Nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông, lâm nghiệp hai huyện biên giới Việt Lào thuộc tỉnh Kon Tum.Nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông, lâm nghiệp hai huyện biên giới Việt Lào thuộc tỉnh Kon Tum.Nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông, lâm nghiệp hai huyện biên giới Việt Lào thuộc tỉnh Kon Tum.Nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông, lâm nghiệp hai huyện biên giới Việt Lào thuộc tỉnh Kon Tum.Nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông, lâm nghiệp hai huyện biên giới Việt Lào thuộc tỉnh Kon Tum.
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, khách quan và được trích dẫn đúng quy định Những kết quả nghiên cứu của đề tài luận án chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận án
Phan Hoàng Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án "Nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông, lâm
nghiệp hai huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum" được hoàn thành tại
Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS Lại Vĩnh Cẩm Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến
Thầy - Người đã tận tâm, thường xuyên dạy bảo, khuyến khích, động viên và giúp
đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận án
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến
của quý thầy cô giáo, các nhà khoa học trong Khoa Địa lí - Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội và các cơ quan khoa học như: Viện Địa lí - Viện Hàn lâm Khoa học và Công
nghệ Việt Nam; Khoa Địa lí - Trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia
Hà Nội; Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội; Viện sinh thái nhiệt đới -
Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga; Khoa Địa lí - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái
Nguyên; Khoa Lịch sử và Địa lí - Trường Đại học Tây Bắc; Bộ môn sư phạm Địa lí -
Khoa Sư phạm - Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung
tâm Thông tin và Thư viện, Bộ môn Địa lí tự nhiên, Ban Chủ nhiệm Khoa Địa lí
của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Sư
phạm, Ban chủ nhiệm Bộ môn Địa lí - Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện
thuận lợi nhất để tác giả học tập, nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành đề tài luận án
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Viện Địa lí - Viện Hàn lâm Khoa học và
Công nghệ Việt Nam đã thực hiện đề tài khoa học có mã số TN3/T12, đề tài có nội
dung liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết
ơn các đồng nghiệp ở tỉnh Kon Tum đã hợp tác, giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình
nghiên cứu, khảo sát thực địa tại địa phương
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến đồng nghiệp, bạn bè và
gia đình đã động viên rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận án
Phan Hoàng Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 2
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 3
5 CƠ SỞ TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 4
6 NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ CỦA LUẬN ÁN 4
7 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 4
8 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 5
9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 6
1.1.1 Các công trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan 6
1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 11
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM NGHIỆP 18
1.2.1 Lý luận về nghiên cứu cảnh quan 18
1.2.2 Lý luận chung về đánh giá cảnh quan 25
1.2.3 Định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp 26
1.3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU 28
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 28
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
1.3.3 Các bước nghiên cứu 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37
Trang 6CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN HAI HUYỆN BIÊN GIỚI VIỆT - LÀO
THUỘC TỈNH KON TUM
2.1 ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN 38
2.1.1 Vị trí địa lí 38
2.1.2 Địa chất 39
2.1.3 Địa hình - địa mạo 42
2.1.4 Khí hậu 47
2.1.5 Thủy văn 52
2.1.6 Thổ nhưỡng 54
2.1.7 Thảm thực vật và tài nguyên thực vật 59
2.1.8 Hoạt động nhân sinh 66
2.2 HỆ THỐNG PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐƠN VỊ CẢNH QUAN 71
2.2.1 Hệ thống phân loại và bản đồ cảnh quan 71
2.2.2 Đặc điểm các đơn vị cảnh quan 74
2.3 CHỨC NĂNG CẢNH QUAN 88
2.3.1 Chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường 89
2.3.2 Chức năng khai thác phát triển kinh tế 91
2.4 ĐỘNG LỰC CẢNH QUAN 93
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 96
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP HAI HUYỆN BIÊN GIỚI VIỆT - LÀO THUỘC TỈNH KON TUM 3.1 ĐÁNH GIÁ THÍCH NGHI CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP 97
3.1.1 Cơ sở đánh giá thích nghi sinh thái 97
3.1.2 Đánh giá cảnh quan đối với ngành nông nghiệp 100
3.1.3 Đánh giá cảnh quan đối với lâm nghiệp 107
3.1.4 Đánh giá tổng hợp và phân hạng ưu tiên phát triển nông lâm nghiệp 117
3.2 ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÙNG CHUYÊN CANH CÂY LÂU NĂM 118
3.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng và đơn vị đánh giá 118
3.2.2 Nguyên tắc, quy trình và phương pháp đánh giá 119
3.2.3 Đánh giá và phân hạng thích nghi sinh thái đối với cây lâu năm 121
Trang 73.2.4 Đánh giá tổng hợp, định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây
lâu năm 136
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 145
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
PHỤ LỤC 155
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ALES : Hệ thống đánh giá tự động đất
(Automated Land Evaluation System)
GIS : Hệ thống thông tin địa lý
(Geographic Information System)
KT - XH : Kinh tế - Xã hội
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Một số yếu tố khí hậu ở Đắk Glei và Ngọc Hồi 48
Bảng 2.2 Tổng hợp các kết quả phân tích đất xám đỏ vàng điển hình 55
Bảng 2.3 Tổng hợp các kết quả phân tích đất xám mùn tích nhôm 56
Bảng 2.4 Tổng hợp các kết quả phân tích đất xám có tầng sỏi sạn 57
Bảng 2.5 Tổng hợp các kết quả phân tích đất phù sa 58
Bảng 2.6 Thành phần dân tộc cư trú trên khu vực nghiên cứu 67
Bảng 2.7 Hệ thống phân loại cảnh quan hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi 71
Bảng 3.1 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá cho sản xuất nông nghiệp 100
Bảng 3.2 Xác định trọng số các chỉ tiêu đánh giá đối với sản xuất nông nghiệp 102
Bảng 3.3 Bảng chuẩn đánh giá riêng các chỉ tiêu đối với sản xuất nông nghiệp 103
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá mức độ thích nghi đối với sản xuất nông nghiệp 104
Bảng 3.5 Diện tích mức độ thích nghi đối với sản xuất nông nghiệp theo xã 105
Bảng 3.6 Xác định trọng số các chỉ tiêu đánh giá đối với rừng phòng hộ 108
Bảng 3.7 Bảng chuẩn đánh giá riêng các chỉ tiêu đối với rừng phòng hộ 109
Bảng 3.8 Xác định trọng số các chỉ tiêu đánh giá đối với rừng sản xuất 111
Bảng 3.9 Bảng chuẩn đánh giá riêng các chỉ tiêu đối với rừng sản xuất 111
Bảng 3.10 Kết quả đánh giá cảnh quan đối với yêu cầu rừng phòng hộ 112
Bảng 3.11 Diện tích mức độ yêu cầu đối với rừng phòng hộ theo xã 113
Bảng 3.12 Kết quả đánh giá mức độ ưu tiên đối với rừng sản xuất 115
Bảng 3.13 Diện tích mức độ ưu tiên đối với rừng sản xuất theo xã 116
Bảng 3.14 Kết quả đánh giá tổng hợp ưu tiên phát triển đối với nông lâm 117
Bảng 3.15 Xác định trọng số các chỉ tiêu đánh giá đối với cây trồng lâu năm 124
Bảng 3.16 Bảng chuẩn đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cà phê chè 125
Bảng 3.17 Bảng chuẩn đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cây cao su 126
Bảng 3.18 Bảng chuẩn đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cây bời lời 126
Bảng 3.19 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái đối với cây cà phê chè 128
Bảng 3.20 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái đối với cây cà phê chè theo xã 129
Bảng 3.21 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái đối với cây cao su 131
Bảng 3.22 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái đối với cây cao su theo xã 132
Bảng 3.23 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái đối với cây bời lời 134
Trang 10Bảng 3.24 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái đối với cây bời lời theo xã 135 Bảng 3.25 Xác định trọng số các chỉ tiêu đánh giá vùng chuyên canh 137 Bảng 3.26 Bảng chuẩn đánh giá các chỉ tiêu đối với vùng chuyên canh 138 Bảng 3.27 Kết quả đánh giá tổng hợp, định hướng phát triển các vùng chuyên canh
cây lâu năm 139
Bảng 3.28 Định hướng phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm theo xã 140 Bảng 3.29 Định hướng phát triển vùng lõi chuyên canh cây lâu năm theo xã 142 Bảng 3.30 Định hướng không gian mở rộng các vùng chuyên canh cây lâu năm 144
