Với chính sách phát triển kinh tế phù hợp với xu thế của thời đại hội nhập, mở cửa, Luật Đầu tư năm 2014 được ban hành, quy định đa đạng và đổi mới các hình thức đầu tư nhằm thu hút, khu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 3LỜI C M ĐO N
Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tăng Văn Nghĩa – Trưởng Khoa sau Đại học trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Các luận điểm, dẫn chứng, số liệu, ví dụ trong luận văn đảm bảo tính chính xác, khách quan, trung thực
Kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng công bố trong bất cứ đề tài nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ đạo nhiệt tình và quý báu của PGS, TS Tăng Văn Nghĩa và tập thể các thầy cô giáo Khoa sau Đại học, Khoa luật – Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS, TS Tăng Văn Nghĩa và các thầy cô giáo Khoa sau Đại học, Khoa luật – Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ tài liệu, tạo mọi điều kiện tốt nhất đồng thời đóng góp những ý kiến quý báu để hoàn thành công trình nghiên cứu cuối khoá tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu và tìm hiểu thực tế nhưng do thời gian hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi những sai sót Tác giả rất mong nhận đợc sự quan tâm đóng góp ý kiến của Quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và độc giả
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Thắng
Trang 5D NH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCNĐKĐT Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
GDP Tổng sản phẩn trong nước (nội địa)
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Trang 6TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦ LUẬN VĂN
Tên luận văn: Các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
Luận văn đã đạt các kết quả chính như sau:
- Đã phân tích khái niệm các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
- Đã làm rõ quá trình hình thành và phát triển các hình thức đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Đã phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền lựa chọn các hình thức đầu tư của nhà đầu tư, những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc khi lựa chọn các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
- Đã đưa ra các đánh giá về những ưu điểm của các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư năm 2014, những điểm thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc lựa chọn hình thức nào là phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Đã đưa ra các khuyến nghị thực thi pháp luật về: Những hình thức đầu tư mà khi đầu tư nhà đầu tư có thể gặp phải
Trang 7MỤC LỤC LỜI C M ĐO N I LỜI CẢM ƠN II
D NH MỤC CHỮ VIẾT TẮT III TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦ LUẬN VĂN IV
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghi n cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghi n cứu 3
3.1 Mục đích nghiên cứu 3
3.2 Nhi m vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghi n cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 4
5 Phư ng pháp nghi n cứu 4
6 Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1 6
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ 6
1.1 Khái quát về đầu tư 6
1.2 Khái quát về sự ra đời và phát triển của pháp luật đầu tư 7
1.3 Khái quát về các hình thức đầu tư 11
1.3.1 Khái ni m hình thức đầu tư 11
1.3.2 Sự phát triển của các hình hình đầu tư 11
1.3.3 Vai trò của các hình thức đầu tư 29
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦ PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014 32
2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về hình thức đầu tư 32
2.1.1 Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 32
2.1.2 Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế 34
2.1.3 Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh 37
2.1.4 Hình thức đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư PPP 40
Trang 82.2 Đánh giá các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 46
2.2.1 Những ưu điểm 46 2.2.2 Những vấn đề đặt ra khi áp dụng các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 50
CHƯƠNG 3 59 KHUYẾN NGHỊ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014 59 3.1 Xu hướng phát triển các hình thức đầu tư hiện nay 59 3.2 Một số khuyến nghị nh m thực thi các quy định về hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 59
3.2.1 Phổ biến, tuyên truyền về hình thức đầu tư 60 3.2.2 Về năng lực thực thi của cơ quan nhà nước có thầm quyền 61 3.2.3 Khuyến nghị hoàn thi n quy định về định giá tài sản góp vốn, mua cổ phần 63
3.2.4 Khuyến nghị hoàn thi n các quy định về hợp đồng PPP 63
KẾT LUẬN 69
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư tại Việt Nam được phân chia thành hình thức đầu tư trong nước
và đầu tư nước ngoài căn cứ theo nguồn gốc vốn đầu tư của các nhà đầu tư Các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư nước ngoài (trước hết theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987) Nhà đầu tư trong nước gồm các tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài thực hiện theo Luật Khuyến khích đầu tư năm 1995 (Sửa đổi
bổ sung năm 1998) Các nhà đầu tư ngước ngoài có thể lựa chọn các hình thức đầu tư thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế Qua nhiều năm thực hiện nhận thấy các hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài bị hạn chế hơn rất nhiều so với nhà đầu tư trong nước
Với chính sách phát triển kinh tế phù hợp với xu thế của thời đại hội nhập, mở cửa, Luật Đầu tư năm 2014 được ban hành, quy định đa đạng và đổi mới các hình thức đầu tư nhằm thu hút, khuyến khích các nguồn vốn từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, nhằm thu hút nguồn lực cho đất nước phát triển, xóa bỏ sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, về cơ bản được thực hiện chung thông qua các hình thứ c mà Luật Đầu
tư năm 2014 quy định Trước những đòi hỏi khách quan của xu thế thời đại, cũng như đáp ứng nhu cầu thu hút đầu tư và phát triển kinh tế đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, theo nguyên tắc tự do và bình đẳng Luật Đầu tư năm 2014 đã được hoàn thiện theo hướng đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các bộ phận pháp luật điều chỉnh về những hành vi có nội dung tương tự cũng như sự tương thích với các Điều ước quốc tế về đầu tư và Việt Nam tham gia
So với các quốc gia trong khu vực, các hình thức đầu tư theo pháp luật
về đầu tư của Việt Nam tương đối phong phú, tạo nhiều sự lựa chọn phù hợp với quy mô nguồn vốn, khả năng quản lý và tính chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư nhằm kinh doanh của các nhà đầu tư
Trang 10Trong những năm gần đây, với chính sách mở cửa hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta trong việc thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài nhằm tìm kiếm nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đã tham gia rất nhiều tác tổ chức thương mại thế giới, các tổ chức kinh tế trong và ngoài khu vực như: WTO, AFTA, CPTPP, APEC, ASEAN….Điều này cũng khiến chúng ta phải có những điều chỉnh hợp lý để phù hợp thực tiễn
Vì những lý do trên, học viên lựa chọn vấn đề “Các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghi n cứu
Trong những năm qua, với chính sách mở của kinh tế nhằm thu hút đầu tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Nhà nước ta đã có nhiều chính sách để thu hút, kêu gọi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trước Luật Đầu tư năm 2014 ra đời, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như:
- Mai Ngọc Cường, “Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, HN, năm 2000 Đề xuất hoàn thiện các cơ chế trong thu hút đầu tư, khai thác được các tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam
- Huỳnh Thị Thúy Giang (2012), “Hình thức hợp tác công tư - PPP (Public Private Partnership) để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam” Luận văn Tiến sĩ kinh tế Nghiên cứu các bằng chứng thực nghiệm về hình thức hợp tác công tư - trong lĩnh vực giao thông đường bộ Nhận diện các cơ hội của PPP từ thực trạng đầu tư tư nhân trong lĩnh vực giao thông đường bộ Việt Nam và đo lường mức độ sẵn sàng đầu tư theo hình thức PPP của khu vực tư nhân trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại Việt Nam
Tuy nhiên, nghiên cứu tổng quát về các hình thức đầu tư và chuyên sâu về khung pháp lý của các hình thức đầu tư trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam thì chưa có nhiều đề tài thực hiện nghiên cứu toàn bộ, chủ yếu các đề tài tập trung
Trang 11nghiên cứu về một số hình thức đầu tư như: Góp vốn, mua cổ phần hay hợp đồng đối tác công tư hoặc thành lập các tổ chức kinh tế…
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải, làm rõ cơ sở lý luận hình thức đầu tư của nhà đầu tư nhằm đánh giá và chỉ ra những bất cập cũng như những vướng mắc, hạn chế trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn đề xuất các khuyến nghị thực thi các hình thức đầu tư liên quan tới Luật Đầu tư năm 2014
3.2 Nhi m vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Luận giải để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các hình thức đầu
tư theo Luật Đầu tư năm 2014: Làm rõ khái niệm và nội dung của khái niệm về quyền lựa chọn hình thức đầu tư
- Nghiên cứu các nguyên tắc, căn cứ, nội dung và phạm vi của các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về các hình thức đầu tư để chỉ ra những bất cập của pháp luật, những khó khăn trong quá trình thực thi đồng thời so sánh với các quy định có liên quan của pháp luật nhằm nêu bật những điểm chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam
- Luận giải cho những khuyến nghị được nêu trong Luận văn về hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về các hình thức đầu tư
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các hình thức đầu tư của nhà đầu tư trong nước và nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2014 của Việt Nam Phần nghiên cứu nhà đầu tư trong nước chỉ nhằm mục tiêu so sánh, đối chiếu các quy định để rút
Trang 12ra những bất cập, đề xuất, mà không mang tính phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung, trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả nghiên cứu các hình
thức đầu tư của nhà đầu tư bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2014 Luận văn chú trọng tìm hiểu các hình thức đầu tư dựa trên các quy định của pháp luật đầu tư qua từng thời kỳ khi xem xét sự phát triển của các hình thức đầu tư
- Về không gian, Luận văn chỉ nghiên cứu các hình thức đầu tư đã và đang
được triển khai tại Việt Nam (theo các quy định của pháp luật) Những quy định về hình thức đầu tư của nước ngoài có thể được xem xét làm đối tượng so sánh, chứ không phải đối tượng nghiên cứu của luận văn
- Về thời gian: Luận văn chỉ nghiên cứu các hình đầu về cơ bản từ Luật Đầu
tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật này ra đời cho đến năm 2025 trên cơ sở đề xuất một số khuyến nghị về hình thức đầu tư tại Việt Nam
5 Phư ng pháp nghi n cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã nêu ở trên, tác giả s
sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống, như hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh luật học Cụ thể:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng đồng thời và xuyên suốt trong toàn bộ luận văn nhằm làm rõ những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của
đề tài Đặc biệt, phương pháp này được áp dụng nhiều nhất tại Chương 1 để giúp hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đã công bố và có cái nhìn một cách toàn diện, đầy đủ cũng như cụ thể về cơ sở lý luận của việc quy định các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
- Phương pháp luận giải và phương pháp so sánh luật học được sử dụng đặc biệt tại Chương 1 và Chương 2 để làm phân tích và làm rõ các ưu điểm và nhược điểm của các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
Trang 13- Phương pháp tổng hợp s được sử dụng chủ yếu tại Chương 3 khi đề xuất các khuyến nghị và luận giải cho các khuyến nghị liên quan đến hình thức đầu tư tại Việt Nam
6 Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 Các kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận pháp luật về các hình thức đầu tư, là rõ
cơ sở khoa học nhằm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật đầu tư trên các khía cạnh:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận các vấn đề về các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư năm 2014
- Phân tích và làm rõ việc quy định các hình thức đầu tư trong Luật đầu tư năm 2014 những ưu điểm và hạn chế của từng hình thức đầu tư
- Đánh giá thực trạng pháp luật về đầu tư tại Việt Nam nhằm làm rõ bất cập, hạn chế của pháp luật về đầu tư
- Đề xuất một số khuyến nghị liên quan đến hình thức đầu tư theo pháp luật đầu tư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 Chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư và các hình thức đầu tư; Chương 2 Thực trạng quy định của pháp luật về các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014;
Chương 3: Khuyến nghị thực thi các quy định về hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014
Trang 14CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ CÁC HÌNH THỨC
ĐẦU TƯ 1.1 Khái quát về đầu tư
Hoạt động đầu tư (gọi tất là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực
về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến
hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn
lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các
nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận hay lợi ích kinh tế xã hội
Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:
- Trước hết phải có vốn: Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác
như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
Trang 15- Thời gian đầu tư, thường tương đối dài từ 2 năm trở lên, có thể đến 50
năm, thậm chí theo luật từng nước có thể dài hơn nữa lên tới 99 năm Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án
- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hi n trên hai mặt: Lợi ích tài
chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội) Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng
1.2 Khái quát về sự ra đời và phát triển của pháp luật đầu tư
Sau ngày 30/4/1975, nước ta chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn củng
cố và xây dựng chủ nghĩa xã hội Lúc này, trong bối cảnh nước đi lên chủ nghĩa
xã hội từ điểm xuất phát rất thấp, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh lâu dài, nhân dân ta đã không ngừng phấn đấu vượt qua bao thử thách và khó khăn chồng chất Chúng ta đã có nhiều cố gắng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bước xác lập quan hệ sản xuất mới; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, thiết lập và củng cố chính quyền nhân dân trong cả nước Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến và mang nặng tính chất tự cấp tự túc Trình độ trang bị
kỹ thuật trong sản xuất cũng như kết cấu hạ tầng, văn hoá-xã hội lạc hậu; năng suất lao động xã hội rất thấp Cơ cấu kinh tế vẫn mang đặc trưng một nước nông nghiệp lạc hậu, mất cân đối nặng nề trên nhiều mặt, chưa tạo được tích luỹ trong nước và lệ thuộc nhiều vào bên ngoài, chủ yếu là các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô Tình trạng chia cắt, khép kín ở từng đơn vị, từng ngành và từng địa phương còn phổ biến Cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp để lại nhiều hậu quả tiêu cực Nền kinh tế hoạt động với hiệu quả rất thấp, chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp và một số ngành công nghiệp phụ vụ đời sống nhân dân
