1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa giao tiếp ứng xử của giới trẻ với một số di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn hà nội

72 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 870,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa giao tiếp - ứng xử của giới trẻ Hà Nội hiện nay mà cụ thể là thái độ cử chỉ, cách giao tiếp trong gia đình, ngoài xã hội và với những cảnh quan tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT

VĂN HÓA GIAO TIẾP - ỨNG XỬ CỦA GIỚI TRẺ VỚI MỘT SỐ

DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện : Phạm Xuân Trường

Hà Nội – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 4

1 Lý do lựa chọn đề tài: 4

2 Đối tượng nghiên cứu: 5

3 Mục đích nghiên cứu: 5

4 Phạm vi nghiên cứu: 5

5 Phương pháp nghiên cứu: 6

6 Cấu trúc của khóa luận: 6

Chương 1: VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA GIAO TIẾP ỨNG XỬ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 7

1.1 Khái niệm chung 7

1.2.Văn hóa ứng xử trong giao tiếp của người Việt 11

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa hiện nay 16

Chương 2 : VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA GIỚI TRẺ ĐỐI VỚI DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA 24

2.1 Khái quát một số Di tích Lịch sử - Văn hóa trên địa bàn Hà Nội 24

2.1.1 Văn Miếu – Quốc Tử Giám 24

2.1.2 Đền Quán Thánh – Chùa Trấn Quốc 28

2.1.3 Quần thể di tích xung quanh khu vực Hồ Gươm 32

2.2 Những giá trị văn hóa của các Di tích lịch sử 36

2.3 Văn hóa ứng xử của giới trẻ đối với các di tích lịch sử 42

2.3.1 Những nét đẹp văn hóa 42

2.3.2 Những hành động xây dựng văn hóa ứng xử 44

Trang 3

2.3.3 Thực trạng văn hóa ứng xử của giới trẻ với một số Di tích Lịch

sử - Văn hóa trên địa bàn Hà Nội 47

Chương 3 : ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRƯỚC NHỮNG HÀNH VI THIẾU Ý THỨC CỦA GIỚI TRẺ 56

3.1 Định hướng của Đảng về công tác thanh niên 56 3.2 Một số biện pháp xây dựng văn hóa giao tiếp - ứng xử cho thanh niên Hà Nội 60 3.2.1 Xây dựng nếp sống văn hóa 60 3.2.2 Giáo dục định hướng cho thanh niên tham gia giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc 63 3.2.3 Một số biện pháp nhằm xây dựng văn hóa giao tiếp cho giới trẻ

Hà Nội trong điều kiện hiện nay: 65

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài:

Hà Nội- mảnh đất nghìn năm văn hiến, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam Hà Nội tập trung tinh hoa của dân tộc và những nét đẹp truyền thống Một trong những nét đẹp của văn hóa Hà Nội đó là nét đẹp trong văn hóa giao tiếp, ứng xử Người Hà Nộ vốn tài hoa, hào hoa, sáng tạo và thanh lịch từ ngàn xưa Trong quá trình phát triển hiện nay, những nét thuần phong mỹ tục đó vẫn còn lưu giữ Giao tiếp - ứng xử là một chiều hoạt động cơ bản của con người trong đời sống xã hội Giao tiếp để làm gì? Giao tiếp với ai? Và giao tiếp - ứng xử như thế nào luôn là sự quan tâm của nhiều thế hệ từ xưa đến nay, từ lời ăn tiếng nói trong gia đình đến hành vi ứng xử ngoài xã hội Vì vậy giao tiếp và văn hóa giao tiếp - ứng xử đã trở thành một yếu tố quan trọng trong đời sống văn hóa Cuộc sống ngày càng hiện đại, xã hội ngày càng đi lên thì những vấn đề thuộc về giao tiếp ứng

xử càng đáng quan tâm hơn Giới trẻ nói chung và nhất là giới trẻ Hà Nội nói riêng thích ứng rất nhanh với cuộc sống hiện đại, từ những cách giao tiếp ứng xử, lối sống của họ đối với môi trường và xã hội sẽ bộc lộ nhân cách của bản thân

Văn hóa giao tiếp - ứng xử của giới trẻ Hà Nội hiện nay mà cụ thể là thái độ cử chỉ, cách giao tiếp trong gia đình, ngoài xã hội và với những cảnh quan tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa truyền thống cha ông để lại là một vấn đề rất đáng quan tâm Bên cạnh những nét đẹp của truyền thống được lưu giữ trong sinh hoạt thì văn hóa ứng xử của giới trẻ Hà Nội còn có nhiếu mặt hạn chế thể hiện trong giao tiếp, hành động làm mất đi nét đẹp trong thuần phong mỹ tục của người Hà Nội Giao tiếp và văn hóa giao tiếp

- ứng xử là một vấn đề lớn vừa có tính lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình xây dựng lối sống nhằm xây dựng, hình thành phát triển và

Trang 5

hoàn thiện nhân cách của từng thành viên trong cộng đồng, làm cơ sở ổn định các mối quan hệ xã hội và truyền vào thế hệ trẻ những giá trị truyền thống đã được bảo lưu, kế thừa, đóng góp phần xây dựng các chuẩn mực của lối sống Xã hội Chủ nghĩa Đã có nhiều bài nghiên cứu, bài viết về vấn

đề văn hóa giao tiếp - ứng xử, trong phạm vi tài liệu và những vấn đề được

học tập, nghiên cứu tôi mạnh dạn chọn đề tài “Văn hóa giao tiếp - ứng xử của giới trẻ với một số di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Hà Nội” để

phân tích, tìm hiểu những vấn đề trong văn hóa giao tiếp - ứng xử của giới trẻ Hà Nội cả mặt tích cực và mặt hạn chế, đưa ra một số giải pháp để phát huy những mặt tích cực trong văn hóa giao tiếp của giới trẻ và bảo tồn những Di tích Lịch sử - Văn hóa cha ông ta đã để lại

2 Đối tượng nghiên cứu:

Những hành xử trong giao tiếp - ứng xử của giới trẻ Hà Nội trong xã hội và với một số Di tích Lịch sử - Văn hóa

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu:

Dựa trên quan điểm, đường lối và chính sách của Đảng – Nhà nước về bảo vệ di sản văn hóa dân tộc, kết hợp với các phương pháp quan sát, phỏng vấn, đọc tài liệu để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

6 Cấu trúc của khóa luận:

Ngoài phần mở đầu và kết luận khòa luận được bố cục ba chương:

Chương 1: Vai trò của văn hóa giao tiếp ứng xử trong đời sống xã hội Chương 2: Văn hóa ứng xử của giới trẻ đối với Di tích Lịch sử - Văn hóa Chương 3: Ý kiến đề xuất và một số giải pháp của người viết bài trước những hành vi thiếu ý thức của giới trẻ

Trang 7

Chương 1 VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA GIAO TIẾP ỨNG XỬ

TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1.1 Khái niệm chung

Văn hóa là một hiện tượng phong phúc và rất phức tạp Để có thể là rõ khái niệm về văn hóa cần chú ý:

- Nhận thức về văn hóa luôn chịu tác động và ảnh hưởng của tiến bộ khoa học và tiến bộ xã hội

- Vì tính đa dạng và phức tạp của văn hóa nên cần và đã có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, đồng thời cũng có những hạn chế Có lẽ cách tiếp cận hệ thống mở ra triển vọng để hiểu sâu hơn, đúng hơn về văn hóa

- Dù có những điểm rất khác nhau thậm chí trái ngược nhau những hầu hết các nhà khoa học các công trình nghiên cứu đều coi hệ giá trị như một điểm quy chiếu nói lên bản chất của văn hóa

