1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị ở thành phố hồ chí minh trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

74 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 155,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phố Hồ Chí Minh là "đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế,văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhậpquốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-NGUYỄN NGUYÊN KHÔI

VAI TRÒ CỦA TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG

CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội - 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-NGUYỄN NGUYÊN KHÔI

VAI TRÒ CỦA TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi côngviệc" và "muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [37,tr.309]; vì vậy, trong sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn dành sự quan tâm đặcbiệt đến công tác cán bộ, coi đây là khâu "then chốt" của nhiệm vụ "then chốt",đặc biệt là vai trò rất quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở, quyếtđịnh kết quả triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: "Huấn luyệncán bộ là công việc gốc của Đảng" [37, tr.280], do đó, trong tiến trình lãnh đạocách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng, đào tạođội ngũ cán bộ có đức có tài, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở ngangtầm nhiệm vụ, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành củanhân dân Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở được hình thành, phát triển chấtlượng bằng nhiều phương thức khác nhau, chủ yếu và quan trọng hàng đầu là từcông tác đào tạo, bồi dưỡng tại các trường đảng, trung tâm bồi dưỡng chính trịcấp huyện Chính vì vậy, thực hiện tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng tại cáctrung tâm bồi dưỡng chính trị là nhiệm vụ quan trọng cấp thiết hiện nay để nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở

Thành phố Hồ Chí Minh là "đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế,văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhậpquốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan toả lớn của vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước" [25, tr.1].Đến năm 2020, Thành phố Hồ Chí Minh có 24 trung tâm bồi dưỡng chính trịcấp huyện thực hiện chức năng là đơn vị đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chínhtrị, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở cơ

sở Các trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện trên địa bàn Thành phố HồChí Minh đã và đang giữ vai trò rất quan trọng trong việc góp phần củng cố,bồi đắp, các kiến thức nhằm giữ vững lập trường tư tưởng cho

Trang 5

cán bộ, đảng viên ở cơ sở, đồng thời nâng cao trình độ lý luận chính trị,chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của công tác lãnh đạo,quản lý và nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ sở.

Trong những năm qua, thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán

bộ, đảng viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã được các trung tâm bồidưỡng chính trị quận, huyện thực hiện có hiệu quả, đảm bảo đúng tiến độ, kếhoạch đề ra, đáp ứng ngày càng hiệu quả nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cho cán

bộ, đảng viên

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện chínhsách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chínhtrị quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều hạn chế như: Nộidung của chương trình học còn nhiều bất cập, nhiều chương trình nặng về lýluận; chất lượng giảng dạy có lúc có nơi còn chưa đạt yêu cầu đề ra; đội ngũgiảng viên, báo cáo viên tham gia còn hạn chế, một số thiếu kiến thức thựctiễn, trong giảng dạy còn nặng về lý thuyết, thiếu truyền thụ kỹ năng, thựctiễn; đầu tư cho giảng dạy và học tập còn nhiều hạn chế…

Trước bối cảnh tình hình trên, cùng với yêu cầu chuẩn bị nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ, đảng viên cơ sở sau Đại hội Đảng các cấp, nhất là sau Đạihội XI Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, cần có một sự nghiên cứu toàn diện vềthực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâmbồi dưỡng chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần đề xuất các giải phápnâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên trên địa bàn thành phốtrong thời gian tới, thực hiện hiệu quả Chương trình đột phá phát triển nhân lựcthành phố theo Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ thành phố đề ra

Từ những lý do nêu trên, tôi chọn: "Vai trò của trung tâm bồi dưỡng

chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên" làm đề tài luận văn tốt nghiệp

ngành Chính sách công

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết nói về đào tạo, bồidưỡng cho cán bộ, công chức, đảng viên có liên quan đến hướng nghiên cứucủa đề tài, có thể kể đến các công trình nghiên cứu, bài viết như sau:

- Nguyễn Văn Trung (2009) với: "Công tác đào tạo, bồi dưỡng công

chức ở một số nước", tạp chí quản lý Nhà nước số 3/2009 Nghiên cứu đã khái

quát được vị trí, vai trò của đội ngũ công chức đối với nền hành chính một sốnước trên thế giới như Singapore, Hàn Quốc, Hoa Kỳ… Đồng thời đề

cao vai trò của công tác đào tạo bồi dưỡng trong việc nâng cao năng lực củađội ngũ này Đây là những luận thuyết quan trọng, tác giả sẽ kế thừa nhữngvấn đề này để bổ sung vào phần lý luận cho hướng nghiên cứu của luận văn

- Ngô Thành Can (2014) với bài viết: "Cải cách quy trình đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ, công chức nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ", Tạp chí

Quản lý nhà nước số tháng 5/2014 Nghiên cứu đã tập trung làm rõ những vấn

đề lý luận về tác đào tạo, bồi dưỡng như: nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng; lập kếhoạch, thực hiện kế hoạch, đánh giá đào tạo bồi dưỡng, quy trình thực hiệnđào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức…Luận văn sẽ kế thừa những vấn đềnày trong quá trình nghiên cứu những vấn đề lý luận của đề tài

-Đề tài "Thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho công chức cấp

sở từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh" của Võ Hoàng Phú, năm 2017 Tác

giả đề tài này đã tiếp cận, nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện chínhsách bồi dưỡng chính trị cho công chức cấp cơ sở, đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách bồi dưỡng chính trị cho độingũ công chức cấp cơ sở cùng những đề nghị đối với các cơ quan có liênquan Tác giả nghiên cứu sẽ tiếp thu một số nội dung có liên quan đến chủ thể,đối tượng về đào tạo, bồi dưỡng để bổ sung hoàn thiện cho cơ sở lý luận màluận văn hướng đến

Trang 7

- Đề tài "Chính sách phát triển cán bộ, công chức từ thực tiễn tỉnh Đồng

Nai" của Thái Bình Dương, năm 2017 Tác giả đi sâu vào nghiên cứu tình

hình thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức từ thực tiễn tỉnh ĐồngNai, từ đó đánh giá nhận xét về ưu điểm, hạn chế và bất cập của chính sách,chỉ ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan của những hạn chế và bấtcập Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các kiến nghị và đề xuất để hoàn thiệnchính sách tại nơi nghiên cứu Luận văn sẽ kế thừa các đánh giá, tiếp tụcnghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách, cụ thể làthực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng trong quá trình nghiên cứu, thực hiện

đề tài

-Đề tài "Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức tại các cơ

quan chuyên môn tỉnh Hưng Yên" của Phạm Thị Ngoan, năm 2019 Tác giả đề

tài này đã tiếp cận, nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đàotạo, bồi dưỡng tại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Luận văn sẽ kế thừa các nộidung về lý luận, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về thực hiện chính sáchđào tạo, bồi dưỡng công chức, các quy định của pháp luật về đội ngũ côngchức trong quá trình nghiên cứu những vấn đề lý luận của đề tài

-Đề tài "Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên

địa bàn tỉnh Phú Thọ" của Trần Thị Phương Viên, năm 2019 Tác giả đề tài

này đã tiếp cận, nghiên cứu về thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2013-2018; từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách này tronggiai đoạn tiếp theo Luận văn sẽ kế thừa, tiếp thu một số nội dung có liên quanđến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đặc biệt là gắn với tình hình tại

cơ sở để nghiên cứu, hoàn thiện phù hợp với tình hình, điều kiện, đặc điểm ởThành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 8