Trang 16Với một thực trạng kinh tế xã hội như vậy, để thực hiện được nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế xã hội, Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976 đã
khẳng định “việc đẩy mạnh quan hệ phân chia và hợp tác song phương trong
lĩnh vực kinh tế và phát triển các quan hệ kinh tế với các nước khác có một vai trò vô cùng quan trọng” (Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IV năm
1976) Thực hiện chủ trương đúng đắn đó của Đảng, ngày 18/4/1977, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/NĐ-CP kèm theo Điều lệ đầu tư nước ngoài (sau đây gọi tắt là Điều lệ đầu tư năm 1977), một văn bản pháp quy riêng biệt nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Đây là văn bản pháp quy đầu tiên về đầu tư nước ngoài này, thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được các nhà đầu tư nước ngoài thời kỳ đó đón nhận như một tín hiệu mở cửa của Việt Nam
Tuy nhiên, vào thời điểm năm 1977, mới có 2 năm sau thống nhất đất nước, nhà nước bắt tay vào công cuộc củng cố và phát triển kinh tế, với một đội ngũ cán bộ chưa có kinh nghiệm làm kinh tế, cũng như quản lý kinh tế, với một
cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp, với một đường lối kinh tế chỉ công nhận 2 thành phần kinh tế, đó là thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế Hợp tác xã Hơn nữa chúng ta lại là một nước xã hội chủ nghĩa, thế mà chúng ta đã mạnh dạn đưa ra một khung pháp lý như vậy, quả là một sự cố gắng rất cao, một “tầm nhìn xa trông rộng” hơn nhiều so với một số nước xã hội chủ nghĩa khác Điều này cho thấy, tuy chưa được công nhận trong các văn kiện của Đảng, cũng như chưa được thể chế hoá trong Hiến pháp, nhưng trên thực tế với Điều lệ đầu tư năm 1977 đã phần nào minh chứng cho tư duy lúc đó chúng ta đã nghĩ tới việc kết hợp với tư bản nước ngoài trong một khuôn khổ pháp lý để khôi phục phát triển kinh tế Điều lệ đầu tư năm 1977 đã đề cập đến, tạo ra được khung pháp lý
sơ khai cho hoạt động đầu tư nước ngoài, đây là những tiền đề cho những ý tưởng và là cơ sở cho những bước cải cách sau này, ngay cả Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 cũng đã lấy Điều lệ đầu tư năm 1977 làm nội dung chính để nâng cấp, hoàn thiện thêm
Trang 17Có thể khẳng định Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1977 là tiền đề và đặt nền móng cho sự phát triển của pháp luật về đầu tư sau này tại Việt Nam
Qua quá trình phát triển và mở rộng hội nhập quốc tế,Việt Nam đã không nhừng hoàn thiện thể chế Các Luật Đầu tư lần lượt được ra đời
Năm 1987 nước ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đáp ứng chủ trương đó Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được ban hành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu một giai đoạn mới của sự ra đời
hệ thống cơ sở pháp lý các hoạt động và thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Theo thống kê trong năm 1987, Việt Nam thu hút được 213 dự án, tổng vốn đăng ký 1,793 tỷ USD
Qua một thời gian thực hiện, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1987 đã bộc lộ những bất cập cần được sửa chữa và để phù hợp với tình hình mới luật sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1990; Luật sửa đổi bổ sung một
số điều Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 lần lượt được ra đời, khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 Giai đoạn này thu hút đầu tư nước ngoài đã nâng lên 459 dự án đầu
tư, với tổng vốn đầu tư là 5,28 tỷ USD, trong đó vốn FDI (Foreign Direct Investment- Vốn đầu tư nước ngoài) tăng tốc Làn sóng đầu tư thứ nhất bắt đầu vào Việt Nam bắt đầu khởi sắc
- Sau gần 10 năm triển khai và thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã được sửa đổi và bổ sung vào các năm 1990 và năm 1992 nhưng không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đầu tư tại Việt Nam Năm
1996 nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập với khu vực và thế giới, Việt Nam trở thành thị trường thương mại có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư, để kịp thời đón nhận được những nguồn vốn đầu tư nước ngoài, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 ngày 12/11/1996 đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trang 18- Nhằm tạo điều kiện xích gần giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 Trong năm 2000 thu hút FDI có dấu hiệu chậm lại do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, chỉ đạt 2,838 tỷ USD
- Việc thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài và dự án đầu tư trong nước vẫn nằm ở hai đạo luật khác nhau và có những điều chỉnh khác biệt trong đối xử, ưu đãi đầu tư Để phù hợp và hài hòa với pháp luật về đầu tư của các nước trên thế giới cũng như phù hợp với khuôn khổ pháp lý về đầu tư của
tổ chức thương mại thế giới (WTO), Luật Đầu tư năm 2005 đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 là văn bản pháp luật đầu tiên áp dụng thống nhất cho cả hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài, Bên cạnh dó, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng được ban hành nhằm quy định liên quan đến tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp hình thành trong quá trình triển khai dự án đầu tư tại Việt Nam, việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005 góp phần thu hút vốn FDI trở lại, làn sóng đầu tư thứ hai bắt đầu, trong năm 2005, thu hút được 6,839 tỷ USD.1
- Nhằm đổi mới hơn nữa chính sách thu hút đầu tư tại Việt Nam Luật Đầu tư năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 Việc ban hành luật này tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ
và hoàn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động đầu tư và sử dụng vốn đầu tư công, khắc phục những hạn chế, bất cập trong đầu tư công Trong năm 2017 vốn đầu tư nước ngoài FDI vào Việt Nam đạt 35,88 tỷ USD2
Sau 30 năm đổi mới đất nước để đáp ứng nhu cầu phát triển, nước ta đã không ngừng hoàn thiện thể chế, hoàn thiện pháp luật về đầu tư để thu hút đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
chủ biên sắp được xuất bản (ghi chú này được thực hiện nhằm tránh tranh chấp về quyền tác giả sau này)
Trang 191.3 Khái quát về các hình thức đầu tư
1.3.1 Khái ni m hình thức đầu tư
Trải qua nhiều quy định của pháp luật về đầu tư vào Việt Nam từ trước đến nay thì chưa có văn bản nào quy định khái niệm các hình thức đầu tư Ở Điều lệ đầu tư năm 1977, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1990, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 hay đến Luật Đầu tư năm
2014 chưa có Điều luật nào đưa ra khái niệm các hình thức đầu tư là gì, mà chỉ quy định các hình thức nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được phép thực hiện
Quyền lựa chọn hình thức, phương thức đầu tư do nhà đầu tư quyết định
Do vậy có thể hiểu: Các hình thức đầu tư là những phương thức được nhà đầu
tư lựa chọn theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: Đầu tư thành lập doanh nghiệp, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế, đầu tư theo hợp đồng BCC (hợp đồng hợp tác kinh doanh), đầu tư theo hợp đồng PPP (hợp đồng đối tác công - tư) theo Luật Đầu tư năm 2014
1.3.2 Sự phát triển của các hình hình đầu tư
Các hình thức đầu tư được nhắc đến sớm nhất trong Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1977 ngay sau khi Việt Nam vừa giành được độc lập thống nhất nước nhà
Theo các quy định tại Điều 1 của Điều lệ đầu tư năm 1977, Chính phủ Việt Nam chấp thuận đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các bên cùng
