Trong xu thế chung đó, giá trị hợp lý GTHL được nhiều quốc gia lựa chọn bởi những lợi ích mà nó mang lại, GTHL đánh giá được sự vận động của tài sản và nợ phải trả vì vậy phản ánh được
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-
DƯƠNG LÊ DIỄM HUYỀN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH
VỀ SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG HỆ THỐNG
KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-
DƯƠNG LÊ DIỄM HUYỀN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH
VỀ SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG HỆ THỐNG
KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN ANH HOA
TP HOÀ CHÍ MINH – NAÊM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
o0o
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
dữ liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Luận văn này chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tác giả Dương Lê Diễm Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
o0o
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Trần Anh Hoa đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện tốt luận văn này cũng như hoàn thiện kiến thức chuyên môn của mình
Kế tiếp, tôi xin trân trọng cảm ơn đến các Thầy Cô Khoa Kế Toán – Kiểm Toán Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian tôi học tập tại trường
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Kế Toán – Kiểm Toán, Viện Đào Tạo Sau Đại Học – Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả Dương Lê Diễm Huyền
Trang 5o0o
TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG DANH MỤC SƠ ĐỒ MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN GIÁ TRỊ HỢP LÝ VÀ VIỆC ÁP DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN 6
1.1 Nền tảng lý thuyết về định giá trong kế toán 6
1.1.1 Khái niệm định giá trong kế toán 6
1.1.2 Các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính ảnh hưởng đến việc định giá 7 1.1.3 Khái niệm về vốn và bảo toàn vốn 8
1.1.4 Các hệ thống định giá kế toán 8
1.1.5 Các loại giá được sử dụng trong hệ thống định giá kế toán 9
1.2 Sự hình thành và phát triển của kế toán giá trị hợp lý 10
1.2.1 Lược sử hình thành và phát triển của giá trị hợp lý 10
1.2.2 Nội dung của giá trị hợp lý theo IFRS 13 12
1.2.2.1 Định nghĩa giá trị hợp lý và phạm vi áp dụng của IFRS 13 12
1.2.2.2 Phân chia cấp bậc giá trị hợp lý 15
1.2.2.3 Các phương pháp xác định giá trị hợp lý 18
1.2.2.4 Trình bày và công bố giá trị hợp lý 19
1.3 Quy định giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Malaysia 21
1.3.1 Qui định giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán quốc tế 21
1.3.1.1 Đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu 21
Trang 6yếu tố hợp thành 22
1.3.1.3 Đo lường tài sản và nợ phải trả sau ghi nhận ban đầu 22
1.3.1.4 Sử dụng trong đánh giá sự suy giảm của tài sản 24
1.3.2 Qui định giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán Malaysia 24
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 25
1.4 Những vấn đề đặt ra xung quanh việc xác định giá trị hợp lý 26
1.4.1 Một số lý luận chỉ trích kế toán giá trị hợp lý 26
1.4.2 Một số lý luận ủng hộ kế toán giá trị hợp lý 27
Kết luận chương 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM 30
2.1 Định giá trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam 30
2.1.1 Lịch sử phát triển định giá trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam 30 2.1.1.1 Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2001 30
2.1.1.2 Giai đoạn năm 2001 đến nay 30
2.1.2 Các phương pháp định giá tại Việt Nam 31
2.2 Quy định giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam 32 2.2.1 Sự hình thành và phát triển giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam 32
2.2.2 Qui định giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 34
2.2.2.1 Khái niệm giá trị hợp lý 34
2.2.2.2 Qui định giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán Việt Nam và thông tư hướng dẫn 36
2.3 Thực trạng việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp
Việt Nam 43
2.3.1 Khảo sát thực tế việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam 43
2.3.1.1 Đối tượng và phạm vi khảo sát 43
Trang 72.3.2 Tổng hợp kết quả và nhận xét 44
2.4 Đánh giá thực trạng vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam 47
2.4.1 Các hạn chế và nguyên nhân dẫn đến giá trị hợp lý chưa được áp dụng rộng rãi trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam 47
2.4.1.1 Các hạn chế 47
2.4.1.2 Các nguyên nhân 48
2.4.2 Khả năng áp dụng giá trị hợp lý của Việt Nam trong tương lai 49
2.4.2.1 Thuận lợi 49
2.4.2.2 Thách thức 50
Kết luận chương 2 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG HỆ THỐNG KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY 53
3.1 Các quan điểm hoàn thiện quy định giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam theo xu hướng hội tụ kế toán quốc tế 53
3.1.1 Hoàn thiện các quy định giá trị hợp lý nhằm nâng cao chất lượng thông tin báo cáo tài chính 53
3.1.2 Từng bước tạo sự tương thích với chuẩn mực kế toán quốc tế về giá trị hợp lý để tăng cường tính hội nhập của kế toán Việt Nam 54
3.2 Giải pháp ngắn hạn 54
3.2.1 Mục tiêu 54
3.2.2 Giải pháp thực hiện 54
3.2.2.1 Từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng làm nền tảng cho việc định giá 54
3.2.2.2 Nâng cao sự hiểu biết về giá trị hợp lý của người làm công tác kế toán 55
3.3 Giải pháp dài hạn 55
3.3.1 Mục tiêu 55
3.3.2 Giải pháp thực hiện 56
3.3.2.1.Chỉnh sửa Luật kế toán và chuẩn mực chung 56
Trang 83.3.2.3 Hoàn thiện các quy định về sử dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực đã
ban hành 59
3.3.2.4 Nghiên cứu và xây dựng chuẩn mực giảm giá trị tài sản 66
3.3.2.5 Nghiên cứu và xây dựng chuẩn mực kế toán công cụ tài chính 69
Kết luận chương 3 70
KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9o0o
Phần tiếng Anh
FASB Financial Accounting Standard Board
Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ
IAS International Accounting Standard
Chuẩn mực kế toán quốc tế IASB International Accounting Standard Board
Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS International Financial Reporting Standard
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
US GAAP United States Generally Accepted Accounting Principles
Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi ở Hoa Kỳ
Trang 10o0o
Bảng 1.1 - Cấp bậc giá trị hợp lý 17
Bảng 1.2 - Tóm tắt yêu cầu về việc công bố và trình bày giá trị hợp lý 20
Bảng 2.1 - Danh sách các chuẩn mực yêu cầu sử dụng giá trị hợp lý 33
Bảng 2.2 - Khái niệm giá trị hợp lý trong các chuẩn mực và thông tư 34
Bảng 2.3 - Định giá sau ghi nhận ban đầu của chuẩn mực kế toán Việt Nam đối chiếu với chuẩn mực kế toán quốc tế 42