- Đề tài "Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại

huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội" của Nguyễn Tuấn Anh, năm 2020 Tác giả

đề tài này đã tiếp cận, nghiên cứu việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi

dưỡng cho cán bộ, công chức tại cấp huyện và đề xuất các giải pháp nâng caotrong thời gian tới Các giải pháp thực hiện chính sách ngay tại địa phươngcấp huyện và hướng đến đối tượng là cán bộ, công chức cấp cơ sở Tác giảluận văn sẽ kế thừa những vấn đề này trong quá trình làm rõ vấn đề nghiêncứu của đề tài

- Đề tài "Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã từ thực

tiễn tỉnh Cao Bằng" của Đinh Thị Thủy, năm 2020 Tác giả đề tài này đã tiếp

cận nghiên cứu dưới góc độ quản lý hành chính Nhà nước về đội ngũ cán bộ,công chức ở cấp xã, thực trạng thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũcán bộ, công chức theo quy định của pháp luật trên địa bàn cấp tỉnh Các giảipháp và khuyến nghị được nêu trong đề tài góp phần vào công tác quản lýNhà nước, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở Đây là những lý luậnhết sức quan trọng về công tác đào tạo, bồi dưỡng, vì vậy, tác giả luận văn sẽ

kế thừa và bổ sung vào hướng nghiên cứu của đề tài

Tóm lại, trong phần tổng thuật tài liệu, tác giả thấy rằng những đề tài nêu

trên chỉ tập trung vào chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, côngchức, đa số lấy thực tiễn từ một địa bàn cấp huyện; tuy nhiên, chưa có đề tàinào đánh giá về mặt lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách đào tạo, bồidưỡng cho cán bộ, đảng viên; chưa có đề tài nào phân tích, đi sâu nghiên cứu

về vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị trong quá trình thực hiện chính

sách này tại cơ sở Vì vậy, đề tài "Vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị ở

Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên" là hoàn toàn mới, không trùng khớp với các đề

tài đã công bố trước đó

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡngcho cán bộ, đảng viên; phân tích, đánh giá thực trạng quá trình thực hiệnchính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồidưỡng chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất giải pháp nâng caohiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên tạicác trung tâm bồi dưỡng chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở Thành phố

Hồ Chí Minh.

- Về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2020.

- Về nội dung: Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng

cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở Thành phố HồChí Minh

Trang 10

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin,vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công, cùng với nghiên cứu lýthuyết, nghiên cứu thực tế về chu trình chính sách công, từ hoạch định đếnxây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, thu thập số liệu: Đề tài sử dụng số liệu từ cácbáo cáo, văn bản của cấp ủy, chính quyền các địa phương, đơn vị nhằm phântích, đánh giá thực trạng để qua đó, khái quát, đề xuất, khuyến nghị với các cơquan có liên quan trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng chocán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở Thành phố Hồ ChíMinh

- Phương pháp điều tra khảo sát: Đề tài sử dụng phương pháp điều trakhảo sát từ các học viên, giảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị ởThành phố Hồ Chí Minh Phương pháp này giúp cho tác giả nghiên cứu tìm ranhững thông tin thực tế, khách quan và đó là những căn cứ cần thiết chonhững kết luận nghiên cứu khoa học

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Từ việc thu thập số liệu khảo sát trên,tác giả sẽ phân tích chi tiết từng nội dung khảo sát để đánh giá quá trình thựchiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâmbồi dưỡng chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tài liệu được sử dụng trong nghiêncứu này chủ yếu là các công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học về đào tạobồi dưỡng nói chung và chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên nóiriêng nhằm làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu của luận văn

Trang 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Qua nghiên cứu đề tài sẽ giúp người học vận dụng, làm rõ những vấn đề

lý thuyết về thực hiện chính sách công vào việc phân tích, đánh giá thực hiệnchính sách

Ngoài ra, nghiên cứu đề tài còn giúp làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vềchính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên theo quan điểm, địnhhướng của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

Mặt khác, luận văn cũng là cơ sở nghiên cứu, có giá trị tham khảo chocác học viên cao học và những ai quan tâm về chính sách đào tạo, bồi dưỡngcho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược chia làm 03 chương, cụ thể như sau:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị trongquá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

-Chương 2 Thực trạng vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị ởThành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

- Chương 3 Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả vai trò củatrung tâm bồi dưỡng chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thựchiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CHO CÁN BỘ,

ĐẢNG VIÊN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng

Theo Từ điển Tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên, Đào tạo - là làmcho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định; còn Bồidưỡng – là làm cho – 1) tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và – 2) tăngthêm năng lực hoặc phẩm chất

Theo Đại từ điển do GS Nguyễn Như Ý chủ biên, Đào tạo – là dạy dỗ,rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp; còn Bồi dưỡng – làlàm cho – 1) khỏe thêm, mạnh thêm và – 2) tốt hơn, giỏi hơn

Căn cứ vào những nét nghĩa chính của khái niệm "đào tạo" và "bồidưỡng" được các Từ điển giải thích trên đây cho thấy, đây là hai khái niệm,mặc dù có những nét nghĩa tương đồng nhất định (như đều chỉ quá trình làmtốt hơn, lành mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho khách thể), song đây là haikhái niệm không đồng nghĩa nhau bằng những nội hàm nghĩa rất cụ thể – màtrước hết, đó là bản chất của quá trình giáo dục Cụ thể, khái niệm "đào tạo"được hiểu là một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị và xây dựng cho kháchthể các tố chất mà trước đó khách thể đó không có; trong khi đó, khái niệm

"bồi dưỡng" chỉ được coi là một giai đoạn ngắn, bổ trợ, nhằm bồi bổ thêm,làm tốt thêm và nâng cao hơn các tố chất vốn đã có sẵn của khách thể

Đến nay, về mặt khoa học và pháp lý, có sự thống nhất cơ bản về cáckhái niệm "đào tạo", "bồi dưỡng" và tồn tại với hai khái niệm độc lập Tuynhiên, bên cạnh hai khái niệm đào tạo và bồi dưỡng là những khái niệm độclập, trong thực tiễn vẫn còn một quan niệm mới là "đào tạo bồi dưỡng", với

Trang 13

nhận thức là một thuật ngữ chung không tách rời, đó là "đào tạo bồi dưỡng" làquá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quyđịnh của từng cấp bậc đào tạo, đồng thời vừa trang bị, cập nhật, rèn luyện đểnâng cao kiến thức, kỹ năng cần thiết cho một đối tượng học tập.