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.13 : Chú giải bản đồ dạng cảnh quan hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi Sau trang 79
Hình 3.4 : Bản đồ đánh giá tổng hợp, ưu tiên phát triển nông lâm nghiệp Sau trang 117
Hình 3.9 : Bản đồ định hướng không gian phát triển vùng chuyên canh cây lâu
Hình 3.10 : Bản đồ định hướng không gian phát triển vùng lõi và vùng mở rộng chuyên canh cây lâu năm hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi Sau trang 141
Hình 3.11 : Bản đồ tổng hợp định hướng không gian phát triển nông, lâm nghiệp hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi Sau trang 144
Trang 12MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Mỗi lãnh thổ chỉ thích hợp với mức độ khác nhau cho một số loại hình sử dụng, và ngược lại mỗi dạng sử dụng có thể phù hợp ở một số địa bàn nhất định Để
có cơ sở khoa học cho việc lựa chọn lãnh thổ thích hợp nhất đối với các mục tiêu sử dụng khác nhau, nghiên cứu cảnh quan là nội dung phù hợp làm tăng giá trị và hiệu quả của công tác điều tra cơ bản điều kiện tự nhiên và tài nguyên [17]
Nằm ở ngã ba Đông Dương, Đắk Glei và Ngọc Hồi là hai huyện miền núi biên giới của tỉnh Kon Tum nằm về phía bắc và phía tây của tỉnh Kon Tum, có diện tích
tự nhiên 2.339,06 km2, có đường biên giới chung dài 130km với hai huyện Sanxai
và Phuvong của tỉnh Attapeu, nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Khu vực nghiên cứu giữ vai trò quan trọng trong an ninh quốc phòng của cả hai nước Việt – Lào và trong phát triển KT – XH, nhất là kinh tế biên mậu giữa Hạ Lào và miền Trung Việt Nam Địa hình khu vực Đắk Glei và Ngọc Hồi đa dạng với sự đan xen của núi, cao nguyên, đồi, đồng bằng và thung lũng Tiềm năng về đất đai, khí hậu, sinh vật phong phú, có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là phát triển nông - lâm nghiệp Tuy nhiên, việc quan tâm đầu tư để khai thác các nguồn lực của địa phương phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay còn chưa tương xứng Công tác khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó còn thiếu tính lâu dài và đồng bộ trên toàn khu vực, thiếu những cơ sở khoa học Cho đến nay khu vực Đắk Glei và Ngọc Hồi vẫn còn là vùng đất nghèo, một phần
do địa hình núi cao, chia cắt sâu, đường đi lại khó khăn là những trở ngại chính đối với cư dân địa phương trong việc tiếp cận với các khu vực phát triển ở ngoài vùng Mặt khác, phần lớn dân cư sinh sống chủ yếu là dựa vào khai thác các dạng tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất và tài nguyên rừng, gây ra sức ép lớn đối với các hệ sinh thái, làm tăng tốc độ biến đổi cảnh quan khu vực nghiên cứu, nhiều cảnh quan tự nhiên biến đổi thành những cảnh quan tái sinh, cảnh quan nuôi trồng nhân tạo
Trang 13Để giảm thiểu tác động tiêu cực lên tự nhiên, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho các cộng đồng dân tộc ít người, đảm bảo phát triển bền vững vùng biên giới Việt – Lào, vấn đề cấp bách đặt ra đối với khu vực lãnh thổ này là cần có một chiến lược phát triển tổng thể với những giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng của hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi Do đó, việc nghiên cứu và đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng bền vững là rất cần thiết Trên cơ sở
đó chúng ta có được bức tranh tổng thể và chi tiết về các mức độ thuận lợi hay không thuận lợi của từng đơn vị cảnh quan cho mục đích phát triển từng ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp), các loại cây trồng ưu thế ở địa phương Đây sẽ là cơ sở khoa học giúp cho địa phương lập quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, sử dụng để rà soát và điều chỉnh các chính sách phát triển nông lâm nghiệp trong những năm tiếp theo
Với mong muốn được góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của hai huyện biên giới Việt - Lào của tỉnh Kon Tum trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập, đồng thời nhằm góp phần bổ sung, nâng cao kiến thức
để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học của bản thân, nghiên
cứu sinh đã chọn đề tài: “Nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông, lâm nghiệp hai huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum”
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Xác định được các quy luật phát sinh, đặc điểm phân hóa, cấu trúc, chức năng của cảnh quan nhằm xác lập căn cứ khoa học cho định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp, vùng chuyên canh đối với 3 loài cây lâu năm điển hình, có ưu thế (cà phê chè, cao su, bời lời) tại hai huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum (Đắk Glei và Ngọc Hồi)
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các nhiệm vụ chủ yếu được đặt ra:
Trang 14(i) Xây dựng cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp, các vùng chuyên canh cây lâu năm hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi
(ii) Nghiên cứu đặc trưng, vai trò các nhân tố thành tạo cảnh quan, xây dựng
hệ thống phân loại và thành lập bản đồ cảnh quan hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi (iii) Phân tích đặc điểm đơn vị phân loại cảnh quan hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi
(iv) Đánh giá thích nghi sinh thái và xác lập không gian ưu tiên phát triển nông lâm nghiệp hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi
v) Đánh giá thích nghi sinh thái đối với cây lâu năm và xác lập không gian ưu tiên phát triển vùng chuyên canh hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
4.1 Không gian nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu gồm hai huyện biên giới tỉnh Kon Tum giáp với CHDCND Lào có tổng diện tích tự nhiên là 2.339,06 km2 và 20 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn, trong đó huyện Đắk Glei có diện tích 1.495,26 km2 với 11 xã và 1 thị trấn; huyện Ngọc Hồi có diện tích 843,8 km2 với 7 xã và 01 thị trấn
4.2 Phạm vi khoa học
Với mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, luận án giới hạn những nội dung chủ yếu sau: (i) Nghiên cứu đặc điểm cảnh quan hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi ở tỉ lệ 1:50.000
(ii) Đánh giá thích nghi sinh thái đối với nông lâm nghiệp, với đơn vị cơ sở là loại cảnh quan Định hướng phát triển nông lâm nghiệp theo loại cảnh quan, theo đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã
(iii) Đánh giá thích nghi sinh thái để phát triển các vùng chuyên canh 3 loại cây lâu năm, với đơn vị cơ sở là dạng cảnh quan Định hướng phát triển vùng chuyên canh theo dạng cảnh quan và theo đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã
Trang 155 CƠ SỞ TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Cơ sở tài liệu thực hiện luận án bao gồm:
- Tư liệu khoa học: gồm các sách chuyên khảo, bài báo khoa học về lý thuyết
và ứng dụng trong các lĩnh vực nghiên cứu của luận án; các đề tài, dự án nghiên cứu tại huyện Đắk Glei, Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum và khu vực Tây Nguyên
- Tư liệu bản đồ: hệ thống bản đồ được kế thừa từ đề tài TN3/T12 thuộc
Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước Tây Nguyên III (bản
đồ địa chất, bản đồ địa mạo, bản đồ sinh khí hậu, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ thảm thực vật ); Bản đồ thổ nhưỡng từ Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp; Bản đồ hiện trạng rừng của Viện Điều tra Quy hoạch rừng - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
- Các tài liệu do nghiên cứu sinh thực hiện tại lãnh thổ nghiên cứu: các bài báo và báo báo khoa học đã công bố trên Tạp chí Khoa học và kỉ yếu Hội nghị Địa
lý toàn quốc Các số liệu, kết quả khảo sát, điều tra thực địa trong quá trình thực hiện luận án trong giai đoạn 2013 - 2018
6 NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ CỦA LUẬN ÁN
Luận điểm 1: Nằm ở khu vực khởi đầu của dãy Trường Sơn nam, với sự phân
hóa phức tạp, đa dạng của các nhân tố thành tạo cảnh quan, trong đó nhân tố địa hình thông qua sự chi phối của quy luật đai cao đóng vai trò chủ đạo, tại khu vực nghiên cứu đã hình thành 2 kiểu, 3 lớp, 7 phụ lớp, 14 hạng, 67 loại, 236 dạng cảnh quan
Luận điểm 2: Các kết quả đánh giá tổng hợp cảnh quan là cơ sở khoa học quan
trọng để đề xuất định hướng tổ chức không gian ưu tiên phát triển nông lâm nghiệp nói chung và định hướng phát triển vùng chuyên canh cho 3 loại cây điển hình, có hiệu quả kinh tế tại khu vực nghiên cứu
7 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
(i) Phát hiện và làm rõ tính quy luật hình thành, phân hóa cảnh quan khu vực nghiên cứu: xây dựng được bản đồ cảnh quan tỉ lệ 1:50.000 theo 8 cấp phân vị, với đơn vị cơ sở là cấp dạng cảnh quan, thể hiện khách quan sự phân hóa và phân bố có quy luật của các đơn vị cảnh quan khu vực nghiên cứu