Trang 11o0o
Sơ đồ 2.1 – Vai trò của kế toán giá trị hợp lý trong việc lập BCTC 44
Sơ đồ 2.2 – Sự hiểu biết về giá trị hợp lý của các doanh nghiệp 45
Sơ đồ 2.3 – Ghi nhận GTHL đối với một số khoản mục kế toán trên BCTC Việt Nam 45
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU o0o
1 Lí do chọn đề tài:
Với sự kiện trở thành thành viên chính thức của WTO vào năm 2006 đã mở
ra một trang mới cho nền kinh tế Việt Nam, đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với kinh tế nói chung và hệ thống kế toán nói riêng Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu hội nhập cũng như nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng trong nền kinh tế toàn cầu hóa đòi hỏi hệ thống kế toán Việt Nam cần phải có những bước đi thích hợp hơn Trong xu thế chung đó, giá trị hợp lý ( GTHL) được nhiều quốc gia lựa chọn bởi những lợi ích mà nó mang lại, GTHL đánh giá được sự vận động của tài sản và
nợ phải trả vì vậy phản ánh được tình hình thị trường hiện tại, cung cấp những thông tin kịp thời giúp cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính ( BCTC) , đặc biệt là nhà đầu tư trong việc ra các quyết định kinh tế
Lịch sử phát triển của GTHL trên thế giới bắt đầu từ những năm 1970, khái niệm GTHL được xuất hiện rải rác trong các chuẩn mực, nhưng mãi cho đến năm
2011 IASB mới ban hành IFRS 13 “ Fair value measurement” ( Đo lường GTHL) hướng dẫn chi tiết cho việc ghi nhận và đo lường GTHL trong kế toán
Tại Việt Nam, GTHL cũng được đề cập đến trong các chuẩn mực để định giá các đối tượng trong kế toán Tuy nhiên, quy định GTHL trong các chuẩn mực còn nhiều bất cập và cũng chưa có một chuẩn mực cụ thể để hướng dẫn về việc vận dụng GTHL nên việc áp dụng chưa được rộng rãi do đó tác giả đã lựa chọn đề tài “ Một số giải pháp hoàn thiện về sử dụng giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam ” nghiên cứu như là một yêu cầu do thực tiễn đặt ra đối với khoa học
2 Mục đích nghiên cứu:
Qua phân tích những nội dung của chuẩn mực quốc tế về kế toán GTHL cũng như tham khảo kinh nghiệm vận dụng GTHL của nước Malaysia, từ đó so sánh với tình hình thực tế chuẩn mực kế toán Việt Nam về GTHL để đề ra những giải pháp khắc phục những nhược điểm còn tồn tại và hoàn thiện hơn các quy định
về sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) có liên quan đến GTHL
- Các chuẩn mực kế toán Việt Nam, Luật kế toán Việt Nam, chế độ kế toán doanh nghiệp và thông tư ban hành có liên quan đến GTHL
- Thực trạng vận dụng GTHL ở các doanh nghiệp Việt Nam được khảo sát 3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề liên quan đến GTHL ở một số khoản mục thường gặp tại các doanh nghiệp Việt Nam bao gồm TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, bất động sản đầu tư ( BĐSĐT) , công cụ tài chính Luận văn không nghiên cứu các vấn đề liên quan đến BCTC hợp nhất, công cụ tài chính phái sinh,các công cụ phòng ngừa rủi ro và các phương pháp,kỹ thuật đo lường GTHL
4 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp hệ thống hóa để hệ thống các khái niệm liên quan đến GTHL
- Để tìm hiểu sự giống và khác nhau về quy định GTHL trong chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam, đề tài sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu
- Để đánh giá thực trạng vận dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam, đề tài sử dụng phương pháp phân tích định lượng
- Từ thực trạng nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích nhằm tìm hiểu nguyên nhân và hạn chế dẫn đến GTHL chưa được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp để đưa ra các giải pháp hoàn hiện các quy định về sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiêp Việt Nam
Trang 145 Những công trình khoa học đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Luận văn thạc sỹ “ Định hướng về việc sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam”, Lê Vũ Ngọc Thanh, năm 2005, bảo vệ tại trường Đại học Kinh Tế TP.HCM Luận văn này đã giải quyết được những vấn đề sau:
- Hệ thống hóa vấn đề định giá trong kế toán Việt Nam Khái quát các yêu cầu về GTHL trong chuẩn mực kế toán, phân tích
và đánh giá bản chất, vai trò của GTHL trong kế toán Việt Nam Nhận định những thuận lợi và khó khăn trong việc nâng cao vai trò của GTHL trong kế toán doanh nghiệp
- Định hướng về việc sử dụng GTHL: về ngắn hạn là hoàn chỉnh các chuẩn mực hiện có, về dài hạn là điều chỉnh Luật kế toán, chuẩn mực chung và ban hành một số chuẩn mực mới
Luận văn thạc sỹ “ Phương hướng và giải pháp vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam”, Ngô Thị Thùy Trang, năm
2012, bảo vệ tại trường Đại học Kinh Tế TP.HCM Luận văn này đã giải quyết được những vấn đề sau:
- Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển kế toán theo GTHL trên thế giới và thực trạng việc vận dụng GTHL trong
kế toán doanh nghiệp Việt Nam
- Các quan điểm làm cơ sở để đưa ra các định hướng và giải pháp về vận dụng GTHL và đề xuất phương hướng, giải pháp vận dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam
Luận văn thạc sỹ “ Các giải pháp mang tính định hướng cho việc xác lập khung pháp lý về giá trị hợp lý áp dụng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam”, Trần Thị Phương Thanh, năm 2012, bảo vệ tại trường Đại học Kinh Tế TP.HCM Luận văn này đã giải quyết được những vấn đề sau:
Trang 15- Hệ thống hóa vấn đề định giá trong chuẩn mực kế toán Việt Nam, trên cơ sở đối chiếu với chuẩn mực kế toán quốc tế tương đương có quy định GTHL
- Sử dụng phương pháp định tính để thu thập ý kiến chuyên gia
về thực tế áp dụng GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam và đưa ra các giải pháp mang tính định hướng cho việc xác lập khung pháp lý về GTHL áp dụng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam
Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp trường “ Vận dụng GTHL trong việc ghi nhận và trình bày thông tin của một số khoản mục trên BCTC của doanh nghiệp Việt Nam”, Nguyễn Thị Kim Cúc
và cộng sự, năm 2013 đã giải quyết được những vấn đề sau:
- Hệ thống các phương pháp kế toán hiện nay liên quan đến GTHL ở một số khoản mục
- Đánh giá những thành quả và tồn tại trong quy định kế toán Việt Nam liên quan đến GTHL ở một số khoản mục
- Là thông tin cho những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế nói chung và kế toán, kiểm toán nói riêng tiếp tục nghiên cứu sâu và rộng hơn những vấn đề liên quan đến GTHL
- Giúp cơ quan quản lý Nhà nước ban hành, hướng dẫn cụ thể về phương pháp kế toán có liên quan đến GTHL
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Về lý luận: Nghiên cứu các phương pháp định giá, trình bày và công bố
GTHL trong IFRS 13, những tranh luận về GTHL trên thế giới và tìm hiểu
