1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa gia đình với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em hiện nay

70 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Gia Đình Với Sự Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Trẻ Em Hiện Nay
Tác giả Trần Thị Hoài
Người hướng dẫn Th.S. Hoàng Kim Thanh
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Thể loại thesis
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Theo UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

KHOA VĂN HÓA HỌC -

TRẦN THỊ HOÀI

VĂN HÓA GIA ĐÌNH VỚI SỰ HÌNH THÀNH

VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH TRẺ EM HIỆN

NAY

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

MỤC LỤC 

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH TRẺ EM 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Khái niệm văn hóa 9

1.1.2 Khái niệm gia đình 11

1.1.3 Khái niệm văn hóa gia đình 13

1.2 Cơ sở lí luận về việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em 14

1.2.1 Khái niệm nhân cách 14

1.2.2 Các yếu tố hình thành tới sự phát triển nhân cách 16

1.2.3 Con đường hình thành và phát triển nhân cách 20

1.2.4 Khái niệm trẻ em và lứa tuổi thiếu niên 21

1.3 Ảnh hưởng của văn hóa gia đình với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em 24

Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH TRẺ EM HIỆN NAY TẠI XÃ TÂN HƯNG, 26

HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN 26

2.1 Khái quát về mảnh đất con người xã Tân Hưng 26

2.1.1 Lịch sử 26

2.1.2 Vị trí địa lý 27

2.1.3 Điều kiện tự nhiên 27

2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 28

Trang 3

2.1.5 Vài nét về thôn Tiền Phong và thôn Quyết Thắng 29

2.2 Thực trạng văn hóa gia đình với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em hiện nay tại xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên 30

2.2.1 Văn hóa gia đình với sự phát triển thể chất của trẻ em 30

2.2.2 Văn hóa gia đình với trí tuệ của trẻ em 35

2.2.3 Văn hóa gia đình với việc giáo dục đạo đức cho trẻ em 39

2.2.4 Văn hóa gia đình với việc giáo dục lao động và hướng nghiệp cho trẻ em 44

2.2.5 Văn hóa gia đình với việc giáo dục thẩm mĩ cho trẻ em 51

Chương 3: MỘT VÀI KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA GIA ĐÌNH VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH TRẺ EM 54

3.1 Nâng cao tri thức và phương pháp giáo dục con cái cho cha mẹ 54

3.2 Kết hợp chặt chẽ giáo dục gia đình với giáo dục nhà trường và xã hội 55

3.3 Nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình 57

3.4 Phát huy các giá trị của văn hóa gia đình truyền thống 58

3.5 Tiếp tục tuyên truyền, thực hiện sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em 59

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 64

 

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm đề tài tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên và hỗ trợ Tôi xin có vài dòng cảm ơn chân thành tới những người

đã quan tâm và giúp tôi thực hiện đề tài

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ths.Hoàng Kim Thanh

- giảng viên khoa Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Cô đã định hướng và tận tình chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình xây dựng ý tưởng và hoàn thành công trình nghiên cứu này

Bên cạnh đó, tôi cũng xin cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí cán bộ xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ, tình Hưng Yên và sự ủng hộ của toàn thể bà con tại địa phương Sự quan tâm, động viên, chỉ bảo tận tình từ các thầy, cô giáo chuyên ngành, và tập thể lớp Văn hóa học 1A trong suốt quá trình tôi thực hiện nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Trần Thi Hoài

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Chiến lược xây dựng một đất nước suy cho cùng là chiến lược “con người”, đúng hơn là chiến lược xây dựng phát triển nhân cách của mỗi cá nhân với tư cách một công dân của đất nước – một xã hội công dân Nhân cách con người không bẩm sinh, không có sẵn mà được hình thành trong quá trình sống Cùng với sự vận động không ngừng của xã hội, lịch sử thì những giá trị được coi là chuẩn mực về nhân cách cũng dần dần được hình thành và phát triển, biến đổi phù hợp với đời sống Xã hội càng phát triển lên cao thì những yêu cầu về nhân cách con người ngày càng được coi trọng

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, Việt Nam cũng đang từng bước đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế Quá trình hội nhập quốc tế tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt việc hình thành và phát triển nhân cách con người trước nhiều khó khăn thách thức Bước vào thời kì mới thì những giá trị chuẩn mực về nhân các con người của ta trước đây cũng dần thay đổi Trong môi trường toàn cầu hóa, chúng ta có thể nói nhiều hơn đến sự tự do cá nhân với tư cách là dấu hiệu của sự phát triển nhân cách một cách đầy đủ Nhưng môi trường ấy cùng với sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu

tố từ bên ngoài vào cũng rất dễ dẫn đến sự phát triển méo mó về nhân cách, gây khó khăn cho sự hình thành và phát triển nhân cách Bởi lẽ, có những chuẩn mực cũ đã lỗi thời nhưng trong nhiều trường hợp vẫn được ngộ nhận là giá trị Những chuẩn mực mới đang được hình thành lại chưa đủ sức xác lập tính phổ biến trong hiệu lực định hướng nhân cách Bên cạnh đó, yêu cầu hội nhập kinh tế, giao lưu văn hóa dẫn đến sự du nhập những giá trị, những chuẩn mực ngoại lai Trong những chuẩn mực này có cái là cần thiết đối với sự nghiệp phát triển đất nước, có cái lại thể hiện như phản giá trị cần đề kháng

Trang 6

Sự đan xen giữa giá trị và phản giá trị trong những chuẩn mực về nhân cách hiện nay làm cho nhân cách khó khăn trong sự xác định phương hướng, lựa chọn và thực hiện hành vi

Nhân cách được hình thành và phát triển trong quá trình sống của con người Trong môi trường xã hội thông qua hoạt động và giao lưu nhân cách được hình thành, phát triển, tồn tại, được đánh giá và được đóng góp giá trị của mình cho xã hội Mà gia đình lại là cái nôi sinh thành, nuôi dưỡng; là môi trường xã hội hóa đầu tiên; là nơi đặt nền móng về nhân cách và trí tuệ cho con người Vì vậy không thể phủ nhận vai trò to lớn của gia đình, văn hóa gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con người nói chung

và trẻ em nói riêng Văn hóa gia đình có thể giúp trẻ em dễ dàng hơn trong sự định hướng nhân cách của mình

Hòa chung vào sự phát triển của cả nước, xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, cũng đang thay da đổi thịt theo từng ngày Để phát triển xã trở thành vùng nông thôn mới, ban lãnh đạo xã rất quan tâm tới việc chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ

Với những lý do đó, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Văn hóa

gia đình với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em hiện nay (khảo sát tại xã Tân Hưng – huyện Tiên Lữ - tỉnh Hưng Yên)” cho công trình

nghiên cứu khoa học của mình

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Gia đình là một vấn đề lớn của đời sống xã hội, cho nên đã thu hút

sự quan tâm chú ý của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong nước và thế giới Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới gia đình Tác

phẩm của Ăng – ghen “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà

nước” là tác phẩm đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu về gia đình

và văn hóa gia đình

Trang 7

Ở Việt Nam, chúng ta có thể kể đến các công trình như:

- Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam do Tương Lai chủ

biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1996 đã tiến hành khảo sát thực tiễn ở nhiều tỉnh thành trong cả nước về đặc điểm gia đình Việt Nam trước những năm 1990

- Văn hóa gia đình Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh, Nhà xuất bản Văn

hóa dân tộc, 1998, đề cập tới một số vấn đề của văn hóa gia đình Việt Nam

- “Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ

em” của Lê Như Hoa, Viện Văn hóa, Nhà xuất bản Văn nghệ thông tin,2001,

lại bàn về vai trò của gia đình đối với sự hình thành cách phát triển nhân cách trẻ em

- Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam, Ủy ban

Dân số - gia đình và trẻ em, 2004, đã phân tích thực trạng và dự báo xu hướng biến đổi chủa gia đình Việt Nam

- Gia đình học của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý, Nhà xuất bản Lý

luận chính trị, 2007; tác giả đã phân tích, làm rõ những đặc điểm của gia đình Việt Nam trong truyền thống và những đặc trưng của quá trình hình thành và phát triển của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại…

