Chính vì vậy tôi quyết định chọn đề tài : “Trang phục của người Sán Dìu ở xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình, với mong muốn góp phần gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
… … o0o………
TRANG PHỤC CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở
XÃ ĐẠO TRÙ, HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN
Giảng viên hướng dẫn: TS Vi Văn An Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Hường Lớp : VHDT 14A
Hà Nội – 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân
em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tổ chức, cá nhân khác
Xin gửi lời cảm ơn tới thầy cô giáo khoa Văn hóa dân tộc thiểu số, đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Vi Văn An đã trực tiếp hướng dẫn em tìm hiểu, nghiên cứu đề tài khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn tới các ban nghành đoàn thể huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và chính quyền cùng nhân dân địa phương xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo nói riêng đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin, tài liệu cho bài khóa luận được hoàn thành đúng thời hạn và phong phú về nguồn tư liệu
Là sinh viên với hiểu biết còn hạn hẹp, bước đầu nghiên cứu về văn hóa truyền thống của một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tuy khóa luận đã được hoàn thành nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều hạn chế, em rất mong nhận được những ý kiến, bổ sung quý báu
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Vũ Thị Hường
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Nguồn tư liệu và tài liệu luận văn 6
7 Đóng góp của đề tài 6
8 Bố cục của khóa luận 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ NGƯỜI SÁN DÌU XÃ ĐẠO TRÙ , HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC 8
1.1 Các điều kiện tự nhiên 8
- Vị trí địa lý 8
- Đất đai, khí hậu, sông ngòi 9
1.2 Khái quát về người Sán Dìu xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 10 - Tên gọi 10
- Dân số 10
- Nguồn gốc lịch sử 11
1.3 Các đặc điểm kinh tế 12
- Trồng trọt 12
- Chăn nuôi 13
- Các nghề thủ công 13
1.4 Các đặc trưng văn hóa 15
1.4.1 Văn hóa xã hội 15
1.4.2 Văn hóa vật chất 21
1.4.3 Văn hóa tinh thần 23
Tiểu kết 28
Trang 4CHƯƠNG 2: TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI SÁN
DÌU XÃ ĐẠO TRÙ, HUYỆN TAM ĐẢO 29
2.1 Khái quát chung về trang phục 29
2.2 Nguyên liệu và cách thức nhuộm vải 30
2.3 Trang phục nữ giới 32
2.3.1 Trang phục ngày thường 32
2.3.2 Trang phục nữ trong ngày lễ hội và cưới xin 38
2.4 Trang phục nam 39
2.4.1.Trang phục ngày thường 39
2.4.2 Trang phục nam trong ngày lễ hội và cưới xin 41
2.5 Trang phục trẻ em 42
2.6 Trang phục thầy cúng 43
2.7 Tang phục 45
2.8 Một số giá trị của trang phục Sán Dìu 46
2.8.1 Giá trị sử dụng 46
2.8.2 Giá trị văn hóa 47
2.8.3 Giá trị thẩm mỹ 48
Tiểu kết 49
CHƯƠNG 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ TRANG PHỤC CỦA NGƯỜI SÁN DÌU XÃ ĐẠO TRÙ HIỆN NAY 50
3.1 Những biến đổi trong trang phục hiện nay 50
3.2 Nguyên nhân biến đổi 53
3.2.1 Khách quan 53
3.2.2 Chủ quan 57
3.3 Những vấn đề đặt ra và giải pháp bảo tồn 59
Tiểu kết 63
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤC LỤC 68