các đặc tính thông tin ảnh hưởng đến việc đo lường GTHL
- Về thực tiễn: Thông qua quy định GTHL trong hệ thống kế toán doanh
nghiệp Việt Nam làm rõ thực trạng việc vận dụng GTHL trong doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Cụ thể, hệ thống hoá các quy định GTHL, đánh giá thực trạng việc vận dụng GTHL và khả năng áp dụng GTHL của Việt Nam trong tương lai
Trang 16Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các quan điểm, giải pháp hoàn thiện các quy định GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam, giúp cơ quan Nhà nước mà cụ thể là Bộ Tài Chính trong việc chỉnh sửa quy định của Luật kế toán, các chuẩn mực liên quan và ban hành chuẩn mực đo lường GTHL
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có ba chương:
Chương 1: Tổng quan về kế toán giá trị hợp lý
Chương 2: Thực trạng vận dụng giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định về sử dụng giá trị hợp lý trong
hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN GIÁ TRỊ HỢP LÝ
1.1 NỀN TẢNG LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ TRONG KẾ TOÁN
1.1.1 Khái niệm định giá trong kế toán
Theo IASB (2010) định giá là một quá trình xác định giá trị tiền tệ của các yếu tố trong BCTC được ghi nhận và trình bày trên bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động kinh doanh
“Định giá là một phương pháp cơ bản của kế toán, biểu hiện các đối tượng kế toán bằng tiền theo những nguyên tắc và yêu cầu nhất định“ ( Nguyễn Việt và Võ Văn Nhị, 1997, trang 132)
Thông qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, xác định được giá trị tài sản, nguồn vốn, cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Việt và Võ Văn Nhị, 2006)
Về cơ bản có 2 loại định giá: định giá ban đầu và định giá sau ghi nhận ban
đầu Định giá ban đầu có nhiệm vụ xác định giá trị của đối tượng kế toán ngay khi
nghiệp vụ kinh tế phát sinh để ghi nhận vào sổ sách kế toán Sau một kỳ nhất định, xuất phát từ sự thay đổi giá trị của các đối tượng này như hao mòn, giảm chất lượng… cần phải đánh giá lại giá trị của đối tượng kế toán
Định giá ảnh hưởng đến quyết định của tất cả các đối tượng sử dụng BCTC
BCTC là một nguồn thông tin về tài chính quan trọng nhất, nó cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và những thay đổi về hiện trạng tài chính của doanh nghiệp Những thông tin này rất quan trọng cho nhiều người sử dụng khác nhau trong việc hình thành quyết định kinh tế của họ (IASB, 2010) Những người sử dụng này có thể được chia thành các nhóm chính sau: cổ đông và cổ đông tiềm năng, người lao động, người cho vay, nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ, khách hàng, chính phủ và người dân Mỗi một nhóm người sử dụng có nhu cầu khác nhau
để trợ giúp việc hình thành quyết định Tuy nhiên, BCTC không thể cung cấp thông tin thoả mãn được nhu cầu cho tất cả các nhóm Trong đó, cổ đông được xem là
Trang 18nhóm quan trọng nhất bởi vì họ là những người cấp vốn cho công ty, doanh nghiệp Nếu một BCTC đáp ứng được nhu cầu của các cổ đông, thì nó kỳ vọng cũng đáp ứng được nhu cầu của hầu hết các đối tượng khác
1.1.2 Các đặc điểm chất lượng của BCTC ảnh hưởng đến việc định giá
Do định giá ảnh hưởng đến quyết định của tất cả các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính, vì vậy các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính cũng ảnh hưởng đến việc định giá:
“ Có thể hiểu được (Understandability): để cung cấp thông tin hữu ích, báo
cáo tài chính phải có thể hiểu được bởi người sử dụng Người đọc được giả thiết là có một kiến thức nhất định về kinh tế, kinh doanh và kế toán và có thiện chí, nổ lực để đọc báo cáo tài chính Tuy nhiên, thông tin về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định không được loại trừ khỏi báo cáo tài chính chỉ vì nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng
Thích hợp (Relevance): thông tin hữu ích khi nó thích hợp với nhu cầu đưa
ra quyết định của người sử dụng Thông tin thích hợp khi nó có thể giúp người đọc đánh giá quá khứ, hiện tại hoặc tương lai hoặc xác nhận, điều chỉnh các đánh giá trước đây Tính thích hợp bao gồm tính dự toán và tính xác nhận hai đặc tính này có quan hệ với nhau
Đáng tin cậy (Reliability): đáng tin cậy nghĩa là không có sai sót hay thiên
lệch một cách trọng yếu, đồng thời phản ảnh trung thực vấn đề cần phải trình bày Đáng tin cậy bao gồm các yêu cầu: trình bày trung thực, nội dung quan trọng hơn hình thức, không thiên lệch, thận trọng và đầy đủ
Có thể so sánh (Comparability): BCTC chỉ hữu ích khi có thể so sánh với
năm trước, với doanh nghiệp khác Do đó, các nghiệp vụ giống nhau phải được đánh giá và trình bày một cách nhất quán trong toàn doanh nghiệp, giữa các thời kỳ và giữa các doanh nghiệp Việc thuyết minh là cần thiết để bảo đảm tính so sánh được Tuy nhiên, nhất quán không có nghĩa là doanh nghiệp không thay đổi chính sách kế toán khi cần thiết hoặc theo yêu cầu của chuẩn mực.” ( Vũ Hữu Đức, 2010, trang 193, 194, 195)
Trang 191.1.3.Khái niệm về vốn và bảo toàn vốn
Khái niệm về vốn
Phương diện tài chính: vốn là tài sản thuần hay vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Phương diện vật chất: vốn được xem là năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Khái niệm bảo toàn vốn
Theo IASB (2010) việc lựa chọn khái niệm vốn phù hợp với doanh nghiệp phải căn cứ vào nhu cầu của người sử dụng BCTC Mặc dù có những khó khăn trong vấn đề xác định lợi nhuận theo từng khái niệm cụ thể, nhưng mỗi khái niệm sẽ cho biết mục tiêu xác định lợi nhuận của doanh nghiệp
Bảo toàn vốn tài chính: nghĩa là lợi nhuận chỉ đạt được khi giá trị tài chính (hay tiền tệ) của tài sản thuần vào cuối kỳ vượt quá giá trị tài chính (hay tiền tệ) của tài sản thuần vào lúc đầu kỳ, sau khi trừ các khoản phân phối hay đóng góp từ chủ sở hữu trong kỳ Bảo toàn vốn tài chính có thể được đo lường theo đơn vị tiền tệ danh nghĩa hay đơn vị sức mua ổn định
Bảo toàn vốn vật chất: nghĩa là lợi nhuận chỉ đạt được khi năng lực sản xuất vật chất (hay năng lực hoạt động) của doanh nghiệp (hoặc các nguồn lực hay quỹ cần thiết để đạt được năng lực này) vào cuối kỳ vượt quá năng lực sản xuất vật chất vào lúc đầu kỳ, sau khi trừ các khoản phân phối và đóng góp từ vốn chủ sở hữu trong kỳ
- Khái niệm bảo toàn vốn vật chất yêu cầu áp dụng giá hiện hành làm
cơ sở định giá Tuy nhiên, khái niệm bảo toàn vốn tài chính lại không đòi hỏi việc áp dụng một cơ sở định giá nào cụ thể Việc chọn lựa cơ
sở xác định theo khái niệm này, phụ thuộc vào loại vốn tài chính mà doanh nghiệp đang tìm cách bảo toàn Sự khác biệt giữa hai khái niệm vốn bảo toàn dẫn đến sự thay đổi trong việc xác định tài sản hay nợ phải trả của doanh nghiệp
1.1.4 Các hệ thống định giá kế toán