có lợi mà không phân biệt chế độ kinh tế chính trị của quốc gia của nhà đầu tư Mục đích khuyến khích đầu tư nước ngoài đã được thể hiện một cách rõ ràng Điều lệ đầu tư năm 1977 quy định ba hình thức đầu tư đó là:
Hình thức đầu tư “hợp tác sản xuất chia sản phẩm”: là tiền đề của hình
thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày nay, theo Điều lệ đầu tư năm 1977 thì bên nước ngoài thực hiện hình thức hợp tác chia sản phẩm s đóng góp vốn,
Trang 20trang thiết bị, vật tư, kỹ thuật, công nghệ để xây dựng cơ sở vật chất nhằm thực hiện chương trình hợp tác kinh tế được thỏa thuận trong hợp đồng; sản phẩm làm ra s được chia cho các bên theo một tỷ lệ do các bên thỏa thuận; phần sản phẩm của bên nước ngoài về nguyên tắc là để xuất khẩu, trừ trường hợp bên Việt Nam yêu cầu thì có thể tiêu thụ tại Việt Nam một phần hoặc toàn
bộ
Hình thức đầu tư “xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp”: Đây là tiền đề của
hình thức liên doanh ngày nay, trong đó “Xí nghiệp” được định nghĩa là: Bên nước ngoài và một tổ chức kinh tế quốc doanh Việt Nam hùn vốn lập một xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp dưới hình thức công ty vô danh hoặc công ty trách nhiệm có hạn, theo đó xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp được khẳng định là một pháp nhân thành lập theo luật pháp Việt Nam, hoạt động theo các điều khoản của hợp đồng hợp doanh và điều lệ của xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp Đồng thời quy định vốn do bên nước ngoài đầu tư vào xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp được giới hạn ít nhất phải bằng 30% và nhiều nhất không quá 49% tổng vốn đầu tư, quy định này có ý nghĩa không cho bên nước ngoài chiếm đa
số vốn dễ dẫn tới bên nước ngoài điều hành công ty, xí nghiệp Sản phẩm của
xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp quy định là phải được xuất khẩu với một tỷ lệ
do các bên thỏa thuận
Hình thức đầu tư “xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu”:
Đây là hình thức tiền để của hình thức 100% vốn nước ngoài ngày nay, theo đó
xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, với 100% vốn nước ngoài này cũng có tư cách pháp nhân Việt Nam, đồng thời trong này quy định rất chặt
ch rằng sản phẩm của xí nghiệp tư doanh này phải được xuất khẩu 100% Việc chấp nhận hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu đã chứng tỏ tính tự do và cởi mở của Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1977
Trang 211.3.2.1 Theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987
Sau đại hội VI năm 1986 của Đảng về đường lối đổi mới đất nước toàn
diện, sâu sắc và triệt để, mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta trên con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội Để đáp ứng yêu cầu hội nhập cũng như phát triển kinh tế, Nhà nước ta thể chế đường lối bằng luật cụ thể, nhằm tiếp tục thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã được xây dựng và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài hoàn thiện 3 hình thức đầu tư mà đã được quy định một cách sơ khai trong Điều lệ đầu tư năm 1977 với một nội dung rõ ràng hơn, khoa học hơn, cụ thể như sau:
- Hình thức đầu tư “hợp đồng hợp tác kinh doanh”:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh được áp dụng ngày càng rộng rãi ở nhiều nước và được nhà đầu tư nước ngoài hoan nghênh vì rất đa dạng, linh hoạt, hình thức này được bắt nguồn từ hình thức hợp tác sản xuất chia sản phẩm quy định trong Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987 đã chuẩn hóa và hoàn thiện lại thành hình thức hợp đồng hợp tác kinh
doanh và quy định tại Điều 5 như sau: “Bên nước ngoài và Bên Việt Nam được
hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh như hợp tác sản xuất chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác” Tinh thần của
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy định rất rõ đặc trưng cơ bản của Hợp đồng hợp tác kinh doanh là các bên cùng góp vốn để kinh doanh, sau đó phân chia kết quả kinh doanh và không thành lập một pháp nhân mới như hình thức liên doanh Mỗi bên hợp doanh vẫn giữ pháp nhân riêng của mình và tự quản lý thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo hai hệ thống luật pháp khác nhau Bên hợp doanh Việt Nam thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo pháp luật trong nước, bên hợp doanh nước ngoài thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo pháp Luật Đầu tư nước ngoài
Trang 22- Hình thức đầu tư “xí nghiệp liên doanh”:
Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 định nghĩa về hình thức xí
nghiệp liên doanh như sau : “Xí nghiệp liên doanh là xí nghiệp do bên nước
ngoài và bên Việt Nam hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc Hiệp định ký giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước ngoài” Theo định nghĩa này Nhà nước cho phép xí nghiệp
liên doanh gồm chỉ có hai bên là bên nước ngoài và bên Việt Nam, nếu có nhiều pháp nhân hoặc cá nhân muốn hợp tác đầu tư thì cũng cũng phải thoả thuận lại thành một bên nước ngoài và một bên Việt Nam để liên doanh với nhau Ngoài ra, bên cạnh đó còn có một liên doanh được thành lập trên có sở Hiệp định giữa Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Việt Nam đó là liên doanh dầu khí Việt-Xô nên định nghĩa trên đã mở rộng diện áp dụng cho cả đối tượng liên doanh mà được thành lập trên cơ sở Hiệp định giữa hai Chính phủ, trên thực tế thì từ đó đến nay, ngoài liên doanh dầu khí Việt-Xô thì cũng không có bất kỳ liên doanh nào tương tự như vậy
- Hình thức đầu tư “xí nghiệp 100% vốn nước ngoài”
Hình thức xí nghiệp 100% vốn nước ngoài thực chất đã được quy định trong Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1977, nhưng thời bấy giờ quy định rất chặt ch , bắt buộc phải xuất khẩu 100%, nên đã lấy tên hình thức
này là “xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu” Nếu quy định như
vậy s làm kém hấp dẫn của hình thức này, nên Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987 đã đổi tên thành hình thức xí nghiệp 100% vốn nước ngoài và được quy
định tại Điều 14 như sau: “Các tổ chức cá nhân nước ngoài được thành lập tại
Việt Nam xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, tự mình quản lý xí nghiệp, chịu sự kiểm soát của cơ quan Nhà nước quản lý về đầu tư nước ngoài, đuợc hưởng các quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ ghi trong giấy phép đầu tư Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam”
Như vậy theo tinh thần Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 thì xí nghiệp 100% vốn nước ngoài là xí nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài do tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và
Trang 23chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, không bắt buộc phải xuất khẩu 100% sản phẩm làm ra Đây là bước tiến rất quan trọng so với Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân Việt Nam
1.3.2.2 Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Vi t Nam năm 1996
Sau 10 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) nhận định đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nhưng một
số mặt còn chưa vững chắc Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá
độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng đất nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Đại hội đã vạch ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1996 - 2000, nêu nhiệm vụ tổng quát, những tư tưởng chỉ đạo, các chương trình và lĩnh vực phát triển
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa3
Đến năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1987 đã được sửa đổi, bổ sung 2 lần vào những năm 1990, năm 1992, đó là những bước rất quan trọng góp phần vào việc tạo lập hành lang pháp lý ngày càng hoàn chỉnh nhằm tăng tính hấp dẫn và cải thiện môi trường đầu tư tại Việt nam, từ đó đưa đến những kết quả tăng trưởng rõ rệt
