Là cư dân nông nghiệp lúa nước, người Việt tôn thờ trời, đất và các hiện tượng tự nhiên Mây Vân, Mưa Vũ, Sấm Lôi, Chớp Điện, nhân hóa các hiện tượng này, cho rằng nó có thể giúp đỡ hoặc
Trang 1TR¦êNG §¹I HäC V¡N HO¸ Hμ NéI
Khoa v¨n hãa häc -
L£ THÞ THñY
VIÖC PHôNG THê Tø PH¸P ë H¦NG Y£N
TRONG BèI C¶NH C¤NG NGHIÖP HãA-HIÖN §¹I HãA
NG¦êI h−íng dÉn khoa häc: Th.S lª thÞ kim loan
Hμ Néi - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để nghiên cứu và thực hiện thành công đề tài này, tôi xin được bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô cùng toàn thể các bạn, các anh chị,
đã quan tâm giúp đỡ và theo sát tôi trong thời gian qua
Trước tiên, tôi xin được gửi lời tri ân sâu sắc đến Ths Lê Thị Kim Loan, giảng viên trực tiếp hướng dẫn và cũng là người có công lao to lớn nhất trong việc giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Văn hóa học đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi để tôi hoàn thành bài khóa luận này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập và thu thập tài liệu để hoàn thành khóa luận này
Tuy đã cố gắng hết sức nhưng do hạn chế về thời gian, kiến thức, cũng như kinh nghiệm thu thập tài liệu và nghiên cứu khoa học nên khóa luận không thể tránh khỏi sự thiếu sót Kính mong quý thầy cô cùng toàn thể các bạn góp ý, bổ sung để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn nữa
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2014
Người viết
Lê Thị Thủy
Trang 3DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ANCT: An ninh chính trị KCN Khu công nghiệp THCS Trung học cơ sở TNHH: Trách nhiệm hữu hạn TTATXH: Trật tự an toàn xã hội UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LỊCH SỬ VĂN HÓA LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC PHỤNG THỜ TỨ PHÁP Ở VĂN LÂM HƯNG YÊN 11
1.1 Một số khái niệm 11
1.1.1 Khái niệm “phụng thờ”, “tín ngưỡng” 11
1.1.2 Khái niệm “Tứ Pháp” 13
1.1.3 Khái niệm “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” 14
1.2 Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp 15
1.2.1 Lược sử hình thành và phát triển của tín ngưỡng Tứ Pháp 16
1.2.2 Bản chất của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp 20
1.3 Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp ở Hưng Yên 25
1.3.1 Phong tục và nghi lễ thờ Tứ Pháp ở Văn Lâm Hưng Yên 29
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC PHỤNG THỜ TỨ PHÁP Ở VĂN LÂM HƯNG YÊN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA 40
2.1 Tổng quan về vùng đất Văn Lâm - Hưng Yên 40
2.1.1 Lịch sử hình thành vùng đất Hưng Yên 40
2.1.2 Vài nét về huyện Văn Lâm - Hưng Yên 42
2.2 Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Văn Lâm - Hưng Yên 48
2.3 Tác động của công nghiệp hóa – hiện đại hóa đến tín ngưỡng thờ Tứ Pháp 51
2.3.1 Thực trạng của các di tích thờ Tứ Pháp 54
2.3.2 Phong tục và nghi lễ phụng thờ Tứ Pháp hiện nay 56
Tiểu kết chương 2 58
Trang 5Chương 3: QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG VÀ Ý NGHĨA VĂN HÓA CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ TỨ PHÁP TRONG ĐỜI SỐNG CƯ DÂN HƯNG YÊN60
3.1 Quá trình vận động của tín ngưỡng Tứ Pháp 60
3.2 Ý nghĩa văn hóa của tín ngưỡng Tứ Pháp trong đời sống cư dân Hưng Yên 66
3.2.1 Thể hiện tinh thần cố kết cộng đồng 66
3.2.2 Cân bằng đời sống tâm linh 69
3.2.3 Thể hiện ý thức trân trọng nguồn nước 70
Tiểu kết chương 3 71
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 76
Trang 6“ Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”
Với quan niệm “vạn vật hữu linh” mọi vật đều có linh hồn, người Việt nhìn thấy đằng sau mỗi hiện tượng tự nhiên đều có một vị thần Các vị thần tự nhiên đó quyết định sự vận hành của vũ trụ, trong đó có đời sống của con người
Vì vậy, đối với họ, các hiện tượng như mây, mưa, sấm, chớp không chỉ đơn giản
là các hiện tượng tự nhiên mà nó còn ẩn chứa những điều huyền bí, kì diệu Là
cư dân nông nghiệp lúa nước, người Việt tôn thờ trời, đất và các hiện tượng tự nhiên Mây (Vân), Mưa (Vũ), Sấm (Lôi), Chớp (Điện), nhân hóa các hiện tượng này, cho rằng nó có thể giúp đỡ hoặc làm hại đến bản thân con người và xã hội Nắm được quy luật xoay vần của vũ trụ và mối quan hệ nhân quả của các hiện tượng Mây – Mưa – Sấm – Chớp, người nông dân đã nhận ra rằng: cái kết quả cuối cùng được sinh ra từ các hiện tượng trước đó như trời kéo mây vần vũ, sấm nổi lên, chớp giằng xé bầu trời là mưa Do đó, muốn có Nước - Mưa, khi cầu cúng người ta đã không quên viện đến các vị thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp Và đó chính là các vị thần Tứ Pháp
Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp là tín ngưỡng bản địa của nước ta mang đậm màu sắc của nền văn minh lúa nước kết hợp với Phật giáo du nhập từ Ấn Độ, tồn tại phổ biến, rộng rãi ở đồng bằng Bắc bộ Đây là một trong những hình thái tín ngưỡng
Trang 7thờ thần nông nghiệp cổ sơ khi mà đời sống nông nghiệp lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên Họ cầu mưa thuận gió hòa, cho cây cối tốt tươi mùa màng bội thu Chính vì vậy, Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện lần lượt được ra đời để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người lúc bấy giờ
Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, hoạt động sản xuất nông nghiệp không còn phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, người nông dân đã biết chủ động trong việc điều tiết thủy lợi cho sản xuất, con người không còn phụ thuộc nhiều vào các vị thần tự nhiên, thay vào đó là máy móc công nghệ hiện đại Các vị thần tự nhiên không còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất nông nghiệp như trước
Thực tế đã chứng minh: không có điều gì là bất biến, tồn tại mãi với cái nguyên gốc của nó Các tín ngưỡng, tôn giáo cũng luôn vận động, tiếp biến, biến đổi cho phù hợp với xã hội đương đại Tục thờ Tứ Pháp ở Hưng Yên cũng không nằm ngoài quy luật đó Khi con người không còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, máy móc của xã hội công nghiệp hóa làm thay cho con người trong sản xuất, thì họ dần quên đi vai trò và vị trí của các vị thần nông nghiệp trong quá trình sản xuất tự nhiên của mình Điều này khiến cho tục thờ Tứ Pháp có sự biến đổi so với nguyên bản của nó Nhận thấy được điều này, tôi mạnh dạn chọn đề
tài nghiên cứu về “ Việc phụng thờ Tứ pháp ở Văn Lâm Hưng Yên trong bối
cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” để hiểu được quá trình vận động của hiện
tượng văn hóa tín ngưỡng này trong xã hội hiện đại
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong tâm thức người Việt, đặc biệt ở Bắc Ninh và Hưng Yên tín ngưỡng thờ Tứ Pháp đã ăn sâu bám rễ Đây là nơi phát tích cũng là nguồn gốc sơ khai, nền tảng của hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp ngày nay Có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu và tốn khá nhiều giấy mực để
Trang 8bàn về tín ngưỡng thờ Tứ Pháp Có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như:
Nguyễn Văn Huyên (1995), Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam; Lê Thị Kim Loan (1997), Tục thờ Tứ Pháp của người Việt (Qua khảo sát Bắc Ninh và
một số vùng phụ cận); Nguyễn Minh San (1998), Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc; Nguyễn Mạnh Cường (2000), Chùa Dâu – Tứ Pháp và hệ thống các chùa tứ pháp Nxb Khoa học xã hội ; Nguyễn Đăng Duy (
2001), Văn hóa tâm Linh, Nxb VH- TT ông đã đưa ra các khái niệm về văn hóa
tâm linh trong đời sống xã hội, cá nhân và gia đình, tâm linh trong tín ngưỡng,
tôn giáo, trong tín ngưỡng thần thánh ; Hoàng Mạnh Thắng ( 2012), Lễ hội cổ
truyền ở Hưng Yên sự biến đổi hiện nay, Nxb Lao động; Ngô Đức Thịnh,
Trương Chí Long (2013), Văn hóa thờ nữ thần – Mẫu ở Việt Nam và Châu Á
bản sắc và giá trị, Nxb Thế giới; …
Ngoài ra, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp còn thấy được đề cập nhiều trên các tạp