Tương ứng với hai quan điểm bảo toàn vốn tài chính và bảo toàn vốn vật chất đã có bốn hệ thống định giá kế toán:
Trang 20 “Kế toán dựa trên giá gốc (historical cost): dựa trên giá mua vào quá khứ
để ghi nhận các giao dịch và lập BCTC Đây là hệ thống định giá truyền thống đã phát triển nhiều năm từ khi các kỹ thuật ghi sổ kép của Pacioli ra đời Trong thời kỳ khoa học cơ bản, các cơ sở lý luận của hệ thống này đã được hình thành, và cho đến nay hệ thống này vẫn còn giữ vai trò chủ yếu trong các thông lệ và chuẩn mực kế toán
Kế toán dựa trên mức giá chung (general price-level accounting): dựa trên chỉ số giá để điều chỉnh BCTC nhằm loại trừ ảnh hưởng của biến động giá, đặc biệt là lạm phát Kế toán theo mức giá chung phát triển trong giai đoạn lạm phát gia tăng trên thế giới vào những năm thuộc thập niên 1960-
1970 và hiện nay vẫn còn được áp dụng ở một số quốc gia có lạm phát cao
Kế toán dựa trên giá hiện hành (current cost accounting): dựa trên giá hiện hành hay còn gọi là giá thay thế (replacement cost) của tài sản để lập BCTC và xác định lợi nhuận Giá hiện hành đã được đề cập rất sớm trong kế toán nhưng chỉ được trình bày một cách hệ thống với các cơ sở lý luận đầy
đủ vào thời kỳ quy chuẩn, song song với việc phê phán giá gốc Giá hiện hành cũng ảnh hưởng đến thực tiễn kế toán ở một số quốc gia trong thời kỳ lạm phát cao như một giải pháp thay thế cho kế toán dựa trên mức giá chung
Kế toán dựa trên giá đầu ra (exit price accounting): dựa trên giá bán trên thị trường để đo lường và đánh giá tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp Kế toán giá đầu ra đặt những nền móng cho hướng phát triển kế toán theo thị trường (market-to-market accounting) sau này” ( Vũ Hữu Đức, 2010, trang 28,29)
1.1.5 Các loại giá được sử dụng trong hệ thống định giá kế toán
Theo IASB (2010) cho rằng vấn đề định giá là chọn lựa giữa các cơ sở định giá và đưa ra các loại giá sau để làm cơ sở cho việc định giá :
Giá gốc (historical cost) : tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc tương đương tiền phải trả hoặc GTHL của các khoản thanh toán để có được tài sản tại thời điểm mua tài sản Nợ phải trả được ghi nhận theo số tiền nhận được để đổi lấy
Trang 21nghĩa vụ (ví dụ khoản người mua ứng trước) Trong một số trường hợp, nợ phải trả được ghi theo số tiền hay tương đương tiền phải trả để hoàn thành nghĩa vụ trong một hoạt động kinh doanh bình thường (ví dụ thuế phải nộp)
Giá hiện hành (current cost) : tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc tương đương tiền phải trả nếu muốn mua một tài sản tương tự tại thời điểm hiện tại Nợ phải trả được ghi theo số tiền hay tương đương tiền (không chiết khấu) để hoàn thành nghĩa vụ tại thời điểm hiện tại
Giá trị thuần có thể thực hiện (realizable/ settlement value): tài sản được ghi theo số tiền hoặc tương đương tiền có được bằng cách bán tài sản trong điều kiện bán bình thường Nợ phải trả được ghi nhận theo số tiền hoặc tương đương tiền (không chiết khấu) phải trả để hoàn thành nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh bình thường
Hiện giá (present value): tài sản được ghi nhận theo giá trị hiện tại (đã chiết khấu) của dòng tiền thuần dự định thu vào trong tương lai được mong đợi mang lại trong điều kiện kinh doanh bình thường Nợ phải trả được ghi nhận theo giá trị hiện tại (đã chiết khấu) của dòng tiền ra thuần trong tương lai sẽ phải thanh toán trong điều kiện kinh doanh bình thường
1.2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KẾ TOÁN GÍA TRỊ HỢP LÝ 1.2.1 Lược sử hình thành và phát triển của giá trị hợp lý
Theo Georgiou và Jack (2011) sự hình thành và phát triển của GTHL có thể chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1850 đến 1970 : là giai đoạn tự phát của giá thị trường
Sau hơn 1 thế kỷ chập chững hình thành và bước đi thì đây là giai đoạn nền kinh tế tự do đi vào giai đoạn phát triển một cách mạnh mẽ, sự giao thương giữa các quốc gia ngày càng được gia tăng; quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các châu lục ngày càng được mở rộng, các quốc gia phát triển sớm như Mỹ, các nước Tây Âu tích cực sản xuất hàng hóa đưa đi trao đổi ở các nơi trên thế giới
Hàng hóa được sản xuất ở nhiều nơi, chất lượng các nơi không đồng đều nhau, thời gian chuyên chở đi các khu vực trên thế giới cũng khác nhau thế nên giá
cả các loại hàng hóa ở trong nước và ngoài nước có sự chênh lệch; thậm chí cùng là một loại mặt hàng nhưng do Mỹ sản xuất thì giá khác, Anh hay Pháp sản xuất thì
Trang 22giá khác; từ đó khái niệm về GTHL được hình thành tuy chỉ là nguyên tắc đơn giản nhưng là bước đầu cho quy định về tính giá cả trong kinh tế sau này
Giai đoạn 1970 đến 1990: GTHL mở rộng phạm vi sử dụng và được hình
thành một cách chính thức
Trên thế giới, GTHL xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ, được đề cập đến trong báo cáo về ý kiến của Ủy Ban Nguyên Tắc Kế Toán số 16 (APB Opinion 16) để ghi nhận lợi thế thương mại, ghi nhận giá trị của tài sản có được do hợp nhất:
APB Opinion 16 – Hợp nhất doanh nghiệp: “ tất cả tài sản, nợ phải trả có được trong hợp nhất doanh nghiệp nên được ghi nhận tại GTHL của chúng tại ngày mua”
APB Opinion 17 – Tài sản vô hình:” sự khác nhau giữa GTHL và chi phí sẽ được coi như lợi thế thương mại”
Sau khi xuất hiện, GTHL tiếp tục được thừa nhận và phạm vi sử dụng của GTHL dần dần được mở rộng hơn GTHL được bắt đầu quan tâm và áp dụng của nhiều nước cũng như của IASB , được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: dầu khí, truyền hình, ngân hàng, bảo hiểm… song song với đó, cũng có những hướng dẫn hạn chế
về cách xác định và trình bày GTHL trên bảng BCTC
Nhìn chung, trong giai đoạn này GTHL xuất hiện để áp dụng cho lợi thế thương mại và tài sản có được do hợp nhất, sau đó GTHL được mở rộng để áp dụng cho một số chứng khoán và giao dịch phi tiền tệ, công cụ tài chính, thuê tài sản
Giai đoạn 1991 đến 2004 : GTHL phát triển mạnh mẽ cùng với sự hình
thành và phát triển của các thị trường hoạt động
Từ năm 1991 đến 2000: sự phát triển và mở rộng được đánh dấu bằng các
chuẩn mực của Mỹ: FASB Statement 107 (năm 1991) công bố về GTHL của công
cụ tài chính, FASB Statement 141 – Hợp nhất doanh nghiệp, FASB Statement 142 – Lợi thế thương mại và tài sản vô hình… các chuẩn mực này đã đưa ra được những hướng dẫn rõ ràng hơn về GTHL Lúc này, chuẩn mực của Mỹ cũng như chuẩn mực quốc tế đã bắt đầu sử dụng GTHL cho việc đánh giá sau ghi nhận ban đầu
Trong giai đoạn này, GTHL được áp dụng rộng rãi trong nhiều ngành, nhiều khoản mục làm xuất hiện sự lo lắng về khả năng của GTHL do những hướng dẫn về
Trang 23GTHL vẫn chưa đạt được sự thống nhất chung và có nhiều mâu thuẫn trong các công bố