Trang 24
Luật Đầu tư nước ngoài cũng như nhiều văn bản dưới luật được ban hành trong hoàn cảnh ta chưa có kinh nghiệm về hợp tác đầu tư trực tiếp với nước ngoài, nhưng về cơ bản đã dựng lên được một khuôn khổ pháp lý phù hợp với đường lối quan điểm của Đảng về kinh tế đối ngoại Luật Đầu tư nước ngoài đã có những quy định vừa rộng rãi vừa chặt ch , bảo đảm cho nhà đầu tư nước ngoài an toàn về đầu
tư và quyền tự chủ kinh doanh, đồng thời bảo đảm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, tuân thủ pháp luật của Việt Nam và bình đẳng, cùng có lợi Tuy nhiên, đến thời điểm năm 1996, khi đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, nhìn lại hệ thống pháp luật về đầu
tư nước ngoài, chúng ta thấy nhiều nhược điểm cần được khắc phục trong hoàn cảnh mới Những nhược điểm đó là: Một số quy định quá chung chung, không đủ mức cụ thể để dễ thi hành; Thiếu tính đồng bộ, nhiều văn bản còn chồng chéo và thiếu tính cập nhật; Thủ tục hành chính quá phức tạp, rườm rà; Chủ trương và quy hoạch chưa đủ mức cụ thể, làm cho các nhà đầu tư mất nhiều thời gian tìm hiểu, làm cho các cơ quan quản lý Nhà nước khó khăn trong việc xử lý
Những thành tựu quan trọng của 10 năm đổi mới, đặc biệt là sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong nhiều năm với nhịp độ cao, việc nâng cao một bước năng lực sản xuất xã hội, năng lực xuất khẩu, mức sống của nhân dân và sức mua của thị trường trong nước, những cố gắng rất lớn để hình thành và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đã tạo ra cho Việt Nam một hình ảnh mới trên thế giới như là một thị trường thương mại và đầu tư có sức hấp dẫn Đây là cơ hội mà ta có thể tranh thủ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài với qui mô lớn hơn, chất lượng cao hơn để phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài càng có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng nhu cầu to lớn cho đầu tư phát triển Hoạt động hợp tác đầu tư của ta với nước ngoài từ 1996 trở đi đứng trước những cơ hội và thách thức mới, số nước gia nhập vào cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng đông, làm cho cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn trước Trong cuộc cạnh tranh này, nhiều nước đã tiến hành những cải cách theo hướng thông thoáng hơn nhằm vượt lên trên những nước khác
Trang 25Từ bối cảnh của tình hình mới và từ những nhược điểm của Luật Đầu tư nước ngoài và trên cơ sở các mục tiêu :
- Chuẩn xác hóa các biện pháp khuyến khích đầu tư theo hướng tiếp tục tăng cường khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, tập trung vào những mục tiêu trọng điểm trong chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
- So sánh với các biện pháp khuyến khích ở các nước trong khu vực để các điều kiện khuyến khích đầu tư ở nước ta không thể kém hấp dẫn hơn các nước trong khu vực;
- Cụ thể hóa những quy định còn quá chung chung, bổ sung vào Luật những qui định đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn, luật hóa những quy định quan trọng
đã được kiểm nghiệm là đúng đắn nhưng chỉ mới được ban hành ở dạng văn bản duới luật;
- Từng bước tiến tới sự nhích dần giữa hệ thống pháp Luật Đầu tư nước
ngoài và pháp Luật Đầu tư trong nước, chỉ giữ lại những khác biệt mà điều kiện trong nước chưa cho phép loại bỏ;
- Tăng cường khâu tổ chức quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo cơ sở pháp lý cao hơn tạo chuyển biến một cách cơ bản nhằm đơn giản hóa thủ tục đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Quốc hội khoá 9 kỳ họp thứ 10 ngày 12/11/1996 đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 Luật Đầu tư nước ngoài 1996 được soạn thảo trên cơ sở kế thừa và phát triển của pháp luật đầu tư trước đó:
Về các hình thức đầu tư quy định tại Điều 4 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 vẫn quy định 3 hình thức đầu tư:
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Doanh nghiệp liên doanh;
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Trang 26Bên cạnh đó, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 bổ sung thêm đã quy định
bổ sung thêm phương thức đầu tư Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) (Điều 19), tạo điều kiện cho nước ta
s sớm có các công trình cơ sở hạ tầng theo đúng quy hoạch và ta s được bàn giao làm chủ việc vận hành các công trình này ngay sau khi chủ đầu tư nước ngoài xây dựng xong (BT) Để nhà đầu tư nước ngoài thu hồi được vốn và có một phần lợi nhuận thoả đáng, phía ta s cho phép họ được phát triển một dự án khác theo đúng quy hoạch và với những điều kiện hai bên thoả thuận (BTO)
Sau 4 năm thực hiện, trước những vướng mắc, khó khăn, giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 đã tạo điều kiện xích gần hơn giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo thế chủ động trong tiến trình hội nhập và đảm bảo các cam kết quốc tế, làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam hấp dẫn, thông thoáng hơn so với trước đây và so với một số nước trong khu vực Đặc biệt về hình thức đầu tư, Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 nhằm mở rộng quyền chủ động của nhà đầu tư trong việc lựa chọn hình thức đầu tư và tổ chức lại doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu và tính chất hoạt động của dự án, Điều 19 của Luật Đầu tư nước ngoài năm
1996 đã bổ sung quy định mới cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên hợp doanh chuyển đổi hình thức đầu tư, chia, tách, hợp nhất, sát nhập theo các điều kiện và thủ tục do Chính phủ quy định Quy định nói trên không chỉ đáp ứng yêu cầu hoạt động đa dạng của dự án đầu tư nước ngoài mà còn tạo cơ sở pháp lý để Cơ quan cấp phép đầu tư xử lý vấn đề này một cách linh hoạt theo những nguyên tắc của Luật doanh nghiệp hiện hành và thông lệ quốc tế
1.3.2.3 Theo Luật Đầu tư năm 2005
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, tạo một sân chơi bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư Năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư và có hiệu lực từ 01/7/2006, Luật Đầu
Trang 27tư năm 2005 thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước Khác cơ bản với Luật Đầu tư nước ngoài trước đây, Luật Đầu tư năm 2005 được thiết kế theo hướng chỉ quy định các nội dung liên quan đến hoạt động đầu tư, còn các nội dung liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp thì chuyển sang Luật Doanh nghiệp điều chỉnh, các mức ưu đãi về thuế chuyển sang quy định tại các văn bản pháp luật về thuế và các nội dung mang tính chất đặc thù thì dẫn chiếu sang pháp luật chuyên nghành điều chỉnh
So với Luật Đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước trước đây thì pháp luật đầu tư 2005 quy định rõ hơn về những hình thức đầu tư như: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; Đầu tư phát triển kinh doanh; Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư và Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập tổ chức kinh tế bằng 100% vốn của mình, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp Nhà đầu tư cũng có thể đầu tư thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh trên được tiếp tục liên doanh với nhà đầu trong nước và nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế mới theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan Tính theo cách thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2005 có thể chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:
(1) Các hình thức đầu tư trực tiếp
+ Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Căn cứ Luật đầu tư năm 2005, nhà đầu tư được đầu tư để thành lập các tổ chức kinh tế sau đây:
Trang 28a) Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
b) Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật;
c) Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch
vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;
d) Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật
Ngoài các tổ chức kinh tế trên, nhà đầu tư trong nước được đầu tư để thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức và hoạt động theo Luật hợp tác xã; hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật
+ Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
Nhà đầu tư nước ngoài liên kết với nhà đầu tư trong nước, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công ty như công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên trở lên), công ty cổ phần Việc liên kết đó đã tạo ra các tổ chức kinh tế liên doanh giữa một bên là doanh nghiệp trong nước và một bên là nhà đầu tư nước ngoài
+ Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT
Hợp đồng BCC (Hợp đồng hợp tác kinh doanh): Hợp đồng hợp tác kinh
doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân
Hợp đồng BOT (Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao): Hợp đồng
BOT là hình thức đầu tư được ký giữa nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân
Hợp đồng BTO (Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh) là hình
thức đầu tư ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công
Trang 29trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
Hợp đồng BT (Hợp đồng xây dựng – chuyển giao) là hình thức đầu tư được ký
giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu
tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT Điều 23 Luật Đầu tư năm 2005 quy định: Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng BCC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác
Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng
Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quy định
+ Đầu tư phát triển kinh doanh
Đầu tư phát triển kinh doanh là hình thức đầu tư theo đó, nhà đầu tư bỏ vốn để
mở rộng quy mô, nâng cao năng lực hoạt động của cơ sở kinh doanh Đầu tư phát triển kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư hiện có, đồng thời bổ sung vốn đầu tư mới, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững của cơ sở kinh doanh Đầu tư phát triển kinh doanh bao gồm các hình thức cụ thể là: Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh (thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, các đơn vị trực thuộc ); Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường
Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức kinh doanh sau đây:
Trang 30- Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh;
- Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường
+ Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Nhà đầu tư được góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt Nam Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số lĩnh vực, ngành, nghề do Chính phủ quy định
Đến năm 2005, với việc ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu
tư năm 2005 thì nhà đầu tư nước ngoài nói chung được đối xử bình đẳng như nhà đầu tư trong nước, cả về quyền đầu tư, góp vốn, mua cổ phần Riêng với ngân hàng thương mại Việt Nam, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 và Thông tư số 07/2007/TT-NHNN ngày 29/11/2007 hướng dẫn Nghị định số 69/2007/NĐ-CP đã quy định thu hẹp đối tượng được các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, chỉ là các ngân hàng thương mại mà không bao gồm tất cả các
tổ chức tín dụng Việt Nam Đối với các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước cổ phần hóa thì nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần với tỷ lệ được quy định riêng tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg ngày 15/04/2009 cho phép nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ 49% tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần đại chúng Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/06/2009 được ban hành có một số quy định thay đổi như việc bãi bỏ hạn chế tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam
Về hình thức góp vốn, mua cổ phần nhà đầu tư nước ngoài có quyền góp vốn, mua cổ phần: Nhà đầu tư nước ngoài “mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản
lý hoạt động đầu tư” thì được coi là hình thức “đầu tư trực tiếp”
+ Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức đầu tư được thực hiện thông qua việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của một hoặc một số
Trang 31công ty cùng loại (công ty bị sáp nhập) vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập
Mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp là hình thức đầu tư theo đó nhà đầu tư nhận chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp
có thanh toán Từ phương diện luật cạnh tranh, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp là hành vi của doanh nghiệp thuộc nhóm hành vi tập trung kinh tế
Việc đầu tư thông qua thực hiện sáp nhập và mua lại doanh nghiệp tiềm ẩn khả năng tạo lập vị trí thống lĩnh và cao nhất là vị trí độc quyền của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ; Làm giảm chỉ số cạnh tranh, thậm chí triệt tiêu cạnh tranh của thị trường Vì l đó, khi sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, ngoài việc phải đáp ứng các điều kiện quy định bởi Luật Đầu tư, các nhà đầu tư còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật cạnh tranh và các quy định pháp luật có liên quan
Những năm trước đây, để đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và xu thế hội nhập, nhiều đạo luật quan trọng liên quan đã được ban hành Chẳng hạn Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006 việc ban hành các đạo luật nói trên đã đáp ứng được nhu cầu xác lập vị trí pháp lý, điều tiết các quan hệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài của các loại doanh nghiệp nói chung, trong đó có việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp Trước khi có Luật Đầu tư năm 2005, hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài thông qua việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp được quy định trong một số điều khoản, việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp các doanh nghiệp tư nhân (Điều 103 Luật Doanh nghiệp 1999), việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp các doanh nghiệp nhà nước trong Nghị định 103/1999/NĐ-CP; Nghị định số 80/2005/NĐ-CP của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh Doanh nghiệp nhà nước
Luật Đầu tư năm 2005 đã ghi nhận việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp là một hình thức đầu tư quan trọng, cụ thể: “Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp” như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp, dưới các hình thức:
Trang 32(i) Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý hoạt động đầu tư;
(ii) Mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động;
(iii) Mua cổ phiếu để thâu tóm hoặc sáp nhập doanh nghiệp
Mặc dù hành lang pháp lý liên quan đến sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
có nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, thống nhất, tuy nhiên những quy định pháp luật hiện hành là cơ sở quan trọng góp phần thúc đẩy thị trường việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp nói chung, thu hút FDI qua thị trường việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp nói riêng
(2) Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý các hoạt động đầu tư
Sự khác nhau cơ bản giữa các hình thức đầu tư trực tiếp và các hình thức đầu
tư gián tiếp là mức độ, phạm vi quản lí và kiểm soát của chủ đầu tư đối với hoạt động kinh doanh Trong các hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lí, điều hành quá trình thực hiện và sử dụng các nguồn lực đầu tư Nhà đầu tư gián tiếp về cơ bản chỉ được hưởng các lợi ích kinh tế từ hoạt động đầu