Như vậy, việc phân định độc lập giữa đào tạo và bồi dưỡng hiện naycũng chỉ mang tính chất tương đối, trong nhiều trường hợp không hoàn toànxác định chính xác khi nào diễn ra quá trình đào tạo, khi nào thực hiện bồidưỡng Trong đề tài này sẽ sử dụng khái niệm "đào tạo" và "bồi dưỡng", được

sử dụng trong tất các loại hình đào tạo và bồi dưỡng cụ thể

Đào tạo là quá trình truyền đạt những kiến thức và kỹ năng cho người

học theo từng cấp độ khác nhau nhằm hình thành và phát triển một cách có hệthống các tri thức, trình độ, năng lực của con người

Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng

làm việc, phù hợp với tình hình thực tiễn để người học đủ khả năng giải quyếtcông việc một cách có hiệu quả trong tình hình mới

1.1.2 Khái niệm về chính sách

"Chính sách" là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, vănbản và trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tuy nhiên, đây là thuậtngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng Các chính sách đôi khi

có thể được nhận thấy dưới hình thức các quyết định đơn lẻ, nhưng thôngthường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc được nhìn nhận như làmột sự định hướng Do đó, các định nghĩa khi đưa ra cũng khó có thể xácđịnh những thời điểm cụ thể mà chính sách được ban hành

Theo Từ điển Tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên, "chính sách là sáchlược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lốichính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra" [39, tr.157] Theo tác giả VũCao Đàm thì "chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà mộtchủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi

Trang 14

một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, địnhhướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trongchiến lược phát triển của một hệ thống xã hội" [16, tr.29].

Theo cách tiếp cận của một số học giả trên thế giới thì cho rằng, chínhsách là sản phẩm của tất cả các chủ thể trong xã hội và chính sách chính làcông cụ quan trọng giúp các chủ thể đó đạt được mục đích đặt ra Nhóm tácgiả Nguyễn Thị Hoa và Bùi Nghĩa dẫn giải cách tiếp cận của Colebatch vớiquan niệm "chính sách là cách thức huy động sự tham gia của các yếu tố liênquan đến vật chất, tổ chức các nhóm đối tượng chính sách vào quá trình điềuhành của Nhà nước, mong đạt được tiếng nói và những hành động chung, trên

cơ sở hình dung về thế giới ở hiện tại và tương lai" [36, tr.53]

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Hoa và Bùi Nghĩa đưa ra quan niệm về chínhsách được hiểu "là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản

lý đề ra để giải quyết vấn đề vì mục tiêu phát triển của tổ chức" [36, tr.54].Như vậy, dù tiếp cận ở góc độ nào và quan niệm như thế nào thì chínhsách cũng có những đặc điểm nổi bật như sau:

(1) Chính sách là do một chủ thể trong xã hội ban hành, không phải là bất

kỳ một cá nhân nào trong xã hội mà phải là cá nhân đại diện cho một tổ chức

(2) Chính sách được ban hành căn cứ vào chủ trương, đường lối của tổ

chức đó, là một công cụ được các tổ chức sử dụng để làm cầu nối giữa chủ trương, đường lối và các kế hoạch hành động thực tế của tổ chức

(3) Chính sách là sự phản ứng nhưng là sự phản ứng của tổ chức và kếtquả của sự phản ứng được thể hiện dưới dạng vật chất là văn bản, dùng để đạtđược những mục tiêu của tổ chức đặt ra

Tóm lại, chính sách là hành động của chủ thể quản lý để giải quyết một

vấn đề nào đó nhằm đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý hướng đến

1.1.3 Khái niệm về chính sách công

Trang 15

Tác giả Nguyễn Hữu Hải đưa ra khái niệm "chính sách công là nhữnghành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộngđồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hộiphát triển" [32, tr.14] Theo quan niệm này thì mục đích chính sách công làthúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng, chứ không đơn giản chỉ dừng lại ởviệc giải quyết vấn đề công Nói khác đi, chính sách công là công cụ để thựchiện mục tiêu chính trị của Nhà nước.

Nhóm tác giả Lê Như Thanh và Lê Văn Hòa thì đưa ra khái niệm "chínhsách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước banhành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằmđạt được các mục tiêu phát triển" [44, tr.10]

Trong bài nghiên cứu "Bàn về khái niệm chính sách công", PGS.TS HồViệt Hạnh đã đưa ra khái niệm "chính sách công là những quyết định của chủthể được trao quyền lực công nhằm giải quyết các vấn đề về lợi ích chung củacộng đồng" [34, tr.4-6] Theo quan niệm này thì tác giả đã tiếp cận chính sáchcông từ góc độ quyền lực trong sự so sánh với chính sách tư, cung cấp thêmnhận thức và có tính gợi mở cao về chính sách công gắn với tình hình thựctiễn ở Việt Nam

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Hoa và Bùi Nghĩa đưa ra định nghĩa "chínhsách công là tập hợp các quyết định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền banhành hướng đến các nhóm đối tượng thụ hưởng nhằm phục vụ cho lợi íchcông, cho sự phát triển của xã hội" [36, tr.57] Theo quan niệm này thì chínhsách công có những đặc điểm nổi bật như chủ thể ban hành là Nhà nước, đượcthể hiện bằng những văn bản pháp luật, hướng tới mục tiêu nhất định và từngnhóm đối tượng thụ hưởng cụ thể

Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về chính sách công được các họcgiả đưa ra Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các định nghĩađều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là chính sách công bắt nguồn từ

Trang 16

các quyết định của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung vì lợiích của đời sống cộng đồng.

1.1.4 Khái niệm về chính sách đào tạo, bồi dưỡng

Từ những khái niệm nêu trên, gắn với tình hình thực tiễn nước ta, có thểhiểu chính sách đào tạo, bồi dưỡng như sau:

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng là những công cụ của Nhà nước, đượcNhà nước ban hành để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo của đấtnước, nhằm hướng đến việc phát triển con người toàn diện, ưu tiên khuyếnkhích xã hội học tập, nâng cao mặt bằng dân trí, bồi dưỡng nhân tài để xâydựng và phát triển đất nước Các chính sách này đều dựa trên cơ sở thực tiễn,dựa vào diễn biến tình hình phát sinh trong từng giai đoạn cụ thể của đấtnước

1.1.5 Khái niệm về cán bộ, đảng viên

Cán bộ, công chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, côngchức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Thuậtngữ "cán bộ" được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàmtrong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước và tổ chứcchính trị và các tổ chức chính trị- xã hội

Quốc hội khoá XII đã lần lượt ban hành Luật Cán bộ, công chức(13/11/2008), đồng thời Quốc hội khóa XIV đã sửa đổi, bổ sung một số điềucủa luật này, trong đó xác định rõ hàm nghĩa của các từ cán bộ, công chức.Theo Luật Cán bộ, công chức hiện hành, cán bộ là công dân Việt Nam,được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳtrong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xãhội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung

là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung làcấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Trang 17

Đồng thời, theo Luật Cán bộ, công chức hiện hành, công chức là côngdân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danhtương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong

cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công annhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyênnghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhànước

Như vậy, theo quy định của Luật cán bộ, công chức thì cán bộ và côngchức có những tiêu chí chung là: công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởnglương từ Ngân sách nhà nước; giữ một công vụ thường xuyên; làm việc trongcông sở; được phân định theo cấp hành chính Bên cạnh đó, giữa cán bộ vàcông chức được phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với nguồn gốc hìnhthành

Đảng viên là thành tố cơ bản cấu thành các tổ chức đảng và toàn Đảng, ởnước ta thì đó là thành tố cơ bản cấu thành Đảng Cộng sản Việt Nam TheoChủ tịch Hồ Chí Minh thì "để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh Đảngmạnh là do chi bộ tốt Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt" [38, tr.113].Theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam hiện hành có quy định "Đảng viênĐảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giaicấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu chomục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân

và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cươnglĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhànước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sốnglành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật củaĐảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng" [31, tr.7]