Trang 16(ii) Xác định được các mức độ thích nghi và định hướng không gian phát triển nông, lâm nghiệp (trong đó có cây công nghiệp dài ngày) trên cơ sở phân tích, đánh giá cảnh quan: xây dựng thành công các bản đồ tỷ lệ 1:50.000 định hướng không gian ưu tiên phát triển nông, lâm nghiệp theo kết quả đánh giá các loại cảnh quan và bản đồ định hướng không gian ưu tiên phát triển các vùng chuyên canh 3 cây trồng lâu năm chính theo kết quả đánh giá các dạng cảnh quan tại khu vực nghiên cứu
8 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo tin cậy trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập phần địa lí địa phương ở huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi
9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án bao gồm phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh Nội dung chính của luận án được trình bày trong 3 chương với 147 trang đánh máy cùng 37 bảng số liệu in ở khổ giấy A4 và 18 bản đồ chuyên đề in khổ giấy A3, bao gồm:
Chương 1 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu cảnh quan phục vụ định
hướng phát triển nông lâm nghiệp
Chương 2 Đặc điểm cảnh quan hai huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum Chương 3 Đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông lâm nghiệp hai
huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.1.1 Các công trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan
1.1.1.1 Nghiên cứu lý thuyết về cảnh quan
Trên thế giới, từ khi ra đời cho đến nay khoa học cảnh quan (CQ) đã có những bước phát triển mạnh mẽ, có rất nhiều công trình của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau Đó là những công trình của các nhà cảnh quan học Nga và một số nước thuộc Liên Xô trước đây, tiếp sau là các tác giả theo trường phái cảnh quan của các nước Phương Tây và Bắc Mỹ
Trong những công trình của các nhà cảnh quan học Nga, CQ được xem xét
là một nội dung của địa lý tự nhiên Khái niệm CQ được xem xét ở cả ba khía cạnh: i) CQ là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên, có nội dung xác định và chỉ tiêu rõ ràng, thể hiện mối quan hệ tương hỗ của các hợp phần tự nhiên trong một lãnh thổ nhất định, được đề cập trong công trình của L.C.Berg [49], N.A.Solxev [70], A.G.Ixatsenko [20], [21] ii) CQ là đơn vị mang tính kiểu loại, là sự thống nhất biện chứng của các hợp phần tự nhiên, như một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, được xem xét không phụ thuộc vào phạm vi phân bố và có
sự lặp lại trong không gian, được thể hiện trong các công trình của B.B.Polưnov, Markov, Perelman, N.A.Gvozdexki… iii) CQ là một khái niệm chung có thể dùng cho mọi đơn vị phân loại và phân vùng ở bất kỳ lãnh thổ nào, thể hiện trong nghiên cứu của F.N Minkov, D.L.Armand Trong đó, quan điểm cá thể
và kiểu loại trong nghiên cứu cảnh quan (NCCQ) đã có những ảnh hưởng lớn đến NCCQ ở Việt Nam
Trang 18Trong những công trình của các nhà cảnh quan học Phương Tây và Bắc
Mỹ, CQ cũng được xem xét nhiều góc độ khác nhau: i) CQ là khái niệm chung, cảnh quan là tổng hợp thể bao gồm tổ hợp giữa đường nét sơn văn của địa hình, lớp phủ mặt đất tạo nên “phong cảnh” và những giá trị tinh thần mà con người cảm nhận được, những giá trị chức năng của cảnh quan [44] ii) CQ được coi như một hệ thống “sinh thái - xã hội” phức tạp, đòi hỏi có sự tiếp cận liên ngành và
đa tỷ lệ Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của Tress Bärbel, Tress Gunther (2001), Wu (2006), Naveh (2007), Wu và Hobbs (2007), Bloemers (2010), Axelsson (2011, 2013), Angelstam (2013)… đều cho rằng tiếp cận liên ngành và phương pháp tích hợp trong NCCQ là hết sức cần thiết, vì nó mang lại những lợi ích to lớn trong việc phát triển bền vững hệ thống “sinh thái - xã hội”, cho phép đưa ra các giải pháp hữu hiệu trong quản lý và sử dụng CQ [26], [47], [46], [45], [50], [67], [72]
Ở Việt Nam, tiếp thu những thành tựu NCCQ của thế giới từ những năm 60 của thế kỷ XX, đến nay nghiên cứu lý thuyết về CQ đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật với các quan niệm chủ yếu về CQ như sau: i) CQ là tổng hợp thể tự nhiên Quan niệm này được phản ánh trong các công trình nghiên cứu của Vũ Tự Lập, 1976) [23], Nguy n Cao Huần, 1992 [14], Phạm Hoàng Hải, 1997 [8]… ii) CQ là cá thể địa lý Quan niệm này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu cảnh quan địa
lý miền Bắc của Vũ Tự Lập (1976) [23], "sau này các nhà cảnh quan học Việt Nam cũng đã "cá thể hóa" các vùng cảnh quan cho lãnh thổ Việt Nam (Phạm Hoàng Hải
và nnk, 1997), miền Nam Việt Nam (Trương Quang Hải, 1991), lãnh thổ Thuận Hải (Bình Thuận và Ninh Thuận) (Nguy n Cao Huần, 1992)" [14] iii) Cảnh quan là đơn vị kiểu loại Ở Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu cảnh quan theo quan niệm này và tiến hành xây dựng hệ thống phân loại, chỉ tiêu cho các cấp phân loại trên lãnh thổ cả nước hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau, tiêu biểu là các công trình của Phạm Quang Anh và nnk (1985) [1], Trương Quang Hải (1991) [61], Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) [8], Nguy n Cao Huần 1992 [14], Nguy n Ngọc Khánh (1992) [22], Phạm Quang Anh (1996) [2], Phạm Quang Tuấn (2003) [30], Nguy n An Thịnh (2007) [35], Đỗ Văn Thanh (2011) [34]…
Trang 19Có thể nhận thấy: Có những quan niệm khác nhau về cảnh quan trong hệ
thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tuy nhiên hầu hết các quan niệm về cảnh quan đều coi cảnh quan là một tổng hợp thể tự nhiên, là một địa hệ thống ở các cấp khác nhau, vừa mang tính cá thể, vừa mang tính kiểu loại
Trong luận án, tác giả đã kế thừa có chọn lọc và vận dụng các quan niệm
về CQ khi nghiên cứu CQ áp dụng cho hai huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum Cụ thể, luận án sử dụng quan niệm CQ là đơn vị mang tính kiểu loại
khi thành lập bản đồ cảnh quan hai huyện Đắc Glei và Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum 1.1.1.2 Nghiên cứu cảnh quan ứng dụng
Để đáp ứng nhu cầu của thực ti n sản xuất, khoa học cảnh quan được ứng dụng ngày càng nhiều trong nhiều lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực nông lâm nghiệp, khai thác sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường
Trên thế giới, các NCCQ ứng dụng thể hiện ở nhiều khía cạnh và thống nhất kết quả của NCCQ chính là cơ sở tin cậy để đưa ra các chính sách phát triển phù hợp cho các lãnh thổ: i) Hướng NCCQ đánh giá tổng hợp các yếu tố cho mục đích phát triển kinh tế ở các lãnh thổ cụ thể, hiện trong các công trình của Bastian (2000) [48], Brown và nnk (2011) [50], Frondoni và nnk (2011) [57], Levin (2007) [64], Veerle Van Eetvelde, Antrop M (2004) [74]… ii) Hướng NCCQ cho việc sử dụng hợp lý các lưu vực sông, thể hiện trong các công trình của Fujihara M., Kikuchi T (2005) [58], Matsushita Bunkei, Xu Ming, Fukushima Takehiko (2006) [66]… iii) Hướng NCCQ tập trung vào sự thay đổi
CQ rừng, CQ thung lũng, CQ nông nghiệp… thể hiện trong các công trình của Fukamachi Katsue và nnk (2000) [60], Ueda Hirofumi và nnk (2012) [73], Fujihara Michiro và nnk (2005) [59], Wu Jun-Xi và nnk (2009) [76], Hong S He
và nnk (2002) [62], Lubo G và nnk (2011) [65]… iv) Hướng NCCQ gắn với quy hoạch không gian và bảo vệ môi trường, thể hiện trong các công trình của Bastian Olaf (2000) [48], Schmid A.W (2001) [68], René Tissen - Frank Lekanne Deprez (2008) [72], Carolin Gallera và nnk (2016) [51]… v) Hướng NCCQ ứng dụng tạo cơ sở khoa học cho công tác thiết kế cảnh quan văn hóa Tiêu biểu nhất cho hướng nghiên cứu này là các công trình Cảnh quan học ứng
Trang 20dụng của Ixatsenko A.G (1985) [21] Công trình này đã nêu lên các phương hướng
và phương pháp NCCQ ứng dụng trong tổ chức cảnh quan văn hóa; đồng thời chỉ
ra những vấn đề phức tạp liên quan đến việc sử dụng hợp lí, bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên của xã hội loài người vi) Hướng NCCQ liên vùng, liên quốc gia được thể hiện trong các công trình của Bloemers (2010), Potschin (2012), Angelstam (2013) [47], [46]… vii) Hướng NCCQ liên quan đến vùng chuyên canh Đây là hướng nghiên cứu nhằm duy trì an ninh năng lượng và lương thực, đảm bảo các mục tiêu môi trường trong khi vẫn duy trì tính bền vững trong quy hoạch sử dụng đất Tiêu biểu là các công trình của Chunlong Shi và nnk (2011) [53], Yanming Zhang và nnk (2011) [77], David Pimentel và nnk (2012) [55], Erickson và nnk (2013) [54], Kaixian Wu và Bozhi Wu (2014) [63], Niemmanee và nnk (2015) [71], Semporea và nnk (2015) [69], Chiara Vallebona và nnk (2016) [52]
Ở Việt Nam, nhiều công trình đã gắn kết nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng CQ trong sử dụng hợp lý TNTN và BVMT: i) Hướng NCCQ ứng dụng chú trọng vào phân tích cấu trúc CQ cho sử dụng hợp lý TNTN và BVMT Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có công trình của Phạm Quang Anh (1996) [2], Trương Quang Hải và nnk (2008) [10], [11], Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) [8], Nguy n Cao Huần (2005) [17]… ii) Hướng NCCQ, ĐGCQ định hướng phát triển nông lâm nghiệp ở các lãnh thổ Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là những công trình của các tác giả:
"Nguy n An Thịnh (2007), đã hoàn thành luận án “Phân tích cấu trúc Sinh thái cảnh quan phục vụ phát triển bền vững nông, lâm nghiệp và du lịch huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” Bùi Thị Mai (2010), hoàn thành luận án “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ sử dụng hợp lí lãnh thổ lưu vực sông Ba” Trương Quang Hải (2010), có nghiên cứu “Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông lâm nghiệp và du lịch tại khu vực có núi đá vôi tỉnh Ninh Bình” Đỗ Văn Thanh (2011), hoàn thành luận án “Đánh giá tổng hợp môi trường sinh thái phục vụ quy hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững tỉnh Bắc Giang” Trương Thị
Tư (2011), hoàn thành luận án “Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Bình” Trần Anh Tuấn (2013), hoàn thành luận án “Nghiên cứu xác lập cơ sở địa lí phục vụ phát triển kinh tế và sử
Trang 21dụng hợp lí tài nguyên huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” Dương Thị Nguyên
Hà (2013), hoàn thành luận án “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi” Nguy n Minh Nguyệt (2014), hoàn thành luận án “Cơ sở cảnh quan học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Hà Tĩnh” Nguy n Ánh Hoàng (2016), hoàn thành luận án “Phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất nông, lâm nghiệp và du lịch tỉnh Yên Bái”" [29]
iii) Hướng NCCQ liên quan đến vùng chuyên canh Đây là hướng nghiên cứu được quan tâm trong những năm gần đây Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học
để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp, nhằm sử dụng hiệu quả các lợi thế của từng địa phương Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là những công trình của các tác giả: Nguy n Cao Huần và nnk (2000, 2004), nghiên cứu “Tiếp cận kinh tế sinh thái trong đánh giá, quy hoạch cảnh quan cây công nghiệp dài ngày” và “Tích hợp ALES - GIS trong đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển cây trồng nông, lâm nghiệp huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” [16] Phạm Quang Tuấn (2006), nghiên cứu “Đánh giá kinh tế sinh thái cảnh quan đối với các loại hình sử dụng đất trồng cây ăn quả huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn” [30], [31] Trương Quang Hải (2008), đã hoàn thành đề tài
“Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên và phát triển bền vùng vùng núi đá vôi Ninh Bình” Tác giả đã xây dựng hệ thống phân loại CQ gồm 4 cấp phân vị, trong đó dạng CQ là đơn vị cơ sở để đánh giá thích nghi sinh thái cho một số cây trồng điển hình của vùng núi đá vôi tỉnh Ninh Bình [10] Hà Văn Hành và nnk (2012), đã “Đánh giá thích nghi sinh thái CQ và
đề xuất quy hoạch phát triển các vùng chuyên canh hàng hóa khu vực gò đồi tỉnh Quảng Bình” [12] Ngoài ra, còn rất nhiều các nghiên cứu về vùng chuyên canh cây trồng ở các tỉnh của Đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng Sông Hồng, vùng Đông Nam Bộ Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho các địa phương tiến hành nghiên cứu và quy hoạch vùng chuyên canh trong sản xuất nhằm tăng giá trị của các sản phẩm nông nghiệp, sử dụng hiệu quả lợi thế của vùng
Các NCCQ ứng dụng hiện nay ở Việt Nam đang chú trọng nhiều đến các vấn đề thực ti n ở từng lãnh thổ cụ thể nhằm định hướng phát triển phù hợp với
Trang 22điều kiện từng địa phương Các NCCQ ngày càng đi sâu vào phân tích cấu trúc cảnh quan và mối quan hệ với việc tổ chức không gian nhằm giải quyết các vấn
đề thực ti n
Trên cơ sở kế thừa, tham khảo có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã có, luận án vận dụng vào quá trình NCCQ, ĐGCQ cho các mục đích cụ thể cho phù hợp Khi tiến hành ĐGCQ cho nông lâm nghiệp hai huyện Đắc Glei và Ngọc Hồi, việc xây dựng hệ thống phân loại và đơn vị cơ sở dùng để đánh giá phải phù hợp với quy mô lãnh thổ và tỷ lệ nghiên cứu Theo đó, đối với lãnh thổ hai huyện Đắc Glei và Ngọc Hồi (diện tích 2.339,06 km2) ở tỷ lệ nghiên cứu 1:50.000 thì lựa chọn
loại CQ dùng làm đơn vị đánh giá cho nông lâm nghiệp và lựa chọn dạng CQ dùng
làm đơn vị đánh giá cho các cây trồng lâu năm là phù hợp
Khi nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho phát triển nông nghiệp, đối tượng được lựa chọn đánh giá đều là những cây trồng có hiệu quả về kinh tế, có ý nghĩa
về xã hội và môi trường đối với khu vực nghiên cứu Do đó, trong luận án đã lựa chọn cây cà phê chè, cây cao su và cây bời lời để đưa vào đánh giá Đây là những cây trồng điển hình, có hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với định hướng phát triển của hai huyện Đắc Glei và Ngọc Hồi
Luận án đã kế thừa có chọn lọc các công trình liên quan đến hướng nghiên cứu để xác lập cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu nhằm giải quyết vấn
đề của luận án đặt ra
1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Đối với hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi nói riêng, tỉnh Kon Tum và Tây Nguyên nói chung, trong thời gian qua đã có tương đối nhiều công trình, đề tài,
dự án nghiên cứu tổng hợp hoặc chuyên đề được thực hiện Sau giải phóng miền Nam (4/1975), để góp phần hoạch định các chính sách phát triển chung Tây Nguyên, Đảng và Chính phủ đã cho tiến hành hai chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước về Tây Nguyên gồm: i) Giai đoạn 1976 - 1980, Chương trình nghiên cứu cơ bản Tây Nguyên được gọi tắt là Chương trình Tây Nguyên I do cố Giáo sư Nguy n Văn Chiển làm chủ nhiệm, tập trung điều tra cơ bản các yếu tố
tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội, tiến hành công tác phân vùng
Trang 23địa lý tự nhiên Tây Nguyên Công trình tiêu biểu nhất là “Tây Nguyên, các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên” (1985) do Giáo sư Nguy n Văn Chiển chủ biên [43] Đây là tài liệu đầu tiên nghiên cứu khá đầy đủ các điều kiện tự nhiên, là cơ sở ban đầu cho việc khai thác, sử dụng lãnh thổ Tây Nguyên và cho những nghiên cứu tổng hợp sau này Công trình "Các vùng tự nhiên Tây Nguyên" (1986) của Nguy n Văn Chiển, Phạm Quang Anh và cộng sự cho thấy Kon Tum nằm trong 5 vùng tự nhiên trong tổng số 21 vùng của lãnh thổ Tây Nguyên [6] ii) Giai đoạn 1986 - 1990, Chương trình Tây Nguyên II do cố Giáo
sư Lê Duy Thước làm chủ nhiệm, trên cơ sở kế thừa các kết quả của Chương trình Tây Nguyên I, đã đi sâu nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và thành lập các bản đồ đất, thảm thực vật, sinh khí hậu, cảnh quan sinh thái Tây nguyên ở tỷ lệ 1/250.000 Trong đó, đã mô tả những đơn vị CQ tự nhiên trên lãnh thổ Kon Tum Đặc biệt, chương trình đã có những đề tài phân tích, đánh giá các hợp phần kinh
tế - xã hội, những tác động của các chính sách đến phát triển một số ngành kinh
tế Trên cơ sở đó đã đề xuất phương hướng phát triển các ngành kinh tế Tây Nguyên, mà quan trọng và cấp bách nhất là ngành nông, lâm nghiệp Kết quả của hai chương trình trên có tính khái quát cao và những kết quả thu được tuy chưa đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu cấp bách, to lớn về phát triển bền vững Tây Nguyên nhưng thực sự đã góp phần nâng cao những nhận thức về các đặc điểm đặc thù của các vùng địa lý trên Tây Nguyên, tạo lập cơ sở khoa học cũng như xây dựng được một số quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững vùng Tây Nguyên
Sau khi kết thúc chương trình Tây Nguyên II, chương trình Tây Nguyên III
đã được triển khai, theo đó có hàng loạt các đề tài dự án mang tính nghiên cứu ứng dụng, đề cập sâu vào từng lĩnh vực, từng giải pháp phát triển cụ thể, riêng biệt Đó là các đề tài nghiên cứu đánh giá đất đai phục vụ công tác quy hoạch các vùng chuyên canh lớn về cao su, cà phê, cây bông… Một số đề tài hướng tới nghiên cứu các nhu cầu cụ thể của địa phương như quy hoạch nguồn nước theo lưu vực sông, đánh giá thoái hóa đất, năng lượng mới, xây dựng, dư địa chí tỉnh Kon Tum Ngoài ra, đối với lĩnh vực khoa học xã hội, đã có một số đề tài cấp
Trang 24nhà nước tập trung nghiên cứu các nội dung sau: Những vấn đề KT - XH Tây Nguyên, những vấn đề văn hóa, dân tộc, tôn giáo Tây Nguyên, phục vụ hoạch định và thực hiện đường lối chính sách… Nhìn chung, kết quả của các công trình trên tuy chỉ mang tính đặc trưng cho từng vùng, từng lĩnh vực cụ thể nhưng thực
sự là cơ sở khoa học quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo tại hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi nói riêng và tỉnh Kon Tum nói chung [28]
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Trần Nghi (2003), với công trình nghiên cứu “Đánh giá tổng hợp tài nguyên, điều kiện tự nhiên, môi trường, kinh tế xã hội nhằm định hướng phát triển bền vững khu vực biên giới phía Tây từ Thanh Hóa đến Kon Tum”[25]
