31 CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI GỬI TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM .... Với mong muốn nghiên cứu chi tiết và cụ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM DUY NGHĨA
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Nguyễn Ngọc Bảo Trúc – mã số học viên 7701261175A, là học viên Cao học Luật khóa 26, chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Pháp luật về bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Phạm Duy Nghĩa Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Nguyễn Ngọc Bảo Trúc
Trang 41.1.1 Nhận tiền gửi là phương thức huy động tiền tiết kiệm trong dân cư đáp ứng yêu cầu về vốn của nền kinh tế 5 1.1.2 Tình trạng thông tin bất cân xứng và hiểu biết hạn chế về hoạt động ngân hàng của người gửi tiền 9 1.1.3 Tầm quan trọng của việc bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng 11 1.1.4 Các biện pháp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng 13
1.1.4.1 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền bằng công cụ lãi suất nhận tiền gửi 13
1.1.4.2 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền thông qua quy định về dự trữ bắt buộc 13
1.1.4.3 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền thông qua các chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động nhận tiền gửi 14
1.1.4.4 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền thông qua quy định về bảo đảm
an toàn hoạt động ngân hàng 15
1.2 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng bằng pháp luật 16
1.2.1 Bản chất của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng 16 1.2.2 Nội dung điều chỉnh bằng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng 19
Trang 51.3 Các nhân tố tác động đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng 25
1.3.1 Mức độ phát triển của thị trường ngân hàng 25
1.3.2 Mức độ hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng 26
1.3.3 Mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia 27
1.3.4 Mức độ linh hoạt trong điều hành chính sách lãi suất huy động 29
1.3.5 Tâm lí thói quen tiêu dùng, lợi ích của người gửi tiền 29
Kết luận chương 1 31
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI GỬI TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 32
2.1 Thực trạng quy định về điều kiện thành lập, điều kiện khai trương hoạt động, mở chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng có liên quan đến bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng 32
2.2 Thực trạng quy định trách nhiệm tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức tín dụng như một trong các biện pháp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền 36
2.3 Thực trạng quy định yêu cầu bảo đảm bí mật thông tin khách hàng – một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền 39
2.4 Thực trạng các quy định về sự tham gia của người gửi tiền trong thủ tục kiểm soát đặc biệt, thủ tục phá sản tổ chức tín dụng – cơ sở bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền khi tổ chức tín dụng bị mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả 41
2.5 Thực trạng quy định về trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước trong thanh tra, giám sát hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng 43
2.6 Bất cập trong thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng 46
2.6.1 Việc mở rộng mạng lưới tổ chức tín dụng mới chỉ tập trung và phát triển về quy mô, chưa chú trọng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động ngân hàng cũng như bảo vệ người gửi tiền 46
2.6.2 Pháp luật bảo hiểm tiền gửi còn nhiều bất cập trong bảo vệ quyền lợi người gửi tiền 48
Trang 62.6.3 Quy định yêu cầu bảo đảm bí mật thông tin khách hàng chưa phát huy được vai trò bảo vệ quyền lợi người gửi tiền 51 2.6.4 Bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát đặc biệt và phá sản tổ chức tín dụng có ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền54 2.6.5 Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng chưa phát huy được vai trò trong bảo vệ quyền lợi người gửi tiền 54
Kết luận chương 2 57 Chương 3 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI GỬI TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 58 3.1 Định hướng chính sách pháp luật nhằm bảo vệ hiệu quả hơn quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng 58
3.1.1 Phát huy vị trí, vai trò của tổ chức tín dụng trong việc cung ứng nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước 58 3.1.2 Đáp ứng yêu cầu xây dựng thị trường ngân hàng minh bạch, hiệu quả 59 3.1.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng trong nước trong hoạt động nhận tiền gửi 61 3.1.4 Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của các thiết chế bảo vệ quyền lợi người gửi tiền 62 3.1.5 Đáp ứng yêu cầu đổi mới hoạt động ngân hàng trong điều kiện hội nhập quốc tế 63 3.1.6 Xây dựng và bảo vệ niềm tin của công chúng, người gửi tiền vào hệ thống tài chính 64
3.2 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi
ở Việt Nam hiện nay 65
3.2.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi 65
3.2.1.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện thành lập, điều kiện khai trương hoạt động, mở chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nhằm kiểm soát sự gia tăng về số lượng tổ chức tín dụng 65
3.2.1.2 Nâng hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay 67
Trang 73.2.1.3 Sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng cụ thể hóa trách nhiệm bảo mật thông tin tiền gửi của khách hàng 68
3.2.1.4 Sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm soát đặc biệt, phá sản tổ chức tín dụng của người gửi tiền 68
3.2.2 Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ở Việt Nam hiện nay 69
3.2.2.1 Bảo đảm khả năng thanh khoản của tổ chức tín dụng 69 3.2.2.2 Nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về kiểm soát rủi ro hoạt động của tổ chức tín dụng để bảo đảm khả năng thanh toán cho tổ chức tín dụng 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FDIC Công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang Hoa Kỳ (Federal Deposit
Insurance Corporation)
ECHR Công ước Châu Âu về nhân quyền (European Convention on
Human Rights) DIA Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Liên Bang Nga
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
Trang 9Tuy nhiên, nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng uy tín, sự vững mạnh của hệ thống tài chính, tín dụng, Nhà nước đã tiến hành khắc phục những hậu quả tồn đọng và lấy lại lòng tin từ nhân dân Đây cũng là một trong những nội dung trọng tâm để giữ vững sự tồn tại và phát triển năng lực cạnh tranh, chất lượng dịch
vụ là yếu tố chăm sóc, đảm bảo lợi ích khách hàng; điều này không những là tiêu chí của riêng ngành tài chính ngân hàng mà còn của tất cả các ngành kinh tế khác Vấn đề bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế nói chung, đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng nói riêng
Để cất giữ tài sản, nơi người dân lựa chọn có thể là các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, ở Việt Nam, khung pháp lý đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng chưa nhiều và chưa bao quát lên toàn bộ các lĩnh vực mà người tiêu dùng sử dụng Năm
2010, Quốc hội đã ban hành Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nhưng chủ yếu tập trung trong việc xác định đối tượng bảo vệ là người tiêu dùng sử dụng dịch vụ hàng hóa cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức đó Việc bảo vệ người gửi tiền hiện nay trong hệ thống pháp luật được sắp xếp rải rác, không tập tung tại các luật chứng khoán, Luật bảo hiểm tiền gửi, …Thêm đó, từ ngày 15/1/2018, luật sửa đổi bổ sung Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành, quy định về phá sản ngân hàng được áp dụng trên thực tế Trường hợp này, người gửi tiền có khả năng chỉ nhận được 75 triệu đồng từ khoản tiền bảo hiểm Chỉ trong thời gian ngắn vừa qua, quy định này đã gây nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận, khiến lòng tin của người dân đối với hệ thống các tổ chức tín dụng bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Trang 10
Thêm vào đó, trong khoản thời gian gần đây có rất nhiều vụ đại án liên quan đến ngành ngân hàng như các vụ án trọng điểm: Huyền Như – liên quan đến ngân hàng Vietinbank, bầu Kiên – liên quan đến ngân hàng ACB, Ngân hàng Đại tín và mới đây nhất là vụ án một khách hàng mất 245 tỷ tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Eximbank Tuy nhiên trong quá trình giải quyết các vụ án, việc xem xét để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng hầu như rất ít được đề cập hoặc hoàn toàn không được đề cập đến Trong khi một trong những nguồn thu chính của các hoạt động của ngân hàng là từ tiền gửi của người dân Việc không bảo vệ hoặc bảo
vệ không tốt quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng không những gây thiệt hại trực tiếp cho người dân gửi tiền vào ngân hàng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạt động và phát triển của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam
Với mong muốn nghiên cứu chi tiết và cụ thể hóa các quy định hiện nay của pháp luật Việt Nam trong vấn đế bảo vệ người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, rủi
ro, vướng mắc khi áp dụng các quy định này trong thực tế, tôi thực hiện đề tài
“Pháp luật về bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm phân tích thực trạng và vai trò của pháp luật trong
bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và đưa ra các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi:
- Người gửi tiền có thể gặp phải những nguy cơ bị xâm phạm quyền lợi như thế nào?
- Pháp luật cần quy định những công cụ, biện pháp nào để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền
- Pháp luật Việt Nam hiện hành có thể bảo vệ tốt quyền lợi người gửi tiền không?