Trang 18

1.1.6 Khái niệm về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên là một trong những khâu quantrọng trong công tác cán bộ của Đảng ta Đây là một công tác rất khó khăn,phức tạp, đòi hỏi phải có tính khoa học và nghệ thuật Vận dụng một cáchsáng tạo và phát triển những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về côngtác cán bộ, đảng viên nói chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảngviên nói riêng vào điều kiện của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chorằng: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" [37, tr.309]; "Muôn việc thànhcông hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém Đó là một chân lý nhất định"[37, tr.280]; đồng thời Người cũng rất coi trọng vai trò của đào tạo, bồi dưỡngcho cán bộ, đảng viên: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, củaChính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tìnhhình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chínhsách cho đúng Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc Vì vậy, huấnluyện cán bộ là công việc gốc của Đảng" [37, tr.309] Người thường xuyênnhấn mạnh: "Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồngnhững cây cối quý báu Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi mộtngười có ích cho công việc chung của chúng ta" [37, tr.313]

Từ những khái niệm nêu trên, có thể hiểu chính sách đào tạo, bồi dưỡngcho cán bộ, đảng viên là các chương trình, kế hoạch do cơ quan quản lý Nhànước ban hành để thực hiện mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên tạicác địa phương, đơn vị nhằm hướng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảngviên có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu công việc, góp phầnthực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đấtnước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc

1.2 Vị trí, vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị

Theo quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X xác định:

"Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện là đơn vị sự nghiệp trực thuộc cấp

Trang 19

uỷ và uỷ ban nhân dân cấp huyện, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thườngxuyên của ban thường vụ cấp uỷ cấp huyện" [23, tr.1].

Trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện có vai trò tổ chức đào tạo,bồi dưỡng về lý luận chính trị - hành chính; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức, kỹ năng và chuyên môn,nghiệp vụ công tác xây dựng đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể chính trị - xã hội, kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ, đảng viêntrong hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn, không thuộc đối tượng đào tạo,bồi dưỡng của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Nhiệm vụ của các trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện:

(1) Đào tạo sơ cấp lý luận chính trị - hành chính; bồi dưỡng các chươngtrình lý luận chính trị cho các đối tượng theo quy định; các nghị quyết, chỉ thịcủa Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên trênđịa bàn;

(2) Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới về chuyên môn, nghiệp vụ côngtác xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chínhtrị - xã hội và một số lĩnh vực khác cho cán bộ đảng, cán bộ chính quyền, Mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở

(3) Bồi dưỡng chính trị cho đối tượng phát triển đảng; lý luận chính trị cho đảng viên mới; nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy viên cơ sở

(4) Tổ chức thông tin về tình hình thời sự, chính sách cho đội ngũbáo

cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở

(5) Thực hiện một số nhiệm vụ khác theo yêu cầu và tình hình thực tế do chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương

Thực tế hiện nay trong cả nước, trung tâm bồi dưỡng chính trị quận,huyện là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng rất quan trọng, thực hiện nhiệm vụ truyền

bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của

Trang 20

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơsở.

1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ, đảng viên

Quá trình lịch sử cách mạng của nước ta trong gần 100 năm qua là mộtchặng đường cách mạng đầy gian nan, vất vả, hy sinh nhưng cũng rất hàohùng, oanh liệt của Đảng và nhân dân ta Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâmchính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên thông qua nhiều nghị quyết,kết luận, chỉ thị,… và thông qua nhiều hội nghị Trung ương trực tiếp bàn vềchính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên

Đại hội VI (tháng 12 năm 1986) là một bước đột phá trong công tác cán

bộ nói chung và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên nói riêng Đạihội đã xác định: "Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải tuân theo một quy trìnhchặt chẽ Đó là kết hợp giữa bồi dưỡng kiến thức ở các trường học với rènluyện trong thực tiễn" [17, tr.134], "Nhân tài không phải là sản phẩm tự phát,

mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu" [17, tr.134]

Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta chủ trương: "Đào tạo và bồidưỡng cán bộ theo quy hoạch Đào tạo gắn với tiêu chuẩn từng chức danh vàyêu cầu sử dụng cán bộ Đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học Đầu tưthích đáng cho việc đào tạo cán bộ đảng" [18, tr.162]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta xác định: "Xây dựng,chỉnh đốn hệ thống các học viện, trường và trung tâm chính trị, nâng cao chấtlượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết là đối với cán bộ lãnhđạo và quản lý các cấp" [21, tr.142]

Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Hội nghị lần thứ ba BanChấp hành Trung ương khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định "Cán bộ lãnh đạo phảiđược đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, trước hết về đường lối chính trị,

Trang 21

về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; được bố trí, điều động theo nhucầu và lợi ích của đất nước, có thể được luân chuyển từ trung ương về địaphương, từ địa phương lên trung ương và từ địa phương này ra địa phươngkhác" [20, tr.1].

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018, của Hội nghị lần thứ bảy BanChấp hành Trung ương khóa XII về Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cáccấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầmnhiệm vụ đã xác định chủ trương "Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộcấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng củaĐảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ vàhiệu quả Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bềnvững" [49, tr.58]

1.4 Vai trò của các trung tâm bồi dưỡng chính trị trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

1.4.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

Căn cứ vào bối cảnh tình hình, điều kiện thực tiễn theo giai đoạn, trên cơ

sở xác định nhu cầu thực tế, các tổ chức đảng và cơ quan quản lý Nhà nước ởtừng cấp sẽ phối hợp chủ trì, xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách đào tạo,bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

Cấp Trung ương sẽ do Ban Tổ chức Trung ương và Bộ Nội vụ xây dựng

và ban hành kế hoạch Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ do BanThường vụ tỉnh, thành ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ban hành kếhoạch Đối với cấp huyện sẽ do cấp ủy, ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành

kế hoạch; sau đó trung tâm bồi dưỡng chính trị sẽ xây dựng và ban hành kếhoạch tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị

Nếu cấp có thẩm quyền tổ chức xây dựng và ban hành kế hoạch tốt thìviệc thực hiện chính sách sẽ được tiến hành tốt; quá trình triển khai thực hiện

Trang 22

chính sách sẽ không cần phải điều chỉnh, trừ trường hợp phát sinh hoặc bấtkhả kháng Kế hoạch thực hiện chính sách chỉ có thể được điều chỉnh bởi cấp

có thẩm quyền xây dựng chính sách

Kế hoạch này được lập ra trên cơ sở tiêu chuẩn về mặt kiến thức đã đề racho từng loại chức danh cán bộ trong từng tổ chức, nhưng phải có tính hiệnthực Từ mục tiêu đã định trong kế hoạch và căn cứ vào thực trạng đối tượngcán bộ đã lựa chọn mà đặt ra yêu cầu đối với từng cán bộ cho phù hợp trongtừng giai đoạn nhất định (ai học gì, học ở đâu, bao giờ học, hình thức đi học,thời gian đi học ) Nội dung của kế hoạch thực hiện chính sách đào tạo, bồidưỡng cho cán bộ, đảng viên phải bao gồm:

(1) Kế hoạch tổ chức, điều hành: gồm những nội dung dự kiến về hệthống tất cả các chủ thể, cơ quan chủ trì, phối hợp triển khai thực hiện chínhsách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên; số lượng, nhân lực tham giathực thi kế hoạch; trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực thi kếhoạch; cơ chế phối hợp và trách nhiệm giữa các cơ quan thực thi

(2) Kế hoạch dự kiến các nguồn lực: gồm những dự kiến về cơ sở vậtchất, trang thiết bị, phương tiện, điều kiện kỹ thuật phục vụ cho việc thực thichính sách đào tạo, bồi dưỡng; các nguồn lực tài chính, vật tư, văn phòng phẩm,…

(3) Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện: gồm dự kiến về thời gian củaquy trình thực hiện chính sách; mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được vàthời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu trong từng bước

(4) Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡngcho cán bộ, đảng viên: gồm những nội dung dự kiến về tiến độ, phương thứckiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện chính sách; dự kiến về nội quy, quychế đào tạo, bồi dưỡng, quy chế điều hành nguồn lực tham gia thực thi chínhsách; dự kiến về trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức và

Trang 23

các cấp ủy, chính quyền tham gia thực thi chính sách; các biện pháp khenthưởng, kỷ luật,…

1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán

bộ, đảng viên

Việc tổ chức phổ biến, tuyên truyền chính sách đào tạo, bồi dưỡng chocán bộ, đảng viên giúp cho cán bộ, đảng viên (là những người trực tiếp thụhưởng chính sách) nhận thức rõ mục đích, yêu cầu, sự cần thiết, đúng đắn củachính sách để tự giác tham gia thực hiện chính sách; đồng thời cũng tích cựctìm kiếm các giải pháp, cách thức để thực hiện chính sách

Thực hiện phổ biến, tuyên truyền cho các đối tượng gồm cán bộ, đảngviên và các cấp ủy, chính quyền theo kế hoạch đề ra; thực hiện bằng nhiềuhình thức như tổ chức truyền thông qua báo chí, bản tin, qua các trang mạng

xã hội, trực tiếp tuyên truyền thông qua các cuộc hội nghị, diễn đàn, hội thảo,tập huấn, sinh hoạt chuyên đề, câu lạc bộ,… Trong đó, cần chú ý về nội dungđảm bảo phù hợp đối tượng, không gian, thời gian, phương pháp cần cụ thể,

dễ hiểu, dễ thực hiện, không bổ sung các nội dung mang tính chất cá nhân,hoặc làm sai lệch chính sách

1.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

Để thực hiện tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên thìcần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị có liênquan, cùng đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi chính sách, trong đó phảibao gồm các đơn vị quản lý về lĩnh vực tài chính, ngân sách, nội vụ, tổ chức,kiểm tra,… Trong quá trình phân công, phối hợp cần đảm bảo về trình độchuyên môn, nghiệp vụ và lợi thế của từng tập thể, cá nhân; tránh việc phâncông chồng chéo, không cụ thể sẽ dẫn đến việc thực hiện chính sách khônghiệu quả

1.4.4 Duy trì chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

Trang 24

Trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ,đảng viên, các tổ chức, cá nhân cần thường xuyên theo dõi, đánh giá kết quảthực hiện, từ đó căn cứ vào yêu cầu quản lý và tình hình thực tiễn để thammưu, đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo chính sách được duy trì, phát huyhiệu quả, áp dụng các biện pháp thực hiện chính sách phù hợp với hoàn cảnh,điều kiện, tình hình thực tiễn.

Để duy trì chính sách thì nội dung phải triển khai bằng văn bản có tínhpháp lý với các quy định rõ ràng, rành mạch, đồng thời tổ chức phối hợpthống nhất, hiệu quả, đồng bộ Ngoài ra, chủ thể thực hiện cần đảm bảo cácđiều kiện về nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin liên lạc; đảm bảo về thời gian

và quy trình theo kế hoạch; đảm bảo công tác phòng, chống tham nhũng, lãngphí trong điều hành, quản lý, thực thi chính sách

1.4.5 Điều chỉnh chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

Trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ,đảng viên, trước yêu cầu quản lý và tình hình thực tế của địa phương, đơn vịthì quá trình thực hiện cần có sự điều chỉnh nhất định để chính sách đáp ứngyêu cầu, mục tiêu và phù hợp tình hình thực tiễn, khắc phục những mặt khókhăn, hạn chế Về mặt thẩm quyền thì cơ quan nào ban hành chính sách thì cơquan đó có thẩm quyền điều chỉnh chính sách, mặc dù vậy, thực tế việc điềuchỉnh về nội dung và biện pháp thực hiện chính sách cũng diễn ra linh hoạttheo điều kiện, tình hình của từng địa phương, đơn vị Do vậy, các cấp ủy, cơquan quản lý Nhà nước chủ động điều chỉnh về biện pháp, giải pháp cơ chếthực hiện chính sách nhưng không thay đổi mục tiêu của chính sách đã đề ra;bởi nếu thay đổi mục tiêu chính sách đào tạo, bồi dưỡng thì coi như chínhsách thất bại

1.4.6 Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

Trang 25

Việc đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách đào tạo, bồidưỡng cho cán bộ, đảng viên giúp cho cấp có thẩm quyền kịp thời bổ sung,hoàn thiện chính sách; đồng thời chấn chỉnh công tác tổ chức, thực hiện chínhsách, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách và phát hiện

xử lý các vi phạm chính sách

Để thực hiện đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách đàotạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên thì cấp có thẩm quyền cần phải tổ chứcthu thập, cập nhật đầy đủ các nguồn thông tin, dữ liệu về quá trình triển khai,đánh giá kết quả thực hiện chính sách từ các tổ chức, cá nhân, nhất là đốitượng thụ hưởng là cán bộ, công chức Trên cơ sở căn cứ vào kế hoạch triểnkhai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên mà đề rabiện pháp, cơ chế, giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệuquả thực hiện chính sách

1.4.7 Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo, bồidưỡng cho cán bộ, đảng viên là một khâu quan trọng và không thể thiếu trongquá trình thực hiện chính sách này Để thực hiện việc này thì cần phải xâydựng các tiêu chí, tiêu chuẩn và các nguyên tắc, thang điểm đánh giá trên cơ

sở kế hoạch thực hiện chính sách, các nội quy, quy chế đề ra; đồng thời bámsát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và còn hiệu lực đến thờiđiểm đánh giá Việc tổ chức tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm được thựchiện theo phân kỳ hoặc theo quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡngcho cán bộ, đảng viên, gắn chặt với thời gian thực hiện mà kế hoạch đã đề ra;nội dung đánh giá, rút kinh nghiệm phải đảm bảo chỉ ra được những mặt làmđược, những mặt chưa làm được và bài học kinh nghiệm trong thực hiệnchính sách

Trang 26

Việc tổ chức tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách làcông việc khó, phức tạp, đòi hòi các tổ chức, cá nhân thụ hưởng lợi ích trựctiếp và gián tiếp từ chính sách phải tham gia với nguyên tắc khách quan, toàndiện, công bằng.

