Từ việc BHTG tạo được niềm tin cho người gửi tiền sẽ giúp người dân tạo thói quen gửi tiền vào ngân hàng thay vì các kênh đầu tư khác như: đầu tư bất động sản hay tích trữ vàng hoặc cất giấu tại nhà
- BHTG góp phần trong xử lý khủng hoảng tài chính, ngân hàng BHTG không chỉ có vai trò quan trọng trong thời kỳ kinh tế ổn định mà còn góp phần không nhỏ trong quá trình xử lý khủng hoảng tài chính – ngân hàng Khi có
khủng hoảng tài chính – ngân hàng thì hiện tượng rút tiền hàng loạt là điều chắc chắn
sẽ xảy ra, chính lúc này BHTG chính là công cụ đắc lực của Chính phủ để đối phó
Trang 20với với tình hình khó khăn này Thực tế khủng hoảng tài chính xảy ra năm 2008 đã chứng minh BHTG chính là biện pháp giúp Chính phủ tạo lập được niềm tin đối với ngưởi gửi tiền vào hệ thống tài chính – ngân hàng
Vai trò của BHTG được thể hiện qua mô hình sau đây:
Hình 1.1 – Mô hình vai trò BHTG
(Nguồn: Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Báo cáo thường niên các năm.)
1.1.2 Khái quát về hoạt động chi trả BHTG
Chi trả BHTG là một phương pháp xử lý các TCTD đổ vỡ mà trong đó TCBHTG chi trả số tiền được bảo hiểm cho từng người gửi tiền Các nội dung trọng tâm của hoạt động chi trả bao gồm:
a Thời điểm phát sinh nghĩa vụ chi trả tiền gửi được bảo hiểm:
Nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm phát sinh được quy định khác nhau ở từng quốc gia và thường được tính khởi điểm là từ khi TCTGBHTG mất khả năng thanh toán, lâm vào tình trạng phá sản Nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm của BHTGVN
Vai trò của BHTG
Bảo vệ người gửi tiền, góp phần nâng cao niềm tin
Góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng
Góp phần thúc đẩy quá trình huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế và
Trang 21phát sinh kể từ thời điểm NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt (KSĐB) hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà TCTD là TCTG BHTG vẫn lâm vào tình trạng phá sản hoặc NHNN có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền
b Hạn mức chi trả tiền bảo hiểm:
Về hạn mức chi trả: Hạn mức chi trả là số tiền tối đa mà TCBHTG trả cho tất
cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm (gồm cả tiền gốc và tiền lãi) của một người tại một TCTGBHTG khi tổ chức đó phá sản Trên thế giới hiện áp dụng 2 mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm là chi trả toàn phần (chi trả không hạn mức) và chi trả một phần (chi trả có hạn mức) Ở Việt Nam, Hạn mức trả tiền gửi được bảo hiểm trong từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định theo đề nghị của NHNNVN Hiện tại hạn mức trả tiền bảo hiểm là 75 triệu đồng
c Thời gian thực hiện chi:
Thời gian thực hiện trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền được quy định khác nhau ở từng quốc gia và thường được tính khởi điểm là từ lúc TCTGBHTG rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, lâm vào tình trạng phá sản và kết thúc là lúc quá trình chi trả hoàn tất Hiện nay ở Việt Nam, thời gian thực hiện trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền là trong thời hạn 60 ngày, kể từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, BHTGVN có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người được BHTG
d Về hình thức chi trả BHTG
Trên thế giới hiện nay các nước đang áp dụng chủ yếu 2 hình thức chi trả BHTG
cơ bản là Chi trả trực tiếp và Chi trả theo ủy quyền Ngoài ra có thể kết hợp cả 2 hình thức Chi trả trực tiếp và Chi trả theo ủy quyền
- Chi trả trực tiếp: Chi trả trực tiếp là việc TCBHTG đứng ra trực tiếp chi trả cho từng người gửi tiền
- Chi trả theo ủy quyền (Chi trả gián tiếp): Chi trả theo ủy quyền là hình thức một tổ chức trung gian đứng ra với tư cách như một đại diện cho TCBHTG để chi trả cho người gửi tiền
Trang 22- Chi trả trực tiếp kết hợp Chi trả theo ủy quyền: là hình thức TCBHTG vừa trực tiếp chi trả, vừa ủy quyền cho một TCTGBHTG chi trả
1.1.3 Khái quát về quy trình chi trả BHTG
Hình 1.2: Quy trình tiến hành chi trả BHTG
(Nguồn Luật BHTG Việt Nam năm 2012)
Quy trình chi trả có thể được tóm tắt như sau:
- Bước 1: Chuẩn bị chi trả
Trang 23+ Lựa chọn các phương án chi trả: Chi trả trực tiếp, chi trả theo ủy quyền; Phương thức thanh toán tiền: chi trả qua tài khoản, chi trả tiền mặt, chi trả bằng séc, chi trả bằng thẻ,…
+ Chuẩn bị ký thỏa thuận với các bên nhận ủy quyền chi trả
+ Các chuẩn bị khác: Chuẩn bị công bố thông tin,…
- Bước 2: Nhận đơn yêu cầu chi trả và xử lý
TCBHTG nhận đơn yêu cầu chi trả và kiểm tra để đảm bảo rằng việc chi trả được thực hiện đúng đối tượng và đúng số tiền được chi trả Việc nhận yêu cầu chi trả bảo hiểm từ người gửi tiền có nhiều hình thức: Nhận tại các địa điểm của TCTD
đổ vỡ, nhận tại trụ sở của TCBHTG, nhận qua hình thức bưu điện, hoặc bằng các phương pháp điện tử TCBHTG phải bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin cũng như hỗ trợ, giải đáp thắc mắc cho người gửi tiền về các quy định cũng như thủ tục tiến hành chi trả Các yêu cầu chi trả của người gửi tiền sau đó sẽ được chuyển về trung tâm xử lý Việc xử lý thông tin được hỗ trợ bằng các hệ thống thông tin hiện đại nhằm đảm bảo xử lý chính xác, nhanh, và hiệu quả
- Bước 3: Tiến hành chi trả