chí, báo mạng điện tử, nghiên cứu tiểu như: Tục thờ Tứ Pháp – một hình thức tín
ngưỡng nông nghiệp cầu mưa, cầu tạnh của Lê Thị Kim Loan đăng trên Thông
báo Khoa học ĐHVH tập 3 – 1999; Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại đồng bằng Bắc
bộ của Trần Lan Chi đăng trên phapluanonline (tập san pháp luận số 09 ngày 05
tháng 11 năm 2009); Luy Lâu và tứ pháp – Mây Mưa Sấm Chớp” của Phan Cẩm
Thượng đăng trên tạp chí Tia Sáng (số 10/ 2013)…
Các công trình nghiên cứu trên đều chủ yếu đi sâu phân tích truyền thuyết
và các nghi lễ phụng thờ Tứ Pháp, chưa có công trình nào nghiên cứu về sự vận động của tín ngưỡng này trong lịch sử và trong giai đoạn hiện nay
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích:
Qua kết quả khảo cứu, đề tài nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của việc phụng thờ Tứ Pháp trong đời sống văn hóa của cư dân Hưng Yên xưa, nay và quá trình
Trang 9vận động của tín ngưỡng này trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát tục thờ Tứ Pháp tại Hưng Yên thông qua truyền thuyết, di tích,
lễ nghi , phong tục…
- Phân tích tác động của hiện đại hóa, công nghiệp hóa đến việc phụng thờ
Tứ Pháp của cư dân Hưng Yên trong giai đoạn từ 1986 đến nay
4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc phụng thờ Tứ Pháp, một hình thức tín ngưỡng nông nghiệp cổ xưa
của người Việt và những biến đổi của nó trong xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian : Huyện Văn Lâm, Hưng Yên và vùng phụ cận
- Về thời gian : Từ 1986 đến nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp văn bản học được sử dụng để khảo cứu thần phả, thần
tích, truyền thuyết, lễ nghi của tín ngưỡng Tứ Pháp trong lịch sử
- Phương pháp điền dã, nghiên cứu tham dự, phỏng vấn, điều tra được sử dụng để có kết quả nghiên cứu về thực trạng việc phụng thờ Tứ Pháp trong giai đoạn từ 1986 đến nay
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và luận sử học được sử dụng để mô phỏng quá trình vận động của văn hóa tín ngưỡng Tứ Pháp Hưng Yên từ quá khứ đến hiện tại
Trang 106 BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, đề tài gồm ba chương:
Chương 1 : Một số vấn đề về lịch sử văn hóa liên quan đến việc phụng
thờ Tứ Pháp ở Văn Lâm, Hưng Yên
Chương 2 : Thực trạng phụng thờ Tứ Pháp ở Văn Lâm, Hưng Yên trong
quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Chương 3 : Quá trình vận động và ý nghĩa văn hóa của tín ngưỡng Tứ
Pháp trong đời sống cư dân Văn Lâm Hưng Yên
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LỊCH SỬ VĂN HÓA LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC PHỤNG
THỜ TỨ PHÁP Ở VĂN LÂM HƯNG YÊN 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm “phụng thờ”, “tín ngưỡng”
Khái niệm “phụng thờ”
Theo từ điển Tiếng Việt “phụng thờ” là thờ một cách tôn kính : thờ cúng
tổ tiên, thờ cúng các vị anh hùng dân tộc, thờ cúng các vị thần linh …
Xét theo từ ngữ “phụng thờ” là một thuật ngữ gồm hai từ “ phụng” và
“thờ” kết hợp với nhau tạo thành “Phụng” là sự vâng theo, phụng mệnh
“Thờ” là tổ chức lễ nghi, cúng bái theo phong tục tín ngưỡng để tỏ lòng thành kính thần thánh, vật thiêng liêng hoặc linh hồn người chết Từ đó ta có thể hiểu
“phụng thờ” là cách mà con người tuân theo, làm theo các cách thức tổ chức lễ nghi, cúng bái theo phong tục tín ngưỡng, tổ chức lễ hội nhằm tỏ lòng thành kính, biết ơn tới thần thánh, vật thiêng hay đơn giản đó là lòng tôn kính, biết
ơn đối với những người có công với đất nước, người có công nuôi dưỡng…
Từ “phụng thờ” có nguồn gốc từ một từ tiếng Anh cổ là “ worthship” có
nghĩa là coi trọng giá trị của một điều gì đó và có phản ứng tích hợp với điều đó
Như vây, việc phụng thờ thần thánh, vật thiêng, tổ tiên, hay những người
có công với đất nước …là cách thức thực hành tín ngưỡng của con người Với quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, họ cầu cúng, tổ chức các lễ nghi, lễ hội, cúng bái để cầu mong sự bảo trợ của các vị thần thánh, tổ tiên, các thế lực siêu nhiên đối với cá nhân và xã hội Họ cầu mong sức khỏe, bình an, cầu tiền tài danh lợi, mùa màng bội thu, thiên nhiên hài hòa để họ sản xuất, mưu
sinh Phụng thờ là cách con người tiến hành nhằm để thỏa mãn nhu cầu tâm
Trang 12linh, niềm tin, sự tin tưởng của mình vào thần thánh, các thế lực siêu nhiên, hay chỉ là yếu tố Thiêng mà con người tin rằng nếu cầu cúng thì sẽ được bình an
Khái niệm “Tín ngưỡng”
Xét theo từ ngữ, “tín ngưỡng” là một thuật ngữ gồm hai từ “tín” và
“ngưỡng” kết hợp với nhau tạo thành “Tín” là tin theo, tin tưởng; “ngưỡng” là ngưỡng mộ, là sùng kính Có thể hiểu, tín ngưỡng là tin và sùng kính một điều
gì đó
Thời kỳ sơ khai, tín ngưỡng là một trạng thái tâm lý có mối liên hệ đến các hiện tượng tự nhiên, xã hội mà con người cảm thụ và chưa nhận thức rõ ràng, cho đó là có sức mạnh hơn con người và thiêng liêng nên con người kính
sợ và cầu mong che chở giúp đỡ Theo Ăngghen, tín ngưỡng nguyên thủy là sản phẩm văn hóa của con người do trình độ sản xuất thấp kém nên trong quá trình đấu tranh với tự nhiên hoặc một sức mạnh tự nhiên làm đối tượng để sùng bái,
để giải quyết những mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống con người
Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng” đối lập với cái trần tục, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được
Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng liêng hóa một nhân vật được gửi gắm vào trong đó một niềm tin tưởng của con người Quá trình này, có thể là quá trình huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật phụng thờ
Ở nước ta tồn tại khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm tín
ngưỡng Đào Duy Anh cho rằng tín ngưỡng là “lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” Theo sách từ điển tiếng Việt thì lại quan niệm tín ngưỡng là “ tin theo một tôn giáo nào đó (tự do tôn giáo) Sách Từ điển
Trang 13nghiệp vụ công an lại cho rằng tín ngưỡng là “sự tin theo một tôn giáo thờ cúng
một loại thần thánh nào đó”……
Theo Nguyễn Minh San trong cuốn sách Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt
Nam cho rằng tín ngưỡng là “một biểu hiện của ý thức về một hiện tượng thiêng,
một sức mạnh thiêng do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho một hiện tượng, một sức mạnh chỉ cảm thu được mà chưa nhận thức được”.[12: 7]
Như vậy, tín ngưỡng là một sản phẩm văn hóa của con người được hình
thành tự phát trong mối quan hệ giữa con người với chính mình, với người khác
và với thế giới tự nhiên nhằm biểu lộ niềm tin và sự thành kinh Giữa các tín ngưỡng đều có những nét văn hóa đan xen và trong từng tín ngưỡng đều có nhiều lớp văn hóa lắng đọng
1.1.2 Khái niệm “Tứ Pháp”
Tứ Pháp là danh từ để chỉ các nữ thần trong tín ngưỡng Việt Nam gồm: Mây – Mưa – Sấm – Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp Sau này, khi Phật giáo du nhập vào Việt nam thì nhóm các nữ thần này được biến thành Tứ Pháp với truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương, và được coi là Phật giáo dân gian
Liên quan đến tín ngưỡng thờ nữ thần này có hệ thống các chùa gọi là chùa Tứ Pháp, hiện chỉ thấy trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ Các ngôi chùa đó gồm:
+ Chùa Pháp Vân thờ nữ thần mây
+ Chùa Pháp Vũ thờ nữ thần mưa
+ Chùa Pháp Lôi thờ nữ thần sấm
+ Chùa Pháp Điện thờ nữ thần chớp
Trang 14du nhập từ Ấn Độ, tồn tại khá phổ biến ở đồng bằng Bắc bộ Hình thái thờ thần
Tứ Pháp là một trong những hình thái tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ sơ khi mà đời sống nông nghiệp lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên Tứ Pháp bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện tượng trưng cho những thế lực thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp
1.1.3 Khái niệm “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là một thuật ngữ lớn bao gồm hai thuật ngữ nhỏ “ công nghiệp hóa” và “ hiện đại hóa” Để hiểu rõ hơn về “công nghiệp hóa – hiện đại hóa” là gì chúng ta cần phải đi làm rõ khái niệm “ công nghiệp hóa” và “ hiện đại hóa”
Theo nghĩa hẹp “công nghiệp hóa” được hiểu là quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế trong đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo sang nền kinh tế công nghiệp là chủ đạo Theo nghĩa rộng, “công nghiệp hóa” là quá trình chuyển dịch
từ kinh tế nông nghiệp (tiền công nghiệp) sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp
Có thể hiểu “Công nghiệp hóa” là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện
từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động dựa trên sự phát triển của công nghiệp cơ khí
“Hiện đại hóa” là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ
và quản lý kinh tế
Trang 15Từ hai khái niệm trên ta được khái niệm “Công nghiệp hóa – hiện đại
hóa” là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến độ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Có thể hiểu đơn giản
công nghiệp hóa chính là quá trình vận dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại, các thành tựu khoa học thay thế các máy móc thủ công lạc hậu vào trong sản xuất, lao động làm tăng năng suất lao động, từ đó hiện đại hóa máy móc công nghệ giúp hạn chế sử dụng sức lao động con người
Công nghiệp hóa là một phần của quá trình hiện đại hóa Công nghiệp hóa
có giúp ích rất nhiều cho con người trong lao động và sản xuất Tuy nhiên, công nghiệp hóa cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề của riêng nó, ví dụ như: ô nhiễm tiếng ồn, không khí, nước, máy móc nguy hiểm ở các khu công nghiệp Công nghiệp hóa cũng làm con người dần xa lánh nhau, mỗi người lại có không gian riêng của mình, sống theo chủ nghĩa cá nhân và sống thực dụng Cùng với quá trình công nghiệp hóa, kéo theo đô thị hóa phát triển Sự hình thành và phát triển của các đô thị lại dẫn tới sự bùng nổ dân số và sự phát triển của xã hội đại chúng Chế độ chính trị và pháp luật cũng có những thay đổi Những tập quán và truyền thống văn hóa của xã hội nông nghiệp dần dần bị mai một
1.2 Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp
Tín ngưỡng Tứ Pháp là một tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ sơ khi
mà đời sống nông nghiệp lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên Con người chưa biết đến sự hiện diện của máy móc kĩ thuật trong lao động sản xuất Họ sử dụng các phương thức canh tác đơn giản, sơ khai và sự cầu viện đến các vị thần tự nhiên, cầu mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi mùa màng bội thu Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp đã ăn sâu bám rễ vào tâm thức của người Việt từ ngàn đời nay, và
Trang 16đây cũng chính là nguồn gốc sơ khai, nền tảng của hệ thống tín ngưỡng thờ cúng
Tứ Pháp ngày nay
1.2.1 Lược sử hình thành và phát triển của tín ngưỡng Tứ Pháp
Hiện tượng thờ Tứ Pháp là một cái mốc quan trọng đánh dấu thời điểm Phật Giáo từ Ấn Độ truyền vào nước ta, bắt đầu từ vùng Luy Lâu Khi Phật giáo truyền vào thì nơi đây đã ngự trị trong dân cư một tín ngưỡng dân gian, đó là tín ngưỡng tôn thờ các hiện tượng thiên nhiên liên quan trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp được nhân hóa dưới dạng nữ thần, do chịu ảnh xạ của chế độ xã hội mà người đàn bà nắm quyền cai trị
Mặt khác, để phản ánh mối quan hệ khép kín bên trong công xã nông nghiệp, có một nền nông nghiệp mang tính chất tự nhiên, thủ cựu về lề lối, dạng tôn giáo đặc biệt, tôn giáo nông nghiệp của công xã nông thôn ra đời Về mặt nội dung, đó là sự sùng bái các nhân tố có liên quan ít nhiều đến việc đồng áng, vườn tược: thờ thần sinh sản, thần mưa, thần sấm, thần sét, thần thổ địa, thần cây cỏ, những chỗ thiêng… Các nghi lễ của tôn giáo nông nghiệp thường liên quan tới mùa màng, đồng áng cũng như các phép cầu đảo, ma thuật, thời tiết
Có thể nói, nguồn gốc của tục thờ Tứ Pháp này rõ ràng là do sự bất lực của người nông dân trước thiên nhiên, trước bất biến khôn lường của thời tiết
Sự đa dạng của giống cây trồng và điều kiện sinh trưởng của mỗi loại cây là khác nhau, nên không phải cứ trồng trọt là sẽ được mùa Mùa màng luôn bị phụ thuộc vào những điều kiện khách quan mà người nông dân không thể chủ động được, do đó mà con người phải viện đến sự phù hộ, giúp đỡ của các vị thần – Thần Nông nghiệp
Là cư dân nông nghiệp lúa nước, người Việt cúng trời đất, tôn thờ các hiện tượng thiên nhiên Mây (Vân), Mưa (Vũ), Sấm (Lôi), Chớp (Điện), nhân hóa các hiện tượng này, cho rằng nó có thể giúp đỡ hoặc làm hại đến bản thân mọi người và xã hội Nắm được quy luật xoay vần của vũ trụ và mối quan hệ nhân quả của các hiện tượng Mây – Mưa – Sấm – Chớp, người nông dân đã
Trang 17Như vậy, do ảnh hưởng của chế độ xã hội một thời gian dài ngự trị là chế
độ mẫu hệ, kết hợp lối ứng xử của người dân trước các điều kiện sinh tồn, tục tôn thờ nữ thần nói chung và nữ thần nông nghiệp nói riêng đã ra đời
Mặt khác, người Việt từ ngàn đời nay, từ quan niệm, lối nghĩ đến nếp sống vẫn mang tính chất nông nghiệp thuần túy Quan niệm về vũ trụ luận phương Đông cổ đại vẫn là âm dương tương khắc, tương sinh Trong kiến thức của họ, việc tôn thờ thần Đất, thần Nước, thần Núi, thần Lúa…đều đồng nhất với Âm cũng được người Việt gắn cho tính nữ mà thuộc tính của nó là bảo trữ, sinh sôi và sáng tạo
Đi sâu hơn nữa vào đời sống của người nông dân trồng lúa nước thì đất và nước là những điều kiện quan trọng hàng đầu, nó nuôi sống cây lúa để sản sinh ra thóc gạo, nuôi sống con người Bởi thế từ đầu, người ta đã coi đất, nước, cây lúa như thần linh, đúng hơn là một biểu tượng mang tính linh thiêng và các vị thần đó đều mang tính nữ: mẹ đất, mẹ nước, mẹ lúa Qui trình canh tác cây lúa: cày xới đất, gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch đều được mở đầu bằng các nghi lễ Nhiều khâu công việc, khâu trồng cấy lúa đều gắn với phụ nữ, giành cho phụ nữ, tạo ra những cấm kỵ đối với nam giới Bởi thế, việc trồng lúa và tín ngưỡng trồng lúa gắn với vai trò và vị trí của người đàn bà, người Mẹ
Trước những nội tại bức bách và yêu cầu khách quan mang tính chất hằng xuyên đó, tục thờ Tứ Pháp đã ra đời gắn liền với câu chuyện về nàng Man Nương Sự tích Man Nương và tục thờ Tứ Pháp được lưu truyền từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên, và đã được ghi chép trong rất nhiều truyện sách cổ xưa như: Lĩnh Nam Chích Quái, Kiến Văn Tiểu Lục, Văn Hiến Thông Khảo, An Nam
Trang 18Chí Lược với những chi tiết khác biệt nhau Tuy nhiên, nguồn gốc của Tứ Pháp được nhiều người biết đến nhất được ghi lại trong truyện Man Nương - sách “Lĩnh Nam Chích Quái” (Trần Thế Pháp, thế kỷ XIV, Vũ Quỳnh - Kiều Phú, 1492) và vào giữa thế kỷ XVII mới được in thành sách riêng, hiện còn lưu lại qua bản “Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục” khắc gỗ tại chùa Dâu, được khắc vào năm thứ 13 niên hiệu Cảnh Hưng (1752)
Chuyện kể rằng:” Man Nương là người Mãn Xá, một ngôi làng nhỏ nằm ở
bờ Nam sông Đuống, ngay từ năm 12 tuổi đã được cha mẹ cho sang chùa Linh Quang ở bờ Bắc sông Đuống để thụ giáo thiền sư Khâu Đà La, người Thiên Trúc Ấn Độ Một hôm, Khâu Đà La đi hành lễ về muộn, vô ý bước qua người Man Nương đang nằm ngủ nơi cửa ra vào khiến nàng có mang Nàng đành về nhà, được hơn một năm thì sinh một bé gái Nàng bồng con sang trả cho Khâu
Đà La Nhà sư đem đứa bé tới cây dâu cổ thụ ven sông, niệm thần chú rồi dùng thiền trượng gõ vào gốc cây Gốc cây nứt ra, Khâu Đà La đặt đứa bé vào đó Vết nứt khép lại và từ cây này, hương thơm ngát tỏa ra Khâu Đà La trao cho Man Nương một cây thiền trượng, dặn rằng khi nào hạn hán, cứ cắm gậy xuống đất, đọc lời cầu nguyện thì sẽ có mưa Ít lâu sau trời làm đại hạn, ruộng đồng khô nẻ, dân tình đói khổ Nhớ lời dặn, Man Nương đem cây thiền trượng ra thử phép màu, quả thấy ứng nghiệm Thế rồi vào năm Giáp Tý nọ, sau những ngày mưa