Ngoài ra còn có rất nhiều các công trình khác, các đề tài nghiên cứu cấp trường, cấp bộ, cấp nhà nước…

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Đối tượng: Những vấn đề của văn hóa gia đình trong việc hình thành

và phát triển nhân cách của trẻ em, đặc biệt chú trọng tới lứa tuổi thiếu niên (từ 11- 15 tuổi)

- Phạm vị nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận, khảo sát

một số gia đình tại 2 thôn: thôn Quyết Thắng và thôn Tiền Phong, xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên

Trang 8

4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu làm rõ hơn những vấn đề lí luận và thực tiễn về văn hóa gia đình, vai trò của văn hóa gia đìnhvới việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em Trên cơ sở đó, đề xuất một vài kiến nghị nhằm phát huy vai trò của văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình thực đề tài này, chúng tôi đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, đối chiếu tư liệu Đặc biệt là phương pháp điền dã, quan sát thực địa và phỏng vấn người dân địa phương

Chương 2 Thực trạng văn hóa gia đình với sự hình thành và phát triển

nhân cách trẻ em tại xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên

Chương 3 Một vài kiến nghị nhằm phát huy vai trò của văn hóa gia

đình với việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em 

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ SỰ HÌNH THÀNH

NHÂN CÁCH TRẺ EM

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Mỗi một thời kỳ, mỗi một lĩnh vực hay mỗi nhà nghiên cứu do cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều cách giải thích khác nhau về văn hóa Ngày nay trên thế giới có trên hàng nghìn định nghĩa khác nhau về văn hóa Từ văn hóa (tiếng La Tinh Cultura có nghĩa là cầy cấy, vun trồng, làm ruộng, chăm bón, cải thiện) bắt nguồn từ những từ Latinh Colo, Colere (gieo trồng, vỡ đất, làm nông nghiệp), Cultus (đã cầy cấy, được vun trồng) khởi đầu có nghĩa là

vỡ đất, chăm bón đất đại lao động nông nghiệp Hai từ kết hợp lại thành từ văn hóa với hàm nghĩa: Dùng thể chế hợp lòng người lễ nhạc, văn chương, sách vở ghi lời hay ý đẹp, gương sáng đạo đức hiền tài… để cảm hóa dân chúng (đối lập với việc dùng vũ lực, cưỡng bức để chế ngự dân chúng) Dù hiểu theo cách nào đi chăng nữa thì bản thân từ văn hóa có liên quan đến lao động, đến hoạt động tích cực cải tạo của con người Về sau từ này chuyển nghĩa nó về tính ca hát, khai trí, có tính chất giáo dục, có học vấn của bản thân con người Khác với thiên nhiên nảy sinh một cách tự nhiên, lĩnh vực văn hóa là một lĩnh vực hoạt động thực tiễn được hình thành trong tiến trình

phát triển lịch sử xã hội, nó là “Thiên nhiên thứ hai”

Bước vào thế kỷ XX, thuật ngữ văn hóa dần dần thâm nhập vào đời sống xã hội một cách sâu sắc, đồng thời nó cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn Có thể thấy rằng, trong giao dịch thường ngày và cả trên báo chí ít thấy khái niệm nào mà sắc thái ý nghĩa lại phong phú như từ văn hóa Chẳng hạn người ta nói văn hóa tình

Trang 10

cảm, văn hóa giao tiếp, văn hóa phê bình, văn hóa tranh luận, văn hóa giao thông, văn hóa gia đình… nói về định nghĩa văn hóa thì con số đã không dừng lại ở hàng trăm bởi lẽ đây là một khái niệm hết sức rộng lớn nếu chỉ gói gọn vào một vài dòng thì khó có thể biểu đạt hết được

Văn hóa theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh là toàn bộ những gì

do con người sáng tạo ra, ở đâu có con người, có quan hệ giữa con người với con người thì ở đó có văn hóa Bản chất của văn hóa là có tính người và tính

xã hội Văn hóa là một thực thể sống của con người, người ta có thể nghe thấy, sờ thấy, cảm thấy bằng những cách khác nhau của một nền văn hóa, một thời đại văn hóa, một giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra Dù văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều là sản phầm trực tiếp hay gián tiếp của

con người, do con người sáng tạo ra vì mục đích cuộc sống: “Vì lẽ sinh tồn

cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, về ăn, ở và các phương thức

sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”

Theo UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural

Organization - Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc)

thì văn hóa là “…một phức thể - tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh

thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những hệ thống tín ngưỡng…”

Văn hóa là một lĩnh vực rất rộng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng,

có mặt và thấm sâu trong toàn bộ đời sống xã hội và đời sống con người Vì thế có rất nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về văn hóa Trong quá trình

Trang 11

đi tìm định nghĩa và xác định nội hàm của văn hóa, đã có những tìm tòi khoa học có giá trị sâu sắc, tiếp sức nhau đạt tới những nhận thức ngày càng hoàn chỉnh hơn của con người, về một lĩnh vực rất độc đáo do chính con người và chỉ có con người sáng tạo nên, đó là văn hóa

Lao động sáng tạo là cuội nguồn, khởi điểm của văn hóa, nhưng sáng tạo phải hướng về các giá trị nhân bản, nhằm hoàn thiện con người thì mới trở

thành văn hóa đích thực Có thể nêu một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn

hóa là toàn bộ sáng tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn - xã hội, được đúc kết thành hệ giá trị chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người Hệ giá trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng

xã hội, nó có khả năng chi phối đời sống tâm lí và mọi hoạt động của những con người sống trong cộng đồng xã hội ấy.”( Theo Hoàng Vinh - Mấy vấn đề

lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay)

1.1.2 Khái niệm gia đình

Gia đình là một thiết chế xã hội hoàn toàn năng động, luôn vận động và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, với các hình thức khác nhau, cấu trúc khác nhau và thực hiện các chức năng khác nhau Chính vì thế, cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về gia đình của các học giả trong và ngoài nước

Từ thực tiễn xã hội phương Tây, nơi mà gia đình giải phóng cá nhân khỏi sự kiểm soát chặt chẽ của công đồng, một số nhà xã hội học quan niệm gia đình là một nhóm người E W Burgess và H J Locke coi “gia đình là một nhóm người được thống nhất với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, hoặc nhận con nuôi; tạo thành một hộ duy nhất, tác động qua lại và giao tiếp với nhau theo vai trò xã hội của riêng từng người

Trang 12

trong số họ: là chồng và vợ, là mẹ và và cha, là anh trai và em gái; tạo thành một nền văn hóa chung”

Kingley Davis định nghĩa gia đình “là một nhóm người mà quan hệ của họ với nhau dựa trên cơ sở dòng dõi, và do đó, họ là họ hàng thân thích của nhau”

George Peter Murdock lại coi “gia đình là một nhóm xã hội có đặc điểm là cư trú chung, hợp tác và tái sản xuất về kinh tế Nó bao gồm người lớn thuộc cả hai thế giới, ít nhất hai người trong đó có mối quan hệ tình dục

đã được tán thành về mặt xã hội, và một hoặc nhiều con, là con đẻ hoặc con nuôi, của những người lớn chung sống về mặt giới tính đó”

Ở Việt Nam, một định nghĩa về gia đình được nhiều nhà xã hội học thừa nhận: "Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm) Giữa họ là những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận

và bảo vệ, đồng thời có những qui định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình" (Nghiên cứu

xã hội học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1996)

Khái niệm về gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 8 Giải thích từ ngữ ): "Gia đình

là tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của Luật này;"…

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, nhưng theo tác

giả định nghĩa của Lê Ngọc Văn trong cuốn “Gia đình và biến đổi gia đình ở

Việt Nam”, do nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 2011 là định

Trang 13

nghĩa tương đối phù hợp với gia đình Việt Nam, nó thể hiện được cả các đặc trưng của gia đình Việt Nam trong bối cảnh hiện nay Theo Lê Ngọc Văn :

“Gia đình là một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống

hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung.”

