1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân qua thực tế thi hành tại TP hạ long, quảng ninh

90 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 879,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả đạt được của Luận văn - Luận văn đã phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như: Khái niệm về đất

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Học viên Cao học: Lê Tuấn Anh

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thị Mơ

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CẢM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn có trích nguồn rõ ràng, đầy đủ, các kết quả nghiên cứu là xác thực và trung thực của tác giả

Tác giả luận văn

Lê Tuấn Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân thành nhất tới sự hướng dẫn hết sức nhiệt tình

của GS TS Nguyễn Thị Mơ, trường Đại học Ngoại thương

Tôi cũng xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới các cán bộ, giảng viên của Cơ

sở Quảng Ninh, Khoa Luật, Khoa sau đại học của Nhà trường, về sự tận tình, tận

tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Do thời gian và trình độ còn hạn chế, tác giả rất mong nhận được sự góp ý của

các thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lê Tuấn Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM KẾT i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN 8

1.1 Khái niệm về đất đai và phân loại đất đai 8

1.1.1 Khái niệm về đất đai 8

1.1.2 Phân loại đất đai 8

1.2 Khái niệm và căn cứ pháp lý để thu hồi đất 10

1.2.1 Khái niệm về thu hồi đất 10

1.2.2 Căn cứ pháp lý để thu hồi đất 11

1.3 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 13

1.3.1 Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 13

1.3.2 Đặc điểm của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 14

1.3.3 Ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 16

1.4 Khái niệm và đặc điểm và cơ cấu của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân 18

1.4.1 Khái niệm về hộ gia đình, cá nhân 18

1.4.2 Khái niệm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân 20

1.4.3 Đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân 21

1.4.4 Cơ cấu pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân 22

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢN NINH 26 2.1 Thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân 26

2.1.1 Quy định về nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các

hộ gia đình, cá nhân 26 2.1.2 Quy định về căn cứ và nội dung bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân 28 2.1.3 Quy định về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân 32 2.1.4 Quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân 35

2.2 Thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 37

2.2.1 Thực tiễn thi hành các nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 37 2.2.2 Thực tiễn thực thi các quy định về điều kiện và nội dung bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 38 2.2.3 Thực tiễn thực thi các quy định về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 45 2.2.4 Thực tiễn giải quyết khiếu nại về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 49

Trang 7

2.2.5 Đánh giá về thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 52

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 55 3.1 Nhu cầu và phương hướng hoàn thiện pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gi đình, cá nhân từ thực tiễn thành phố Hạ Long 55

3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gi đình, cá nhân từ thực tiễn thành phố Hạ Long 55 3.1.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thành phố Hạ Long 57

3.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân 60

3.2.1 Tiếp tục sửa đổi Luật Đất đi năm 2013 60 3.2.2 Hoàn thiện khung pháp lý về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN trên cơ sở đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và tính ổn định 62 3.2.3 Bổ sung quy định bồi thường cho HGĐ, CN bị thu hồi đất gắn với an sinh xã hội, bảo đảm đời sống lâu dài của họ 63

3.3 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 64

3.3.1 Thực hiện quy trình công khai, minh bạch, dân chủ trong công khai các dự án đầu tư, bồi thường khi thu hồi đất 64 3.3.2 Tăng cường tuyên truyền Luật Đất đai 2013 và các quy định pháp luật

về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 65 3.3.3 Thực hiện các phương thức và nâng cao trách nhiệm của tổ chức và đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật 67

Trang 8

3.3.4 Giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo của nhân dân về bồi thường

khi Nhà nước thu hồi đất 68

3.3.5 Đảm bảo chính sách an sinh xã hội cho người bị thu hồi đất 68

3.4 Một số kiến nghị 69

3.4.1 Kiến nghị đối với Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Hạ Long 69 3.4.2 Kiến nghị đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị, truyền thông và cộng đồng 71

3.4.3 Kiến nghị đối với nhà đâu tư hay các tổ chức được giao đất 72

3.4.4 Kiến nghị đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất 73

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT STT Ký hiệu viết tắt Nội dung viết tắt

11 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

12 CTNC Công trình nghiên cứu

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng giá đất ở, đất thương mại dịch vụ, đất sản xuất kinh doanh 43phi nông nghiệp tại một số khu vực trên địa bàn thành phố hạ Long 43năm 2015 – 2019 43Bảng 2.2 Thống kê về các dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố Hạ ong giai đoạn 2013 - 2017 47Bảng 2.3 Khái quát tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long 48Bảng 2.4 Kết quả thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Hạ Long 49Bảng 2.5 Kết quả thống kê về các vụ việc khiếu nại về đất đai trong trên địa bàn thành phố Hạ Long giai đoạn 2013 – 2017 50

Trang 11

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ

Đề tại luận văn: “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của

các hộ gia đình, cá nhân qua thực tế thi hành tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”

1 Kết quả đạt được của Luận văn

- Luận văn đã phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như: Khái niệm về đất phi nông nghiệp; khái niệm và căn cứ để Nhà nước thu hồi đất; khái niệm và đặc điểm của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN

- Luận văn đã phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các HGĐ, cá nhân, bào gồm: (i) Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN; (ii) Căn cứ để bồi thường

và cách tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN; (iii) Trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN (iv) Giải quyết khiếu nại về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN

- Luận văn đã phân tích và làm rõ thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của các HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; chỉ ra những bất cập của pháp luật và những vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật;

- Luận văn đã đề xuất phương hướng và giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