to gió lớn, cây cổ thụ Khâu Đà La gửi con đổ xuống sông trôi về vùng thành Luy Lâu thì dừng lại Người làng hò nhau ra lôi cây lên bờ, nhưng không tài nào được Tình cờ lúc đó Man Nương ra sông giặt giũ, thấy cây rập rình như vẫy gọi, liền tung dải yếm ra, cây bèn nương theo giải yếm mà dạt vào bờ Đêm hôm
ấy, thần nhân báo mộng khuyên dân làng nên đem cây gỗ tạc tượng mà thờ thì
sẽ được hưởng phúc lớn Dân làng làm theo, tạc được bốn pho tượng, khai quang điểm nhãn rồi lập bốn ngôi chùa để thờ Bốn pho tượng được đặt tên là
Trang 19Pháp Vân ( tức Bà Dâu thờ ở chùa Thiền Định), Pháp Vũ (tức bà Đậu thờ ở chùa Thành Đạo), Pháp Lôi (tức Bà Tướng thờ ở chùa Phi Tướng), Pháp Điện (tức Bà Dàn thờ ở chùa Phương Quan) Khi làm lễ rước các pho tượng lên chùa thì lạ thay, chỉ có ba pho là Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện là kiệu khiêng đi được, còn pho tượng Pháp Vân thì không sao khiêng nổi Hỏi ra mới hay, khi thợ mộc tạc đến khúc ngọn, rìu chạm phải hòn đá trong thân cây Họ đã quẳng hòn đá xuống sông Nguyên đó chính là con gái của Man Nương nay đã hóa hòn đá Mọi người liền đi vớt lên, xong mò mãi không được Nhưng khi Man Nương đi thuyền ra đến nơi thì hòn đá toả sáng và nổi lên nằm ngay trong lòng bà Về sau, hòn đá được gọi là Thạch Quang Phật và cũng được thờ cùng Tứ Pháp Bà Man Nương sau khi hiển thánh được thờ cùng cha mẹ ở ngôi chùa làm trên nền nhà
cũ tại làng Mèn (Bắc Ninh) và được tôn làm Phật Mẫu Chùa thờ Bà được gọi là chùa Tổ.[11: 89]
Câu chuyện này cho thấy rằng: bản chất của hệ thống Tứ Pháp Việt Nam,
đó là sự dung hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian là thờ thần tự nhiên và thờ nữ thần Đây có thể gọi là hiện tượng “tiếp biến văn hóa” (acculturation) từ
Ấn Độ sang Việt Nam và mang một bản sắc riêng của một vùng văn minh nông nghiệp lúa nước Hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại vùng châu thổ đồng bằng sông Hồng mang nặng yếu tố văn hóa bản địa trong quá trình tiếp xúc giao lưu với văn hóa ngoại lai, và cũng là minh chứng cho sự tác động ngược trở lại của văn hóa bản địa đối với văn hóa ngoại lai trong quá trình “Ấn Độ hóa”
Tứ Pháp là hệ thống các nữ thần tự nhiên ( Vân – Vũ – Lôi – Điện) có liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, được Phật hóa trở thành các Pháp, có phép màu nhiệm khiến cho mưa thuận, gió hòa, phong đăng, hòa cốc Dựa trên những quan điểm về Tứ Pháp, tục thờ Tứ Pháp mãi mãi là một tập tục tôn thờ Mẹ - Mẹ Nước, ăn sâu vào trong tâm thức của người Việt
Trang 201.2.2 Bản chất của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp
Với sự kì diệu về phép màu, các vị thần Tứ Pháp khiến cho mưa thuận gió hào, phong đăng, hòa cốc Với sự kì diệu đó, ta có thể thấy rằng, bản chất của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp chính là một hình thức nông nghiệp cầu mưa, cầu tạnh Năm hạn hán thì lập đàn cầu mưa, hay mưa nhiều, lũ lụt thì khi đó lại tiến hành làm lễ cầu tạnh
Việt Nam vốn là nền văn minh lúa nước lâu đời Đối với họ nước là một yếu tố rất quan trọng, trong cả đời sống hằng ngày và đời sống sản xuất Nó không chỉ đơn thuần để thỏa mãn những cơn khát cháy cổ sau những giờ lao động mệt nhọc, mà còn là yếu tố cần thiết hàng đầu để làm phì nhiêu cho đất giúp ích cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa, đem lại bát cơm cho người nông dân
Quan niệm về sự màu nhiệm của Tứ Pháp, sách “ Cổ Châu, Phật bản hạnh”, chùa Mãn Xá chép rằng: “ Thời Tam Quốc, Đào Hoàng sang làm thái thú Giao Châu, nghe sự linh thiêng của Tứ Pháp đã sai lập đàn nguyện để được bình
an Mỗi khi có hạn hán, sâu lúa, ôn dịch, y ra lệnh cầu đảo để nhờ linh ứng của
Tứ Pháp”
Đến thời Linh Đế nhà Đông Tấn, Đào Khán sang làm thứ sử Giao Châu
đã ra lệnh cho quan sĩ rước các tượng thiêng sang Kiến Khang ( Kinh đô nhà Tuỳ)
“Sai ngàn quân mạnh kéo sang
Kiệu hoa chẳng nổi đặng bằng Thái Sơn
Ngày sau lại sai ba ngàn
Kiệu bụt lên ngàn giữa cõi long chi…”
Nhưng rồi:
“Quân Tấn ngũ thác tứ bề
Đào Khán mất vía để khi khấu đầu
Trang 21Xin hoàn Phật Tự Cổ Châu…”
Đến thời Tùy Cao Đế, Lưu Phương tìm đến Tứ Pháp để bái yết Đời Đường, Triệu Xương sang Kinh Lược Giao Châu, sai người sao sự tích Tứ Pháp gửi về cho vua Đường
Ở nước ta, đời Lý Nhân Tông, năm 1118, năm thứ chín, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh, tháng năm trời làm hạn hán, sau khi cầu đảo thì trời mưa Năm 1124, năm thứ năm niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ, tháng bảy trời có hạn, người ta làm lễ cầu mưa
Năm 1126, năm thứ bảy niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ, tháng năm một con rồng vàng xuất hiện ở điện Vĩnh Quang Nhưng từ tháng sáu đến tháng bảy, trời hạn Sau đó mưa to đến nỗi phải tổ chức cúng tế để cầu xin hết mưa
Qua các sự kiện, chúng ta nhận ra rằng, đối với người dân Việt Nam, từ bậc chí tôn đến thường dân, mỗi khi nhắc đến mưa là nhắc đến mùa màng, thu hoạch Tất cả những điều mọi người mong mỏi đều xoay quanh những điều kiện sinh sống của con người Đối với họ, mọi thay đổi của khí hậu, thời tiết, cây cỏ đều gắn bó mật thiết với nghề nông
Việc thờ các hiện tượng tự nhiên: mây, mưa, sấm, chớp là một tín ngưỡng
có từ thời xa xưa của hầu hết các dân tộc trên trái đất Ở Việt Nam, các hiện tượng này được tổng hợp và hoàn chỉnh trong hệ thống Tứ Pháp Nó chứa đựng một nội dung khá sâu sắc xuất phát từ đặc điểm của một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước và xã hội nông nghiệp Là một trong vô vàn hình thức tín ngưỡng nông nghiệp, Tứ Pháp vừa là hiện thân của thần Nông nghiệp, vừa là hiện thân của
Mẹ
Nguồn gốc thờ thần Nông nghiệp chính là nằm trong các nghi lễ cầu cho ruộng đất phì nhiêu, mùa màng bội thu Một vài tín ngưỡng ở Inđônêxia và Đông Dương liên quan đến “linh hồn lúa” hoặc mẹ lúa có tính chất như trên Nông dân ở những nước này đối xử với cây lúa như đối xử với sinh vật Trước
Trang 22“Mồng tám tháng tư không mưa
Vứt cả cày bừa mà lấp ruộng đi”
Hay:
“Ba bà chảy hội chùa Un
Mưa gió đùn đùn…thiên hạ dễ làm ăn…này…”
Các hội Tứ Pháp chùa Dâu, hội Tổng Ôn Xã, hội Yên Mỹ, hội Thứa và Thanh Xá, hội rước đảo vũ Mỹ Hào – Hưng Yên đều có nét tương đồng về nghi
lễ Phần lớn các Pháp được rước từ chùa làng này sang gặp gỡ các Pháp ở chùa làng kia và cuộc hội ngộ diễn ra tưng bừng náo nhiệt, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa các bà trong việc tạo ra mưa Trong những ngày hội, người dân không còn biết đến sự riêng tư, ích kỉ, thù hằn Ngày hội là nơi khiến cho con người xích lại gần nhau, cố kết với nhau trong công cuộc chống hạn hán, lụt lội để cầu nguyện cho tương lai no ấm, bình yên
Khi cầu mưa, họ chỉ cần cầu xin thần mưa (Pháp Vũ) là đủ, nhưng trong các nghi lễ tế thờ và nhiều trường hợp cầu đảo, các triều vua cũng như dân vùng
Tứ Pháp lại cầu đến bà Mây (Pháp Vân), bà Sấm (Pháp Lôi), bà Sét (Pháp Điện) Qua đó có thể thấy rằng, từ xa xưa, do có sự tích lũy kinh nghiệm trong quá trình lao động, sinh sống mà con người nhận biết được sự luân chuyển của
Trang 23các hiện tượng tự nhiên để tạo ra mưa Việc làm thế nào để có các hiện tượng
đó, con người phải viện tới thần linh Chính vì vậy mà Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện nằm trong một hệ thống thống nhất, không thể tách rời đó là các
hệ thống các thần Mưa
Hình thức tín ngưỡng nông nghiệp cầu mưa không phải đến thế kỷ thứ II mới ra đời ở Việt Nam với biểu hiện là Tứ Pháp Thực ra, nó đã tồn tại từ thời tiền Đông Sơn, rõ ràng nó đã phát triển trong thời Đông Sơn mà dấu vết của nó còn thấy ở các trống đồng Đông Sơn loại muộn Trên trống đồng có tượng bốn con cóc mà cho đến nay, người Việt Nam vẫn ghi nhận hiện tượng “cóc kêu trời” và có truyền thuyết “ Con cóc là cậu ông trời”