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia với 54 dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc có những nét văn hóa riêng biệt góp phần tạo nên một nền văn hóa chung đa dạng, phong phú Điều rễ nhận thấy ở sắc thái văn hóa riêng đó chính là trang phục, cùng với ngôn ngữ, trang phục là dấu hiệu thông tin quan trọng để chúng ta nhận biết các tộc người khi có dịp tiếp xúc
Trang phục là một trong những thành tố văn hóa vật thể cơ bản không thể thiếu được đối với đời sống con người Ngoài chức năng che đậy, bảo vệ con người về mặt sinh học trang phục còn phản ánh văn hóa, nếp sống tộc người, trình độ phát triển thủ công nghiệp và quan niệm thẩm mỹ Thông qua trang phục, người ta có thể nhận diện và phân biệt tộc người này với tộc người khác, chính vì vậy trang phục luôn là một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng của nhân học văn hóa
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sự biến đổi về kinh tế kéo theo sự biến đổi về văn hóa, lối sống, nếp sống… trang phục không nằm ngoài quy luật đó, xu hướng hòa đồng về trang phục của các dân tộc ngày càng trở nên phổ biến ở tất cả mọi vùng miền, mọi dân tộc trên cả nước
Nghiên cứu trang phục dưới góc độ văn hóa, lịch sử sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những nét đặc trưng văn hóa tộc người và những mối liên hệ liên quan Từ đó có thêm những cứ liệu khoa học làm cơ sở vững chắc cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống nói chung và văn hóa người Sán Dìu xã Đạo Trù huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng trong bối cảnh giao lưu, hội nhập hiện nay
Trang 6Là người công tác trong lĩnh vực văn hóa dân tộc thiểu số trong tương lai, sống gần với người Sán Dìu, từ lâu tôi đã mong muốn tìm hiểu đề tài về
người Sán Dìu Chính vì vậy tôi quyết định chọn đề tài : “Trang phục của
người Sán Dìu ở xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình, với mong muốn góp phần giới thiệu về một nét văn hóa, đồng thời góp phần vào bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người Sán Dìu thông qua trang phục của họ
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm giới thiệu trang phục truyền thống của người Sán Dìu xã Đạo Trù, đồng thời nói về những biến đổi trang phục hiện nay Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống qua trang phục của người Sán Dìu, vốn đã và đang bị mai một trong quá trình phát triển dưới những tác động của những yếu tố chủ quan, khách quan hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trang phục của người Sán Dìu xã Đạo Trù, huyện
Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Nội dung trình bày bao gồm nguyên liệu, cách nhuộm, trang phục nam, nữ, trẻ em, y phục thầy cúng, tang phục và sự biến đổi của trang phục cũng như những vấn đề bảo tồn các giá trị trang phục hiện nay
Phạm vi, địa bàn nghiên cứu: Xã Đạo Trù thời gian trước và sau năm
1986
4 Lịch sử nghiên cứu
Trang phục của người Sán Dìu đã được đề cập đến trong một số công
trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả như: Văn hóa các dân tộc thiểu số
vùng Đông Bắc của Trần Bình; Người Sán Dìu ở Việt Nam của Ma Khánh
Trang 7Bằng; Văn hóa các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang của Nịnh Văn Độ; Nghi lễ gia đình của người Sán Dìu ở xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang của Cao Thị Thắm; chuyên đề về người Sán Dìu ở Tam Đảo của tạp trí văn hóa Vĩnh Phúc… Tuy nhiên, có thể nói cho đến nay chưa