2 Khả năng ứng dụng thực tiễn của Luận văn

- Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các HGĐ, CN

Trang 12

- Luận văn là tài liệu có tính ứng dụng trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của các HGD, CN trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cũng là tài liệu tham khảo cho các cơ quan cấp tỉnh nói chung trong việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai có tầm quan trọng to lớn đối với người dân cả về phương diện nơi ở lẫn tư liệu sản xuất Ở nước ta, Hiến pháp quy định đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là người quản lý Dựa vào quy định của pháp luật, Nhà nước cho dân quyền SDĐ Từ khi chính thức giao đất cho người dân nói chung và HGĐ, CN nói riêng, Nhà nước đã tuyên bố bảo hộ quyền SDĐ của họ Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế nói chung, CNH, HĐH nói riêng, trên lãnh thổ nước ta đã, đang và sẽ có hàng ngàn dự án đầu tư xây dựng chiếm đất ở và đất sản xuất của HGĐ, CN Sự xuất hiện của các công trình này là tất yếu bởi chúng cần thiết cho tăng trưởng kinh tế và cải thiện điều kiện chung, nhưng HGĐ, CN bị thu hồi đất thì bị thiệt thòi và cuộc sống bị xáo trộn

Để bù đắp cho họ một phần thiệt thòi đó, trong những năm gần đây Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Điều này đã giúp cho HGĐ, CN bị thu hồi đất bước đầu ổn định, trở lại cuộc sống Mặc dù Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành, được sửa đổi thường xuyên trong những năm vừa qua, trên thực tế việc áp dụng những quy định này đang gặp phải rất nhiều vướng mắc như: Điều kiện được bồi thường, giá trị được bồi thường về đất, nhà ở và các tài sản trên đất, các vấn đề

về tái định cư tái định cư và điều kiện sinh hoạt của người dân phải di dời, các vấn

đề phát sinh sau khi thực hiện các chính sách hỗ trợ Bên cạnh đó, việc áp dụng các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại nhiều địa phương trong thời gian qua vẫn còn cứng nhắc, bị động, thiếu sự linh hoạt và thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh không phải là ngoại lệ

Nằm trong bối cảnh chung đó, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh cũng gặp nhiều khó khăn khi thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Tuy công tác bồi thường trong những năm gần đây ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã được cải thiện hơn trước rất nhiều, nhưng cả trong nội dung của pháp luật lẫn trong việc tổ chức thực thi pháp luật vẫn còn nhiều vướng mắc Tình

Trang 14

trạng này nếu như không được khắc phục sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của HGĐ, CN có đất bị thu hồi và làm mất lòng tin của họ Vì thế, việc tìm kiếm các giải pháp để nâng cao hiệu quả việc thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề quan trọng đối với thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuy nhiên, để có những giải pháp phù hợp thì cần có sự nghiên cứu vấn đề này một cách

cụ thể

Với ý nghĩa đó, người viết đã chọn vấn đề “Pháp luật về bồi thường khi

Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân qua thực tế thi hành tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” để làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ Luật

học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN đã thu hút được

sự quan tâm của nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau Có thể đề cập đến một số công trình, bài báo tiêu biểu sau đây:

Năm 2007, đề tài NCKH cấp Bộ (do Viện nhiên cứu khoa học pháp lý – Bộ

Tư pháp phối hợp với Bộ Tài nguyên môi trường thực hiện) đã được nghiệm thu với tiêu đề “Xây dựng cơ chế pháp lý để bảo vệ đất nông nghiệp trong điều kiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa” Đề tài này phân tích thực trạng cơ chế pháp lý về bảo vệ đất nông nghiệp với tư cách là một nguồn tài nguyên, từ đó lồng ghép các nhiệm vụ bảo vệ môi trường đất nông nghiệp trong quá trình quy hoạch, khai thác, sử dụng và chuyển đổi mục đích sử dụng Tuy nhiên, đề tài này không đề cập đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Năm 2008, tác giả Phan Thúy Hiền có bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (số 12/2008) có tên gọi “Cơ sở hiến định về thu hồi đất vì mục đích công cộng ở Việt Nam” Trong đó, tác giả này đã phân tích và làm rõ các quy định của Hiến pháp Việt Nam liên quan đến quyền thu hồi đất vì mục đích công cộng ở Việt Nam Mặc dù hiện nay là Hiến pháp năm 2013 nhưng những phân tích về cơ sở về

Trang 15

thu hồi đất vì mục đích công cộng vẫn có giá trị về mặt lý luận để người viết thực hiện luận văn

Năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Nga có bài viết đăng trên Tạp chí Luật học (số 11/ 2010) với tiêu đề “Pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng và những vướng mắc trong quá trình áp dụng” Trong đó, tác giả phân tích nội dung về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung theo quy định của Luật Đất đai 2003 và chỉ ra những bất cập Tuy nhiên, đến nay những bất cập đó đã được sửa đổi trong Luật Đất đai năm 2013

Năm 2013, đề tài NCKH cấp trường (do TS Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm) về “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất – thực trạng và hướng hoàn thiện” Đề tài đã cung cấp bức tranh khá sinh động của những vụ việc phát sinh có thật trong thực tế, đồng thời thể hiện những vướng mắc, những câu hỏi mà bản thân pháp luật hiện hành chưa có lời giải Các kinh nghiệm thực tiễn của quá trình tổ chức thực thi pháp luật cũng được phân tích, làm sáng tỏ trong đề tài này Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu này phân tích thực trạng pháp luật nói chung, không phân tích về thực trạng thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Bên cạnh đó, còn có một số bài báo khoa học liên quan đến đề hướng nghiên cứu của Luận văn được công bố trên các Tạp chí khoa học chuyên ngành như: TS Trần Quang Huy với bài viết “Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất” đăng trên Tạp chí Luật học (số 10/2010); TS Nguyễn Quang Tuyên có bài viết “Công khai, minh bạch để bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất” đăng trên Tạp chí Luật học (số 3/2012); năm 2013, TS Doãn Hồng Nhung công bố cuốn sách chuyên khảo “Pháp luật về định giá đất trong bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam” (do NXB Tư pháp xuất bản) Bên cạnh đó còn có các CTNC tiêu biểu như: chuyên

đề “Bình luận và góp ý đối với các uy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất trong Dự thảo Luật đất đai sửa đổi” do PGS TS Nguyễn Quang Tuyến (đăng trong Hội thảo Khoa học “Góp ý Dự thảo Luật đất đai sửa đổi” (tại Đại học Luật Hà Nội năm 2013)