Đây là đề tài độc lập trọng điểm cấp Nhà nước Kết quả của đề tài đã giải quyết các vấn đề sau: Đánh giá hiện trạng điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, kinh tế - xã hội, những mặt mạnh và những tồn tại theo quan điểm phát triển bền vững; Xây dựng những luận cứ khoa học và đề xuất mô hình quy hoạch định hướng phát triển bền vững các huyện biên giới từ Thanh Hóa đến Kon Tum; Định hướng khai thác hợp lý và tái tạo nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực trong địa bàn các huyện biên giới nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo đối với các dân tộc ít người vùng sâu vùng xa; Đề xuất các mô hình kinh tế - sinh thái và các giải phát phát triển bền vững, từng bước nâng cao dân trí, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng giữa miền xuôi và miền ngược Thành lập bản đồ quy hoạch định hướng phát triển bền vững tỷ lệ 1:250.000 đối với toàn vùng nghiên cứu và
tỷ lệ 1:50.000 đối với 2 huyện Kỳ Sơn và Hướng Hóa
Nguy n Đăng Hội (2004), với công trình "Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên đất, rừng" [13]
Kết quả chính đạt được là: Xác lập được cơ sở lí luận khoa học của sự thành tạo
và biến đổi cảnh quan nhân sinh trên lãnh thổ Kon Tum; Đã làm rõ hệ thống cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum có tính đa dạng cao, phân hóa thành 184
Trang 25loại thuộc 35 kiểu của 6 lớp, phân bố trong 4 vùng cảnh quan nhân sinh (vùng
CQ lâm nghiệp Ngọc Linh, vùng CQ lâm – nông nghiệp Kon Plong, vùng CQ nông nghiệp – quần cư Kon Tum - Đắc Tô và vùng CQ lâm – nông nghiệp Sa Thầy – Ngọc Hồi); Xây dựng được bản đồ cảnh quan nhân sinh tỉnh Kon Tum phục vụ mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên đất, rừng, đồng thời công trình đã chứng minh sự hình thành và phát triển cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum
là tất yếu khách quan, phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên, hoạt động nhân sinh, trong đó hoạt động nông, lâm nghiệp đóng vai trò chủ đạo; Trên cơ sở phân tích đặc điểm, di n thế cùng với đánh giá tổng hợp cảnh quan nhân sinh, đã đề xuất định hướng khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên đất, rừng cho các vùng và tiểu vùng cảnh quan nhân sinh của lãnh thổ Kon Tum theo các hướng chủ đạo: Phát triển và bảo vệ rừng tự nhiên, trồng và phục hồi rừng kết hợp cây công nghiệp hàng năm, phát triển cây công nghiệp lâu năm và hoa màu
Nguy n Cao Huần (2009), với công trình nghiên cứu “Nghiên cứu phân vùng cảnh quan lãnh thổ Việt - Lào với sự trợ giúp của công nghệ viễn thám và
hệ thông tin địa lý” [18] Kết quả chính đạt được là: Xây dựng cơ sở lý luận về
phân vùng cảnh quan cho lãnh thổ Việt – Lào (nguyên tắc, phương pháp, hệ thống phân vị phân vùng); Phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên lãnh thổ Việt - Lào; Phân vùng cảnh quan lãnh thổ Việt – Lào tỷ lệ 1:3.000.000; Ứng dụng kết quả phân vùng cảnh quan trong việc định hướng sử dụng các miền/á miền cảnh quan và phục vụ quản lí tổng hợp đới bờ duyên hải bắc Trung bộ Việt Nam
Phạm Hoàng Hải (2017), với công trình nghiên cứu “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp các nguồn lực tự nhiên, biến động sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đề xuất và xây dựng một số mô hình phát triển KT - XH bền vững theo các vùng địa
lý trọng điểm lãnh thổ Tây Nguyên đến năm 2020”[9] Đây là đề tài thuộc
Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước “Chương trình Tây Nguyên 3" Nội dung chính của công trình bao gồm các kết quả nghiên cứu điều tra cơ bản bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, tài nguyên cho
Trang 26mục đích phát triển kinh tế - xã hội bền vững Nghiên cứu điều tra cơ bản bổ sung, làm rõ về thực trạng, đặc điểm đặc trưng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường các khu vực lãnh thổ nghiên cứu là cơ sở thực ti n để đề xuất
sử dụng hợp lý tài nguyên, xác lập các định hướng chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng Trình bày hệ thống cơ sở lý luận, phương pháp luận đề xuất, xây dựng các mô hình, xác lập các định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững cho lãnh thổ nghiên cứu lựa chọn Kết quả đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng tài nguyên, xác định rõ các nguyên nhân dẫn đến tình trạng biến động đó Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và hiện trạng môi trường vùng Tây Nguyên trong giai đoạn vừa qua để qua đó xây dựng các kịch bản về biến động tự nhiên, tài nguyên, kinh tế xã hội và môi trường Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, tài nguyên, điều kiện kinh tế - xã hội cho mục đích
sử dụng hợp lý tài nguyên, phát triển kinh tế - xã hội bền vững khu vực Tây Nguyên và ở các vùng địa lý trọng điểm lựa chọn Và nhất là đề xuất các mô hình cụ thể cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội, mô hình kinh tế - sinh thái bền vững và tìm kiếm được các giải pháp, các bước đi phù hợp thực thi các mô hình phát triển mang tính tổng hợp này để có thể từng bước áp dụng có tính khả thi, hiệu quả đối các loại mô hình đề xuất với các khu vực lãnh thổ lựa chọn là các vùng địa lý trọng điểm thuộc khu vực Tây Nguyên
Đặng Xuân Phong (2015), với công trình nghiên cứu “Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng biên giới Việt - Lào (tỉnh Kon Tum và Attapeu) phục vụ quy hoạch các khu dân cư và phát triển bền vững”[28] Đây cũng là đề tài thuộc Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước
“Chương trình Tây Nguyên 3" Đề tài đã thực hiện các nội dung: Xây dựng cơ sở
lý luận, quan điểm đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ định hướng quy hoạch các điểm dân cư và phát triển bền vững Phân tích, đánh giá đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên lãnh thổ khu vực nghiên cứu, bao gồm 4 huyện biên giới Sanxai, Phuvong, Đắk Glei và Ngọc Hồi của 2 nước Lào và Việt
Trang 27Nam Xây dựng cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu như tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước ngầm, tài nguyên sinh vật, sinh thái cảnh quan, tài nguyên đất và bản đồ phân bố dân cư, hiện trạng sử dụng đất của Sanxai, Phuvong, Đắk Glei và Ngọc Hồi Trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, phân tích đặc điểm các vùng địa lý tự nhiên, đánh giá mức độ thuận lợi và khó khăn, cân đối tiềm năng tự nhiên và nhu cầu phát triển, đề tài đã đề xuất hai phương án định hướng quy hoạch dân cư cho vùng biên giới thuộc hai tỉnh Kon Tum và Attapeu Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát, tham khảo và đánh giá các mô hình sinh kế, mô hình kinh tế liên kết giao lưu xuyên biên giới, đề tài đã kiến nghị xây dựng và phát triển các mô hình sinh kế có triển vọng nhất cho các cộng đồng dân tộc trong khu vực nghiên cứu Phân tích khả năng phát triển bền vững của các mô hình, đề tài đã đề xuất được 10 mô hình cụ thể thực hiện trong các giai đoạn 2015 - 2020 và từ 2020 đến 2030
Ngoài ra, ở khu vực nghiên cứu còn nhiều nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài luận án như: Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Kon Tum đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 - 2015 [39]; Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Kon Tum đến 2020 và định hướng đến năm 2025 [38]; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Đắk Glei giai đoạn 2011 - 2020, định hướng đến năm 2025; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ngọc Hồi giai đoạn 2011 - 2020, định hướng đến năm 2025; Đề án xây dựng và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực của tỉnh đến năm 2020; Các đề án, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực của huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi…
Qua phân tích tổng quan những tài liệu đã có, liên quan đến địa bàn nghiên cứu, có thể rút ra những nhận xét sau:
- Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án nói chung và khu vực hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi nói riêng có giá trị cao về lý luận và thực ti n Đây chính là hệ thống tư liệu rất quan trọng để tác giả hình thành hướng tiếp cận và
Trang 28phương pháp luận nghiên cứu phù hợp cho đề tài, đồng thời tạo lập và giới hạn khung nội dung của luận án và sử dụng để đối chiếu với hệ thống tư liệu thu thập trên thực địa
- Các nghiên cứu về phát triển nông lâm nghiệp ở khu vực hai huyện Đắk Glei
và Ngọc Hồi mới chỉ chú ý các điều kiện phát triển một số loại cây trồng nhất định
và phát triển ngành lâm nghiệp nói chung mà chưa xem xét đến sự phát triển các ngành kinh tế này trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá cảnh quan, phân tích tổng hợp các điều kiện địa lý lãnh thổ Chưa có công trình nghiên cứu nào tiến hành đánh giá cảnh quan để làm cơ sở cho sự phát triển của nông, lâm nghiệp và các vùng chuyên canh ở địa phương