có công trình, bài viết nào nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ về trang phục của người Sán Dìu Đặc biệt, chưa có công trình bài viết nào đi sâu vào nghiên cứu, miêu tả một cách cụ thể, chi tiết về trang phục của người Sán Dìu ở xã Đạo Trù, Tam Đảo Vì thế, đây cũng là một trong những lý do khiến tôi chọn
đề tài và địa điểm này làm đề tài nghiên cứu của mình
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nhìn nhận và đánh giá xác thực về trang phục của người Sán Dìu, nhằm nêu bật đặc điểm cũng như sự biến đổi của nó, khóa luận sử dụng những phương pháp: điền dã dân tộc học tại địa bàn nghiên cứu bao gồm quan sát, ghi âm, phỏng vấn, hỏi chuyện, chụp ảnh, ghi chép; sử dụng phương pháp tham dự; phương pháp phân tích, so sánh, thống kê miêu tả, xử lý dữ liệu…
6 Nguồn tư liệu và tài liệu luận văn
Khóa luận được hoàn thành dựa trên nguồn tư liệu do chính tác gỉa thu thập được trong các chuyến điền dã tại địa bàn nghiên cứu nêu trên Bên cạnh
đó, khóa luận cũng kế thừa các tài liệu qua các công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu đã công bố
7 Đóng góp của khóa luận
Bước đầu tìm hiểu sưu tầm hệ thống tư liệu và mô tả về trang phục của người Sán Dìu ở xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo góp phần bổ sung thêm tư liệu
về văn hóa truyền thống dân tộc này
Trang 8Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang công tác tại các cơ quan văn hóa, nghiên cứu văn hóa truyền thống các dân tộc
8 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục Nội dung khóa luận được trình
bày trong 3 chương:
Chương 1: Khái quát về địa bàn và người Sán Dìu xã Đạo Trù, huyện
Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 2: Trang phục truyền thống của người Sán Dìu xã Đạo Trù,
huyện Tam Đảo
Chương 3: Những biến đổi về trang phục người Sán Dìu xã Đạo Trù
hiện nay
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ NGƯỜI SÁN DÌU XÃ ĐẠO TRÙ,
HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
1.1 Các điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Xã Đạo Trù nằm ở phía Bắc huyện Tam Đảo, cách thị trấn Tam Đảo khoảng 30km về phía Nam với diện tích đất tự nhiên là 7.456 ha, xã có địa giới hành chính tiếp giáp với các khu vực khác như sau:
Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên,
Phía Đông giáp xã Đại Đình,
Phía Nam giáp xã Bồ Lý,
Phía Tây giáp xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Xã Đạo Trù gồm 13 làng: Đồng Quạ, Vĩnh Ninh, Phân Lân thượng, Phân Lân hạ, Tân Tiến, Xóm Gò, Tân Phú, Đạo Trù thượng, Đạo Trù hạ, Tiên Long, Tân Lập, Lục Liễu, Đồng Giếng
Với vị trí địa lý như vậy, xã có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế hàng hóa cũng như giao lưu văn hóa với các khu vực lân cận
Trang 10Địa hình đồng ruộng ở chân núi: địa hình khá bằng phẳng, chủ yếu là đất phù sa bồi tụ, thuận lợi cho nông nghiệp phát triển
Với địa hình khá đơn giản trên, xã Đạo Trù có những điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế nông nghiệp lúa nước, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc đồng thời có thể phát triển đường giao thông liên xã để giao lưu, trao đổi buôn bán với các khu vực kinh tế bên cạnh
* Đất đai
Xã Đạo Trù có tổng diện tích đất tự nhiên là 7.456 ha, trong đó đất sử dụng trong nông nghiệp là trên 3.627 ha, đất sử dụng trong lâm nghiệp 3.776,55 ha, đất chưa sử dụng 18,66 ha