Sự ra đời Tứ Pháp chính thức hóa nghi lễ cầu mưa nguyên thủy thành một hình thức tín ngưỡng nông nghiệp mang màu sắc mới
Tuy nhiên, do Pháp Vũ cũng như các bà Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Điện đều thuộc một thể thống nhất không thể tách rời nên một hệ thống chùa thờ Tứ Pháp đã được xây dựng vào cuối thế kỉ II đầu thế kỉ III sau công nguyên Những chùa này nằm chủ yếu trong khu vực Thuận Thành (Bắc Ninh) với đầy đủ tên gọi Chùa Dâu, Chùa Đậu, Chùa Dàn, Chùa Tướng và chủ nhân của các ngôi chùa này lần lượt là bốn bà: bà Dâu (Pháp Vân), bà Đậu ( Pháp Vũ), bà Dàn (Pháp Lôi), bà Tướng (Pháp Điện)
Trải qua gần 1000 năm Bắc thuộc, tín ngưỡng cầu mưa, cầu tạnh của người Việt được duy trì thông qua việc tôn thờ Tứ Pháp
Tín ngưỡng cầu mưa, cầu tạnh là tín ngưỡng không phải chỉ phổ biến đối với cư dân vùng Đông Nam Á mà còn thấy ở nhiều nơi trên thế giới Tứ Pháp là bốn vị thần nữ nhưng tượng bốn vị về cơ bản là giống nhau, đồng nhất như tính chất vốn có của nó Là một tượng Phật (được tuân thủ bởi những chi tiết tạo tác của một tượng Phật thông thường) song không có áo cà sa mà để lộ thân, một số
Trang 24nhà nghiên cứu cho rằng đây là biểu hiện của sự “bộc lộ” bầu trời mây Tượng
Tứ Pháp đều có một màu sơn cánh gián đậm – gụ, làm cho người ta nghĩ đến màu của nước vì nó mang ánh đen ( gụ = đen + đỏ) – màu mô phỏng nước Bản thân màu của của tượng Tứ Pháp khiến chúng ta liên tưởng đến tượng Si Va – hiện thân của nước đối với người Ấn Độ và là mưa đối với người Việt Nam trong quá trình hòa đồng và thích nghi giữa văn hóa bản địa và văn hóa ngoại nhập Tín ngưỡng cầu mưa này có xu hướng tích hợp những yếu tố tích cực để phù hợp với thực tế tôn giáo khu vực nhằm tạo ra sự đa dạng tín ngưỡng ở các nước nông nghiệp khác Tứ Pháp Việt Nam là kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa này Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp bước đầu đã có mối liên hệ khăng khít với nông nghiệp, bước đi của Tứ Pháp trong văn hóa tâm linh người Việt không dừng lại ở đó Nhiều ảnh hưởng của tục thờ này, đã và đang mang màu sắc của nhiều tôn giáo khác có ảnh hưởng tới Việt Nam cùng một lúc đó là: Phật giáo, Đạo giáo và đôi khi là Bà La Môn giáo
Xét bản chất sâu xa, tín ngưỡng Tứ Pháp bắt nguồn từ quan niệm vạn vật hữu linh Đây là một quan niệm tối cổ của con người trong quá trình sống phải đối mặt với muôn vàn khó khăn do mà thiên nhiên tạo ra Quan niệm vạn vật đều có linh hồn, người nguyên thủy nhìn thấy đằng sau mỗi hiện tượng tự nhiên đều có một vị thần Vị thần đó quyết định sự vận hành của vũ trụ, trong đó có đời sống con người, đặc biệt đối với một vùng đất nông nghiệp trồng lúa nước Quan niệm về thần Mưa, thần Gió hẳn đã ăn sâu vào tâm thức người dân Việt từ
xa xưa, trước khi Phật giáo đặt chân tới mảnh đất này Đến khi Phật giáo vào Việt Nam, các nhà sư đã nhìn thấy rõ điều đó và nhận thấy nếu Phật giáo muốn bén rễ vào mảnh đất này thì phải có sự dung hòa với tín ngưỡng dân gian Nhận thức ấy không sai lầm, và đó là nguyên nhân sâu xa của cuộc hôn phối tinh thần giữa một người con gái bản địa (tượng trưng cho tín ngưỡng dân gian) với một
vị chân tu thông tuệ (tượng trưng cho một tôn giáo lớn) Kết quả của sự giao
Trang 251.3 Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp ở Hưng Yên
Từ Luy Lâu, tín ngưỡng Tứ Pháp đã nhanh chóng lan tỏa và được cư dân vùng châu thổ sông Hồng và các chi lưu của nó nhiệt thành đón nhận Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và xã hội của mỗi vùng có khác nhau nên tín ngưỡng thờ Tứ Pháp ở mỗi vùng lại có những sắc thái riêng Hưng Yên là một cùng đất thuần nông, nên khi tín ngưỡng Tứ Pháp lan tỏa xuống vùng đất này thì
nó đã nhanh chóng được người dân nơi đây hưởng ứng
Theo thần tích hiện còn lưu giữ được ở chùa Thái Lạc, thì sự tích Tứ Pháp
ở Hưng Yên có nội dung giống với cốt truyện chính ở vùng Dâu, Bắc Ninh Việc bổ sung nội dung tích truyện chủ yếu thể hiện ở phần lý giải việc thờ Tứ Pháp tại địa phương và sự linh ứng cả các ngài
Truyền thuyết Tứ Pháp ở chùa Thái Lạc có nội dung giống với truyền thuyết vùng Dâu, nhưng ở đây nói đến việc dân làng mua cành của cây Dung Thụ (Dâu) về tạc tượng thờ Khi người dân vùng Dâu dùng thân cây Dung Thụ tạc tượng Tứ Pháp để thờ, người dân Thái Lạc lên đó mua cành cây về tạc tượng Cành cây Dung Thụ được chia làm bốn đoạn, người dân tổng Thái Lạc
Trang 26mua được ba đoạn mang về, chờ buổi chiều ngã giá mua đoạn còn lại Buổi trưa mọi người thử gánh đoạn cây còn lại, nào ngờ cả đòn khiêng và khúc gỗ bay vụt theo đoàn người đi trước Thấy vậy, người Luy Lâu đuổi theo đòi lại Nhưng đoàn người đuổi tới đâu thì trời sầm sập đổ mưa tới đó, nên dân vùng Dâu để cho người tổng Thái Lạc mang về Bốn đoạn cây Dung Thụ được tạc thành tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện thờ trong chùa Thái Lạc, Hồng Cầu, Nhạc Miếu, Hồng Thái dân gian gọi lần lượt là Bà Cả, Bà Quê, Bà Huế, Bà Tông
Bên cạnh đó, câu chuyện về việc thờ Tứ Pháp ở chùa Thái Lạc cũng có nhiều dị bản khác như: “Khi người dân vùng Dâu dùng thân cây Dung Thụ tạc tượng Tứ Pháp để thờ, người dân Thái Lạc (các già nam) lên đó mua cành cây
về tạc tượng Lên quan mua nhưng quan không bán, sau chờ đến hết giờ nghỉ, các già nam và giai đinh buộc thử lồng đòn khiêng thử lập tức kiệu bay rước chạy, quân quyền lập tức đuổi theo, trời nổi cơn mưa gió sấm sét tối mù mịt quân lính không thể đuổi được, nên cho người dân tổng Thái Lạc mang về Bốn đoạn cây Dung Thụ được tạc thành tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện thờ trong chùa Thái Lạc, Hồng Cầu, Nhạc Miếu, Hồng Thái dân gian gọi lần lượt là Bà Cả, Bà Quê, Bà Huế, Bà Tông.[18:4]
Cũng có một dị bản khác về tục thờ Tứ Pháp ở chùa Thái Lạc Được người dân kể lại rằng : “Khi người dân vùng Dâu dùng thân cây Dung Thụ tạc tượng Tứ Pháp để thờ, người dân Thái Lạc lên đó mua cành cây về tạc tượng Nhưng người dân vùng Dâu chỉ bán cho ba khúc cây ( Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện) mà nhất quyết không bán khúc cây còn lại ( Pháp Lôi) Thợ tạc tượng lại là người ở tổng Thái Lạc, nên người dân Thái Lạc đã ăn dơ với thợ tạc tượng để ăn trộm khúc cây còn lại Đợi đến lúc nghỉ trưa, thợ tạc tượng bên trong đưa khúc gỗ còn lại qua tường để cho người dân tổng Thái Lạc mang về Đi được khoảng 200m thì người dân Luy Lâu mới phát hiện và đuổi theo nhưng khi đuổi theo thì trời nổi cơn mưa
Trang 27gió sấm sét tối mù mịt, người dân Luy Lâu không đuổi kịp được nên đã cho người dân tổng Thái Lạc mang về tạc tượng để thờ Cũng chính vì vậy, mà trong các lễ hội Tứ Pháp ở chùa Thái Lạc, khi rước tượng các bà Pháp Vũ, Pháp Lôi vào chào
bà Pháp Vân thì tượng Pháp Lôi lại được rước vượt qua tường để vào chùa, nhằm diễn lại tích xưa
Truyền thuyết ở chùa thôn Cù Tu (xã Xuân Trúc) cho biết, do sùng bái Tứ Pháp dân làng mua cây gỗ tốt, mời tốp thợ đã tham gia tạc tượng Tứ Pháp ở chùa Dâu (Bắc Ninh) về tạc tượng thờ Thấy dân làng một lòng sùng kính, tốp thợ đã tặng lại chiếc chuôi dùi đục được làm từ gỗ của cây Dung Thụ để yểm tượng Khi làm xong, rước tượng vào thờ thì mọi cầu nguyện đều linh ứng
Tại khu vực thờ Tứ Pháp ở tổng Bằng Ngang ( nay là thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động) tương truyền vào năm nọ, mưa lũ lớn, có một cây gỗ quý trôi theo sông Cửu An đến địa phận Bằng Ngang thì dừng lại Đã có nhiều người trong vùng ra kéo thân cây vào bờ nhưng không được Quan viên hương lão tổng Bằng Ngang làm lễ, xin phép, liền kéo được dễ dàng Nhân dân mừng vui cho rằng đó là điềm trời Phật giúp, đã cùng nhau chia thân cây làm bốn đoạn, tạc thành tượng thờ trong chùa: Bằng Ngang thờ Pháp Vân, Lương Hội thờ Pháp Vũ, Đồng Lý thờ Pháp Lôi, Động Xá thờ Pháp Điện