Với sự khái quát và xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của khóa luận,

người viết tiếp cận với văn hóa trên cơ sở định nghĩa sau: “Văn hóa là quá trình phát triển các quan hệ nhân tính của một xã hội, của mỗi con người, nó được cộng đồng khẳng định thành một hệ giá trị hướng tới Chân – Thiện – Mỹ” (Dẫn: Luận án tiến sĩ khoa học triết học Cù Huy

Chử; HN 1995)

Hệ giá trị văn hóa tồn tại trên ba dạng:

+ Dạng vật thể, chủ yếu là những sản phẩm văn hóa, những công nghệ văn hóa

Trang 8

+ Dạng phi vật thể, chúng tồn tại trong các biểu trưng, ngôn ngữ và hành vi ứng xử Ở đây là: nghệ thuật, tín ngưỡng, lý tưởng và niềm tin… giữ vị trí quan

trọng

Tóm lại “nói tới văn hóa là nói tới con người, là nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội Do đó, khái niệm văn hóa chứa đựng tính chất nhân văn Cơ

sở của mọi hoạt động văn hóa là khát vọng hướng tới Chân – Thiện – Mỹ

Có thể nói đó là ba trụ cột vĩnh hằng của sự phát triển văn hóa nhân loại”

(Dẫn luận án Tiến sĩ khoa học triết học Cù Huy Chử - HN 1995)

Ngoài ra, theo UNESCO, thuật ngữ văn hóa được sử dụng “Culture”

làm định nghĩa theo nhiều cách và theo một số ý nghĩa có liên quan đến nhau

- Thứ nhất: văn hóa là những biểu hiện khác nhau của sự sáng tạo trí tuệ

và nghệ thuật cùng với những cá nhân, thiết chế chịu trách nhiệm trong quá trình thông tin, giáo dục, truyền đạt và đổi mới chúng tạo nên cái mà được gọi chung là “lĩnh vực văn hóa” một chính sách riêng biệt liên quan chủ yếu đến các nghệ sĩ và các loại hình nghệ thuật

- Thứ hai: theo UNESCO văn hóa liên quan đến những biểu hiện của sự sáng tạo và những khát vọng của con người như là một côn cụ để bổ sung giá trị vào các lĩnh vực khác như vấn đề việc làm và đoàn kết xã hội

- Thứ ba: văn hóa như khởi nguồn mà từ đó các cá nhân và cộng đồng

có thể tìm thấy nguồn cảm hứng và sự định hướng

Cuối cùng, theo quan điểm của ủy ban Thế giới về văn hóa và phát triển

Trang 9

trị, nguồn gốc bên trong của động cơ cá nhân, xã hội và năng lực con người Văn hóa là động lực sáng tạo giúp mọi người phát triển và giúp xã

hội thay đổi, những hiểu biết này gắn với những khái niệm “vốn xã hội” và

“vốn văn hóa” lập luận trên lý thuyết về cả hai khái niệm dễ hơn là thể

hiện nó bằng thực tế Tuy nhiên, cả hai đều có tính ứng dụng quan trọng về

phát triển, sự bền vững và đánh giá đầu tư (Dương Tự Đạm – Văn hóa với thanh niên và thanh niên với văn hóa dân tộc NXB Thanh Niên 2001)

Với tư cách là một hoạt động cơ bản của con người, giao tiếp - ứng xử

đã trải qua nhiều thời đoạn mà tính chất và mức độ của mỗi thời đoạn khác nhau quy định phong cách giao tiếp Hay nói cách khác là trình độ giao tiếp

ở mỗi giai đoạn khác nhau phụ thuộc vào cá thể sống và nhiều điều kiện khác nữa ở từng giai đoạn đó Trong quan hệ cộng đồng (làng, xã, phường) xuất hiện những hương ước, phong tục (địa phương) Ở cấp quốc gia thời quân chủ phong kiến có một hệ thống thể chế giao tiếp, ứng xử chính thức

và toàn diện với những nội dung và mối phức tạp của nó Đi đôi với hệ

thống ứng xử giao tiếp này mà trật tự “tam cương, ngũ thường” cũng như

quan niệm của các bậc trí giả Phật, Lão, Nho… về Nhân – Nghĩa – Lễ - Trí – Tín – Dũng về tiểu nhân, quân tử làm đại diện… là những dòng văn hóa, nghệ thuật cả cung đình và bình dân Mặc dù còn nhiều điểm hạn chế bởi lịch sử, bổ sung hay loại bỏ nhưng trong ứng xử, giao tiếp kiểu phong kiến vừa nên hẳn cũng có một hạt nhân tiến bộ, đó là nếp trật tự kỉ cương, là tính tự giác trong hoạt động giao tiếp chuẩn mực, theo những tiêu chuẩn nhất định Không phải ngẫu nhiên mà quan niệm lề thói xưa còn in đậm cho đến tận bây giờ, đặc biệt ở các làng xã hay ở vùng sâu, vùng xa… Như vậy, thành phần của giao tiếp hiện nay không đơn nhất Nó là một màng lưới đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái truyền thống và cái cải cách

Trang 10

một nhân cách Cũng như vậy giao tiếp có văn hóa được khuôn trong nội hàm hẹp hơn, không phải là toàn bộ các hành động giao tiếp mà chỉ là những loại giao tiếp ứng xử mang tính đại diện, tính biểu trưng, tính biểu tượng, là gương soi cho nhiều thế hệ mang trong nó những thuộc tính, những tiêu chuẩn có tính văn hóa, đạo đức và thẩm mĩ phù hợp với cảm quan trí tuệ, tâm thức của một dân tộc Hơn nữa, nó có thể là cốt lõi hình thành một cách ứng xử, giao tiếp đẹp đẽ, lành mạnh và đạt được độ biểu tượng cao, hình thành một lối sống đa dạng về mặt nội dung trên cơ sở định chuẩn Chân – Thiện – Mỹ

Giao tiếp là hành vi diễn ra hàng ngày, song mới chú ý với tính chất bộ

phận vì thế nó vụn vặt và được thể hiện dưới những dạng “bán tiêu chuẩn”, những “lời khuyên” theo kiểu “tin thì tin, không tin thì thôi”

Giao tiếp có văn hóa cũng vậy Nó hầu như đang không chịu nổi sự biến động đến chóng mặt không chỉ đời sống kinh tế mà còn đời sống tâm linh không những khía cạnh vật chất mà còn khía cạnh tinh thần và lý tưởng trong điều kiện đất nước ta đang từng bước nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảng, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hòa nhập mạnh mẽ với quốc tế Hầu như đang có một cuộc đối mặt giữa lý tưởng và thực tại đời sống trong vấn đề giao tiếp có văn hóa Và thực tế đang chứng minh rằng những quan hệ cổ truyền đang có khả năng bị lãng quên, các chuẩn mực đạo đức thẩm mĩ nếu không có ý thức giữ gìn sẽ bị đảo lộn Thế hệ mới

đang tìm một cái “chuẩn” mới cho đời sống sinh hoạt và giao tiếp của họ

chăng? Giao tiếp và văn hóa giao tiếp ứng xử là toàn bộ những giao tiếp ở tất cả các lĩnh vực khác nhau trong xã hội đạt đến trình độ nhất định của cái đẹp, cái tốt, cái thật phù hợp với tiêu chuẩn đinh hướng về văn hóa Nó mang tính chất văn hóa, có giá trị và được coi là đại diện hay biểu tượng cho loại thể và phong cách giao tiếp Từ đó tạo cho con người có tri thức

Trang 11

đúng, tình cảm đẹp, biết sống hòa đồng, biết vì mọi người, biết làm giàu cho mình và cho đất nước