Từ năm 2000 đến 2004: để giải quyết những vấn đề của GTHL, FASB và
IASB đã bắt tay vào nghiên cứu sâu hơn về lý thuyết của GTHL
Năm 2004 sự phát triển mạnh mẽ của GTHL được chứng minh bằng Dự thảo chuẩn mực về GTHL của FASB; GTHL được bắt đầu nghiên cứu vào năm 2003 và sau nhiều lần tiến hành thỏa luận thì Dự thảo được tuyên bố chính thức vào tháng 6 năm 2004 Bên cạnh đó, chuẩn mực kế toán quốc tế số 545 – kiểm toán xác định và công bố GTHL - hướng dẫn kiểm toán GTHL cho các BCTC bắt đầu từ năm 2004 cũng đã cho thấy sự phát triển của GTHL
Giai đoạn 2005 đến nay: đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất và dẫn
đến sự ra đời của chuẩn mực đo lường GTHL
Sau khi ban hành dự thảo Chuẩn mực về GTHL vào năm 2004 thì vào năm
2006 FASB ban hành SFAS 157 Chuẩn mực đo lường GTHL
Năm 2011 IASB và FASB đã ban hành hướng dẫn mới về việc đo lường, trình bày và công bố thông tin về GTHL ( IFRS 13) được cập nhật trên Chủ đề 820 (Topic 820) của FASB (trước đây là SFAS 157), hoàn thành một dự án hội tụ lớn của IFRSs và US GAAP
1.2.2 Nội dung của giá trị hợp lý theo IFRS 13
1.2.2.1 Định nghĩa giá trị hợp lý và phạm vi áp dụng của IFRS 13
a Định nghĩa giá trị hợp lý
GTHL là giá trị có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc có thể được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch bình thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường ( IASB, 2011)
GTHL chính là giá đầu ra, bởi vì đó là giá nhận được khi bán tài sản hoặc có thể được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả, khác với số tiền phải trả
để mua tài sản hoặc nhận được nợ phải trả khi mua hàng hóa (giá đầu vào) Khi đo lường GTHL giả định rằng người bán và người mua độc lập với nhau và thông tin trên thị trường là sẵn có để hỗ trợ việc ra quyết định trong việc thanh toán nợ phải trả hoặc bán tài sản
Trang 24Các thuật ngữ trong khái niệm này được hiểu như sau:
Giá bán ( The price)
GTHL là giá có thể nhận được khi bán một tài sản hay thanh toán khoản nợ phải trả trong giao dịch bình thường ở thị trường chính (hoặc thị trường thuận lợi nhất) tại ngày đo lường trong điều kiện thị trường hiện tại (giá đầu ra) bất kể giá đó được quan sát trực tiếp hay ước tính dựa trên kỹ thuật định giá
Tài sản hay nợ phải trả (Asset or liability)
Việc đo lường GTHL là việc đo lường một tài sản hay nợ phải trả (ví dụ như công cụ tài chính hay tài sản phi tài chính) hoặc một nhóm tài sản, nhóm nợ phải trả, nhóm tài sản thuần (ví dụ như một đơn vị tạo ra tiền hay một doanh nghiệp) Khi đo lường GTHL của tài sản hay nợ phải trả, doanh nghiệp sẽ phải giải thích
về các đặc tính của tài sản hay nợ phải trả tại thời điểm đo lường Những đặc tính này bao gồm:
- Điều kiện ghi nhận và vị trí của tài sản
- Những hạn chế nếu có trong việc bán hay sử dụng tài sản
Giao dịch bình thường (Orderly transaction)
Giao dịch bình thường là giao dịch liên quan đến tài sản hay nợ phải trả đã được giao dịch thường xuyên trên thị trường trước ngày đo lường, đó không phải là giao dịch bắt buộc
Việc đo lường GTHL giả định rằng tài sản hay nợ phải trả được trao đổi trong một giao dịch bình thường giữa các bên tham gia thị trường để bán tài sản hay trao đổi nợ phải trả tại ngày xác định GTHL trong điều kiện thị trường hiện tại
Việc đo lường GTHL giả định rằng các giao dịch bán tài sản hay thanh toán khoản nợ phải trả diễn ra ở một trong hai trường hợp sau:
- Trong thị trường giao dịch chính (principal market) cho tài sản hay nợ phải trả (thị trường giao dịch chính là thị trường có khối lượng và mức độ giao dịch lớn nhất cho tài sản hay nợ phải trả)
- Trong trường hợp không có thị trường chính, thì giao dịch sẽ diễn ra trong thị trường có nhiều thuận lợi đối với tài sản hay nợ phải trả (thị
Trang 25trường với nhiều thuận lợi là thị trường mà ở đó đơn vị báo cáo sẽ bán được tài sản với giá tối đa mà có thể nhận được từ tài sản và giá trị tối thiểu sẽ phải thanh toán cho khoản nợ phải trả khi xem xét chi phí giao dịch trong các thị trường tương ứng)
Các bên tham gia thị trường (market participants)
Là những người mua và những người bán trên thị trường chính (hay thị trường nhiều thuận lợi) đối với tài sản hay nợ phải trả, mà
Các bên tham gia thị trường có đặc điểm sau đây:
- Độc lập lẫn nhau, tức là không có mối quan hệ với nhau
- Có kiến thức, có sự hiểu biết một cách hợp lý về tài sản hay nợ phải trả,
và những thông tin liên quan đến giao dịch thực hiện
- Có đủ năng lực tham gia giao dịch đối với tài sản hay nợ phải trả
- Sẵn sàng tham gia giao dịch đối với tài sản hay nợ phải trả, không có sự
ép buộc phải thực hiện giao dịch đó
b Phạm vi áp dụng của IFRS 13
IFRS này áp dụng khi một IFRS yêu cầu hoặc cho phép đo lường GTHL hoặc thuyết minh về việc đo lường GTHL của tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu
IFRS 1: Áp dụng lần đầu các chuẩn mực BCTC
IAS 16: Nhà xưởng, máy móc, thiết bị
IAS 17: Thuê tài sản
IAS 18: Doanh thu
IAS 40: Bất động sản đầu tư
IAS 36: Suy giảm giá trị tài sản
c Phạm vi không áp dụng của IFRS 13
Việc đo lường và công bố thông tin theo IFRS 13 không áp dụng với:
o Thanh toán dựa trên cổ phiếu theo IFRS 2
o Giao dịch thuê tài sản theo IAS 17
Trang 26o Việc đo lường có một số điểm giống như GTHL mà không phải là GTHL, như giá trị thuần có thể thực hiện được theo IAS 2 (Hàng tồn kho), hoặc giá trị để sử dụng theo IAS 36 (Giảm giá trị tài sản)
Việc công bố thông tin theo IFRS 13 không áp dụng với:
o Giá trị tài sản đo lường theo GTHL theo IAS 19 (Phúc lợi cho người lao động)
o Các khoản đầu tư quỹ hưu trí đo lường theo GTHL theo IAS 26 (Kế toán và báo cáo quỹ hưu trí)
o Mức bồi thường của tài sản là GTHL trừ đi chi phí thanh lý theo IAS 36 1.2.2.2 Phân chia cấp bậc giá trị hợp lý
Để tăng tính nhất quán và tính so sánh trong việc đo lường GTHL và thuyết minh những thông tin liên quan, IFRS 13 đã đưa ra 3 cấp bậc để làm kỹ thuật định giá, trong đó cấp bậc GTHL được ưu tiên cao nhất là giá niêm yết trên thị trường hoạt động (không phải điều chỉnh) đối với các tài sản và nợ phải trả đồng nhất (cấp
độ 1) và thấp nhất đối với những dữ liệu đầu vào không quan sát được (cấp độ 3)
Dữ liệu đầu vào cấp độ 1
Dữ liệu đầu vào cấp độ 1 là giá niêm yết (không điều chỉnh) trên thị trường hoạt động của những tài sản hay nợ phải trả đồng nhất mà đơn vị có thể tiếp cận tại ngày đo lường Thị trường hoạt động là thị trường mà ở đó các giao dịch của tài sản và nợ phải trả diễn ra với tần suất và khối lượng đầy đủ để cung cấp thông tin cho việc định giá Giá niêm yết trên thị trường hoạt động cung cấp bằng chứng đáng tin cậy nhất để xác định GTHL
Giá của cấp độ 1 không được điều chỉnh Tuy nhiên chuẩn mực cũng qui định một số trường hợp được điều chỉnh cho phù hợp:
Đơn vị nắm giữ một số lớn các tài sản, nợ phải trả tương tự mà được yêu cầu
đo lường theo GTHL, giá niêm yết trên thị trường hoạt động có sẵn nhưng không dễ dàng tiếp cận đối với tài sản hay nợ phải trả, trong trường hợp đó
Trang 27GTHL có thể đo lường bằng cách sử dụng phương pháp định giá đan xen mà không dựa vào duy nhất giá niêm yết ( ví dụ định giá ma trận)
Giá niêm yết trên thị trường hoạt động không đại diện cho GTHL tại ngày định giá Đó có thể là trường hợp, chẳng hạn như những sự kiện quan trọng ( giao dịch diễn ra ở thị trường chính, thị trường có người môi giới) xảy ra sau khi đóng cửa thị trường nhưng trước ngày đo lường
Đo lường GTHL của nợ phải trả hoặc vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp sử dụng giá niêm yết của nợ phải trả hay vốn chủ sở hữu tương tự và giá cần điều chỉnh cho những sự khác biệt đó
Tuy nhiên nếu giá niêm yết được điều chỉnh bởi thông tin mới thì việc điều chỉnh này sẽ làm cho việc phân loại cấp độ GTHL ở mức thấp hơn
Dữ liệu đầu vào cấp độ 2
Dữ liệu đầu vào cấp độ 2 là những thông tin đầu vào có thể thu thập cho tài sản hay nợ phải trả trực tiếp (giá thị trường) hay gián tiếp (xuất phát từ giá thị trường), khác giá niêm yết của cấp độ 1
Dữ liệu đầu vào cấp độ 2 bao gồm:
Giá niêm yết của tài sản hay nợ phải trả tương tự trên thị trường hoạt động
Giá niêm yết của tài sản hay nợ phải trả đồng nhất không được giao dịch trên thị trường hoạt động
Dữ liệu đầu vào khác với giá niêm yết có thể thu thập liên quan đến tài sản hay nợ phải trả : tỷ lệ lãi suất, biến động lợi nhuận, sự biến động, lãi suất tín dụng…
Dữ liệu có thể thu thập được (dữ liệu thực chứng) từ các dữ liệu thị trường bằng các công cụ tương quan hay các công cụ khác
Trang 28Dữ liệu đầu vào cấp độ 3
Dữ liệu đầu vào cấp độ 3 là sử dụng những dữ liệu không quan sát được để
đo lường GTHL của tài sản hay nợ phải trả Khi đo lường tài sản hay nợ phải trả, đơn vị phải tối thiểu hóa dữ liệu đầu vào không quan sát được Tuy nhiên, có những trường hợp dữ liệu đầu vào liên quan không có sẵn, đơn vị phải dựa trên những thông tin có sẵn về việc giả định những đối tượng tham gia thị trường sẽ định giá tài sản hay nợ phải trả Các dữ liệu được tham chiếu ở cấp độ này phải phản ánh giả định mà các đối tượng tham gia thị trường sẽ sử dụng để định giá tài sản hay nợ phải trả, bao gồm cả giả định về rủi ro
Khi doanh nghiệp sử dụng những dữ liệu đầu vào không quan sát được, IFRS
13 không cấm doanh nghiệp sử dụng dữ liệu của chính doanh nghiệp mình Tuy nhiên, doanh nghiệp nên điều chỉnh dữ liệu nếu những thông tin có sẵn cho thấy những người tham gia thị trường khác sử dụng những thông tin hay kế hoạch khác
Tóm lại trong 3 cấp độ đo lường GTHL thì cấp độ 1 có GTHL được xác định căn cứ vào giá niêm yết, cấp độ 2 dựa vào các dữ liệu có thể thu thập được căn cứ vào dữ liệu thị trường sẵn có, và cấp độ 3 khi không thể thu thập thông tin từ thị trường thì GTHL được xác định dựa trên cơ sở thông tin sẵn có đáng tin cậy nhất
mà các đối tượng tham gia thị trường sẽ sử dụng để xác định giá trị tài sản hay nợ phải trả Việc xác định GTHL ở cấp độ 2 và 3 có thể sử dụng các kỹ thuật định giá như phương pháp thị trường, phương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí
Nguồn: KPMG, 2011,” First Impressions: Fair value measurement"
CóKhông
Có
Không
Không
Có
Trang 29Đây là phương pháp đáng tin cậy nhất, bởi vì phương pháp này không dựa trên phán xét của các nhà quản lý làm dẫn đến việc gian lận và mục đích của phương pháp này là “ tối đa hóa dữ liệu đầu vào quan sát được và tối thiểu hóa đầu vào không quan sát được” (KPMG,2011)
Phương pháp chi phí
Phương pháp chi phí phản ánh lượng tiền sẽ phải trả để có được tài sản tương
tự về năng lực sản xuất tại thời điểm hiện tại (thường được gọi là giá thay thế) Từ góc độ của bên tham gia thị trường (người bán), giá có thể nhận được từ tài sản được xác định dựa vào chi phí đối với bên tham gia thị trường (người mua) để mua được hay xây dựng tài sản thay thế của lợi ích so sánh được và được điều chỉnh cho tài sản bị lỗi thời Tài sản lỗi thời là do : hao mòn vật chất, hao mòn do công nghệ, hao mòn kinh tế
Phương pháp thu nhập
Phương pháp thu nhập chuyển đổi lượng tiền (ví dụ như luồng tiền, thu nhập hay chi phí) về giá trị hiện tại (chiết khấu) Phương pháp này dựa trên cơ sở kỳ vọng của thị trường hiện tại vào các giá trị tương lai Những kỹ thuật định giá này
Trang 30bao gồm kỹ thuật giá trị hiện tại, các mô hình lựa chọn định giá như công thức Black-Scholes-Metron, mô hình nhị thức (binomial model), mà không kết hợp với các kỹ thuật giá trị hiện tại và phản ánh được giá trị thời gian, giá trị nội tại của đơn
vị, và phương pháp thu nhập dư ra của nhiều kỳ (excess earning) được sử dụng để
đo lường GTHL của các tài sản vô hình
Đơn vị nên chọn lựa phương pháp định giá phù hợp với từng trường hợp và
sử dụng những dữ liệu sẵn có để đo lường GTHL, doanh nghiệp nên tối đa hóa những dữ liệu đầu vào quan sát được (những dữ liệu dựa trên những thị trường sẵn có) và tối thiểu hóa những dữ liệu đầu vào không quan sát được (những dữ liệu không có sẵn trên thị trường) Phương pháp định giá được sử dụng để đo lường GTHL phải được áp dụng nhất quán Tuy nhiên nếu có sự thay đổi phương pháp định giá hay sự thay đổi phương pháp định giá là phù hợp hơn hoặc thông tin về GTHL sẽ đại diện hơn, đơn vị nên thuyết minh điều này
1.2.2.4 Trình bày và công bố giá trị hợp lý
IFRS 13 có một khuôn khổ toàn diện về việc trình bày và công bố, đó là sự kết hợp của việc công bố và trình bày đo lường GTHL và những thông tin cần thiết
để giúp cho việc sử dụng BCTC hữu ích hơn, đồng thời cung cấp những thông tin giúp cho người sử dụng có thể đánh giá về BCTC:
Phương pháp định giá và các dữ liệu đầu vào để phát triển việc đo lường
Đo lường GTHL định kỳ sử dụng các dữ liệu đầu vào không quan sát được (cấp độ 3), phải công bố ảnh hưởng của việc đo lường đến lãi lỗ hay thu nhập tổng hợp khác trong kỳ
Yêu cầu của việc trình bày và công bố thông tin là khác nhau, nó phụ thuộc vào việc đo lường GTHL là định kỳ hay không định kỳ
Để đáp ứng yêu cầu của chuẩn mực này, đơn vị nên trình bày và công bố từng loại tài sản và nợ phải trả : tính chất, đặc điểm, rủi ro của tài sản và nợ phải trả
và cấp bậc được phân loại trong cấp bậc GTHL
Trang 31Bảng 1.2 - Tóm tắt yêu cầu về việc công bố và trình bày giá trị hợp lý
Nguồn: KPMG, 2011,” First Impressions: Fair value measurement"
Định kỳ Không định
kỳ
Trình bày GTHL
Sự thay đổi phương pháp định giá và
Mô tả những yếu tố nhạy cảm đến sự
thay đổi đầu vào không quan sát
x
Lượng thay đổi của đầu vào không
quan sát được (đối với tài sản và nợ
tài chính)
x
Nếu việc sử dụng phương pháp định
giá đó là tốt nhất, tối ưu nhất so với
thực tế, lý do ?