Sau khi đã kiểm tra và xác nhận yêu cầu chi trả của người gửi tiền là chính xác, TCBHTG tiến hành chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền Việc chi trả thực hiện theo phương án đã phê duyệt Phương thức thanh toán tiền chi trả bảo hiểm thực hiện theo đăng ký nhận tiền của người nhận tiền là bằng tiền mặt hoặc bằng thẻ, hoặc chuyển khoản vào tài khoản của cá nhân
1.2 Lý luận về xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả bảo hiểm tiền gửi tại Ngân hàng thương mại
1.2.1.Khái quát kịch bản mô phỏng
1.2.1.1 Khái niệm về kịch bản mô phỏng chi trả
Theo IADI (2012), ta có một số khái niệm:
Mô phỏng là việc giả lập nhằm mô tả lại một sự kiện thực tế với các bước thực hiện theo một quy trình từ bước đầu đến bước cuối Tại đó ta đưa ra rất nhiều giả định khác nhau có thể xảy ra và ảnh hưởng đến quy trình chung Việc mô phỏng dựa theo kiến thức lý thuyết được áp dụng vào tình hình thực tế, tạo ra nhiều tình huống khác
Trang 24nhau có thể xảy ra, từ đó đưa ra cách ứng xử phù hợp với mỗi tình huống Mô phỏng
có nhiều hình thức Có thể đưa ra những hình huống và trả lời, hoặc xây dựng các case tình huống khác nhau dẫn đến các kết quả khác nhau hoặc có sự hỗ trợ của phần mềm máy tính để nâng cao tốc độ và chất lượng mô phỏng
Để mô phỏng chi trả một cách khoa học và trật tự, dễ theo dõi và áp dụng thì ta buộc phải lập một kịch bản mô phỏng chi trả Kịch bản mô phỏng chi trả và việc giả lập thực hiện một quy trình và thủ tục chi trả từ đầu tới cuối với tình huống giả định chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho một ngân hàng đổ vỡ Trong kịch bản đó ta đưa vào nhiều giả định để chia các hướng xử lý chi trả thành nhiều tình huống khác nhau Việc chia các nhỏ các chi tiết thì càng có giá trị khi áp dụng vào tình hình thực tế khi
có đổ vỡ xảy ra Xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả BHTG là xây dựng một quy trình chi trả tiền gửi được bảo hiểm với các tình huống có thể xảy ra trong trường hợp một ngân hàng bị đổ vỡ Đối với mỗi một tổ chức khác nhau thì việc xây dựng kịch bản sẽ khác nhau do ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức, quy mô tổ chức, số lượng tiền gửi tiền vay khác biệt, ngân hàng ủy quyền, địa điểm chi trả khác nhau Do đó xây dựng kịch bản đối với các tổ chức dễ xảy ra đổ vỡ nhất và chưa từng được chi trả sẽ
có ý nghĩa thực tế nhất
Để có thể xây dựng được kịch bản sát nhất với thực tế thì ta cần có cơ sở dữ liệu (Database) chính xác nhất Cơ sở dữ liệu là một hệ thống các thông tin có cấu trúc, được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ nhằm thoả mãn yêu cầu khai thác thông tin đồng thời của nhiều người sử dụng hay nhiều chương trình ứng dụng chạy cùng một lúc với những mục đích khác nhau Cơ sở dữ liệu này bao gồm thông tin của các khách hàng gửi tiền, số tiền gửi, số tiền vay, thông tin về đồng sử hữu, đối tượng loại trừ Việc xử lý số liệu trên phần mềm sẽ giúp quản lý dữ liệu và đưa ra các biện pháp chi trả một cách nhanh chóng nhất Việc xây dựng kịch bản, giả định các trường hợp xảy ra sẽ chi tiết và hiệu quả hơn Để tận dụng được nguồn dự liệu này, BHTG cần được quyền truy cập vào Kho dữ liệu (Data warehouse) là một tập hợp các dữ liệu lưu trữ bằng thiết bị điện tử của một tổ chức Các kho dữ liệu được thiết kế để hỗ trợ việc phân tích dữ liệu và lập báo cáo và Quản lý khách hàng cá nhân - SCV (single customer view) là tập hợp cơ sở dữ liệu lưu trữ tất cả hồ sơ dữ liệu về khách hàng
Trang 25Điều quan trọng nhất của việc xây dựng được một kịch bản mô phỏng chặt chẽ
đó là việc giả định nhiều nhất có thể các trường hợp có thể xảy ra Với mỗi giả định
ta cần đưa ra các biện pháp khác nhau, sau đó đánh giá tác động của biện pháp đó đến
tổ chức tín dụng cũng như người gửi tiền như thế nào
1.2.1.2 Mục đích của việc xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả BHTG tại NHTM
Mục đích chính của việc xây dựng kịch bản là để dùng cho việc mô phỏng chi trả BHTGVN không thể thực hiện chi trả trong thực tế mà không có kịch bản chi trả Kịch bản có tác dụng hướng dẫn cho những người thực hiện biết phải làm những gì, theo trình tự như thế nào, với nội dung, quy mô ra sao, vv Việc xây dựng kịch bản
là tối quan trọng để có thể thực hiện chi trả khi có đổ vỡ xảy ra Ngoài mục đích chính
là làm cơ sở cho việc thực hiện mô phỏng chi trả, việc xây dựng kịch bản mô phỏng còn có mục đích/tác dụng khác:
- Huấn luyện và kiểm tra nhân viên của BHTGVN trong việc nắm bắt quy trình chi trả tiền gửi được bảo hiểm của NHTM
- Đánh giá năng lực tài chính và nhân sự của TCBHTG
- Đánh giá và nắm bắt về sự sẵn sàng hệ thống công nghệ thông tin
- Tìm hiểu và đánh giá sự sẵn sàng phối hợp và hỗ trợ của các tổ chức bên ngoài (NHNN, ngân hàng ủy quyền, chính quyền địa phương, vv )
1.2.1.3 Yêu cầu của việc xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả BHTG tại NHTM
Khi xây dựng kịch bản mô phỏng, cần chú ý một số yêu cầu chính như sau: Kịch bản cần tuân theo đúng định hướng từ ban lãnh đạo của BHTG Việc mô phỏng nói chung cần có định hướng rõ ràng và việc lập kịch bản cũng phải phù hợp với định hướng đó Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới định hướng mô phỏng và mỗi TCBHTG có các định hướng và tập trung nội dung mô phỏng khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và đặc thù của từng tổ chức (ví dụ BHTGVN sẽ ko tập trung vào mô phỏng việc phối hợp xuyên quốc gia trong việc mô phỏng như các TCBHTG khác ở Châu Âu)