Trên đây là những khái niệm cơ bản, khóa luận sử dụng để tìm hiểu và phân tích thực trạng cũng như đưa giải pháp về văn hóa giao tiếp của giới trẻ Hà Nội trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.Văn hóa ứng xử trong giao tiếp của người Việt

Giao tiếp là một nhu cầu có tính chất xã hội của con người, là nhu cầu thường trực trong suốt cuộc đời Quan hệ xã hội là khách quan không phụ thuộc vào tâm lý bởi vì giữa người và người có mối quan hệ khách quan không do con người đặt ra Quan hệ giao tiếp của nhân dân ta từ sau khi đổi mới có thể thấy là đã tăng trưởng vượt bậc Quá trình đô thị hóa, quá trình biến đổi của nền kinh tế đất nước từ bao cấp sang kinh tế thị trường

đã ảnh hưởng đến lối sống đô thị Có thể thấy rõ nhu cầu giao tiếp đã tăng lên mạnh mẽ trên cả hai mặt Giao tiếp để làm ăn (sản xuất kinh doanh), giao tiếp vì nhu cầu xã giao, học tập…

Trong phép ứng xử giữa con người với nhau ngoài xã hội, xưa nay ai cũng hiểu là phải có một quy tắc nhất định Song trong thực tế cuộc sống, không phải bất cứ lúc nào và không phải ai cũng nhớ để áp dụng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể nên đã có nhiều trường hợp ứng xử chưa phải đạo với bậc trên, người dưới

Những cái hay, cái tốt cần kế thừa, giữ gìn và phát huy Cái dở, cái xấu thì chúng ta cần tránh, cần loại trừ Trong ca dao, tục ngữ nói về kinh nghiệm giao tiếp ứng xử trong xã hội của ông cha ta vẫn còn truyền tụng

và có giá trị đến tận ngày nay

Đó là sự tế nhị, ý tứ trong sự hòa thuận, thói quen đắn đo cân nhắc:

Trang 12

“Ăn có nhai, nói có nghĩ”

“Biết thì thưa thớt, không biết thì dựa cột mà nghe”

Đó là chủ trương nhường nhịn lẫn nhau:

“Một điều nhịn là chin điều lành”

Đó là sự linh hoạt trong ứng xử:

“Ở bàu thì tròn, ở ống thì dài”

“Đi với bụt mặc áo cà sa

Đi với ma mặc áo giấy”

Và còn biết bao nhêu câu tục ngữ, ca dao nữa mà người xưa đã truyền lại về phong cách, kinh nghiệm giao tiếp trong xã hội Đó là những lời khuyên răn, là những kiến thức thông thường được đúc kết lại rồi sáng tác có vần có điệu cho dễ nhớ, dễ thuộc, dễ truyền bá cho nhau Nhờ có nó

mà bao đời nay ông cha ta đã sống với nhau có tình, có nghĩa, thủy chung son sắt tạo thành đạo lý ở đời của người Việt Nam

Nhìn chung, trong cuộc sống xã hội, hàng ngày có biết bao tình huống phải ứng xử và nên theo nguyên tắc chung là: tôn kính lễ độ với người trên; tôn trọng bạn bè đồng nghiệp; khiêm tốn, nhường nhịn với người dưới, hòa nhã, cởi mở, thân thiện chân tình, sẵn sàng giúp đỡ nhau trên tất cả các mối quan hệ trong xã hội

Người Hà Nội vốn tài hoa, sáng tạo và thanh lịch trong nếp sống:

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

Trang 13

Tràng An là một cái tên khác của Thăng Long – Hà Nội, “lịch” ở đây có nhiều nghĩa: đẹp, thanh tú, nhã nhặn, lịch thiệp Câu ca dao cổ khẳng định cái nết cảu người Hà Nội xưa mà người Hà Nội ngày nay vẫn còn giữ nguyên, giá trị của nó

Truyền thống thanh lịch ấy biểu hiện trước hết ở sự nói năng:

“Người thanh nói tiếng cũng thanh Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu”

Cái thanh, cái đẹp của tiêng nói Hà Nội không chỉ ở chỗ chuẩn xác, phát âm đúng, mẫu mực cho cả nước mà còn là biết sử dụng tiếng nói lưu loát, hoạt bát, nhã nhặn, tế nhị, lịch sự…

Người Hà Nội nhờ tiếp thu có sang lọc, gữ lại những gì tinh túy nhất, thông minh nhất của tiếng nói khắp miền đất nước Lời nói của người

Hà Nội thường ý nhị tôn trọng người đối thoại

“Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa long nhau”

Người Hà Nội thường khiêm nhường, tế nhị trong ứng xử, truyền thống giao tiếp văn hóa tốt đẹp ấy thể hiện các mối quan hệ của con người ở nơi đây, từ trong từng gia đinh đến ngoài xã hội, từ vẻ đi, dáng đứng cách nói năng, lời thăm hỏi, lối làm việc, khi vui chơi… bao giờ cũng nhẹ nhàng thanh thoát, bặt thiệp, tiềm ẩn một chiều sâu dễ nhận ra song khó phân định Đẹp những không cầu kỳ, kênh kiệu; giản dị nhưng không thô cứng; thân tình nhưng không suồng sã; duyên dáng khả ái nhưng không mất đi vẻ

đẹp hồn nhiên “ăn thì trông nồi, ngồi thì trông hướng” Thưa gửi kính lễ

Trang 14

tới trẻ thơ, lên tàu, xuống xe nhường chỗ cho các cụ già em nhỏ; khẽ khàng, tinh tế nơi ở đông người

Ngôn ngữ giao tiếp trong xã hội của thanh niên Hà Nội rất phong phú mang cả những yếu tố tích cực và tiêu cực Điều đó do cá nhân được sinh

ra và lớn lên trong một môi trường và hoàn cảnh giao tiếp đó như thế nào?

Do vậy cũng phải tùy từng đối tượng và hoàn cảnh mà có những ngôn ngữ giao tiếp cho phù hợp Và tương ứng với ngôn ngữ thì hành vi cũng vậy Hành vi trong xã hội được cụ thể hóa bằng những hành động giữa con người với nhau Để nói đến hành vi của thanh niên Hà Nội thì thật đa dạng Cũng có những hành vi tốt, xấu khác nhau xuất phát từ những con người khác nhau, những hoàn cảnh khác nhau Thử quan sát trong thực tế cũng có rất nhiều những hành vi đẹp Một thanh niên dắt cụ già sang đường, những thanh niên đuổi bắt tên cướp khi có tiếng kêu cứu… mà bản thân họ là những người không hề quan biết nhau Trong công việc có sự giúp đỡ lẫn nhau, hoàn thiện nhau…

Mỗi đoàn thể, tổ chức quần chúng… đều có các điều lệ, những nơi sinh hoạt cộng đồng như: Nhà văn hóa, rạp chiếu phim, thư viện, công viên, bến xe… có các nội quy để mọi người thức hiện nhằm giữ được trật tự kỷ cương, tạo điều kiện cho mỗi thành viên tham gia các sinh hoạt tập thể ấy được thuận lợi Thực hiện nội quy đã trở thành ý thức chung cho mọi người

ví dụ như không hút thuốc trong hội trường, rạp hát, rạp chiếu phim, không nói chuyện khi họp hoặc nghe nói chuyện thời sự…

Cần phải hiểu biết và tôn trọng pháp luật trong mọi lúc, mọi nơi, mọi trường hợp ứng xử Nó giúp con người phân biệt phải trái đúng sai, biết việc nào chính, việc nào là việc thiện việc ác Chính vì vậy có những người

Trang 15

coi thường kỷ cương phép nước nên đã trở thành tội phạm mắc tội tham nhũng, cướp của giết người, buôn bán hàng quốc cấm…