Vị trí, vai trò to lớn của gia đình đối với xã hội được thể hiện qua các chức năng cơ bản của gia đình: chức năng tái sản xuất con người, chức năng kinh tế

và tổ chức đời sống gia đình, chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm – sinh lí, tình cảm và chức năng giáo dục các chức năng này được thực hiện trong sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau và có sự biến đổi phù hợp với từng nơi và từng giai đoạn lịch sử Thông qua việc thực hiện các chức năng này mà gia đình tồn tại, phát triển, đồng thời tác động tới sự tiến bộ chung của toàn xã hội

1.1.3 Khái niệm văn hóa gia đình

Nếu coi văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác thì văn hóa gia đình – một bộ phận không tách rời của văn hóa chung cũng sẽ bao gồm tất cả những gì làm cho gia đình của một cộng đồng này, xã hội này, dân tộc này, khu vực này với gia đình của các cộng đồng, xã hội, dân tộc, khu vực khác Một dân tộc chỉ được coi là có một nền văn hóa riêng khi chứng minh được bản sắc văn hóa của mình Cũng như vậy khi nói đến văn hóa gia đình là phải chứng minh được bản sắc của nó

Những nét khu biệt, tính đặc thù hay bản sắc của gia đình là đối tượng nghiên cứu của văn hóa gia đình Văn hóa gia đình nghiên cứu những dấu ấn để lại trong đời sống vật chất, tinh thần của gia đình được biểu hiện thông qua các mối quan hệ, cấu trúc, chức năng, sinh hoạt, đời sống tâm linh…của gia đình Đó là những dấu ấn được duy trì qua lịch sử, trở thành truyền thống, ăn sâu vào tiềm thức, tâm lí, chi phối hành vi, cách

Trang 14

ứng xử giữa các thành viên trong gia đình, giữa gia đình với xã hội, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác

Qua những phân tích trên, khái niệm văn hóa gia đình được hiểu là: “Văn

hóa gia đình là hệ thống những giá trị chuẩn mực khu biệt đặc thù, điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho các cộng đồng, các tộc người, các dân tộc và các khu vực khác nhau được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội” (Lê Ngọc Văn, Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2011)

1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH TRẺ EM

1.2.1 Khái niệm nhân cách

Mỗi chúng ta khi sinh ra đều là một thực thể tự nhiên, một bộ phận của

vũ trụ; con người chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên phức tạp Từ một con người tự nhiên phát triển thành một nhân cách, con người phải chịu hàng loạt những tác động, chi phối của những yếu tố chủ quan và khách quan, theo

cả quy luật tự nhiên và quy luật xã hội Sự phát triển của con người là sự trưởng thành cả về vật chất lẫn tinh thần bởi một con người khi đại diện cho loài người là một cá thể , khi là thành viên của xã hội thì con người là một cá nhân, khi là chủ thể của hoạt động thì con người trở thành một nhân cách

Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Trong tâm lí học, vấn đề nhân cách và sự hình thành nhân cách là vấn đề trung tâm

và cũng là “mắt lưới” của cả hệ thống khoa học về con người, vừa có ý nghĩa

lí luận vừa có ý nghĩa thực tiễn lớn lao

Trang 15

Có rất nhiều các định nghĩa và quan niệm khác nhau về nhân cách Ngay từ năm 1949, G Allport đã dẫn ra trên 50 định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lí học về nhân cách Có thể nêu nên 1 số định nghĩa về nhân cách như sau:

“ Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong

xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định” (A.G Côvaliôv)

“ Nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lí, quy định hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội” (E.V Sôvaliôv)

Triết học Mác – LêNin lại quan niệm “Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân” Đồng thời , Các Mác khi coi trọng nhân cách là bản chất con người đã định nghĩa: “Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng, tồn tại với từng cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của mình, nó là tổng hòa tất cả các mối quan hệ xã hội” Trong quá trình sống của mình, con người đã làm biến đổi các phẩm chất tự nhiên của mình, nhưng những biến đổi đó không tạo ra nhân cách

Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng định nghĩa nhân

cách như sau: “Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm

lý của cá nhân, quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của cá nhân đó” (

Theo Hoàng Anh - Đỗ Thị Châu - Nguyễn Thạc, Hành động - Giao tiếp - Nhân cách)

Theo đó, nhân cách là sự tổng hòa không phải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của

xã hội, nói lên bộ mặt tâm lí – xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân Nhân cách có 4 nhóm thuộc tính tâm lí điển hình là: xu hướng, năng lực,

Trang 16

tính cách và khí chất Cũng giống như 1 véctơ lực có phương, chiều, cường độ

và tính chất của nó, xu hướng nói lên phương hướng phát triển của nhân cách; năng lực nói lên cường độ của nhân cách; tính cách, khí chất nói lên tính chất phong cách của nhân cách Những thuộc tính tâm lí tạo thành nhân cách thường biểu hiện trên 3 cấp độ: cấp độ bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân, cấp độ biểu hiện ra bằng hành động và các sản phẩm của nó

Có rất nhiều cách phân loại cấu trúc của nhân cách, trong đó, có cách phân loại cấu trúc nhân cách gồm 5 mặt: thể lực, trí tuệ, đạo đức, khả năng lao động và khả năng thẩm mĩ

Để hình thành nhân cách của mỗi cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố

và phải trải qua thời gian dài Cần chú trọng việc giáo dục nhân cách cá nhân theo các chuẩn mực đạo đức từ khi con người còn là một đứa trẻ

1.2.2 Các yếu tố hình thành tới sự phát triển nhân cách

Nhân cách không có sẵn bằng cách bộc lộ dần các bản năng nguyên thủy mà nhân cách là các cấu tạo tâm lí mới được hình thành và phát triển trong quá trình sống, giao tiếp, vui chơi, học tập, lao động… như Lênin đã khẳng định “Cùng với dòng sữa mẹ, con người hấp thụ tâm lí, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên” Nhà tâm lí học Xô viết nổi tiếng A.N Lêonchiev cũng chỉ ra rằng: nhân cách cụ thể là nhân cách của con người sinh thành và phát triển theo con đường từ bên ngoài vào nội tâm, từ các quan hệ với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, nền văn hóa xã hội do các thế hệ trước tạo ra, các quan hệ xã hội mà nó gắn bó

Yếu tố bẩm sinh di truyền: bẩm sinh di truyền là toàn bộ những đặc

điểm sinh lý cơ thể (đặc biệt là đặc điểm của hệ thần kinh, não bộ và các giác quan) đã có ngay từ khi lọt lòng mẹ (bẩm sinh) hoặc được truyền lại từ thế hệ trước (di truyền) Yếu tố bẩm sinh di truyền là tiền đề vật chất, là cơ sở sinh lí

Trang 17

của sự hình thành và phát triển nhân cách Không quyết định nhân cách nhưng

nó tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách Ảnh hưởng của bẩm sinh di truyền tới nhân cách thông qua mối quan hệ xã hội

Yếu tố môi trường: môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài,

các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người Có thể chia làm 2 loại là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Môi trường tự nhiên bao gồm những điều kiện địa lí, khí hậu, đất đai…

có ảnh hưởng gián tiếp tới tâm lí cá nhân thông qua quan hệ xã hội và phương thức hoạt động của họ

Môi trường xã hội bao gồm nền văn hóa (văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) của một dân tộc, một xã hội Nó là nội dung, là nguồn gốc của sự hình thành và phát triển nhân cách Môi trường xã hội không trực tiếp quyết định nhân cách theo kiểu “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, “ở bầu thì dài,

ở ống thì tròn” Ảnh hưởng của môi trường xã hội đối với nhân cách diễn ra theo hai con đường: tự phát và tự giác Tác động tự giác của môi trường xã hội đối với sự hình thành và phát triển nhân cách còn được gọi là tác động giáo dục

Yếu tố giáo dục: giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác

động có mục đích, có kế hoạch, ảnh hưởng tự giác chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lí, ý thức, nhân cách

Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách vì giáo dục là quá trình tác động có mục tiêu xác định, hình thành một

Trang 18

mẫu người cụ thể cho xã hôi – một mô hình nhân cách phát triển, đáp ứng những yêu cầu của xã hội

Thông qua giáo dục, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau nền văn hóa xã hôi – lịch sử để tạo nên nhân cách của mình (qua các mặt nội dung giáo dục)

Giáo dục đưa con người, đưa thế hệ trẻ vào “vùng phát triển gần”, vươn tới những cái mà thế hệ trẻ sẽ có, tạo cho thế hệ trẻ một sự phát triển nhanh, mạnh, hướng về tương lai

Giáo dục có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối sự hình thành nhân cách như các yếu tố thể chất (bẩm sinh di truyền), yếu tố hoàn cảnh sống, yếu tố xã hội, đồng thời bù đắp những thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố trên sinh ra (như người bị khuyết tật, bị bệnh hoặc có hoàn cảnh không thuận lợi)

Giáo dục có thể uốn nắn những sai lệch về một mặt nào đó so với các chuẩn mực do tác động tự phát của môi trường gây nên và làm cho nó phát triển theo hướng mong muốn của xã hội (giáo dục lại)

Giáo dục có thể đi trước hiện thực, trong khi tác động tự phát của xã hội chỉ ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ hiện có của nó

Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách song không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục Giáo dục chỉ vạch ra phương hướng cho sự hình thành nhân cách, thúc đẩy quá trình hình thành phát triển nhân cách với tốc độ nhanh chóng hơn sự phát triển nhân cách một cách tự phát theo hướng đó Còn cá nhân đó có phát triển theo hướng đó hay không , phát triển đến mức độ nào thì giáo dục không quyết định trực tiếp mà chính là hoạt động và giao tiếp của mỗi cá nhân Do đó cần phải tiến hành giáo dục trong mối quan hệ hữu cơ với việc tổ chức hoạt động, tổ chức quan

Trang 19

hệ giao tiếp, hoạt động cùng nhau trong các mối quan hệ, quan hệ nhóm và quan hệ tập thể Đặc biệt, con người là thực thể tích cực có thể tự hình thành

và biến đổi nhân cách của mình một cách có ý thức, có khả năng tự cải tạo chính bản thân mình Có nhu cầu tự khẳng định, tự ý thức, tự điều chỉnh cho nên con người có hoạt động tự giáo dục Hoạt động này là quá trình tự kiềm chế mình, biết hướng nhu cầu, hứng thú, giá trị của mình cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, giá trị của xã hội Vì vậy, giáo dục không được tách rời với tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách ở mỗi cá nhân

Yếu tố hoạt động: hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là

nhân tố quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển của nhân cách Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, mang tính xã hội, mang tính cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhất định với những công cụ nhất định

Thông qua hai quá trình đối tượng hóa và chủ thể hoá trong hoạt động

mà nhân cách được bộc lộ và hình thành Con người lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử bằng hoạt động của bản thân để hình thành nhân cách Mặt khác, cũng thông qua hoạt động con người xuất tâm “lực lượng bản chất” (sức mạnh của thần kinh, cơ bắp, trí tuệ, năng lực…) và xã hội, “tạo nên sự đại diện nhân cách của mình” ở người khác trong xã hội

Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo ở mỗi thời kì nhất định Muốn hình thành nhân cách, con người phải tham gia vào các hoạt động khác, trong đó đặc biệt chú ý tới vai trò của hoạt động chủ đạo Vì thế phải lựa chọn, tổ chức và hướng dẫn các hoạt động đảm bảo tính giáo dục và tính hiệu quả đối với việc hình thành và phát triển nhân cách Việc đánh giá hoạt động là rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách Việc đánh giá sẽ chuyển dần thành tự đánh giá giúp

Trang 20

con người thấm nhuần những chuẩn mực, những biểu giá trị xã hội trở thành lương tâm của con người

Hoạt động của con người luôn mang tính xã hội, tính cộng đồng, nghĩa

là hoạt động luôn đi với giao tiếp Do đó, đương nhiên giao tiếp là một nhân

tố cơ bản trong sự hình thành và phát triển nhân cách

Các yếu tố di truyền bẩm sinh, môi trường, giáo dục, hoạt động và giao tiếp đều có tác động tới việc hình thành và phát triển nhân cách song chúng lại có vai trò không giống nhau Theo quan điểm tâm lí học Mác – xít thì yếu

tố bẩm sinh di truyền là tiền đề vật chất, là cơ sở sinh lí; yếu tố môi trường, đặc biệt là môi trường xã hội có vai trò quan trọng; yếu tố giáo dục giữ vai trò chủ đạo; yếu tố hoạt động là yếu tố quan trọng bậc nhất, mang tính chất quyết định đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

Có thể nói, sự hình thành và phát triển nhân cách là một quá trình lâu dài và phức tạp Trong quá trình đó, giữ các yếu tố đã nêu thường xuyên tác động lẫn nhau, và có sư thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của mỗi con người Nhân cách không phải là một cái gì đó đã hoàn tất mà là quá trình luôn đòi hỏi phải được trau dồi thường xuyên

1.2.3 Con đường hình thành và phát triển nhân cách

Hoạt động là hình thức tích cực nhất, là phương thức tồn tại của con người Nhờ có hoạt động mà mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh được thiết lập Sự hình thành và phát triển nhân cách của con người diễn ra phụ thuộc vào các dạng hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn nhất định của lứa tuổi Việc hình thành và phát triển nhân cách phải thông qua hoạt động (hướng tới đối tượng) và giao lưu (hướng tới mối quan hệ với con người) Thực tế cho thấy, nếu chỉ hình thành nhân cách bằng lời khuyên, bài giảng thì hiệu quả đem lại rất thấp

Trang 21

1.2.4 Khái niệm trẻ em và lứa tuổi thiếu niên

Trẻ em được xác định là giai đoạn đầu tiên của cuộc đời con người, giai đoạn chuẩn bị các phẩm chất và năng lực cần thiết để tham gia hoạt động xã hội Trẻ em cũng là đối tượng quan trọng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà sư phạm, tâm lý học, triết học…

Trước đây có quan điểm coi trẻ em là “người lớn thu nhỏ lại” Sự khác biệt giữa trẻ em và người lớn về mọi phương diện (cơ thể, tư tưởng, tình cảm…) chỉ ở kích cỡ, tầm thước, chỉ là sự khác nhau về lượng chứ không khác nhau về chất Những ý kiến này tạo cái nhìn thiên lệch đối với đứa trẻ và đưa đến xem nhẹ vai trò giáo dục đối với sự phát triển của trẻ

Các nhà tâm lý học Mác xít khẳng định, giữa người lớn và trẻ em có sự khác nhau về chất Trẻ em là một thực thể đang phát triển và vận động theo quy luật của bản thân nó Sự vận động tất yếu của trẻ em do quá trình phát triển bên trong của nó sẽ tạo ra sự phủ định bản thân nó và chuyển sang một trình độ mới khác về chất, thành người lớn Như vậy “trẻ em vẫn là một thực thể, đang sinh thành và tồn tại trong sự sinh thành ấy Chính sự tồn tại trong

sự sinh thành ấy tạo ra sự phát triển của chính nó”

Khái niệm trẻ em là một khái niệm mang tính lịch sử Toàn bộ các điều kiện xã hội lịch sử của một thời đại tạo ra trẻ em của riêng nó Vào thời kỳ sơ khai của lịch sử, tuổi thơ rất ngắn ngủi Do các thao tác lao động còn quá thô

sơ, đơn điệu, các đồ chơi của trẻ em thường là các công cụ thu nhỏ của người lớn về kích cỡ và trẻ em trong khi chơi đã bắt chước người lớn trong quá trình lao động Xã hội càng văn minh, tuổi thơ càng được kéo dài, bởi vì công cụ lao động mới kéo theo những thao tác mới Sự phát triển riêng lẻ từng thao tác kéo theo sự hình thành các tổ hợp thao tác và kết quả là tạo ra những công cụ lao động phức tạp hơn Đến một lúc nào đó, những thao tác sử dụng các công