- Trong tương lai, các quy định này có cần thiết phải sửa đổi, bổ sung gì để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền
Trang 11
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định hiện hành của pháp luật về
bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và thực tiễn bảo vệ quyền lợi người gửi tiền theo pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong đề tài này nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền lợi của người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng
Phương pháp phân tích logic quy phạm được sử dụng để phân tích quy định pháp luật Việt Nam ở Chương 2 và kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật ở Chương 3 Phương pháp này giúp nhận diện, đánh giá những bất cập, hạn chế cũng như tính khả thi trong quy định hiện hành
Phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong đề tài thông qua việc so sánh các quy định pháp luật về các hoạt động gửi tiền của một số quốc gia trên thế giới
để làm rõ điểm giống và khác nhau giữa quy định của pháp luật Việt Nam so với các nước, đồng thời nhận diện xu hướng bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trên thế giới làm cơ sở cho các kiến nghị, đề xuất
6 Kết cấu dự kiến:
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
- Chương 1: Bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
- Chương 2: Đánh giá các quy định bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam
- Chương 3: Một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
7 Các nghiên cứu trước đây
Đã có rất nhiều bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí trong nước xung quanh các vấn đề bảo vệ quyền lợi người gửi tiền như:
- Cuốn chuyên khảo của Lê Thị Thu Thủy “Pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam” (2008), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Chuyên khảo đã
đề cập một cách khái quát về sự hình thành của Bảo hiểm tiền gửi trên thế giới; ở Việt Nam; một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm tiền gửi (khái niệm, đặc trưng, hạn chế của bảo hiểm tiền gửi); nội dung pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và đề xuất một số phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về
Trang 12
bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam Thế nhưng, chuyên khảo còn bỏ ngỏ nhiều ván đề khác như: chưa xây dựng được hệ thống lý luận pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi; chưa có những đánh giá về bản chất pháp lý của hoạt động bảo hiểm tiền gửi; chưa khảo sát toàn diện thực trạng pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam … Tuy nhiên, cuốn Chuyên khảo này cũng đã trở thành tiền đề để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu các góc độ pháp lý của hoạt động bảo hiểm tiền gửi
- Đào Trí Úc, Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền theo pháp luật về bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam thực trạng và phương hướng hoàn thiện” (2007), được đăng trên Thông tin Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, số 3, năm 2007 Bài viết đề cập đến các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam trong vấn đề bảo vệ người gửi tiền; đánh giá các yếu tố kinh tế, xã hội tác động đến việc hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ người gửi tiền tại các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
- Bùi Hữu Toàn, “Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” (2012) luận án Tiến sĩ được bảo vệ thành công tại Học viện Khoa học xã hội vào tháng 8 năm 2012, đã phân tích khái quát các vấn
đề lý luận về bảo hiểm tiền gửi, ảnh hưởng của hội nhập quốc tế đến pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Ngoài ra, còn nhiều bài báo của các chuyên gia pháp lý đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật…
Từ đó cho thấy, trên phương diện nghiên cứu và phạm vi luận văn nói riêng, hiện nay vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề “bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng” Thêm vào đó, trong bối cảnh nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng đang gặp nhiều khó khăn và thách thức, và việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền hiện đang được dư luận quan tâm khá nhiều, nhất là khi Luật của các tổ chức tín dụng bổ sung sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua
Trang 13
Chương 1 BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN
TIỀN GỬI CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1 Hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
1.1.1 Nhận tiền gửi là phương thức huy động tiền tiết kiệm trong dân cư đáp ứng yêu cầu về vốn của nền kinh tế
Tổ chức tín dụng là trung gian tài chính thực hiện chức năng luân chuyển nguồn vốn từ những người thừa vốn sang những người thiếu vốn Để đáp ứng nhu cầu vốn của người thiếu vốn, tổ chức tín dụng sử dụng vốn của mình hoặc những nguồn vốn khác Hoạt động cơ bản mang tính chức năng của tổ chức tín dụng là huy động vốn để cấp tín dụng, nói cách khác là đi vay để cho vay lại Thực tế, hầu như các tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh là nhờ vào nguồn vốn huy động, đặc biệt
là vốn huy động dưới hình thức nhận tiền gửi từ các thành phần kinh tế chiếm tỉ lệ lớn Như vậy, tổ chức tín dụng có thực hiện tốt vai trò trung gian tín dụng hay không phụ thuộc rất lớn vào số tiền gửi mà tổ chức tín dụng huy động được Tuy nhiên, vốn thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng là rất hạn chế, trong khi đó, nguồn vốn dư thừa trong dân cư là rất lớn cần phải được tập trung lại để cung cấp nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu của xã hội Người gửi tiền là đối tượng cung cấp nguồn vốn tiết kiệm dưới các hình thức tiền gửi để tổ chức tín dụng sử dụng khoản tiền đó
để cấp tín dụng cho khách hàng
Dưới góc độ kinh tế, hoạt động nhận tiền gửi được nhìn nhận như là một nghiệp vụ kinh doanh của tổ chức tín dụng với nội dung chủ yếu là tiếp nhận các khoản tiền gửi (ký thác) của khách hàng thông qua việc mở các tài khoản cho khách hàng như tài khoản tiền gửi định kỳ (tiền gửi có kỳ hạn), tài khoản tiền gửi hoạt kỳ (tiền gửi không kỳ hạn) và tài khoản tiền gửi tiết kiệm
Dưới góc độ pháp lý, giao dịch nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng được hiểu là
sự thỏa thuận song phương giữa tổ chức tín dụng và khách hàng gửi tiền, thông qua việc giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi Lúc ban đầu, giao dịch nhận tiền gửi cũng chỉ là quan hệ gửi giữ tài sản để hưởng thù lao Về sau, giao dịch nhận tiền gửi còn cho phép tổ chức tín dụng được sử dụng khoản tiền đó để cấp tín dụng Có thể nói,
sự kiện này phản ánh quá trình chuyển hóa một cách tự nhiên từ dạng hợp đồng gửi giữ tài sản sang hình thức hợp đồng lưỡng tính (vừa có tính chất của hợp đồng gửi
Trang 14
giữ, vừa có tính chất của hợp đồng vay tài sản) và cuối cùng là chuyển hẳn thành hợp đồng vay tài sản1
Trong phần 3 Luật bảo hiểm tiền gửi của Mỹ quy định: tiền gửi được hiểu là
số dư tiền hoặc giá trị tương đương chưa được thanh toán đã được nhận hoặc giữ tại một ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh thông thường và
từ đó nó cấp hoặc có nghĩa vụ cấp tín dụng, dù là có điều kiện hay không điều kiện, cho một tài khoản thương mại, séc, tiết kiệm, không kỳ hạn hoặc được chứng minh bằng giấy chứng nhận tiền gửi, chứng nhận tiết kiệm, chứng nhận đầu tư, chứng nhận nợ, hoặc những tên tương tự hoặc séc, hay hối phiếu rút ra từ tài khoản tiền gửi và được chứng nhận bởi ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm, hoặc thư tín dụng hoặc séc du lịch mà ngân hàng hay hiệp hội tiết kiệm có nghĩa vụ đầu tiên
Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam quy định: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận 2 Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi3 Kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu (sau đây gọi là giấy tờ có giá) là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành với người mua giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác4
Trang 15
Từ quy định của pháp luật cho thấy, giao dịch nhận tiền gửi là giao dịch kinh doanh phát sinh giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, theo đó, tổ chức, cá nhân giao khoản tiền của mình cho tổ chức tín dụng sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định để được hưởng lãi suất Về bản chất, giao dịch nhận tiền gửi là giao dịch vay tài sản có đối tượng là tiền giữa tổ chức tín dụng với khách hàng trong một thời hạn nhất định và dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi5 Hình thức xác định giao dịch nhận tiền gửi có nhiều tên gọi khác nhau như thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá… Thẻ tiết kiệm là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm về khoản tiền đã gửi tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm
Hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng có những đặc điểm sau đây:
Một là, hoạt động nhận tiền gửi là một trong các nghiệp vụ ngân hàng, là hoạt
động kinh doanh của tổ chức tín dụng Tổ chức tín dụng theo pháp luật hiện hành là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Phạm vi hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng là khác nhau Ngân hàng thương mại được nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài Công ty tài chính được Nhận tiền gửi của tổ chức; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn của tổ chức Đối với quỹ tín dụng nhân dân được nhận tiền gửi của thành viên Khi nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên phải thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Hai là, các loại tiền gửi đa dạng và đáp ứng nhiều mục đích khác nhau của