* Sông ngòi
Địa bàn xã có sông Phó Đáy chảy qua, bắt nguồn từ phía Bắc, bên cạnh
đó trong xã còn có nhiều con suối nhỏ, kênh mương nằm rải rác…Đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hoạt động sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong xã
Trang 11* Rừng
Xã có trữ lượng rừng lớn, tổng diện tích đất rừng là 5.776,55 ha, độ che phủ tương đối lớn so với diện tích tự nhiên, thảm thực vật phong phú, với nhiều loại gỗ có giá trị kinh tế cao, bên cạnh đó rừng là nơi cư trú của các loại động vật vừa có giá trị dinh dưỡng vừa có giá trị y học…
1.2 Khái quát về người Sán Dìu xã Đạo Trù
Đến cuối tháng 3 năm 1960 tên gọi Sán Dìu được tổng cục thống kê ghi nhận và tên gọi đó được khẳng định là tên gọi chính thức của dân tộc này
* Dân Số
Xã Đạo Trù có tổng số dân trên 14.000 người, với 2.300 hộ, gồm các dân tộc: Kinh, Sán Dìu, Cao Lan… sinh sống, trong đó có khoảng hơn 87,5 % là người Sán Dìu cư tại hầu hết 13 làng Riêng Tân Tiến và Lục Liễu là hai thôn
có ít người Sán Dìu sinh sống hơn
Có thể nói, xã là địa bàn cư trú tập trung khá đông người Sán Dìu, và cũng chính vì vậy có thể nói xã là nơi thể hiện rõ nét những đặc điểm văn hóa của người Sán Dìu nhất, cả về đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của tộc người này tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 12* Về nguồn gốc lịch sử
Thông qua các truyền thuyết, truyện kể còn lưu truyền trong dân gian cũng như các tài liệu nghiên cứu đã công bố đều thống nhất cho rằng: người Sán Dìu không phải là dân tộc bản địa ở Việt Nam, mà họ di cư từ Nam Trung Quốc sang khoảng 300 năm nay
Theo ông Lưu Xuân Hoa 82 tuổi người Sán Dìu ở thôn Đồng Pheo, xã Yên Dương, Tam Đảo kể: Sán Dìu là tộc người có quê tổ xa xưa ở miền Nam Trung Quốc, khoảng thế kỷ XVII do không chịu nổi sự tàn ác giã man của nhà Minh và nhà Thanh, nên họ phải di cư sang các nước khác trong đó có Việt Nam Trước khi đến Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, người Sán Dìu đã dừng chân ở Quảng Ninh, sau đó nhiều bộ phận tiếp tục chuyển cư đến Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang…
Nội dung Truyện thơ “vua cóc ở man cay cóoc”của người Sán Dìu gồm khoảng trên 3000 câu thơ 7 chữ cho biết: man cay cóoc là một vương quốc có
người Sán Dìu sinh sống, nơi đây có cảnh vật thiên nhiên hùng vĩ, ruộng đất phì nhiêu, làm ăn dễ dàng và có lẽ cũng vì thế mà họ thường bị quân của triều đình phong kiến đến cướp bóc, tàn phá…Người Sán Dìu đứng lên chống lại kiên cường, triều đình thấy dân tộc Sán Dìu nhỏ bé mà lại không dễ trị, nên đã chiêu kẻ tài trong thiên hạ đến đánh dẹp loạn, nếu thắng sẽ được hậu thưởng Khi ấy có một gia đình nông dân nghèo khổ hiền lành đức độ, lấy nhau hơn
20 năm mới sinh được một mụn con nhưng bị quái thai, hình thù dị dạng như
con cóc nên người ta gọi là “Thằng Cóc” Cóc nhận đi đánh chiếm vùng đất
người Sán Dìu sinh sống và giành chiến thắng, từ đó người dân Sán Dìu tan cửa nát nhà, lưu lạc khắp nơi, một nhóm người tìm đường chạy xuống Sơn Nam Quốc (Nam Việt tức Việt Nam ngày nay) để sinh sống
Trang 13Nội dung của Truyện thơ trên cũng là bằng chứng cho thấy người Sán Dìu là dân tộc di cư sang Việt Nam sinh sống từ thời nhà Minh và nhà Thanh, chứ không phải là dân bản địa
Nơi dừng chân đầu tiên tại Việt Nam của người Sán Dìu là Hoàng Chúc Cao Sơn và Vạn Linh thuộc huyện Hà Cối, Tiên Yên rồi ven theo bờ biển đi sâu vào Móng Cái, Đầm Hà, Hoành Bồ, Mạo Khê, Đông Triều thuộc tỉnh Quảng Ninh Một bộ phận khác di cư đến vùng Chí Linh thuộc tỉnh Hải Dương, còn phần lớn theo vào Lục Nam, Lục Ngạn, Lạng Giang, Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang Tiếp theo đó từ Bắc Giang người Sán Dìu di cư đến Tuyên Quang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc…
Ở Việt Nam người Sán Dìu sinh sống ở các tỉnh : Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Thanh Hóa…họ thường cư trú ở những khu vực điều kiện không mấy thuận lợi cho sinh hoạt
và sản xuất Hiện nay tổng số dân Sán Dìu ở Việt Nam có khoảng 146.821 người, ở Vĩnh Phúc 36.821 người, chiếm 25,1% tổng số người Sán Dìu tại Việt Nam (thống kê năm 2009)
1.3 Đặc điểm kinh tế
* Trồng Trọt
Cũng như người Sán Dìu ở Tuyên Quang, Bắc Giang,…Ở Vĩnh Phúc người Sán Dìu sống trên những đồi gò thấp miền trung du thoai thoải như hình bát úp Đặc biệt ở xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo mô hình sinh sống đó thể hiện rất rõ, cũng như các dân tộc khác trong huyện hay các dân tộc khác cư trú trên vùng Đông Bắc Việt Nam, người Sán Dìu ở Đạo Trù sinh tồn nhờ vào
củ khoai, bắp ngô, hạt lúa…Chính vì vậy họ rất quan tâm đến hoạt động trồng trọt để sinh sống và phát triển
Trang 14Từ lâu người Sán Dìu ở xã đã biết xen canh gối vụ các loại cây trồng, ngoài cây lúa là cây lương thực chính, người dân còn biết trồng nhiều cây hoa màu và cây lương thực khác như: Ngô, khoai, sắn, lạc , vừng…cùng với đó là các công cụ sản xuất đơn giản thô sơ như cày, bừa, cuốc, cào…và họ biết quan tâm đến vấn đề thủy lợi, biết quan tâm chăm sóc phân bón cho cây trồng…thúc đẩy cây trồng sinh trưởng, phát triển và tăng năng suất cây trồng Những nông sản thu được từ hoạt động trồng trọt có vai trò rất lớn trong hoạt động sống, đảm bảo cuộc sống cho người
* Nghề Thủ Công
Bên cạnh hai hoạt động kinh tế chính là trồng trọt và chăn nuôi, người Sán Dìu ở xã Đạo Trù còn phát triển nghề thủ công khá nhiều như đan lát, mộc, rèn…
Nghề rèn: đối với người Sán Dìu xã Đạo Trù không phải ai cũng biết nghề rèn, nó tuy là nghề thông dụng nhưng chỉ có một số ít thợ rèn có uy tín lành nghề Người Sán Dìu có kỹ thuật rèn thép rất tốt, họ rèn đao, rèn lưỡi cuốc, rìu, đinh ba…đạt kỹ thuật tối cao Các công cụ đạt được độ cứng và dẻo, hài hòa, sắc mà không mẻ
Ngoài nghề rèn xã còn có nghề đan lát, họ thường đan những vật dụng như: nong, nia, thúng, mủng, dần, sàng, các loại giỏ, đơm, đó…
Trang 15Cùng với đó nghề mộc cũng rất phát triển
Các sản phẩm của nghề thủ công này đều mang đậm bản sắc tộc người
* Săn bắt, hái lượm và trao đổi
Săn bắt là hoạt động thường diễn ra vào mùa khô, được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể vào ban ngày cũng có thể vào ban đêm, hoạt động săn bắt này có thể là hoạt động săn bắt những con thú ở rừng hoặc đánh bắt cá, tôm, cua, ốc ở sông suối
Hái lượm là hoạt động diễn ra quanh năm, thường làm vào thời gian rỗi hoặc tranh thủ những lúc đi làm đồng ruộng, họ thường hái măng, mộc nhĩ, rau rừng…
Những gì thu lượm được từ hoạt động săn bắt, hái lượm đều phục vụ trực tiếp cho sinh hoạt hàng ngày của gia đình, đặc biệt là bổ sung vào bữa ăn của gia đình
Hoạt động trao đổi mua bán của dân tộc Sán Dìu trong truyền thống rất
ít phát triển, chưa có nhiều hàng hóa đem ra trao đổi mua bán, sản phẩm làm
ra chủ yếu là để phục vụ cho gia đình, gia đình nào thừa cái gì thì đem ra bán, gia đình nào cần thì mua về
Có thể nói hoạt động kinh tế của người Sán Dìu trong truyền thống mục đích chính, và đóng vai trò chính trong đời sống của mỗi gia đình, bản chất của hoạt động kinh tế này mang nặng tính tự túc, tự cấp
Hiện nay cùng hòa nhập với xu thế thời đại, quá trình kinh hóa đời sống của người Sán Dìu có nhiều thay đổi, nền kinh tế không còn mang tính tự cung tự cấp nữa mà hoạt động trao đổi buôn bán đã diễn ra phổ biến, dồng thời đời sống của người dân được nâng cao hơn rất nhiều
Trang 161.4 Đặc trưng văn hóa
1.4.1 Văn hóa xã hội
Thôn, làng
Người Sán Dìu gọi làng là Sôn, cũng như dân tộc Sán Dìu ở nơi khác, làng của người Sán Dìu ở Đạo Trù, Tam Đảo, Vĩnh Phúc thường bố trí ở chân núi thấp hoặc trên những vùng đồi gò bằng phẳng, có một số ít sống trên
núi cao
Người Sán Dìu thường cư trú thành từng làng nhỏ, mỗi làng có khoảng 20-30 nóc nhà sống tụ lại với nhau, xung quanh nhà ở là đồng ruộng, nhà của dân tộc này được bố trí giống nhau với kiểu nhà lưng dựa vào đồi, mặt quay
ra ruộng, có nguồn nước chảy qua tiện cho việc sinh hoạt và sản xuất
Trong mỗi làng của người Sán Dìu thường có miếu thờ thổ công, dân làng tổ chức cúng vào đầu năm và cuối năm, cúng vào đầu năm nhằm mục đích cầu phúc, cầu tài cầu lộc; cúng vào cuối năm tạ ơn trời đất Dân làng cử một người trông miếu, hàng tháng có trách nhiệm thắp hương và dọn miếu
Tổ chức xã hội theo thôn, làng, xã, tổng và bộ máy chức dịch Đứng đầu tổng có tránh tổng, đứng đầu làng xã có lý trưởng cai quản, đầu thôn có khám trại…bộ máy này có trách nhiệm thi hành luật lệ của nhà nước phong kiến, chủ yếu là thúc đốc nhân dân nộp sưu thuế, đi phu đi lính Ngoài bộ máy hành chính còn có bộ máy quân sự gồm xã đoàn, tuần tổng huấn luyện, chỉ huy lính
và dân binh khi lâm sự
Bên cạnh đó còn có tổ chức gọi là Hội đồng kỳ mục hay Hội đồng hương thôn, trong các làng của người Sán Dìu còn duy trì hình thức bầu một người đứng đầu làng, người này không do kỳ hào cấp xã, tổng hay quan lại cấp châu huyện cắt cử mà do dân làng bầu ra để đảm đương một số công việc như đôn
Trang 17đốc nhân dân rửa đường xá, đình miếu và hòa giải những xích mích trong làng và duy trì tục lệ cổ truyền
Xã hội truyền thống Sán Dìu không có chế độ sở hữu ruộng công, có sở hữu tư nhân, sở hữu gia đình, nhà nào khai phá được bao nhiêu thì thuộc quyền sở hữu của nhà ấy
Trước cách mạng tháng 8 trong các làng Sán Dìu đã có sự phân hóa giai cấp, không chỉ có người giầu, người nghèo, mà còn có bần cố, trung nông, phú nông, địa chủ, và có một tầng lớp tuy không giàu có nhưng lại có ảnh hưởng đáng kể tới cộng đồng là thầy cúng
Từ khi nhà nước đổi mới, ruộng đất được phân chia cho các thành viên trong xã hội theo chính sách riêng, theo hộ khẩu các thành viên trong gia đình thì sự sở hữu ruộng đất công bằng được hình thành cho đến ngày nay
Dòng họ
Ở Tam Đảo người Sán Dìu có các họ như Lục, Lý, Trương, Lưu, Đằng, Diệp, Ôn…Mỗi họ đều có tên đệm để phân thứ bậc và thế hệ, họ rất quý trọng người cùng họ
Người Sán Dìu vẫn truyền miệng nhau câu “san déo lỏong si”: người
Sán Dìu ít nên phải đùm bọc quý mến lẫn nhau, tinh thần đoàn kết và bảo vệ lẫn nhau của những người cùng họ rất cao