Trang 16

Các công trình NCKH của các tác giả nói trên là nguồn tài liệu quý giá để tác giả Luận văn tham khảo khi thực hiện Luận văn này về các vấn đề như: cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật và thực tế áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN Tuy nhiên, chưa có công rình nào nghiên cứu cụ thể pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN từ thực trạng áp dụng tại thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Do đó, đây là Luận văn Thạc sĩ Luật học đầu tiên nghiên cứu vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các HGĐ, CN và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quản Ninh và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các HGD, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân

- Phân tích thực trạng pháp luật để chỉ ra những bất cập của pháp luật trong các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân

- Phân tích thực trạng thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình,

cá nhân

Trang 17

4 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến việc Nhà nước thu hồi đất và việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các HGĐ, CN Đối tượng nghiên cứu của Luận văn còn bao gồm cả các quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường nói chung và thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có nội dung rất rộng, bao gồm vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp có những quy định rất riêng biệt Do đó, trong phạm vi của Luận văn, Luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của HGĐ, CN; không nghiên cứu vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Liên quan đến đất phi nông nghiệp, pháp luật đất đai chia ra nhiều loại đất khác nhau như: Đất ở, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, đất sản xuất, đất sử dụng vào mục đích công cộng,… và việc thu hồi những loại đất này đều có những điểm riêng Tuy nhiên, Luận văn không phân tích từng điểm riêng đó mà chỉ nghiên cứu vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp nói chung

Khi nghiên cứu pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của HGĐ, CN, Luận văn chỉ phân tích 4 vấn đề là: (i) Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN; (ii) Căn cứ để bồi thường và cách tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN; (iii) Trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN (iv) Giải quyết khiếu nại về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN

- Về phạm vi không gian và thời gian: Luận văn nghiên cứu các quy định về bồi thường cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn áp dụng

Trang 18

tại địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay Khi đề xuất các giải pháp, các giải pháp mà luận văn đề xuất sẽ được áp dụng từ nay cho đến năm 2025và xu hướng đến năm 2030

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp hệ thống hóa, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp Ngoài

ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh luật học để phân tích các qui phạm pháp luật nhằm làm rõ nội dung của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN, từ đó chỉ ra ưu điểm cũng như những bất cập trong pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và thực tiễn áp dụng tại thành phố hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Các phương pháp này được sử dụng cụ thể như sau:

Tại Chương 1, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh luật hoc được sử dụng để phân tích các quy định của pháp luật nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như: Khái niệm về đất phi nông nghiệp; khái niệm và căn cứ để Nhà nước thu hồi đất; khái niệm và đặc điểm của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN

Tại Chương 2, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp thống kê được sử dụng để phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Tại Chương 3, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp hệ thống hóa được sử dụng để luận giải cho phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

6 Kết cấu của luận văn

Trang 19

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình

cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Trang 20

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN 1.1 Khái niệm về đất đai và phân loại đất đai

1.1.1 Khái niệm về đất đai

Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái Đất, gồm tất cả các cấu thành ngay trên

vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí, thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động vật

và thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khử và hiện tại để lại

Dưới góc độ Luật học, đất đai là một khoảng không gian trải dài vô tận từ trung tâm trái đất tới vô cực trên trời và liên quan đến nó là một loạt các quyền lợi khác nhau quyết định những gì có thể thực hiện được với đất Khoản 1 Điều 3 Luật Đất đai 2013 đưa ra định nghĩa về thửa đất như sau: “Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ”

1.1.2 Phân loại đất đai

Về phân loại đất đai, căn cứ vào mục đích sử dụng đất Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 phân loại đất thành 3 nhóm dưới đây:

Nhóm đất nông nghiệp: Đất nông nghiệp là đất để phục vụ cho sản xuất nông

nghiệp và một số mục đích khác Nhóm này bao gồm các loại đất sau đây: (i) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (ii) Đất trồng cây lâu năm; (iii) Đất rừng sản xuất; (iv) Đất rừng phòng hộ; đ) Đất rừng đặc dụng; (v) Đất nuôi trồng thủy sản; (vi) Đất làm muối; (vii) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh;

Trang 21

Nhóm đất phi nông nghiệp: Bao gồm các loại đất sau đây: (i) Đất ở gồm đất

ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; (ii) Đất xây dựng trụ sở cơ quan; (iii) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; (iv) Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; (v) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; (vi) Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có

di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; (vii) Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; (viii) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; i) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; (ix) Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ

sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình

đó không gắn liền với đất ở;

Nhóm đất chưa sử dụng: Bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử

dụng

Như vậy, ở Việt Nam, đất đai được chia thành 3 nhóm như trên, trong đó nhóm đất nông nghiệp và nhóm đất phi nông nghiệp đã được quy định rõ Nhóm đất chưa sử dụng chưa được gọi tên cụ thể nhưng thực tế nếu có bất kỳ loại đất nào phát sinh mà không thuộc 2 nhóm trên thì sẽ được phân vào nhóm đất chưa sử dụng Như đã xác định ở phần phạm vi nghiên cứu, Luận văn không phân tích việc Nhà nước thu hồi đất thuộc nhóm đất nông nghiệp mà chỉ nghiên cứu việc Nhà nước thu hồi đất thuộc nhóm đất nông nghiệp

Trang 22

1.2 Khái niệm và căn cứ pháp lý để thu hồi đất

1.2.1 Khái niệm về thu hồi đất

Theo Từ điển Luật học, thu hồi đất được hiểu là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền SDĐ của người vi phạm quy định về SDĐ để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ SDĐ hợp pháp bị lấn chiếm Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (Bộ Tư pháp, 2006) Cách hiểu này chỉ cho biết nội dung của việc Nhà nước thu hồi đất là khi người SDĐ vi phạm các quy định về SDĐ thì sẽ bị thu hồi quyền SDĐ Tuy nhiên, khái niệm này chưa chỉ ra bản chất pháp lý của việc Nhà nước thu hồi đất

Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993 đã đề cập vấn đề thu hồi đất, nhưng chưa định nghĩa rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ liệt kê các trường hợp bị thu hồi đất (Điều 14 Luật Đất đai năm 1987 và điều 26 Luật Đất đai năm 1993)