người gửi tiền Về cơ bản có thể xác định tiền gửi bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm6 Các xác định này dựa trên khoảng thời gian kể từ ngày người gửi tiền bắt đầu gửi tiền vào tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đến ngày tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm cam kết trả hết tiền gốc và lãi tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm, trong
Trang 16
đó người gửi tiền thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm về kỳ hạn gửi nhất định
Giao dịch nhận tiền gửi không kỳ hạn có đặc trưng là tổ chức tín dụng cam kết
để cho người gửi tiền có quyền rút tiền ra khỏi ngân hàng bất kỳ thời điểm nào theo
ý muốn của họ bằng cách phát hành séc Vì vậy, giao dịch này còn gọi là giao dịch tài khoản séc hay tài khoản có thể phát hành séc Đối với giao dịch này, tổ chức tín dụng luôn phải đối phó với tình huống khách hàng bất ngờ rút tiền ồ ạt ra khỏi ngân hàng Điều này có thể dẫn đến tình trạng ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh khoản Để khắc phục nhược điểm này, các tổ chức tín dụng thường quy định mức lãi suất thấp hơn so với các giao dịch tiền gửi khác
Đối với giao dịch tiền gửi có kỳ hạn, còn gọi là ký thác định kỳ có đặc trưng
cơ bản là người gửi tiền cam kết chỉ rút tiền khỏi tài khoản khi thời hạn gửi tiền đã hết Do đó, tổ chức tín dụng nhận loại tiền gửi này có thể yên tâm sử dụng số tiền này vào việc cho vay một cách ổn định mà không lo ngại bị khách hàng rút tiền trước thời hạn một cách bất ngờ Để thu hút loại tiền gửi này, tổ chức tín dụng thường đưa ra mức lãi suất hấp dẫn để tăng độ an toàn và tính ổn định của việc sử dụng nguồn vốn đó trong kinh doanh
Ba là, hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng chịu sự quản lý trực tiếp
của Ngân hàng Nhà nước – cơ quan có chức năng thực hiện hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng và ngoại hối Mục đích thực hiện hoạt động quản
lý nhà nước đối với hoạt động nhận tiền gửi là để bảo đảm thu hút được lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư vào hệ thống ngân hàng, tránh tình trạng nguồn vốn tiết kiệm chuyển dịch từ tổ chức tín dụng này sang tổ chức tín dụng dẫn đến tình trạng rối loạn hoặc thiếu hụt nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu cấp tín dụng Ngoài ra, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động nhận tiền gửi để bảo đảm mức lãi suất phù hợp
để tránh cuộc chạy đua lãi suất hoặc đẩy lãi suất tiền gửi lên quá cao làm ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng trong nền kinh tế
Bốn là, người gửi tiền đa dạng, thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau Nói
chung đây là những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương do những biến động trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng Điều này có liên quan trực tiếp đến khả năng thanh toán, khả năng chi trả khoản tiền gửi của họ tại tổ chức tín dụng
Trang 17để bảo đảm khả năng sinh lời của khoản tiền tiết kiệm của mình Muốn vậy, tổ chức tín dụng phải trở thành địa chỉ tin cậy để người gửi tiền gửi tiền tiết kiệm của mình Với tư cách là chủ nợ của tổ chức tín dụng, người gửi tiền cần phải được bảo
vệ trước nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi của mình khi tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả Trong mối tương quan giữa người gửi tiền và tổ chức tín dụng, người gửi tiền không có khả năng kiểm soát việc sử dụng khoản tiền gửi để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu
Do vậy, yêu cầu bảo đảm an toàn cho khoản tiền gửi của người gửi tiền là rất cần thiết, bởi lẽ, người gửi tiền không có khả năng can thiệp vào việc ra các quyết định cấp tín dụng cho khách hàng
Pháp luật hiện hành Việt Nam quy định: Người gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm7 Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết
kiệm Đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là 2 cá nhân trở lên cùng đứng tên trên thẻ tiết kiệm
Đối với cá nhân mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài bao gồm: a) Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam; b) Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; c) Người chưa đủ 15 tuổi, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật; d) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy
7 Khoản 2 Điều 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế tiền gửi tiết kiệm
Trang 18
định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ 8 Đối với tổ chức mở tài khoản thanh toán phải được thành lập, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: tổ chức là pháp nhân, doanh nghiệp
tư nhân, hộ kinh doanh cá thể và các tổ chức khác được mở tài khoản tại ngân hàng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật
Khi xác lập giao dịch nhận tiền gửi, tổ chức tín dụng cần tránh hiệu ứng tâm lý dẫn đến hiện tượng đột biến rút tiền gửi hàng loạt của người gửi tiền gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng Trong hoạt động nhận tiền gửi, niềm tin của người gửi tiền có vai trò quan trọng trong việc thu hút tiền gửi của công chúng bên cạnh công cụ lãi suất Người gửi tiền sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất thấp để gửi tiền vào các tổ chức tín dụng có uy tín, có khả năng thanh khoản tốt… Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định khá cụ thể trình tự để thực hiện giao dịch nhận tiền gửi người gửi tiền phải trực tiếp thực hiện giao dịch gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và xuất trình các giấy tờ sau:9
- Đối với người gửi tiền là cá nhân Việt Nam phải xuất trình chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực Đối với người gửi tiền là cá nhân nước ngoài phải xuất trình hộ chiếu được cấp thị thực còn thời hạn hiệu lực; nếu người gửi tiền đó nhập cảnh được miễn thị thực theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, thì xuất trình hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực
- Đối với người gửi tiền là người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật, ngoài việc xuất trình chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực, phải xuất trình các giấy tờ chứng minh tư cách của người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự
Người gửi tiền đăng ký chữ ký mẫu lưu tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm Trường hợp người gửi tiền không thể viết được dưới bất kỳ hình thức nào thì tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm hướng dẫn cho người gửi tiền đăng ký
mã số hoặc ký hiệu đặc biệt thay cho chữ ký mẫu Người gửi tiền thực hiện các thủ tục khác do tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quy định
- Đối với người gửi tiền là tổ chức phải đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực
8 Khoản 6 Điều 1 Thông tư 32/2016/TT-NHNN ngày 26/12/2016 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư
số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 Thông tư về việc Hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
9
Khoản 8 Điều 1 Thông tư 32/2016/TT-NHNN ngày 26/12/2016 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư
số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 Thông tư về việc Hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Trang 19
chủ thể và phải do ngươi đại diện có thẩm quyền thực hiện
Từ những phân tích trên chúng ta có thể rút ra khái niệm người gửi tiền như
sau: “Người gửi tiền là tổ chức, cá nhân thực hiện giao dịch nhận tiền gửi tại tổ chức tín dụng, đáp ứng các yêu cầu về năng lực chủ thể và nhằm đạt được những mục đích nhất định” Các mục đích thông thường mà người gửi tiền hướng tới là:
Lãi suất, sử dụng dịch vụ ngân hàng, hưởng các chế độ khuyến mại…
1.1.3 Tầm quan trọng của việc bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng
Thứ nhất, đảm bảo khả năng thu hồi khoản tiền mà người gửi tiền đã gửi vào
ngân hàng Như đã phân tích ở trên, bản chất của giao dịch nhận tiền gửi là giao dịch vay tiền của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Cũng giống như các quan hệ vay tài sản khác, bảo đảm khả năng thu hồi vốn là rất quan trọng, bởi lẽ, thu hồi khoản tiền gửi có ý nghĩa quyết định đến việc củng cố, duy trì niềm tin của người gửi tiền vào tổ chức tín dụng Nói khác đi, bảo đảm khả năng chi trả khoản tiền gửi của tổ chức tín dụng là một phương thức hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi cho tổ chức tín dụng
Thứ hai, giúp tổ chức tín dụng thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính đi
vay để cho vay lại Để có tiền đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, tổ chức tín dụng sử dụng nhiều biện pháp, cách thức để thu hút nguồn tiền tiết kiệm trong dân