Kịch bản mô phỏng phải tuân thủ đúng các quy định pháp luật, quy trình, thủ tục, hướng dẫn về nghiệp vụ của TCBHTG Việc mô phỏng và kịch bản trong một số
Trang 26trường hợp có thể được sử dụng để trong việc nghiên cứu mô phỏng quy trình mới phục vụ cải tiến quy trình chi trả
Kịch bản mô phỏng cần phải có khả năng có thể thực hiện được áp dụng đồng nhất đối với các ngân hàng Nội dung này liên quan tới năng lực về tài chính, về nhân
sự, về hệ thống công nghệ, về sự phối hợp của các bên liên quan Ví dụ: BHTGVN chưa đủ nguồn lực để có thể mô phỏng toàn bộ quy trình từ đầu đến cuối cho việc mô phỏng chi trả cho một ngân hàng lớn trong nhóm 5 ngân hàng hàng đầu của Việt Nam Những TCBHTG mới thực hiện mô phỏng cần cân nhắc làm từng bước từ việc
mô phỏng đơn giản tới phức tạp, từ nhỏ đến lớn, từng giai đoạn riêng lẻ tới cả quy trình tổng thể Kịch bản mô phỏng cần phải đảm bảo không ảnh hưởng tới các hoạt động khác của TCBHTG Việc xây dựng kịch bản phải phù hợp với các hoạt động hiện tại của TCBHTG Nếu quá tham vọng, kịch bản xây dựng phức tạp với trường hợp mô phỏng ngân hàng lớn cần sự phối hợp của nhiều bên tham gia mà không thể triển khai được do vướng các công việc khác của TCBHTG thì sẽ khó đáp ứng tốt yêu cầu
1.2.1.4 Vai trò của việc xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả BHTG tại NHTM
- Kịch bản là yếu tố quyết định nội dung của việc thực hiện chi trả trong thực
tế Kịch bản là kim chỉ nam xuyên suốt tất cả các nội dung triển khai, hướng dẫn cho những người thực hiện biết công việc phải làm Kịch bản cũng là cơ sở để đánh giá chất lượng thực hiện chi trả trong tương lai từ đó xác định năng lực của đơn vị thực hiện Việc chi trả thực tế sẽ không thể thực hiện khi không có kịch bản Do vậy việc xây dựng kịch bản là bước quan trọng bắt buộc và không thể thiếu cho việc mô phỏng chi trả cho ngân hàng
- Việc xây dựng kịch bản chi trả tạo cơ hội để xác định mức độ phù hợp của nguồn lực cần cho công tác chi trả và đánh giá khả năng phát huy của các nguồn lực trong và ngoài TCBHTG một cách đồng bộ và hiệu quả Điều này cũng cung cấp cơ hội đánh giá liệu những hoạt động chi trả theo quy định có thể được thực hiện trong khung thời gian hạn hẹp trong những tình huống khó khăn hay không
- Áp dụng các bài học từ kịch bản chi trả để điều chỉnh hoặc cải thiện toàn diện chức năng chi trả, đặc biệt nhằm đảm bảo rằng chi trả phải chính xác và đúng hạn
Trang 27Về góc độ này, các bài tập tình huống mô phỏng thực tế sẽ cho phép TCBHTG nhận thức rõ mức độ sẵn sàng của nghiệp vụ chi trả từ đó đề ra những giải pháp để cải thiện
và giải quyết vấn đề phát sinh tốt hơn
- Ngoài ra, thực tế BHTGVN không chi trả BHTG thường xuyên và mới chỉ chi trả cho các QTDND quy mô nhỏ Do vậy, việc nghiên cứu xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả và tiến hành mô phỏng trước khi áp dụng chính thức có ý nghĩa quan trọng Qua các bài tập dượt, BHTGVN sẽ chuẩn bị tốt hơn các công việc sẵn sàng trước khi thực hiện quá trình chi trả, qua đó luôn bảo đảm rằng nguồn nhân lực tham gia vào nghiệp vụ chi trả được đào tạo đầy đủ
1.2.2 Khái quát về quy trình xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả
1.2.2.1 Xác định NHTM phát sinh nghĩa vụ chi trả
Căn cứ vào định hướng mô phỏng mà TCBHTG lựa chọn NHTM phát sinh nghĩa vụ phù hợp Để bao quát được các nhóm ngân hàng theo mức độ rủi ro khác nhau thì ta cần đưa ra các kịch bản riêng ứng với mỗi mức độ rủi ro của ngân hàng
- Đối với ngân hàng có mức độ rủi ro cao: ta sẽ chọn ngân hàng có chất lượng hoạt động yếu, đang bị kiểm soát đặc biệt và có khả năng đổ vỡ cao, có số lượng tiền gửi và người gửi tiền ở mức trung bình, qua đó đánh giá được khả năng phản ứng của BHTG trước tình huống xấu có thể xảy ra với một ngân hàng hoạt động yếu kém Hơn nữa việc chọn một ngân hàng có lượng gửi tiền ở mức trung bình sẽ có tính đại diện cao một ngân hàng nhỏ (thường là chi nhánh ngân hàng nước ngoài) và sẽ giúp đánh giá được tối đa khả năng đáp ứng yêu cầu chi trả của BHTG
- Đối với ngân hàng có mức độ rủi ro trung bình: ta chọn chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc các ngân hàng thương mại có tổng số vốn nằm ở mức trung bình., khả năng đổ vỡ không cao tuy nhiên dễ có phản ứng tiêu cực khi gặp những vấn đề bất thường trong nền kinh tế
- Đối với ngân hàng có mức độ rủi ro thấp: đấy là những ngân hàng thương mại lớn có tổng tài sản ở mức cao, có mức độ an toàn vốn cao, tỷ lệ nợ xấu thấp, có thanh khoản lớn và đáp ứng được yêu cầu thanh toán cho người dân
Trang 281.2.2.2 Quy trình giai đoạn tính toán số tiền chi trả
Sau khi có được đầy đủ số liệu về các thông tin của các đối tượng gửi tiền ( số chứng minh thư, mã khách hàng, mã số tiền gửi ), số tiền gửi, sồ tiền vay, danh sách đối tượng loại trừ, danh sách đồng sở hữu ta sẽ tiến hành giả lập các trường hợp từ
cơ bản đến phức tạp để tiến hành tính toán số tiền chi trả
Từ trường hợp cơ bản nhất ta sẽ chỉ cho một biến số ví dụ như chỉ có tiền gửi của khách hàng bình thường, sau đó ta sẽ cho dần các biến số về tiền vay, đồng sở hữu, đối tượng loại trừ để tiến hành tính toán Qua đó, ta xác định được một kịch bản tính toán chi trả đầy đủ nhất