Về việc thờ thần Pháp Vũ, còn gọi là bà Đò ở chùa Sậy ( thuộc thôn Duyệt Văn, xã Minh Tân, huyện Phù Cừ) được rước từ chùa Dâu về được lý giải như sau Tương truyền, Thành hoàng của làng Tần Thanh là Đỗ Quốc Uy Phong, quê Xích Đằng (thành phố Hưng Yên) đến lập nghiệp Theo lời hiệu triệu của Hai Bà Trưng, ngài triệu tập trai đinh các làng quanh vùng tập luyện võ nghệ, tham gia khởi nghĩa Theo lệnh của Hai Bà, ngài tiến quân tiêu diệt quân
Tô Định ở đồn Công Hà ( Bắc Ninh) Trên đường hành quân, Ngài vào chùa thờ Pháp Vũ xin phù trợ đánh giặc Đêm đó, Ngài nằm mơ thấy một người con gái đội nón thúng quai thao báo mộng đã đến giờ xuất quân và đi về phía tây nam
Trang 28đồn Công Hà Ngài bừng tỉnh, ra ngoài, trời đang tối, trông lên trời có một vệt sáng dẫn đường Đoàn quân của Ngài theo vệt sáng đó mà đi, đến gần sáng thì gặp địch, chỉ đánh một trận, quân ta toàn thắng Đất nước giải phóng, Ngài nhớ
ơn báo mộng và phù trợ đã vào đền Dâu cầu đảo và xin rước tượng Pháp Vũ, lập chùa thờ - Chùa Chuông Một đêm, bà báo mộng cho dân làng Duyệt Văn là muốn đến an vị ở chùa Sậy Người dân Duyệt Văn lên xin rước tượng về thờ, Tần Thanh không cho, nên Duyệt Văn lấy cắp tượng bà Đò Lần thứ nhất, mới vào qua cửa chùa, bị dân Tần Thanh phát hiện, phải bỏ chạy Lần thứ hai, mang tượng ra ngoài, bị dân Tần Thanh đuổi đến đoạn đường Lá Cờ, đống Ngũ Dội, đòi lại tượng Lần thứ ba, rước tượng và giấu ở vãng cày, Tần Thanh tìm không thấy Đêm đến dân Duyệt Văn im trống, im chiêng, rước tượng qua Nghĩa Vũ về làng Vì vậy, chùa Sậy thờ tượng Pháp Vũ, còn thôn Tần Thanh giữ kinh phật và thờ Pháp Vũ trong đình làng, chùa Chuông thành nơi thờ thổ thần”.[13: 89]
Một điểm chung ở những nơi thờ Tứ Pháp là đều truyền tụng về sự linh thiêng của các vị thần này, đặc biệt trong việc cầu đảo Ví dụ, nhiều khi chỉ mở cửa chùa tế lễ Tứ Pháp là trời đã mưa Đại hạn lớn, rước Tứ Pháp trời sẽ mưa Ở Duyệt Văn truyền rằng, có năm vì thôn Ba Đông không tham gia cầu đảo với Tần Thanh, Tần Tiến và Duyệt Văn, Duyệt Lễ nên khu vực các làng cầu đảo có mưa, nước gần tràn bờ, riêng cánh đồng của thôn Ba Đông gần 300 mẫu tiếp giáp bên cạnh không có nước Đêm đến làng Ba Đông cho người đi tháo trộm nước, nhưng nước không chảy, phải sửa lễ xin Pháp Vũ, lúc đó mới tháo được nước vào ruộng
để canh tác Sự linh ứng của các vị thần Tứ Pháp còn được thể hiện qua sự tích về pho tượng Đức Ông thôn Nghĩa Vũ Truyền rằng, khi làng Duyệt Văn rước (trộm) tượng Pháp Vũ đi qua làng Nghĩa Vũ, Đức Ông ở Nghĩa Vũ sàm sỡ, bị bà Đò bẻ gẫy ngón tay, nên pho tượng này luôn bị gẫy một ngón, dù nhiều lần dân làng thuê hiệp thợ về sửa chữa
Trang 29Những chùa thờ Tứ Pháp thường tổ chức các lễ cầu đảo mỗi khi hạn hán hay khi bắt đầu vào mùa vụ mới Ở Tứ Pháp, tồn tại cả linh khí dân tộc và cả sức mạnh truyền thống, phù giúp cho xã hội hiện tại và góp phần làm nên bản sắc riêng biệt cho Phật giáo Việt Nam Người dân tin rằng, những vùng miền nào rước chân nhang Tứ Pháp về thờ thì ở đó được mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu Với đức Phật Tứ Pháp, hình ảnh đức Phật Ấn Độ đã mang một nội dung mới, mang nặng yếu tố bản địa, một đức Phật quyền năng, gần gũi với nhân dân
và phù trợ cho dân tộc Có thể nói, tín ngưỡng Tứ Pháp là một trong những chỗ dựa về tâm linh của người Việt qua nhiều thời đại, và tồn tại cho đến tận ngày nay Tín ngưỡng này phát tích từ Luy Lâu – Thuận Thành – Bắc Ninh, lan tỏa đến vùng đất Hưng Yên trong đó Văn Lâm là nơi mang dấu ấn rõ nét của quá trình lan tỏa đó
1.3.1 Phong tục và nghi lễ thờ Tứ Pháp ở Văn Lâm Hưng Yên
1.3.1.1 Nghi lễ thờ Tứ Pháp
Hệ thống các truyền thuyết, thần tích, và các di tích thờ Tứ Pháp ở Văn Lâm và một số địa phương khác trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phần nào cho thấy sự phong phú và đa dạng trong các biểu hiện của việc phụng thờ Tứ Pháp ở Hưng Yên Trong các nghi lễ thờ phụng, lễ hội và phong tục thờ cúng, đặc điểm trên còn được biểu hiện rõ hơn Chúng thể hiện tính thống nhất và sự gắn kết trong các thành tố tạo nên hiện tượng này từ truyền thuyết, thần tích cho đến di tích, lễ hội và phong tục
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng quy tụ được đông đảo nhân dân tham gia Lễ hội bao gồm hai phần là phần lễ và phần hội: Lễ là hệ thống các hành vi, động tác trang nghiêm nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cộng đồng mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là
Trang 30những hoạt động sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống
Hằng năm, những di tích thờ Tứ Pháp diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng, lễ
hội, đặc biệt lễ hội cầu đảo (lễ hội cầu mưa) sôi động thu hút nhân dân nhiều
làng xã trong vùng tham gia
Lễ cầu đảo (lễ cầu mưa) là một nghi lễ phổ biến của cư dân nông nghiệp
Vào những năm đại hạn có nguy cơ mất mùa, người dân lại cầu cứu đến sự viện trợ của các vị thần Tứ Pháp Nếu cầu một lần chưa được thì lại cầu tiếp chứ không nản chí Địa điểm hành lễ là đình, chùa, đền, miếu của từng làng do làng đứng ra tổ chức Thời gian tùy thuộc hoàn cảnh của từng địa phương chứ không quy định những ngày cụ thể như các lễ hội khác (thông thường là vào mùa nắng, vào lúc cần nước để gieo cấy) Hình thức của lễ cũng rất phong phú đa dạng Có nơi thì quy mô, cầu kỳ có nơi thì giản tiện, đơn sơ nhưng tất cả phải có lòng thành, phải tin vào kết quả
Từ xưa, người Việt sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào thiên nhiên và
sự cần cù chịu khó lao động của mình Nhưng họ cũng biết rằng chỉ dựa vào sự cần cù đó thì chưa đủ để có mùa màng bội thu mà còn phải phụ thuộc vào thiên nhiên Chính vì vậy, mà hằng năm mỗi khi bắt đầu vào mùa vụ mới, hay khi hạn hán lâu ngày không có mưa, thì dân làng tổ chức lễ hội cầu đảo để xin sự bảo trợ của thần linh (các vị thần tự nhiên đặc biệt là thần Tứ Pháp) cầu bình an, sức khỏe, mưa thuận gió hòa Dưới đây là các nghi lễ trong lễ hội cầu đảo ở tổng Thái Lạc, Văn Lâm, Hưng Yên
+ Lễ hội cầu đảo Tứ Pháp tổng Thái Lạc
Lễ hội được tổ chức khi bắt đầu vào thời vụ sản xuất, trời hạn hán lâu ngày không có mưa Chức sắc thay mặt dân làng chọn ngày, giờ tốt để làm lễ cầu mưa Buổi lễ được mở đầu bằng nghi thức cúng lễ tại các chùa thờ Tứ
Trang 31Pháp và cá di tích khác trong vùng liền 3 ngày Sau đó đóng cửa 3 ngày và tiếp tục 3 lần như vậy (18 ngày) mà trời chưa mưa thì tổ chức lễ hội rước cầu đảo
Để chuẩn bị cho lễ hội rước cầu đảo trong tổng, hội đồng hương hội và chức dịch trong các làng chuẩn bị cho cuộc rước của mình Các ban phục vụ lễ hội cũng được thành lập: Ban cấp dưỡng lo việc sắm lễ, ăn uống; ban thư ký lo đọc hương ước, thần phả; Ban công chính lo việc kinh phí cho lễ hội; Ban nhiêu mặc lo việc trang phục, cờ xí Việc tế lễ do chức sắc và các nhà sư đảm nhận Ngoài ra ban tổ chức lễ hội còn phải chuẩn bị tập dượt cho các đội rước kiệu, phường kèn trống Trong các ngày diễn ra lễ hội, toàn dân phải ăn chay Riêng thôn Yên Lạc (xã Trưng Trắc) phải dựng 3 gian nhà tre lợp rạ trước cửa chùa Pháp Điện
Lễ hội rước cầu đảo Tứ Pháp được tổ chức trong 7 ngày:
+ Ngày thứ nhất: Rước bà Pháp Lôi từ chùa Nhạc Miếu sang chùa Hồng Cầu
Mở đầu là đám rước từ chùa thờ Pháp Lôi đến chùa thờ Pháp Vũ Ngay từ buổi sáng, các giai (đô) kiệu của hai giáp Đoài và Giáp Bắc tập trung tại đình, khi nghe hiệu lệnh chiêng trống thì cùng nhau về chùa lễ Phật Mỗi giáp một bên kiệu rước bà Pháp Lôi (mỗi bên có 8 người rước chính và 8 người phụ rước Trong đoàn rước kiệu của bà Pháp Lôi luôn “chạy”
Đi đầu đoàn rước là đội dẹp đường, do bốn thanh niên khỏe mạnh, đi thành đoàn, hai người cầm gậy tre cuốn giấy xanh đỏ, hai người cầm roi mây đi trước để dẹp đường Tiếp đến là người, là cờ reo (một trai kiệu khỏe mạnh, có giọng ấm, vang đi theo sau, tay cầm một lá cờ đỏ để ra hiệu và reo), hương án, kiệu, ngoài ra còn giai cờ, giai trống, giai chiêng và nhưng người cầm tàn, quạt
Trang 32Mỗi khi có cờ hiệu (cờ reo) và trống lệnh, trai kiệu đồng thanh hô: Huơ Huơ Huơ!