Trang 321.3 QUI ĐỊNH GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC
TẾ VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN MALAYSIA
1.3.1 Qui định giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán quốc tế
“ IFRS cho phép ghi nhận GTHL trong 4 trường hợp sau:
Đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu
Phân bổ các số liệu ghi nhận ban đầu của các giao dịch phức tạp thành các yếu tố hợp thành
Đo lường tài sản và nợ phải trả sau ghi nhận ban đầu
Sử dụng trong đánh giá sự suy giảm của tài sản“ ( David Cairns, 2006)
1.3.1.1 Đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu
IAS 16 “ Nhà xưởng, máy móc, thiết bị“: nhà xưởng, máy móc, thiết bị được
trao đổi để lấy tài sản khác
IAS 17“Thuê tài sản“: tài sản và nợ phải trả trong hợp đồng thuê tài chính
của bên thuê (trừ khi GTHL cao hơn hiện giá và khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu)
IAS 18 “Doanh thu“: các khoản đã thu hoặc sẽ thu được
IAS 38“ Tài sản vô hình: tài sản vô hình được trao đổi để lấy tài sản khác
IAS 39“Công cụ tài chính: Ghi nhận và đánh giá“: tài sản tài chính hay nợ
tài chính
IAS 41“Nông nghiệp“: tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp
IFRS 1“Áp dụng lần đầu các chuẩn mực BCTC“: nhà xưởng, máy móc, thiết
bị tại thời điểm chuyển đổi
IFRS 2“Thanh toán dựa trên cổ phiếu“: hàng hóa, dịch vụ hay công cụ vốn
trong giao dịch thanh toán dựa trên cổ phiếu
IFRS 3“ Hợp nhất kinh doanh“: tài sản, nợ phải trả, công cụ vốn phát sinh
do hợp nhất
Trang 331.3.1.2 Phân bổ các số liệu ghi nhận ban đầu của các giao dịch phức tạp thành các yếu tố hợp thành
IAS 32“ Công cụ tài chính: trình bày“: thành phần nợ phải trả trong công cụ
tài chính phức hợp
IFRS 3“ Hợp nhất kinh doanh“: tài sản, nợ phải trả, nợ tiềm tàng của bên
được mua tại ngày hợp nhất
1.3.1.3 Đo lường tài sản và nợ phải trả sau ghi nhận ban đầu
IAS 16“ Nhà xưởng, máy móc, thiết bị“: sau ghi nhận ban đầu nhà xưởng,
máy móc, thiết bị có thể được ghi nhận theo giá gốc hay GTHL Giá đánh giá lại phải là GTHL tại ngày đánh giá trừ đi khấu hao (KH) lũy kế và các khoản lỗ do giảm giá trị tài sản
- Khi việc đánh giá lại làm tăng giá trị tài sản thì số chênh lệch này cần được ghi tăng vào khoản mục chênh lệch đánh giá tăng tài sản mục thặng dư đánh giá lại trong phần lợi nhuận tổng hợp khác Nếu tài sản này trước đó đã được đánh giá giảm mà số chênh lệch giảm đã được ghi vào chi phí thì số đánh giá tăng lần này cần được ghi là thu nhập
- Ngược lại, khi đánh giá lại làm giảm giá trị tài sản thì sẽ ghi nhận khoản giảm đó vào chi phí Tuy nhiên nếu trước đó tài sản đã được đánh giá tăng thì số lỗ này phải được ghi giảm chênh lệch đánh giá tăng tài sản trong phần lợi nhuận tổng hợp khác, phần còn lại mới được ghi nhận là chi phí
IAS 28“ Đầu tư vào công ty liên kết“: khoản đầu tư không còn là khoản đầu
tư vào công ty liên kết sẽ được ghi nhận theo GTHL
IAS 31“Lãi trong các khoản góp vốn liên doanh“: giá trị khoản đầu tư khi
đơn vị không còn là thực thể đồng kiểm soát sẽ được ghi nhận là GTHL của
tài sản tài chính phù hợp với IAS 39
IAS 38“ Tài sản vô hình“: sau ghi nhận ban đầu tài sản vô hình có thể được
ghi nhận theo giá gốc hay GTHL GTHL được sử dụng trong trường hợp đơn
vị lựa chọn phương pháp đánh giá lại, được xác định bằng GTHL trừ KH lũy
kế và giảm giá trị tài sản
Trang 34- Nếu việc đánh giá lại tài sản vô hình không thực hiện được vì không
có thị trường hoạt động, TSCÐ vô hình sẽ được ghi nhận theo giá gốc trừ KH lũy kế và giảm giá trị tài sản
- Việc ghi nhận đánh giá tăng, giảm tài sản tương tự với chuẩn mực IAS 16“ Nhà xưởng, máy móc, thiết bị“
IAS 39“Công cụ tài chính:ghi nhận và đo lường“:tài sản tài chính sẽ được
ghi nhận theo GTHL (nợ tài chính được ghi nhận theo giá trị phân bổ)
IAS 40“Bất động sản đầu tư“: sau ghi nhận ban đầu BĐSĐT có thể được ghi
theo mô hình giá gốc hay GTHL
- Khoản lãi hay lỗ từ việc ghi nhận theo GTHL sẽ được ghi nhận vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- GTHL của BĐSĐT phải phản ánh được tình hình thị trường vào cuối năm tài chính
- Đối với BĐSĐT được ghi nhận theo mô hình GTHL, chuyển sang bất động sản chủ sở hữu hoặc hàng hóa bất động sản sẽ được ghi nhận phù hợp với IAS 16, IAS 02 là GTHL tại ngày chuyển đổi mục đích
sử dụng, được ghi nhận theo GTHL tại ngày chuyển đổi
- Chuyển đổi bất động sản chủ sở hữu sử dụng sang BĐSĐT sẽ được ghi nhận theo GTHL, doanh nghiệp sẽ hạch toán phù hợp với IAS 16 tại ngày chuyển đổi Doanh nghiệp ghi nhận sự chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và GTHL như là việc đánh giá lại tài sản phù hợp với IAS 16
- Chuyển từ hàng hóa bất động sản sang BĐSĐT bất kỳ sự chênh lệch giữa GTHL của BĐSĐT tại ngày đo lường và giá trị ghi sổ trước đó
sẽ được ghi nhận vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Khi doanh nghiệp hoàn thành việc xây dựng hoặc sửa chữa BĐSĐT của doanh nghiệp sẽ được ghi nhận theo GTHL, tất cả sự chênh lệch giữa GTHL của BĐSĐT tại ngày đo lường và giá trị ghi sổ trước đó
sẽ được ghi nhận vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 351.3.1.4 Sử dụng trong đánh giá sự suy giảm của tài sản
Trong IAS 36 quy định:
Nhà xưởng, máy móc, thiết bị ( IAS 16), Bất động sản đầu tư (IAS 40), tài
sản sinh học (IAS 41), các khoản đầu tư vào công ty liên kết (IAS 28), vốn góp liên doanh (IAS 31) : giá trị thu hồi là giá trị lớn hơn giữa giá trị sử dụng
và GTHL sau khi trừ chi phí chi phí để bán
Hàng tồn kho ( IAS 2): giá trị thu hồi là giá trị thuần có thể thực hiện được
Các khoản phải thu trong hợp đồng cho thuê tài chính ( IAS 17), các khoản
đầu tư giữ đến ngày đáo hạn ( IAS 39), các khoản cho vay và phải thu (IAS 39): giá trị thu hồi là hiện giá của dòng tiền trong tương lai được chiết khấu
với tỷ lệ lãi suất thực tế
Hợp đồng xây dựng (IAS11): giá trị thu hồi là chênh lệch giữa doanh thu và
giá vốn của hợp đồng
Các khoản tương đương tiền, công cụ tài chính phái sinh, tài sản tài chính
sẵn sàng bán ( IAS 39): giá trị thu hồi là giá trị hợp lý
1.3.2 Qui định giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán Malaysia
Malaysia là quốc gia có gần gũi với Việt Nam về văn hóa và địa lý, có thị trường chứng khoán phát triển đồng thời cũng công bố kế hoạch hội tụ với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cho nên tác giả chọn Malaysia để học hỏi kinh nghiệm vận dụng GTHL trong hệ thống kế toán
Malaysia lựa chọn mô hình hội tụ từng phần, áp dụng giống hoàn toàn chuẩn mực
kế toán quốc tế nói chung và chuẩn mực đo lường GTHL nói riêng, trong đó các công ty niêm yết sẽ áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế và các công ty không niêm yết và quy mô nhỏ sẽ áp dụng chuẩn mực kế toán quốc gia hiện hành
Trang 361.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Dựa trên việc tìm hiểu quy định GTHL trong chuẩn mực kế toán quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Malaysia ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm như sau cho Việt Nam:
Chuẩn mực được xây dựng và trình bày một cách hệ thống và logic, bên cạnh phần nội dung chuẩn mực luôn có phần phụ lục hướng dẫn cụ thể, các thay đổi liên quan sẽ được trực tiếp điều chỉnh trong chuẩn mực nhằm tránh tình trạng cồng kềnh văn bản Điều này có thể đưa vào ứng dụng cho việc ban hành nội dung chuẩn mực tại Việt Nam, hiện nay tại Việt Nam dưới chuẩn mực là các thông tư hướng dẫn, việc sửa đổi, bổ sung sẽ được trình bày trên các thông tư riêng biệt làm nên một hệ thống thông tư cồng kềnh, phức tạp gây khó khăn cho việc tự tìm hiểu, nghiên cứu và hệ thống hoá
Chuẩn mực đo lường GTHL tại Malaysia được xây dựng với nội dung và kết cấu tương tư như chuẩn mực quốc tế, điều này góp phần tạo sự thuận lợi trong quá trình tìm hiểu và so sánh
Hệ thống chuẩn mực của Malaysia đã hội tụ với chuẩn mực kế toán quốc tế
về mặt nội dung như GTHL được áp dụng trong các trường hợp: ghi nhận ban đầu, phân bổ các số liệu ghi nhận ban đầu của các giao dịch phức tạp thành các yếu tố hợp thành, sau ghi nhận ban đầu và sử dụng trong đánh giá suy giảm tài sản
Các cuộc tranh luận về kế toán GTHL trên thế giới luôn xoay quanh về tính thích hợp và tính đáng tin cậy của GTHL, ở Việt Nam thị trường hoạt động chưa phát triển, cho nên sẽ ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy đến việc xác định GTHL của tài sản và nợ phải trả Để tránh điều này, Việt Nam cần từng bước hoàn thiện thị trường hoạt động trước khi ban hành chuẩn mực đo lường GTHL
Trang 371.4 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA XUNG QUANH VIỆC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ HỢP LÝ
Thông tin được coi là thích hợp khi nó có khả năng thay đổi quyết định của người sử dụng, giúp cho người đọc đánh giá được quá khứ, hiện tại, tương lai hoặc xác nhận ,điều chỉnh các đánh giá trước đây ( Poon, 2004)
Tính đáng tin cậy được định nghĩa bởi FASB: thông tin không có sai sót hay thiên lệch một cách trọng yếu, đồng thời phản ảnh trung thực vấn đề cần trình bày GTHL là giá đầu ra, được ước tính trong điều kiện thị trường bình thường và không
có sự ràng buộc Đây là tình huống khi khoảng ước tính GTHL chắc chắn liên quan đến những dự đoán của dòng tiền trong tương lai và lựa chọn tỷ suất chiết khấu thích hợp Các khoảng ước tính này phụ thuộc vào các giả định của nhà quản lý cho nên có thể tồn tại những che dấu những tính toán nhầm lẫn và cách tính toán FASB thừa nhận rằng một số vấn đề quan trọng đo lường phải được giải quyết và họ đang phát triển các hướng dẫn về ước tính GTHL và thiết lập kiểm soát phù hợp Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc sử dụng các ước tính là một phần thiết yếu của việc chuẩn bị lập BCTC, ví dụ: việc sử dụng phổ biến các ước tính kế toán lương hưu ( Poon, 2004)
Nếu thị trường hoàn hảo và minh bạch, thì kế toán GTHL sẽ là thông tin đáng tin cậy và hữu ích trong việc hỗ trợ việc ra quyết định của người sử dụng Tuy nhiên, vì nhiều tài sản và nợ phải trả không có thị trường hoạt động, dữ liệu đầu vào
và các phương pháp ước tính GTHL dựa vào tính chủ quan do đó việc định giá ít đáng tin cậy hơn ( Bies, 2005)
1.4.1 Một số lý luận chỉ trích kế toán giá trị hợp lý
Về tính thích hợp và đáng tin cậy
GTHL không thích hợp và làm người ta nhận thức sai về những tài sản được nắm giữ trong thời gian dài Họ cho rằng mức giá có thể bị xuyên tạc do thị trường không hiệu quả GTHL dựa trên những mô hình không đáng tin cậy
và gây tác động xấu đến hệ thống tài chính (Laux&Leuz,2009)
Trang 38 Mô hình kế toán GTHL thì thích hợp hơn trong các trường hợp nhưng giá thị trường thì luôn thay đổi vì vậy rất khó để xác định Với những thông tin bất cân xứng trên thị trường Laux và Leuz hi vọng các qui định về kế toán GTHL có thể hạn chế những sai lệch này (Laux&Leuz,2009)
Kế toán GTHL và việc tài sản bị thổi phồng giá trị cho phép các ngân hàng gia tăng tác động đòn bẩy của họ và làm tăng lợi nhuận trong giai đoạn bùng
nổ, điều này khiến cho hệ thống tài chính dễ tổn thương hơn và khủng hoảng tài chính nghiêm trọng hơn (Laux&Leuz,2009)
1.4.2 Một số lý luận ủng hộ kế toán giá trị hợp lý
Những người ủng hộ cho rằng GTHL phản ánh tình hình thị trường hiện tại
và vì thế cung cấp những thông tin kịp thời, do đó sẽ làm tăng tính minh bạch và thúc đẩy những hoạt động đúng đắn (Laux&Leuz,2009)
Barth cho rằng GTHL có thể phản ánh một cách tốt hơn giá gốc về các đặc điểm chất lượng được qui định trong khuôn mẫu cho việc lập và trình bày BCTC Nhà đầu tư quan tâm đến những thay đổi của GTHL trên báo cáo trong một thời kỳ vì GTHL phản ánh hiệu quả những biến động kinh tế giúp cho nhà đầu tư nắm bắt thông tin kịp thời ( Barth, 2010)
Những người ủng hộ kế toán GTHL cho rằng nó không những cung cấp một cái nhìn sâu sắc về tính chính xác về hồ sơ rủi ro của các ngân hàng mà còn góp phần ổn định tài chính cho các cổ đông và người gửi tiền, bởi vì dễ dàng xác định sự suy giảm trong an toàn và lành mạnh của ngân hàng ( Enria, Cappiello et al, 2004)
Trang 39Về tính có thể so sánh
GTHL có thể so sánh bởi vì bất kỳ tài sản hay nợ phải trả nào đều phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản hay nợ phải trả, không phụ thuộc vào đặc điểm của đơn vị nắm giữ tài sản hay nợ phải trả GTHL nâng cao tính nhất quán bởi vì chúng phản ánh các thông tin cùng loại GTHL mang tính kịp thời bởi vì chúng phản ánh những thay đổi của những điều kiện kinh tế khi những điều kiện thay đổi (Barth, 2006)
Tính có thể so sánh là GTHL sẽ khác nhau cho các đối tượng kinh tế khác nhau và giống nhau đối với các đối tượng kinh tế giống nhau (Barth, 2010)
Về tính chất có thể kiểm chứng
Do sự đa dạng và phức tạp của các công cụ tài chính gia tăng vì thế cần phải kiểm chứng các khoảng ước tính GTHL Tuy nhiên kiểm chứng việc định giá không nên dựa trên giá trên thị trường có thể quan sát được vì nó luôn thay đổi Các nhà quản trị sẽ chọn các dữ liệu đầu vào và phương pháp tính khác nhau do đó kết quả sẽ khác nhau Đôi khi việc ước tính dựa trên những phán đoán khác nhau nên rất khó khăn để kiểm chứng Kiểm toán viên, người sử dụng BCTC bao gồm cả những nhà đầu tư cần phải chú trọng hơn vào sự hiểu biết như thế nào là tài sản, nợ phải trả và tính đáng tin cậy của việc định giá khi dựa trên chúng để ra quyết định (Bies, 2005)
Trang 40Kết luận chương 1 Theo IASB, mục tiêu của BCTC là cung thông tin hữu ích làm nền tảng cho việc ra quyết định Xuất phát từ quan điểm này BCTC phải phản ánh được điều kiện thị trường hiện tại và những thay đổi khi nền kinh tế thay đổi, cung cấp thông tin hữu ích và kịp thời vì vậy GTHL được xem là xu hướng hiện nay trong kế toán
GTHL không phải là vấn đề mới trong kế toán quốc tế, khái niệm GTHL đã xuất hiện từ rất lâu và hiện nay các quy định về GTHL đã có sự phát triển hoàn thiện và thống nhất khi IASB đã chính thức ban hành IFRS 13 “Fair Value Measurement” (Đo lường GTHL) đã thiết lập một khuôn khổ chung cho kế toán GTHL, trong đó trình bày các nội dung: định nghĩa, phạm vi áp dụng, cấp bậc, các phương pháp xác định, thuyết minh GTHL
Đây là cơ sở các quốc gia trong đó có Việt Nam có thể tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn công tác kế toán trong việc đánh giá, ghi nhận và thuyết minh GTHL đối với tài sản và nợ phải trả trên BCTC