tư Đầu tư gián tiếp bao gồm những hình thức phổ biến như: Đầu tư thông qua mua chứng khoán (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác); Đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; Đầu tư thông qua ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm
Nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức sau đây: + Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; Việc mua cổ phần mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư được coi là
“đầu tư gián tiếp”
+ Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán;
Trang 33+ Thông qua các định chế tài chính trung gian khác
Đầu tư thông qua mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác của tổ chức, cá nhân và thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật về chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan
1.3.2.4 Theo Luật Đầu tư năm 2014
Sau hơn 8 năm triển khai thi hành, bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, Luật Đầu tư năm 2005 đã bộc lộ một số hạn chế cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung; cụ thể như sau:
Một là, với phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ hoạt động đầu tư,
gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, đầu tư kinh doanh vốn nhà nước và đầu
tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài, Luật Đầu tư về cơ bản bảo đảm thực hiện chức năng như một luật khung điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực Tuy nhiên, sau khi Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực thi hành, một số đạo luật liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh đã được ban hành hoặc sửa đổi (như Luật Chứng khoán, Luật Tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản ) Trong bối cảnh đó, Luật Đầu tư cần được xem xét sửa đổi để xác định rõ nguyên tắc áp dụng giữa các Luật nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, đặc biệt là các quy định liên quan đến điều kiện đầu tư, thủ tục đầu tư và ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Hai là, thực tiễn thi hành Luật Đầu tư năm 2005 trong thời gian qua cho
thấy, những vướng mắc trong quá trình hoạt động đầu tư, kinh doanh của các nhà đầu tư có nguyên nhân phát sinh từ một số khái niệm chưa được quy định cụ thể trong Luật (như khái niệm lĩnh vực đầu tư có điều kiện, điều kiện đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ) Các lĩnh vực, ngành nghề
ưu đãi đầu tư cũng như đối tượng ưu đãi đầu tư chưa được quy định thống nhất giữa Luật Đầu tư với các luật thuế và một số luật chuyên ngành Quy định về một số lĩnh vực đầu tư có điều kiện còn thiếu minh bạch, dẫn đến cách hiểu không thống nhất
giữa các cơ quan quản lý và nhà đầu tư Bên cạnh đó, những biện pháp bảo đảm đầu
Trang 34tư theo quy định của Luật cũng chưa được cập nhật và phản ánh đầy đủ cam kết của Việt Nam về bảo hộ đầu tư theo các điều ước quốc tế được ký kết trong thời gian qua, trong đó có cam kết trong WTO
Ba là, Luật Đầu tư năm 2005 còn tồn tại một số quy định khác biệt giữa nhà
đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc thành lập doanh nghiệp và thực hiện dự án đầu tư, đồng thời chưa xác định rõ hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư và triển khai thực hiện dự án Các thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng chưa được quy định thống nhất giữa các luật nên đã dẫn đến sự chồng chéo về mục tiêu, nội dung quản lý cũng như cơ quan thẩm định, phê duyệt Cộng đồng doanh nghiệp cho rằng, thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng là chuỗi thủ tục tồn tại nhiều khó khăn nhất cho doanh nghiệp và là một trong những “nút thắt” phải tháo
gỡ nhằm tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh
Bốn là, các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư theo quy
định của Luật chưa được hoàn thiện kịp thời trong bối cảnh thực hiện chế độ phân cấp Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu tư còn tồn tại một số bất cập từ công tác xây dựng cơ chế, chính sách, xúc tiến đầu tư đến cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư
Năm là, Luật Đầu tư 2005 chưa phân định những hoạt động đầu tư ở nước
ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và những hoạt động thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư Mặt khác, các quy định về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư ra nước ngoài còn chưa đầy đủ, dẫn đến khó xác định thẩm quyền, trách nhiệm của nhà đầu tư cũng như cơ quan quản lý trong việc quyết định đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài
Những hạn chế nêu trên đã làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn
đối với các nhà đầu tư, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với xu hướng cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt từ các nước trên thế
giới và trong khu vực Theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp, so với một số nước trong khu vực thì hệ thống pháp luật và thủ tục hành chính của nước ta vẫn
Trang 35chưa thật sự đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư Bên cạnh đó, quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội nhập sâu rộng hơn với khu vực và thế giới đã và đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách trong đó có Luật Đầu tư để thích ứng với đòi hỏi cao hơn của quá trình phát triển kinh tế- xã hội cũng như thực hiện cam kết quốc tế về tự do hóa đầu tư Xuất phát từ những hạn chế trên thì Luật Đầu
tư năm 2014 đã được ban hành để giải quyết các vấn đề trên
Luật đầu tư năm 2014 quy định các hình thức đầu tư
- Về đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế (Khoản 1 Điều 22)
Nhằm xóa bỏ một số hạn chế, phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc thành lập doanh nghiệp và thực hiện hoạt động đầu tư, góp phần tạo mặt bằng pháp lý thống nhất về quyền thực hiện hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định một số nội dung sau:
Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế phù hợp với tất cả loại hình tổ chức kinh tế Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (Khoản 1 Điều 22)
Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ với mức không hạn chế trong doanh nghiệp Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác (Khoản 3 Điều) Như vậy, theo các quy định nêu trên, trừ một số hạn chế về tỷ lệ vốn góp và phạm vi hoạt động theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài đã được đối xử bình đẳng với nhà đầu tư trong nước về quyền thực hiện hoạt động đầu
Trang 36Luật Đầu tư năm 2014 sửa đổi bổ sung quy định về vấn đề này theo hướng khẳng định quyền của nhà đầu tư trong việc góp vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần của doanh nghiệp phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp và trên cơ sở đáp ứng các điều kiện, thủ tục được quy định cụ thể tại Luật này Doanh nghiệp nhận vốn góp hoặc bán cổ phần, phần vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
- Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 51%, nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP
Luật Đầu tư năm 2014 bổ sung quy định về đầu tư theo hình thức Hợp đồng PPP phù hợp với chủ trương thu hút các nguồn vốn đầu tư tư nhân để phát triển các công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công (Điều 27) Theo đó, nhà đầu
tư ký kết Hợp đồng PPP với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh - BCC
Luật Đầu tư năm 2014 kế thừa những quy định của Luật Đầu tư năm 2005 về hình thức đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh -BCC Hợp đồng BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Các bên tham gia hợp đồng BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp
Trang 37đồng BCC Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên thỏa thuận.