Cờ reo xướng: Một vui vẻ ơi! Tất cả giai kiệu đồng thanh: già!
Cờ reo xướng tiếp: Hai vui vẻ ơi! Tất cả giai kiệu đều đồng thanh: già!
Cờ reo xướng tiếp: Ba vui vẻ ơi! Tất cả giai kiệu đều đồng thanh: già!
Khi đoàn rước đến cổng chùa, dân làng rước kiệu bà Pháp Vũ ra đón Kiệu bà Pháp Vũ rước ra, hai bên lễ chào nhau và cùng vào an vị tại sân chùa
+ Ngày thứ hai: Rước bà Pháp Lôi và Pháp Vũ từ chùa Hồng Cầu xuống chùa Pháp Vân
Ngày hôm sau, kiệu bà Pháp Vũ rước đi trước, kiệu bà Pháp Lôi đi sau tới chùa thờ Pháp Vân (Thái Lạc) Trong khi rước mỗi khi có trống lệnh:
Cờ reo xướng:
Hai bà xuống chơi chùa Vân
Cơn mưa cơn gió xoay vần
Để cho thiên hạ dễ làm ăn!
Vui vẻ ơi!
Tất cả giai kiệu đều đồng thanh: già!
Khi đi qua khu vực vườn hoa (nay là khu trường tiểu học), kiệu bà Pháp
Vũ rẽ vào hái hoa, kiệu bà Pháp Lôi chạy thẳng xuống chùa Pháp Vân vượt qua tường vào trong chùa (tường ở đây chỉ mang tính tượng trưng, được đắp bằng đất trước cửa chùa cao khoảng 1m phủ cỏ lên trên, nhằm diễn lại sự tích khi mua cành dâu) Khi không thấy kiệu bà Pháp Vũ đâu thì lùi lại chờ kiệu bà Pháp Vũ tới Hai kiệu vào đến sân chùa, kiệu Pháp Vân rước ra cửa Ba bà lễ chào nhau,
Trang 33kiệu Pháp Vân lùi vào trong gian giữa chùa, kiệu Pháp Vũ ở gian phía đông, kiệu Pháp Lôi ở gian bên tây Khi ba kiệu đã yên vị thì thay đổi câu reo:
Ba bà ngự ba ngai rồng
Cơn mưa cơn gió đầy đồng
Để cho thiên hạ dễ làm ăn
Ta cùng vui vẻ ơi!
Tất cả giai kiệu đều đồng thanh: già!
Kiệu rước Tứ Pháp ngự tại chùa Pháp Vân hai đêm một ngày Thời gian này, các lão bà trong làng tụng kinh kệ và dâng lễ chay
+ Ngày thứ ba: Rước ba bà từ chùa Pháp Vân xuống chùa Pháp Điện
Trước khi diễn ra cuộc rước Tứ Pháp, nhân dân thôn Thái Lạc làm lễ rước rồng lấy nước ở sông Xuân Cầu Từ sáng sớm, người tham gia lễ rước tập trung tại chùa Pháp Vân Tham gia cuộc rước gồm có: cờ ngũ phương, kiệu long đình, kiệu rước rồng, và người vác gầu múc nước Ngoài ra, còn phường bát âm, thầy pháp sư Bệ rồng được làm bằng tre, mặt bệ được ghép liền kích thước vuông khoảng 1,2m; bốn chân bằng chân tre, cao khoảng 1,2m Trên mặt
bệ đắp 9 con rồng (2 con rồng to và 7 con rồng nhỏ) chầu vào bát hương ở giữa Rồng được đắp bằng bùn, rơm và phài do người hiểu biết khéo tay làm Gầu múc nước làm bằng bẹ mo cau già, có cán tre dài khoảng 2,5m
Đoàn rước rồng từ chùa đến sông Xuân Cầu làm lễ lấy nước rước về Trên đường đi về gặp những chỗ có nước, các trai làng cầm gầu múc nước vảy lên – làm theo lời niệm thần chú của vị pháp sư Rước nước về đến chùa Pháp Vân làm lễ, sau đó là lễ rước ba bà đến chùa Pháp Điện
Kiệu bà Pháp Vân rước ra trước, sau đó là kiệu bà Pháp Vũ và Pháp Lôi Trong cuộc rước dưới sự điều khiển của người cầm cờ lệnh:
Trang 34Cờ reo xướng:
Ba bà xuống chơi chùa Tông
Cơn mưa cơn gió đầy đồng
Để cho thiên hạ dễ làm ăn
Vui vẻ ơi!
Các giai kiệu đồng thanh: già!
Và:
Ba bà xuống ngự chùa Tông (chùa Tháp Điện)
Bốn bà công đồng để rồng lấy nước trời mưa
Chảy tràn đồng Chưa, chảy xuống đồng Chuối,
Xối xuống đồng Văn
Để cho thiên hạ dễ làm ăn
Ta cùng vui vẻ ơi!
Các giai kiệu đồng thanh: già!
Tượng Pháp Điện không được ra khỏi chùa mà chỉ rước từ bệ thờ ra cửa rồi lùi lại (vì nhân dân quan niệm rằng: nều bà nhìn vào làng nào thì làng ấy sẽ
có hỏa hoạn) Ba chị đến thăm phải ngự ngoài chùa, ở trong ba gian nhà tranh tre đã dựng sẵn phía ngoài tam quan Đám rước ở lại 2 đêm 1 ngày
+ Ngày thứ năm: rước ba bà từ chùa Tháp Điện đến chùa Ôn Xá
Sau khi chia tay bà Pháp Điện, kiệu rước Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi sang thăm chùa Un (Ôn Xá, xã Đình Dù) Dưới sự điều khiển của người cầm cờ lệnh, cờ reo xướng:
Ba bà đi chơi chùa Un
Trang 35Cơn mưa cơn gió ùn ùn
Để cho thiên hạ dễ làm ăn
Ta cùng vui vẻ ơi! !
Các giai kiệu đều đồng thanh: già!
Đoàn rước ngự tại chùa Un hai đêm một ngày Trong thời gian ngự tại chùa, dân làng, dân làng tế lễ trong chùa và tổ chức trò đánh Trăng (đánh Giăng) trên khu đất ngoài tam quan
Trò đánh Trăng là một nghi thức quan trọng trong lễ hội cầu mưa Trong cuộc rước Tứ Pháp, luôn diễn ra trò đánh Trăng Tham gia là các giai kiệu của tổng Thái Lạc, mỗi lần chơi có khoảng 50 đến 60 người Ngoài ra còn đội cờ, đội trống Địa điểm diễn ra trên các bãi đất rộng gần khu vực đoàn rước đi qua Dẫn đầu cuộc chơi là người cầm trống khẩu và cờ reo Các giai kiệu đóng khố lần lượt đi theo người cầm cờ và trống lệnh Cả đoàn đi chạy vòng xoáy trôn ốc theo chiều kim đồng hồ, sau đó quay ngược trở ra Cứ như vậy, đi đủ ba vòng thì kết thúc một lần đánh Trăng Trong khi đánh Trăng:
Cờ reo xướng: Một vui vẻ ơi! tất cả giai kiệu đều đồng thanh: già!