Khái niệm thu hồi đất lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2003: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền

sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này” Điểm mới của khái niệm này là đã nêu ra bản chất pháp lý của việc Nhà nước thu hồi đất Đó là quyết định có tính hành chính của Nhà nước Điều này cũng có nghĩa là việc thu hồi đất cho thấy có bị tác động của Nhà nước bằng biện pháp hành chính mặc dù vậy, khái niệm này vẫn chưa đầy đủ Cách định nghĩa này dẫn đến cách hiểu người SDĐ bị thu hồi chỉ là tổ chức hay UBND

xã, phường, thị trấn Đồng thời, khái niệm này cũng chưa bao quát được các trường hợp Nhà nước thu hồi đất trong thực tế

Khoản 11 Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 đưa ra khái niệm về Nhà nước thu hồi đất như sau: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” Khái niệm này có điểm tiến bộ là

nó nêu ra một cách hiểu có tính bao quát, ngắn gọn về việc Nhà nước thu hồi đất,

Trang 23

trong đó nhấn mạnh việc Nhà nước thu hồi quyền SDĐ của người vi phạm pháp luật về đất đai hoặc người được Nhà nước trao quyền SDĐ Trong khái niệm này xuất hiện thuật ngữ trao quyền thay cho thuật ngữ giao quyền mà Luật Đất đai năm

2003 đã sử dụng Tác giả Luận văn cho rằng thuật ngữ trao quyền đã thể hiện rõ bản chất của việc Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước lấy lại đất vốn thuộc sở hữu của toàn dân mà Nhà nước là đại diện CSH mà việc thu hồi là của Nhà nước – quyền lực công cộng của Nhà nước với tư cách là bộ máy chính trị thay mặt toàn dân quản lý toàn bộ đất đai

Từ những nghiên cứu trên, có thể hiểu một cách khái quát về thu hồi đất như sau: “Thu hồi đất là việc Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đất đai, thu lại đất và quyền sử dụng đất đã trao cho các chủ thể sử dụng đất khi các chủ thể này vi phạm pháp luật hoặc theo các trường hợp khác do pháp luật quy định.”

1.2.2 Căn cứ pháp lý để thu hồi đất

Luật đất đai 2013 quy định các căn cứ để Nhà nước thu hồi đất với từng nhóm đất thu hồi, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an

ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, căn cứ để Nhà nước thu hồi đất được Nhà nước quy định tại Điều 63 Luật đất đai 2013, cụ thể là: (i) Dự

án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật đất đai 2013 (là các trường hợp mà Nhà nước quy định thuộc trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng); (ii) Kế hoạch sử dụng đất, hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; (iii) Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án

Thứ hai, đối với trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai thì

việc thu hồi đất phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thấm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai (khoản 2 Điều 64 Luật đất đai 2013)

Trang 24

Thứ ba, đối với các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc SDĐ theo pháp

luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người thì theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật đất đai 2013, việc thu hồi đất phải dựa trên các căn cứ sau: (i) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết đã có hiệu lực pháp luật đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013 (là trường hợp tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền SDĐ, được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ mà tiền SDĐ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu SDĐ; người SDĐ thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu SDĐ); (ii) Giấy chứng tử hoặc quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của pháp luật và văn bản xác nhận không có người thừa kế của UBND cấp xã nơi thường trú của người để thửa kế đã chết đó đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013 (là trường hợp cá nhân SDĐ chết mà không có người thừa kế); (iii) Văn bản trả lại đất của người sử dụng đất đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản

1 Điều 65 Luật đất đai 2013 (là trường hợp người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất); (iv) Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013 (là trường hợp đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn); (v) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định mức độ ô nhiễm môi trường, sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người đối với trường hợp quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013 (là trường hợp đất ở trong khi vực bị ô nhiễm môi trường và đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người)

Những quy định trên cho thấy, Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa rất rõ các trường hợp bị thu hồi đất Đây là 3 trường hợp thu hồi đất phi nông nghiệp và trong mỗi trường hợp đó, pháp luật đã chỉ ra căn cứ pháp lý ràng để Nhà nước thu hồi đất Vì vậy, HGĐ, CN rơi vào các trường hợp này thì Nhà nước có đủ căn cứ pháp lý để thu hồi đất Tuy nhiên, trong các căn cứ để thu hồi đất nói trên, Nhà nước chỉ bồi thường cho HGĐ, CN khi đất của HGĐ, CN bị thu hồi thuộc căn cứ

Trang 25

thứ nhất Tức là họ chỉ được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1.3 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

1.3.1 Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Trong đời sống hàng ngày, “bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường” là “Đền bù những tổn hại gây ra” Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội Trong lĩnh vực pháp luật đất đai thuật ngữ bồi khi Nhà nước thu hồi đất được sử dụng với nội dung đặc thù, riêng có

Theo Khoản 6 Điều 4 Luật đất đai 2003: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” Khái niệm này chỉ xác định bồi thường về đất, trong khi

đó việc thu hồi đất không chỉ gây thiệt hại về đất, mà còn là những thiệt hại liên quan đến quyền SDĐ, công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi trên đất, thậm chí là thiệt hại về sức khỏe do áp lực căng thẳng, lo âu của người SDĐ

Luật Đất đai năm 2013, (tại Khoản 12 Điều 3) quy định rằng: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” Giá trị quyền SDĐ là giá trị bằng tiền của quyền SDĐ đối với diện tích đất xác định trong thời hạn SDĐ xác định Tuy nhiên Luật Đất đai không đưa ra khái niệm về quyền SDĐ Khái niệm về quyền SDĐ được quy định trong BLDS năm 2015 với ý nghĩa là tài sản, quyền tài sản Theo đó, quyền tài sản

là quyền trị giá được bằng tiền bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng, quyền SHTT, quyền SDĐ và quyền tài sản khác (Điều 115 BLDS 2015)

Trang 26

Từ phân tích trên, có thể hiểu một cách đầy đủ về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN như sau: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ,