Ngoài những điều đã nêu ở trên, sách báo, phim ảnh nước ngoài đã đem vào đời sống xã hội không ít cái không lành mạnh, rất đáng lo ngại như: lối kiếm tiền bằng các thủ đoạn, mánh khóe gian dối lừ đảo, lối ăn chơi trác táng, đồi trụy, khiêu dâm, nghiện ngập… tạo thành tệ nạn xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến từng con người, từng gia đình sống trong cộng đồng

Đó là lối sống thực dụng, con người ứng xử với nhau dựa trên kinh tế thị trường, dựa vào đồng tiền Chính đồng tiền làm tha hóa nhân cách và đạo đức con người, đạo lý, tính người

Ngày nay, xã hội nước ta thời kỳ đổi mới hướng tới một xã hội tiến

bộ, văn minh hơn thì đòi hỏi chúng ta – thanh niên nói chung và thanh niên

Hà Nội nói riêng phải coi việc giữ gìn phong cách giao tiếp ứng xử của bản thân mình với xã hội là việc giữ gìn những bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp

đó là rất cần thiết Bởi vì xã hội dù có hiện đại, có văn minh đến đâu đi nữa

thì con người chúng ta ứng xử với nhau không thể “vô đạo đức và không thể thiếu tình người” được

Những lý giải trên đây là yêu cầu chung của văn hóa giao tiếp - ứng

xử trong xã hội và cũng xuất phát từ thực tiễn của người Hà Nội nói chung

và thanh niên Hà Nội nói riêng trong đời sống cộng đồng Nhưng quả thật khi quan sát những hành vi ngôn ngữ của giới trẻ Hà Nội những năm gần đây thì bên cạnh những ưu điểm, những chuẩn mực được thể hiện trong các quan hệ giao tiếp từ nơi công sở đến trường học, từ các thiết chế văn hóa đến các điểm sinh hoạt văn hóa Bên cạnh đó người viết cũng thấy bộc lộ một số nhược điểm và khuyết điểm của thanh niên Hà Nội trong quá trình

Trang 16

quan sát văn hóa giao tiếp của thanh niên Hà Nội ở những nơi công cộng, đặc biệt là ở một số Di tích Lịch sử - Văn hóa trên địa bàn Hà Nội

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa hiện nay

Hà Nội với một bề dày nghìn năm lịch sử, những danh lam thắng cảnh hấp dẫn, những Di tích lịch sử phủ trên mình giá trị văn hóa ngàn năm và một truyền thống văn hóa giao tiếp ứng xử có từ xưa Chúng ta có quyền tự hào và phải có trách nhiệm duy trì và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp đó

Nhân loại đang bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của văn minh trí tuệ với đặc trưng cơ bản là sự phát triển không dựa vào các nguồn dự trữ tự nhiên mà chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ Nền kinh tế đang được cấu trúc lại trên quy mô toàn cầu với xu thế nhất thể hóa và khu vực hóa dựa vào thực lực kinh tế cũng như tiềm năng trí tuệ Xu thế này đã làm thay đổi căn bản vị trí và vai trò cũng như tạo ra những thời cơ và thách thức cho tất cả các quốc gia

Ngày 16-7-1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết ra đời nhanh chóng được các cấp ủy đảng, chính quyền trong cả nước triển khai, nhân dân đồng tình hưởng ứng Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã đánh giá: sau Đề cương về văn hóa của Đảng năm 1943, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa là văn kiện chuyên đề văn hóa đầu tiên của Đảng

“trúng ý Đảng, hợp lòng dân”, đặt ra chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Sau 10 năm tổ chức thực hiện, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về

Trang 17

chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống xã hội, hình thành nhiều phong trào văn hóa ở các vùng miền, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, góp phần vào việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy kinh tế phát triển Có được kết quả nói trên, một trong những nguyên nhân quan trọng là vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng được đề cao trong tổ chức thực hiện Nghị quyết, biểu hiện ở một số vấn đề

cơ bản như sau:

Một là, Đảng chỉ đạo Nhà nước xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa và thể chế hóa các quan điểm, chủ trương về văn hóa nêu trong Nghị quyết bằng luật pháp

và những chính sách cụ thể

Để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, Nghị quyết đòi hỏi Đảng ta phải “đi sát nắm chắc tình hình hoạt động trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sắc bén, giúp các cơ quan nhà nước thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng”

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa, Đảng ta đã chỉ đạo các cấp chính quyền, sau khi học tập, quán triệt Nghị quyết thì phải xây dựng chương trình hành động cụ thể thực hiện Nghị quyết Các chủ trương, quan điểm về văn hóa của Đảng nêu trong Nghị quyết phải được cụ thể hóa bằng các chiến lược, đề án, luật pháp và những chính sách cụ thể Từ sự chỉ đạo của Đảng, chỉ sau 2 tháng Nghị quyết ra đời, ngày 17-9-1998, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Chương trình hành động của Chính phủ đã bám sát phương hướng chung, 5 quan

Trang 18

tác văn hóa được trình bày trong Nghị quyết Nội dung Chương trình hành động tập trung vào 3 nhóm vấn đề chính: tổ chức tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết và triển khai phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng các đề án phát triển sự nghiệp văn hóa, văn học, nghệ thuật, thông tin; xây dựng luật pháp và các cơ chế chính sách Mỗi nhiệm

vụ ở từng nhóm vấn đề nêu trên đều được xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và thời hạn thực hiện

Đây là cách làm rất mới trong tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng lúc bấy giờ Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 của Chính phủ đã tạo cơ sở pháp lý và cách thức để các tỉnh, thành phố căn cứ vào đó xây dựng chương trình hành động cụ thể của địa phương, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở từng vùng miền Việc xây dựng chương trình hành động cũng là cách làm thiết thực để sau mỗi năm, mỗi nhiệm kỳ đại hội, các cấp ủy đảng, chính quyền có căn cứ đánh giá, kiểm điểm trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân trong triển khai thực hiện Nghị quyết Ví dụ: về xây dựng văn bản luật pháp, Chương trình hành động của Chính phủ ghi: Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật Báo chí (sửa đổi), Luật Di sản văn hóa dân tộc, Luật Quảng cáo, Luật Điện ảnh, Luật Xuất bản (sửa đổi), đến năm 2006 các bộ luật quan trọng nêu trên đã được Quốc hội thông qua Luật Báo chí (sửa đổi) được thông qua năm 1999; Luật Di sản văn hóa dân tộc; Pháp lệnh Quảng cáo được thông qua năm 2001; Luật Xuất bản (sửa đổi) được thông qua năm 2004 và Luật Điện ảnh được thông qua năm 2006

Hai là, Đảng chỉ đạo cả hệ thống chính trị từ Trung ương xuống cơ sở thông qua cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn

Trang 19

hóa” để huy động sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tham gia tổ chức thực hiện Nghị quyết

Nghị quyết Trung ương 5 nêu ra 4 giải pháp lớn trong tổ chức, thực hiện

Đó là phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa; tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa; nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa Giải pháp phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đặt ở vị trí đầu tiên nhằm huy động mọi lực lượng nhân dân và cả hệ thống chính trị, từ trong Đảng, cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội tích cực tham gia phong trào Nhận thức rõ điều này, Đảng đã chỉ đạo Nhà nước hình thành tổ chức chỉ đạo phong trào văn hóa lớn này Cuối năm 1999, Ban chỉ đạo Trung ương phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được Chính phủ thành lập và đầu năm 2000 làm lễ ra mắt, phát động phong trào trong

cả nước ở tỉnh Quảng Nam, nhân sự kiện khu phố cổ Hội An và khu di tích tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới

Sau 7 năm ra đời và phát triển (2000 - 2007), phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã tổ chức 1 lần tổng kết 5 năm, 2 lần

sơ kết 2 năm; mỗi lần sơ, tổng kết Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tập trung vào 7 phong trào chủ yếu: xây dựng người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến; xây dựng gia đình văn hóa; toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư (nay đổi tên gọi là toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư); xây dựng làng, bản, ấp, khu phố văn hóa; xây dựng công sở, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang có nếp sống văn hóa; toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại; đẩy mạnh phong trào hoạt động, lao động sáng tạo

Trang 20

Năm 2007, cả nước có 13.443.100 gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 76,9%; 45.220 cơ quan, công sở đạt danh hiệu cơ quan, công

sở văn hóa.Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là một cuộc vận động văn hóa lớn, phát huy được sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc thực hiện khẩu hiệu “Nhà nước và nhân dân cùng làm văn hóa”, chăm lo xây dựng đời sống văn hóa cho mỗi người dân, cho mỗi cộng đồng để văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội

Ba là, Đảng tiếp tục ban hành các văn bản chỉ đạo cho từng lĩnh vực văn hóa cụ thể khắc phục những yếu kém và đề ra chủ trương, giải pháp mới trong tổ chức thực hiện Nghị quyết

Nội dung Nghị quyết Trung ương 5 đề cập 10 nhiệm vụ của công tác văn hóa: xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới; xây dựng môi trường văn hóa; phát triển sự nghiệp văn học - nghệ thuật; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa; phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ; phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; chính sách văn hóa đối với tôn giáo; mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa; củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa ở một Nghị quyết lớn của Đảng mang tầm chỉ đạo chiến lược nên mỗi nhiệm vụ kể trên, Nghị quyết cũng chỉ trình bày những nét khái quát lớn, thể hiện chủ trương, quan điểm và các biện pháp lớn của Đảng mà chưa có điều kiện đề cập đầy đủ và sâu cho từng lĩnh vực, từng nhiệm vụ cụ thể

Học tập lời chỉ huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong tác phẩm

lý luận Sửa đổi lối làm việc xuất bản đầu năm 1948, về cách lãnh đạo là

Trang 21

phải “liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng” Ban Bí thư có Chỉ thị

số 18-CT/TW tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về công tác văn học, nghệ thuật trong tình hình mới và Chỉ thị

số 20-CT/TW về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị trong tình hình mới

Năm 2004, Ban Bí thư có Chỉ thị số 42-CT/TW về nâng cao chất lượng toàn diện về hoạt động xuất bản Công tác chỉ đạo, định hướng hoạt động của báo chí liên quan đến nhiều vấn đề nhạy cảm, tác động trực tiếp đến quan hệ quốc tế và tâm trạng của các tầng lớp nhân dân, do vậy, Bộ Chính trị, Ban Bí thư liên tiếp ban hành các văn bản chỉ đạo như: năm

2001, Ban Bí thư có Thông tri số 01-TT/TW về tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về công tác báo chí - xuất bản; trong các năm 2004 và 2006, đã ban hành hai Thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về một số biện pháp tăng cường lãnh đạo, quản lý báo chí trong tình hình hiện nay; tiếp đó Ban Bí thư khóa X có Kế hoạch số

03 nhằm triển khai có hiệu quả Thông báo Kết luận số 168 của Bộ Chính trị về các vấn đề nêu trên Trong năm 2005, Ban Bí thư có Chỉ thị số 52-CT/TW về phát triển và quản lý báo điện tử ở nước ta hiện nay; năm 2007, Ban Bí thư có Quyết định số 75-QĐ/TW về việc ban hành Quy chế bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí

Ngoài ra, Đảng ta còn thành lập Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, cơ quan tư vấn cho Đảng nhằm thúc đẩy công tác

lý luận, phê bình, định hướng hoạt động của văn học, nghệ thuật nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 22

Bốn là, Đảng luôn coi trọng tổng kết thực tiễn văn hóa, như việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã sơ kết 5 năm (1998 -2003) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), đặt đúng vai trò, vị trí của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Để hiểu đúng và nắm sát tình hình thực hiện Nghị quyết ở cơ sở trong nhiệm kỳ Đại hội IX, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xây dựng chương trình toàn khóa đã đưa vấn đề sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 vào Hội nghị Trung ương 10, tháng 7-2004 Quá trình sơ kết được

tổ chức từ cấp chính quyền cơ sở lên tới cấp Trung ương nhằm đánh giá đúng tình hình thực hiện Nghị quyết để xây dựng những luận cứ khoa học

và thực tiễn cho Ban Chấp hành Trung ương ra Kết luận tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa của Đảng

Từ đó, Kết luận đặt ra những mục tiêu phải đạt tới trong những năm tiếp theo, trong đó có việc đặt đúng vai trò, vị trí của văn hóa đối với sự nghiệp phát triển đất nước: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế

là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của 3 lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”

Năm là, Đảng mở cuộc vận động lớn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân học tập tư tưởng và đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần làm cho tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa thấm sâu vào cuộc sống

Một trong 4 giải pháp lớn mà Nghị quyết Trung ương 5 nêu ra nhằm thực hiện 10 nhiệm vụ cụ thể trong nội dung của Nghị quyết là giải pháp

Trang 23

nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa Nghị quyết yêu cầu: “Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước như Bác Hồ đã dạy “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” Phải đặt mạnh việc giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân” Thấm nhuần và kế thừa quan điểm này, năm 2003, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 23-CT/TW về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới Sau đó, việc học tập, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra trong suốt các năm từ 2003 đến 2006 Tới

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những có tác dụng quan trọng trong xây dựng văn hóa chính trị trong hệ thống chính trị ở nước ta, mà còn tác động tích cực làm lành mạnh đời sống văn hóa tinh thần của đất nước, làm cho dân tin vào Đảng, Đảng gần dân hơn, tạo sự thống nhất tư tưởng trong Đảng và sự đồng thuận của xã hội trong thực hiện đường lối đổi mới và các nhiệm vụ văn hóa của Đảng Cuộc vận động lớn này còn góp phần khắc phục tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa của Đảng, chúng ta cảm nhận sâu sắc rằng, đồng hành với sự nghiệp đổi mới đất nước, tư duy và năng lực lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc

tế

Trang 24

Chương 2 VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA GIỚI TRẺ ĐỐI VỚI DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA 2.1 Khái quát một số Di tích Lịch sử - Văn hóa trên địa bàn Hà Nội

2.1.1 Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Văn Miếu được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời

Lý Thánh Tông (Đại Việt sử ký toàn thư Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1972,Tl, tr.234) Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám

ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử) Năm Nguyên Phong thứ 3 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện cho mở rộng và thu nhận

cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc

Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám

Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng

Tử Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi

Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá Ngày nay toàn bộ khu Thái Học được xây dựng với diện tích 1530m2 trên tổng diện tích 6150m2 gồm các công trình kiến trúc chính là Tiền đường, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám

Trang 25

Khi du khách đặt chân đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám thì ngay từ cổng đầu tiên phía bên phải có bảng “Nội quy tham quan Di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu – Quốc Tử Giám” bằng hai thứ tiếng là Việt ngữ và Anh ngữ với mục đích phục vụ cho mọi đối tượng khách tham quan là người trong nước cũng như người nước ngoài Bảng nội quy có nội dung như sau:

1 Tôn trọng di tích, chấp hành quy định của đơn vị quản lý di tích, không xâm phạm đến di vật, cảnh quan di tích, không xoa đầu rùa, viết, vẽ, đứng, ngồi lên bia tiến sĩ…

2 Trang phục sạch sẽ, gọn gàng (không mặc váy hoặc quần quá ngắn, trang phục hở hang, trang phục trong nhà), không hút thuốc, đội nón, đội mũ trong khu vực điện thờ, nhà trưng bày…