- Một số công trình đã sử dụng cách tiếp cận địa lý tổng hợp trên cơ sở phân vùng tự nhiên và phân tích lãnh thổ liên quan đến lãnh thổ hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi nhưng đều ở tỷ lệ nghiên cứu nhỏ Vì thế, các kết quả nghiên cứu chỉ mang tính khái quát chứ không thể hiện được đặc điểm cũng như sự phân hóa chi tiết trong CQ hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi, do đó không thể làm cơ sở đưa ra kiến nghị cụ thể trong sử dụng hợp lý lãnh thổ nói chung và cho sự phát triển của nông, lâm nghiệp nói riêng
- Khu vực hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi hiện chưa có công trình nghiên cứu tổng hợp các điều kiện địa lý nhằm làm rõ đặc điểm và sự phân hóa CQ cho định hướng sử dụng hợp lý TNTN và BVMT trong phát triển nông lâm nghiệp ở quy mô trung bình (1/50.000)
Chính vì vậy, đối với lãnh thổ hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi rất cần những công trình nghiên cứu về CQ và ĐGCQ nhằm sử dụng hợp lý TNTN và BVMT Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu cần thiết cho định hướng tổ chức lãnh thổ hợp lý, phát triển nông lâm nghiệp hiệu quả tại hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum
Trang 291.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM NGHIỆP
1.2.1 Lý luận về nghiên cứu cảnh quan
1.2.1.1 Quan niệm về cảnh quan
Trên cơ sở kế thừa các quan niệm về cảnh quan đã được đưa ra dưới nhiều cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau bởi các nhà khoa học trong nước và ngoài nước, khái
niệm cảnh quan trong luận án được hiểu: “Cảnh quan là tổng thể tự nhiên, là sản phẩm hoạt động tổng hợp của các thành tạo cảnh quan, có cấu trúc và chức năng đặc trưng"
Cảnh quan là một tổng thể tự nhiên được hiểu là một lãnh thổ xác định được tạo thành bởi các hợp phần cấu tạo nên lãnh thổ cảnh quan đó CQ là tổng thể tự nhiên phức tạp, vừa có tính đồng nhất, vừa có tính bất đồng nhất Tính đồng nhất của CQ được hiểu: một lãnh thổ mà trong phạm vi của nó, các thành phần và tính chất của mối quan hệ giữa các thành phần coi như không đổi, nghĩa là đồng nhất Tính bất đồng nhất được biểu thị ở 2 mặt: (i) CQ bao gồm nhiều thành phần khác nhau về bản chất (địa hình, khí hậu, thủy văn, đất, thực vật) tạo nên (ii) Mỗi thành phần trong cảnh quan tồn tại ở nhiều dạng khác nhau Chính những điều nói trên, đòi hỏi các nhà địa lí khi nghiên cứu, đánh giá CQ phải xuất phát từ quan điểm tổng hợp và quan điểm hệ thống [17]
Cảnh quan được sử dụng trong luận án với quan niệm là đơn vị kiểu loại Mỗi cảnh quan đều có cấu trúc đặc trưng của nó, bao gồm: i) Cấu trúc không gian là tổ hợp giữa đường nét sơn văn của địa hình và lớp phủ mặt đất, tạo nên hình thái cảnh quan, thể hiện qua cấu trúc đứng và cấu trúc ngang của cảnh quan; ii) Cấu trúc thời gian của cảnh quan là sự vận động, thay đổi của cảnh quan theo thời gian (theo mùa, theo năm, chu kì nhiều năm); ii) Cấu trúc chức năng của cảnh quan được hiểu là lợi ích thu được
từ các thuộc tính và quá trình của cảnh quan, bao gồm: chức năng tự nhiên, chức năng
KT - XH, chức năng bảo vệ môi trường
Cảnh quan văn hóa là các cảnh quan được con người xây dựng và cải tạo với mục đích tối ưu hóa chức năng để đạt được năng suất cao nhất, hạn chế đến mức thấp nhất các tác hại của tự nhiên, tạo ra sự thích ứng giữa con người và thiên nhiên, xây dựng hình ảnh, biểu tượng về văn hóa của cộng đồng Như vậy, không phải bất
Trang 30kỳ cảnh quan nhân sinh nào cũng được xếp vào cảnh quan văn hóa, mà chỉ có các cảnh quan đáp ứng được các tiêu chí nói trên Cho nên, cảnh quan văn hóa chính là đối tượng của quá trình chức năng hóa cảnh quan [32]
1.2.1.2 Nghiên cứu cảnh quan
Nghiên cứu cảnh quan thực chất là nghiên cứu các mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên, nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và quy luật phân hóa của tự nhiên nhằm phát hiện, phân chia các thể tổng hợp tự nhiên – các đơn vị cảnh quan có tính đồng nhất tương đối trong lãnh thổ làm cơ sở đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN và KT – XH để tiến hành quy hoạch sử dụng hợp lý, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Do đó, khi tiến hành nghiên cứu cảnh quan cần phải nghiên cứu cấu trúc cảnh quan, bao gồm cấu trúc không gian, cấu trúc động lực và chức năng của cảnh quan
a Cấu trúc không gian của cảnh quan: là sự sắp xếp các hợp phần cảnh quan trong không gian theo chiều thẳng đứng (cấu trúc đứng) hoặc theo chiều ngang (cấu trúc ngang) Trong đó, cấu trúc đứng được xác định bởi tính chất của các mối
liên hệ tương hỗ giữa các thành phần cấu tạo của mỗi cảnh quan, bởi sự kết hợp và quan hệ của các thành phần cấu tạo, phụ thuộc vào hướng thay đổi của các thành phần cấu tạo trong quá trình phát triển cũng như sự phụ thuộc vào tuổi và lịch sử phát triển của cảnh quan Cấu trúc đứng của CQ bao gồm các hợp phần: Địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật và hoạt động nhân sinh Các hợp phần này luôn xâm nhập vào nhau và quan hệ với nhau, mặc dù các thành phần này không giống nhau về số lượng và chất lượng, về thành phần vật chất và cường độ các thành phần cấu tạo Vì vậy, vai trò của các thành phần cũng khác nhau trong việc hình thành nên cảnh quan hiện tại: i) Địa chất là thành phần quan trọng cấu tạo nên cấu trúc đứng của cảnh quan Vai trò của yếu tố địa chất thể hiện chủ yếu dựa vào tính chất của nham thạch và tuổi của nham Mỗi loại nham ảnh hưởng đến thổ nhưỡng thông qua thành phần địa hóa học của mình Ngoài ra, cùng một loại nham nhưng tuổi khác nhau thì đặc tính sẽ khác nhau [23] ii) Địa hình là thành phần quan trọng nhất trong cấu trúc đứng của cảnh quan và cả các cấp cấu tạo nên cấu trúc ngang của cảnh quan Cùng với nền địa chất, các kiểu địa hình đã hình thành nên "nền tảng
Trang 31rắn" của cảnh quan, cơ sở vật chất bền vững quyết định tính chất của các thành phần khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật trong cảnh quan iii) Vai trò của khí hậu đối với sự thành tạo cảnh quan thể hiện ở sự tác động tổng hợp của tất cả các yếu tố khí hậu theo không gian và thời gian Khí hậu chi phối sự phân hóa và hình thành nên các cấp cảnh quan iv) Vai trò của thủy văn trong cảnh quan thể hiện qua đặc trưng thành phần của thủy văn, tính chất và mức độ phổ biến của các tích tụ nước, chế độ của chúng, cường độ tuần hoàn, thành phần hóa học và các tính chất khác v) Vai trò của thổ nhưỡng trong cảnh quan là cung cấp nền tảng dinh dưỡng cho cảnh quan nên cảnh quan thường tương ứng với vùng đất nhất định Mức
độ đa dạng, phức tạp của thổ nhưỡng là yếu tố quan trọng tạo nên sự đa dạng và phân hóa của cảnh quan tại lãnh thổ nghiên cứu Thổ nhưỡng có quan hệ chặt chẽ với kiểu địa hình, nền địa chất, với kiểu khí hậu - thủy văn nên khi có sự thay đổi của nhân tố này thì các loại đất sẽ thay thế nhau theo không gian phù hợp vi) Thảm thực vật có vai trò là nhân tố thành tạo quan trọng của cảnh quan, giữ chức năng tích lũy, sản sinh vật chất, trao đổi vật chất và năng lượng trong cảnh quan Thảm thực vật là chỉ tiêu cơ bản khi phân chia các cấp phân vị loại, nhóm loại cảnh quan
Sự kết hợp của lớp phủ thực vật và các loại thổ nhưỡng là cơ sở để xác định ranh giới cấp phân vị loại cảnh quan Vì vậy, mức độ phong phú và đa dạng thảm thực vật sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân hóa đa dạng cảnh quan lãnh thổ
Nghiên cứu các mối liên hệ giữa các thành phần của các cảnh quan cho phép làm sáng tỏ cụ thể hơn những thành phần cấu tạo trên lãnh thổ có ảnh hưởng cơ bản tới sự hình thành và phân dị các cảnh quan, đồng thời cũng xác định sự không đồng giá trị của các thành phần cấu tạo khác nhau và những ảnh hưởng của chúng tới các cảnh quan Căn cứ vào các mối liên hệ của các thành phần cấu tạo, chúng ta có thể tập hợp các đơn vị cảnh quan ở các cấp thấp thành các đơn vị phân vị lớn hơn theo mức độ đồng nhất
Cấu trúc thẳng đứng thường phức tạp và kém thống nhất ở các đơn vị lớn và đồng nhất hơn ở các đơn vị nhỏ Đơn vị cảnh quan tồn tại càng lâu thì cấu trúc của các thành phần cấu tạo sẽ càng đầy đủ và độ dày theo chiều thẳng đứng sẽ càng lớn Cấu trúc đứng luôn vận động và biến đổi trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài do
Trang 32ảnh hưởng của các quá trình tự nhiên, đồng thời hoạt động của con người cũng làm thay đổi cấu trúc đứng (thực bì, thổ nhưỡng, dòng chảy, địa hình ) Những nơi mà cấu trúc đứng của cảnh quan bị biến đổi cơ bản sẽ tạo nên những cảnh quan hoàn toàn mới
Cấu trúc ngang của cảnh quan còn gọi là cấu trúc hình thái Cấu trúc ngang bao gồm các đơn vị cảnh quan cùng cấp hay khác cấp cấu tạo nên, cùng với những mối quan hệ phức tạp giữa các đơn vị cảnh quan đó với nhau Mỗi một cấp phân vị có một cấu trúc ngang riêng, đồng thời cấu trúc ngang của mỗi