Xây dựng kịch bản tính toán số tiền chi trả này rất quan trọng do số liệu được lấy từ ngân hàng là số liệu thực tế của toàn bộ người gửi tiền từ ngân hàng phát sinh nghĩa vụ chi trả Do đó số tiền chi trả tính ra được cũng là số tiền thực tế chi trả cho ngân hàng đó, qua đó ta đánh giá được BHTGVN có đủ khả năng về vốn để chi trả cho một ngân hàng không
1.2.2.3 Quy trình giai đoạn trước khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm:
a) Xây dựng, duy trì và kiểm tra nguồn dữ liệu: Đây là việc giả lập phức tạp
Giả lập dữ liệu trên hệ thống phải đảm bảo các yêu cầu nghiệp vụ về dữ liệu như: Đảm bảo số lượng tài khoản, tính chất tài khoản, số lượng người gửi tiền, vv Ngoài
ra dữ liệu phải đáp ứng được các yêu cầu riêng của kịch bản Mỗi kịch bản sẽ có những chi tiết khác nhau, tập trung vào các nội dung khác nhau, dữ liệu phải đáp ứng các nội dung này
b) Kiểm tra, đối chiếu, xác minh danh sách và số tiền chi trả: Tùy thuộc vào
định hướng và yêu cầu ban đầu mà kịch bản phải xây dựng một cách phù hợp Ví dụ: Kịch bản yêu cầu kiểm tra bao nhiêu dữ liệu, xác minh bao nhiêu người gửi tiền, bao nhiêu người vay tiền, các tài khoản tiền gửi có được bảo hiểm hay không, có phát sinh các trường hợp đối chiếu và xác minh phức tạp hay không, có các trường hợp ngoài sổ sách hay không, xử lý như thế nào, trong bao lâu Tất cả các nội dung này phải được nghiên cứu và đặt ra trước để giả lập dữ liệu và hồ sơ một cách phù hợp
c) Xây dựng phương án chi trả mô phỏng: Căn cứ vào định hướng và mục tiêu
ban đầu mà kịch bản phải đưa ra các nội dung phù hợp Rõ ràng phương án mô phỏng
Trang 29chi trả cho 1 ngân hàng lớn và phức tạp sẽ khác việc mô phỏng cho ngân hàng nhỏ
và đơn giản Khi xây dựng phương án cần chú ý vào độ lớn của dữ liệu, số lượng người gửi tiền, số tiền chi trả, số lượng chi nhánh hoạt động, ngân hàng ủy quyền, thời gian chi trả, cách thức chi trả, vv để xây dựng kịch bản phù hợp
d) Cập nhật, hoàn thiện phương án chi trả: TCBHTG cần xem xét lập kịch bản
cho việc này nếu thấy cần thiết Thực chất việc cập nhật phương án chủ yếu là do thay đổi về dữ liệu người gửi tiền Mỗi thời điểm dữ liệu lại có sự thay đổi khác nhau điều đó dẫn đến thay đổi về số lượng người gửi tiền được chi trả, số tiền được chi trả Vấn đề đặt ra ở đây là bao nhiêu lần cập nhật Trước giai đoạn chi trả là một quá trình rất dài tính từ khi đơn vị trở nên yếu kém và dẫn đến phá sản Trong quá trình đó, do ngân hàng vẫn hoạt động, tiền gửi và cả tiền vay đều biến đổi hàng ngày Do vậy, kịch bản phải quan tâm đến vấn đề này và đưa ra số lần cập nhật dữ liệu phù hợp vì cập nhật nhiều lần không quan trọng bằng lần chốt số cuối cùng
1.2.2.4 Xác định ngân hàng ủy quyền chi trả
Tủy thuộc vào quá trình tính toán số tiền chi trả và cách xếp hạng rủi ro ngân hàng , căn cứ vào định hướng mô phỏng mà TCBHTG lựa chọn NHTM ủy quyền chi trả phù hợp Tùy thuộc vào tổ chức NHTM phát sinh nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm
mà từ đó lựa chọn ra một hoăc nhiều TCBHTG ủy quyền chi trả phù hợp Ví dụ nếu
NH phát sinh nghĩa vụ chi trả nhỏ thì có thể chi lựa chọn 1 ngân hàng ủy quyền chi trả Nếu ngân hàng phát sinh nghĩa vụ chi trả lớn thì có thể mô phỏng nhiều ngân hàng ủy quyền cùng thực hiện chi trả
1.2.2.5 Quy trình giai đoạn sau khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền gửi được bảo hiểm:
a) Hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ trả tiền gửi được bảo hiểm: Trên thực tế và cũng
như mô phỏng Đây là bước mang tính thủ tục Việc xây dựng kịch bản cho nội dung này có thể giả định ra các tình huống khác nhau phát sinh trong quá trình hướng dẫn
và tiếp nhận hồ sơ Tuy vậy, không nên quá tập trung vào nội dung này thay vào đó người lập kịch bản nên tập trung vào những nội dung khác quan trọng hơn
b) Cập nhật, tính toán dữ liệu về tiền gửi được bảo hiểm:
Tại bước này, dữ liệu chi trả lúc này là dữ liệu chính thức để tính toán vì về cơ bản, số liệu không biến động do các phát sinh giao dịch gửi/rút tiền nữa Tuy vậy, dữ
Trang 30liệu vẫn sẽ phát sinh các trường hợp không rõ ràng, cần tiếp tục đối chiếu, hoặc điều tra bởi các cơ quan có thẩm quyền Tùy vào định hướng ban đầu mà quyết định về chất lượng dữ liệu (bao nhiêu % là tốt, bao nhiêu % chưa rõ ràng cần phải tiếp tục xử lý)
c) Kiểm tra chứng từ, sổ sách xác định số tiền chi trả:
Từ những dữ liệu còn chưa rõ ràng ở bước trên, TCBHTG có thể lập tình huống
xử lý các dữ liệu chưa rõ ràng Kịch bản sẽ xem xét các tình huống khác nhau về dữ liệu cũng như hình thức xử lý và kết quả Sẽ có thể có những tình huống kiểm tra ra
và chốt được dữ liệu, cũng sẽ có trường hợp kiểm tra nhưng không có kết quả phải nhờ các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục xử lý
d) Xây dựng, thẩm định, hoàn thiện và phê duyệt phương án chi trả tiền bảo hiểm
Từ bước trên, sau khi kiểm tra, hệ thống tính toán lại và đưa ra số tiền chỉ trả
Từ đó kịch bản sẽ tiếp tục chuyển tới bước xây dựng, thẩm định và phê duyệt phương
án chi trả Người lập kịch bản có thể đưa ra các tình huống phát sinh khác nhau trong từng bước xây dựng, thẩm định và phê duyệt
e) Thông báo trả tiền bảo hiểm, niêm yết danh sách người được trả tiền bảo hiểm:
Việc thông báo là việc in trên báo, website của BHTGVN, tại địa điểm chi trả, vv Các nội dung thông báo có thể được chuẩn bị trước để việc mô phỏng trở nên đơn giản
Việc niêm yết danh sách thì cần cân nhắc trong việc mô phỏng Nếu mô phỏng với dữ liệu quá nhiều người gửi tiền (hàng triệu người) thì việc công bố danh sách người đươc trả tiền gửi được bảo hiểm chỉ là giả thiết và có thể không cần mô phỏng Thậm chí việc in danh sách ra cũng là việc không cần thiết
f) Thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm theo hình thức ủy quyền:
Đây là một trong các bước phức tạp nhất của quá trình chỉ trả cũng như trong
mô phỏng Lúc này sự phức tạp mô phỏng tùy thuộc vào kịch bản Kịch bản có thể
mô phỏng theo cách đơn giản là đơn vị ủy quyền trả lại luôn kết quả chi trả Kịch bản
Trang 31cũng có thể làm theo cách phức tạp là BHTG giả lập tình huống chi trả cụ thể với các phát sinh phức tạp để mô phỏng
1.2.3 Các phương pháp sử dụng trong xếp hạng rủi ro ngân hàng
Một trong những nội dung khó nhất trong xây dựng hệ thống thu phí phân biệt
là tìm ra phương pháp phù hợp nhất để xếp hạng rủi ro ngân hàng Một số phương pháp tiếp cận sẵn có và nhìn chung bao gồm các phương pháp luận nhấn mạnh các yếu tố khách quan hay định lượng và hoặc những yếu tố phụ thuộc vào nguồn thông tin chủ quan hay định tính Mặc dù rất khó thực hiện, phương pháp được sử dụng để xếp hạng rủi ro và ấn định phí phải mang tính đón đầu Phần nội dung sau mô tả một
số tiêu chí hoặc yếu tố thường được sử dụng nhiều nhất để xếp hạng rủi ro ngân hàng phục vụ cho các mục đích tính phí và một số ưu nhược điểm và sự đánh đổi liên quan đến việc áp dụng chúng
1.2.3.1 Các phương pháp tiếp cận theo tiêu chí định lượng
Phương pháp tiếp cận theo tiêu chí định lượng nhìn chung cố gắng sử dụng các thang đo là những cơ sở lý luận hay dữ liệu dùng để xếp hạng ngân hàng phục vụ cho mục đích tính phí Một số hệ thống định lượng chỉ dựa vào một yếu tố để đánh giá rủi ro trong khi một số hệ thống khác kết hợp giữa nhiều yếu tố Thông tin thường được tập hợp thông qua quá trình thu thập dữ liệu và giám sát tại chỗ hoặc từ xa Các yếu tố thường được sử dụng cho những hệ thống như vậy bao gồm:
• Sự tuân thủ của ngân hàng đối với q uy định vốn hoặc các thang đo về số lượng, chất lượng và đủ vốn;
• Chất lượng và sự đa dạng danh mục tài sản ngân hàng cả nội bảng và ngoại bảng cân đối kế toán;
• Mức độ đủ, tính dễ biến động và chất lượng thu nhập của ngân hàng;
• Nguồn luân chuyển tiền mặt của ngân hàng (cả nội bảng và ngoại bảng cân đối kế toán), khả năng tạo và huy động đủ vốn kịp thời với chí phí hợp lý;
• Sự ổn định và đa dạng nguồn vốn của ngân hàng;
• Mức độ rủi ro lãi suất của ngân hàng, và nếu được tính, sẽ bao gồm cả rủi ro
Trang 32hối đoái và rủi ro vị thế Thông thường, người ta áp dụng một hoặc kết hợp nhiều yếu
tố định lượng để xếp hạng rủi ro ngân hàng Yếu tố phổ biến nhất là mức độ đủ vốn Vốn là bước đệm chính để ứng phó với những thay đổi bất lợi về chất lượng tài sản
và lợi nhuận của ngân hàng Mặc dù vốn là cực kỳ quan trọng, tiêu chí định lượng khác thường được tính đến như thu nhập, vì tiêu chí này có thể đóng góp vào khả năng giúp một ngân hàng duy trì vốn Thông tin thường được thu thập trực tiếp từ các ngân hàng dựa trên các nguyên tắc kế toán được ngành ngân hàng chấp nhận và các ngân hàng được xếp hạng hoặc phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau hoặc sự so sánh đối chiếu theo nhóm tương đồng Một cách tiếp cận định lượng khác, có thể được sử dụng để tính phí bảo hiểm phân biệt, là sự định giá thua lỗ kỳ vọng Chỉ số này đối với một ngân hàng phụ thuộc vào khả năng đổ vỡ của ngân hàng, sự rủi ro của tổ chức BHTG đối với ngân hàng đó, và quy mô thua lỗ mà tổ chức BHTG có thể phải gánh chịu nếu ngân hàng đó đổ vỡ Ngoài việc sử dụng các biện pháp định lượng truyền thống và phương pháp định giá thua lỗ kỳ vọng, một số mô hình lý thuyết đã được đề xuất áp dụng để xếp hạng rủi ro ngân hàng Merton (1977) ví BHTG như một giải pháp lựa chọn được đưa ra theo quy định của các cơ quan quản
lý về giá trị tài sản của tổ chức nhận tiền gửi mà ở đó giá trị BHTG có thể được tính toán bằng lựa chọn mô hình đ ịnh giá quyền chọn Black-Scholes (1973) Marcus và Shaked (1984) và Ronn và Verma (1986) áp dụng mô hình định giá quyền chọn để ước tính phí bảo hiểm Mặc dù về mặt định tính dựa trên và về mặt lý thuyết áp dụng cho một số mô hình, khó khăn trong việc thu thập dữ liệu phù hợp và tìm kiếm sự đồng thuận trong phương pháp luận giữa các ngân hàng, tổ chức BHTG và các thành viên khác trong mạng an toàn đến nay vẫn cản trở việc áp dụng nhiều trong số những
mô hình này Lợi thế của việc áp dụng các phương pháp tiếp cận định lượng trong xếp hạng rủi ro ngân hàng là dựa vào các yếu tố và dữ liệu tương đối khách quan, được đánh giá minh bạch và ít gây ra các cuộc tranh luận hơn các phương pháp tiếp cận chủ quan Tuy nhiên, trở ngại chủ yếu đó là hiệu quả của những phương pháp này phụ thuộc hoàn toàn vào dữ liệu chất lượng cao, nhất quán, có thể tin cậy và kịp thời – vốn có thể khó thu thập được ở nhiều hệ thống tài chính Ví dụ, trong trường hợp
sử dụng các mô hình định giá thua lỗ kỳ vọng, phần lớn các quốc gia chỉ đơn giản