3 Thực hiện nếp sống văn minh nơi thờ tự:

- Không có hành vi thiếu văn hóa, nói tục, gây mất trật tự, an ninh

- Có thái độ đúng mực khi hành lễ, mỗi người chỉ thắp một nén hương, dâng lễ, thắp hương đúng nơi quy định

4 Nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng để thực hiện các haotj động mê tín dị đoan, cờ bạc, lừa đảo…

5 Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ cảnh quan môi trường: không trèo tường, trèo cây, bẻ cành, hái hoa, giẫm lên thảm cỏ, câu cá, bơi lội, vứt rác bừa bãi…

6 Không mang vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy vào khu di tích

Trang 26

7 Để xe đúng nơi quy định, tự quản lý tư trang để tránh xảy ra mất mát

8 Các hoạt động quay phim tại di tích chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của lãnh đạo khu di tích

Nội quy trên đây chính là kim chỉ nam để du khách nói chung và các bạn trẻ nói riêng có những hành động phù hợp không vi phạm và trên hết

là có những hành vi đúng mực khi tham quan một di tích lịch sử văn hóa

Văn Miếu-Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam thành Thăng Long, xưa

thuộc thôn Minh Giám, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương; thời Pháp thuộc làng Thịnh Hào, tổng Yên Hạ, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Đông Nay thuộc thành phố Hà Nội Bốn mặt đều là phố, cổng chính là phố Quốc

Tử Giám (phía Nam), phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía Đông là phố Văn Miếu Quần thể kiến trúc này nằm trên diện tích 54331m2 bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám

và vườn Giám mà kiến trúc chủ thể là Văn Miếu nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám, trường học cao cấp đầu tiên của Việt Nam

hai tấm bia Hạ mã hai bên đó là mốc ranh giới chiều ngang phía trước mặt

cổng Xưa kia dù công hầu hay khanh tướng, dù võng lọng hay ngựa xe hễ

đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ mã bên này sang tới tấm bia Hạ mã bên kia mới lại được lên xe lên ngựa

nhất gọi là khu Nhập đạo, theo đường thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung môn Ngang hàng với Đại Trung môn bên trái có Thành Đức môn, bên

Trang 27

Khuê Văn Các: Khuê văn các (nghĩa là "gác vẻ đẹp của sao Khuê")

là một lầu vuông 8 mái xây dựng vào năm 1805, đời Gia Long triều Nguyễn Gác dựng trên một nền vuông cao lát gạch Bát Tràng Kiểu dáng kiến trúc khá độc đáo Tầng dưới chỉ là 4 trụ gạch 4 bề trống không Tầng trên là kiến trúc gỗ trừ mái lợp và những phần trang trí góc mái hoặc trên

bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc vôi cát

Giếng Thiên Quang: Thiên Quang tỉnh (tức "giếng soi ánh sáng bầu

trời") còn được gọi là Văn Trì (Ao Văn) Thiên Quang nghĩa là ánh sáng

bầu trời Đặt tên này cho giếng, người xây dựng có ý muốn nói con người thu nhận được tinh túy của vũ trụ, soi sáng tri thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nền nhân văn

Bia Tiến sĩ: Nhưng có lẽ di tích có giá trị bậc nhất ở đây là 82 tấm

bia Tiến sĩ dựng ở hai bên phải trái của giếng Thiên Quang, mỗi bên 41 tấm dựng thành 2 hàng ngang, mặt bia đều quay về phía giếng Trong 82 tấm bia còn lại tới ngày nay, tấm sớm nhất dựng vào năm 1484, khắc tên các vị tiến sĩ đỗ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) tấm cuối cùng dựng vào năm 1780, khắc tên các Tiến sĩ đỗ khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 40 (1779)

Đại Thành Môn: Cửa Đại Thành (cửa của sự thành đạt lớn lao), mở

đầu cho khu vực của những kiến trúc chính, nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, Thất thập nhị hiền v.v và cũng là nơi giảng dạy của trường giám thời xưa, mang một cái tên đầy ý nghĩa tưởng không còn có thể chọn một tên nào

có ý nghĩa hay hơn

Đền Khải Thánh - Quốc Tử Giám: Khu Khải Thánh là khu sau cùng của di tích Đền Khải Thánh là nơi thờ cha mẹ Khổng Tử tức là Thúc

Trang 28

sạch không còn lại một kiến trúc nào Kiến trúc ngày nay là hoàn toàn mới Quy mô kiến trúc khu Thái Học mới rất bề thế, trang nghiêm và hài hoà với kiến trúc cảnh quan của khu Văn Miếu phía trước

Nhà Tiền đường, Hậu đường: Đây là công trình xây dựng hoàn

toàn mới do Trung tâm thiết kế tu bổ di tích - Bộ Văn hoá Thông tin thiết

kế kỹ thuật, nằm trong công trình trùng tu khu Thái Học khởi công xây dựng ngày 13 - 7 - 1999 Tầng một là nơi tôn vinh Danh sư Tư nghiệp

Quốc Tử Giám Chu Văn An và là nơi trưng bày về Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long và nền giáo dục Nho học Việt Nam giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cùng những

giá trị sâu sắc của truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học, đề cao nhân tài, thừa kế và phát huy di sản văn hoá dân tộc Tầng hai là nơi tôn thờ các

danh nhân đã có công xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám và đóng góp

vào sự nghiệp giáo dục Nho học của Việt Nam Đó là các vị Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông

2.1.2 Đền Quán Thánh – Chùa Trấn Quốc

Lê thuộc đất phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, phía Nam Hồ Tây

Năm Đinh Tỵ niên hiệu Vĩnh Trị II (1677), đời Lê Hy Tông, chúa

Trang 29

Thiên Trấn Vũ được triều đình cho đúc lại bằng đồng đen (hun) Tượng cao 3,07m, chu vi 8m Tượng mặt vuông, mắt nhìn thẳng, râu dài, tóc xoã không đội mũ, mặc áo đạo sĩ, ngồi trên bục đá, tay trái bắt quyết, tay phải chống gơm có rắn quấn và chống lên lưng một con rùa Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo, đánh dấu kỹ thuật đúc đồng và tài nghệ của dân ta cách đây 3 thế kỷ

Văn bia tại đền do trạng nguyên Đặng Công Chất và tiến sĩ Hồ Sĩ ơng soạn Thời Tây Sơn, đô đốc Lê Văn Ngữ, cùng nhiều người nữa đã quyên tiền đúc chiếc khánh bằng đồng (chiều 1,10 x 1,25m) vào năm Cảnh Thịnh thứ hai Năm 1923 cho đổi là Trấn Vũ quán Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm và dâng một đồng tiền vàng, cộng với số tiền vàng do các hoàng thân dâng, đúc lại thành vòng Sửa chữa xong, có dựng bia do tiến sĩ

D-Lê Hy Vĩnh soạn Đền hiện nay có 6 bia, kiến trúc, trang trí của đền hiện nay mang phong cách đời Nguyễn

Chùa Trấn Quốc

Chùa Trấn Quốc nằm trên một hòn đảo phía Nam của Hồ Tây, là một trong những danh thắng bậc nhất ở kinh thành Thăng Long đời nhà Lê, nay thuộc quận Ba Đình (Hà Nội)