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán

Thứ hai, môi trường thực thi chính sách

Môi trường thực thi chính sách là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớnđến quá trình hoạch định và thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán

bộ, đảng viên Môi trường thích hợp sẽ có lợi cho việc thực thi chính sách.Môi trường không thích hợp sẽ cản trở việc thực thi chính sách Môi trườngthực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên bao gồm môitrường kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội

(1) Môi trường kinh tế - xã hội

Sự bùng nổ của khoa học - công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế

số, kinh tế tri thức và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ,

Trang 27

vừa là thách thức đối với nước ta Trong bối cảnh đó, việc đào tạo, bồi dưỡngcho cán bộ, đảng viên nhận thức và theo kịp sự phát triển của quốc tế là yêucầu cấp bách và cần thiết hiện nay, cùng với sự đổi mới về nội dung, phươngthức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực phù hợp sự pháttriển của thời đại.

Song song đó, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngàycàng tinh vi, nguy hiểm, phức tạp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thịtrường, mở cửa hội nhập, sự bùng nổ của hệ thống thông tin truyền thông toàncầu, chiến tranh mạng Những yếu tố này tác động sâu sắc mạnh mẽ, toàndiện, sâu sắc đến đội ngũ cán bộ, đảng viên Trong bối cảnh đó thì một bộphận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt,ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểuhiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; không ít cán bộ quản lý doanh nghiệpnhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Ðảng, lợi dụng sơ hở trong cơchế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sảncủa Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theopháp luật Vì vậy, thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảngviên là việc làm cần thiết, quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ "then chốt" trongxây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước và phải được tiếnhành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả

(2) Môi trường chính trị

Trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên thì nhu cầu,nguyện vọng và lợi ích chính trị của từng cán bộ, đảng viên là có sự khácnhau, có mối quan hệ khác nhau với chủ thể hoạch định và ban hành chínhsách Với đặc điểm và yêu cầu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại địaphương, đơn vị, do vậy, các cấp ủy, chính quyền thường quan tâm và tập trungđào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các phòng, ban, đơn vịnhằm đảm bảo tiêu chuẩn chức danh theo quy định; trong khi đó, số

Trang 28

lượng cán bộ, đảng viên không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ít được quantâm Trong khi đó, với yêu cầu và nguyện vọng cá nhân, nhiều cán bộ, đảngviên có nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ về lý luận chínhtrị và chuyên môn nghiệp vụ, nhất là số cán bộ, đảng viên thực thi nhiệm vụtại các cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội.

(3) Môi trường văn hóa công vụ

Văn hóa công vụ là hệ thống những giá trị, cách ứng xử, biểu tượng,chuẩn mực được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển công vụ,

có khả năng lưu truyền và có tác động tới tâm lý, hành vi của người thực thicông vụ, cụ thể là cán bộ, đảng viên phải tự giác thực hiện bổn phận, nghĩa vụcủa mình đối với nhân dân, với tổ chức và xã hội, tức là bảo đảm trách nhiệmcông vụ của mình, đó là trách nhiệm với công việc, nhiệm vụ, bổn phận, pháplý; thực thi công vụ, làm đúng việc phải làm và làm một cách tự giác; chịutrách nhiệm, chế tài, liên quan đến kỷ luật, vật chất, hình sự; chịu trách nhiệmvới con người, các mối quan hệ, đạo đức,

Trong bối cảnh tình hình hiện nay, Đảng, Nhà nước ta đánh giá "đội ngũcán bộ, đảng viên có năng lực chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém;nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làmviệc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giaotiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế; không

ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện" [49, tr.32] Vì vậy, đào tạo, bồidưỡng cho cán bộ, đảng viên nâng cao trình độ, kĩ năng và đề cao đạo đứccông vụ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ nhằm xây dựng độingũ cán bộ, đảng viên có uy tín, chuyên môn giỏi, thông thạo nghiệp vụ, cóphẩm chất đạo đức tốt, luôn gần dân, biết lắng nghe, thấu hiểu tâm tư, nguyệnvọng của nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân vàphục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn

Trang 29

Thứ ba, mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách đào tạo, bồi

dưỡng cho cán bộ, đảng viên.

Đây là việc thể hiện sự thống nhất và không thống nhất về lợi ích của cácđối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách

Sự thống nhất được thể hiện trong vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chínhquyền và sự chấp hành của cán bộ, đảng viên trong tham gia đào tạo, bồidưỡng nhằm đảm bảo mục tiêu chính sách đề ra

Sự không thống nhất được thể hiện qua điều kiện, đặc điểm tình hình củatừng địa phương, đơn vị khi triển khai thực thi chính sách có sự khác nhau,thậm chí có sự khác nhau trong tổ chức thực hiện chính sách, như chế độ phụcấp cho cán bộ, đảng viên khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng; điều kiện, cơ sởvật chất của đơn vị được phân công thực hiện kế hoạch;…

Do vậy, các đối tượng thực thi chính sách cần có sự phối hợp, hỗ trợ,chia sẻ và thống nhất trong tổ chức thực thi chính sách, nhằm tạo sự thốngnhất chung trong toàn thành phố

Thứ tư, đặc tính của đối tượng chính sách đào tạo, bồi dưỡng.

Đây là những tính chất đặc trưng có được từ bản tính cố hữu hoặc do môitrường sống tạo nên qua quá trình vận động mang tính lịch sử Với Thành phố

Hồ Chí Minh, đây là địa bàn trọng yếu của đất nước, địa bàn then chốt mà cácthế lực thù địch tập trung chống phá, tăng cường thực hiện hoạt động "diễnbiến hòa bình", bạo loạn lật đổ Vì vậy, yêu cầu cấp thiết và cấp bách là phảithực hiện tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên có bản lĩnhchính trị vững vàng, trung thành với Đảng

1.5.2 Yếu tố chủ quan

Thứ nhất, chủ thể thực hiện chính sách

Chủ thể chính sách là yếu tố quan trọng chi phối đến hiệu quả của chínhsách Chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ,đảng viên bao gồm các cấp ủy, chính quyền tham gia công tác lãnh đạo, quản

Trang 30

lý về đào tạo, bồi dưỡng; ngoài ra còn có các tổ chức chính trị - xã hội, cán

bộ, đảng viên… Trong trường hợp thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡngcho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị thì chủ thể là Ban

Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốcgia Hồ Chí Minh, Thành ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, trường chính trịcấp tỉnh, các quận ủy, huyện ủy và Thành ủy, Ủy ban nhân dân các quận,huyện và Thành phố, trung tâm bồi dưỡng chính trị các quận, huyện và Thànhphố

Yếu tố chủ thể chính sách có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thựcthi chính sách, biểu hiện qua năng lực thực thi của tổ chức, cá nhân, với cáctiêu chí về đạo đức công vụ, năng lực tổ chức, năng lực phân tích, dự báo, kỹnăng xử lý và giải quyết vấn đề có liên quan đến thực thi chính sách

Thứ hai, điều kiện vật chất cho quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên.

