Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam, với hình dạng chữ S, là quê hương của 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc mang đến những nét văn hóa riêng biệt, tạo nên sự đa dạng nhưng thống nhất cho văn hóa Việt Nam Sự khác biệt này được thể hiện qua phong tục tập quán độc đáo của từng tộc người, là di sản văn hóa quý giá từ các thế hệ trước Thế hệ hiện tại có trách nhiệm hiểu và tôn trọng những giá trị văn hóa này, nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Cưới xin và hát Quan lang trong đám cưới có vai trò quan trọng trong văn hóa Việt Nam, đặc biệt là trong từng tộc người, vì chúng không chỉ phản ánh đời sống tâm linh mà còn đánh dấu những sự kiện quan trọng trong cuộc đời Đây là hình thức sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng, thể hiện giá trị văn hóa cổ truyền, quy ước ứng xử, giao tiếp giữa cá nhân và cộng đồng, cũng như với tổ tiên và thần linh Qua đó, ta thấy được những khát vọng sống, nét đẹp, đạo lý và các môn nghệ thuật, diễn xướng, tất cả đều có tác động sâu sắc đến tình cảm con người Đám cưới của người Tày cũng chứa đựng đầy đủ những yếu tố này.
Cộng đồng người Tày tại Việt Nam, đặc biệt là ở tỉnh Lào Cai, đã thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo của mình qua nhiều thế hệ Trong bối cảnh đổi mới của đất nước, người Tày xã Dương Quỳ không ngừng nỗ lực khẳng định vị thế và đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục để nâng cao hơn nữa vai trò của cộng đồng trong sự phát triển chung.
Xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, là nơi sinh sống của người dân tộc Tày, họ chiếm phần lớn dân số ở đây và gìn giữ nhiều phong tục tập quán đặc sắc, trong đó nổi bật là tục hát Quan lang trong các lễ cưới truyền thống.
Trong bối cảnh đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đang nỗ lực lãnh đạo để nhân dân thoát nghèo và phát triển toàn diện Người Tày xã Dương Quỳ cũng tích cực giao lưu văn hóa với các dân tộc khác, làm phong phú đời sống văn hóa và tạo điều kiện cho sự phát triển văn hóa dân tộc Tuy nhiên, sự giao thoa này cũng dẫn đến nhiều biến đổi, khiến các giá trị văn hóa truyền thống, như tục hát Quan lang trong đám cưới, đang dần bị mai một.
Là một người dân tộc Tày và đang theo học tại khoa Văn hóa Dân Tộc Thiểu số, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tôi rất mong muốn nghiên cứu phong tục tập quán của dân tộc mình Đặc biệt, tôi chưa hiểu rõ về các nghi lễ trong đám cưới, đặc biệt là tục Hát quan lang, một phần quan trọng trong lễ cưới truyền thống của người Tày.
Người viết đã chọn xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai làm địa điểm nghiên cứu cho khóa luận với tiêu đề: “Tục hát Quan lang trong đám cưới truyền thống của người Tày”.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa Việt Nam được hình thành từ sự kết hợp của 54 dân tộc, tạo nên một bức tranh văn hóa phong phú và đa dạng Các dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong việc làm giàu thêm bản sắc văn hóa chung của đất nước, mang đến những nét đẹp văn hóa độc đáo và phong cách riêng biệt.
Dân tộc Tày sở hữu văn hóa và phong tục tập quán độc đáo, khác biệt so với các dân tộc khác Nghiên cứu về dân tộc Tày đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học và văn hóa học Một số công trình tiêu biểu như cuốn sách “Đến với người Tày và văn hóa Tày” và “Hát Quan Lang trong đám cưới của người Tày” của TS La Công Ý, cùng nhiều tác phẩm khác như “Các dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn” đã góp phần làm nổi bật giá trị văn hóa của dân tộc này.
Đám cưới của dân tộc Tày được khám phá qua các tác phẩm như “Đám cưới của dân tộc Tày” của GS Hoàng Nam, “Các nghi thức tôn giáo tín ngưỡng của người Tày”, cùng cuốn “Dân ca đám cưới Tày - Nùng” của Nông Minh Châu và “Tục cưới xin của người Tày” của Triều Ân, Hoàng Quyết Những tác phẩm này không chỉ ghi lại phong tục tập quán mà còn phản ánh sâu sắc văn hóa và tín ngưỡng của người Tày.
Phong tục cưới xin và hát Quan lang trong đám cưới truyền thống của người Tày Lào Cai đã được đề cập trong một số bài viết, nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào về phong tục cưới xin của người Tày tại xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn Hát Quan lang vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc trong các dịp cưới hỏi, thể hiện nhu cầu sinh hoạt văn hóa đặc sắc Mỗi địa phương có những sắc thái riêng trong việc thể hiện hát Quan lang, vì vậy nghiên cứu về phong tục này sẽ giúp khám phá sự phong phú và đa dạng của nó Những tài liệu hiện có chính là nguồn cảm hứng cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tục hát Quan lang trong đám cưới truyền thống của người Tày xã Dương Qùy nhằm khám phá phong tục, tập quán và đời sống vật chất, tâm tư tình cảm của người Tày qua lời hát này Qua đó, ta nhận thấy tài năng nghệ thuật của các nghệ nhân dân gian và những giá trị văn hóa tinh thần của Hát Quan lang Bài viết mong muốn góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là tục Hát Quan lang trong đám cưới truyền thống Đồng thời, nghiên cứu cũng đưa ra khuyến nghị và giải pháp để bảo tồn và phát triển tục lệ này trong đời sống của người Tày.
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY XÃ DƯƠNG QUỲ VÀ TẬP QUÁN CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG
Khái quát về người Tày xã Dương Quỳ
1.1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên
Dương Quỳ là một xã miền núi thuộc khu vực III của huyện Văn Bàn, nằm trong khoảng tọa độ địa lý:
Từ 21 o 56’ 30”đến 22 o 04’08”độ vĩ Bắc
Từ 103 o 50’02” đến 103 o 54’30” độ kinh Đông
Xã có các mặt tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp xã Dần Thàng, Hòa Mạc
Phía Tây giáp xã Thẩm Dương
Phía Đông giáp xã Làng Giàng, xã Khánh Yên Trung
Phía Nam giáp xã Nậm Xây
Với tổng diện tích tự nhiên là 10.487,0 ha nằm cách trung tâm huyện lị 15km về phía Tây Nam,có đường quốc lộ 279 chạy qua trung tâm xã
Địa hình Dương Quỳ bao gồm nhiều dãy núi chạy theo hướng Bắc-Nam, dần thấp hơn về phía quốc lộ 279 và suối Chăn, với độ chia cắt tạo ra nhiều vách đứng cao và hợp thủy sâu hẹp Cánh đồng Dương Quỳ có độ cao tuyệt đối thấp nhất là 220m, trong khi đỉnh núi giáp ranh giữa xã Nậm Xây và xã Khánh Yên Trung đạt độ cao 2629m, với độ cao trung bình khoảng 800m và độ dốc trung bình khoảng 30 độ, có nơi lên tới 40-45 độ Nhìn chung, địa hình Dương Quỳ được chia thành ba dạng chính: núi thấp, núi trung bình và núi cao.