Trang 22

cụ lao động cao hơn những thao tác sử dụng các đồ dùng sinh hoạt Sự xa cách ấy tạo ra sự xa cách giữa trẻ em và người lớn Đến một trình độ văn minh nhất định, trẻ em không thể tự học tại chỗ, trực tiếp bằng cách bắt chước người lớn Lúc này trẻ em cần phải đi học Cuộc sống ngày càng yêu cầu cao hơn, buộc các em phải chờ đến một tuổi nào đó mới đi học được, cần phải chơi đã rồi mới đi học

Hiện nay, việc xác định tuổi trẻ em ở mỗi quốc gia có khác nhau tùy theo đặc điểm lịch sử, kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia đó Công ước Quốc tế về quyền trẻ em xác định: trẻ em là những người từ 17 tuổi trở xuống Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em ở Việt Nam quy định: trẻ em ở Việt Nam là những người dưới 16 tuổi Như vậy nhìn chung lứa tuổi trẻ em được tính từ khi mới lọt lòng cho đến hết tuổi thiếu niên, theo sự phân chia trong tâm lý học

Sự phát triển tâm lý của trẻ em trải qua nhiều giai đoạn gọi là những giai đoạn lứa tuổi, ở mỗi cấp độ lứa tuổi sự phát triển tâm lý đạt đến một chất lượng mới và diễn ra theo các quy luật đặc thù

Xuất phát từ quan điểm cho rằng hoạt động chủ đạo là hoạt động có tác dụng quyết định chủ yếu nhất đối với những nét căn bản và đặc trưng cho giai đoạn hoặc thời kỳ lứa tuổi, đồng thời quy định tính chất của các hoạt động khác, các nhà tâm lý học Mác xít đã xác định các giai đoạn lứa tuổi chủ yếu đối với trẻ em như sau:

1 Giai đoạn tuổi sơ sinh (từ lọt lòng đến 12 tháng): với hoạt động chủ đạo là hoạt động giao tiếp cảm xúc trực tiếp với mẹ và người lớn

2 Giai đoạn trước tuổi học (từ 1 đến 6 tuổi): hoạt động chủ đạo là vui chơi

3 Giai đoạn tuổi học (từ 6 đến 17-18 tuổi): hoạt động chủ đạo là học tập Giai đoạn tuổi học là giai đoạn phát triển phức tạp, được chia thành các thời kỳ lứa tuổi sau:

Trang 23

‐ Thời kỳ đầu tuổi học (nhi đồng hoặc học sinh tiểu học): từ 6 đến 11 tuổi

‐ Thời kỳ giữa tuổi học (thiếu niên hoặc học sinh phổ thông trung học

cơ sở): từ 11 đến 15 tuổi

‐ Thời kỳ cuối tuổi học (hay tuổi đầu thanh niên hoặc học sinh phổ thông trung học): từ 15 đến 18 tuổi

Tuổi thiếu niên (hay tuổi học sinh phổ thông trung học cơ sở từ 11 đến

15 tuổi) là thời kỳ lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn Đây là giai đoạn phát triển tâm lý phức tạp nhất trong lứa tuổi trẻ em nói chung, giai đoạn nổi tiếng trong sách báo với tên gọi “khủng hoảng dậy thì”, cũng là giai đoạn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học và giáo dục học

Thực chất “khủng hoảng dậy thì” ở tuổi thiếu niên là ở chỗ con người ở lứa tuổi này vốn đã đủ trưởng thành để có một vị trí xã hội chủ động hơn trước, bắt đầu đấu tranh giành vị trí này bằng cách phá vỡ những quan hệ và thái độ cũ đối với mình đã hình thành trong thời thơ ấu Và càng cách xa các vị trí mà mình

có quyền được hưởng, thiếu niên càng phản kháng mạnh mẽ hơn

Bước sang tuổi dậy thì, thiếu niên có sự biến đổi căn bản trong cơ thể

và trong tâm lý Các chi phát triển hơn, thể tích tim tăng lên, hệ thống tín hiệu thứ 2 đã bắt đầu phát triển… Đồng thời với những thay đổi về chất trong cơ thể, sự phát triển về tâm lý ở thiếu niên cũng chuyển sang một bước mới Tư duy trừu tượng ở lứa tuổi này đã bắt đầu phát triển Nét đặc trưng trong tâm lý lứa tuổi thiếu niên là tính tự lập cao, tính hiếu động và xu hướng thích giao lưu tình cảm Cùng với hoạt động học tập, ở giai đoạn lứa tuổi này hoạt động giao tiếp cá nhân – thân tình chiếm ưu thế, chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách của các em Chính vì vậy, văn hóa gia đình phải góp phần định hướng phát triển nhân cách cho lứa tuổi này

Trang 24

1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA GIA ĐÌNH VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH TRẺ EM

Gia đình là tổ ấm của mỗi con người, là nơi con người được sinh ra và lớn lên, con người được gửi gắm tình cảm suốt cuộc đời: từ lúc sinh ra đến tuổi thơ ấu, sang tuổi trưởng thành và khi về già Có thể nói: Gia đình là điểm xuất phát đầu tiên và là điểm tựa cuối cùng của mỗi con người

Gia đình là nơi đặt nền móng cho người về nhân cách, trong đó văn hóa gia đình giữ vai trò chủ đạo Sự hình thành nhân cách của con người bắt đầu

từ sự giáo dục gia đình Đối với đứa trẻ mới ra đời, văn hóa gia đình và văn hóa xã hội là môi trường sống, trong quá trình làm người phải học tập để nắm vững các kiểu mẫu hoạt động, các kiến thức, các cách ứng xử mà trước hết là

ở các thành viên trong gia đình vì gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của con người Quá trình dạy đứa trẻ từ một cá thể trở thành một nhân cách là quá trình dạy – học “làm người” bắt đầu từ gia đình Trong quá trình đó, văn hóa gia đình giữ vai trò quyết định bởi vì: Gia đình là nơi trao truyền nhân tính đầu tiên cho thế hệ mới ra đời; qua sự ứng xử của các thành viên trong gia đình với nhau giúp đứa trẻ dần hiểu biết được các mối quan hệ huyết thống, máu mủ ruột già; giúp chúng nhận ra được gia đình là nơi bao bọc, chở che, bảo về chúng; là nơi luôn thấu hiểu và cho chúng niềm tin, sức mạnh mà những đứa trẻ sẽ nương nhờ vào sức mạnh đó suốt cuộc đời Một điều quan trọng hơn là gia đình đã tập cho đứa trẻ phương thức ứng xử với các quan hệ bên trong gia đình và dần mở rộng các quan hệ nhân tính khác ngoài xã hội Chính cái “nôi” gia đình đã ảnh hưởng đến sự lĩnh hội kiến thức của trẻ, bằng

“nhãn quan” về thế giới xung quanh của nó Gia đình là nơi am hiểu, nắm bắt được tâm lí của các em

Trang 25

Văn hóa gia đình là biểu hiện rõ nhất nền văn hóa dân tộc, là một dạng văn hóa cộng đồng đặc thù trong đó hệ giá trị và chuẩn mực xã hội chi phối mọi quan niệm, thái độ, hành vi của các thành viên trong gia đình Môi trường văn hóa lành mạnh phải bắt đầu từ gia đình Nhưng trong bối cảnh đất nước đổi mới, mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động đến mọi mặt của đời sống

xã hội, trong đó có môi trường văn hóa Sự lệch chuẩn của văn hóa gia đình là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự suy thoái nhân cách của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ trong đó có trẻ em Chính vì vậy, văn hóa gia đình ngày càng khẳng định vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, giúp các em định hướng nhân cách của mình một cách đúng đắn nhất, phù hợp với yêu cầu của một xã hội phát triển về những con người mới

Trang 26

Chương 2

THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH TRẺ EM HIỆN NAY TẠI XÃ TÂN HƯNG,

HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN

2.1 KHÁI QUÁT VỀ MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI XÃ TÂN HƯNG

2.1.1 Lịch sử

Xã Tân Hưng thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Hưng Yên là vùng nằm ở tả ngạn sông Hồng, trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, phía bắc liền kề với thủ đô Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh, phía nam giáp tỉnh tỉnh Thái Bình, phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía tây giáp tỉnh Hà Tây và Hà Nam

Huyện Tiên Lữ ra đời ngày từ buổi đầu thành lập tỉnh (1831) Năm

1894, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển huyện Tiên Lữ từ phủ Tiên Hưng sang phủ Khoái Châu Năm 1945 huyện Tiên Lữ lại trở về như ngày nay là một huyện độc lập trực thuộc tỉnh Hưng Yên

Xã Tân Hưng cũng có một bề dày lịch sử cùng với quá trình hình thành

và phát triển của huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Hiện nay xã Tân Hưng có diện tích là 747ha, dân số 5216 người (theo thống kê tháng 12 năm 2012) và bao gồm các thôn: Quyết Thắng, Tiền Phong, Lê Lợi, Trần Phú, Quang Trung, Phương Trà, Viên Tiêu, Minh Khai.

Ngày 31 – 8 – 2012 tại Hội nghị triển khai kế hoạch xây dựng đề án mở rộng địa giới hành chính thành phố Hưng Yên và thành lập mới 3 phường là Bảo Khê, Trung Nghĩa và Liên Phương đã thông qua một số văn bản quan trọng gồm thông báo số 391 ngày 17/10/2011 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Hưng Yên, nghị quyết số 14 ngày 20/7/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hưng Yên, quyết định số 1464 ngày 10/8/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh

Trang 27

Hưng Yên về chương trình phát triển thành phố Hưng Yên cơ bản đạt các tiêu chí đô thị loại II vào năm 2015, định hướng đến năm 2020; kế hoạch số 101 ngày 10/8/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên Theo chủ trương xây dựng đề án, xã Tân Hưng của huyện Tiên Lữ sẽ được sát nhập vào thành phố

Hưng Yên

2.1.2 Vị trí địa lý

Từ trung tâm thành phố Hưng Yên theo quốc lộ 39, hướng đi Triều Dương – Thái Bình khoảng 7km là đến xã Tân Hưng

Xã Tân Hưng nằm về phía Nam của huyện Tiên Lữ

 Phía Đông giáp con sông Luộc và tỉnh Thái Bình

 Phía Tây giáp xã Hồng Nam (thuộc thành phố Hưng Yên)

 Phía Nam giáp xã Hoàng Hanh (thuộc huyện Tiên Lữ)

 Phía Bắc giáp Thủ Sĩ (thuộc huyện Tiên Lữ)

2.1.3 Điều kiện tự nhiên

Tỉnh Hưng Yên nói chung và huyện Tiên Lữ nói riêng được xác định là nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ - cái nôi của nền văn hóa Việt Nam Đặc điểm địa hình nơi đây khá đơn điệu, không núi không biển, lại là vùng đất có địa bàn thấp trũng, thường xuyên bị ngập nước “4 tháng đi bằng chân,8 tháng đi bằng tay” Khí hậu nhiêt đới ẩm gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông rõ nét Xã Tân Hưng là một trong số đó Xã Tân Hưng gồm 5 thôn trong đê là: Tiền Phong, Trần Phú, Phương Trà, Viên Tiêu và Minh Khai là vùng ô trũng đầm lầy, không thường xuyên được bồi đắp phù sa bởi con sông Luộc; 2 thôn ngoài đê là Quyết Thắng và

Lê Lợi nhiều năm vào mùa lũ thường bị thiệt hại nặng nề, song từ năm

2002 trở lại đây không còn phải chịu cảnh ngập lụt vào mùa mưa nữa nhờ

Trang 28

vào đập thủy điện Hòa Bình ngăn nước tại đầu nguồn và do tình hình thiếu nước chung của miền Bắc; đây là 2 xã thường xuyên được phù sa của con sông Luộc bồi đắp, đất đai rất màu mỡ

Sông Luộc là một con sông có vai trò rất quan trọng trong đời sống của người dân xã Tân Hưng

Sông Luộc, xưa kia còn có tên chữ gọi là sông Phú Nông là một trong những con sông nối sông Hồng với sông Thái Bình Điểm đầu là ngã ba giao với sông Hồng tại Phương Trà - xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Đoạn đầu của sông Luộc là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hưng Yên

và Thái Bình Điểm cuối là Quý Cao, xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (gặp sông Thái Bình) Sông có chiều dài 72 km Khu vực đất canh tác bãi bồi ven sông Luộc vốn là khu vực đất đai màu mỡ có thể canh tác

3 vụ Các loại tàu thuyền, xà lan có thể vận chuyển trên sông cả 2 mùa Bên cạnh đó, sông Luộc còn cung cấp cho người dân một lượng cá lớn mỗi năm, đây cũng là nơi chứa đựng một lượng tài nguyên cát không hề nhỏ

2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

Hoạt động kinh tế chủ yếu của xã Tân Hưng vẫn là hạt động nông nghiệp Bên cạnh đó cũng có một số nghề truyền thống như: làm bún, đậu tại thôn Viên Tiêu; chế biến long nhãn hạt sen tại thôn Phương Trà Sự ra đời của nhà máy gạch Tuynel trên địa bàn xã cũng đã tạo được công ăn việc làm cho đông đảo người dân địa phương Ngoài ra trên địa bàn xã cũng có rất nhiều các vườn nhãn- đặc sản của Hưng Yên rộng tới hàng ha, hằng năm giúp người dân có nguồn thu nhập không hề nhỏ

Con người của mảnh đất Tân Hưng rất cần cù, chịu khó, chân thành, mộc mạc và giản dị, đặc biệt là rất hiếu khách. Kế thừa, phát huy những tinh hoa và truyền thống quý báu của quê hương, dân tộc, những con người Tân

Trang 29

Hưng đang từng bước khẳng định mình là những người làm kinh tế giỏi; có truyền thống hiếu học, 100% trẻ em đến tuổi đi học đều được đến trường, số lượng học sinh đỗ vào các trường đại học cao đẳng mỗi năm ngày càng tăng; tích cực tham gia các phong trào văn hóa xã hội…

Cùng với sự phát triển của đất nước nói chung và tỉnh nhà nói riêng, xã Tân Hưng đang ngày càng thay da đổi thịt Các đường làng, ngõ xóm thay vì các con đường đất bụi bẩn trước đây nay đã được bê tông hóa sạch sẽ, rộng rãi Các ngôi nhà khang trang kiên cố được xây dựng ngày càng nhiều, không còn hộ nghèo Đời sống tinh thần của người dân cũng được nâng cao…

2.1.5 Vài nét về thôn Tiền Phong và thôn Quyết Thắng

Thưở ban đầu, khi xã Tân Hưng mới được thành lập, 2 thôn Tiền Phong và Quyết Thắng được nhập làm một thôn với tên chữ là Ứng Lôi, tên nôm là làng Gòi

Đến năm 1945, thôn Ứng Lôi chính thức tách ra làm hai thôn với tên chữ là Tiền Phong và Quyết Thắng tương ứng với tên Nôm là Gòi trong và Gòi ngoài

Năm 1968, khi tỉnh HưngYên hợp nhất với tỉnh Hải Hưng, thì hai thôn này thuộc xã Tân Hưng, huyện Phù Tiên, tỉnh Hải Hưng

Năm 1997, khi tái lập tỉnh, 2 thôn này thuộc xã Tân Hưng, huyện Tiên

Lữ, Tỉnh Hưng Yên

Một thôn trong đê và một thôn ngoài đê song 2 thôn có rất nhiều điểm chung Hoạt động kinh tế chủ yếu của hai thôn Tiền Phong và Quyết Thắng là sản xuất nông nghiệp do đều có chung tư liệu sản xuất là đất phù

sa màu mỡ do sông Luộc bồi đắp, tận dụng nguồn cỏ dồi dào từ con đê ngăn cách để chăn nuôi