Đánh giá cao những giá trị lịch sử, tôn giáo cũng như cảnh quan của ngôi chùa, trước kia, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã từng xếp chùa Trấn Quốc

là công trình lịch sử thứ 10 trong Toàn xứ Đông Dương

Trước cổng chùa là tấm biển được đặt ngay trước lối đi bằng ba thứ tiếng là Việt ngữ, Anh ngữ và Trung ngữ để khi khách đến lễ, bước từ hành

lang dẫn vào chùa sẽ nhìn rõ “Đề nghị quí khách lưu tâm! Không mặc

Trang 30

quần áo ngắn vào chùa” Vào bên trong chùa du khách có thể thấy bảng

nội quy bảo vệ di tích lịch sử chùa Trấn Quốc

Điều 1: phải chấp hành nghiêm túc nội quy của cơ sở Hoạt động tín ngưỡng tôn giáo Thực hiện tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỉ, Xả) Đoàn kết tôn trọng mọi người và sự trang nghiêm nơi thờ tự

- Các bát hương ở chính điện nhà chùa đã thắp hương vòng Khi thắp hương cúng dàng tại lư hương ở trước cửa sân chùa

- Đi lại nhẹ nhàng không đội mũ, đội nón, không nói to, không hút thuốc lá, khạc nhổ bừa bãi trong khu vực di tích

- Ăn mặc trang phục sạch sẽ, gọn gàng kín đáo (không mặc váy ngắn, quần ngắn, áo quần sử dụng trong nhà) trong khu vực di tích

Điều 2: các thợ quay phim, chụp ảnh kinh doanh không hành nghề trong khu vực di tích

- Các máy quay phim, máy ảnh du lịch cần quay phim, chụp ảnh phong cảnh phải xin phép nhà chùa hoặc giấy giới thiệu của cơ quan mới được sử dụng

Điều 3: Cấm mang các chất cháy nổ, vũ khí độc hại vào khu vực di tích

Điều 4: Các phương tiện đi lại như xe đạp, xích lô, xe máy đều không được đem vào khu di tích

Điều 5: Giờ mở cửa: Sáng 7h00 đến 11h30

Trang 31

Các ngày lễ mở cửa cả ngày

Tháng 4/1962, chùa Trấn Quốc được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia

Tương truyền, chùa được xây dựng từ thời tiền nhà Lý Nam Đế (năm 547) tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng với tên gọi “Khai Quốc” (nghĩa

541-là mở nước)

Đến đời vua Lý Thái Tông (năm 1434 – 1442) nhà vua đổi tên chùa là chùa An Quốc

Đến đời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa (1681-1705), chùa được

đổi tên là Trấn Quốc Bức hoành phi đề chữ “Trấn Quốc Tự” treo tại gian

đại bái hiện nay được làm từ thời đó

Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và

200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc Nhưng tên chùa Trấn Quốc có

từ đời vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay

Nổi tiếng linh thiêng lại là danh thắng bậc nhất kinh kỳ, chùa Trấn Quốc xưa thường là nơi các vua chúa ngự giá đến vãn cảnh và cúng lễ vào những ngày rằm, lế Tết Đặc biệt, vào đời Lý và đời Trần nhiều cung điện

đã được xây dựng tại đây như cung Thúy Hoa, điện Hàm Nguyên phục vụ cho việc nghỉ ngơi, thư giãn của nhà vua

Trải qua rất nhiều đợt trùng tu, diện mạo của chùa có nhiều thay đổi Song quy mô và kiến trúc còn giữ được đến nay là kết quả của đợt trùng tu

gồm một vườn tháp phía mặt tiền, nhà tổ, nhà khách, hai dãy hành lang tả - hữu và thượng

Trang 32

như bộ tượng thờ ở thượng điện Đây là những pho tượng được tạo tác tỉ

mỉ, trau chuốt và mang nét đẹp đặc trưng riêng Đáng nói nhất là pho tượng Thích Ca nhập Niết bàn được đánh giá là bức tượng Niết bàn đẹp ở Việt Nam Trong khuôn viên của chùa có cây bồ đề 50 năm tuổi do Tổng thống

Ấn Độ tặng năm 1959 nhân chuyến thăm chính thức của Tổng thống tại Việt Nam

Với những giá trị về lịch sử và kiến trúc đó, chùa Trấn Quốc ngày nay không chỉ nổi tiếng là chốn cửa Phật linh thiêng, thu hút rất nhiều tín

đồ Phật tử đến hành lễ mà còn là điểm thu hút khách tham quan, du lịch trong và ngoài nước

2.1.3 Quần thể di tích xung quanh khu vực Hồ Gươm

Nằm tại vị trí trung tâm của Thủ đô, Hồ Gươm hay Hồ Hoàn Kiếm tuy không phải là hồ lớn nhất Hà Nội, song hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa

Trên vỉa hè dọc trục đường Đinh Tiên Hoàng, cứ 500m là có một biển nội quy chỉ dẫn khu vực Hồ hoàn Kiếm được ban hành theo quyết định số: 03/2007/QĐ-UBND ngày 14/2/2007 của UBND Quận Hoàn Kiếm

1 Không cởi trần, mặc quần áo lót tập thể dục trong thời gian từ 7h00 đến 21h00

2 Không dẫm lên thảm cỏ, không ngắt hoa, bẻ cành, hái quả, không leo trèo, vẽ, khắc lên tượng đài và các công trình kiến trúc

Trang 33

3 Không cãi, chửi, đánh nhau, nói bậy, say rượu bia… có những hành vi thiếu văn hóa, gây mất trật tự công cộng

4 Không nằm nghỉ trên ghế đã vườn hoa

5 Không viết, dán, treo nội dung quảng cáo rao vặt trên cây, ghế

đá, trên tường, trạm điện thoại công cộng hoặc cắm trại… (nếu không được phép của cơ quan có thẩm quyền)

6 Cấm đi, để xe đạp, xe máy, vứt rác, phế thải, phóng uế, đại tiểu tiện, đá bong, đánh cầu lông, thả diều, chơi cờ tướng

7 Cấm tắm giặt, rửa ở các đài phun nước, không phơi quần áo, chăn màn lên cây, ghế đá, để các vật dụng làm mất mỹ quan tại khu vực

Hồ Hoàn Kiếm

8 Cấm câu cá, chăn thả gia súc, vật nuôi và săn bắn chim thú

9 Cấm bán hang rong, kinh doanh dịch vụ, đeo bám khách du lịch

để ép mua, ép bán, xin ăn, xin tiền

10 Các đơn vị, cá nhân khi tổ chức các hoạt động mang tính tập thể tại khu vực tượng đài vua Lý Thái Tổ và Hồ Hoàn Kiếm phải được sự đồng

ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền

Trên đây là nội quy tại khu vực Hồ Hoàn Kiếm và tượng đài vua Lý Thái Tổ, mọi công dân và du khách đến đây phải tự giác chấp hành nội quy trên, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành

Xung quanh hồ có rất nhiều di tích lịch sử mang trong mình giá trị văn hóa ngàn năm Giữa hồ là Tháp Rùa linh thiêng, biểu tượng của Hồ

Trang 34

Gươm Tháp xây trên gò Rùa nơi xưa từ thời vua Lê Thánh Tông đã dựng

Điếu Đài ở đó để nhà vua ra câu cá Sang thời Lê Trung Hưng (khoảng thế

kỷ 17-thế kỷ 18) thì chúa Trịnh cho xây đình Tả Vọng trên gò nhưng sang thời nhà Nguyễn thì không còn dấu tích gì nữa.Sau khi Pháp hạ thành Hà Nội năm 1883 thì dân vùng ven hồ xiêu tán cả Các quan Việt cũng bỏ sở nhiệm Riêng có Nguyễn Ngọc Kim chức dịch làng Tự Tháp được cử làm trung gian giữa quân Pháp và người Việt, lại được chính quyền mới tín nhiệm nên ít lâu trở thành bá hộ, tục gọi là Bá hộ Kim Năm 1886 thấy huyệt đất trên gò Rùa hợp phong thủy ông xuất tiền xây tháp trên gò với ý định chôn hài cốt của cha vào đó Việc không thành nhưng ngọn tháp ba

tầng vẫn được hoàn tất Vì vậy nên ban đầu Tháp này có tên là Tháp Bá hộ Kim Vì vị trí đẹp giữa hồ, tháp nghiễm nhiên biến thành thắng tích Hà