CN là việc Nhà nước trả lại giá trị bằng tiền quyền SDĐ đối với diện tích đất xác định mà HGĐ, CN đã sử dụng đất trong một thời hạn đã được xác định nhằm bù đắp lại những thiệt hại mà HGĐ, CN phải chịu do việc Nhà nước thu hồi đất gây ra

1.3.2 Đặc điểm của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN có 4 đặc điểm chủ yếu như sau:

Thứ nhất, về đối tượng được bồi thường: Là HGĐ, CN có quyền SDĐ Các

HGĐ, CN có quyền SDĐ là các HGĐ, CN được Nhà nước trao quyền SDĐ thông qua việc Nhà nước ban hành quyết đinh giao đất để trao quyền SDĐ cho họ khi họ

có nhu cầu SDĐ

Thứ hai, về căn cứ bồi thường: Chỉ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào

mục đích vì mục đích quốc phòng, an ninh; thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội

vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người thì HGĐ,CN sử dụng đất mới được bồi thường

Thứ ba, về giá đất bồi thường: Theo Luật Đất đai năm 2013, giá đất là giá trị

quyền SDĐ được tính trên một đơn vị diện tích đất Và giá trị của quyền SDĐ là giá trị bằng tiền của quyền SDĐ đối với diện tích đất xác định được sử dụng trong một thời hạn nhất định

Nhà nước chủ động trong việc xác định giá đất bồi thường dựa trên các căn

cứ khoa học và tôn trọng giá đất trên thị trường trong điều kiện bình thường của thửa đất

Nguyên tắc chung về vấn đề bồi thường trong quá trình giải phóng mặt bằng của nhà nước theo pháp luật đất đai là nhà nước thu hồi phần nào thì sẽ tiến hành bồi thường phần đó Bảng giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sẽ do UBND

Trang 27

tỉnh quy định phù hợp với tình hình kinh tế xã hội ở từng địa phương và quy hoạnh

đã được phê duyệt UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể

Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin

về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình UBND cùng cấp quyết định Hội đồng thẩm định giá đất gồm Chủ tịch UBND cấp tỉnh làm Chủ tịch và đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất

Mức bồi thường sẽ được tính dựa trên mục đích sử dụng đất và giá cụ thể của từng loại đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất Theo đó, về cơ bản, việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất (tại Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013)

Thứ tư, các biện pháp tiến hành: Kết hợp biện pháp hành chính và biện pháp

thỏa thuận, thậm chí cả biện pháp cưỡng chế Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất, trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế; Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với HGĐ, CN bị cưỡng chế, nếu HGĐ, CN bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành

Trường hợpHGĐ, CN bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế; Ban thực hiện cưỡng chế

có quyền buộc HGĐ, CN bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển HGĐ, CN bị cưỡng chế

và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế Trường hợpHGĐ,

CN bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên

Trang 28

bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản

1.3.3 Ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, việc đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng kinh tế - xã hội là việc làm tất yếu khách quan của bất kỳ quốc gia nào Đặc biệt đối với Việt Nam sau nhiều năm chiến tranh, Đảng và Nhà nước đang nỗ lực chấn hưng đất nước, thu hẹp khoảng cách và sớm đuổi kịp các nước trong khu vực

Để đạt được mục tiêu này, chúng ta phải đầu tư xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống các cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội Muốn vậy, Nhà nước phải có một quỹ đất cần thiết, phù hợp Tuy nhiên, Nhà nước không thể có đủ quỹ đất này nếu không thực hiện việc thu hồi đất của người đang SDĐ trong đó có việc thu hồi của HGĐ,

CN Song việc thu hồi đất chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước giải quyết tốt vấn

đề bồi thường, cho HGĐ, CN sử dụng đất nhưng bị thu hồi đất Vì vậy, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN có ý nghĩa rất quan trọng, đó là:

Thứ nhất, pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN trước

hết là nhằm bảo đảm lợi ích công cộng

Thu hồi đất là biện pháp của Nhà nước nhằm chấm dứt quan hệ pháp luật về

sử dụng đất giữa một bên là HGĐ, CN được trao quyền SDĐ và một bên là Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu về đất đai Thông qua việc thu hồi đất, Nhà nước có được một quỹ đất cần thiết đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế

- xã hội đồng bộ; phát triển các cơ sở kinh tế, công nghiệp, các cơ sở sản xuất - kinh doanh, khu đô thị Qua đó, làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư; kêu gọi sự đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Đồng thời, ở một mức độ nhất định, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN cũng góp phần gián tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỉ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỉ trọng sản xuất công nghiệp, dịch

vụ Khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, Nhà nước thực

Trang 29

hiện các biện pháp hỗ trợ cho người nông dân bị mất đất sản xuất trong việc đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới Qua đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ

Thứ hai, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm bảo đảm giải quyết hài

hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của HGĐ, CN bị thu hồi đất

Vì lợi ích chung, lợi ích của cả cộng đồng, Nhà nước thực hiện thu hồi đất của HGĐ, CN sử dụng đất để sử dụng cho các mục đích khác nhau Điều này sẽ gây

ra những thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của HGĐ, CN bị thu hồi đất Nếu không thực hiện tốt việc bồi thường cho HGĐ, CN bị thu hồi đất sẽ dẫn đến tình trạng là trong khi các công trình phúc lợi được xây dựng trên những diện tích đất bị thu hồi mang lại lợi ích cho số đông dân chúng trong xã hội thì ở thái cực ngược lại, HGĐ, CN bị thu hồi đất lại rơi vào tình trạng khó khăn về sản xuất và đời sống do bị mất đất sản xuất hoặc bị mất nhà ở Do đó, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích của người bị thu hồi đất với lợi ích của Nhà nước, của xã hội để vừa bảo đảm nhu cầu sử dụng đất đai phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của HGĐ, CN sử dụng đất, bồi hoàn cho họ những thành quả lao động, kết quả đầu tư bị thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra

Thứ ba, bồi thường góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị, trật tự an

toàn xã hội

Cho dù thu hồi đất để sử dụng vào bất kỳ mục đích gì thì đây cũng là hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi vật chất của HGĐ,CN sử dụng đất Chính vì vậy, thu hồi đất luôn là vấn đề nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mâu thuẫn, tranh chấp

về lợi ích giữa Nhà nước, HGĐ, CN bị thu hồi đất và người được hưởng lợi từ việc thu hồi đất (chủ đầu tư, các doanh nghiệp hoặc cộng đồng xã hội) Thực tế giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện từ việc thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho thấy nếu không giải quyết tốt việc bồi thường cho HGĐ, CN bị thu hồi đất nhằm giúp họ vượt qua khó khăn nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất thì sẽ

Trang 30

phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, vượt cấp với số đông người dân tham gia Đây là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh những bất ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội và dễ bị kẻ xấu lợi dụng kích động, lôi kéo nhân dân không đồng thuận với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư, các công trình hạ tầng công cộng phục vụ lợi ích của cộng đồng Do đó, thực hiện tốt bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng góp phần duy trì ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tránh nguy cơ nảy sinh các xung đột xã hội

1.4 Khái niệm và đặc điểm và cơ cấu của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân

1.4.1 Khái niệm về hộ gia đình, cá nhân

Theo Từ điển Luật học, thì hộ gia đình là “tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng” Trên khía cạnh pháp lý, hộ gia đình có các điều kiện sau sẽ có thể là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự (vay vốn, mua, bán, thuê, mượn,…) với đặc điểm: các thành viên có tài sản chung; cùng đóng góp công sức

để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định

Bộ luật Dân sự 2015 không đưa ra định nghĩa cụ thể về hộ gia đình Bộ luật Dân sự 2005 không định nghĩa trực tiếp thế nào là hộ gia đình, nhưng Điều 106 quy định như sau: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” Vậy hộ gia đình là chủ thể gồm các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tức không phải mọi hộ gia đình đều là chủ thể trong pháp luật dân sự, cũng như chủ thể hộ gia đình theo pháp luật dân sự không được tham gia mọi hoạt động, mà chỉ trong các quan hệ sản xuất kinh doanh

Bộ luật Dân sự 2015 không quy định tài sản chung của hộ gia đình theo phương pháp liệt kê như Bộ luật Dân sự 2005 mà quy định tài sản chung của hộ gia

Trang 31

đình gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và tài sản khác được các thành viên thỏa thuận là tài sản chung Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên hộ gia đình được thực hiện theo thỏa thuận của các thành viên

Trước đây, Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ

15 tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý” Do không có bất kỳ văn bản hướng dẫn cụ thể tài sản nào là tư liệu sản xuất và tài sản nào được coi là có giá trị lớn, đã dẫn đến sự áp dụng pháp luật không thống nhất Bộ luật Dân sự 2015 quy định hộ gia đình là chủ thể không có tư cách pháp nhân - đây là vấn đề chưa được xác định rõ tại Bộ luật Dân sự 2005 Theo đó, các thành viên trong hộ gia đình phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình, trong trường hợp tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ

Theo quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.” tức hộ gia đình theo Luật Đất đai được xác định dựa trên sổ hộ khẩu, nhưng phải tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng, nhận chuyển quyền sử dụng đất Đồng thời Điều 98 Luật Đất đai 2013 quy định phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sở hữu đối với thửa đất nhiều người có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Tuy nhiên, thực tế áp dụng pháp luật còn thiếu đồng nhất, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của hộ gia đình chỉ ghi tên một người đại diện; trong khi đất là tài sản chung được sử dụng ổn định, lâu dài nên thành viên trong sổ hộ khẩu

có rất nhiều thay đổi Nếu khi thực hiện giao dịch chỉ căn cứ vào sổ hộ khẩu thì không hợp lý, nên căn cứ thêm vào quyết định cấp đất, giao đất, cho thuê đất của nhà nước để xác định những người có quyền sở hữu chung

Trang 32

Bộ Luật Dân sự năm 2005 sử dụng khái niệm cá nhân để phân biệt với khái niệm pháp nhân Theo đó, cá nhân bao gồm cả công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch, trong đó công dân là loại chủ thể cá nhân chủ yếu của quan hệ pháp luật dân sự Việc xác định tư cách chủ thể cả cá nhân trong quan

hệ pháp luật dân sự được dựa trên cơ sở năng lực hủ thể của cá nhân bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có

từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết và năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có được khi đạt độ tuổi nhất định

1.4.2 Khái niệm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân

Pháp luật là những quy tắc điều chỉnh hành vi của con người do Nhà nước ban hành và có tính cưỡng chế (Nguyễn Thị Mơ, 1995, 14) Chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, nhưng mặt khác, pháp luật còn là giá trịnh xác định phổ biến phản ánh thực tại khách quan, là thước đo hành vi của mọi thành viên trong xã hội thể chế hóa và bảo đảm lợi ích chung của xã hội (Nguyễn Văn Manh, 2010, tr.106)

Với cách hiểu về pháp luật nói chung như vậy, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN có thể được hiểu là các quy tắc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN và việc bồi thường của Nhà nước cho các HGĐ, CN bị thu hồi đất

Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN có tất cả các đặc điểm của pháp luật nói chung (như pháp luật do Nhà nước ban hành, pháp luật thể hiện ý chí giai cấp thống trị, pháp luật có tính cưỡng chế, pháp luật do kinh tế quyết định) đồng thời cũng có những đặc điểm riêng của nó

Trang 33

1.4.3 Đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân

Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN có 3 đặc điểm chủ yếu như sau:

HGĐ, CN là chủ thể có quyền đòi bồi thường Khi bị Nhà nước thu hồi đất HGĐ, CN chỉ có quyền đòi bồi thường khi quyền SDĐ của họ bị thu hồi mặc dù họ không vi phạm pháp luật

- Về nguồn luật:

Nguồn của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các HGĐ,

CN bao gồm hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan Trước tiên là Hiến pháp năm 2013 với ý nghĩa là đạo luật cơ bản, xuyên suốt có giá trị pháp lý cao nhất Tiếp đến là BLDS 2015 với ý nghĩa là bộ luật chung, quy định các vấn đề

về tài sản, về đất đai, về quyền SDĐ, về HGĐ, về cá nhân,… Cuối cùng là các luật chuyên ngành như Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thực hiện về thu hồi đất và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp

- Về biện pháp cưỡng chế:

Do việc thu hồi đất của HGĐ, CN đều dựa trên việc ra quyết định thu hồi của Nhà nước thông qua việc ra quyết định có tính hành chính của các cơ quan có thẩm quyền, do đó, một khi HGĐ, CN không tuân thủ thì các biện pháp cưỡng chế mang tính hành chính sẽ được áp dụng Ngoài ra, việc bồi thường do Nhà nước phải thực

1 Điều 53, Hiến pháp năm 2013

Trang 34

hiện dựa trên các qui định của pháp luật về đất đai, do đó, biện páp bồi thường và cách tính giá trị bồi thường là Nhà nước quy định Vấn đề xem xét giá trị bồi thường theo cơ chế thị trường chỉ được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định

1.4.4 Cơ cấu pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình,

cá nhân

Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN Lĩnh vực pháp luật này được hình thành và phát triển qua các giai đoạn khác nhau Nhưng nhìn chung, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN bao gồm 4 nhóm quy phạm pháp luật cơ bản sau:

Thứ nhất, nhóm quy phạm quy định về nguyên tắc và điều kiện bồi thường

khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN

Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được hiểu là những quy định chung mang tính nền tảng, làm định hướng và tạo cơ sở cho việc thực hiện và

áp dụng các quy định chi tiết về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ,

CN Thực hiện tốt các nguyên tắc bồi thường sẽ giúp cho công tác bồi thường đảm bảo công bằng, khách quan và minh bạch Nhìn chung, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản như: (i) Nhà nước chỉ bồi thường khi HGĐ, CN có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật; (ii) Việc bồi thường của Nhà nước phải đảm bảo bồi thường đầy đủ các thiệt hại phát sinh; (iii) Việc bồi thường phải theo giá thị trường; (iv) Việc bồi thường phải đảm bảo công khai, minh bạch, dân chủ, kịp thời và đúng quy định của pháp luật

Điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là những yếu tố mà HGĐ,

CN cần phải có để họ được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Những điều kiện bồi thường cần phải được quy định để đảm bảo cho việc bồi thường được thực hiện một cách công bằng, hợp lý, vừa phù hợp với thực tiễn SDĐ để bảo vệ tối đa quyền

Trang 35

lợi cho HGĐ, CN, vừa đảm bảo sự nghiêm minh chặt chẽ theo quy định pháp luật Pháp luật đất đai quy định cụ thể những trường hợp được bồi thường và những trường hợp không được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN, đồng thời cũng xem xét và phân định rõ tình trạng pháp lý của mảnh đất căn cứ vào nguồn gốc SDĐ và thời điểm SDĐ, để có quy định bồi thường cho phù hợp

Thứ hai, nhóm quy phạm quy định về nội dung bồi thường đối với HGĐ, CN

bị thu hồi đất

Nội dung bồi thường đối với HGĐ, CN bị thu hồi đất bao gồm các quy định

cụ thể về phạm vi bồi thường (đó là bồi thường về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản có trên đất); về phương thức bồi thường (có thể bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng với đất bị thu hồi hoặc bồi thường bằng tiền tương ứng với giá trị quyền SDĐ bị thu hồi); về giá đất tính bồi thường, được tính theo khung giá đất do Nhà nước quy định tương ứng với loại đất bị thu hồi, tính ở thời điểm thu hồi đất Nhóm quy phạm quy định về nội dung bồi thường là cơ sở pháp lý quan trọng giúp các cơ quan Nhà nước giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thể trong quan hệ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN, cũng như giúp HGĐ, CN nắm rõ được các quyền và lợi ích hợp pháp mà họ được Nhà nước bù đắp khi bị thu hồi đất

Thứ ba, nhóm quy phạm quy định về trình tự, thủ tục bồi thường đối với

HGĐ, CN bị thu hồi đất

Luật Đất đai quy định những vấn đề tổng quát, mang tính nguyên tắc về trình

tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Trên cơ sở đó, các văn bản hướng dẫn thi hành có những quy định cụ thể về từng bước lập, bổ sung, thẩm định, thực hiện phương án bồi thường, cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGD, CN Tuy nhiên, việc thực thi các quy định trên phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của từng địa phương cũng như trình độ, năng lực, trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ thực thi Đây cũng là một lĩnh vực rất nhạy cảm của pháp luật đất đai, có ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của HGĐ, CN có đất bị thu hồi, vì vậy nó thu hút sự quan tâm của dư luận

xã hội nói chung cũng như của chủ thể trực tiếp bị thu hồi đất

Trang 36

Thứ tư, nhóm quy phạm quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan

đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

HGĐ, CN bị thu hồi đất nếu không đồng ý với quyết định về bồi thường thì được quyền khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan có thẩm quyền Khiếu nại, tố cáo về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là một dạng của khiếu nại, tố cáo nói chung

Vì vậy những quy định pháp luật về vấn đề này được quy định trong Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành; trong Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011; trong Luật Tố tụng Hành chính năm 2010 và trong Luật Đất đai năm

2013 (Khoản 2, Điều 204 và Khoản 2, Điều 205) Đối với Nhà nước, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm phát hiện, ngăn ngừa và khắc phục những hành vi sai trái trong bồi thường khi thu hồi đất Đối với HGĐ, CN, khiếu nại, tố cáo là phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Vì vậy, pháp luật quy định cho HGĐ,

CN bị thu hồi đất được quyền khiếu nại, tố cáo không chỉ giúp họ tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình mà thông qua đó, Nhà nước có thể xem xét, đánh giá năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức và ý thức tuân thủ pháp luật của đội ngũ công chức Nhà nước