cư Các nghiên cứu ở khía cạnh kinh tế nhấn mạnh đến việc thu hút nguồn tiền tiết kiệm trong dân cư là một trong những giải pháp để gia tăng nguồn vốn để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu Để có thể thu hút được nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư đòi hỏi tổ chức tín dụng phải duy trì, củng cố niềm của người gửi tiền Niềm tin của người gửi tiền chỉ có nếu như tổ chức tín dụng bảo đảm tốt khả năng thanh toán, khả năng chi trả khoản tiền đã gửi tại tổ chức tín dụng Đến lượt mình, khi đã củng cố, duy trì niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng cũng dễ dàng thu hút được khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư Khi đó, các tổ chức tín dụng đóng vai trò là trung tâm thu hút, cất giữ nguồn tài sản tiết kiệm trong toàn xã hội để phục vụ nhu cầu sử dụng vốn của tổ chức, cá nhân có nhu cầu
Thứ ba, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền là một phương thức để kiểm soát việc
sử dụng vốn huy động trong dân cư của tổ chức tín dụng Nếu nhìn nhận giao dịch nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng là giao dịch vay tài sản là yêu cầu kiểm soát việc
sử dụng khoản tiền huy động trong dân cư là rất quan trọng Bởi lẽ, chỉ khi kiểm soát được việc sử dụng vốn của tổ chức tín dụng mới có thể bảo đảm khả năng
Trang 20Tuy nhiên, cũng như các chủ thể kinh doanh khác trong nền kinh tế, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận luôn được các tổ chức tín dụng theo đuổi Họ có thể dễ dàng chấp thuận cấp tín dụng cho những dự án có độ rủi ro cao hoặc không xem xét, đánh giá kỹ lưỡng dự án sản xuất kinh doanh nên đã dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật, vi phạm các chuẩn mực đạo đức10 trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh Do vậy, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền được xem là phương thức kiểm soát quá trình sử dụng vốn huy động của tổ chức tín dụng, giúp tổ chức tín dụng thận trọng hơn trong việc ra các quyết định kinh doanh, vừa bảo đảm mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận, vừa bảo đảm khả năng thanh toán, khả năng chi – một trong những biện pháp để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động cấp tín dụng
Nó có ý nghĩa rất lớn trong việc mở rộng, phát triển hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng
Thứ tư, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền góp phần ngăn chặn hiệu ứng tâm lý
dẫn đến hiện tượng đột biết rút tiền gửi hàng loạt của người gửi tiền gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, bởi lẽ, người gửi tiền đa dạng, thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, trong đó có những nhóm đối tượng dễ
bị tổn thương do những biến động trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng Trong hoạt động nhận tiền gửi, niềm tin của người gửi tiền có vai trò quan trọng trong việc thu hút tiền gửi của công chúng bên cạnh công cụ lãi suất Người gửi tiền sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất thấp để gửi tiền vào các tổ chức tín dụng có uy tín,
có khả năng thanh khoản tốt… Điều này có liên quan trực tiếp đến khả năng thanh toán, khả năng chi trả khoản tiền gửi của họ tại tổ chức tín dụng
Thứ năm, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ
Trang 21
1.1.4 Các biện pháp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
1.1.4.1 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền bằng công cụ lãi suất nhận tiền gửi
Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc sử dụng tiền
mà họ vay từ một người cho vay11 Lãi suất được sử dụng như một công cụ để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia Các mục tiêu lãi suất là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ và được tính tới khi xử lý các biến số như đầu tư, lạm phát và thất nghiệp Các ngân hàng trung ương hoặc các ngân hàng dự trữ của các nước nói chung có xu hướng giảm lãi suất khi họ muốn tăng cường đầu tư và tiêu dùng trong nền kinh tế của đất nước12 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định13 Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác
Đối với người gửi tiền, lãi suất có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó quyết định đến hành vi quyết định gửi tiền hoặc chuyển khoản tiền gửi từ tổ chức tín dụng này sang tổ chức tín dụng khác Để bảo đảm khả năng sinh lời cho khoản tiền gửi, pháp luật quy định tổ chức huy động tiền gửi phải công bố mức lãi suất tiền gửi/lãi suất huy động công khai tại các điểm giao dịch để khách hàng lựa chọn
Có hai cách để quy định lãi suất tiền gửi là: Quy định mức lãi suất tối đa (trần lãi suất) và cơ chế lãi suất tiền gửi thỏa thuận Tùy thuộc vào tín hiệu thị trường, cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng có thể sử dụng linh hoạt hai biện pháp điều hành lãi suất tiền gửi này Yêu cầu công bố công khai lãi suất, điều hành lãi suất huy động theo tín hiệu thị trường và mục tiêu của chính sách tiền quốc gia là những biện pháp tác động quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền
1.1.4.2 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền thông qua quy định về dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản Thông thường, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được các
Trang 22
ngân hàng trung ương trên thế giới quy định là tỷ lệ giữa dự trữ tiền mặt so với tiền gửi vãng lai là một bộ phận cấu thành của M1 mà không quy định tỷ lệ giữa dự trữ tiền mặt với tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi tiết kiệm , một bộ phận cấu thành của M2) Dữ trữ bắt buộc có thể được gửi ở ngân hàng trung ương hoặc giữ tại két dự trữ của ngân hàng thương mại Tuy nhiên, thông thường các ngân hàng thương mại
sẽ gửi ở ngân hàng trung ương để được hưởng lãi suất14
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 quy định: Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Quyền quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia thuộc về Ngân hàng Nhà nước 15
Từ quan niệm về dự trữ bắt buộc, quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy, công cụ dự trữ bắt buộc giúp cho các tổ chức tín dụng duy trì được khả năng thanh khoản, mà thực chất là khả năng chi trả các nhu cầu rút tiền mặt của người gửi tiền Nếu tổ chức tín dụng không duy trì khả năng thanh khoản sẽ gây ra rối loạn cho thị trường tiền tệ, ảnh hưởng đến niềm tin của người gửi tiền, có khả năng gây ra hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền hệ thống các tổ chức tín dụng do mức
độ ảnh hưởng của thông tin mất khả năng thanh khoản của tổ chức tín dụng Như vậy, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ giúp cho khách hàng bảo đảm được việc rút tiền ở bất kỳ thời điểm nào mà không ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức tín dụng
1.1.4.3 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền thông qua các chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động nhận tiền gửi
Là chủ thể tham gia thị trường, vì nhiều nguyên nhân khác nhau các tổ chức tín dụng có thể thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động nhận tiền gửi Hậu quả của các hành vi vi phạm pháp luật ngân hàng có khả năng tác động trực tiếp đến khả năng thanh toán, khả năng chi trả của tổ chức tín dụng Nếu khả năng thanh toán, khả năng chi trả của tổ chức tín dụng không được bảo đảm thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người gửi tiền Do vậy, việc quy định, hành
vi vi phạm và chế tài xử lý đối với tổ chức tín dụng trong hoạt động nhận tiền gửi giúp cho người gửi tiền nhận diện dấu hiệu vi phạm pháp luật trong hoạt động nhận tiền gửi để có quyết định gửi tiền phù hợp
Trang 23Thực tiễn 30 năm đổi mới, hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam đang có những
cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập Những lo ngại về nợ xấu gia tăng, nguy cơ không đủ vốn hoạt động và chống đỡ với quy mô nợ xấu ngày một lớn và khó dự báo có nguyên nhân sâu xa là năng lực giám sát rủi ro và quản trị doanh nghiệp không theo kịp tốc độ phát triển nhanh chóng về quy mô, mạng lưới và loại hình dịch vụ Theo đó, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo an toàn hoạt động cho từng ngân hàng cũng như cả hệ thống và nền kinh tế Ðối với các cơ quan quản lý vĩ mô, vấn đề then chốt là xây dựng khung pháp lý tuân thủ theo các chuẩn mực quốc tế, trong đó có các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, xác định lộ trình thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam Ðồng thời, cần có các biện pháp thanh tra - giám sát có hiệu quả nhằm đảm bảo các tổ chức tín dụng tăng trưởng hoạt động kinh doanh nhưng không vi phạm các giới hạn an toàn Ðối với mỗi tổ chức tín dụng, cần chấp hành các quy định của hệ thống luật pháp, đồng thời phản hồi kịp thời những vướng mắc trong quá trình thực hiện Mặt khác, cần tăng cường quản trị rủi ro, đảm bảo kinh doanh an toàn, hiệu quả, góp phần vào sự phát triển bền vững của bản thân ngân hàng cũng như toàn hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam
Rõ ràng, các quy định về bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng có vai trò gián tiếp trong việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Bởi lẽ,
Trang 24
chỉ khi các tổ chức tín dụng hoạt động an toàn thì quyền lợi của người gửi tiền của
tổ chức tín dụng mới được bảo đảm trong thực tế
1.2 Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của các
sự Các bên liên quan phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các hành vi sai sót của họ gây ra, nhưng chỉ sau khi bên bị thiệt hại khởi kiện ra tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền Hệ thống quy phạm này bao gồm các quy định về quyền và
trách nhiệm của các bên trong hợp đồng