1.3.3 Vai trò của các hình thức đầu tư
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia Để thực hiện
và duy trì được mục tiêu đó, mỗi nước s có những chính sách và những bước đi phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên dù là quốc gia nào cũng phải trả lời câu hỏi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế ở đâu và cách thức để huy động những nguồn lực ấy như thế nào? Thật vậy, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, muốn tồn tại và phát triển được mỗi nền kinh tế đều phải phát huy nội lực trong nước kết hợp với các nguồn lực bên ngoài Thực tiễn 30 năm đổi mới kinh tế ở Việt Nam cho thấy, hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài luôn phải song
hành và hoạt động vì mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế
Đầu tư là một hoạt động đóng vai trò rất quan trọng, nó làm gia tăng của cải vật chất cho xã hội, không có đầu tư nền kinh tế s khó có thể tăng trưởng và xã hội
s chậm phát triển
Đối với mỗi doanh nghiệp thì đầu tư có vai trò quyết định đến cả sự ra đời,
tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở Khi tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho sự ra
đời của bất kì cơ sở nào cũng cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kì của các cơ sở vật chất kĩ thuật vừa được tạo tạo ra Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất kĩ thuật của các cơ sở này đã hao mòn, hư hỏng Để duy trì được sự hoạt động bình thường cần định kì tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kĩ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư Với mỗi loại hình đầu tư có vị trí, vai trò khác nhau trong sự phát triển của các doanh nghiệp, mỗi loại hình lại phù hợp và mang lại hiệu quả khác nhau đối với doanh nghiệp
Trang 38- Về đầu tư thành lập tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp), doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo
- Về mô hình hợp tác công tư (PPP) trong việc nâng cao chất lượng các dịch
vụ công được coi là hướng đi đúng đắn của nước ta trong thời gian hiện nay Dự án hợp tác công tư vừa trở thành đòn bẩy đối với các nguồn lực tài chính và chuyên môn từ khu vực tư nhân nhằm cải thiện và mở rộng độ bao phủ của các dịch vụ cơ
sở hạ tầng tại Việt Nam, vừa mang lại lợi ích cho cả Nhà nước và người dân
- Về việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào các tổ chức kinh tế (các doanh nghiệp) tại Việt Nam góp phần to lớn cho việc tăng vốn vào thị trường kinh doanh, sản xuất, đưa doanh nghiệp trong nước có khả năng tiếp cận với những nguồn công nghệ mới, tiên tiến trên thế giới, góp phần mở rộng thị trường, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế và tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách
- Về hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp các nhà đầu tư tiết kiệm thời gian và công sức do không phải thành lập thêm pháp nhân mới mà vẫn đạt được hiệu quả quản lý trong đầu tư
Đầu tư nước ngoài đem lại lợi ích cho cả Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài Đối với nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam khả năng thu lợi cao hơn, phân tán được rủi ro
Đối với Việt Nam hiển nhiên là việc thu hút đầu tư nước ngoài mang lại nhiều lợi nhuận cho nền kinh tế Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay không chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh tế mà còn được thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác như y
tế, giáo dục, khoa học công nghệ, thể dục thể thao Nỗ lực của Việt Nam trong việc
Trang 39thu hút đầu tư là rất lớn Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đến Luật Đầu tư năm 2014 chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
Thứ nhất, đầu tư nước ngoài nói riêng và đầu tư nói chung đã trở thành một trong những nguồn lực quan trọng góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội và đầu tư cho phát triển;
Thứ hai, đầu tư trong nước và nước ngoài đã góp phần đưa nước ta ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, mang lại cho ta thế và lực trên trường quốc tế;
Thứ ba, đầu tư góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở ra nhiều ngành nghề mới, sản phẩm mới;
Thứ tư, đầu tư nước ngoài giúp cho chúng ta nâng cao năng lực quản lý, tác phong công nghiệp, trình độ và chất lượng công nghệ cũng được phát triển, có cơ hội tiếp xúc với nhiều kỹ thuật tiến bộ;
Thứ năm, thu hút đầu tư nước ngoài giúp chúng ta mở rộng quan hệ kinh tế với nhiều nước, tích cực hội nhập sâu rộng (Nguyễn Văn Luật 2004, tr19)
Trang 40CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦ PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU
TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014 2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về hình thức đầu tư
2.1.1 Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là một trong những hình thức cơ bản trong đầu tư kinh doanh nói chung Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014 (Điều 22), nhà đầu tư có quyền thành lập các loại hình tổ chức kinh tế5 Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh Điều này có nghĩa, các nhà đầu tư bao gồm các nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài6
Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế được quy định tại Điều 22 Luật Đầu tư năm 2014 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 44 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
Hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là việc nhà đầu tư bỏ vốn để thực hiện hoạt động thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh Cùng với đầu tư theo hợp đồng thì đầu
tư thành lập tổ chức kinh tế là một hình thức đầu tư trực tiếp mà ở đó nhà đầu tư trực tiếp bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia hoạt động quản lý
5
Khoản 16, Điều 3, Luật Đầu tư năm 2014 đề cập tới khái niệm “Tổ chức kinh tế”, theo đó là “tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”
chủ biên sắp được xuất bản (ghi chú này được thực hiện nhằm tránh tranh chấp về quyền tác giả sau này)