Kết luận Chương 1

Trong Chương 1 của Luận văn, yacs giả đã làm rõ nội hàm những khái niệm

và phân loại đất đai, khái niệm và căn cứ pháp lý để Nhà nước thu hồi đất Theo đó, các căn cứ pháp lý để Nhà nước thu hồi đất của các HGĐ, CN gồm: (i) Thu hồi đất

vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; (ii) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; (iii) Thu hồi đất do chấm dứt việc SDĐ theo pháp luật Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra khái niệm, đặc điểm

và ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Đồng thời, tại Chương này, tác giả đã đưa ra khái niệm, đặc điểm và cơ cấu của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các HGĐ, CN Theo đó, cơ cấu của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các HGĐ, CN bao gồm: (i) Nhóm quy phạm quy định về nguyên tắc và điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN; (ii) Nhóm quy phạm quy định về nội dung bồi thường đối với HGĐ, CN bị thu

Trang 37

hồi đất; (iii) Nhóm quy phạm quy định về trình tự, thủ tục bồi thường đối với HGĐ, CN bị thu hồi đất; (iv) Nhóm quy phạm quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢN NINH

2.1 Thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân

2.1.1 Quy định về nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân

Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN không thể thiếu trong pháp luật về bồi thường đất đai Các nguyên tắc này chính là những định hướng quan trọng cho công tác bồi thường trên thực tế, được thực hiện đảm bảo sự công bằng, dân chủ, minh bạch và đúng pháp luật Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể tại Điều 74, Điều 88 Luật Đất Đai 2013 Theo đó, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN tuân thủ các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, HGĐ, CN bị thu hồi đất có đủ điều kiện theo quy định của pháp

luật thì được bồi thường (Khoản 1 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013)

Việc bồi thường được đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ,CN để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và vào mục tiêu phát triển kinh tế Tuy nhiên, đây không phải là điều kiện duy nhất để HGĐ, CN được bồi thường HGĐ, CN bị thu hồi đất còn phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định thì mới được bồi thường Việc bồi thường được xem như

là sự bù đắp những thiệt hại mà HGĐ, CN sử dụng đất phải gánh chịu do việc thu hồi đất của Nhà nước gây ra Trường hợp HGĐ, CN sử dụng đất không đủ điều kiện được bồi thường thì họ sẽ được xem xét hỗ trợ

Thứ hai, việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục

đích sử dụng với loại đất tu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất (Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013)

Trang 39

Việc vi phạm mục đích sử dụng đất của HGĐ, CN trong thực tế diễn ra khá phổ biến Vì vậy, việc bồi thường theo đúng loại đất có cùng mục đích sử dụng với đất bị thu hồi chỉ được thực hiện khi HGĐ, CN có đất sử dụng đúng mục đích Pháp luật cũng quy định nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất Nguyên tắc này đảm bảo công bằng, khách quan và minh bạch trong tính giá đất và giải quyết hài hòa lợi ích giữa HGĐ, CN có đất bị thu hồi và lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng

Thứ ba, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ,

khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật (Khoản

3 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013)

Biểu hiện cụ thể của nguyên tắc này là khi thu hồi đất của HGĐ, CN, Nhà nước phải đảm bảo sự công bằng về giá đất, về đối tượng thụ hưởng, về địa vị pháp lý,… giữa các HGĐ, CN có đất bị thu hồi, giữa HGĐ, CN có đất bị thu hồi với Nhà nước và đối với chủ đầu tư Bên cạnh đó, Nhà nước cần đảm bảo sự hài hòa về lợi ích, minh bạch về mọi vấn đề liên quan để HGĐ, CN có đất bị thu hồi dân tự nguyện giao đất thực hiện dự án, công trình phát triển đô thị, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh

Thứ tư, khi Nhà nước thu hồi đất mà HGĐ, CN sở hữu tài sản hợp pháp gắn

liền với đất bị thiệt hại về tài sản hoặc phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường (Điều 88 Luật Đất đai năm 2013)

Đây là một điểm mới của luật đất đai 2013 khi đã bắt đầu xem xét bồi thường về đất không chỉ với tư cách là tài sản mà còn là tài nguyên và tư liệu sản xuất Trên thực tế, ngoài ý nghĩa là tài sản, đất đai còn là tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất, kinh doanh và nguồn sống của con người Vì đất là tư liệu sản xuất của người bị thu hồi đất nên Nhà nước ngoài việc bồi thường giá trị như một tài sản còn phải bồi thường về thu nhập, sinh kế cho HGĐ, CN có đất bị thu hồi

Trang 40

2.1.2 Quy định về căn cứ và nội dung bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân

2.1.2.1 Căn cứ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân

Một là, Giấy chứng nhận quyền SDĐ (nay là giấy chứng nhận quyền SDĐ,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất – sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận quyền SDĐ)

Một trong những bảo đảm quan trọng cho HGĐ, CN sử dụng đất là quyền được cấp giấy chứng nhận quyềnSDĐ, đây là loại giấy thống nhất mẫu do cơ quan địa chính ở trung ương phát hành nhằm ghi nhận những thông tin về quyền SDĐ (chủ SDĐ, diện tích, ranh giới thửa đất, mục đích SDĐ, thời hạn SDĐ,…) Xét về bản chất pháp lý, giấy chứng nhận quyền SDĐ là chứng thư pháp lý xác lập quyền SDĐ hợp pháp của HGĐ, CN sử dụng đất và là cơ sở để HGĐ, CN sử dụng đất thực hiện các quyền năng do pháp luật quy định Trong thu hồi đất, khi có căn cứ pháp lý xác định HGĐ, CN bị thu hồi đất là chủ SDĐ hợp pháp thì đương nhiên họ sẽ được

bù đắp những thiệt hại do việc thu hồi đất của Nhà nước gây ra.

Hai là, các giấy tờ hợp lệ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp trong

quá trình thực hiện chính sách quản lý đất đai qua các thời kỳ

Căn cứ vào điều 100 Luật Đất đai năm 2013, diện tích đất đủ điều kiện để được cấp chứng nhận quyền SDĐ được hiểu là HGĐ, CN sử dụng diện tích đất bị thu hồi có những giấy tờ sau:

- Những giấy tờ về quyền SDĐ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan

có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày đăng: 25/06/2021, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm