Trong kho tàng tri thức dân gian phong phú và đa dạng của dân tộc có sự đóng góp không nhỏ của tri thức dân gian trong chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh của đồng bào dân tộ
Trang 1trường đại học văn hóa hμ nội khoa văn hóa dân tộc thiểu số
TRI THỨC DÂN GIAN VỀ CHĂM SểC SỨC KHOẺ SINH SẢN
BÀ MẸ VÀ TRẺ SƠ SINH NGƯỜI DAO XÃ LIấN MINH,
HUYỆN Vế NHAI, TỈNH THÁI NGUYấN
khóa luận tốt nghiệp cử nhân văn hóa
chuyên ngμnh: Văn hóa dân tộc thiểu số
m∙ số: 608
Sinh viên thực hiện : TRẦN THU TRANG Giảng viên hướng dẫn :TS NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG
Hμ nội- 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Phòng Văn hóa huyện Võ Nhai, UBND và Trạm y tế xã Liên Minh đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp cho em những
tư liệu thiết yếu cho đề tài nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới giảng viên hướng dẫn khoa học, TS Nguyễn Thị Việt Hương đã hướng dẫn, chỉ bảo và định hướng cho em những hướng đi trong quá trình hoàn thiện đề tài nghiên cứu
Xin cảm chính quyền địa phương xã Liên Minh, đội ngũ cán bộ xã và đồng bào người Dao, đặc biệt là những cụ già và phụ nữ người Dao đã giúp
đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình đi điền dã thực địa để luận văn được hoàn thành
Do những hạn chế nhất định về thời gian, tư liệu, đặc biệt là những khó khăn về vấn đề ngôn ngữ, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thày cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Sinh viên Trần Thu Trang
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1 Mục tiêu nghiên cứu: 8
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của đề tài 10
7 Bố cục của đề tài 10
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO VÀ TẬP QUÁN SINH ĐẺ CỦA NGƯỜI DAO XÃ LIÊN MINH HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN 12
1.1 Khái quát về người Dao ở xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 12
1.1.1.Khái quát về xã Liên Minh 12
1.1.1.1.Điều kiện tự nhiên 12
1.1.1.2.Đặc điểm kinh tế - xã hội 13
1.1.2.Khái quát về người Dao ở Liên Minh 17
1.1.2.1 Nguồn gốc, lịch sử cư trú của cộng đồng Dao ở Liên Minh 17
1.1.2.2 Đặc điểm dân số và phân bố dân cư 19
1.1.2.3 Đặc điểm tổ chức dòng họ, gia đình và văn hóa dân tộc Dao 19
1.2 Tập quán sinh đẻ của người Dao 27
1.2.1 Quan niệm của người Dao về sinh đẻ 27
1.2.2 Một số tục lệ liên quan đến tập quán sinh đẻ của người Dao 27
Chương 2 : TRI THỨC DÂN GIAN TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE
Trang 42.1 Khái quát về tri thức dân gian 32
2.1.1 Khái niệm tri thức dân gian 32
2.1.2 Tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản 35
2.2 Tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản thai phụ và sản phụ người Dao 36
2.2.1 Thời kỳ mang thai 37
2.2.1.1 Về việc ăn uống 37
2.2.1.2 Về chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi 39
2.2.1.3 Các bài thuốc dân gian 43
2.2.1.4 Một số kiêng kỵ khác 45
2.2.2 Thời kỳ sinh đẻ 48
2.2.2.1 Chuẩn bị cho sinh nở 48
2.2.2.2 Cách chăm sóc bà mẹ khi sinh 49
2.2.2.3 Một số bài thuốc sử dụng trong quá trình sinh nở 53
2.2.3 Thời kỳ ở cữ và cho con bú 56
2.3 Tri thức dân gian về chăm sóc trẻ sơ sinh 61
Chương 3 : PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ TÍCH CỰC CỦA TRI THỨC DÂN GIAN VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN BÀ MẸ VÀ TRẺ SƠ SINH TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DAO Ở XÃ PHƯƠNG GIAO HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN 70
3.1 Giá trị của tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh của người Dao 70
3.1.1 Giá trị khoa học 70
3.1.2 Giá trị kinh tế 79
3.2.3 Giá trị văn hóa - xã hội 81
3.2 Việc sử dụng tri thức dân gian trong chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh trong cộng đồng người Dao ở Liên Minh hiện nay 84
3.3 Một số giải pháp phát huy giá trị văn hóa dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh của người Dao 92
Trang 53.4 Một số đề xuất kiến nghị 96
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
DANH SÁCH NGƯỜI CUNG CẤP TÀI LIỆU 104
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tri thức dân gian là một trong các thành tố của văn hóa tộc người, vì vậy khi nghiên cứu văn hóa tộc người không thể không tìm hiểu, nghiên cứu kho tàng tri thức dân gian Trong kho tàng tri thức dân gian phong phú và đa dạng của dân tộc có sự đóng góp không nhỏ của tri thức dân gian trong chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh của đồng bào dân tộc Dao Lô Gang
ở xã Liên Minh huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Chăm sóc sức khỏe con người là công việc hết sức quan trọng Từ bao đời nay mỗi dân tộc dù ít dù nhiều đều có những kinh nghiệm chung để chăm sóc sức khỏe cho con người Đồng bào dân tộc Dao ở Liên Minh, nhất là những người phụ nữ lớn tuổi nơi đây cũng có những cách thức riêng, những kinh nghiệm và bài thuốc riêng được chế biến từ nguyên liệu thiên nhiên để chăm sóc cho bà mẹ và trẻ em nói chung cũng như việc chăm sóc cho bà mẹ
và trẻ sơ sinh nói riêng Tuy nhiên, hiện nay đồng bào chưa chú ý đúng mức tới việc truyền dạy những tri thức này cho thế hệ con cháu, đồng thời lớp trẻ cũng không có ý thức tự giác học hỏi kinh nghiệm quý báu của thế hệ đi trước
để lại Điều này dẫn đến việc thất truyền những tri thức dân gian trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của dân tộc Dao nơi đây mà không phải dân tộc nào cũng
có được Tình trạng này kéo dài thì chỉ trong một khoảng thời gian ngắn thì nguy
cơ mất mát nguồn tri thức quý báu ấy không thể tránh khỏi Do vậy cần có những biện pháp để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp đó
Trong thời đại toàn cầu hóa, quá trình hội nhập và phát triển diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, sự giao thoa, tiếp biến văn hóa diễn ra là một xu hướng tất yếu đối với tất cả các dân tộc, đặc biệt với các dân tộc thiểu số Điều này diễn ra không chỉ với các dân tộc sinh sống trên đất nước ta mà đó còn là xu thế chung của hầu hết các dân tộc thiểu số trên toàn thế giới Cùng với xu hướng
đó, nhiều giá trị văn hóa của nhân loại bị biến đổi ít nhiều, có những giá trị bị mất đi vĩnh viễn, nhiều giá trị văn hóa đang có nguy cơ bị mai một
Trang 7Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những quan điểm, mục tiêu, chương trình hàng động nhằm xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Muốn vậy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc cần phải được gìn giữ và phát huy Bảo tồn văn hóa truyền thống của các tộc người nói riêng và bảo tồn sự đa dạng văn hóa Việt Nam nói chung là nhiệm vụ của toàn đảng, toàn dân; trong đó cần bảo tồn, gìn giữ
và phát huy những tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh của dân tộc Dao ở xã Liên Minh huyện Võ Nhai
Ý thức được tầm quan trọng của tri thức dân gian trong chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ em đối với đồng bào Dao, là một người con sinh ra
và lớn lên trên mảnh đất Võ Nhai lịch sử, để góp một phần công sức nhỏ nhoi vào việc gìn giữ phát huy vốn tri thức đó, người viết quyết định chọn vấn đề
Tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh người Dao xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, việc nghiên cứu văn hóa dân gian nói chung và tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản nói riêng là một vấn đề đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đảng và Nhà nước ta cũng có những chính sách tích cực, hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu và những chính sách liên quan đến sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người
Trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về người
Dao được công bố như: Người Dao ở Việt Nam (Bế Viết Đẳng và các tác giả),
Các dân tộc ít người ở Việt nam (Các tỉnh phía bắc) (Viện dân tộc học), Vài nét văn hóa người Dao (Minh Tuyết), Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam (Nông quốc Tuấn); về tri thức dân gian có: Nghiên cứu khoa học:
Trang 8Thái Nguyên (Hà Thị thu Thủy chủ biên), Tri thức bản địa trong khai thác và bảo vệ môi trường tự nhiên của người Dao xã Vũ Chấn huyện Võ Nhai
(Dương Thị Luyện), Điều tra cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm của
đồng bào dân tộc Dao ở xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và
còn nhiều những công trình nghiên cứu khác đã hoặc chưa được công bố Song đến nay, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu tri thức dân gian
về chăm sóc SKSS bà mẹ và trẻ sơ sinh của đồng bào Dao ở Liên Minh Do vậy, việc tìm hiểu nghiên cứu về tri thức dân gian trong chăm sóc SKSS bà
mẹ và trẻ sơ sinh - một trong những tri thức căn bản và quan trọng, thể hiện bản sắc riêng của đồng bào Dao nơi đây là một công việc cần được quan tâm chú trọng
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Thông qua việc khảo sát, đánh giá các biểu hiện của tri thức dân gian
về chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh người Dao ở xã Liên Minh, đề tài nhằm khẳng định những giá trị tích cực của kho tàng tri thức này,
từ đó đặt ra vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị tích cực của tri thức dân gian trong chăm sóc sức khỏe sinh sản người Dao Lô Gang ở Liên Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài phải giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Khái quát vài nét cơ bản về người Dao ở xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Đây là cơ sở để hình thành những tri thức dân gian
về chăm sóc SKSS của người Dao cùng những biến đổi của nó trong đời sống của đồng bào hiện nay
- Khảo sát, nghiên cứu những tri thức dân gian về chăm sóc SKSS bà
mẹ và trẻ sơ sinh của đồng bào trong truyền thống
- Khai thác những giá trị của các tri thức dân gian về chăm sóc SKSS của đồng bào, sự biến đổi và việc vận dụng tri thức đó trong cuộc sống hiện nay
Trang 9- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị để bảo tồn, phát huy giá trị tích cực của tri thức dân gian trong chăm sóc SKSS của người Dao ở Liên Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về tri thức dân gian trong chăm sóc sức
khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh của đồng bào Dao ở xã Liên Minh, bao gồm các yếu tố như: những quan niệm của người Dao về sinh đẻ, những kiêng
kỵ về ăn uống và sinh hoạt, nghỉ ngơi đối với người mẹ đang mang thai, trong thời gian ở cữ và cho con bú; cách chăm sóc bà đẻ khi sinh, tri thức dân gian
về chăm sóc trẻ sơ sinh, những bài thuốc dân gian sử dụng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh, những kiêng kỵ đối với người ngoài
và người trong gia đình có người sinh đẻ,
Việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ trước khi mang thai, các tập quán hỗ trợ sinh đẻ kế hoạch là một phần quan trọng trong việc chăm sóc SKSS, nhưng không thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài Do yêu cầu phức tạp của việc khảo sát đánh giá, các nội dung trên sẽ được đề cập trong các công trình nghiên cứu ở bậc học cao hơn
* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đối tượng trên địa bàn xã Liên Minh, bao
gồm 5 xóm người Dao cư trú: Khuân Đã, Khuân Nang, Kẹ, Nác, Ngọc Mỹ, trong đó tập trung chủ yếu ở 3 xóm: Xóm Ngọc Mỹ, xóm Khuân Nang và xóm Khuân Đã
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó người viết chủ yếu sử dụng 3 phương pháp chính là:
- Phương pháp tra cứu thư tịch: nghiên cứu tìm hiểu các bài viết có liên quan đến người Dao và cách chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ em nói chung;
Trang 10- Phương pháp điều tra xã hội học: thông qua việc đi điền dã tiến hành quan sát, phỏng vấn trực tiếp đồng bào để thu thập tư liệu
Trên cơ sở những phương pháp trên, người nghiên cứu tiến hành tổng hợp, phân loại, thống kê và phân tích những tài liệu thu thập được về tri thức dân gian trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của đồng bào để thấy được giá trị tích cực của các tri thức đó và đề xuất giải pháp, kiến nghị phù hợp để bảo tồn
và phát huy
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài là công trình chuyên sâu nghiên cứu về vốn tri thức dân gian nhằm phân tích và tổng hợp những tri thức dân gian trong chăm sóc sức khỏe sính sản bà mẹ và trẻ sơ sinh của cộng động người Dao ở xã Liên Minh, huyện Võ Nhai trong truyền thống và việc sử dụng những tri thức đó trong đời sống hiện nay
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu văn hóa Dao nói chung và tri thức dân gian trong chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh người Dao Liên Minh nói riêng Đây cũng là một nguồn tài liều có thể giúp cho các nhà quản lý tại địa phương có
cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc giải quyết các vấn đề về kinh tế - văn hóa
- xã hội; hoạch định các phương hướng và chính sách để phát triển bền vững khu vực người Dao nói riêng và vùng các dân tộc thiểu số Việt Nam một cách hiệu quả hơn trong thời kì hội nhập và phát triển ở nước ta hiện nay
Đồng thời, kết quả nghiên cứu có tác dụng:
- Góp phần vào công cuộc bảo tồn và phát huy những giá trị của tri thức dân gian trong chăm sóc SKSS của dân tộc Dao ở Liên Minh nói riêng và tri thức dân gian của các dân tộc anh em trên cả nước nói chung;
- Góp thêm nguồn tài liệu về tri thức dân gian của dân tộc Dao ở Việt Nam
7 Bố cục của đề tài
Trang 11Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về người Dao và tập quán sinh đẻ của người Dao ở xã
Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Chương 2: Tri thức dân gian trong chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ
sơ sinh của người Dao ở Liên Minh trong truyền thống
Chương 3: Phát huy những giá trị tích cực của tri thức dân gian về chăm sóc
sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh trong cộng đồng người Dao
ở xã Liên Minh huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
Trang 12Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO VÀ TẬP QUÁN SINH ĐẺ
CỦA NGƯỜI DAO XÃ LIÊN MINH HUYỆN VÕ NHAI
TỈNH THÁI NGUYÊN 1.1 Khái quát về người Dao ở xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
1.1.1 Khái quát về xã Liên Minh
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Liên Minh là một trong 6 xã an toàn khu, xã vùng sâu, vùng xa thuộc phía nam huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Năm 2005, xã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu xã Anh hùng vũ trang trong thời kỳ chống Pháp Xã Liên Minh nằm cách trung tâm huyện trên
13 km, phía Bắc giáp xã Lâu Thượng và thị trấn Đình Cả huyện Võ Nhai, phía Đông giáp xã Dân Tiến và xã Tràng Xá huyện Võ Nhai; phía tây giáp Vân Hán (huyện Đồng Hỷ); phía nam giáp Xuân Lương (huyện Yên Thế, Bắc Giang), Hợp Tiến (huyện Đồng Hỷ) Theo thống kê gần đây nhất của
xã (tháng 1 năm 2013), tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 7.337ha, trong đó có tới 7.007ha đất rừng (chiếm tới 95% diện tích đất tự nhiên) Liên Minh hiện bao gồm 9 xóm là Nhâu, Vang, Thâm, Nho, Khuân Đã, Nác, Kẹ, Khuân Nang và Ngọc Mỹ Toàn xã có 5 dân tộc anh em chung sống đó là các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, Cao Lan Trong đó có 5 xóm người Dao là các xóm: Ngọc Mỹ, Nác, Kẹ, Khuân Đã và xóm Khuân Nang
Toàn xã có 1030 hộ, khoảng 4.424 khẩu, mật độ dân số đạt 59 người/km² Trong đó dân tộc Dao có dân số khá đông 1.832 người, chỉ đứng sau dân tộc Kinh trong xã
Trang 13* Khí hậu, thủy văn
Nhìn chung khí hậu của xã cũng như khí hậu của các xã trong huyện, khí hậu chịu ảnh hưởng của nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông Mùa hè nắng nóng mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô hanh Nhiệt
độ trung bình khoảng 27oC, nhiệt độ thấp nhất vào mùa đông là 9oC và nhiệt
độ cao nhất là 39oC Độ ẩm trung bình 80% Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.900mm Mùa mưa tập trung chủ yếu vào tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau nhưng lượng mưa ít, chủ yếu là mưa phùn
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
* Điều kiện kinh tế
Bước vào thời kỳ đổi mới, bộ mặt kinh tế xã hội của huyện Võ Nhai có những chuyển biến rất nhanh chóng Nét nổi bật trong sản xuất nông nghiệp
là sự chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng, cơ cấu mùa vụ theo hướng phát triển hàng hóa gắn với thị trường, đa dạng hóa cây trồng Xã Liên Minh cũng không nằm ngoài sự chuyển dịch cơ cấu đó, do vậy cả về diện tích, năng xuất
và sản lượng lương thực đều đạt kết quả cao trong những năm gần đây
Từ bao đời nay, người dân ở xã Liên Minh sống chủ yếu bằng nghề
Trang 14thiểu cho nhân dân trong vùng Hiện nay, do đời sống kinh tế khá phát triển, ngoài hệ thống mương dẫn nước nhiều gia đình có máy bơm để bơm nước từ
ao vào ruộng trong mùa nắng hạn để phục vụ cho việc làm ruộng trồng lúa Xưa kia, họ chuyên du canh du cư, nghĩa là sau dăm bảy năm họ bỏ làng, bỏ bản đi tìm vùng đất mới Ngày nay đồng bào đã bỏ phong tục đó, xây dựng cuộc sống mới định canh định cư Vừa phát triển nương rẫy vừa bảo vệ và khai thác rừng hợp lý Nương và ruộng nước là những hình thức canh tác phổ biến của nhân dân trong vùng Cây lương thực chính là lúa, ngô và các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai Đồng bào chăn nuôi trâu, bò làm sức kéo; nuôi lợn, gà để phục vụ các nghi lễ cúng tế; làm ao chứa nước để thả cá vừa để cung cấp nước cho đồng ruộng vừa có thêm nguồn thức ăn bổ sung cho gia đình Ngoài ra, đồng bào còn trồng cây lấy gỗ như keo, mỡ trồng cây công nghiệp lâu năm như chè giúp mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trước đây, nghề dệt vải và thêu thủ công và nghề đan lát cũng khá phát triển ở trong vùng Nhưng ngày nay, do ảnh hưởng giao thoa văn hóa và để thuận tiện cho việc sinh hoạt, lao động sản xuất và giao tiếp xã hội, đồng bào trong vùng đa số đã ăn mặc giống như người Kinh, cũng vì thế mà nghề dệt
đã mất hoàn toàn, vải để may quần áo truyền thống được đồng bào thay thế bằng vải khác, nghề thêu cũng chỉ còn tồn tại ở một bộ phận rất nhỏ trong cộng đồng; nghề đat lát tuy vẫn được duy trì nhưng đã ít hơn nhiều một mặt
do nguồn nguyên liệu cạn kiệt, mặt khác do điều kiện kinh tế, lao động sản xuất thay đổi, để tiết kiệm thời gian nên đồng bào đi mua ngoài chợ
* Điều kiện xã hội
Điều kiện cơ sở hạ tầng:
+ Về giao thông
Liên Minh là xã duy nhất trong huyện Võ Nhai chưa có đường nhựa vào trong xã, toàn bộ hệ thống giao thông trong xã là đường đất hoặc đường cấp phối, do vậy việc đi lại hết sức khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa lũ Hàng
Trang 15năm, chính quyền xã cho tiến hành các hoạt sửa chữa, nâng cấp và làm mới đường để đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hóa bằng phương tiện cơ giới Đường liên thôn các xã đến trung tâm các xóm xa nhất là 12km bằng đường đất, đó là địa bàn xóm Nác, xóm gần trung tâm xã nhất bao gồm 2 xóm là xóm Thâm và xóm Vang Hiện xã có 9 xóm, trong đó có 7 xóm có đường giao thông mùa khô ô tô có thể vào được đến tận trung tâm xóm, còn 2 xóm chưa có đường liên thôn đó là xóm Khuôn Nang và xóm Kẹ Hàng năm xã tổ chức diễn tập ZT cho nhân dân tu sử lại toàn bộ đường giao thông trong xã, giúp cho việc đi lại của nhân dân được thuận tiện dễ dàng hơn Tuy nhiên vì
là đường đất nên vào mùa mưa lũ cũng rất lầy lội, gây khó khăn trong việc đi lại của bà con trong xã
+ Về thủy lợi
Do vị trí địa lý của xã nhiều đồi núi, khe suối thuận lợi phục vụ cho việc tưới tiêu và sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển,
xã đã xây dựng được 01 trạm bơm, 03 đập chứa nước và kênh mương để phục
vụ cho việc dẫn nước vào ruộng lúa và hoa màu Ngoài ra, ở những nơi chân ruộng cạn, xa đập nước, nhân dân tự khắc phục bằng cách đắp đập thủ công bằng tràng dọ đất đá và dẫn nước vào ruộng bằng ống tre, mai Nhìn chung hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã đã đáp ứng được một phần nhu cầu cho việc tưới tiêu trong sản xuất Tuy nhiên UBND xã Liên Minh cũng cần có những phương án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các đập đã xuống cấp cũng như xây dựng các đập thủy lợi nhỏ cho các xóm để phục vụ cho tưới tiêu và sinh hoạt của nhân dân trong vùng
+ Về giáo dục
Toàn xã xó 3 cấp học là Mẫu giáo, Tiểu học và Trung học cơ sở Các trường học đến nay đã được xây dựng kiên cố và được đầu tư các trang thiết
Trang 16độ tuổi, tất cả các học sinh trong độ tuổi đều được đến trường đi học, không
có người mù chữ trên địa bàn
+ Về y tế:
Xã Liên Minh có một trạm y tế được thành lập năm 1994, và đạt tiêu chuẩn quốc gia năm 2007 Đến năm 2004, xã xây dựng một nhà điều trị bệnh nhân theo nguồn vốn đầu tư từ Chương trình 135 là 225 triệu đồng, công trình hoàn thành vào năm 2004 với 6 giường bệnh phục vụ cho nhu cầu khám và chữa bệnh của nhân dân trong vung Đội ngũ cán bộ trạm y tế xã bao gồm: 01 bác sỹ, 02 y tá, 02 y sỹ và 01 nữ hộ sinh Hàng năm trạm y tế đã thực hiện đầy
đủ các hoạt động khám và điều trị bệnh cho nhân dân Do được sự ưu đãi của nhà nước, là một xã vùng cao được ưu tiên theo Chương trình 135, nên mọi người dân có hộ khẩu tại xã đều được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế để khám
và chữa bệnh Do vậy người dân rất thuận lợi trong việc khám chữa bệnh mỗi khi ốm đau và được cấp thuốc theo chế độ bảo hiểm y tế Công tác tiêm chủng mở rộng miễn phí hàng tháng thực hiện tốt, trẻ em và bà mẹ có thai đều được tiêm phòng đầy đủ theo quy định của Nhà nước Xã đã đầu tư và cung cấp đầy đủ trang thiết bị y tế giúp cho việc khám và điều trị bệnh cho nhân dân được tốt hơn; 9/9 xóm trong xã đều có cán bộ y tá thôn bản và cộng tác viên dân số hoạt động nhiệt tình, năng nổ với công việc, mặc dù mức phụ cấp hàng tháng vẫn còn hạn hẹp
+ Hệ thống thông tin:
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngoài chức năng về chính trị, xã hội, thì thông tin trở thành một yếu tố quan trọng đối với đời sống sản xuất của bà con nhân dân Người nông dân có điều kiện nắm bắt thông tin, thời sự hàng ngày, qua đó giúp cho việc truyền đạt thông tin giữa chính quyền xã và
bà con được dễ dàng, thuận lợi hơn Đến nay, hệ thống bưu điện thông tin liên lạc điện thoại đã phát triển rộng khắp trên địa bàn nhất là điện thoại di động Chương trình truyền thanh truyền hình cũng được phủ sóng trên toàn xã là điều
Trang 17kiện để nhân dân cập nhật thông tin một cách nhanh chóng nhất Nhưng có điểm hạn chế đó là điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật còn đơn giản, lượng thông tin cung cấp cho nông dân trong xã còn ít, chất lượng thông tin còn thấp
+ Hệ thống điện:
Hệ thống điện trong xã được đầu tư xây dựng năm 2002, có 3 trạm biến thế Hiện có 9/9 xóm có điện lưới quốc gia đáp ứng 100% các hộ trong xã Nhìn chung mạng lưới điện chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của các
hộ gia đình
1.1.2 Khái quát về người Dao ở Liên Minh
1.1.2.1 Nguồn gốc, lịch sử cư trú của cộng đồng Dao ở Liên Minh
Dân tộc Dao ở Liên Minh cũng như các anh em đồng tộc, là một trong các dân tộc thiểu số có truyền thống văn hóa đặc sắc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Mặc dù dân số không đông nhưng người Dao cư trú khá phân tán, ở hầu khắp các tỉnh miền núi và trung du Bắc bộ Họ thường sống xen kẽ và có mối quan hệ hòa hợp, gắn bó đời sống vật chất và tinh thần với các dân tộc anh em khác với những mức độ khác nhau Riêng ở xã Liên Minh, dân tộc Dao chiếm số dân khá đông trong số 4 dân tộc ít người cùng cư trú tại
xã này, chỉ đứng sau dân tộc Kinh
* Tộc danh
Là một dân tộc với nhiều nhóm địa phương mang những đặc trưng văn hóa khác nhau, cho đến nay, tên gọi cũng như việc phân loại các nhóm Dao ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất Các nhóm Dao đều có tên gọi riêng khá phức tạp, thậm chí cùng một nhóm nhưng ở các địa phương khác nhau họ cũng có các tên gọi khác nhau Bản thân người Dao ở Liên Minh tự nhận mình là Mán Sơn Đầu, một số cán bộ xã cũng nhận định như vậy Song dựa trên phân tích trang phục truyền thống thì người Dao xã Liên Minh được
Trang 18Các dân tộc sống liền kề thường gọi người Dao là Mán Thật ra đây chỉ
là một tên gọi mang tính miệt thị chứ bản thân người Dao không bao giờ nhận mình là Mán mà họ có cách gọi khác là người Miền
* Nguồn gốc, lịch sử cư trú
Để lý giải về lịch sử cư trú của mình, người Dao ở Việt Nam thường kể lại những câu chuyện dạng Sáng thế ký như truyện Quả bầu tiên, Sự tích Bàn Vương, Truyền thuyết Bàn Hồ
Về nguồn gốc lịch sử, các nhà dân tộc học Việt nam đều khẳng định người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, có quan hệ thân thuộc với các nhóm Dao hiện nay đang sinh sống ở Hoa Nam; việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao
Quá trình người Dao di cư vào Việt Nam còn nhiều tranh cãi Các nhà dân tộc học đã đưa ra những quan điểm, luận điểm, và các luận thuyết để chứng minh cho quan điểm, luận điểm của mình Trong đó, đáng lưu ý là quan điểm cho rằng người Dao vốn cư trú tại khu vực hồ Động Đình và lưu vực Nguyên Giang, Lăng Giang thuộc Triết Giang và Hồ Giang ngày nay
Về phương thức di cư, hầu hết các tác giả nghiên cứu về dân tộc Dao đều cho rằng các nhóm Dao Đông Bắc đến Việt Nam bằng đường biển Song cũng có những ý kiến trái chiều Mặc dù vậy thì nhóm Dao Lô Gang ở Liên Minh cũng như các nhóm Dao khác, đến Đông Bắc nước ta từ khoảng thế kỉ XIII trở đi, sau đó trong quá trình tìm đất tụ cư sinh sống họ đã dừng chân tại mảnh đất Liên Minh ngày nay để sinh cơ lập nghiệp Xét theo vị trí địa lý thì rất có thể đồng bào di cư theo đường bộ, từ phía nam Trung Quốc đến phía bắc Việt Nam, sau đó đến Thái Nguyên rồi chia theo các ngả, tìm nơi thuận lợi mà sinh sống, trong đó một bộ phận của nhóm Dao Lô Gang cư trú tại Liên Minh - Võ Nhai
Trang 191.1.2.2 Đặc điểm dân số và phân bố dân cư
Theo số liệu thống kê cuối năm 2012, trên địa bàn xã Liên Minh có 5 dân tộc anh em cùng chung sống, đó là các dân tộc: Dao, Tày, Nùng, Cao Lan
và dân tộc Kinh Trong đó, dân tộc Dao, Tày, Nùng chiếm khoảng 54% số dân; riêng dân tộc Dao chiếm trên 40% số dân toàn xã tức là khoảng gần 1800 người
Toàn xã Liên Minh có 9 xóm, riêng người Dao cư trú khá biệt lập so với các nhóm dân tộc khác trong xã, họ sống trong các làng bản được xây dựng trên các sườn đồi thung lũng, những nơi thuận lợi về nguồn nước sinh hoạt, tập trung chủ yếu ở 5 xóm, bao gồm: xóm Khuân Đã, xóm Kẹ, xóm Nác, xóm Ngọc Mỹ và xóm Khuân Nang Đây là một điều kiện khá thuận lợi
để hình thàng bản sắc văn hóa của đồng bào Dao, trong đó có tri thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh
1.1.2.3 Đặc điểm tổ chức dòng họ, gia đình và văn hóa dân tộc Dao
* Đặc điểm tổ chức dòng họ và gia đình
Hiện nay, hầu hết các gia đình dân tộc Dao ở Liên Minh đều còn có gia phả, trong đó có ghi tên ông tổ và con cháu của ông tổ dùng để con cháu cúng bái Mỗi dòng họ người Dao có cách thức nghi lễ cúng tổ tiên, ma chay, cách chọn đất làm nhà cửa riêng Mỗi dòng tộc có một trưởng tộc hay còn gọi là trưởng họ Nhà trưởng họ cũng là nơi đặt bàn thờ chung của cả họ để cúng bái chung vào những ngày lễ lớn hoặc khi trong dòng họ có nhiều người ốm đau hoạn nạn Trưởng họ có nhiệm vụ chủ trì làm lễ cấp sắc cho các thành viên trong dòng tộc khi đến tuổi trưởng thành, làm ma chay, làm nhà mới, cưới xin, chia tài sản, dàn xếp xích mích vai trò của trưởng họ khá quan trọng, có ảnh hưởng lớn trong đời sống xã hội dân tộc Dao Các gia đình trong dòng họ
có trách nhiệm giúp đỡ nhau khi trong dòng họ mình có gia đình gặp hoạn
Trang 20Về gia đình người Dao: Gia đình người Dao là gia đình nhỏ phụ hệ mà tính chất được thể hiện trong nhiều tập tục như các tộc người khác Trong các gia đình nhỏ phụ quyền, người ta quý trọng con trai hơn con gái, có nhiều con trai là điều mong ước của nhiều gia đình Người con trai không những cần khả năng lao động giỏi, có đạo đức tốt mà cần phải biết cúng khấn tổ tiên Người con gái phải biết dệt vải thêu thùa Nhưng để trở thành một người lớn thực sự, có thể cúng tổ tiên, tham gia công việc họ hàng, làng bản, người con trai còn phải thay tên cũ, đặt tên mới bằng một nghi lễ đó là lễ cấp sắc, hay còn gọi là “Quá tang” Đồng bào quan niệm con trai là con nhà mình, con gái sau này lớn đi lấy chồng thì là con người ta, nên khi người Dao định canh định cư thì cha mẹ chỉ chia ruộng nương, trâu bò cho con trai; con gái chỉ được chia quần áo, đồ trang sức để làm của hồi môn Nếu còn sống mà du canh du cư thì cha mẹ chia bạc trắng, trâu bò, lợn gà và dụng cụ gia đình; con gái cũng được phần nhưng ít hơn
Chủ gia đình thường là người cha, có trách nhiệm lớn nhất trong gia đình về mọi việc từ sản xuất chăn nuôi đến cúng bái và quan hệ mọi mặt với tông tộc, với thôn bản
Trong công việc hàng ngày, người vợ nghe theo ngời chồng, con cái nghe theo bố mẹ, các em nghe theo các anh chị Nếu là gia đình 3 thế hệ thì con cháu phải nghe lời, hiếu kính và phụng dưỡng ông bà Quan hệ thứ bậc trong gia đình cũng là quan hệ trong tông tộc
Việc ly hôn không bao giờ diễn ra đối với người phụ nữ Dao, người vợ Dao bao giờ cũng phụ thuộc vào người chồng
Dân gian người Dao có những câu ca giáo lý truyền lại để khuyên dạy con người những lý lẽ ở đời trong mối quan hệ chồng - vợ, cha mẹ - con cái, cháu chắt - ông bà:
“ Tranh luận xấu tốt hỏi cha mẹ Chuyện xưa không hiểu hỏi người già
Trang 21Người đông sao sánh bằng cha mẹ Thiếp nhiều sao bằng một vợ ta Cha con ra trận không giết nhau Chồng vợ ốm đau chẳng quên lòng Nam tử chớ ham chiếm tiền của
Nữ giới xin đừng có lẳng lơ ”
“Nuôi dạy con cháu nghe lời xưa Khi nào khôn lớn kính cha mẹ Mỗi ngày ăn mẹ ba bữa sữa
Ba ngày ăn mẹ khúc ruột gan Dần dần ăn hết khí huyết mẹ Cha già, mẹ yếu mặt vàng vọt Nhất thiết phải ngủ cùng anh chị Anh chị bảo khó càng kiên cường Đại ca trưởng thành làm cha mẹ Tất phải dặn dò những lời hay ”
“Chồng chớ ỷ mạnh mà dối vợ
Vợ đừng dựa thế học lừa chồng
Làm chồng xin chớ chê vợ xấu Làm vợ xin chớ chê chồng ngu”
Từ những câu ca giáo lý giản dị mà dễ hiểu được truyền lại qua bao thế
hệ, một cách vô thức đã góp phần hình thành trong lối sống người Dao những phong tục tập quán riêng, những chuẩn mực riêng, hướng con người đến nhứng giá trị sống tốt đẹp Chính đồng bào Dao với những nét văn hóa riêng của mình đã góp phần làm phong phú thêm trong nền văn hóa Việt Nam nói
Trang 22* Một số nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Dao ở Liên Minh
Về văn hóa vật chất
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa
tối Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng Người Dao ăn cơm
là chính, song trước đây do hoàn cảnh kinh tế gia đình thấp kém nên có những gia đình nghèo phải ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, canh măng chua Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết
Cách chế biến món ăn đáng lưu ý nhất là chế biến thịt khô để bảo quản thịt lợn bằng cách sấy khô nhờ khói bếp (còn gọi là thịt hun khói) Cách làm này được người Dao áp dụng chủ yếu trong các dịp lễ tết
Mặc: Người Dao ở Liên Minh còn lưu giữ được loại hình trang phục
truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc
- Trang phục của nam giới: Nam mặc quần, áo Trước đây đàn ông để
tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn
Áo có hai loại, áo dài và áo ngắn với chất liệu chủ yếu là vải chàm, thường nhuộm nâu hoặc đen
- Trang phục của phụ nữ bao gồm khăn, áo, quần và trang sức:
+ Áo của người Dao: thường là áo dài ngang bọng chân, rất kín đáo và may theo kiểu tứ thân, xẻ ngực, cổ áo liền, đặc biệt phần nẹp ngực áo và cổ áo thêu rất nhiều mô típ khác nhau, trông rất đẹp mắt; chạy dọc viền tà áo, viền
cổ tay được may bằng vải khác màu, thường là màu đỏ, kết hợp với màu sậm của chiếc áo tạo nên sự phối hợp màu sắc rất hài hòa
+ Quần của người Dao: Quần ngắn trên cổ chân chứ không dài tới gót chân như nhiều dân tộc khác, ống rộng, được may bằng vải chàm, phần gấu quần cũng được đồng bào tự thêu trang trí bằng hoa văn rất sặc sỡ, bắt mắt Hiện nay, vẫn giữ được các nét hoa văn truyền thống với những trang trí hoa
Trang 23văn hình dạng khác nhau Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải Hình trang trí thường là loại hình hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây
+ Khăn của người Dao: Khăn gồm có 2 chiếc, một khăn vuông để đội lên đỉnh đầu gồm nhiều lớp chồng lên nhau, thường xếp với số chẵn, 8, 10, 12 lớp tùy theo mỗi người xếp nhiều hay xếp ít, khăn này thường có màu đỏ, bên trên đc đắp lớp vải hoa nên đã tạo thêm vẻ đẹp cho khuôn mặt người phụ nữ Dao Bên ngoài có trùm một khăn vuông bằng vải đen to, có viền được xâu bằng những chuỗi hạt cườm đầy màu sắc đặc trưng
Ngoài ra, còn có đai lưng dài từ 1.5 - 2m, màu trắng tinh khiết, dùng để buộc phần ngang bụng với mục đích cố định áo, giữ cho hai vạt áo được xếp khít vào nhau; phía đuôi đai lưng có thêu trang trí bằng chỉ màu với những họa tiết rất bắt mắt Phụ nữ Dao cũng rất thích đeo đồ trang sức bằng bạc, bao gồm: vòng cổ, hoa tai, vòng tay
- Trang phục của trẻ em người Dao: Trước đây trẻ em người dao mặc
quần áo thông thường do người Dao tự cắt, khâu Chỉ có chiếc mũ là đặc trưng nhất được người Dao thêu rất cầu kỳ, sặc sỡ, trên chóp mũ có một túm bông nhỏ Trẻ em người Dao nơi đây còn đeo lắc tay hoặc chân, trên đó có treo quả nhạc nhỏ nghe rất vui tai Ngoài ra, còn có một túi bùa nhỏ, thường đeo trên vai áo; theo quan niệm của người dân là để tránh ma quỷ, trừ tà, vía độc hại cho đứa trẻ
Bên cạnh đó, chiếc địu cũng là một trong những trang phục gắn với tuổi ấu thơ của mỗi đứa trẻ Địu của người Dao được thêu với hoa văn, họa tiết sặc sỡ, rất đẹp Chiếc địu này được người Dao Lô Gang sử dụng qua các thế hệ, nếu cũ thì mới thêu mới Vì đồng bào quan niệm như vậy thì đúa trẻ sẽ
Trang 24Ngày nay, chỉ còn một bộ phận nhỏ người Dao ở Liên Minh còn mặc trang phục truyền thống, thường là nữ thuộc tầng lớp trung niên trở lên Tuy nhiên chất liệu phần nhiều thay đổi, không còn là vải chàm truyền thống mà thay vào đó là vải xa tanh hoặc vải phin
Ở: Người Dao nơi đây thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp
các tỉnh miền núi Họ sống tụ cư thành các thôn xóm, phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà trong các ngôi nhà sàn hoặc nhà nền đất
* Về văn hóa tinh thần
+ Ngôn ngữ và chữ viết
Người Dao ở Liên Minh cũng giống như các nhóm Dao khác đều nói chung một ngôn ngữ Dao, thuộc ngữ hệ Hán - Tạng Song tùy thuộc vào mỗi địa phương và vùng miền cư trú khác nhau mà họ có những phương ngữ khác nhau Từ lâu, họ đã có chữ viết riêng của mình đó là chữ Nôm Dao được La tinh hóa, thể hiện trong các tác phẩm văn thơ, những sách về luật tục, những bài ca giáo lý, sách cúng, các lá bùa và gia phả
Hiện nay, 100% người Dao ở Liên Minh vẫn sử dụng tiếng nói của dân tộc mình trong giao tiếp hằng ngày một cách thông thạo kể cả người lớn lẫn trẻ nhỏ Không chỉ trong giao tiếp thông thường mà tiếng Dao còn được đồng bào duy trì sử dụng để hát ru cho trẻ ngủ, những câu hát khi đi làm trên nương, khi đi hái thuốc, những câu ca gọi nhau khi đi làm về hay những câu
ca, tục ngữ về khinh nghiệm sản xuất, câu ca giáo lý để răn dạy cho con cháu của họ về đạo lý ở đời Tuy vậy, chữ viết của đồng bào được ít người biết đến
và rất ít được sử dụng, chủ yếu chỉ còn tồn tại ở một bộ phận rất nhỏ, đó là những thày cúng người Dao và một phần rất nhỏ người lớn tuổi Các thày cúng sử dụng chữ Nôm Dao để viết các lá bùa dán trước cửa nhà, cửa buồng, bàn thờ, cửa chuồng nuôi động vật, dán lên các cây trồng lớn trong vườn để trừ tà ma; hay sử dụng chữ viết trong sách cúng, đọc trong các lễ cúng tổ tiên,
lễ giải hạn hoặc trong các lá bùa để xem bói Mặc dù số người biết viết các
Trang 25loại chữ này rất ít, nhưng đây là một di sản đáng trân trọng của đồng bào, cần được bảo tồn
+ Tôn giáo, tín ngưỡng
Giống như hầu hết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, người Dao nơi đây cũng quan niệm rằng vạn vật hữu linh Họ tin mọi vật xung quanh mình đều sức sống, có linh hồn Đặc biệt người Dao rất sợ ma Họ sợ nếu phạm phải những kiêng kỵ sẽ động đến hồn ma ở nơi đó Trong kinh nghiệm của người Dao về chăm sóc SKSS cũng thể hiện điều này
Với sự nhận thức có hạn về thế giới xung quanh, sự bất lực trước sự chi phối của tự nhiên, đồng bào hầu như phải thờ cúng quanh năm, tất cả những lực lượng siêu linh đều được coi là ma Đồng bào cũng quan niệm có ma lành
và ma dữ, nếu không thờ cúng tử tế ma dữ sẽ theo về quấy nhiễu gia đình và làm hại con người Do vậy, họ thực hiện nhiều nghi lễ để cầu mong sự phù hộ
độ trì của các đấng siêu linh cho mùa màng tốt tươi, người an, vật thịnh, cầu xin có thể loại trừ các sức sống có thể làm hại cho mình Các hoạt động cúng
tế cầu mong đó đã sinh ra các nghi thức, nghi lễ của tín ngưỡng dân gian Lực lượng thần linh chưa xuất hiện hoặc được thể hiện khá mờ nhạt trong đời sống của người Dao nơi đây
Người Dao tuy chịu ảnh hưởng một số yếu tố Đạo Giáo hay Khổng Giáo của Trung Quốc, nhưng cũng chỉ là một số nghi thức văn hóa tinh thần như lễ cấp sắc hay đội ngũ thầy cúng, thầy tào Đại đa số nhân dân vẫn chỉ tin vào các loại ma
Thờ cúng tổ tiên là một lễ tục được người Dao rất chú trọng Điều này thể hiện nhận thức, quan niệm của đồng bào về thế giới quan, nhân sinh quan
Họ tin rằng có thế giới của con người (trần gian) và thế giới “ma” (thế giới siêu linh) Đồng bào cũng tin, sau khi chết đi thì biến thành ma nhà, “ma” -
Trang 26động của người thường và gây ảnh hưởng nhất định đến đời sống của họ Do
vậy, việc thờ cúng tổ tiên là việc làm chủ yếu trong mỗi gia đình, một phần
thể hiện sự hiếu kính của con cái đối với ông bà cha mẹ đã có công sinh
thành, nuôi dưỡng; đồng thời, mong cha mẹ, tổ tiên phù hộ độ trì cho cuộc
sống ấm êm, tránh những điều không may mắn, rủi ro trong cuộc sống Bàn
thờ tổ tiên được đặt ở nơi tôn nghiêm nhất, thường là gian chính trong nhà của
người Dao, hướng ra phía của chính Đàn bà, con gái, đặc biệt là phụ nữ mang
thai và sinh con sẽ không được đến gần bàn thờ tổ tiên, để tránh làm uế tạp
nơi tôn kính Việc thờ cúng trong gia đình là nhiệm vụ của người chủ gia đình
hoặc con trai trưởng Điều này chi phối đến quan niệm của người Dao về giới
trong sinh đẻ (họ coi trọng con trai hơn, có con trai để nỗi dõi gia đình, dòng
họ và chăm lo việc hương hỏa lúc lâm trung) cũng như việc đặt ra những
kiêng kỵ đối với người phụ nữ Dao trong thời kỳ sinh đẻ sau này
Ngoài tục thờ cúng tổ tiên thì người Dao nơi đây cũng thờ cúng Bàn Vương Theo truyền thuyết Bàn Hồ là thủ lĩnh người Dao, ông ta có
nhiều vợ, con của mỗi người vợ lập thành một nhóm riêng 770 năm TCN,
Bàn Hồ đã giúp người Hoa chống các rợ Tây Nhung, Bắc Địch, khôi phục lại
họ Chu, rời đô từ phía Tây sang phía Đông, nên gọi là Đông Chu Khi lên
ngôi, vua đầu nhà Đông Chu là Bình Vương (770 – 719 TCN) hạ chiếu
thưởng công cho Bàn Hồ - sau này người ta quen gọi là Bình Hoàng Khoán
Điệp, nội dung ban cấp: “Nơi rừng xanh mây phủ, núi cao đầm ruộng, đất đó
nhà vua sẽ không quản, con cháu Bàn Hồ được làm ăn khai phá đời đời”
Trong cuộc đời chinh chiến, có lần Bàn Hồ thua trận bị thương bất tỉnh
giữa đồng cỏ Giặc đánh hỏa công đốt cháy đồng cỏ May Bàn Hồ có con chó
rất tinh khôn luôn luôn bám theo sát chủ, thấy lửa cháy, chó lôi chân kéo chủ
ra chỗ trống rồ chạy đầm xuống vũng nước về nằm lên người chủ Khi Bàn
Hồ tỉnh lại, thấy bốn bề tro tàn khói bụi, con chó đã chết cứng vì nóng và kiệt
sức, ông ta rất thương con vật trung thành nói lớn: “Ôi chó ơi! Chính mày đã
Trang 27cứu ta, ta mang ơn mày hết đời này sang đời khác Từ nay, người Dao không được ăn thịt chó, mà phải coi chó như một phần của thân ta” Sau khi Bàn Hồ mất, người Dao suy tôn ông làm Bàn Vương và tục người Dao thờ cúng chó cũng từ đấy
1.2 Tập quán sinh đẻ của người Dao
1.2.1 Quan niệm của người Dao về sinh đẻ
Trong truyền thống, người Dao cũng như các dân tộc theo chế độ phụ quyền khác rất coi trọng con trai, đặc biệt là con trai trưởng - người có thể thay cha chăm nom, quyết định các công việc từ trong gia đình đến ngoài thôn xóm khi cha đi vắng Khi cha mất đi người con trai trưởng sẽ là người được
kế thừa nhiều tài sản nhất và cũng là người quyết định mọi công việc trong gia đình, chăm lo cho đời sống của các thành viên trong một gia đình Do vậy người phụ nữ nào sinh được con trai sẽ khẳng định được vị thế của mình hơn trong gia đình nhà chồng
Người Dao ở Liên Minh nói riêng và cả nước nói chung đều có những quan niệm về sinh đẻ Họ rất coi trọng việc sinh đẻ con cái, đặc biệt coi trọng việc sinh con trai để nối dõi tông đường và làm chủ trong gia đình Sở dĩ như vậy, vì từ xa xưa người Dao đã theo chế độ phụ quyền, đàn ông đặc biệt là con trai trưởng là người điều hành cũng như nắm giữ mọi công việc trong gia đình Con cái cũng là mục đích trong hôn nhân, đó là cầu nối gìn giữ tình cảm của hai vợ chồng Do quan niệm như vậy nên mỗi khi trong nhà có thành viên chào đời, cả gia đình dòng họ đều vui mừng Mọi việc trong gia đình từ sinh hoạt đến chuyện ăn uống đều ưu tiên cho người phụ nữ đang mang thai và sinh con
1.2.2 Một số tục lệ liên quan đến tập quán sinh đẻ của người Dao
Đồng bào Dao Lô Gang ở Liên Minh quan niệm rằng, kết hôn và sinh
Trang 28“ Khuyên khắp thế gian các vợ chồng Trong năm trăm năm kết thành đôi Thế gian kết đôi đều do mệnh Nghìn trùng có duyên cũng thành đôi”
Như đa số dân tộc trên đất nước ta, để đi đến hôn nhân đồng bào cũng phải xem tuổi để lấy vợ cho con, nếu không hợp tuổi sẽ không cho lấy vì họ
sợ sẽ ảnh hưởng đến đời sau này, vợ chồng sống không hòa thuận và sẽ xảy ra những bất trắc trong cuộc sống, nếu không hợp tuổi mà vẫn muốn tiếp tục đi đến hôn nhân thì phải nhờ đến thầy cúng của làng, xóm làm lễ giải hạn cho
đôi trai gái
Khi người phụ nữ mang thai, họ phải thực hiện những kiêng kỵ riêng theo phong tục tập quán do người Dao truyền lại từ bao đời nay Đó không chỉ là những kiêng kỵ dành riêng cho người mang thai mà còn dành cho người trong và ngoài gia đình, dòng họ Điều này được người Dao nơi đây tự giác thực hiện với mong muốn sinh hạ được mẹ tròn con vuông, đứa con khỏe mạnh, nên người
Bên cạnh những kiêng kỵ trong ăn uống, sinh hoạt đối với người phụ
nữ đang mang thai và cho con bú thì đồng bào Dao còn có những nghi lễ liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh như: Lễ cúng 3 ngày sau sinh, Lễ cúng mụ và đặt tên cho con, lễ giải hạn, giải vía Những nghi lễ này được thực hiện theo quy trình, thủ tục riêng của người Dao
Trẻ mới sinh nếu khó nuôi có thể nhận người khác làm con nuôi, hoặc
làm lễ đẻ lại Theo tập quán, khi trẻ được ba ngày tuổi thì làm lễ “thêm ting” để
thông báo với tổ tiên gia đình có thêm thành viên mới, và đặt tên cúng cơm cho đứa trẻ Trong ngày lễ này, người ta sẽ bế đứa trẻ quay về phía mặt trời mọc và nói: “Tôi đã có cháu” Một người khác bón cơm cho cháu bé (chỉ mang tính chất hình thức, bón ngoài miệng chứ không phải cho đứa bé ăn thật) Người bón cơm này phải là người có con cháu đông đủ, khỏe mạnh, gia đình ấm êm Lễ đặt tên
Trang 29là để báo cáo với tổ tiên, trời đất có một sinh linh mới ra đời, có họ tên rõ ràng Cầu thần linh che chở, bảo vệ, ban sức mạnh và trí tuệ cho đứa trẻ
Sau sinh 30 ngày sẽ làm lễ đầy tháng Trong lễ đầy tháng bắt buộc phải
có thịt gà và đứa trẻ bắt buộc phải ngậm miếng thịt gà trong miệng Lễ này là
để báo với thần linh là con tôi vẫn khỏe mạnh, ăn được mọi thứ và cầu cho con luôn mạnh khỏe Nếu là con gái thì khi được 5 tuổi, trước cộng đồng làng bản, trẻ được thày cúng ghi tên và ngày tháng năm sinh vào một miếng vải đỏ gọi là tờ lộc mệnh Tờ lộc mệnh này được bố mẹ đứa trẻ đem cất giữ cẩn thận
để sau này kết hôn thì đem ra so tuổi tác Nếu là con trai thì đến 10 tuổi trở lên có thể thụ lễ cấp sắc và được đặt tên pháp danh
Ngoài ra, ở cộng đồng người Dao nơi đây còn tồn tại hình thức xem bói nước Công việc này chỉ được tiến hành vào buổi sáng và được thực hiện ngoài trời sáng, dưới ánh nắng mặt trời, không xem vào thời gian từ buổi trưa
về chiều tối Để thực hiện nghi thức này, thầy bói sẽ thắp hương làm lễ và đọc các câu thần chú, sau đó lấy hương đưa vòng quanh trên một bát nước (bên cạnh có để lá bùa bằng giấy dó) vài vòng rồi nhìn vào bát nước và phán những điều mà thầy nhìn thấy Từ đó, người xem bói có cơ sở để tiến hành các lễ thức
để trừ tà ma hay tránh các tai tai ương trong khoảng thời gian nhất định Khi người phụ nữ mang thai, nếu thấy có hiện tượng bất thường uống thuốc không khỏi, đồng bào thường gán cho bị ma dữ làm hại nên đến nhờ thầy xem theo hình thức này, sau đó về làm lễ giải hạn Trong thời gian người phụ nữ mang thai, ở cữ và cho con bú nếu thấy cơ thể ốm yếu, mệt mỏi họ cũng đến nhờ thầy cúng làm lễ đuổi ma, sau đó uống nước phép, rồi về mới uống nước thuốc Trên đây là một trong những nghi thức còn mang tính hủ tục của đồng
bào song cũng có những phán đoán chuẩn xác mà khoa học chưa lý giải được
*
Trang 30Liên Minh là một trong những xã an toàn khu của huyện Võ Nhai Do đặc điểm vị trí địa lý là một xã thuộc phía nam của huyện Võ Nhai, địa hình chủ yếu là đồi núi và các thung lũng nhỏ hẹo đã tạo điều kiện cho đồng bào sống tụ cư, lập nghiệp tại một vùng nhất định Mỗi thung lũng nhỏ tạo nên địa hình thích hợp, là nơi để đồng bào gây dựng nhà cửa và phát triển hoạt động sane xuất nông nghiệp Từ xa xưa, đồng bào dân tộc trong xã Liên Minh đã biết tập trung lại với nhau thành từng chòm xóm, mục đích đầu tiên để có thể tránh thú giữ, đồng thời có thể giúp đỡ nhau trong các hoạt động lao động sản xuất và sinh hoạt đời thường; đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi góp phần hình thành nên nét văn hóa riêng, những phong tục tập quán cùng những quan niệm, những kiêng kỵ của người Dao Lô Gang nói riêng và các anh em dân tộc trong xã nói chung Từ cách tổ chức thôn bản theo nguyên tắc quần cư, mang tính chất hướng nội đến kết cấu đồng tộc trong thôn bản và trong quan hệ dòng họ, gia đình với các luật tục trong lao động sản xuất, trong đời sống sinh hoạt đã làm cho dân tộc Dao gắn bó với nhau, có tác dụng thúc đẩy sản xuất, vừa lưu giữ được các phong tục tập quán của dân tộc mình
Địa hình xã Liên Minh chủ yếu là đồi núi, là điều kiện thuận lợi để phát triển trồng cây công nghiệp, cây lấy gỗ góp phần đáng kể vào thu nhập của mỗi gia đình Đặc biệt vùng được sự ưu đãi của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình khoảng 27oC, nhiệt độ thấp nhất vào mùa đông là 9oC và nhiệt độ cao nhất là 39oC, độ ẩm trung bình 80%, lượng mưa trung bình năm khoảng 1.900mm, đây là điều kiện thời tiết khá lý tưởng cho việc phát triển rừng, trong đó có chứa đựng các loại cây thuốc đặc trưng, đa dạng, phong phú rất hữu ích cho công việc làm thuốc của người Dao nơi đây Đó không chỉ là các bài thuốc để chữa bệnh cho đồng bào như đau lưng, đau khớp chân tay, thoái hóa đốt sống, bệnh gan, thận mà đó còn là những bài thuốc tắm quý báu dành cho bà mẹ và trẻ nhỏ
Trang 31Chính điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm văn hóa tộc người xã Liên Minh là một trong những tiêu chí góp phần hình thành
và ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình hình thành, phát triển tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản của người Dao Lô Gang ở xã Liên Minh huyện
Võ Nhai
Trang 32Chương 2 TRI THỨC DÂN GIAN TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN
BÀ MẸ VÀ TRẺ SƠ SINH CỦA NGƯỜI DAO Ở XÃ LIÊN MINH
TRONG TRUYỀN THỐNG 2.1 Khái quát về tri thức dân gian
2.1.1 Khái niệm tri thức dân gian
Văn hóa dân gian trong đó có tri thức dân gian (TTDG) được xem là cội nguồn của văn hóa dân tộc, là văn hóa gốc, văn hóa mẹ gắn liền với lịch
sử lâu đời của dân tộc, là nguồn sản sinh và nuôi dưỡng văn hóa dân tộc Vì vậy, có thể xem TTDG là nguồn tri thức nền tảng để hình thành hệ thống kiến thức hiện đại của con người về mọi mặt TTDG là sản phẩm văn hóa được sinh ra, tồn tại, phát triển và biến đổi gắn với đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất của cộng đồng dân cư địa phương
Ở đất nước ta cũng như trên thế giới việc nghiên cứu TTDG đã phát triển từ lâu đời, nhưng trong thời gian đầu, việc nghiên cứu về TTDG chỉ được lồng ghép trong các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian và đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể Có thể chia các công trình nghiên cứu TTDG vào các mảng lớn là: Lĩnh vực đời sống văn hóa xã hội, lĩnh vực dưỡng sinh trị bệnh và lĩnh vực ứng dụng tri thức dân gian
Đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất, phân định rạch ròi giữa các khái niệm: Tri thức dân gian với Kiến thức truyền thống (Traditinonal knowledge), Kiến thức bản địa (Indiagenouse knowledge) hay Kiến thức địa phương (Local knowledge) Một số nhà nghiên cứu và một số tổ chức thế giới có sự phân biệt khác nhau ở một số khía cạnh của các thuật ngữ trên, nhưng vẫn chưa có được sự thống nhất cuối cùng
Tác giả Ngô Đức Thịnh sau khi đồng nhất khái niệm Kiến thức bản địa với Tri thức dân gian cho rằng TTDG có thể được chia thành 4 loại:
- Tri thức về tự nhiên và môi trường
Trang 33- Tri thức về bản thân và con người
- Tri thức về sản xuất
- Tri thức về sản xuất xã hội và cộng đồng;
Điều này cũng được nhà nghiên cứu Phạm Quang Hoan đồng tình và khẳng
định trong Tri thức địa phương các dân tộc thiểu số Việt Nam Dân tộc học
Việt Nam thế kỉ XX đến những năm đầu thế kỉ XXI, NXB.KHXH, H.2003
Tri thức dân gian là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa hoặc của một cộng đồng tại một khu vực nào đó, tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của thành viên trong cộng đồng (người già, người trẻ, đàn ông, phụ nữ) ở một vùng địa lý xác định (Luise G.1996) (Dẫn
lại theo Hà Thị Thu Thủy, Dương Quỳnh Phương (2012), Tri thức dân
gian người Dao tỉnh Thái Nguyên, NXB.Văn hóa thông tin, tr7,tr8).
Trong Bàn về tri thức địa phương GS.TS Ngô Đức Thịnh đưa ra khái
niệm “Tri thức dân gian” như sau: Tri thức dân gian là toàn bộ những hiểu biết của cộng đồng (ở các cấp độ khác nhau: tộc người, nhóm tộc người, địa phương, làng xã, gia tộc ) về tự nhiên, xã hội và bản thân được tích lũy trong trường kỳ lịch sử, qua trải nghiệm, kinh nghiệm của cộng đồng đó Nó được sáng tạo, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua trí nhớ, qua truyền miệng, qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội Nó giúp cho con người có được sự thích ứng với môi trường tự nhiên, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong cuộc sống mưu sinh, điều hòa các quan hệ xã hội trong dưỡng sinh và trị bệnh, trong sáng tạo văn hóa nghệ thuật Tri thức đó tương thích với môi trường tự nhiên, hoàn cảnh xã hội, môi trường văn hóa và trình độ phát triển của mỗi cộng đồng mà ở đó tri thức dân gian được tạo ra và tồn tại.[13:18]
Theo PGS.TS Trần Đức Ngôn thì TTDG là những kinh nghiệm của
Trang 34động đời sống là sự thực hành TTDG Do vậy khái niệm TTDG chỉ giới hạn ở dạng “kinh nghiệm” - được hiểu như một thứ chủ nghĩa kinh nghiệm, được đúc kết từ quan sát thực tế và chỉ đứng trong điều kiện nhất định [13,tr19].
Như vậy, giới nghiên cứu có quan niệm không giống nhau về khái niệm
và nội hàm của cụm từ “Tri thức dân gian”
Bản thân vốn tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản của người Dao ở Liên Minh được hình thành ban đầu dựa trên những cơ khác nhau Có những tri thức hình thành từ chính nội bộ cộng đồng dân tộc Dao, được đúc kết trong quá trình sinh hoạt và lao động sản xuất Có những tri thức được hình thành dựa trên những quan niệm, kiêng kỵ của một bộ phận tầng lớp cao hơn trong cộng đồng người Dao như thầy cúng, thầy tào, hay các trưởng thôn, bản ; một mặt là để thể hiện quyền uy, cấp bậc của mình trong
xã hội, mặt khác thể hiện sự am hiểu của họ về cách chăm sóc SKSS Những tri thức này tồn tại lâu dần trong đời sống cộng đồng và được đông đảo mọi người chấp thuận, thực hiện theo một cách tự giác và trở thành tri thức dân gian của cộng đồng người Dao
Về sau, trong quá trình cộng cư sinh sống và phát triển, bên cạnh người Dao Lô Gang ở Liên Minh còn có các dân tộc khác như dân tộc Cao Lan, Tày, Nùng, Kinh cùng sinh sống Do vậy không tránh khỏi tình trạng dân tộc này học tập kinh nghiệm của dân tộc khác Sự giao thoa văn hóa là quy luật tất yếu Tuy nhiên, những kinh nghiệm mà các dân tộc học tập được của nhau, họ truyền đạt lại cho các thế hệ con cháu của mình, lâu dần qua thời gian đã ăn sâu cố hữu vào tiềm thức của họ và họ tự nhận đó là tri thức của cộng đồng dân tộc mình Tri thức dân gian nói chung và tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ sơ sinh nói riêng của người Dao cũng xuất phát từ đó Do vậy, theo người viết những tri thức này chỉ nên xếp vào tri thức bản địa hay tri thức địa phương - những tri thức được hình thành trong một vùng địa lý nhất định
Trang 35Vì những lẽ trên, khó mà xác định được một cách chính xác khái niệm
về tri thức dân gian Căn cứ vào đề tài nghiên cứu, qua tìm hiểu thực địa, đặc
điểm cư trú sinh hoạt cùng những phong tục tập quán của đồng bào Dao ở
Liên Minh và những tài liệu thu thập được, chúng tôi đồng tình với quan điểm
của nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh và nhà nghiên cứu Trần Đức Ngôn Trên
cơ sở đó, đề tài xác định quan điểm của mình về Tri thức dân gian như sau:
Tri thức dân gian là hệ thống những kinh nghiệm dân gian, những
phong tục tập quán được đúc kết trong thực tiễn lao động sản xuất và sinh
hoạt cộng đồng, được hình thành trong một hoàn cảnh nhất định, một cộng
đồng dân tộc nhất định, phù hợp với văn hóa và môi trường của từng địa
phương và được trao truyền lại cho các thế hệ sau bằng hình thức truyền
khẩu
2.1.2 Tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản
* Theo Tổ chức Y tế thế giới (1994): “Sức khỏe sinh sản là một trạng
thái hoàn hảo về mặt thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là
không có bệnh tật trong mọi vấn đề có liên quan đến hệ thống sinh sản và các
chức năng cũng như quá trình sinh sản”
* Hội nghị quốc tế và phát triển dân số ICPD đã đưa ra định nghĩa
SKSS như sau: “SKSS là một tình trạng hài hòa về thể lực, tinh thần và xã hội
chứ không phải chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay tàn phế trong tất cả
những vấn đề liên quan đến tình dục và hệ thống sinh sản của con người,
những chức năng và quá trình hoạt động của nó”
* Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Trẻ em được tính từ 0 - 18 tuổi
và được chia thành nhiều giai đoạn; trong đó, trẻ sơ sinh: từ lúc sinh đến 1 tháng tuổi ”
Dựa trên cơ sở là quan điểm của các tổ chức, giới nghiên cứu khoa học
Trang 36Tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe sinh sản là những tri thức, kiến thức bản địa, đó là những kinh nghiệm về chăm sóc sức khỏe sinh sản được thử nghiệm và truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác, phù hợp với văn hóa, môi trường xã hội của từng dân tộc, từng địa phương nhằm đảm bảo sự hoàn hảo về bộ máy sinh sản, đi đôi với sự hài hòa về mặt thể chất, tinh thần
mẹ từ những ngày đầu tiên Khi có dấu hiệu mang thai người phụ nữ phải thực hiện rất nhiều các điều kiêng kỵ do đồng bào đặt ra từ bao đời nay từ việc ăn uống, nghỉ ngơi đến hoạt động sinh hoạt sản xuất, họ thực hiện nghiêm ngặt những điều đó nhằm bảo vệ thai nhi và để những đứa trẻ sinh ra được mạnh khỏe, mẹ tròn con vuông, đặc biệt những đứa bé trai sẽ tiếp tục
“sự nghiệp” nối dõi tông đường
Ngày trước, do phải sống cuộc sống du canh du cư, nay chỗ này mai chỗ khác, đời sống của đồng bào Dao lại quá thiếu thốn, những khi không may bị ốm đau, bệnh tật đồng bào chỉ biết chữa trị cho người bệnh bằng một
số bài thuốc nam cổ truyền với các loại lá rừng Uống thuốc không khỏi thì cầu cúng mong thần thánh, tổ tiên phù hộ hoặc mời thầy cúng về làm lễ để hóa giải
Việc sinh đẻ của người Dao ngày trước do từng gia đình tự lo liệu lấy Bởi vậy nạn “hữu sinh vô dưỡng” hoặc hiếm con trở thành phổ biến ở khắp các bản làng, nên sinh đẻ thuận lợi là điều mong ước chính đáng của những người đã trở thành vợ chồng Để khắc phục tình trạng trên nên ngày trước
Trang 37đồng bào Dao ở Liên Minh đã đặt ra nhiều lễ tục cầu cúng, nhiều kiêng kỵ trong việc sinh đẻ và nuôi con Cùng với quá trình tồn tại và phát triển, qua thời gian và các thế hệ người Dao, đồng bào Dao ở Liên Minh đã tích lũy được vốn kinh nghiệm quý báu, đó là hệ thống tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe; trong đó có tri thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho bà mẹ và trẻ sơ sinh, được kiểm nghiệm và truyền đạt qua nhiều thế hệ
2.2.1 Thời kỳ mang thai
Thai nhi sống trong dạ con, phụ thuộc hoàn toàn vào cơ thể mẹ vì thế nếu mẹ hoàn toàn khỏe mạnh thì thai nhi dễ dàng phát triển Do vậy, việc chăm sóc thai phụ và thai nhi trong giai đoạn mang thai (đặc biệt là giai đoạn trước khi sinh nở) là một công việc hết sức quan trọng nhằm tránh cho thai phụ những điều không mong muốn xảy ra trong giai đoạn trước khi sinh như: các dị tật bẩm sinh,các bệnh rối loạn chuyển hóa, đẻ non, ngoài ra có thể gặp các bệnh
có liên quan đến quá trình đẻ như ngạt, sang chấn sản khoa, thai chết lưu
Đồng bào Dao ở Liên Minh cũng rất coi trọng việc chăm sóc thai phụ Với mong muốn sinh hạ được những đứa con khỏe mạnh, mẹ tròn con vuông đồng bào đã đặt ra những quy định, kiêng kỵ và cách chăm sóc riêng đối với
bà mẹ đang mang thai để cho sức khỏe của bà mẹ được đảm bảo, như vậy thì thai nhi mới khỏe mạnh và sinh ra được những đứa con khỏe mạnh Đó là hệ thống những tri thức dân gian được đồng bào người Dao đúc kết và trao truyền qua các thế hệ
2.2.1.1 Về việc ăn uống
Không giống như nhiều dân tộc khác phải kiêng kỵ rất nhiều trong ăn uống vào thời kỳ mang thai để tránh cho đứa trẻ sinh ra có những tật bẩm sinh, như kiêng ăn ốc vì sợ con sinh ra hay chảy nhớt rãi, kiêng ăn thịt rắn vì
sợ con sinh ra hay thè lưỡi như rắn, kiêng ăn quả chua vì sợ con bị mọc mụn
Trang 38mà gia đình sản xuất được như: cơm, ngô, khoai, sắn và các loại rau màu gia đình trông được hay hái lượm ở ngoài rừng, các loại động vật săn bắn được từ hoạt động khai thác tự nhiên, đó là hươu, nai, heo rừng, gà rừng, cày, thỏ săn bẫy được ở rừng hoặc các loại tôm, cua, cá, ốc bắt được ở suối, khe, rạch Trong thời gian này, mọi thành viên trong gia đình đều ưu tiên cho bà mẹ đang mang thai những thức ăn ngon nhất, gạo để nấu ăn là những gạo ngon nhất mà gia đình có được, nếu săn bắn được thú rừng thì đều nhường cho bà
mẹ mang thai những miếng ăn ngon, với mong muốn người mẹ sẽ được cung cấp nhiều dưỡng chất nhất, đảm bảo cho sức khỏe của mẹ và thai nhi Theo đồng bào, những thức đó đều là thức ăn bổ dưỡng cho sức khỏe của thai phụ
Đồng bào không quy định về số lần ăn mà tùy vào nhu cầu của bản thân thai phụ Có nghĩa là khi nào đói thì thai phụ sẽ ăn có thể là ba đến bốn bữa trong ngày hoặc nhiều hơn Mặc dù có sự thiếu thốn về mặt kinh tế, không phải gia đình nào cũng có điều kiện để chăm sóc cho sức khỏe và đáp ứng đầy đủ nhu cầu ăn uống của thai phụ, nhưng mọi gia đình đều cố gắng để cho thai phụ có thể ăn ít nhất là 3 bữa trong ngày Như vậy mới có thể đảm bảo cho sức khỏe của thai phụ, nuôi dưỡng thai nhi khỏe mạnh Gia đình nào
có điều kiện hơn thì có thỉnh thoảng có thêm các món gà hầm với các loại quả hoặc lá thuốc để bổ sung dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai
Mặc dù không kiêng kỵ trong chuyện ăn uống nhưng đồng bào khuyến khích các thai phụ nên ăn nhiều cơm, khoai, đặc biệt là cơm nếp Theo đồng bào quan niệm, người đang mang thai ăn cơm nếp sẽ no lâu hơn, đi làm đỡ bị hao tổn sức lực nhiều hơn, như vậy có thể đảm bảo được sức khỏe của mẹ và thai nhi Thực chất trong gạo nếp có chứa lượng tinh bột cao hơn gạo tẻ Theo bảng phân tích giá trị dinh dưỡng một số loại lương thực, hàm lượng tinh bột trong gạo nếp (75%) cao hơn ở gạo tẻ (62,4%), mà tinh bột là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu Như vậy, ăn gạo nếp sẽ cung cấp nguồn năng lượng lớn cho cơ thể, tốt cho sức khỏe sản phụ Ngoài ra, người mang thai cũng được khuyến khích nên ăn các loại thịt lợn, thịt gà đồi và trứng gà để bổ sung dinh
Trang 39dưỡng; khi mang thai được 3 - 4 tháng thì nên ăn cá chép cho môi đứa trẻ được đỏ, da dẻ hồng hào Đồng bào cũng khuyên người đang mang thai không được uống nước lã ở khe, rạch, suối vì sợ các con vật lạ chui vào bụng ảnh hưởng đến mẹ và thai trong bụng, khuyến khích thai phụ uống nước đun sôi bằng lá cây rừng như lá nước lá vối hay nước thuốc vừa giúp an thai, vừa
để da dẻ được mát mẻ, con sau này sinh ra không bị mụn nhọt, ghẻ lở, điều này sẽ phân tích kỹ hơn ở phần các bài thuốc dân gian
Tuy nhiên, do đời sống gia đình còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nên chế
độ dinh dưỡng của đồng bào trong truyền thống còn nghèo nàn chứ không phong phú như ngày nay Đa số đồng bào không được chăm sóc dinh dưỡng đầy đủ trong giai đoạn mang thai, thường thì chỉ có gì thì ăn nấy, thậm chí có trường hợp người mang thai bị đói lả vì thiếu ăn khi đang đi làm ở trên nương hay đi lấy củi, hái thuốc trong rừng Do vậy, có nhiều hiện tượng con sinh ra
đã bị còi xương, suy dinh dưỡng trầm trọng Đó là chưa kể những hiện tượng khác như dị thai, con sinh ra bị dị dạng, dị tật do người mẹ ăn uống không hợp vệ sinh và đảm bảo chất dinh dưỡng, đồng bào cũng không được tiêm phòng định kỳ và không được cấp phát thuốc đầy đủ theo đúng chương trình chăm sóc SKSS của Bộ Y tế
2.2.1.2 Về chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi
* Chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi
Đặc điểm kinh tế của xã Liên Minh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, gieo trồng lúa nước theo mùa vụ, thêm vào đó là hoạt động nương rẫy, người dân nơi đây quanh năm phải làm lụng vất vả “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Cùng với nhịp sống ấy, đồng bào Dao ở Liên Minh cũng tham gia lao động sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ chung của vùng, vì vậy mà gần như công việc đồng áng của nhà nông của các gia đình đồng bào Dao rất bận, chỉ rảnh rỗi vào thời kỳ nông nhàn (tháng 11 và tháng Chạp - đồng bào vừa thu
Trang 40Hoạt động kinh tế nông nghiệp đòi hỏi cần có nhiều nhân lực mà nguồn nhân lực của mỗi gia đình có hạn (do hình thức tổ chức gia đình chủ yếu của người Dao nơi đây là gia đình nhỏ, thường chỉ từ 1 đến 2 thế hệ) nên hầu như các bà mẹ khi mang thai không được nghỉ ngơi nhiều mà vẫn phải tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất cùng với gia đình như bình thường, làm các công việc đồng áng như: cấy lúa, gặt hái, trồng rau, lên rừng kiếm củi, kiếm măng rừng, đi bắt ốc, cua, cá lượm hái các loại rau rừng để bổ sung nguồn thức ăn cho gia đình, lên rừng kiếm các loại cây thuốc đối với các gia đình làm thuốc Các hoạt động đó được tiến hành như bình thường cho đến khi người phụ nữ cảm thấy khó ở, tức là lúc có dấu hiệu trở dạ mới nghỉ ngơi
và làm các công việc nhẹ trong gia đình Mặt khác, đồng bào quan niệm người mẹ đang mang thai phải chăm chỉ hoạt động thì sau này con sinh ra mới khỏe mạnh, chịu khó, nhanh nhẹn, tháo vát, ham học hỏi; ngược lại nếu bà mẹ nào lười nhác thì sinh con ra cũng lười biếng, chậm chạp, yếu ớt không biết làm lụng gì để phục vụ gia đình Cũng theo kinh nghiệm dân gian truyền lại,
để dễ đẻ thường, phụ nữ mang thai không nên ngồi nhiều, như các cụ ngày xưa thường đi lại nhiều nên rất dễ sinh nở
Tuy vậy, người đang mang thai cần tránh việc đi làm vào sáng sớm tinh
mơ, giữa trưa và khi mặt trời xuống núi Bởi lẽ, đồng bào quan niệm đó là thời gian mở cửa thiên đường và địa ngục, lúc này ma có thể đi lại giữa các tầng trời, đất và trần gian Đây cũng là thời gian ma đi kiếm ăn và đi về, thai phụ ra ngoài vào giờ này rất dễ bị hồn vía dữ theo về làm hại Thực tế cho thấy, vào sáng sớm và chiều tối tiết trời nhiều sương dễ ảnh hưởng đến sức khỏe thai phụ; vào thời điểm giữa trưa, nhiệt độ lên đến đỉnh điểm, đặc biệt vào mùa hè, nắng vào thời điểm này gay gắt nhất và có chứa nhiều tia cực tím
có hại cho da, đồng bào tránh đi làm vào những giờ này để tránh cho thai phụ không bị cảm nắng, cảm gió, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của mẹ và thai nhi Khi bị ốm, kiêng người mang thai ra suối, rạch bắt tôm, cua cá để