Theo cách tiếp cận thứ hai, các quy phạm pháp luật được xây dựng theo hướng điều chỉnh, ngăn chặn trước các hành vi vi phạm Các quy phạm pháp luật mang tính phòng ngừa, ngăn chặn Theo đó các bên liên quan phải chịu phạt kể cả
trước khi có thiệt hại thực sự do đã vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng
Nghiên cứu hai cách tiếp cận trên cho thấy, không có hệ thống quy phạm nào được xây dựng theo một trong hai cách có thể bảo vệ triệt để quyền lợi gửi tiền Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới thường kết hợp cả hai cách tiếp cận trên trong xây dựng các quy phạm pháp luật bảo vệ người gửi tiền Điển hình là Pháp,
Mỹ, Canada… Pháp luật của Việt Nam cũng đang được thiết kế theo hướng này Cụ thể, pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền có mối liên quan với nhiều ngành luật khác nhau và nằm trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, trong đó có
Trang 25
Bô ̣luật dân sự, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm tiền gửi…
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi
người gửi tiền như sau: Pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa người gửi tiền và tổ chức tín dụng trong quá trình xác lập, thực hiện giao dịch nhận tiền gửi, các điều kiện để thực hiện hoạt động kinh doanh nhận tiền gửi nhằm bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền, an toàn hoạt
động ngân hàng của tổ chức tín dụng và hệ thống ngân hàng
Từ khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, chúng ta có thể rút
ra các đặc điểm cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi là:
Thứ nhất, pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền
gửi là một bộ phận không thể thiếu của pháp luật nhận tiền gửi, là công cụ quan trọng cho việc ghi nhận và cụ thể hóa quyền được bảo vệ, các biện pháp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Với tư cách là “nguồn cung cấp” cung cấp vốn cho hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, người gửi tiền cần phải được bảo vệ một cách tốt nhất Nếu quyền lợi người gửi tiền không được bảo đảm họ có thể không lựa chọn việc gửi ngân hàng mà có thể đầu tư vào những tài sản không có khả năng tái đầu tư như mua đất, mua vàng hoặc mua đô la như những tài sản cất trữ hoặc cung cấp nguồn vốn phục vụ cho các hoạt động vay không chính thức (cũng có thể
là tín dụng đen hoặc cho vay lãi nặng)
Thứ hai, pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền vừa mang yếu tố của luật
công vừa mang yếu tố của luật tư Yếu tố của luật công được thể hiện ở chỗ, giao
dịch nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước – cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng Pháp luật về tổ chức và hoạt động Ngân hàng Trung ương các nước khẳng định sự cần thiết và cho phép sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương vào thị trường tiền tệ thông qua các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Trong thực tế, những quyết định khi sử dụng các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Trung ương các nước đều hướng tới việc ổn định giá trị đồng tiền quốc gia và bảo đảm tăng trưởng kinh tế Đây là một trong những mục tiêu mang tính bao trùm toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Và do đó, bất kỳ một tác động không đúng thời
Trang 26
điểm của Ngân hàng Trung ương đều có thể tác động đến hoạt động của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là khả năng cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế16 Mục tiêu của những can thiệp của Ngân hàng Trung ương là để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô thông qua hai giải pháp là (i) Kiềm chế và giữ lạm phát ở mức thấp và ổn định; (ii) Bình ổn thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối Thực tiễn điều hành thị trường ngân hàng Việt Nam thời gian qua cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đã có các biện pháp điều hành lãi suất với những bước đi thích hợp, đảm bảo giảm nhanh chóng và hiệu quả mặt bằng lãi suất, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, từng bước hình thành đường cong lãi suất, hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối
Ngoài ra, yếu tố luật công trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng là để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng Dưới góc độ của cơ quan quản lý trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, “đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng” được nhìn nhận là
“đảm bảo cho hệ thống ngân hàng không xảy ra khủng hoảng, đổ vỡ ngân hàng mang tính hệ thống” Theo đó, cơ chế đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng được áp dụng theo hai cơ chế là:(i) Phòng tránh khủng hoảng và (ii) Xử lý khủng hoảng để giảm nguy cơ lây lan thành khủng hoảng hệ thống Đối với hoạt động nhận tiền gửi việc tuân thủ quy định về tỷ lệ khả năng chi trả để đảm bảo cho ngân hàng có đủ thanh khoản khi xảy ra rủi ro xuất phát từ sự mất cân đối về kỳ hạn, nguồn vốn và
sử dụng vốn là yếu tố quan trọng Để làm được điều này, sự can thiệp của cơ quan công quyền có ý nghĩa quyết định đến việc bảo đảm khả năng thanh toán, khả năng chi trả của tổ chức nhận tiền gửi
Bên cạnh yếu tố công nêu trên, hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng là giao dịch tư, phát sinh giữa tổ chức tín dụng trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, đôi bên cùng có lợi Khi xác lập giao dịch nhận tiền gửi, tổ chức tín dụng và khách hàng được toàn quyền trong việc thỏa thuận về lãi suất Với tư cách chủ nợ, người gửi tiền có quyền yêu cầu tổ chức nhận tiền gửi thanh toán khoản tiền gửi của mình, nếu không tự nguyện, người gửi tiền có quyền khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ chi trả
16
Viên Thế Giang, Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2014, tr.47
Trang 27
Thứ ba, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền có mối quan hệ chặt chẽ
với các lĩnh vực pháp luật khác Với tính chất là hoạt động kinh doanh trên thị trường, để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, pháp luật điều chỉnh nội dung này được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau Khi quyền lợi của mình bị xâm phạm, người gửi tiền có thể tự mình hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi cho mình Mỗi phương thức bảo vệ quyền lợi người gửi tiền có ưu điểm, nhược điểm khác nhau, nhưng hiệu quả bảo vệ quyền lợi người gửi tiền sẽ quyết định đến niềm tin, sự ổn định, mức độ an toàn của hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng
1.2.2 Nội dung điều chỉnh bằng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
Nếu nhìn nhận pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa tổ chức tín dụng và khách hàng thì nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động ngân hàng phải bao hàm những nội dung chính yếu sau đây:
Một là, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền là một trong những nội dung về bảo
đảm khả năng chi trả thông qua quy định về vốn pháp định trong thủ tục thành lập
tổ chức tín dụng; là điều kiện để điều kiện khai trương và hoạt động, điều kiện mở chi nhánh, văn phòng đại diện Quy định vốn pháp định là điều kiện bắt buộc để thành lập tổ chức tín dụng là để cho tổ chức tín dụng thực hiện tốt vai trò của trung gian tài chính đi vay để cho vay lại Vì vậy, tổ chức tín dụng phải duy trì mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định trong suốt quá trình tồn tại của mình Tương tự như vậy, khi tổ chức tín dụng có nhu cầu mở chi nhánh, văn phòng đại diện cũng phải bảo đảm yêu cầu về khả năng thanh toán, khả năng chi trả cho người gửi tiền, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất bảo đảm an toàn, bí mật cho tài khoản tiền gửi của khách hàng Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, kinh nghiệm quốc tế cho thấy tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tham gia vào quá trình tái cấu trúc ngân hàng rất hiệu quả thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình khi mua bán, sáp nhập và giải quyết các ngân hàng yếu kém một cách êm thấm, không gây xáo trộn lớn trên thị trường, đặc biệt công cụ bảo hiểm tiền gửi đã phát huy rõ rệt vai trò an dân và khôi phục niềm tin vào hệ thống ngân hàng Điều đó được minh chứng qua sự đổ vỡ của rất nhiều ngân hàng nhưng không xảy ra hiện tượng người dân đổ xô đi rút tiền hàng loạt
Trang 28
Hai là, quy định trách nhiệm tham gia bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm tiền gửi có
vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định phát triển kinh tế xã hội, góp phần bảo vệ người gửi tiền, đảm bảo sự an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng, thúc đẩy huy động vốn phục vụ phát triển và xử lý khủng hoảng tài chính Bảo hiểm tiền gửi có mục đích cơ bản sau17:
i) Bảo vệ người gửi tiền nhỏ, hạn chế về mặt thông tin đối với hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi
ii) Góp phần đảm bảo hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động lành mạnh, ổn định và ngăn chặn đổ vỡ ngân hàng thông qua các hoạt động nghiệp vụ
iii) Góp phần xây dựng thị trường tài chính lành mạnh, có tính cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tài chính với quy mô và loại hình khác nhau
iv) Giảm thiểu gánh nặng cho Chính phủ trong trường hợp xử lý đổ vỡ của tổ chức tín dụng
Ngoài ra, vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi đối với đảm bảo sự phát triển
an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng được thể hiện trên ba giác độ: Thứ nhất,