Điều kiện vật chất bao gồm các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị,phương tiện, điều kiện kỹ thuật phục vụ cho việc thực thi chính sách đào tạo,bồi dưỡng; các nguồn lực tài chính, vật tư, văn phòng phẩm,… trong đó quantrọng là nguồn lực tài chính Đây là những yếu tố có vị trí quan trọng, cùngvới yếu tố về chủ thể, nhân lực và các yếu tố khác để thực hiện thắng lợi chínhsách đề ra Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế hiện nay,thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên thì Đảng, Nhànước cần phải đảm bảo nguồn lực về vật chất và nhân lực, trong đó phải đảmbảo nguồn lực vật chất về số lượng và chất lượng phù hợp với điều kiện, yêucầu kế hoạch đặt ra Nếu không đảm bảo điều kiện vật chất thì chủ thể chínhsách, các cơ quan có liên quan thực thi chính sách sẽ khó có thể chuyển tải vàthực hiện đầy đủ các nội dung của chính sách đến với các chủ thể tham gia cóliên quan, các đối tượng thụ hưởng một cách thường xuyên, liên tục

Trang 31

Thứ ba, đối tượng chịu sự tác động của chính sách

Các đối tượng chịu sự tác động của chính sách đào tạo, bồi dưỡng chocán bộ, đảng viên chính là đội ngũ cán bộ, đảng viên và các đối tượng có liênquan, gồm giảng viên, báo cáo viên, đoàn viên, hội viên Sự tham gia và mức

độ, thái độ tham gia của các đối tượng này có sự tác động trực tiếp đến quátrình thực thi chính sách; đồng thời sự tham gia của các đối tượng này có ýnghĩa vô cùng quan trọng để chính sách được đưa vào thực tiễn cuộc sống Do

đó, nếu chính sách đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các đối tượng thụ hưởngchính sách thì điều chắc chắn là chính sách đó sẽ được thực hiện hiệu quả, vàngược lại khi không đảm bảo lợi ích giữa các đối tượng thụ hưởng chính sáchthì hiệu quả thực hiện sẽ kém hoặc chính sách thất bại

Tiểu kết chương 1

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên là tập hợp cácquyết định của chủ thể lãnh đạo, quản lý có thẩm quyền thể hiện thông quacác chương trình, kế hoạch với các giải pháp, phương thức cụ thể để thực hiệnmục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên tại các địa phương, đơn vịnhằm hướng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín,ngang tầm nhiệm vụ, lãnh đạo địa phương, đơn vị thực hiện thắng lợi cácnhiệm vụ chính trị, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh, đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc Chínhsách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên có vị trí, vai trò quan trọngtrong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là ở khu vực công,góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, khuvực

Nội dung chương 1 đã làm rõ các khái niệm có liên quan đến chính sáchcông, chính sách đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ cán bộ, đảng viên; xác địnhcác nội dung, quy trình của chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảngviên và những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách này Từ những

Trang 32

nghiên cứu lý luận trên sẽ là cơ sở, nền tảng và điều kiện quan trọng đểnghiên cứu, phân tích chương 2 với nội dung về thực trạng thực hiện chínhsách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡngchính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG

CHÍNH TRỊ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG

CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là "đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế,văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhậpquốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan toả lớn của vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước" [25, tr.1].Thành phố có diện tích 2.095,239 km2 Thành phố Hồ Chí Minh nằm ởgiữa vùng Nam Bộ trù phú, tiếp giáp với phía Nam của miền Ðông Nam Bộ

và rìa Bắc của miền Tây Nam Bộ; nơi đây là đầu mối giao thông lớn, nối liềnvới các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế của khu vực; trong đó, phía Bắcgiáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáptỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáptỉnh Long An và Tiền Giang

Trang 33

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở vào ngày 01/4/2019, thànhphố có 8.993.082 người, trở thành địa phương đông dân nhất cả nước, tăng1,8 triệu người so với năm 2009; trong đó nam chiếm 48,7%, nữ 51,3%; thànhphố cũng là địa phương có số hộ dân lớn nhất cả nước với tổng cộng2.558.914 hộ Chỉ trong chưa đến 2 thập kỷ, dân số Thành phố Hồ Chí Minh

đã tăng gấp đôi, từ 4 triệu người năm 1990, lên 8 triệu người năm 2016 Tốc

độ gia tăng dân số nhanh, cứ bình quân mỗi năm gia tăng khoảng 200.000người, trung bình 5 năm khoảng 1 triệu người Tỉ lệ tăng dân số bình quân2009-2019 là 2,28%/ năm Trên thực tế số người dân sinh sống, làm việc,vãng lai ở Thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng hơn 13 triệu người, tạo áp lựcrất lớn lên hệ thống hạ tầng, dịch vụ đô thị và dịch vụ công Mật độ dân sốThành phố Hồ Chí Minh là 4.292 người/km2 (tăng gần 26% so với năm2009), là địa phương có mật độ dân số cao nhất của cả nước

Trong quá trình phát triển và hội nhập, Thành phố Hồ Chí Minh luôn làmột trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ của cả nước; là hạt nhâncủa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong những vùng kinh tế trọngđiểm lớn nhất nước Dân số Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng đông và tăngnhanh do số lượng người nhập cư, tìm kiếm cơ hội và lập nghiệp tại thành phố

Hồ Chí Minh ngày càng nhiều Đây là cơ hội lớn để thành phố đẩy mạnh đầu

tư phát triển kinh tế - xã hội hơn nữa để giữ vững là đầu tàu kinh tế của cảnước; song đây cũng là thách thức đối với dịch vụ công của thành phố khi áplực về dịch vụ hành chính cùng với công tác quản lý Nhà nước ngày càngnhiều Hiện nay, khối lượng hồ sơ, công việc tại thành phố rất lớn, áp lực côngviệc đối với cán bộ, công chức tại thành phố rất nhiều trong bối cảnh thànhphố vẫn thực hiện nghiêm Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của BộChính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viênchức

Trang 34

Tính đến cuối năm 2019, 01 cán bộ tại thành phố phục vụ 346 người dân(bao gồm số biên chế phường - xã, thị trấn), cao hơn gấp hai lần so với cảnước là 152 người Trong đó, bình quân dân số trên 01 đơn vị hành chính cấphuyện của thành phố cao hơn so với bình quân dân số trên 01 đơn vị hànhchính cấp huyện của cả nước là 239.015 người; bình quân dân số trên 01 đơn

vị hành chính cấp xã của thành phố cao hơn so với bình quân dân số trên 01đơn vị hành chính cấp xã của cả nước là 18.902 người

Tính đến tháng 12 năm 2020, toàn thành phố có 17 sở; 14 cơ quan ngangsở; 24 quận - huyện; 322 xã-phường, thị trấn; 1.806 đơn vị sự nghiệp và 23Hội đặc thù Số công chức, hợp đồng lao động theo Nghị định 68, biên chế sựnghiệp trong cơ quan hành chính, hợp đồng chuyên môn, nghiệp vụ đang làmviệc thực tế tại các sở - ban – ngành và ủy ban nhân dân quận huyện là là10.969 người, trong đó biên chế công chức là 9.394 người; hợp đồng lao độngtheo Nghị định 68 là 657 người

Nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, công tác phục vụ nhândân, số lượng đơn vị sự nghiệp, nhất là số lượng đơn vị sự nghiệp khối giáodục và đào tạo, y tế tăng qua các năm cần tuyển dụng cán bộ mới thay thế số