Đặc trưng của dòng họ không chỉ thể hiện đậm nét về tư tưởng mà còn
về xã hội và nhất là kinh tế, có thể nói cộng đồng tín ngưỡng với kiêng kỵ lễ nghi riêng chính là chất keo gắn kết trong quan hệ dòng họ
Ở phạm vi hẹp dòng họ là tập thể con cháu ba đời, bao gồm vài chục gia đình có ông tổ chung cụ thể, đó là một đơn vị có kiểu cộng đồng theo kiểu huyết thống theo hệ cha, các thành viên trong họ gắn bó với nhau bởi cùng một phả hệ dòng họ nam, đứng đầu dòng họ là trưởng họ
Trang 18Mỗi khi gia đình nào trong họ có việc thì cả họ lại họp lại, bàn bạc xem nên thực hiện như thế nào, dòng họ có vai trò rất quan trọng trong đời sống của các gia đình Sán Dìu xã Đạo Trù
Gia đình
Gia đình Sán Dìu là gia đình nhỏ phụ quyền, thường có 2 đến 3 thế hệ, người chồng, người cha quyết định mọi việc, con trai trưởng có trách nhiệm thờ phụng cha mẹ, tổ tiên
Người con trai trưởng được quyền tôn trọng gần ngang hàng với người
bố, chỉ có con trai mới được quyền thừa kế tài sản
Nguyên tắc hôn nhân của người Sán Dìu là ngoại hôn dòng họ, một vợ một chồng, bố chồng, anh chồng và nàng dâu có những kiêng kỵ nhất định: nàng dâu không được ăn chung mâm với bố và anh chồng, không được dùng chung chậu nước rửa mặt, không được dùng chung một ấm nước uống, con dâu muốn đưa cháu cho bố chồng bế thì không được đưa trực tiếp mà phải đặt con xuống một chỗ nhất định rồi bố chồng tự ra đón lấy đứa bé Bố chồng, anh chồng không được vào buồng con dâu ngay cả khi cô con dâu vắng mặt không có nhà
Địa vị con gái trong gia đình rất thấp kém, họ cho rằng có phụ nữ cốt là
để làm giống, họ không có quyền thừa hưởng tài sản từ cha mẹ, trừ trường hợp gia đình không có con trai thì người con gái lấy chồng ở rể phụng dưỡng cha mẹ được quyền thừa kế
Trong gia đình nam hay nữ khi đến tuổi lao động đều phải tham gia việc đồng áng, tuy nhiên nữ làm nhiều hơn nam, ngoài việc đồng áng phụ nữ còn phải làm việc nhà, nuôi dạy con cái Tuy vậy trong gia đình người phụ nữ cũng có vị trí nhất định
Trang 19Người già trong gia đình vẫn được tôn trọng, sự tôn trọng ấy không chỉ thể hiện trong nội bộ gia đình mà còn thể hiện trong đời sống xã hội, đó là việc tôn trọng ý kiến của người già trong lúc tham gia vào công việc chung của xã hội và công việc thường nhật của gia đình
Khi gia đình có người mất những người còn sống phải làm ma và chăm sóc phần mộ hương hỏa người quá cố, dù là trai hay gái, già trẻ…
- Trong sinh đẻ:
Người Sán Dìu xã Đạo Trù huyện Tam Đảo quan niệm phụ nữ mang thai càng phải siêng năng lao động hơn khi bình thường, như vậy mới dễ sinh Tuy nhiên những công việc họ làm theo quan niệm không có những công việc quá nặng nhọc, không phù hợp với thể lực phụ nữ Người phụ nữ không chỉ phải lao động vất vả khi có thai mà còn phải tuân theo nhiều kiêng kỵ có tính chất
mê tín khác của tộc người
Phụ nữ có thai không được đánh rắn, vì sợ con sẽ thè lè lưỡi như rắn; không được ăn thịt trâu sợ con bị câm; không được bước qua thừng trâu, chạc ngựa vì sợ lên tháng, trong thời gian mang thai phụ nữ không được đi qua nơi