hoạt động bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng mới ra đời hoặc ngân hàng với quy mô hoạt động hạn chế có điều kiện phát triển tốt hơn do đối với các ngân hàng nhỏ hay ngân hàng mới đi vào hoạt động, người dân có tâm lý lo ngại có thể mất tiền gửi do ngân hàng nhận tiền gửi "bị đóng cửa" Tuy nhiên, khi
các tổ chức này tham gia bảo hiểm tiền gửi thì tâm lý đó sẽ được giải toả Thứ hai,
hoạt động bảo hiểm tiền gửi giúp các ngân hàng thực sự yếu kém, không thể tiếp tục duy trì hoạt động có thể rút khỏi lĩnh vực kinh doanh ngân hàng một cách có trật
tự, không gây ảnh hưởng tới các ngân hàng khác Thông qua nghiệp vụ kiểm tra và giám sát, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể đánh giá kịp thời thực trạng hoạt động của các ngân hàng tham gia bảo hiểm tiền gửi Trong trường hợp phát hiện ngân hàng nào đó hoạt động yếu kém, không hiệu quả thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ triển khai một số biện pháp hỗ trợ như: (1) đưa ra phương án sáp nhập với ngân hàng khác; (2) chi trả bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền thuộc đối tượng bảo hiểm tiền gửi; (3) tham gia vào quá trình thanh lý tài sản của ngân hàng đó để tiếp
tục bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền có số tiền gửi lớn hơn hạn mức chi trả Thứ
17
Chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu, Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc bảo vệ
người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội, truy cập ngày 10/06/2018,
http://div.gov.vn/LinkClick.aspx?fileticket=ZqPjxq%2BPWUA%3D&tabid=198&mid=554
Trang 29
ba, hoạt động bảo hiểm tiền gửi tạo động lực để các ngân hàng cạnh tranh lành
mạnh, thúc đẩy nhau nâng cao chất lượng hoạt động
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn lập pháp của các nước cũng như Việt Nam cho thấy, bảo hiểm tiền gửi có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, có khả năng ngăn ngừa khả năng xảy ra đổ vỡ mang tính dây chuyền thông qua việc hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản18
Chẳng hạn, tại Hoa Kỳ19, Công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) có vai trò quan trọng trong quản lý khủng hoảng Mùa thu năm 2008, cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ Đại suy thoái đã ập xuống phố Wall sau hơn một năm xảy ra cuộc khủng hoảng tín dụng Hàng trăm triệu các khoản đầu tư liên quan tới bất động sản
đã đóng băng, nhiều ngân hàng đầu tư lớn đã phải tự cơ cấu lại thành những ngân hàng thương mại thuần túy Công ty bảo hiểm lớn nhất của Mỹ và quỹ tiết kiệm và tín dụng lớn nhất đã phải viện tới sự trợ giúp của Chính phủ Các kênh tín dụng, mạch máu của hệ thống tài chính toàn cầu bị bóp nghẹt đã làm cắt giảm phần lớn nguồn vốn chủ yếu của người tiêu dùng cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ Sau khi nhận được sự cho phép công khai của Tổng thống dựa trên yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Tài chính, vào tháng 10/2008, FDIC được phép thực hiện “Ngoại lệ về rủi ro hệ thống”, một nghiệp vụ cho phép FDIC không nhất thiết phải thực hiện giải pháp chi phí tối thiểu, (ví dụ như đảm bảo cho tất cả các chủ nợ được bảo vệ trước rủi ro mang tính hệ thống thay vì chỉ đảm bảo cho tiền gửi được bảo hiểm) Hơn nữa, ngoài việc tăng hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi cá nhân và tổ chức lên tới 250.000 USD, ngày 14/10/2008, FDIC còn đưa ra một bảo đảm 3 năm cho các khoản nợ ngân hàng được phát hành đến hết ngày 30/06/2009 Theo chương trình này, chủ nợ sẽ nhận được tiền chi trả gốc và lãi đúng hạn nếu người đi vay không trả được nợ, thậm chí kể cả trước khi bị phá sản Ưu đãi này khiến cho các khoản đầu tư vào ngân hàng trở nên hấp dẫn hơn và nhờ đó, 150 tỷ USD trái phiếu được bảo đảm đã được phát hành từ thời điểm này
18
Khoản 1 Điều 4 Luật bảo hiểm tiền gửi 2012
19 Nguyễn Thị Hồng Ngọc, Vai trò của bảo hiểm tiền gửi Mỹ trong quản lý khủng hoảng, truy cập ngày 10/06/2018, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/11/09/vai-tr-c%E1%BB%A7a-b%E1%BA%A3o- hi%E1%BB%83m-ti%E1%BB%81n-g%E1%BB%ADi-m%E1%BB%B9-trong-qu%E1%BA%A3n-l-
Trang 30
Ba là, yêu cầu bảo đảm bí mật thông tin khách hàng Việc giữ bí mật thông tin
ngày càng được đề cao trong các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng Trong quá trình giao dịch với khách hàng, tổ chức tín dụng nắm rất nhiều thông tin khách hàng, đó là những thông tin liên quan đến quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính hay những thông tin liên quan đến các vấn
đề riêng tư cá nhân của khách hàng… Những thông tin này rất nhạy cảm, có thể có giá trị kinh tế cao, cần phải được bảo vệ để không bị người khác khai thác, sử dụng Chính vì thế, tổ chức tín dụng phải có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng Phạm vi thông tin của khách hàng cần được tổ chức hoạt động ngân hàng bảo mật rất rộng không chỉ hàm chứa trong nội dung thông tin mà còn bao hàm cả sự khẳng định có hay không (có hay không số dư trên tài khoản, tồn tại hay không các giao dịch thương mại giữa khách hàng với các đối tác của khách hàng…)20
Một tổ chức tín dụng không giữ bí mật thông tin khách hàng thường sẽ mất lòng tin của khách hàng nói riêng và của công chúng nói chung Tuy nhiên, tổ chức tín dụng không thể vì giữ bí mật thông tin khách hàng mà làm ảnh hưởng đến lợi ích chung hay tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động phạm pháp như khủng
bố, rửa tiền, lừa đảo… Trong những trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng có thể cung cấp thông tin khách hàng cho bên thứ ba Do đó, pháp luật cần phải có chế định về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, các trường hợp ngoại lệ và chế tài thích hợp nếu tổ chức tín dụng vi phạm nghĩa vụ này Nghĩa
vụ giữ (bảo vệ) bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng trong chừng mực nào đó có thể tương tự như nghĩa vụ của bác sĩ, luật sư hay kiểm toán viên Tuy nhiên, nghĩa vụ này không chỉ dừng lại ở vấn đề đạo đức hay quy tắc nghề nghiệp
mà nó thực sự là một nghĩa vụ pháp lý mà tất cả các tổ chức tín dụng phải tuân thủ trong quá trình hoạt động ngân hàng của mình21
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở pháp lý hay nguồn gốc, xuất phát điểm của nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng Ở Đức, nơi
mà các quyền cơ bản, đặc biệt là quyền riêng tư của cá nhân và của pháp nhân được quy định cụ thể trong Hiến pháp liên bang, theo một số luật gia, nghĩa vụ này xuất phát và được bảo vệ bởi Hiến pháp liên bang Dưới góc độ nhân quyền, có quan
Trang 31
điểm cho rằng nghĩa vụ này xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng thông tin cá nhân, đời sống riêng và bí mật thư tín - một trong những nguyên tắc cơ bản của nhân quyền, được quy định tại Điều 8 Công ước Châu Âu về nhân quyền (ECHR) Thậm chí có quan điểm cho rằng nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng dựa vào các quy định của luật hình sự, bởi vì theo Điều 47 Luật Liên bang về ngân hàng và ngân hàng tiết kiệm của Thụy Sĩ, chủ thể vi phạm nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng, dù cố ý hay vô ý đều bị phạt tù (tối đa 6 tháng) hoặc bị phạt tiền (lên tới 50,000 Franc Thụy Sĩ) Chính quy định giữ bí mật thông tin khách hàng nghiêm khắc này của pháp luật Thụy Sĩ là một trong những yếu tố quan trọng thu hút khách hàng gửi tiền, tài sản
và tiến hành các giao dịch với các ngân hàng Thụy Sĩ, giúp Thụy Sĩ trở thành một nước có công nghiệp ngân hàng rất phát triển22
Trong hoạt động nhận tiền gửi, bảo đảm thông tin bí mật khách hàng có vai trò
vô cùng quan trọng, bởi lẽ, số dư tài khoản tiết kiệm, tài khoản thanh toán là những thông tin thuộc bí mật đời tư cần được bảo vệ Ngoài ra, việc bảo đảm bí mật thông tin khách hàng còn giúp cho tổ chức tín dụng thiết lập hệ thống bảo đảm an toàn cho hoạt động ngân hàng, tránh tình trạng rò rỉ thông tin khách hàng dẫn đến việc
sử dụng thông để rút tiền tại tổ chức tín dụng …
Bốn là, các quy định về quy định sự tham gia của người gửi tiền trong thủ tục
kiểm soát đặc biệt, thủ tục phá sản tổ chức tín dụng Kiểm soát đặc biệt là việc một
tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán23 Vì vậy, khi có nguy cơ mất khả năng chi trả, tổ chức tín dụng phải kịp thời báo cáo với Ngân hàng Nhà nước về thực trạng tài chính, nguyên nhân và các biện pháp đã áp dụng, dự kiến áp dụng để khắc phục Thực chất của kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng là quá trình đi tìm kiếm các giải pháp để tổ chức tín dụng không phục lại khả năng thanh toán, khả năng chi trả, có vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Bởi lẽ, việc kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng là căn cứ phát sinh nghĩa vụ chi trả của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi
Thủ tục phá sản được hiểu là trình tự từng bước tiến hành giải quyết việc phá sản theo quy định của pháp luật Thủ tục phá sản không nhất thiết buộc phải giao
Trang 32
cho tòa án phụ trách Đối với tổ chức tín dụng, việc giải quyết phá sản có thể bao gồm nhiều thủ tục hành chính Tiếp cận dưới góc độ chủ nợ, thủ tục phá sản có bản chất là một thủ tục đòi nợ tập thể Tiếp cận dưới góc độ thanh toán nợ, thủ tục phá sản là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán Do vậy, phá sản tổ chức tín dụng là một thủ tục pháp lý nhằm giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả của một tổ chức tín dụng Tổ chức tín dụng thông thường