Trang 33không có đủ dữ liệu lịch sử về rủi ro và thua lỗ để tính toán chính xác các thông số Trở ngại khác là phần lớn các kỹ thuật định lượng có xu hướng cung cấp thông tin về tình hình tài chính trước đây của ngân hàng Những thông tin này ít hiệu quả trong việc cung cấp các chỉ dẫn hàng đầu đối với những rủi ro trong tương lai của các ngân hàng Cuối cùng, ngay cả khi dữ liệu thích hợp có sẵn và phương pháp luận được chấp nhận rộng rãi, hệ thống mà dựa chủ yếu vào các tiêu chí định lượng không cho phép xem xét các yếu tố định tính quan trọng về một ngân hàng - chẳng hạn như chất lượng quản trị của một tổ chức và thông lệ quản lý rủi ro vốn có thể chứa đựng thông tin có giá trị về quản lý và giảm nhẹ rủi ro
1.2.3.2 Các phương pháp tiếp cận theo tiêu chính định tính
Các cách tiếp cận theo tiêu chí định tính nhìn chung phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố định tính để xếp hạng ngân hàng thành các nhóm khác nhau phục vụ cho mục đích tính phí BHTG Phương pháp chính được sử dụng là sự phụ thuộc vào một
số hình thức đánh giá giám sát và quản lý hay hệ thống xếp hạng và các nguồn thông tin như các hướng dẫn, các tiêu chuẩn, các thang đo mức độ tuân thủ hoặc những yêu cầu về BHTG hoặc giám sát khác Những đánh giá này thường được thiết kế để đưa
ra chỉ dẫn về điều kiện tài chính hiện tại của một ngân hàng, các thông lệ hoạt động chính, và một số chỉ dẫn về điều kiện và rủi ro tài chính trong tương lai.5F 6 Các hoạt động kiểm tra được thực hiện “tại chỗ”, “từ xa” hoặc kết hợp giữa hai hình thức này
và thông tin thu thập được thông thường được đảm bảo bí mật bởi các thành viên tham gia mạng an toàn Các tiêu chí đánh giá khác nhau giữa các quốc gia nhưng thường bao gồm các phương pháp như CAMEL Mặc dù các phương pháp này có thể bao gồm các yếu tố định lượng, một mức độ đánh giá cao cấp thường được sử dụng trong việc xác định trọng số và các yếu tố định tính như chất lượng quản lý có thể được đặc biệt nhấn mạnh Một hệ thống thu phí phân biệt có thể sử dụng thông tin định tính bổ sung, được phân loại thành "thông tin khác" Thông tin này bao gồm: thông tin nhận được từ cơ quan giám sát ngân hàng hoặc công ty mà ngân hàng có liên quan (chẳng hạn chỉ thị, thư tuân thủ, vv); thông tin và xếp hạng của tổ chức độc lập; quan điểm của các nhà phân tích ngành ngân hàng và các chuyên gia khác; xếp hạng của công ty mẹ, lãi suất các ngân hàng áp dụng và lãi suất thị trường liên ngân
Trang 34hàng; các chỉ số thị trường như biến động giá cổ phiếu và các thông tin có liên quan khác Tuy nhiên, việc sử dụng "thông tin khác" để xếp hạng ngân hàng là tương đối chủ quan Tổ chức BHTG sẽ được yêu cầu sử dụng đánh giá của mình để xác định có hay không các bằng chứng có thể ảnh hưởng lớn hoạt động, sự an toàn và lành mạnh của một ngân hàng Một vấn đề khác là thông tin nhất quán, có thể so sánh đối chiếu
có thể không có sẵn cho tất cả các ngân hàng Ưu điểm của các phương pháp định tính đó là có thể cung cấp thông tin quan trọng về rủi ro hiện tại và trong tương lai của các ngân hàng vốn khó có thể thu thập được nếu chỉ sử dụng các yếu tố định lượng Tuy nhiên, những hệ thống như vậy đều có hạn chế do thông tin thu thập được nhìn chung ít minh bạch, phụ thuộc vào khả năng đánh giá và tính chủ quan nhiều hơn so với các kỹ thuật định lượng Điều này có thể làm gia tăng số lượng những thắc mắc về các hạng mục xếp hạng và có thể khó hơn khi bảo vệ nếu ngân hàng chất vấn Ngoài ra, bản thân các phương pháp định tính cũng không coi trọng đầy đủ đối với những yếu tố định lượng quan trọng (chẳng hạn yếu tố đủ vốn của ngân hàng)
1.2.3.3 Các phương pháp kết hợp tiêu chí định lượng và định tính
Để phân loại ngân hàng, các phương pháp kết hợp sẽ sử dụng cả phương pháp định lượng và định tính Từ những ý kiến đóng góp được tổng hợp trong tài liệu này, các hệ thống kết hợp
1.2.4 Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng kịch bản mô phỏng chi trả tiền gửi được bảo hiểm
a Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hiệu quả hệ thống BHTG
Hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống tài chính ngân hàng, ngày càng có nhiều ngân hàng quy mô lớn có tầm quan trọng hệ thống, việc xây dựng kế hoạch dự phòng và thực hiện diễn tập mô phỏng trong tình huống đổ vỡ chính là cơ
sở quan trọng để các cơ quan quản lý và TCBHTG có thể nhanh chóng phối hợp để ứng phó với tình trạng khẩn cấp, kiểm tra mức độ sẵn sàng và sức chịu đựng của quỹ BHTG khi phát sinh tình huống chi trả hoặc xảy ra khủng hoảng Do đó, IADI đã đưa những nội dung này vào Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hiệu quả hệ thống BHTG như sau:
Trang 35- Tiêu chuẩn 4, Nguyên tắc 6 về Vai trò của TCBHTG trong việc lập kế hoạch
dự phòng và quản lý khủng hoảng nêu: “TCBHTG tham gia vào các hoạt động diễn tập định kỳ về lập kế hoạch dự phòng và mô phỏng liên quan đến việc ứng phó và quản lý khủng hoảng mang tính hệ thống có sự tham gia của tất cả các thành viên trong mạng an toàn tài chính” mà trong đó kế hoạch chi trả và mô phỏng chi trả cũng
là một phần của kế hoạch dự phòng, đặc biệt đối với các ngân hàng quy mô lớn có nguy cơ ảnh hưởng tới toàn hệ thống
- Điểm d, Tiêu chuẩn 5, Nguyên tắc 15 về Chi trả cho người gửi tiền yêu cầu:
“Lên kịch bản và tập dượt, bao gồm tập dượt ngân hàng đóng cửa giả định với sự tham gia của cơ quan giám sát và xử lý.”