đã nghỉ hưu, thôi việc nhằm đáp ứng yêu cầu công tác, thực hiện nhiệm vụchính trị của các sở - ban - ngành; quận - huyện Vì vậy, nhu cầu đào tạo, bồidưỡng cho cán bộ, đảng viên là rất lớn và cấp bách hiện nay ở thành phố

2.1.2 Đặc điểm các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh

Trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh làđơn vị sự nghiệp trực thuộc các quận ủy, huyện ủy và ủy ban nhân dân quận,huyện; có chức năng, nhiệm vụ là tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chínhtrị - hành chính; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước; kiến thức, kỹ năng và chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựngđảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, kiến

Trang 35

thức quản lý nhà nước cho cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở cơ sởtrên địa bàn quận, huyện, không thuộc đối tượng đào tạo, bồi dưỡng củatrường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Đến năm 2020, Thành phố Hồ Chí Minh có 24 trung tâm bồi dưỡngchính trị quận, huyện Về tổ chức bộ máy, Thành ủy giao tổng số biên chế của

24trung tâm bồi dưỡng chính trị là 168 người Thực tế, hầu hết, các trung tâmbồi dưỡng chính trị đều bố trí ban giám đốc từ 01 đến 03 đồng chí, tỷ lệ cán

bộ hành chính (giáo vụ, văn thư, kế toán, thủ quỹ) bố trí trung bình từ 03 đến

5 người; tổng cộng là 75 đồng chí, chiếm 31,38% biên chế Ngoài ra, cáctrung tâm còn thực hiện chế độ hợp đồng khoán việc với 77 người lao động làbảo vệ, phục vụ Tổng biên chế của 24 trung tâm là 162 người, thấp hơn sovới tổng số biên chế theo quy định của Thành ủy

Tổng số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của 24 trung tâm bồi dưỡng chính trị là 239 người, được cơ cấu cụ thể như sau:

-Công chức: 94 người (đạt tỷ lệ 39,33%)

-Viên chức: 35 người (đạt tỷ lệ 14,64%)

-Hợp đồng theo Nghị định 68/NĐ-CP: 33 người (đạt tỷ lệ 13,81%)

-Hợp đồng khoán việc: 77 người (đạt tỷ lệ 32,22%)

-Số lượng đảng viên: 144 người (đạt tỷ lệ 60,25%)

-Giám đốc: 21 người (đạt tỷ lệ 8,79%)

-Phó giám đốc: 38 người (đạt tỷ lệ 15,90%)

-Giảng viên chuyên trách: 06 người (đạt tỷ lệ 2,51%)

Căn cứ các hướng dẫn, quy định của Trung ương, Thành ủy, các trungtâm bồi dưỡng chính trị thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu gồm: (1) Đào tạo sơcấp lý luận chính trị - hành chính; bồi dưỡng các chương trình lý luận chínhtrị cho các đối tượng theo quy định; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chínhsách và pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên tại địa phương; (2) Bồidưỡng, cập nhật kiến thức mới về chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng

Trang 36

Đảng, quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

và một số lĩnh vực khác cho cán bộ đảng, cán bộ chính quyền, Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể ở cơ sở; (3) Bồi dưỡng chính trị cho đối tượng phát triểnđảng; lý luận chính trị cho đảng viên mới; nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủyviên cơ sở; (4) Tổ chức thông tin về tình hình thời sự, chính sách cho độingũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở; (5) Thực hiện một số nhiệm vụkhác theo yêu cầu và tình hình thực tế do chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địaphương

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy theo quy định, cáctrung tâm bồi dưỡng chính trị đã tham mưu cho quận ủy, huyện ủy và ủy bannhân dân quận, huyện ban hành quy chế tổ chức, hoạt động nhằm thực hiệnđầy đủ nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trên cáclĩnh vực lý luận chính trị, kiến thức mới, kỹ năng nghiệp vụ công tác, thôngtin kịp thời tình hình thời sự, chủ trương, nghị quyết của Trung ương, thànhphố và của địa phương, qua đó đã đáp ứng yêu cầu học tập, nghiên cứu củacán bộ, công chức, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang của quận, huyện,giúp đội ngũ cán bộ cơ sở đảm bảo kiến thức, kỹ năng thực hiện chức trách,nhiệm vụ tại địa phương, đơn vị, hoàn thành nhiệm vụ chính trị theo Nghịquyết Đảng bộ quận, huyện đề ra hàng năm

2.2 Thực trạng vai trò của các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

Căn cứ Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/2009 của Bộ Chính trị khóaVIII về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng và Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chấtlượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản

Trang 37

lý, trong những năm qua, cùng với việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội

IX Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố luôn quan tâm xây dựng kếhoạch triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảngviên; xác định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa là một trong 6 chương trình đột phá giai đoạn 2011 -2015

Qua giai đoạn 2011 – 2015, thành phố tổ chức thực hiện đã đạt một sốkết quả bước đầu tích cực, gắn với nhu cầu xã hội ở các lĩnh vực; nổi bật là tỉ

lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo nghề trên 70%, số lượng bác sĩ,dược sĩ/10.000 dân đạt chỉ tiêu đề ra; số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ,chuyên gia khoa học - kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao trên địa bàn chiếmkhoảng 30% cả nước; trên 70% công chức, viên chức có trình độ đại học, trênđại học, 40% đạt trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên…

Trên cơ sở kết quả đó, căn cứ vào Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ thànhphố và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, trong giai đoạn 2016 – 2020, Thành

ủy đã xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình nâng cao chất lượngnguồn nhân lực giai đoạn 2016 - 2020, xác định mục tiêu là xây dựng đội ngũcán bộ, đảng viên "trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội, có phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầuchức danh và vị trí việc làm; nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, phápluật nhà nước; có năng lực tổ chức thực hiện và giải quyết tốt các vấn đề thựctiễn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế, góp phần hoàn thành các mục tiêu xây dựng, bảo vệ, phát triển thành phốđến năm 2020 và những năm tiếp theo" [41, tr.2] Đây là giải pháp khắc phụcnhững hạn chế, yếu kém và triển khai có hiệu quả Chương trình nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực giai đoạn 2016 – 2020, chương trình mang tính chất độtphá quan trọng trong 07 Chương trình đột phá được Nghị quyết Đại hội Đảng

bộ thành phố lần thứ X đề ra

Ngày đăng: 26/06/2021, 05:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị giai - Vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị ở thành phố hồ chí minh trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên
Bảng 2.1. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị giai (Trang 47)
Bảng 2.2. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng các chuyên đề cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị - Vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị ở thành phố hồ chí minh trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên
Bảng 2.2. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng các chuyên đề cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị (Trang 49)
Qua bảng số liệu cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng các lớp chuyên đề cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở TP.HCM liên tục   tăng - Vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị ở thành phố hồ chí minh trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên
ua bảng số liệu cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng các lớp chuyên đề cho cán bộ, đảng viên tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở TP.HCM liên tục tăng (Trang 51)
Qua bảng số liệu, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên trong thời gian qua trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều chuyển biến rõ nét - Vai trò của trung tâm bồi dưỡng chính trị ở thành phố hồ chí minh trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên
ua bảng số liệu, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên trong thời gian qua trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều chuyển biến rõ nét (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w