cá thể thuộc cùng một cấp phân vị cũng có những nét riêng nên cấu trúc ngang thường được mô hình hóa bởi một mô hình đa hệ thống Việc giải thích các mối liên hệ ngang của các đơn vị cảnh quan trong hệ thống, có thể xác định được tính chất, các đặc trưng địa lí, sự ảnh hưởng qua lại, những quá trình hình thành chủ yếu của các cảnh quan, những biến đổi của cảnh quan nếu có một hay vài cảnh quan ở gần đó bị phá hoại Từ đó, có thể giúp ta ước định được những biện pháp cụ thể giúp ngăn ngừa sự phá hoại của các cảnh quan này với cảnh quan khác Đồng thời, đưa ra được những định hướng khai thác hiệu quả, phù hợp với tiềm năng lợi thế của cấp phân vị trong cấu trúc ngang Do vậy, trong nghiên cứu cấu trúc ngang của cảnh quan, việc xác định hệ thống phân loại cùng chỉ tiêu chẩn đoán các cấp phân vị và thành lập bản đồ CQ là các nội dung quan trọng
b Cấu trúc thời gian: Nghiên cứu cấu trúc thời gian của cảnh quan là đi tìm
hiểu, phân tích sự biến đổi trạng thái của CQ theo các mùa trong năm, sự biến đổi
CQ dưới sự tác động của tai biến thiên nhiên và trong các giai đoạn - quá trình lịch
sử khai thác của con người
c Chức năng cảnh quan
Cũng như nghiên cứu cấu trúc, chức năng của cảnh quan có nhiều quan niệm khác nhau Theo Ixatsenko (1976), chức năng cảnh quan là “ tổng hợp các quá trình trao đổi, biến đổi vật chất và năng lượng trong cảnh quan”, còn Forman (1981) lại xác định “Chức năng cảnh quan là dòng năng lượng, dinh dưỡng khóang và sinh vật giữa các yếu tố cảnh quan” Bên cạnh đó, chức năng của cảnh quan còn được
Trang 33hiểu là lợi ích mà con người thu được từ các thuộc tính và quá trình của cảnh quan Niemann (1977), De Groot (1992)… Do đó, có nhiều hệ thống phân loại chức năng cảnh quan [36] Các chức năng của cảnh quan gồm chức năng tự nhiên, chức năng
KT - XH và chức năng bảo vệ môi trường
Chức năng tự nhiên được hiểu là hoạt động của cảnh quan, là tập hợp các quá trình trao đổi, chuyển hóa vật chất và năng lượng trong CQ, Ixatsenko (1991) hay nói cách khác: chức năng tự nhiên của CQ thể hiện “mối tương tác giữa các yếu tố không gian, dòng chảy vật chất và năng lượng cùng sinh vật trong tự nhiên”, Forman và Godron (1996), là quá trình sinh địa hóa trong CQ [36] Các quá trình đó giúp cảnh quan có khả năng chống đỡ với những tác động bên ngoài, tạo nên trạng thái cân bằng trong hệ thống tự nhiên của địa hệ
Chức năng KT - XH là “khả năng của các quá trình vật chất và năng lượng trong tự nhiên cùng các thành phần của chúng có thể cung cấp các hàng hóa và dịch
vụ thỏa mãn nhu cầu của con người” De Groot (1992) [56] Chỉ số cấu trúc chức năng CQ được sử dụng cho việc đánh giá CQ phục vụ quy hoạch, cung cấp thông tin về những phẩm chất hiện có của cảnh quan, giá trị và nhạy cảm đối với các tác động hiện tại và các mục tiêu, nguyên tắc đối với sự phát triển của cảnh quan
Như vậy, tiềm năng của một đơn vị cảnh quan chính là khả năng đơn vị CQ đó phục vụ và đáp ứng đối với nhu cầu của quá trình tự nhiên và con người Một CQ
có thể đảm nhận nhiều chức năng khác nhau Việc sử dụng CQ phù hợp với chức năng tự nhiên cũng như chức năng KT - XH sẽ đảm bảo sự phát triển bền vững cho mối quan hệ giữa tự nhiên và con người Chức năng CQ được xác định trên cơ sở phân tích đặc điểm, cấu trúc CQ Mỗi đơn vị CQ có thể có nhiều chức năng và nhiều đơn vị CQ có thể cùng một chức năng Nếu con người sử dụng CQ phù hợp với chức năng của nó chính là hướng sử dụng hợp lí CQ và CQ có khả năng phát triển bền vững, lâu dài Nếu con người sử dụng CQ không phù hợp với khả năng đáp ứng của CQ thì CQ sẽ bị suy giảm và không bền vững [56]
Trang 341.2.1.3 Hệ thống phân loại cảnh quan
Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan là bước đầu tiên và rất quan trọng trong thành lập bản đồ CQ của một khu vực Hệ thống phân loại CQ bao gồm nhiều cấp, từ các cấp bậc cao biểu hiện sự phân vị có tính địa đới của tự nhiên, đến các cấp thấp hơn thể hiện rõ quy luật phân hóa phi địa đới của CQ và những đặc trưng cho hiện trạng tự nhiên của lãnh thổ nhỏ Từ đó, có thể thấy rõ mối quan hệ, các quy luật hình thành, phát triển và sự phân bố theo lãnh thổ của các đơn vị CQ một cách khách quan Sự phân bố không gian và quy luật phát sinh của các đơn vị CQ là kết quả chủ yếu của việc nghiên cứu, phân tích cấu trúc CQ Kết quả đánh giá sẽ là cơ
sở cho phép đề xuất các phương án phát triển sản xuất hợp lý
Hệ thống phân loại cảnh quan được ra đời cùng với sự xuất hiện các quan niệm về cảnh quan Kết quả phân loại cảnh quan sẽ là những căn cứ quan trọng để thành lập Bản đồ cảnh quan cho một vùng lãnh thổ được xác định Tùy theo quan niệm của mỗi người và đặc điểm lãnh thổ nghiên cứu mà các hệ thống phân loại được hình thành như: hệ thống phân loại của các đơn vị đồng phụ thuộc, Ixatsenko (1976), với 8 cấp phân vị: Nhóm kiểu - Kiểu - Phụ kiểu - Lớp - Phụ lớp - Loại - Phụ loại - Thể loại; Hệ thống phân loại của Gvozaexki (1961), gồm 5 cấp phân vị: Lớp - Kiểu - Phụ kiểu - Nhóm - Loại Ngoài ra, còn nhiều hệ thống phân loại khác của Nhicolaev, Polunov, Mitchell và Howard…[11]
Ở Việt Nam, nhiều hệ thống phân loại cảnh quan khác nhau được xây dựng phù hợp với mục tiêu và lãnh thổ nghiên cứu Vũ Tự Lập (1976), đã đưa ra hệ thống phân loại CQ Địa lí Miền Bắc Việt Nam gồm 16 cấp phân vị, lớn nhất là “địa lí quyển”, cấp nhỏ nhất là “điểm địa lí” Mỗi đơn vị đều có chỉ tiêu xác định, rất thuận lợi trong phân vùng ở mọi tỉ lệ trên mọi quy mô lãnh thổ [1] Hệ thống phân loại của Hoàng Đức Triêm với 6 cấp phân vị, ứng dụng xây dựng Bản đồ CQ tỉnh Quảng Trị, tỉ lệ 1:200.000 gồm: Hệ CQ - Phụ hệ CQ - Lớp CQ - Phụ lớp CQ - Kiểu
CQ - Loại CQ Nguy n Cao Huần (2003), đã sử dụng hệ thống phân loại gồm 6 cấp phân vị: Hệ CQ - Phụ hệ CQ - Lớp CQ - Kiểu CQ - Hạng CQ - Loại CQ [64] Phạm
Trang 35Hoàng Hải và nnk (1997), xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan áp dụng cho lãnh thổ Việt Nam ở tỉ lệ bản đồ 1:1.000.000 gồm 7 cấp phân vị: Hệ CQ - Phụ hệ CQ - Lớp CQ - Phụ lớp CQ - Kiểu CQ - Phụ kiểu CQ - Loại CQ [8]
Hệ thống phân loại CQ có nhiều cấp tương ứng mức độ phân loại các thành phần CQ theo các yếu tố cùng tỉ lệ bản đồ Đơn vị phân loại cảnh quan ở cấp càng thấp thì sự tham gia của các yếu tố của các thành phần cảnh quan càng nhiều
1.2.1.4 Bản đồ cảnh quan
Bản đồ cảnh quan là một trong những loại bản đồ mang tính tổng hợp, phản ánh sự phân hóa không gian của lãnh thổ Các đơn vị CQ phân bố trên lãnh thổ nghiên cứu liên quan mật thiết với nhau theo một lôgic nhất định được thể hiện trong hệ thống phân loại
Nghiên cứu các đơn vị CQ là nghiên cứu mối quan hệ, tác động tương hỗ giữa tập hợp các yếu tố thành tạo CQ và thành phần của tự nhiên (vô sinh và hữu sinh), trong đó biểu hiện một cấu trúc hoàn chỉnh Mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần, các yếu tố thành tạo CQ được thể hiện thông qua các quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa chúng với nhau
Thực ti n nghiên cứu tự nhiên cho thấy: Trong công tác đánh giá các ĐKTN
và TNTN cho mục đích sử dụng hợp lý chúng và bảo vệ môi trường đòi hỏi trước hết phải có những nghiên cứu tổng hợp chúng, đặc biệt là xây dựng một BĐ tổng hợp - bản đồ CQ của lãnh thổ Qua đó thể hiện được mối quan hệ giữa các CQ, những quy luật hình thành và phát triển, sự phân bố tự nhiên theo lãnh thổ
Bản đồ CQ là một BĐ tổng hợp phản ánh một cách đầy đủ, khách quan các đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần riêng
lẻ của tự nhiên Bản đồ CQ được xây dựng từ các BĐ hợp phần là: BĐ địa chất, BĐ địa hình, BĐ địa mạo, BĐ đất, BĐ thảm thực vật, BĐ sinh khí hậu Chính vì vậy, khi nghiên cứu và xây dựng bản đồ CQ cần phải tuân theo những nguyên tắc: nguyên tắc phát sinh - hình thái, nguyên tắc tổng hợp, nguyên tắc đồng nhất tương đối
Trang 361.2.2 Lý luận chung về đánh giá cảnh quan
Đánh giá cảnh quan được nghiên cứu từ khá sớm với nhiều phương thức tiếp cận khác nhau Khởi đầu là nghiên cứu của Mukhina (1973) về nguyên tắc, phương pháp và quy trình đánh giá tổng hợp thể tự nhiên phục vụ nhiệm vụ thực ti n Sau
đó, các kĩ thuật đánh giá cảnh quan tiếp tục được phát triển theo nhiều mục tiêu như: đánh giá hiệu quả kinh tế dựa trên phương pháp phân tích chi phí - lợi ích, Mashall và Zvoruvkin (1968); đánh giá ảnh hưởng của môi trường, Leopold, 1972; Hudson (1984), hay những đánh giá đất đai cho hoạt động nông, lâm nghiệp trên quan điểm tổng hợp về tự nhiên, KT - XH và môi trường, FAO (1993)
Nguy n Cao Huần (2005), cho rằng: "Thực chất đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó (nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, ) Đối tượng của đánh giá cảnh quan là các hệ địa lí (địa hệ), nhưng bản thân hoạt động đánh giá lại thể hiện cơ chế quan hệ tương hỗ giữa hệ thống tự nhiên (khách thể) và hệ thống KT - XH (chủ thể) Vậy nên, thực chất đánh giá CQ là đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, TNTN của lãnh thổ cho mục đích thực ti n Vì thế, đây là khâu quan trọng để đưa những kết quả nghiên cứu CQ ứng dụng vào thực ti n sử dụng hợp lí TNTN và bảo vệ môi trường" [17]
Hoạt động đánh giá muốn đạt được hiệu quả tối ưu khi các hoạt động quan trắc, phân loại và xác lập quy trình đánh giá phải thực hiện trong điều kiện sát với thực ti n Tuy nhiên, không phải quá trình đánh giá nào cũng cho phép nhận diện đầy đủ các yếu tố tác động tới kết quả hoặc ứng dụng hoàn hảo ngay ngoài thực tế Quá trình đánh giá hiện nay, chỉ có thể xác định chỉ tiêu đánh giá dựa trên các yếu
tố sinh thái mang tính chất đại diện cho cảnh quan Do đó, kết quả đánh giá CQ hỗ trợ quá trình ra quyết định của nhà quản lí, thể hiện ý chí của nhà quy hoạch
Kết quả đánh giá CQ phụ thuộc rất nhiều vào quá trình phân loại các đơn vị
CQ (số lượng đơn vị, số lượng tiêu chí hay chỉ tiêu đánh giá ), hay sự phức tạp trong xử lí kết quả đánh giá (chất lượng dữ liệu, hình thức xử lí ) Do đó, để đạt được hiệu quả của quá trình đánh giá CQ, phương pháp đánh giá được lựa chọn
Trang 37trong 4 nhóm, Marks và nnk (1992): i) Đánh giá tính thích nghi sinh thái của CQ trên cơ sở nhu cầu của xã hội; ii) Đánh giá các tác động hay ảnh hưởng của hoạt động nhân sinh tới các yếu tố sinh thái của CQ; iii) Đánh giá giá trị của CQ dựa trên tính đa dạng của CQ, chức năng tự nhiên và KT - XH; iv) Đánh giá nguy cơ do các tác động môi trường tới yếu tố tự nhiên của cảnh quan
Để kết quả đánh giá đáp ứng được mục đích quy hoạch, quá trình đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện sau: i) Xác định các đặc trưng sinh thái chưa đầy đủ, không thể hiện được các tác động toàn diện và hoàn chỉnh; ii) Sự thiếu khách quan trong xác định chỉ tiêu thông qua phương pháp định tính hoặc bán định lượng; iii)
Cơ sở dữ liệu thiếu trong quá trình đánh giá hoặc thiếu sót các nghiên cứu cơ bản Hiện nay, tồn tại nhiều phương pháp trong đánh giá CQ, có thể kể đến như phương pháp toán học (xếp hạng, cho điểm có hệ thống), phương pháp đánh giá kết hợp (Ma trận tam giác), hay các thống kê toán học (phân tích chi phí lợi ích) Nhìn chung, các phương pháp này cho phép tổng hợp nhiều tiêu chí dưới dạng tổng hoặc nhân các chỉ tiêu
Luận án sử dụng phương pháp và quy trình đánh giá thích nghi sinh thái theo
đề xuất của Nguy n Cao Huần (2005), khách thể là đặc tính của 236 dạng CQ thuộc
67 loại CQ nằm trong 14 hạng cảnh quan, chủ thể đánh giá là nhu cầu sinh thái nông nghiệp và lâm nghiệp (rừng phòng hộ và rừng sản xuất), nhu cầu sinh thái của
3 loài cây lâu năm có ưu thế ở hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi
1.2.3 Định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp trong nghiên cứu cảnh quan
Định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp trong nghiên cứu cảnh quan là hướng tiếp cận tổng hợp, xem xét, nghiên cứu để bố trí lại các ngành nông lâm nghiệp; xây dựng những định hướng phát triển cho vùng nghiên cứu phù hợp với tiềm năng tự nhiên và KT - XH, đồng thời đảm bảo sự hài hòa trong quá trình phát triển nông lâm nghiệp theo từng khu vực riêng, cũng như trong phạm vi cả khu vực nghiên cứu "Xauskin (1981) cho rằng tổ chức không gian là sự sắp xếp, bố trí
Trang 38và phối hợp các đối tượng ảnh hưởng lẫn nhau, có quan hệ qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên và hệ thống dân cư nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí KT-XH để đạt hiệu quả kinh tế cao và nâng cao mức sống dân cư của lãnh thổ đó"[26]
Cơ sở quan trọng của việc định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp
là việc đánh giá đúng tiềm năng, nghiên cứu kỹ lưỡng các quy luật phân hóa và phát triển tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần, các yếu tố tự nhiên và giữa các đơn vị cảnh quan với nhau Qua nghiên cứu, phân tích cảnh quan
sẽ làm sáng tỏ thêm những đặc trưng về cấu trúc, chức năng của chúng dưới tác động của các hoạt động mang tính nhân tác Kết quả nghiên cứu làm rõ các đặc điểm của CQ có xem xét hoạt động nhân tác là cơ sở khoa học tin cậy, đầy đủ để định hướng bố trí hợp lí các ngành sản xuất nói chung và sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng [8]
Sản xuất nông lâm nghiệp là ngành sản xuất truyền thống và có lịch sử phát triển sớm nhất tại hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi Trong đó, việc sử dụng đất cho mục đích phát triển nông nghiệp luôn gắn liền với việc xem xét chất lượng đất, mức
độ phù hợp của các điều kiện khí hậu, thủy văn, địa hình ở từng khu vực, từng địa phương Ngược lại, các hoạt động sản xuất nông nghiệp tác động lên cấu trúc các tổng thể tự nhiên với mức độ khác nhau ở từng vùng, phụ thuộc vào tập quán sản xuất, canh tác của các dân tộc, mức độ thuận lợi của các ĐKTN, sự phong phú của tài nguyên thiên nhiên và khả năng sử dụng chúng ở từng vùng Điều này thể hiện cấu trúc đa dạng của CQ và những đặc trưng phân hóa khác biệt của chúng trên toàn lãnh thổ nghiên cứu Đối với sản xuất lâm nghiệp, các CQ rừng chiếm số lượng lớn
ở hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi Trong những năm gần đây, diện tích rừng bị suy giảm đáng kể do các hoạt động nhân tác, đã làm biến đổi rõ rệt các đặc trưng cấu trúc của cảnh quan, các tính chất nguyên sinh của các thành tạo cảnh quan như lớp phủ thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, thành phần lớp phủ thực vật
Trang 39Mỗi đơn vị CQ có không gian nhất định, chứa một lượng tài nguyên nhất định
và có khả năng tự điều chỉnh nhất định Do đó, định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp theo các đơn vị CQ trong luận án chính là việc bố trí không gian sản xuất nông lâm nghiệp trên các đơn vị CQ một cách hợp lý nhất để phát huy các thế mạnh về tài nguyên một cách hiệu quả và bảo vệ tốt môi trường
Kết quả nghiên cứu đặc điểm các đơn vị phân loại sẽ xác định đặc điểm cũng như tiềm năng chứa trong mỗi đơn vị CQ Kết quả ĐGCQ cho mục đích phát triển
cụ thể, giúp xác định thế mạnh của các đơn vị CQ, mức độ thuận lợi của các đơn vị
CQ cho các dạng sử dụng cụ thể (nông nghiệp, lâm nghiệp, cây trồng lâu năm) Đây chính là cơ sở để lựa chọn phương án bố trí phát triển các ngành nông lâm nghiệp, cây trồng lâu năm một cách hợp lý
Định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp chính là xác định các định hướng làm tăng sức chứa, giữ lâu bền và bổ sung nguồn tài nguyên cho mục đích làm tăng khả năng tự điều chỉnh của địa hệ theo hướng phục vụ lâu dài cho nhu cầu
về vật chất và tinh thần của cộng đồng dân cư ở các khu vực nghiên cứu Trên cơ sở
đó, luận án xác định các không gian ưu tiên phát triển nông lâm nghiệp, một số loại cây trồng lâu năm, không gian phát triển các loại rừng vừa có giá trị kinh tế vừa bảo
vệ môi trường
1.3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu
1.3.1.1 Quan điểm hệ thống
Cơ sở của quan điểm hệ thống là quan niệm về sự thống nhất và hoàn chỉnh của các mối liên hệ bên trong và chi phối mối liên hệ bên ngoài của hệ thống Quan điểm này cho phép nhìn nhận lãnh thổ là một hệ thống CQ với đặc thù có tính tổ chức cao, gồm nhiều yếu tố, nhân tố của cấu trúc đứng Đồng thời, được tạo nên bởi nhiều hệ thống nhỏ hơn, thể hiện mối quan hệ của các đơn vị phân loại CQ
Trang 40Mỗi đơn vị CQ là địa hệ thống, được thành tạo từ các nhân tố khác nhau Do
đó, tồn tại giữa chúng là mối quan hệ chặt chẽ của dòng vật chất và năng lượng Bất
kì hệ thống nào cũng trở thành bộ phận của hệ thống cấp cao hơn và tồn tại giữa chúng các mối quan hệ tương tác lẫn nhau dựa trên sự hoàn chỉnh về mặt cấu trúc, cũng như thống nhất về chức năng của CQ Đây là quan điểm hữu dụng cho mục tiêu quy hoạch lãnh thổ, bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
Vận dụng quan điểm này, luận án đã nghiên cứu mối liên hệ biện chứng giữa các nhân tố thành tạo, giữa các đơn vị phân loại, phân vùng CQ và trong hệ thống
về không gian lãnh thổ, thời gian và động lực phát sinh Đây là quan điểm có ý nghĩa quan trọng, bởi mỗi đơn vị lãnh thổ cụ thể là bộ phận của đơn vị cấp lớn hơn
và nó lại bao gồm nhiều đơn vị cấp thấp hơn Khi nghiên cứu sẽ xem xét nó trong
hệ thống và mối quan hệ qua lại mật thiết giữa các yếu tố thành phần với nhau và trên cơ sở đó đưa ra những chiến lược, chính sách và kế hoạch đúng đắn để điều chỉnh hệ thống nhằm đạt đến mục tiêu quy hoạch, góp phần phát triển bền vững
1.3.1.2 Quan điểm tổng hợp
Vận dụng quan điểm tổng hợp là quá trình nghiên cứu đồng bộ, toàn diện về các ĐKTN và TNTN trên cơ sở quy luật phân bố, biến động của chúng, cũng như những mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhân tố của tổng hợp thể địa lí Tổng hợp là
sự kết hợp có quy luật, có hệ thống trên cơ sở phân tích đồng bộ và toàn diện các yếu
tố, nhân tố của các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, đồng thời phát hiện và xác định được những quy luật, đặc điểm đặc thù của các địa tổng thể đó
Căn cứ hai khía cạnh trên, quá trình nghiên cứu, đánh giá phải được xây dựng dựa trên phương pháp phân tích liên hợp các bản đồ thành phần, để thành lập bản đồ cảnh quan Quan điểm này cũng cho phép xem xét mối quan hệ qua lại giữa các yếu
tố thành phần trong hệ thống với nhau, làm tiền đề để đưa ra chiến lược, chính sách
và quy hoạch nhằm điều chỉnh hệ thống đạt tới mục tiêu phát triển bền vững