Theo kết quả Khảo sát thường niên năm 2018 của IADI, trong tổng số 135 TCBHTG tham gia trả lời khảo sát, có 64 tổ chức (47,4%) thực hiện lập kế hoạch tình huống và diễn tập mô phỏng xử lý, 57 tổ chức (42,2%) không thực hiện, 5 tổ chức (3,7%) trả lời khác, và 9 tổ chức (6,7%) không trả lời câu hỏi này
Hình 2.1: Kết quả khảo sát TCTGBHTG xây dựng và thực hiện kế hoạch mô
Không trả lời
Trang 36Xét đến tầm quan trọng của việc thực hiện diễn tập mô phỏng xử lý đổ vỡ, trong
đó có mô phỏng chi trả, IADI đã có một số hướng dẫn đối với vấn đề này nhằm giúp các TCBHTG có thể xây dựng các kế hoạch dự phòng hoặc chiến lược xử lý hiệu quả tùy theo chức năng nhiệm vụ của từng tổ chức Qua đó, hoàn thiện kế hoạch chi trả, rút ra những bài học kinh nghiệm để có thể thực hiện chi trả một cách nhanh chóng
và hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền
b Hướng dẫn của IADI về vai trò của TCBHTG trong việc lập kế hoạch dự phòng và ứng phó và quản lý khủng hoảng mang tính hệ thống
Đối với một TCBHTG, việc lập kế hoạch dự phòng liên quan đến các bước xác định và quản lý bất kỳ tình huống hoặc cú shock nào có thể ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động bình thường của tổ chức, đòi hỏi các hành động hoặc can thiệp của tổ chức
đó tùy theo quyền hạn của mình cũng như kết hợp với các thành viên khác trong mạng
an toàn tài chính Các TCBHTG cần phải thực hiện một loạt các bài kiểm tra để đánh giá điểm mạnh của hệ thống, quản trị và quá trình ra quyết định khi ứng phó với khủng hoảng Dựa vào kết quả kiểm tra, những điểm yếu trong quá trình và quy trình
sẽ được xác định và sửa chữa
Mỗi TCBHTG lại có chức năng, quyền hạn khác nhau, do vậy phạm vi của kế hoạch và bài kiểm tra cũng khác nhau Các cơ quan có thể thực hiện những bài tập
mô phỏng khủng hoảng để lên kế hoạch ứng phó, trong đó vai trò và hành động của các thành viên liên quan trong mạng an toàn tài chính như Bộ tài chính, ngân hàng trung ương, cơ quan giám sát, cơ quan xử lý và TCBHTG được kiểm tra TCBHTG đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế nguy cơ rút tiền hàng loạt và góp phần ổn định tài chính trong giai đoạn khủng hoảng, cũng như bảo vệ lợi ích của người gửi tiền khi phát sinh tình huống chi trả
Nội dung hướng dẫn liên quan đến lập kế hoạch dự phòng và thực hiện bài tập
mô phỏng khủng hoảng như sau:
- Tất cả các TCBHTG cần phải xây dựng các kế hoạch dự phòng để chuẩn bị ứng phó hiệu quả và phù hợp trong trường hợp xảy ra các tình huống bất thường và đưa ra các lựa chọn để xử lý những tình huống đó, nhằm duy trì hoạt động thường ngày và thực hiện các nhiệm vụ như chi trả, cấp vốn, thu hồi và xử lý, và truyền thông
Trang 37- Để có thể thực hiện hiệu quả kế hoạch dự phòng, TCBHTG cần phải phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý, ví dụ như nhân sự (trong tổ chức hoặc thuê ngoài), chuyên môn kỹ thuật và nguồn vốn
- Kế hoạch dự phòng cần được TCBHTG diễn tập một cách thường xuyên nhất
là đối với các nội dung quan trọng Tần suất của việc diễn tập nên được quyết định dựa trên tính chất và mức độ quan trọng của từng nội dung chính yếu TCBHTG cần duy trì một lịch trình các bài kiểm tra cần thực hiện trong khoảng thời gian đã lên kế hoạch
- TCBHTG nên thực hiện các bài diễn tập dưới các hình thức khác nhau Tình huống kiểm tra sức chịu đựng có thể được xây dựng dựa trên các giả định tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng, từ đổ vỡ đơn lẻ đến toàn hệ thống Những điểm yếu quan sát được trong quá trình kiểm tra cần được sửa chữa và rút bài học kinh nghiệm phải được ghi lại như một phần của kế hoạch
- Tất cả các TCBHTG nên xây dựng một chiến lược truyền thông như một phần của kế hoạch dự phòng và được định kỳ kiểm tra, sửa đổi khi cần thiết Chiến lược truyền thông cho các tình huống dự phòng và khủng hoảng cần nhắm tới và có sự tham gia của tất cả các bên liên quan, thành viên mạng an toàn tài chính, phương tiện truyền thông, v.v
- Có cơ chế chia sẻ thông tin hiệu quả với các thành viên trong mạng an toàn tài chính, và điều này cần được nêu rõ ràng và chính thức hóa thông qua các văn bản pháp luật, quy định hoặc biên bản ghi nhớ hợp tác
- TCBHTG nên tham gia vào các diễn tập mô phỏng khủng hoảng để chuẩn bị cho khủng hoảng mang tính toàn hệ thống Những bài tập mô phỏng này cần được lên kế hoạch và thực hiện thường xuyên