Trang 30

Hai thôn còn có chung một cơ sở sinh hoạt tín ngưỡng chính là chùa Phúc Lương, và còn thực hiện chung rất nhiều các hoạt đông văn hóa khác…

2.2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CỦA TRẺ EM HIỆN NAY TẠI XÃ TÂN HƯNG, HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN

2.2.1 Văn hóa gia đình với sự phát triển thể chất của trẻ em

Mỗi con người là một thực thể tự nhiên, là sản phẩm của sự kết hợp của cha và mẹ, chúng ta được hưởng những đặc điểm di truyền bẩm sinh từ họ, trong đó có các đặc điểm thể chất Cơ thể sinh học được sinh ra từ gia đình và cũng được phát triển tại gia đình Văn hóa gia đình có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển thể chất của con người nói chung và trẻ em ở lứa tuổi thiếu niên nói riêng

Tuổi thiếu niên là tuổi có sự biến đổi lớn về giải phẫu sinh lí Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng như tuyến yên, tuyến giáp, tuyến thượng thận, tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ Trong đó có sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục

Khi được hỏi về vấn đề phát triển thể chất cho con cái mình khi ở tuổi thiếu niên, 100% các gia đình đều mong muốn con mình có một thân thể cường tráng, thể lực tốt

Tuổi thiếu niên còn được gọi là “tuổi khủng hoảng” Sự chuyển biến nhanh chóng về cơ thể khiến các em hốt hoảng, ngạc nhiên, thắc mắc Các thành viên trong gia đình phải quan tâm, nắm bắt được tâm lí này để kịp thời cung cấp cho các em những hiểu biết cơ bản về quá trình này tránh tình trạng hoang mang, ảnh hưởng không tốt tới tâm lí cũng như sự phát triển của trẻ

Qua khảo sát, có tới 75% số gia đình chưa nhận thức được vai trò quan trọng của gia đình đối với sự phát triển thể chất của con cái mình; 25% cho rằng gia đình là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển thể chất của trẻ

Trang 31

Phần lớn các bậc cha mẹ đều nghĩ rằng yếu tố thể chất là yếu tố bẩm sinh, di truyền từ bố mẹ và đang được cải thiện phần nào nhờ chất lượng bữa

ăn gia đình được nâng cao

Anh Trần Văn Đoái (39 tuổi, làm ruộng, đội 9, thôn Tiền Phong) cho

rằng: “Người Việt Nam vốn nhỏ bé hơn so với người các nước khác trên thế

giới Thể chất là yếu tố di truyền, bố mẹ có cao to thì con cái mới cao to được Ngày xưa chúng tôi có được ăn thịt, ăn cá như bây giờ đâu, toàn ăn cơm rau, cơm độn mà vẫn có sức khỏe đi làm, còn ít ốm đau bệnh tật hơn bọn trẻ bây giờ”

Vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển thể chất của trẻ em mới chỉ dừng lại ở việc rèn luyện cho các em thói quen giữ gìn vệ sinh thân thể, sinh hoạt ăn uống điều độ đúng giờ mà chưa thực sự phát huy được hết vai trò và khả năng to lớn của mình

Ở lứa tuổi thiếu niên sự phát triển về thể lực đồng thời cũng là giai đoạn có biểu hiện của sự phát triển các năng khiếu thể dục thể thao như bóng bàn, bơi lội bóng đá, cầu lông…, gia đình phải là nơi phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu cho các em Việc tập luyện thể dục thể thao hàng ngày giúp cơ bắp phát triển, sức khỏe thể lực được tăng cường, tinh thần vững vàng, có khả năng phòng chống được bệnh tật, tâm lí thoải mái…

Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 94% các gia đình không biết con cái mình có năng khiếu về môn thể thao nào; 6% các gia đình biết được môn thể thao năng khiếu của con mình, tuy nhiên nhìn chung các gia đình này không

có điều kiện cho con mình tập luyện thường xuyên Các bậc cha mẹ thường cho rằng việc tập luyện thể dục thể thao nằm trong nội dung của môn học Thể dục (Giáo dục thể chất) ở nhà trường; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao cho trẻ là trách nhiệm của thầy cô bộ môn Thể dục

Trang 32

Chị Trần Thị Liên (38 tuổi, làm ruộng, đội 9, thôn Tiền Phong) khi được hỏi về việc phát triển năng khiếu thể thao ở độ tuổi thiếu niên, cô cho

biết: “Ai cũng mong con mình khỏe mạnh Các gia đình trên thành phố có

điều kiện cho con mình tham gia những lớp học võ, bóng đá, cầu lông để phát triển thể lực dựa vào năng khiếu, sở thích của con cái họ; còn ở quê nhà mình thì làm gì có điều kiện, mà kể cả có điều kiện cũng không tìm được chỗ cho con học, có nhà thiếu nhi thành phố vào các dịp hè có mở các lớp bồi dưỡng năng khiếu cho các con thì lại ở tận thành phố, cách quê mình tới gần chục

km Mọi người trong gia đình thì bận bịu với công việc đồng áng, kiếm tiền Các con đi học về rồi lại đi làm phụ giúp cha mẹ thì làm gì có thời gian Việc phát hiện và phát triển năng khiếu các môn thể thao và rèn luyện thể lực là việc của các thầy cô giáo dạy thể dục ở nhà trường Em Hương nhà cô cũng được thầy giáo dạy thể dục chọn đi bồi dưỡng chạy xa để thi học sinh giỏi môn thể dục nhưng cô không muốn cho em tham gia Học như thế vừa mệt, vừa mất thời gian Việc học các môn văn hóa vẫn cần thiết hơn”

Sự hạn chế trong nhận thức và tư duy của một bộ phận không nhỏ các bậc cha mẹ đã có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển thể chất của trẻ

em Nếu như chiều cao trung bình của các em ở tuổi 15 trên cả nước là 150cm (tính theo công thức áp dụng với trẻ từ 11 tuổi đến 15 tuổi: Chiều cao = 75 + 5n, (n là số tuổi tính theo năm)); cân nặng trung bình trên cả nước của các em

ở độ tuổi này là 41kg (tính theo công thức áp dụng cho các em từ 11 tuổi đến

15 tuổi: Cân nặng = 21 + 4(n-1), (n là số tuổi tính theo năm)) thì trẻ em ở hai thôn Tiền Phong và Quyết Thắng mới chỉ đạt mức trung bình về chiều cao là 147cm, cân nặng là 38kg, thấp hơn mặt bằng chung của cả nước

Một vấn đề quan trọng tác động không nhỏ tới sự phát triển thể chất của trẻ ở lứa tuổi thiếu niên là vấn đề sức khỏe sinh sản Ở lứa tuổi này, sau

Trang 33

giai đoạn đầu hoang mang, các em bắt đầu có hứng thú với bản thân và thích

tự khám phá cơ thể mình Tính tò mò trong hoàn cảnh có sự lan truyền của các văn hóa phẩm độc hại đã đẩy nhiều em vào việc quan hệ tình dục sớm Nhiều em phải đi nạo thai trong khi “tác giả” của nó vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường hoặc đang chơi ở nơi nào đó, khi cơ thể các em chưa đủ trưởng thành để làm mẹ Quan hệ tình dục sớm có thể dẫn tới những hậu quả đáng tiếc và gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của cả nam và nữ Chính vì vậy, gia đình phải trang bị cho các em những kiến thức cần thiết về vấn đề giới tính, đặc biệt là về tình dục

Gia đình có ưu thế hơn cả so với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục giới tính cho lứa tuổi thiếu niên Các thành viên trong gia đình cùng sống trong một nhà, quan hệ giữa cha mẹ và con cái và các anh chị

em trong gia đình trực tiếp và thường xuyên hơn các mối quan hệ khác trong cuộc sống của trẻ Điều đó có nghĩa cha mẹ có nhiều cơ hội để tác động tới con trẻ, cho con trẻ giãi bày những băn khoăn, thắc mắc có tính chất thầm kín để cha mẹ có thể giải đáp và kịp thời tránh cho trẻ những hiểu lầm dẫn tới hậu quả đáng tiếc

Có tới 97% các bậc cha mẹ chưa bao giờ nói chuyện với con về vấn đề tình dục; chỉ có 3% các bậc cha mẹ đã từng “nói qua” về vấn đề này Hầu hết các bậc cha mẹ đều cho rằng tình dục là chuyện kín đáo, tế nhị, thuộc về bản năng của con con người, tới một giai đoạn nào đó các em sẽ tự biết

Chị Trần Thị Lan (37 tuổi, công nhân may, đội 12, thôn Quyết Thắng, nhà có 2 cô con gái (một cô đang học lớp 7, một cô đang học lớp 9) cho biết:

chị chưa bao giờ nói chuyện với các con về vấn đề quan hệ tình dục, vì đây là vấn đề “khó nói”, bản thân chị cũng không hiểu nhiều và hiểu một cách khoa học về vấn đề này, nếu không giáo dục đúng cách sẽ vô tình tăng thêm sự tò

Trang 34

mò cho các con, các con của chị cũng chưa bao giờ hỏi chị về những kiến thức liên quan tới tình dục

Anh Trần Văn Dương (36 tuổi, thợ xây, đội 10, thôn Tiền Phong) lại

cho rằng, việc giáo dục giới tính, tình dục là việc của các thầy cô ở trường

thông qua môn Sinh học

Từ kết quả điều tra trên cho thấy các gia đình chưa ý thức được tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính, quan hệ tình dục cho trẻ em, mặc dù giáo dục giới tính bắt đầu chính từ gia đình Không ít bậc cha mẹ cho rằng, giáo dục giới tính, giáo dục tình dục cho con cái là một điều gì đó không trong sạch, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức nên ít có sự trao đổi với con cái về vấn đề này; thậm chí còn trách mắng khi con mình tò mò đặt ra những câu hỏi về giới tính hay tình dục

Giáo dục giới tính cho các con là việc làm cần thiết mà các bậc cha mẹ phải thực hiện Cha mẹ là những người có trách nhiệm phải truyền đạt cho con những kiến thức đúng đắn về quan hệ tình dục; tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra như nạn nạo phá thai, quan hệ tình dục không an toàn có thể mắc những bệnh truyền nhiễm… gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển thể lực của các con Nếu như có sự nói chuyện, tâm sự trực tiếp con cái sẽ cởi mở hơn với cha mẹ Đồng thời, cha mẹ có thể khuyên dạy và chỉ bảo cho con biết

rõ quan hệ tình dục ở lứa tuổi này không phải là chuyện riêng tư mà có sự quan tâm ràng buộc với xã hội, sẽ gây ảnh hưởng tới rất nhiều mặt và không

có lợi cho sự phát triển của chúng

Thể chất của thiếu niên cũng sẽ không thể phát triển bình thường khi các em mắc vào các tệ nạn xã hội như may túy, cờ bạc, mại dâm… tác hại của các tệ nạn xã hội là rất lớn, làm giảm đi khả năng miễn dịch của các em với các loại bệnh tật Để giúp các em tránh xa những tệ nạn xã hội, gia đình phải

Trang 35

tạo cho các em một môi trường sống lành mạnh; định hướng cho các em những giá trị nhân cách; gần gũi, động viên, lắng nghe tâm tư tình cảm, giúp các em tự chủ, nỗ lực vượt khó, có tính độc lập không ỷ lại vào cha mẹ và người khác

Bạo lực gia đình cũng là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển thể lực của trẻ em, những em nhỏ thường xuyên bị bạo lực về mặt thể xác sẽ không thể phát triển khỏe mạnh bình thường Bên cạnh đó, về mặt tâm lí các em cũng bị ảnh hương rất nặng nề Các em khó có điều kiện để phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

Sức khỏe là vốn quý , là nguồn hạnh phúc lớn lao của con người, không

có sức khỏe là điều bất hạnh nhất trong cuộc đời của mỗi người Ở phương Tây có câu châm ngôn: “Mất tiền là mất ít, mất thời gian là mất nhiều, mất sức khỏe là mất tất cả.”

Thật vậy, để sống hạnh phúc con người cần có ba điều kiện: trí tuệ tình cảm và sức khỏe Trí tuệ giúp con người học tập tốt và tìm ra các phương pháp lao đông sáng tạo; tình cảm giúp con người sống tốt với mọi người xung quanh , biết hợp tác với cộng đồng xã hội; còn sức khỏe là điều kiện quan trọng để con người có thể tham gia tất cả các hoạt động sống Chính vì thế, các gia đình cần phải có sự quan tâm hơn nữa về việc phát triển thể chất cho trẻ lứa tuổi thiếu niên

2.2.2 Văn hóa gia đình với trí tuệ của trẻ em

Mỗi con người khi sinh ra có cấu tạo não bộ khác nhau do cha mẹ di truyền bẩm sinh Song để phát triển não bộ, trí tuệ thì lại phải qua quá trình học tập rèn luyện lâu dài, quá trình học tập rèn luyện đó phải được diễn ra cả

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh - Đỗ Thị Châu - Nguyễn Thạc (2003), Hành động - Giao tiếp - Nhân cách, Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành động - Giao tiếp - Nhân cách
Tác giả: Hoàng Anh - Đỗ Thị Châu - Nguyễn Thạc
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nộ
Năm: 2003
2. Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Hy (2002), Công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở
Tác giả: Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Hy
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 2002
3. Mai Huy Bích (2010), Xã hội học gia đình, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2010
4. Bùi Đình Châu (tuyển chọn và biên soạn) (2002), Văn hóa gia đình, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình
Tác giả: Bùi Đình Châu (tuyển chọn và biên soạn)
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 2002
5. Lê Quy Đức và Vũ Thị Huệ (2003), Người phụ nữ trong văn hoá gia đình đô thị, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ trong văn hoá gia đình đô thị
Tác giả: Lê Quy Đức và Vũ Thị Huệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2003
6. Lê Như Hoa (2001), “Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em” Viện Văn hóa, Nhà xuất bản Văn nghệ thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em”
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn nghệ thông tin
Năm: 2001
7. Hội thảo khoa học quốc tế (2012), Thực trạng và tương lai của gia đình trong thế giới hội nhập, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và tương lai của gia đình trong thế giới hội nhập
Tác giả: Hội thảo khoa học quốc tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 2012
8. Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý (2007), Gia đình học, Nhà xuất bản Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
Năm: 2007
9. Vũ Ngọc Khánh (1998), Văn hóa gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
Năm: 1998
10. Nguyễn Linh Khiếu (2003), Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2003
12. Tương Lai (chủ biên) (1996), Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam, Quyển 2, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam
Tác giả: Tương Lai (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1996
13. Mai Quỳnh Nam (2002), Gia đình trong tấm gương xã hội học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình trong tấm gương xã hội học
Tác giả: Mai Quỳnh Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2002
14. P. Ăng ghen (1996), Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của Nhà nước, Nhà xuất bản Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của Nhà nước
Tác giả: P. Ăng ghen
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1996
15. Thái Quỳnh (2008), Những nguyên tắc vàng dành cho cha mẹ, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên tắc vàng dành cho cha mẹ
Tác giả: Thái Quỳnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 2008
17. Ủy ban Dân số - Gia đình và trẻ em (2004), Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam
Tác giả: Ủy ban Dân số - Gia đình và trẻ em
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 2004
18. Ủy ban Dân số - Gia đình và trẻ em (2001), Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Ủy ban Dân số - Gia đình và trẻ em
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên (2008), Lịch sử tỉnh Hưng Yên, Quyển 1, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 2008
20. Vụ Gia đình, Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch (2008), Các kiến thức chung về gia đình, Tài liệu giáo dục đời sống gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kiến thức chung về gia đình
Tác giả: Vụ Gia đình, Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch
Năm: 2008
21. Lê Ngọc Văn (2011), Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Văn
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2011
22. Hoàng Vinh(2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w