Nội

Đền Ngọc Sơn là một ngôi đền thờ nằm trên đảo Ngọc của hồ Hoàn

Kiếm, Hà Nội Đền hiện nay được xây dựng từ thế kỷ 19 Lúc đầu được gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi gọi là đền Ngọc Sơn vì trong đền chỉ thờ thần Văn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo, vị anh hùng có công phá quân Nguyên thế kỷ 13

Khởi nguyên, khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên ngôi đền

đã có tại đây là Ngọc Tượng, đến đời nhà Trần đổi tên là Ngọc Sơn

Đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735 - 1739), chúa Trịnh Giang đã dựng cung Thụy Khánh và đắp hai quả núi đất ở trên bờ phía Đông đối diện với Ngọc Sơn gọi là núi Đào Tai và Ngọc Bội

Trang 35

Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại đền Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá xung quanh, xây đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ Đông đi vào gọi là cầu Thê Húc

Bên cạnh phía trước cổng Đền Ngọc Sơn là Tháp Bút Tháp Bút ở

Hồ Gươm là một ngọn tháp bằng đá cao năm tầng, được xây dựng năm Tự Đức thứ 18 (1865) trên nền núi Độc Tôn cũ theo ý tưởng của nhà nho Nguyễn Văn Siêu, nằm ở phía ngoài lối vào cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn

Tháp dựng trên ngọn núi do đá xếp, đường kính 12m, cao 4m Tháp vuông có năm tầng, cao 28m Đỉnh là một ngòi bút lông dựng ngược Cả cán và ngòi bút cao 0,9m Trên thân ba tầng giữa có khắc theo chiều dọc ba chữ Tả Thanh Thiên mang nghĩa "Viết lên trời xanh"

Ở đầu cầu Thê Húc là Đài Nghiên, nghiên được đặt trên tòa cửa đầu tiên dẫn vào đền, là một nghiên mực bằng đá xanh đẽo tạc theo hình nửa quả đào, cắt ngang theo chiều dọc, khoét lõm Bề dài quả đào 0,97m, bề ngang 0,8m, cao 0,3m, chu vi 2m, có ba con thiềm thừ (con cóc) đội nghiên như ba cái chân kiềng

Ở phía xa, cũng nằm trong quần thể di tích lịch sử xung quanh Hồ Gươm đó là Tháp Hòa Phong Tháp di vật còn sót lại của chùa Báo Ân, còn gọi là chùa Quan Thượng, một quần thể kiến trúc Phật giáo nổi tiếng

một thời nay Tháp đứng trên vỉa hè bên phía hồ Hoàn Kiếm đối diện với

Trung tâm Ngoại vụ Bưu điện Hà Nội qua trục đường Đinh Tiên Hoàng

Đây là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân, còn gọi là chùa Quan Thượng, một quần thể kiến trúc Phật giáo nổi tiếng một thời Nguyên là vào giữa thế kỷ XIX ở chỗ này và toàn thể khu vực trung tâm Bưu điện có

Trang 36

thờ Phật, nhà thờ Mẫu, nhà in Kinh, nhà cho các sư ở, cả thảy trên một trăm gian, bên trong trang trí rất tráng lệ

Năm 1898, với chính sách diệt chủng văn hóa tôn giáo truyền thống, thực dân Pháp đã phá hủy chùa, chỉ còn ngọn tháp Hòa Phong

Đây là một loại tháp hiếm có ở Hà Nội, thuộc loại tháp bốn cửa, biến dạng của Stupa (một loại hình tháp của Phật giáo Ấn Độ) Bốn mặt tầng hai

có hình bát quái Bát quái ban đầu là công cụ chỉ phương hướng, theo vũ trụ quan Trung Hoa Tháp Hòa Phong là tổng hợp những quan niệm về vũ trụ của Phật giáo

2.2 Những giá trị văn hóa của các Di tích lịch sử

Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Văn Miếu - chiết tự có nghĩa là "miếu thờ văn" Đây là một tín ngưỡng tôn vinh người sáng lập ra Nho giáo (*) và qua đó đề cao tinh thần học vấn mà ông đề xướng, như coi trọng sự học hành hiểu biết, từ đó coi trọng giá trị người thầy (tôn sư trọng đạo), coi trọng lễ nhạc, thơ ca… Văn:

vẻ đẹp, văn chương, văn nho, văn đức, văn đạo, văn sách, tri thức… "Kẻ quân tử học rộng rãi ở văn, ước thúc bằng lễ thì có thể sống không trái đạo nghĩa" (Luận ngữ) Qua bao đời truyền tụng, chữ Văn còn được bồi đắp thêm nhiều nét nghĩa cực kì hàm súc, như một chữ của Thánh hiền, tôn thờ thành Đạo Nghĩa Do vậy, khu chính của mọi Văn Miếu là Đại Bái Đường, nơi đặt bàn thờ Khổng Tử và được coi là nơi trang trọng tôn nghiêm nhất Sách Khổng Tử răn dạy rất kĩ những điều phải tuân thủ mà người quân tử không được phép quên Nho giáo có thể nói đã thâm nhập sâu vào cuộc sống tinh thần của người Việt và phát huy tính tích cực của nó Nhà nước phong kiến cũng đã biết tận dụng ưu thế này để cai trị muôn dân Do vậy,

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Băng Sơn – Giao tiếp đời thường. NXB TN – 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp đời thường
Tác giả: Băng Sơn
Nhà XB: NXB TN
Năm: 1999
5. Nguyễn Cừ - Nguyễn Thị Huế - Trần Thị An: tuyển tập tục ngữ ca dao Việt Nam. NXB VH 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tuyển tập tục ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cừ, Nguyễn Thị Huế, Trần Thị An
Nhà XB: NXB VH
Năm: 2002
6. TS. Nguyễn Văn Chức – Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên – Viện VH & NXB VHTT – 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Chức
Nhà XB: Viện VH & NXB VHTT
Năm: 2002
9. TS. Phạm Đính Nghiệp – Giáo dục tư tưởng Cách mạng cho thế hẹ trẻ VN trong tình hình mới. NXB TN - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục tư tưởng Cách mạng cho thế hẹ trẻ VN trong tình hình mới
Tác giả: TS. Phạm Đính Nghiệp
Nhà XB: NXB TN
Năm: 2000
11. Thanh Lê – Văn hóa và lối sống – NXB TN – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và lối sống
Tác giả: Thanh Lê
Nhà XB: NXB TN
Năm: 2000
2. Bùi Đình Châu – Văn hóa gia đình. NXB VHTT – 2002 Khác
4. PGS.TS Lê Như Hoa – Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam. NXB VHTT – 2002 Khác
7. TS. Nguyễn Văn Chức – Nếp sống người Hà Nội – Viện VH & NXB VHTT – 2002 Khác
8. Nguyễn Tiến Thông – Một số vấn đề giao tiếp. NXB Chính trị quốc gia 2000 Khác
10. Phạm Vũ Dũng – Văn hóa giao tiếp. NXB VHTT – 1996 Khác
12. Nhập môn khoa học giao tiếp. NXB LĐ&XH – 2001 Khác
13. NQ ĐH Đoàn thành phố HN lần thứ XII. NXB HN 2003 Khác
14. Văn kiện hội nghị TW lần thứ năm Khóa VIII của Đảng. NXB Chính trị quốc gia – 1998 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w