Điều kiện tiên quyết đối với khung kế hoạch dự phòng là các TCBHTG phải có sẵn các công cụ và quy trình cần thiết (khả năng hoạt động) để thực hiện các hoạt động bình thường theo quy định Có một số chức năng phổ biến đối với tất cả các TCBHTG, ví dụ như chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền Tất cả các TCBHTG cần phải có khả năng để xác định tình huống nào yêu cầu họ phải chi trả cho người gửi tiền, và đảm bảo có đủ nguồn vốn cho việc đó
Trang 38Xây dựng kế hoạch chi trả
Chi trả là một trong những hoạt động chính của các TCBHTG không phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức đó Các TCBHTG nên có đủ các công cụ và quy trình cần thiết để xử lý khoản chi trả thông thường của mình Ngoài ra, các TCBHTG cần xây dựng kế hoạch dự phòng được thiết kế để đối phó với các khoản chi trả lớn hơn khi xảy ra tình huống bất thường
Các TCBHTG nên có sự chuẩn bị trong trường hợp thông tin từ các nguồn truyền thống liên quan đến quy mô tiền gửi, quyền sở hữu, v.v không có sẵn nhất là trong giai đoạn khủng hoảng Nhu cầu về dữ liệu có thể trở nên lớn hơn trong khủng hoảng và cần cho một vài ngân hàng cùng một lúc Một số TCBHTG có khả năng tự tạo dữ liệu SCV- Quản lý khách hàng cá nhân, trong khi một số khác phải dựa vào thông tin thu thập được từ ngân hàng hoặc cơ quan giám sát Dù hệ thống như thế nào cũng cần phải được kiểm tra định kỳ về khả năng xử lý các tình huống bất thường Diễn tập tình huống về hệ thống thu thập dữ liệu sẽ đảm bảo rằng TCBHTG có thể trích suất hồ sơ người gửi tiền “sạch” trong khoảng thời gian ngắn và tìm cách khắc phục hồ sơ xấu
Tất cả các TCBHTG cần phải kiểm tra năng lực kỹ thuật của mình để có thể chi trả nhanh chóng trong tình huống bất ngờ xảy ra Các kênh có thể được kiểm tra bao gồm việc phát hành và phân phối séc, ATM, ngân hàng ủy quyền, chuyển khoản trực tuyến hoặc các phương thức khác Những hệ thống như vậy cần được kiểm tra để đề phòng tình huống đổ vỡ của nhiều ngân hàng cùng lúc hoặc một ngân hàng có quy
mô lớn
Kịch bản kiểm thử
TCBHTG có thể thực hiện các mô phỏng nội bộ đối với một số hoạt động của mình, cũng như diễn tập phối hợp với các thành viên khác trong mạng an toàn tài chính, ví dụ như mô phỏng chi trả, kịch bản cấp vốn, và phương thức xác định chiến lược xử lý (đối với mô hình giảm thiểu tổn thất và giảm thiểu rủi ro) Các nhân tố quyết định đối với một mô phỏng thành công là: (i) có sự tham gia của quản lý cấp cao; (ii) xác định các vấn đề trọng tâm cần giải quyết; (iii) xác định rõ các giả định
và các điều kiện sẵn có; và (iv) sử dụng cân bằng cả dữ liệu định tính và định lượng
Trang 39Kịch bản kiểm thử có thể giúp xây dựng kế hoạch hành động dựa trên những bài học kinh nghiệm được rút ra
Mô phỏng
Các TCBHTG có chức năng giới hạn có thể cần phải thực hiện chi trả nhiều lần Những tổ chức này cần đảm bảo có đủ nguồn vốn dự phòng trong trường hợp nhu cầu chi trả quá lớn Các TCBHTG có nhiều quyền hạn hơn nên diễn tập nhiều lựa chọn xử lý khác nhau, nhất là đối với những ngân hàng lớn có tầm quan trọng hệ thống, TCBHTG có thể kiểm tra mức độ hiệu quả của các kế hoạch khác nhau thông qua thực hiện mô phỏng
Theo Kết quả khảo sát của Ủy ban Kỹ thuật về các nội dung được kiểm tra, diễn tập được thực hiện bởi 37 thành viên IADI có xây dựng kế hoạch dự phòng dưới hình thức này hoặc hình thức khác, trong đó:
• 31 tổ chức kiểm tra mức độ đủ vốn của quỹ BHTG
• 34 tổ chức kiểm tra thông tin người gửi tiền (hệ thống SCV)
• 32 tổ chức kiểm tra khả năng chi trả tiền gửi được bảo hiểm
c Hướng dẫn nâng cao của IADI về hệ thống và quy trình chi trả hiệu quả Hướng dẫn nâng cao của IADI về Hệ thống và quy trình chi trả hiệu quả cũng nêu rõ mặc dù cơ sở hạ tầng là rất quan trọng, việc TCBHTG tự tin rằng tất cả các quy trình chi trả sẽ được thực hiện như kỳ vọng trong một kịch bản “trực tiếp” cũng quan trọng không kém Để làm được điều này, IADI đồng ý kiểm tra theo định kỳ độ sẵn sàng của nghiệp vụ thông qua các bài diễn tập mô phỏng đối với một số hoặc toàn
bộ chức năng chi trả, bao gồm sự sẵn sàng của các ngân hàng trong việc cung cấp thông tin chính xác về người gửi tiền trong khung thời gian quy định
Trang 40CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN XÂY DỰNG KỊCH BẢN MÔ PHỎNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM
2.1 Khái quát về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
2.1.1 Khái quát về các bộ phận thực hiện chi trả bảo hiểm tiền gửi
2.1.1.1 Tại Trụ sở chính
Hình 2.1 – Tổ chức bộ máy hoạt động chi trả BHTG tại Trụ sở chính
Nguồn: Quốc hội (2012), Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13, ban hành ngày
18/6/2012, Hà Nội