là những tổ chức kinh tế có có tính đại chúng và có quy mô lớn vì thế thủ tục phá sản tổ chức tín dụng cần phải được tiến hành thận trọng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, hạn chế đến mức thấp nhất các tác động xấu đến các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế Do vậy, trong thủ tục phá sản tổ chức tín dụng cần bảo đảm quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng của người gửi tiền
Năm là, các quy định về trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước trong thanh
tra, giám sát hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng 24 Thanh tra ngân hàng là hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng25 Giám sát ngân
hàng là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan26
Mục đích của thanh tra, giám sát ngân
hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng27
Làm tốt vai trò thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo
vệ quyền lợi người gửi tiền thông qua việc cảnh báo rủi ro sớm, rủi ro hệ thống…
24
Đoàn Đức Lương, Viên Thế Giang (Đồng chủ biên), Pháp luật về giám sát tài chính một số vấn đề lý luận
và thực tiễn, Tái bản, có sửa chữa bổ sung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015
25
Khoản 11 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010
26 Khoản 12 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010
27 Điều 50 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010
Trang 33
1.3 Các nhân tố tác động đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
1.3.1 Mức độ phát triển của thị trường ngân hàng
Mức độ phát triển thị trường ngân hàng thực chất là quá trình kiện toàn nền kinh tế thị trường ở mỗi quốc gia Thông qua quá trình phát triển, những quy luật cũng như yêu cầu của việc quản lý, vận hành thị trường ngân hàng dần được bộc lộ
và cùng với đó, yêu cầu bảo đảm an toàn, lành mạnh, bình đẳng giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Mức độ phát triển thị trường ngân hàng có ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật về chống cạnh tranh không không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng Điều này được thể hiện trên các khía cạnh sau đây28
:
Thứ nhất, sự tham gia ngày càng đa dạng các chủ thể cung ứng dịch vụ ngân
hàng sẽ làm gia tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường ngân hàng từ đó sẽ làm thay đổi tương quan cạnh tranh và xu hướng lựa chọn dịch vụ ngân hàng của người sử dụng dịch vụ ngân hàng
Khác so với những lĩnh vực thị trường khác, để tham gia được vào thị trường ngân hàng, các tổ chức tín dụng phải tuân thủ rất nhiều điều kiện khó khăn, nhất là các điều kiện về vốn, người quản trị, điều hành và yêu cầu về bảo mật và an toàn cho các giao dịch ngân hàng Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuyến, đối với thị trường ngân hàng các đối thủ cạnh tranh trong thị trường dịch vụ ngân hàng thường có số lượng giới hạn và sự gia tăng hay giảm bớt số lượng này là rất khó khăn và hạn chế, đôi khi không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chính các đối thủ cạnh tranh Điều này cũng dễ hiểu bởi lẽ, việc cho phép một tổ chức được tham gia vào hoạt động kinh doanh ngân hàng hoặc cho phép các tổ chức kinh tế này được rút lui khỏi thị trường dịch vụ ngân hàng đòi hỏi phải tuân thủ một quy trình kiểm soát chặt chẽ và với những điều kiện rất ngặt nghèo29
Thứ hai, những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao về dịch vụ ngân hàng đòi hỏi
tổ chức tín dụng phải gia tăng chi phí, nhất là yêu cầu kiện toàn chất lượng và hệ thống cung ứng dịch vụ ngân hàng để tránh tạo ra kẽ hở cho đối thủ cạnh tranh lợi
28
Viên Thế Giang, Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2014, tr.62-64
29 Nguyễn Văn Tuyến, “Áp dụng Luật Cạnh tranh trong lĩnh vực dịch ngân hàng”, Luật học số 6/2006, tr 51
- 56
Trang 34
dụng Để bảo đảm cung ứng dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao yêu cầu các tổ chức tín dụng phải tăng cường đầu tư về nguồn nhân lược, công nghệ ngân hàng, kỹ năng quản trị, nhất là quản trị nhân sự và quản trị kinh doanh
Thứ ba, gia tăng những bất ổn cho thị trường ngân hàng và mức độ tinh vi của
các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh của các tổ chức tín dụng Tình trạng lợi dụng tình trạng “mập mờ” hoặc tung tin đồn thất thiệt có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng; từ các thông tin về việc hợp nhất, sáp nhập ngân hàng đã kéo theo sự xuất hiện hay “hứa” sẽ mua hoặc đầu tư cổ phiếu cổ đông lớn/cổ đông chiến lược, người quản trị điều hành tổ chức tín dụng… như đã xảy ra trên thị trường ngân hàng nước ta thời gian qua đã tác động mạnh mẽ đến tâm lý khách hàng và người gửi tiền, người sử dụng dịch vụ ngân hàng; hành vi lợi dụng hoặc tung tin đồn thất thiệt gây ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng… được coi như những khởi động cho những hành cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường ngân hàng Việt Nam
Thứ tư, mức độ lệ thuộc giữa các tổ chức tín dụng trong nước cũng như mức
độ lệ thuộc giữa thị trường ngân hàng Việt Nam và thị trường ngân hàng thế giới càng làm gia tăng rủi ro hệ thống cho các tổ chức tín dụng Thực tế này sẽ xuất hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có yếu tố nước ngoài và vì vậy, việc chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng sẽ càng phức tạp và khó khăn hơn
Thứ năm, mức độ phát triển của thị trường ngân hàng sẽ định hình các tập
quán, đạo đức kinh doanh làm tiêu chuẩn cho việc đánh giá tính không lành mạnh của hành vi cạnh tranh của các tổ chức tín dụng Thực tế cho thấy, thị trường ngân hàng càng phát triển thì các tập quán, đạo đức kinh doanh cũng ngày càng phát triển
và định hình rõ ràng hơn, khi đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể dễ dàng xác định các các tập quán, đạo đức kinh doanh tốt đẹp để xác định, giải thích một hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các tổ chức tín dụng
1.3.2 Mức độ hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
Mức độ hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo
vệ quyền lợi người gửi tiền Khi các tổ chức tín dụng trong hệ thống tài chính thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền gửi cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính khác
Trang 35
cho khách hàng, họ phải tiến hành những công việc đó trong một khung pháp lý chặt chẽ được xây dựng chủ yếu để bảo vệ lợi ích của khách hàng Bởi vì tổ chức tín dụng là nơi tích trữ tiết kiệm hàng đầu của công chúng, đặc biệt là tiết kiệm của
cá nhân và hộ gia đình Vấn đề pháp luật, chính sách của Nhà nước trong kinh doanh của các tổ chức tín dụng luôn phải được phân tích kỹ lưỡng vì bản chất của
tổ chức tín dụng là trung gian tài chính và hoạt động của nó có ảnh hưởng đến nền kinh tế và hệ thống tài chính quốc gia Do đó so với các ngành kinh doanh khác, Nhà nước có sự kiểm soát chặt chẽ hơn về phương diện pháp luật và chính sách trên nhiều lĩnh vực khác nhau như cạnh tranh, phá sản, cơ cấu tổ chức tổ chức tín dụng
…Có những bộ luật tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng như: Luật tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước…Những luật này quy định tỉ lệ huy động vốn của tổ chức tín dụng so với vốn tự có, quy định việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu quy định mức cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng…Mặt khác, các chính sách tài chính, tiền tệ, chính sách lãi suất, tỉ giá, thuế, quản lí nợ và các cơ quan quản lí hữu quan như Ngân hàng Nhà nước, Bộ tài chính…cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng Ngoài ra có những bộ luật tác động gián tiếp đến hoạt động ngân hàng như: Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài… Nếu các luật này hoàn thiện đồng bộ, không chồng chéo mâu thuẫn hoặc các tổ chức tín dụng không được nhận tiền gửi hoặc cho vay bằng cách tăng hay giảm lãi suất mà phải dựa vào lãi suất do Ngân hàng Nhà nước đưa ra và chỉ được xê dịch trong biên độ nhất định mà Ngân hàng Nhà nước cho phép
1.3.3 Mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia
Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp
để thực hiện mục tiêu đề ra Luật Ngân hàng Nhà nước quy định: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ30 Mục
đích hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm
an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an
30 Điều 10 Luật Ngân hàng Nhà nước 2010
Trang 36
toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa31
Khảo sát quy định mục tiêu của Ngân hàng Trung ương các nước thì chỉ có
Ngân hàng Trung ương Pakistan là xác định mục tiêu ổn định tiền tệ và sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng không bao gồm mục tiêu ổn định giá cả32, còn lại Ngân hàng trung ương các nước đều hướng tới việc ổn định giá cả, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế Trong thực tế, những quyết định khi sử dụng các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Trung ương các nước đều hướng tới việc ổn định giá trị đồng tiền quốc gia và bảo đảm tăng trưởng kinh tế Đây là một trong những mục tiêu mang tính bao trùm toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Và do đó, bất kỳ một tác động không đúng thời điểm của Ngân hàng Trung ương đều có thể tác động đến hoạt động của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là khả năng cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế
Từ những phân tích trên có thể khẳng định, sự ổn định hay điều chỉnh chính sách tiền tệ quốc gia đều tác động trực tiếp đến việc hành vi gửi tiền của người gửi tiền, khả năng giữ tiền gửi của tổ chức tín dụng Chẳng hạn33, để đối phó với cuộc đua lãi suất huy động tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước chuyển từ cơ chế lãi suất thỏa thuận sang lãi suất trần và liên tục giảm lãi suất trần bất chấp những phản ứng từng phía thị trường Hệ quả của những can thiệp hành chính, không tuân thủ/dựa trên các nguyên tắc của thị trường là tình trạng các quy định/can thiệp của Ngân hàng Nhà nước không được các tổ chức tín dụng tuân thủ Có thể khẳng định, việc xử lý các tổ chức tín dụng vi phạm trần lãi suất huy động là minh chứng sinh động cho
tình trạng “trên bảo, dưới không nghe” trong việc điều hành chính sách lãi suất của
Ngân hàng Nhà nước Điều đó có nghĩa là, Ngân hàng Nhà nước ban hành trần lãi suất cứ ban hành còn các tổ chức tín dụng không tuân thủ cũng chẳng sao cả, vì Ngân hàng Nhà nước cứ thanh tra hoặc dọa thanh tra còn các tổ chức tín dụng vẫn
31 Khoản 1 Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước 2010
32 Dẫn theo: Viên Thế Giang, Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2014, tr.47
33
Viên Thế Giang, Võ Thị Mỹ Hương, Can thiệp không phù hợp của cơ quan nhà nước vào thị trường nguy
cơ của quá trình phát triển và hội nhập: Nghiên cứu thực tiễn thị trường ngân hàng Việt Nam, in trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế “Hội nhập: Thành tựu và những vấn đề đặt ra”, Tập 1 do Trường Đại học Thương mại, Trường Cao đẳng Kinh tế đối ngoại, Trường Cao đẳng Thương mại và Institute of Shipping Economics and Logistics tổ chức tháng 11/2013 tại Hà Nội, NXB Thống Kê, Hà Nội, tr.540-550
Trang 37
cứ hành xử theo kiểu của mình, nghĩa là vẫn huy động vốn cao hơn mức “trần” do Ngân hàng Nhà nước quy định Điều này hoàn toàn trái với kỳ vọng của Ngân hàng Nhà nước Các tổ chức tín dụng “sáng tạo” ra nhiều cách thức để vượt qua quy định này, gây nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc phát hiện và xử lý vi phạm
1.3.4 Mức độ linh hoạt trong điều hành chính sách lãi suất huy động
Chính sách lãi suất cũng được điều hành phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt là diễn biến của lạm phát Những thay đổi trong chính sách điều hành lãi suất cũng gây tác động không nhỏ đến diễn biến của thị trường ngân hàng Sự linh động trong điều hành chính sách lãi suất đòi hỏi phải giảm thiểu những can thiệp mang tính hành chính, gia tăng những biện pháp tác động dựa vào thị trường, tôn trọng nhu cầu thị trường có như vậy hiệu quả điều hành lãi suất mới đạt được hiệu quả như mong muốn
1.3.5 Tâm lí thói quen tiêu dùng, lợi ích của người gửi tiền
Khi quyết định gửi tiền tại ngân hàng, người gửi tiền đã cân nhắc khá kỹ khả năng sinh lời giữa gửi tiền ngân hàng so với các kênh đầu tư khác Khi các kênh đầu
tư khác kém hấp dẫn và mức độ an toàn không cao như bất động sản, vàng, chứng khoán thì lựa chọn gửi tiền ngân hàng vẫn được người gửi tiền lựa chọn, kể cả trong trường hợp lãi suất tiền gửi giảm Sau khi tăng lãi suất kha khá vào hồi trước và ngay sau Tết Nguyên Đán để thu hút tiền nhàn rỗi, thời gian gần đây nhiều ngân hàng lại lần lượt giảm lãi suất tiền gửi, trong đó chủ yếu ở các kỳ hạn ngắn Chẳng hạn như, trong tháng 4 năm 2018 Techcombank đã giảm lãi suất từ 0.3-0.5 điểm phần trăm mỗi năm so với đầu năm cho kỳ hạn 9 đến dưới 12 tháng (lãi suất 6,8% cho kỳ hạn 12 tháng trở lên và 7% cho tiết kiệm online, 1 tháng đến 9 tháng dao động trong khoản từ 5% - 6,2%)
ACB Bank cũng vừa áp dung bảng lãi suất tiền gửi mới hiệu lực từ ngày 2/5/2018 So với mức khảo sát hồi đầu tháng 4, lãi suất giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tháng Cụ thể, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 tháng giảm 0,1 điểm phần trăm xuống còn 4,8% đối với khách hàng gửi dưới 200 triệu, 4,9% đối với khách hàng gửi từ 200 triệu đến 1 tỷ và 5% đối với khoản tiền gửi trên 1 tỷ, các kỳ hạn còn lại gần như không có sự thay đổi (kỳ hạn 6 tháng - 9 tháng có lãi suất dao động
từ 5,7 đến 5,9% tùy vào lượng tiền gửi, kỳ hạn 12 tháng – 24 tháng cũng giữ nguyên, trong khi ở kỳ hạn 36 tháng lại tăng 0,2 điểm phần trăm lên 6,7%/năm)
Trang 38
Tại VietinBank, lãi suất tại kỳ hạn 1 tháng đến 3 tháng của ngân hàng này hiện
là 4,1%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với mức khảo sát đầu tháng 4 Ở kỳ hạn từ 3 tháng đến dưới 6 tháng vẫn được giữ nguyên mức 4,8%/năm
Ngoài ra, tại MB bank, lãi suất giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 3 tháng, 4 tháng ,5 tháng xuống còn 5,2% Ngân hàng Nam Á cũng điều chỉnh lãi suất tiết kiệm giảm 0,1 điểm phần trăm đối với kỳ hạn từ 6 đến 8 tháng, xuống còn 6,5%; kỳ hạn 9 tháng giảm 0,2 điểm phần trăm xuống mức 6,5%.34
Mặc dù, người gửi tiền nhận thấy được các mức lãi suất cao chỉ được áp dụng cho các kỳ hạn dài như 24 tháng và 36 tháng, nhưng sau khi cân nhắc, cuối cùng họ vẫn quyết định giữ tiền của mình lại ngân hàng Tuy nhiên, lợi ích của người gửi tiền luôn là đối tượng để tổ chức tín dụng “tấn công” và biện pháp cũng mang tính
“cổ truyền” là tăng lãi suất Chính vì vậy, tâm lí thói quen tiêu dùng, lợi ích của người gửi tiền là nhân tố có tác động trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
34 Ngân hàng rủ nhau giảm lãi suất huy động, truy cập ngày 15/6/2018, giam-lai-suat-huy-dong-20180507171421368.chn
Trang 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nhận tiền gửi là một trong những nghiệp vụ ngân hàng của tổ chức tín dụng,
là một trong những biện pháp để huy động vốn phục vụ cho hoạt động trung gian tài chính Hoạt động nhận tiền gửi có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia Trong hoạt động nhận tiền gửi, lãi suất – một trong những công cụ
để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia có tác động lên việc xác định lãi suất nhận tiền gửi với lãi suất cho vay, có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ cho hoạt động kinh tế xã hội
Giao dịch nhận tiền gửi phát sinh giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, theo
đó, khách hàng chuyển giao khoản tiền thuộc quyền sở hữu của mình cho tổ chức tín dụng quản lý và tổ chức tín dụng có quyền sử dụng khoản tiền này để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu Khi sử dụng khoản tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng, tổ chức tín dụng phải tuân thủ quy định về bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, khả năng thanh toán, khả năng chi trả khoản tiền gửi của khách hàng Trong giao dịch nhận tiền gửi, yêu cầu bảo vệ quyền lợi người gửi tiền là rất quan trọng, vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của công chúng vào hệ thống các tổ chức tín dụng Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền bao gồm tổng thể nhiều biện pháp khác nhau như biện pháp kinh tế, biện pháp hành chính và biện pháp tự bảo vệ của người gửi tiền Hiệu quả của bảo vệ quyền lợi người gửi tiền phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường ngân hàng, mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia, mức
độ linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia…
Trang 40
Chương 2 ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI GỬI TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI CỦA TỔ
CHỨC TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1 Thực trạng quy định về điều kiện thành lập, điều kiện khai trương hoạt động, mở chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng có liên quan đến bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
Thành lập tổ chức tín dụng là thủ tục pháp lý nhằm xác lập tư cách chủ thể kinh doanh ngân hàng, bao gồm các bước, khâu, các thủ tục và giấy tờ pháp lý do người thành lập tổ chức tín dụng chuẩn bị Có thể nói, pháp luật của các nước quy định khá chặt chẽ điều kiện thành lập tổ chức tín dụng Chẳng hạn, tại Hoa Kỳ, một ngân hàng được thành lập phải thỏa mãn nhiều điều kiện khác nhau, tùy thuộc nó là ngân hàng bang hay ngân hàng liên bang Nếu ngân hàng được thành lập là ngân hàng bang, nghĩa là phạm vi hoạt động chủ yếu trong một bang nhất định thì nó phải đáp ứng các điều kiện của bang đó và do cơ quan quản lý ngân hàng của bang cấp phép Trường hợp ngân hàng được thành lập là ngân hàng liên bang có phạm vi hoạt động ở nhiều bang nó phải tuân thủ các điều kiện của Liên bang và do Cục quản lý tiền tệ liên bang (có chức năng quản lý ngân hàng cấp liên bang) chấp thuận35 Sở dĩ pháp luật các nước quy định điều kiện thành lập tổ chức tín dụng, nhất là các ngân hàng thương mại khắt khe như vậy là do mức độ ảnh hưởng của hoạt động ngân hàng tới đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Nếu Nhà nước không kiểm soát được việc thành lập tổ chức tín dụng thì nguy cơ mất quyền kiểm soát nền kinh tế là rất dễ xảy ra
Một trong những điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng là tổ chức tín dụng phải có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định36 Chính phủ có thẩm quyền quy định mức vốn pháp đối với từng loại hình tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Mức vốn pháp định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay được quy định cụ thể tại Nghị định 10/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành danh mục mức vốn pháp định của