Dương Quỳ có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 10 năm trước đến hết tháng 3 năm sau, thường có mưa phùn và nhiệt độ trung bình khoảng 20°C - 15°C Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,9°C, với tổng tích ôn trung bình từ 7.500°C đến 8.000°C Số giờ nắng trung bình hàng năm dao động từ 1.400 đến 1.470 giờ.
- Độ ẩm không khí trung bình trong năm là 86 %, cao nhất vào tháng 7 từ 80% - 90 % , thấp nhất vào tháng 12 từ 65 % - 75 %
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.500 mm, với tháng 7 đến tháng 10 là thời điểm có lượng mưa cao nhất, chiếm tới 70% tổng lượng mưa cả năm Ngược lại, mùa đông có lượng mưa thấp nhất, trung bình từ 50 mm đến 150 mm mỗi tháng.
Gió tại khu vực này có hai hướng chính theo mùa: vào mùa hè, gió thổi từ hướng Đông Nam, trong khi mùa đông có gió từ hướng Đông Bắc Từ tháng 3 đến tháng 9, thường xuất hiện đợt gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng kéo dài từ 5 đến 7 ngày.
- Sương: sương mù thường xuất hiện vào các ngày mùa đông giá rét đôi khi còn có ngày xuất hiện sương muối
Tóm lại, điều kiện thời tiết và khí hậu tại địa phương mang đến cả những thuận lợi và khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sản xuất của người dân trong xã.
Xã có diện tích tự nhiên lớn và địa hình phức tạp, dẫn đến việc hình thành nhiều khe suối, với mật độ bình quân từ 1 – 1,3 km trên mỗi km² Tất cả các khe suối này đều nằm trong lưu vực của suối Chăn, bao gồm các con suối chính như suối Chăn, suối Nậm Tùn, suối Nậm Chỗ, suối Nậm Hốc và suối Nậm Chút.
Các con suối thường có lưu lượng nước nhỏ, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Tuy nhiên, do có nhiều đá nổi và thác ghềnh, khả năng vận chuyển đường thủy rất hạn chế Vào mùa mưa, tình hình giao thông thường bị ảnh hưởng.
Dương Quỳ sở hữu nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, bao gồm tài nguyên đất, nước, rừng và khoáng sản Ngoài ra, xã còn có tài nguyên nhân văn đặc sắc với dân số lớn từ 5 dân tộc anh em: Tày, Dao, Thái, Xa Phó và Kinh Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, chữ viết và phong tục tập quán riêng, góp phần tạo nên sự đa dạng và bản sắc văn hóa độc đáo của khu vực.
1.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
+ Thực trạng phát triển kinh tế:
Kinh tế xã Dương Quỳ đã có sự tăng trưởng rõ rệt trong những năm qua, khắc phục khó khăn trước đây và chuyển mình sang giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tổng thu ngân sách hàng năm tăng lên, đồng thời thu nhập của người dân cũng dần cải thiện, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng đời sống.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và nỗ lực của người dân địa phương, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng, thương mại và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng ngành nông – lâm nghiệp Sự chuyển dịch này bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao thông qua sản xuất hàng hóa.
Theo thống kê, xã có 893 hộ gia đình với 4.928 nhân khẩu, bao gồm 5 dân tộc: Tày, Dao, Thái, Xa Phó và Kinh Mặc dù trình độ dân trí đã được nâng cao và kế hoạch hóa gia đình được thực hiện, tỷ lệ tăng dân số vẫn còn cao, tạo ra sức ép lớn trong việc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế.
Xã có mật độ dân số trung bình khoảng 47 người/km2, thấp hơn so với mức trung bình của toàn huyện Dân số không phân bố đồng đều, chủ yếu tập trung ở các khu vực thung lũng bằng phẳng, xung quanh các cánh đồng ven suối lớn, dọc theo đường quốc lộ 279 và trên các sườn đồi.
1.1.2 Tên gọi, nguồn gốc, lịch sử cư trú
Người Tày, thuộc hệ ngôn ngữ Tày – Thái, là dân tộc thiểu số đông nhất tại Việt Nam, cư trú rải rác ở nhiều tỉnh với điều kiện địa lý và khí hậu khác nhau Mặc dù có sự phát triển kinh tế xã hội không đồng đều, cộng đồng người Tày vẫn giữ được sự đồng nhất về văn hóa và có ý thức mạnh mẽ về tộc danh của mình Từ Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang đến Lạng Sơn, họ tự gọi mình là người Tày (Cần Tày), và tên gọi này đã chính thức được công nhận từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Theo các nhà dân tộc học, danh xưng Tày không chỉ dành riêng cho một dân tộc mà còn phổ biến cho nhiều dân tộc cùng ngôn ngữ ở Đông Nam Á và Nam Trung Quốc Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Tày, cùng với các biến âm như Tai, Tải, Thai, đều mang nghĩa "người tự do" Ngoài tên gọi Tày, trước đây người Tày ở Việt Nam còn được gọi là Thổ, một tên gọi phổ biến ở Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam, có nghĩa là người bản địa hoặc cư dân lâu đời.
Người Tày ở xã Dương Quỳ có mặt từ rất sớm, nhưng hiện tại chưa có tài liệu chính xác nào xác định nguồn gốc của họ Ngay cả những người cao tuổi nhất trong vùng cũng không còn nhớ rõ về nguồn gốc dân tộc của mình.
Hiện nay dân tộc Tày đã phát triển lên rất nhiều về số lượng và diện tích sinh sống
Khái quát tập quán cưới xin truyền thống của người Tày xã Dương Quỳ
Người Tày Dương Quỳ trước đây chủ yếu kết hôn trong nội bộ dân tộc, nhưng cấm hôn nhân trong cùng dòng họ trừ họ xa Các cặp đôi thường chọn nơi ăn hỏi khi mới 13-14 tuổi và kết hôn ở độ tuổi 16-17 Sau khi cưới, con dâu sẽ về sống với nhà chồng và chỉ trở về bên ngoại vào những dịp lễ lớn Hôn nhân của người Tày là một vợ một chồng, với gia đình phụ quyền, tạo nên sự bền vững lâu dài.
Người Tày xã Dương Quỳ huyện Văn Bàn coi hôn nhân là sự kiện quan trọng nhất trong đời người, không chỉ là việc riêng của đôi nam nữ mà còn là trách nhiệm của cả gia đình và dòng họ Họ tin rằng việc dựng vợ gả chồng cho con cái nhằm mục đích xây dựng tổ ấm gia đình, tạo nền tảng vững chắc cho cuộc sống hạnh phúc Ngoài ra, hôn nhân trong văn hóa người Tày còn mang nhiều ý nghĩa khác nhau, thể hiện sự liên kết và trách nhiệm trong cộng đồng.
Lấy vợ, lấy chồng cho con cái là thực hiện nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ và tổ tiên Mục đích chính của việc xây dựng gia đình là để sinh con, duy trì nòi giống và có người nối dõi, từ đó tiếp tục thờ cúng tổ tiên.
Tăng thêm sức lao động để phát triển kinh tế, với họ nhà có nhiều con cái sẽ có nhiều lao động, nhiều ruộng đất
Theo quan niệm của các tộc người, đặc biệt là người Tày, dòng họ có nhiều con cháu thường được xem là có vị thế cao trong cộng đồng và mang lại nhiều phúc đức cho gia đình.
2.2.2 Nghi th ứ c c ướ i xin truy ề n th ố ng c ủ a ng ườ i Tày Đám cưới truyền thống của người Tày xã Dương Quỳ được tiến hành tuần tự theo các bước sau đây:
2.2.2.1 Đánh tiếng (pay dò tang/ pay long căm)
Khi một chàng trai Tày ở xã Dương Quỳ có tình cảm với một cô gái, bố mẹ anh sẽ hỏi ý kiến con trai về việc kết hôn Nếu chàng trai đồng ý, gia đình sẽ nhờ một người thân thiết, có thể là em thím, đến thăm gia đình cô gái để dò hỏi ý kiến Nếu gia đình cô gái có thái độ tích cực, người đại diện sẽ trở về thông báo cho gia đình nhà trai.
2.2.1.2 Dạm ngõ (pay tham pặư)
Dạm ngõ là bước đầu tiên quan trọng trong quá trình tổ chức đám cưới, với vai trò của bà mối đóng góp rất lớn Khi gia đình nhà trai nhận được tín hiệu từ nhà gái, họ sẽ tìm đến bà mối, người thường là những người đã có gia đình hạnh phúc và con cái thành đạt, để thưa chuyện với nhà gái về ý định kết hôn.
Với người Tày xã Dương Quỳ, trong lễ dạm ngõ người làm mối phải sang nhà gái thưa chuyện ba lần, khi đi không mang theo lễ vật gì
Trong lần đầu và lần thứ hai, người làm mối đến thưa chuyện với gia đình nhà gái, nhưng bố mẹ cô gái chưa đồng ý và tìm cách né tránh câu trả lời dứt khoát Họ có thể sẽ yêu cầu bà mối đợi để hỏi ý kiến của cô gái trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.
Lần thứ ba, bà mối đến nhà gái để hỏi, và lần này sẽ có câu trả lời rõ ràng Nếu không đồng ý, bố mẹ cô gái sẽ khéo léo từ chối với lý do hợp lý; ngược lại, nếu đồng ý, họ sẽ thông báo cho bà mối Nhiệm vụ của bà mối là thông báo cho nhà trai chuẩn bị lễ vật cho buổi ăn hỏi.
2.2.2.3 Lễ ăn hỏi (kin lảu pu, lảu cáy)
Sau khi nhận được sự đồng ý từ nhà gái, nhà trai sẽ tổ chức họp gia đình để chuẩn bị lễ vật mang sang nhà gái Họ sẽ cử một người đại diện, thường được gọi là ông mối (pú sứ), để thông báo ngày cưới và thảo luận với nhà gái về số lượng khách mời, thường dao động khoảng 5 người.
Vào ngày hẹn, nhà trai sẽ mang lễ vật sang, bao gồm 2 con gà, 1 con lợn nặng từ 60 đến 70 kg, 1 vại rượu và 20 đến 30 kg gạo tẻ Số lượng khách mời có thể khác nhau tùy thuộc vào từng gia đình.
Trong lễ ăn hỏi, ông mối đại diện cho nhà trai sẽ thương thảo với đại diện nhà gái về đồ thách cưới và ngày cưới Truyền thống của người Tày tại xã Dương Quỳ quy định sau lễ ăn hỏi, hai bên sẽ chờ ba năm mới tổ chức lễ cưới Khoảng thời gian này giúp các gia đình chuẩn bị đầy đủ đồ thách cưới và của hồi môn.
Lễ cưới truyền thống của người Tày tại xã Dương Quỳ, Văn Bàn được tổ chức đơn giản và kéo dài trong ba ngày Nhà trai sẽ chọn ngày tốt để tiến hành lễ cưới và theo phong tục, họ phải chuẩn bị toàn bộ đồ ăn cho khách mời nhà gái Trong thời gian này, nhà gái chỉ cần tiếp khách và chuẩn bị đồ dùng cho lễ cưới, trong khi nhà trai lo việc bếp núc và phục vụ cho nhà gái.
2.2.2.5 Lễ lại mặt (Tao hoi tin)
Sau ba ngày lễ cưới, bố mẹ chồng sẽ chuẩn bị lễ vật cho cặp vợ chồng trẻ, bao gồm hai con gà, vài lít rượu và 3-5 kg gạo nếp, để cô dâu về thăm gia đình và lấy đồ dùng cá nhân còn lại Từ thời điểm này, cô dâu không còn tự do trở về nhà bố mẹ đẻ mà phải xin phép bố mẹ chồng Đồng thời, cô dâu cũng phải chăm sóc và hỗ trợ bố mẹ chồng như chính bố mẹ của mình.
Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về tự nhiên, kinh tế và xã hội nơi sinh sống của người Tày Dương Quỳ, những yếu tố quyết định đến đời sống văn hóa và kinh tế của họ Qua hàng ngàn năm tương tác với môi trường tự nhiên, người Tày tại Dương Quỳ đã hình thành những giá trị vật chất, tinh thần và tổ chức xã hội độc đáo, phản ánh bản sắc văn hóa riêng biệt của cộng đồng này.
TỤC HÁT QUAN LANG TRONG ĐÁM CƯỚI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TÀY XÃ DƯƠNG QUỲ, VĂN BÀN, LÀO CAI 22 2.1 Một số khái niệm chung
Dân ca
Dân ca là một khái niệm gây nhiều tranh cãi với nhiều định nghĩa khác nhau, phụ thuộc vào phương pháp và quan điểm nghiên cứu Nhiều nghiên cứu cho rằng dân ca không chỉ bao gồm âm nhạc truyền thống mà còn cả các thể loại âm nhạc phát triển từ nó trong quá trình phục hồi dân gian vào thế kỷ 20 Thuật ngữ "dân ca" lần đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ 19, nhưng thực chất nó đã được sử dụng để chỉ những loại hình âm nhạc có nguồn gốc từ trước đó.
Dân ca truyền thống được hiểu là âm nhạc của tầng lớp thấp và thường không có tác giả rõ ràng, trái ngược với âm nhạc thương mại và cổ điển Nó bao gồm những bài hát cổ không xác định người sáng tác và loại hình âm nhạc được lưu truyền qua truyền khẩu, phát triển theo phong tục qua thời gian dài.
Dân ca Việt Nam, theo tác phẩm “Văn học dân gian Việt Nam”, được định nghĩa là những bài hát do nhân dân sáng tác và lưu truyền, có thể có hoặc không có chương khúc Những bài hát này thường mang nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt về mặt âm nhạc, phổ biến ở từng vùng hoặc nhiều vùng khác nhau.
Dân ca đám cưới Tày là hình thức đối đáp giữa đại diện gia đình nhà trai và nhà gái, thể hiện sự giao lưu giữa nam và nữ Ngoài ra, những người tham dự đám cưới cũng có thể tham gia hát đối đáp, tạo nên không khí vui tươi và gắn kết trong lễ cưới.
Quan lang
Hiện tại, có nhiều nghiên cứu về hát Quan Lang Tày ở một số vùng, nhưng khái niệm cụ thể về Quan lang vẫn chưa được xác định Theo quan điểm của tác giả, Quan lang là những người thể hiện các bài hát trong đám cưới của người Tày Những người hát Quan lang có thể là cả nam và nữ, miễn là họ thuộc cộng đồng và có khả năng sáng tác, góp phần làm phong phú thêm kho tàng dân ca đám cưới của dân tộc.
Trong các nghi lễ cưới xin của dân tộc, việc ứng đối nhanh và khéo léo là rất quan trọng Quan lang và mọi người cần có khả năng trả lời thông minh và tài ứng xử tốt để đối phó với những bài hát và thử thách mà bên đối diện đưa ra.
Hát quan lang
Người Tày sinh sống tại nhiều khu vực khác nhau, mỗi nơi đều mang những sắc thái và đặc trưng văn hóa riêng Trong các lễ cưới, hát Quan lang là một truyền thống phổ biến, tuy có những điểm tương đồng giữa các vùng miền, nhưng vẫn tồn tại những nét đặc trưng riêng biệt Có nhiều quan điểm và ý kiến về hát Quan lang, nhưng có thể hiểu rằng đây là một phần quan trọng trong văn hóa của người Tày, phản ánh sự đa dạng và phong phú trong phong tục tập quán của họ.
Hát Quan lang là hình thức hát ví von, thể hiện sự khéo léo trong ứng xử giữa ông bà Quan lang của hai bên gia đình trong lễ đón dâu Nó thường diễn ra khi đoàn nhà trai đến đón dâu hoặc khi đoàn nhà gái đưa dâu sang nhà trai, nhằm ca ngợi và thách đố tài năng của các bậc cao niên.
Hát Quan lang là một tập hợp các bài ca truyền thống được sử dụng trong đám cưới, với số lượng lên đến hàng ngàn câu và hàng trăm bài khác nhau Hệ thống này được chia thành các phần cụ thể, mỗi phần tương ứng với những hành động và lễ thức diễn ra trong lễ cưới.
Theo tác giả Triều Ân và Hoàng Quyết, Thơ Quan lang – Pả mẻ được hiểu là thơ đám cưới hay hát đám cưới, trong đó việc ngâm thơ thường diễn ra, đặc biệt do Quan lang hoặc Pả mẻ (đại diện của hai họ) thực hiện khi đón hoặc đưa dâu.
Thơ Quan lang – Pả mẻ là một loại hình nghệ thuật dân gian có nguồn gốc lâu đời, xuất hiện từ những ngày đầu khi con người tổ chức các hoạt động văn nghệ cộng đồng trong các buổi lễ hôn nhân.
Hát Quan lang là một loại hình nghệ thuật dân ca độc đáo, khác biệt với các thể loại như Phong Sla, Sli, Lượn, Then, mang tính chất sinh hoạt văn nghệ quần chúng nhưng cũng gắn liền với phong tục nghi lễ cưới xin của người Tày Mặc dù chưa có định nghĩa rõ ràng về Hát Quan lang, nhưng các ý kiến đều hướng đến một khái niệm chung, thể hiện sự thống nhất trong cách hiểu về loại hình nghệ thuật này.
Thơ Quan lang là thể loại thơ hôn lễ đặc trưng của dân tộc Tày, trong đó "Quan" chỉ người đàn ông lớn tuổi chưa lập gia đình và "Lang" là con rể Người đảm nhận vai trò dẫn dắt chàng rể đi đón dâu được gọi là ông Quan lang, người này có trách nhiệm chính trong đoàn đưa chàng rể đến nhà gái Tại đây, ông Quan lang thường ngâm các bài thơ để thực hiện các nghi thức hôn nhân, do đó những bài thơ này được gọi là thơ Quan lang.
Hát Quan lang là một phần quan trọng trong đám cưới, góp phần tạo nên không khí vui tươi và phấn khởi cho buổi lễ Tài năng ca hát và thơ ca của ông Quan lang quyết định sự thành công của cuộc vui, khiến cho dân ca này được biết đến với nhiều tên gọi như "dân ca đám cưới" hay "thơ lẩu".
“lượn lẩu” (lượn rượu, lượn đám cưới) [8, tr203]
Ba là một loại thơ vấn đáp trong lễ cưới, còn được gọi là thơ "Quan lang" và "Pả mẻ" Thể loại này chủ yếu do các đại diện của hai bên gia đình, nhà trai (rể) và nhà gái (dâu), thể hiện trong các nghi thức như đón dâu và đưa dâu Quan lang thường là nam giới, trong khi Pả mẻ là nữ giới.
Bốn là: Thơ Quan lang là loại thơ dân gian truyền miệng của đồng bào
Lối hát đối đáp trong nghi lễ xin dâu và đưa dâu của người Tày thể hiện sự giao tiếp giữa hai bên, với Quan lang đại diện cho nhà trai và Pả mẻ slống lùa đại diện cho nhà gái.
“Quan lang” là cách phát âm theo phương ngữ Tày ở Cao Bằng, trong khi nhiều vùng khác gọi là “Quan làng” Thời gian diễn ra thơ Quan lang bắt đầu khi nhà trai đến cổng làng nhà gái.
Theo các nhà nghiên cứu Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên: Hát
Quan lang là hệ thống các bài ca được sử dụng trong đám cưới của người
Hệ thống bài ca Tày trong đám cưới có thể kéo dài hàng ngàn câu, chia thành các phần tương ứng với từng hành động và lễ thức cụ thể Quan lang, đại diện nhà trai, đóng vai trò chính trong việc hát, và tên gọi của bài hát cũng bắt nguồn từ nhân vật này Nội dung của các bài hát chủ yếu là chỉ bảo, răn dạy và thể hiện lối ứng xử tinh tế trong cuộc sống Trong lễ cưới, lời hát không chỉ thay cho lời chào xã giao mà còn thể hiện tình cảm trân trọng giữa các bên.
2.2 Đặc điểm chính của hát Quan lang và hát Quan lang trong đám cưới truyền thống của người Tày xã Dương Quỳ
Môi trường diễn xướng
Lễ cưới truyền thống của người Tày tại xã Dương Quỳ diễn ra tại nhà của cô dâu hoặc chú rể trong một thôn bản nhất định, với không gian mở cho các hoạt động hát hò Người tham dự không chỉ theo dõi mà còn tham gia cổ vũ, tạo nên không khí sôi động cho lễ cưới và các nghi thức diễn ra Khung cảnh xóm làng miền núi, đặc biệt là những bậc thang nhà sàn, là nơi cô dâu bước xuống để về nhà chồng, đánh dấu sự khởi đầu cuộc sống mới Ngày cưới là dịp quần tụ của bà con, họ hàng, tất cả đều hồi hộp hướng về đoàn khách, theo dõi từng hành động và ứng xử của họ trong bối cảnh lễ tục và những lời thơ đối đáp ngọt ngào từ ông Quan lang, bà Pẻ mả.
Đặc điểm về nội dung các bài hát
Người Tày Dương Quỳ tin rằng giao tiếp cần sử dụng những lời hay, ý đẹp, đặc biệt trong các dịp trang trọng như lễ cưới Đây không chỉ là một buổi lễ trang trọng mà còn là dịp thể hiện tình cảm và sự tôn trọng giữa hai gia đình Trong văn hóa của người Tày, việc cưới hỏi không dễ dàng, vì con gái được nuôi dưỡng cẩn thận, do đó nhà trai phải vượt qua nhiều thử thách mà nhà gái đặt ra để có thể rước dâu về.
Các cuộc so tài trong đám cưới không chỉ mang tính sinh hoạt mà còn là nghi lễ diễn ra theo trình tự từ khi nhà trai bắt đầu ăn hỏi cho đến khi đón dâu Ở mỗi vùng, mức độ và tình huống thử thách có sự khác biệt Theo phong tục của người Tày, họ không bao giờ bước qua đồ dùng trong nhà, vì vậy khi gặp vật cản, Quan lang phải hát xin để dọn dẹp, như trong bài hát xin mở cửa (Xò khay tu) Những bài hát này không chỉ thể hiện phong tục mà còn mang nhiều ý nghĩa khác, cho thấy rằng nhà gái không có ý gây khó dễ cho nhà trai mà chỉ thực hiện theo tập quán và hát mừng trong không khí lễ hội.
Đám cưới của người Tày không chỉ là ngày vui của cặp đôi mà còn là sự kiện trọng đại của cả thôn, bản, nơi mọi người tham dự đều vui vẻ và chúc phúc cho đôi uyên ương Trong không khí lễ hội, các gia đình thường tổ chức hát đối đáp, tạo ra những tình huống thử thách thú vị nhằm khơi gợi sự nhiệt tình và hứng khởi Những người hát hay và linh hoạt trong đối đáp sẽ làm cho không khí thêm phần sôi động, thu hút sự chú ý của người nghe, chủ yếu là những người đứng tuổi, những trụ cột trong gia đình.
Trong đám cưới truyền thống của người Tày, hát Quan lang làng được chia thành ba phần: Đón, nộp và đưa Mỗi bài hát thể hiện ý tứ và ứng xử của hai bên gia đình Trong quá trình thực hiện nghi lễ đón dâu, người hát Quan lang phải hát để nhà gái nghe dễ chịu, đảm bảo công việc diễn ra đúng trình tự Nhà gái cũng đáp lại, tạo không khí vui vẻ cho ngày trọng đại của đôi vợ chồng trẻ.
Thử thách bắt đầu khi nhà trai đến cổng nhà gái, nơi họ phải vượt qua nhiều chặng đường khó khăn Tại cổng, đông đảo mọi người tụ tập, và khi nhà trai tiến gần đến cửa, nhà gái sẽ đóng cửa lại để yêu cầu nhà trai trải qua thử thách trước khi được vào Đây là một phần của nghi lễ truyền thống Lúc này, vị Quan lang đại diện cho nhà trai phải hát lên để xin phép nhà gái mở cửa, thể hiện mong muốn được vào nhà.
Chóp mư khỏi xò pay
Ngoái mư khỏi xò chiêng
Síp mự nhăng ồ mừ nạy đì mạc
Síp pà nhăng ồ mừ nạy đì lài
Thân khỏi bó thức pày khuân pết piêng cáy mà chài
Bo thúc pay đù ngô piêng vai ma quá
Thân khỏi chinh thật ma tỏn nang, piêng bang ma tỏn pặư
Củ tin khửn tháng đày mạy kịch
Củ tin khửn sí nọi tan chơn
Củ tin khửn lơn luồng cảu hoỏng
Chóp mừ khỏi xò pay
Ngoái mư khỏi xò chiêng
Cheo là lếch chèo là
Cheo là lếch chèo báo
Soong đếch mà là páo
Soong báo má là sòn Đếch nưng khày tù pẻn mạy lăm pá thí Đếch nưng khày tù pẻn mạy nhi pà thong hẳư khỏi nớ
Cắm tiêng lơn tà piêng nai
Mi sam síp soong chặn khóp
Thân khỏi bo hẹt tô meng nhung cắt lọt đảy
Thân khỏi bo khửn tang nóc pé én đảy
Khỏi bo khảu tù tèn pé lôông đảy
Lếch nưng ma khảy tù pẻn mạy tong khóng lạu
Khày tù hẳư gia chảu
Chắp tay tôi xin thưa ông bà
Hôm nay là ngày lành tháng tốt
Thân tôi không phải đi chăn vịt, chăn gà mà qua Đi chăn trâu, chăn bò mà lại
Thân tôi chính thực đi đón nàng về làm dâu
Bước chân đến cầu thang
Bước chân lên nhà người
Bước chân vào nhà lớn chín gian
Chắp tay xin thưa ông, thưa bà
Mời được trai được gái thanh niên
Cùng xin mở cửa nhà người
Nhà ông bà thông gia
Có 32 thanh gỗ chắn lại
Thân tôi không thể làm con muỗi mà cắn qua được
Cũng không thể giống dơi bay vào nóc nhà được
Cũng không bay lượn vào cửa giống rồng được
Xin ông bà thông gia
Hãy mở cửa để chúng tôi được vào nhà
Sau đó đại diện nhà gái sẽ đáp lại bằng bài: Hát mở cửa (Khắp khay tu): Ới thương lai pú piêng gia thương lai
Chinh thật pú piêng gia bó thức pay đu mạ ma trai
Pay đu ngô piêng vai ma quá
Chinh thật pú piêng gia ma tỏn lục chảu tuổi kinh ngọc pay hẹt lơn Thương lai thân khỏi bo hẳư pú piêng gia khửn tu ten pé luông đảy đơ Cheo la đếch cheo la.
Soong đếch ma cheo bao
Soong báo ma la son Đếch nưng khay tu pẻn lam pha sí Đếch nưng khay tu pẻn mạy mi phá soong
Khay tu tong chất nạu hạư pú piêng gia tuổi núm
Xin thưa ông bà thông gia
Chúng tôi xin cảm ơn ông bà thông gia
Ông bà không chỉ đơn thuần là những người chăn trâu hay chăn ngựa, mà thực sự họ đến để đón con tôi về làm dâu trong gia đình họ.
Thương quá ông bà thương quá
Họ nhà gái chúng tôi không cho ông bà lên nhà giống chim én được đâu Không cho ông bà bay vào cửa sổ giống rồng được đâu
Họ nhà gái chúng tôi cho hai chàng thanhh niên Đến mở của chính cho ông bà thông gia vào
Mở của gỗ mít ghép đôi
Mở của đóng bảy khóa cho thông gia vào nhà
Trong lễ cưới, Quan lang đại diện cho nhà trai sẽ trình bày các bài hát truyền thống, bao gồm hát xin dâu (Khắp xò pặư), hát xin đồ đạc và của hồi môn của cô dâu (Khắp xò chương), cùng với bài hát cám ơn ông bà thông gia (Khắp ơn tà ơn nai) Ngoài ra, còn có những bài hát đối đáp giữa hai gia đình nhà trai và nhà gái, tạo nên không khí vui tươi và gắn kết trong ngày trọng đại.
Hát Quan lang là một nét văn hóa đặc sắc trong đám cưới của người Tày ở xã Dương Quỳ, Văn Bàn, Lào Cai, thể hiện sự tinh tế và tao nhã trong cách ứng xử Trong lễ cưới, đoàn nhà trai phải vượt qua nhiều thử thách do nhà gái đặt ra, với những bài hát đối đáp đầy đủ, lịch sự và lễ độ Sự quý trọng con người được thể hiện qua nghi lễ đón tiếp và thái độ cư xử giữa hai họ, cùng những lời cảm tạ chân thành từ trái tim của người dân Tày Nội dung hát Quan lang nhấn mạnh công lao sinh thành và lòng biết ơn đối với cha mẹ, tổ tiên, phản ánh sâu sắc nghi lễ cưới gắn liền với truyền thống tôn kính tổ tiên của dân tộc Việt.
Người Tày có truyền thống sâu sắc về gia đình và tình mẫu tử, thể hiện qua việc con cái lập gia đình để trưởng thành và tự lập Khi con trai lập gia đình, đó là dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự độc lập và khả năng nuôi sống gia đình Cha mẹ đã dành nhiều năm chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, và giờ đây, con cái phải tự vươn lên đối mặt với cuộc sống Khoảnh khắc thiêng liêng này không chỉ là bước vào đời mà còn là thời điểm để tôn vinh tình mẫu tử Trong không khí trang trọng của đám cưới, tiếng hát về tình mẹ con vang lên, thể hiện nỗi vất vả và sự hy sinh của người mẹ, đặc biệt là những người mẹ miền núi, khiến tình mẫu tử trở nên cao quý hơn bao giờ hết Bài hát trong lễ ăn hỏi như "Căm sứ lảu pu" là minh chứng cho tình cảm sâu sắc này.
Mự đì vên chằn, mự săn vên chiềng
Bòn hoỏng mẹ hoỏng hơn
Nhăng dú càu sao đài, piên báo đai sào chể
Dần dằm chằm chóng, lăm hơn phương khảu
Dợn tó thảu tó quan, dợn tó hơn tó nhá
Bơn thảu bờn pú, bơn ú bờn lung
Hơn ve che cỏm, hỏi hặc mịt nọi
Tốc cang pộc, tốc cang páu
Nhưng đảy ủm hẹt sau, àu hẹt lục
Cìn pết po me pỏn kháy
Cin cáy po me pỏn kha
Cin pa po me pỏn cảng
Nhăng đảy linh lung liệng mắư
Pẳn khảu đi, mí khảu ún
Pẳn khảu ún sắư mư
Từ ngân khèn pày tạ
Pảy năm hung cảu đon
Non hơn hung cảu thồm cảu buông
Nhăng đảy len pày hà thứ
Pắt cáy ma đu nả, khả cáy ma đu tin
Tin cáy nhăng ca,nả cáy nhăng an
Nhăng đảy chăng nang nọi nang nà
Long kép pu xồn tạ, long kép má xồn nờ
Kép pu đảy lài chặp, náp mà đảy lài họi
Nhăng đảy nẻm pu sắư cơi ma phá, khơi má ma mai
Bo mi phắc po me hẳư xôn
Bo mi hơn po me hẳư mạy
Giơ nị pú gia nưng mi bòm đi pan chăn
Ma hẳư thầng lung thầng tà, họ lài pái mắư
Hôm nay là ngày lành, tháng tốt
Giờ tốt trong ngày cũng đã tới
Ngày tháng qua, bên nhà em
Vẫn đầy đủ sum vầy
Em vẫn trong gia đình
Cùng bố mẹ làm ăn
Anh là trai chưa vợ, em là gái chưa chồng
Hai bên gia đình, đã hiểu về nhau
Dựa vào ông vào bà Đồng ý vun đắp xây dựng cho con cháu
Nhớ ngày xưa, khi con được sinh ra Ông bà, cha mẹ ôm ấp con vào lòng
Nuôi vịt bố mẹ cho con ăn trứng
Mổ gà bố mẹ cho ăn còng Ăn cá bố mẹ gỡ xương cho
Con mới được lớn khôn, thành cô gái ngoan hiền
Bố mẹ cho con nắm xôi, cho con bát cơm ấm
Thương con bố mẹ đeo cho con vòng bạc
Ra suối tỏa bốn phương Ở nhà sáng chín gian buồng
Gia đình mới được nhờ ông thầy mối
Bắt gà đến xem mặt, mổ gà ra xem chân
Chân gà thật tốt đẹp, mặt gà thật an lành
Hai bên gia đình thưa chuyện thật suôn sẻ
Mới được sai em nàng bé nhỏ
Xuống vườn dưới hái trầu, lên vườn trên ngắt cau
Hái trầu được nhiều kẹp, đếm cau được nhiều quả
Mới được tiêm trầu vào cơi, đếm cau vào cháp
Dây trầu thắt tình nghĩa thông gia
Không có vườn trồng rau bố mẹ cho con vườn
Con không có nhà ở bố mẹ cho con gỗ
Thì ngày hôm nay ông bà thông gia nhà trai
Mới có mâm cao cỗ đầy Đến trình mời họ nhà gái
Các bài hát Quan lang ca ngợi và tôn vinh người phụ nữ, thể hiện giá trị và vị trí cao quý của họ trong xã hội Qua những thử thách mà Quan lang phải vượt qua để đón dâu, nội dung bài hát nhấn mạnh sự kính trọng và tôn trọng dành cho phụ nữ.
Hát Quan lang Tày ở Dương Quỳ, Văn Bàn, Lào Cai không chỉ là hình thức thử thách bằng thơ mà còn chứa đựng bài học về đạo lý ứng xử và sự trân trọng phụ nữ Bên cạnh đó, nó còn gửi gắm những lời chúc phúc cho hạnh phúc lứa đôi và sự an vui cho gia chủ.
Bài hát "Chúc phúc cho cô dâu, chú rể" (Khắp chúc song phô mê nọi) mang ý nghĩa đặc biệt khi đại diện cho cả hai bên gia đình, nhà trai và nhà gái, cùng gửi gắm những lời chúc phúc tốt đẹp cho cặp đôi trong ngày trọng đại của họ.
Hơi thương lai song lục ơi
Cin khảu đẻ mi thú, cin dú đẻ mi đôi
Chúc hẳư lục chảu pen đôi pét nhá páy, pen đôi cáy nha xê
Hẳư măn pen phô piêng mê tạn thảu
Chúc hẳư phô mê lục chảu mi lu nhinh sứp sai, mi lu trai sứp chư
Hẹt dảo hẳư pen dảo éng phương, hẹt hơn hẳư pen hơn éng bạn
Hẹt hơn hẳư pen hơn mung ngỏi, mự mự páu pí còi năn xong
Hẹt hơn hẳư măn pen hơn mung kha, mự mự hẳư pi nọng pay ma cin dọn Dịch:
Hai con yêu quý ơi! Ăn cơm phải có đũa, ăn ở phải có đôi
Chúc cho hai con của bố mẹ, như đôi vịt không chia, đôi gà không lìa Hãy là vợ chồng sống tới đầu bạc răng long
Chúc cho các con có con gái dệt vải, có con trai nhiều chữ
Làm nhà cho thành nhà đẹp để sánh được với bạn với bè
Làm nhà phải làm nhà ngói, ngày ngày vui hát thổi còi vang xa
Nhà lợp gianh không chỉ là nơi ở mà còn là không gian để anh em tụ tập, chia sẻ cuộc sống Những bài hát Quan lang trong đám cưới người Tày chứa đựng nội dung phong phú và đa dạng, mỗi bài mang đến vẻ đẹp và ý nghĩa riêng Tất cả những yếu tố này đã tạo nên một phong tục đặc sắc, thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo của người Tày tại xã Dương Quỳ.
Mục đích và người hát
Hát Quan lang là một phong tục quan trọng trong đám cưới truyền thống của dân tộc Tày, thể hiện tính nhân văn và lòng nhân ái, đồng thời gắn kết tình đoàn kết cộng đồng Phong tục này phù hợp với nhu cầu thưởng thức văn nghệ của người dân miền núi, đặc biệt trong bối cảnh cuộc sống còn nhiều khó khăn và thiếu thốn thông tin Đám cưới trở thành ngày vui nhất trong đời của cô dâu chú rể, cũng như là dịp để họ hàng, dân bản cùng nhau thư giãn và thể hiện tài năng văn nghệ Trong lễ cưới, đồng bào Tày bày tỏ niềm vui bằng những bài hát, thậm chí thay thế cho các cuộc đối thoại trong những nghi lễ trang trọng.
Hát Quan lang là một phần quan trọng trong các nghi lễ cưới của người Tày xã Dương Quỳ, giúp gắn kết mối quan hệ cộng đồng và dòng họ Qua những bài hát này, nhiều giá trị văn hóa truyền thống được phát huy, đặc biệt là lòng hiếu khách, sự khiêm tốn, lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, lòng thành kính với tổ tiên và tình vợ chồng thủy chung.
Những người hát Quan lang, bao gồm cả đàn ông và phụ nữ, thường là những người đứng tuổi được hai bên gia đình tin tưởng và tôn trọng Họ đóng vai trò đại diện cao nhất của hai họ nhà trai và nhà gái, có quyền giải quyết mọi vấn đề liên quan đến nghi lễ với nhà gái.
Quan lang được coi là những người thông minh, khéo léo trong giao tiếp và giàu tri thức, với khả năng sáng tác và hát nhiều bài hát hay Họ am hiểu phong tục tập quán của dân tộc mình và thường có cuộc sống gia đình hạnh phúc, con đàn cháu đống Quan niệm rằng người làm cầu nối cho các cặp vợ chồng trẻ phải hạnh phúc và có đủ con trai, con gái là điều quan trọng để đảm bảo hạnh phúc cho họ sau này Việc lựa chọn người hát Quan lang không khó khăn, vì đối với đồng bào Tày xã Dương Quỳ, hát Quan lang đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa dân gian truyền thống.
Nghệ thuật trình diễn
Người Tày xã Dương Quỳ thể hiện bài hát Quan lang trong đám cưới mà không cần sử dụng đạo cụ, mang đến sự mộc mạc và tình cảm sâu sắc Những bài hát này không chỉ phản ánh nét đẹp văn hóa của người Hát quan lang mà còn là biểu tượng của đồng bào người Tày.
Khi trình diễn bài hát Quan lang, người hát thường ngồi đối đáp với nhau, và mỗi bài hát đều bắt đầu bằng câu mở đầu "Ơi thương lai" để thưa gửi Câu này không chỉ mang ý nghĩa thưa gửi mà còn giúp người hát lấy hơi chuẩn bị cho những câu tiếp theo, có thể kéo dài hàng chục câu Sau khi thể hiện xong, họ luôn nhận được sự cổ vũ từ khán giả qua những tràng vỗ tay và chén rượu mời Để có những lời hát hay, mượt mà, rượu đóng vai trò quan trọng, giúp người hát tăng thêm hưng phấn và tự tin, vì hát Quan lang cũng chính là thơ lẩu, thường diễn ra khi uống rượu.
Vai trò của hát Quan lang trong đám cưới
Hát Quan lang là một phần không thể thiếu trong đám cưới của người Tày xã Dương Quỳ, thể hiện vai trò quan trọng trong văn hóa và nghi lễ cưới xin Đám cưới không có hát Quan lang sẽ thiếu đi sự trang trọng và không khí vui tươi, bởi đây là thời điểm mọi người mong chờ để thưởng thức những giai điệu truyền thống Người Tày coi ngày cưới là ngày hạnh phúc nhất, cần có lời ca tiếng hát để làm phong phú thêm không gian lễ hội Khi tiếng hát Quan lang vang lên, mọi người đều dừng lại để lắng nghe, tạo nên sự gắn kết trong cộng đồng Hát Quan lang không chỉ là hình thức nghệ thuật độc đáo mà còn phản ánh sự hiểu biết và văn minh của người dân Đây là dịp để mọi người giải trí, thư giãn và tạm quên đi những khó khăn trong cuộc sống, đồng thời thể hiện lòng vui mừng qua những lời ca tiếng hát trong ngày trọng đại của hai bên gia đình.
Hát Quan lang thể hiện sự sáng tạo của con người trong lịch sử, khơi gợi nguồn gốc thuần phong mỹ tục, đồng thời truyền đạt những giá trị dạy bảo về đức hạnh và sự chăm chỉ trong cuộc sống của dâu rể.
Hát và ngâm thơ trong đám cưới của dân tộc Tày không chỉ là một hoạt động văn hóa lành mạnh mà còn thể hiện trình độ phát triển văn minh của họ Những bài thơ quan lang và pả mẻ làm cho lễ cưới thêm phần vui vẻ, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần Đến dự lễ cưới, mọi người không chỉ để thỏa mãn nhu cầu ăn uống mà còn để giao lưu, kết nối tình cảm và tham gia vào các hoạt động văn nghệ Trong không gian của buổi tiệc, rượu được rót và thơ được ngâm vang lên, tạo nên một bầu không khí ồn ào nhưng đầy ý nghĩa nhân văn.
Giá trị của hát Quan lang trong đời sống xã hội người Tày xã Dương Qùy
Dân tộc Tày ở Dương Quỳ, Văn Bàn, Lào Cai rất coi trọng hôn nhân, coi đó là trách nhiệm với tổ tiên và là hình thức phát triển xã hội Đám cưới không chỉ là việc riêng của mỗi gia đình mà là sự kiện chung của cả thôn bản, tạo không khí hội hè rộn ràng Đặc biệt, phong tục đón dâu bằng thơ – hát thể hiện nét văn hóa độc đáo của người Tày, với các nghi lễ được thực hiện qua những bài ca do ông Quan lang và bà Quan lang đại diện cho hai bên gia đình thể hiện Quan lang, người có vai trò quan trọng, phải có gia đình hòa thuận và am hiểu phong tục, sẽ thực hiện các bài hát đối đáp, tạo nên không khí thi thố sôi nổi trong đám cưới Sự tương tác giữa hai bên không chỉ làm cho không khí lễ cưới thêm phần náo nhiệt mà còn thắt chặt mối quan hệ giữa hai họ.
Hát Quan lang của người Tày xã Dương Quỳ sử dụng thể thơ tự do với câu chữ dài ngắn linh hoạt Nhịp điệu của các bài thơ mang tính tự ngâm vịnh, kết hợp với phong cách đối đáp, tạo cảm giác cho người nghe như không bao giờ kết thúc, luôn trong tâm thế chờ đợi.
Hát Quan lang là di sản văn hóa được cộng đồng người Tày Dương Quỳ truyền miệng trong đời sống sinh hoạt Tại xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, nơi cư trú của nhiều dân tộc như Kinh, Dao, Mông và Xa Phó, sự giao thoa văn hóa và ngôn ngữ diễn ra mạnh mẽ Mặc dù người Tày chiếm đa số, nhưng văn hóa và ngôn ngữ của họ đã tiếp thu và hòa quyện tinh hoa từ các dân tộc khác, tạo nên sự đa dạng phong phú cho lời hát Quan lang của người Tày Dương Quỳ.
Trong quá trình diễn xướng lời hát Quan lang, người Tày tự do thể hiện bằng ngôn ngữ của mình, góp phần làm phong phú và đa dạng hóa ngôn ngữ trong các bài hát Nhiều lời hát Quan lang đã tích hợp từ gốc Kinh hoặc Hán – Việt, tạo nên sự đa dạng trong cách diễn đạt.
Quan lang thể hiện sự kết hợp tinh tế các đặc điểm nghệ thuật của ngôn ngữ Tày, đồng thời khéo léo sử dụng ngôn ngữ chung của nhiều dân tộc khác Những từ ngữ trong quan lang thường được trau chuốt, mượt mà, sinh động và chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc.
2.3.2 Giá tr ị ngh ệ thu ậ t di ễ n t ấ u
Hát Quan lang Tày là một phần đặc sắc trong văn hóa dân gian, khác với các hình thức nghệ thuật khác như múa dân gian hay Then Tày, vì nó không cần đạo cụ hay nhiều động tác hỗ trợ Đặc biệt, hát Quan lang chỉ diễn ra trong các đám cưới và khi hai bên thông gia gặp nhau, tạo ra không khí trang trọng và gắn kết Khi những bài hát vang lên, mọi người sẽ dừng lại, chú ý lắng nghe và tham gia bằng cách vỗ tay, hò reo để khích lệ người hát Sự tương tác này không chỉ mang lại niềm vui mà còn thể hiện giá trị văn hóa sâu sắc của hát Quan lang Tày.
2.3.3 Các giá tr ị đạ o đứ c, giáo d ụ c, k ế t c ộ ng đồ ng
Hát Quan lang trong đám cưới của người Tày xã Dương Quỳ không chỉ tạo không khí vui tươi, sống động mà còn là nơi thể hiện tài năng văn nghệ và giải trí của cộng đồng Ngoài việc thực hiện các nghi lễ quan trọng, hát Quan lang còn mang giá trị đạo đức, giáo dục và góp phần củng cố sự gắn kết trong cộng đồng người Tày.
Hát Quan lang Tày mang giá trị đạo đức và giáo dục sâu sắc, với những bài hát khuyên răn con người về cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày Những lời căn dặn từ cha mẹ và họ hàng dành cho cô dâu trước khi về nhà chồng, hướng dẫn cách giao tiếp với bố mẹ chồng, chồng và họ hàng bên nhà chồng Bên cạnh đó, các bài hát cũng dạy về sự tôn trọng và biết ơn đối với công sinh thành, nuôi dưỡng của gia đình nhà trai dành cho cô dâu Đây là những tâm sự chân thành giữa hai bên gia đình, đồng thời thể hiện cách giao tiếp và ứng xử giữa họ Hát Quan lang Tày còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ghi nhớ công lao của ông bà, cha mẹ và lòng hiếu thảo của con cái.
Giá trị đạo đức và tính cố kết cộng đồng trong giáo dục hát Quan lang Tày rất cao Đám cưới không chỉ là sự kiện riêng tư mà còn là hoạt động chung của cả bản làng, nơi mọi người hào hứng tham gia để chúc mừng đôi vợ chồng trẻ Tại đám cưới, họ có thể được mời hát Quan lang, thể hiện tài năng và thi thố với nhau, hoặc đơn giản là cổ vũ cho những người biểu diễn Các bài hát thường có nội dung cảm ơn những người thân, hàng xóm đã đến chung vui, thể hiện sự gắn kết trong cộng đồng Điều này phản ánh rõ nét nếp sống nông nghiệp lúa nước của đồng bào dân tộc Tày và các dân tộc khác ở Việt Nam.
Hát Quan lang là hệ thống bài ca trong đám cưới của người Tày xã Dương Quỳ, bao gồm hàng ngàn câu và hàng trăm bài hát, được chia thành các phần tương ứng với từng nghi thức Đây không chỉ là hình thức văn hóa quần chúng mà còn phản ánh phong tục tập quán, đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng Hát Quan lang mang lại giá trị giáo dục, đạo đức và tăng cường sự gắn kết trong cộng đồng người Tày Nó cũng là phương tiện giải trí, giúp thư giãn sau những ngày lao động vất vả Qua đó, hình thức tổ chức lễ cưới thể hiện tính truyền thống, quy củ và tinh thần lành mạnh, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần và tăng cường sự kết nối giữa các thành viên trong cộng đồng Hát Quan lang đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong các lễ cưới, làm cho không khí thêm vui vẻ và sinh động.
Để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Tày tại Dương Qùy và Văn Bàn, Lào Cai, cần chú trọng nghiên cứu và khai thác phong tục hát Quan lang một cách khoa học, nhằm phát huy giá trị của nó trong đời sống hiện đại.