Cờ reo xướng tiếp: Hai vui vẻ ơi! tất cả giai kiệu đều đồng thanh: già!
Cờ reo xướng tiếp: Ba vui vẻ ơi! tất cả giai kiệu đều đồng thanh: già!
Những ngày diễn ra cuộc rước Tứ Pháp, nhiều lần tổ chức đánh Trăng ở những địa điểm và thời gian khác nhau trên đường rước
Trò đánh Trăng, còn gọi là đánh Giăng, vì trong dân gian trước đây thường gọi mặt Trăng là mặt Giăng Mặt trăng thường gắn bó mật thiết đến yếu tố thời tiết , gắn liền với sản xuất nông nghiệp Người Việt từ xa xưa đã
có câu: “Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa” Vòng xoáy lộn cuộn tròn
Trang 36Ba bà về ngự ba tòa
Cơn mưa cơn gió thuận hòa
Để cho thiên hạ dễ làm ăn
Ta cùng vui vẻ ơi!
Tất cả giai kiệu đồng thanh: già!
Khi các kiệu rước Tứ Pháp trở lại các chùa, lúc đó hội rước cũng coi như kết thúc Ngày hôm sau, các chùa làm lễ yên vị Tứ Pháp
Trong suốt những ngày diễn ra lễ hội, nhân dân các làng xã thuộc tổng Thái Lạc đều tưng bừng nhộn nhịp Khi Tứ Pháp ngự tại chùa, các gia đình ở trong tổng Thái Lạc đều sắm sửa dâng lễ vật (hương hoa, oản quả) Buổi tối, tại các chùa thờ Tứ Pháp, các vãi tụng kinh, kể hạnh, cầu mưa thuận gió hòa; ở các đình, đền trong tổng tổ chức hát ca trù, chèo
Một điểm chung ở những nơi thờ Tứ Pháp là đều truyền tụng về sự linh thiêng của các vị thần này, đặc biệt là trong việc cầu đảo Ví dụ, nhiều khi chỉ
mở cửa chùa tế lễ Tứ Pháp là trời đã mưa Chính vì vậy mà các cư dân nông
Trang 37nghiệp tin theo và cầu cúng sự viện trợ của các vị thần tự nhiên – Tứ Pháp Nhiều nơi, người dân còn tổ chức thờ vọng Tứ Pháp
1.3.1.2 Phong tục phụng thờ Tứ Pháp ở Văn Lâm, Hưng Yên
Phong tục đó là những thói quen ăn sâu bám rễ vào đời sống xã hội từ lâu
đời và được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo (phong: gió, tục: thói
quen; phong tục: thói quen lan rộng) Phong tục có trong mọi mặt đời sống của
xã hội, phần lớn các nghi lễ phong tục thường được biểu hiện trong hôn nhân, tang ma, lễ tết và các lễ hội Đó là những kiêng kỵ mà con người nên làm theo
để tránh gặp rủi ro, những điều không may mắn Với quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” đã góp phần bảo tồn và lưu giữ nhưng nghi lễ, phong tục của cha ông để lại
Vào ngày hội làng, sự kiêng kỵ dường như rất được coi trọng và được nghiêm ngặt thực hiện Trong những ngày diễn ra lễ hội, toàn dân phải ăn chay Đối với những người thực hành nghi lễ: họ phải chay tịnh, sạch sẽ và thanh khiết
để tránh làm ô uế thần thánh
Một điều đặc biệt trong các lễ hội Tứ Pháp ở Hưng Yên là vào ngày hội, tượng bà Pháp Điện không được rước ra khỏi chùa mà chỉ rước từ bệ thờ ra cửa rồi lùi lại vì nhân dân quan niệm rằng nếu bà nhìn vào làng nào hay nhìn vào bất
cứ đâu thì ở đấy sẽ có hảo hoạn Không hiểu điều kiêng kỵ này bắt đầu từ bao giờ, nó có đúng như vậy không, chỉ thấy là hầu hết các nơi thờ Tứ Pháp đều tin theo như thế và tôn trọng luật lệ ấy
Đặc biệt, trong lễ hội Tứ Pháp ở tổng Thái Lạc là khi rước tượng Pháp
Vũ, tượng Pháp Lôi xuống chơi với bà Pháp Vân, thì tượng Pháp Lôi luôn luôn
“chạy” nhằm diễn tả lại truyền thuyết thờ Tứ Pháp ở địa phương Trong lễ rước
Trang 38ở địa phương còn có tục “té nước” vào những người kiêng kiệu và những ai
được té nước vào người thì được coi là gặp may mắn
Tục kết chạ: ngoài mục đích rước tượng Tứ Pháp cầu mưa, cầu tạnh, ở
một số nơi, lễ hội này đã biến thành ngày hội rước giao hiếu, kết chạ giữa các làng quê Về mặt khách quan, tín ngưỡng Tứ Pháp phản ánh cuộc đấu tranh với thiên nhiên, mặc dù chỉ là sự cầu khẩn của người nông dân Cuộc đấu tranh ấy đòi hỏi phải có sự đoàn kết giữa các làng mới mong thu được kết quả Các làng cùng thờ Tứ Pháp phải bàn bạc, phối hợp đồng tâm nhất trí cao mới tổ chức đám rước cầu mưa, cầu tạnh linh nghiệm Trong mối quan hệ làng xã cổ truyền khép kín “ con gà tức nhau tiếng gáy”, “ thần làng nào lấy ấy thờ” phần nào hạn chế công cuộc chống thiên tai, địch họa – một công việc mà không riêng của một con người, một làng mà là công việc của cả một cộng đồng làng xã Chính vì vậy, Tứ Pháp là một hiện tượng tích cực, phá bỏ lề thói cũ lạc hậu ấy
Tiểu kết chương 1
Không phải ngẫu nhiên tín ngưỡng Tứ pháp được định hình và phát triển trong buổi đầu Phật giáo du nhập vào nước ta, nó thể hiện ý thức độc lập tự chủ dân tộc trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và kết nối tinh thần đoàn kết toàn dân trong việc chống lại sự đồng hóa của phong kiến Trung Quốc
Là tín ngưỡng xuất phát từ tín ngưỡng nông nghiệp cổ xưa, Tứ Pháp là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ ở những năm đầu của thế kỷ 2 sau Công Nguyên Cuộc tiếp xúc và giao lưu này diễn ra trong hòa bình từ sự kết hợp tín ngưỡng bản địa với tôn giáo ngoại lai Có thể mô tả quá trình ra đời tín ngưỡng Tứ Pháp như sau:
Tín ngưỡng nguyên thủy Mẹ Tín ngưỡng nông nghiệp thần tự nhiên
Hệ thống Nữ thần mưa Phật giáo Tứ pháp = Phật giáo dân gian
Trang 39Sơ đồ này cho thấy: Từ tín ngưỡng nguyên thủy trải qua một thời kỳ dài của chế độ xã hội mẫu hệ, tín ngưỡng nông nghiệp đã được định hình, trên cơ sở tôn thờ các vị thần tự nhiên mà hệ thống nữ thần mưa đã ra đời Sự xuất hiện của Phật giáo Ấn Độ đã tác động vào tín ngưỡng bản địa này để tạo ra Tứ Pháp, một loại tín ngưỡng mang màu sắc tôn giáo – Phật giáo dân gian
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC PHỤNG THỜ TỨ PHÁP Ở VĂN LÂM HƯNG YÊN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA 2.1 Tổng quan về vùng đất Văn Lâm - Hưng Yên
2.1.1 Lịch sử hình thành vùng đất Hưng Yên
Vùng đất Hưng Yên có con người cư trú từ sớm, theo quá trình bồi tụ của sông Hồng… Thời Hùng Vương, vùng đất Hưng Yên thuộc bộ Giao Chỉ, huyện Chu Diên Thời Ngô gọi là Châu Đằng Thời Tiền Lê đổi thành phủ Thái Bình Thời Lý gọi là châu Đằng, châu Khoái Sang thời nhà Trần đặt là lộ Long Hưng
và lộ Khoái Thời Hậu Lê thuộc trấn Sơn Nam, sau lại chia làm hai trấn là Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ
Thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) thi hành cải cách hành chính bỏ các trấn lập ra tỉnh, tách 5 huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ thuộc phủ Khoái Châu của trấn Sơn Nam thượng và 3 huyện Thần Khê, Duyên Hà, Hưng Nhân thuộc phủ Tiên Hưng, Sơn Nam hạ đặt làm tỉnh Hưng Yên Tỉnh lỵ lúc đầu đóng ở hai xã An Vũ và Lương Điền, sau chuyển về bãi Nhị Tân – Xích Đằng (thành phố Hưng Yên ngày nay) Nơi đây giao thông thủy bộ thuận tiện, thôn làng bến chợ tiếp nhau, việc giao thương ngày thêm phồn thịnh “ Quang cảnh phố phường đông vui, xe thuyền tấp nập, cái dáng dấp của Phố Hiến đất Sơn Nam xưa, nay lại được thấy ở nơi đất này” [14:14]
Địa danh Hưng Yên từ năm 1831 được chính thức có tên trong danh bạ đất nước Như vậy trước khi Pháp xâm lược Việt Nam, Hưng Yên là một tỉnh nằm ở cả hai phía sông Luộc Sau thành lập tỉnh, địa giới của tỉnh cũng đã nhiều lần thay đổi Ngày 27/3/1883, quân Pháp do Trung tá hải quân Henri Rivière chỉ