ủ men rượu, không được sờ vào hoa quả vì sợ quả rụng, hoa không kết trái… Khi người phụ nữ có thai không chỉ riêng họ phải kiêng kỵ mà người chồng cũng có những kiêng kỵ nhất định theo quan niệm của tộc người: kiêng không đóng cọc, đào đất, đập gỗ, những cái gì quá nặng tay gây sẩy thai Người Sán Dìu có tục đẻ ngồi, sản phụ thường được ngồi bám vào một cái thắt lưng hay một cái thừng dòng từ sà nhà xuống, khi đứa bé lọt lòng người ta cắt rốn bằng một con dao nứa và tắm bằng nước đun lá thơm Lúc lọt lòng nếu đứa bé ra nghiêng, người ta coi như nó ôm quẩn lấy chân mẹ, đó là điềm lành, nếu đứa bé ra sấp là xung khắc với bố, ra ngửa là xung khắc với
mẹ
Trang 20Rau thai nhi được bỏ vào một cái sọt nhỏ rồi đem ra rừng treo lên một cành cây cao, đem rau thai đi cũng phải xem giờ, không được đi qua sông qua suối, tránh hướng đông, nếu phạm hướng này người phụ nữ sẽ không đẻ nữa
và đứa trẻ sơ sinh sẽ khó nuôi
Người ta kiêng kỵ nhất những người có vía độc, ác khẩu, đần độn…vào nhà khi còn cấm cữ, họ sợ bị đen hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe của đứa bé Sau khi sinh được ba ngày, họ cúng báo trình tổ tiên gia đình có thêm thành viên mới, đồng thời sau đó tổ chức cúng mụ và ăn mừng đầy tháng Trong dịp này bà con thân thuộc nhất là cha mẹ vợ, người mối nhất thiết phải
có quà cho đứa bé, quà có thể là 1-2 cái áo, cái địu, mũ vải, cái vòng tay, vòng cổ…khi đầy tháng cũng là lúc họ đặt tên tục cho đứa bé, khi còn nhỏ đứa trẻ
có thể thay đổi nhiều tên gọi nếu đứa trẻ đó hay ốm đau Đến khi đứa bé trưởng thành tên tục đổi thành tên chữ, tên này buộc phải có tên đệm như người trong họ, tên này được gọi suốt đời
-Trong cưới xin:
Cưới xin của người Sán Dìu bố mẹ đóng vai trò quyết định và phụ thuộc vào số mệnh của đôi trai gái, hôn nhân truyền thống của họ mang nặng tính chất mua bán với những lễ vật như đồ trang sức, tiền mặt…trong nghi lễ cưới xin của họ có nhiều nghi thức như lễ hỏi, lễ cưới, lại mặt…
Lễ hỏi nhà trai mang trầu cau sang xin phép nhà gái, gồm có bánh, chuối đến đặt lên bàn thờ cúng và xin thách cưới họ nhà gái
Khi cưới cô dâu phải chuẩn bị quần áo, tư trang, gối một đôi mang về nhà chồng, chú rể phải sắm giường, chiếu, chăn, màn, phải sắm cho cô dâu một bộ quần áo thật đẹp, một cái vòng cổ, trao cho cô dâu khi đón cô dâu về Theo phong tục trước khi cưới cô dâu phải khóc trong vòng ba tháng để trả ơn sinh thành của cha mẹ
Trang 21Đám cưới khi đi đón dâu chỉ có ông bà mối và các vị cao niên trong họ cùng các em nhỏ đi đón dâu, khi về đến nhà trai có chắn cổng, ông mối phải làm lễ phá chắn, đây là thủ tục nhập gia
-Trong tang ma:
Người Sáu Dìu tin rằng con người và vạn vật trên thế giới này đều có linh hồn và thế giới ở tâm thức của người dân là một thế giới rộng lớn gồm 3 tầng: Tầng trời là tầng trên cùng, nơi cư trú của thần thánh tổ tiên đã mất; tầng giữa là tầng trần gian, nơi con người thực sinh sống; tầng dưới cùng là tầng
âm phủ, là nơi trú ngụ của các loại ma quỷ
Về con người, Sáu Dìu quan niệm đàn ông có 3 hồn 7 vía, đàn bà có 3 hồn 9 vía Nếu hồn và vía luôn đầy đủ thì cơ thể sẽ khỏe mạnh, người ốm là
do hồn đi lang thang rồi bị ma bắt hoặc lạc đường về, lúc đó người thân phải gọi hồn về cho người ấy khỏe mạnh lại, nếu không gọi được hồn về người ấy
sẽ chết Con người sống trên trần gian là sống nhờ sống gửi, khi chết mới là thực sự về nơi mình sống, số mệnh của con người là do trời định, kiếp sau phụ thuộc vào kiếp trước, nếu kiếp trước ăn ở tốt thì kiếp sau sẽ sung sướng
và ngược lại, nếu kiếp trước độc ác thì kiếp sau sẽ phải chịu khổ
Người Sáu Dìu tin vào sự luân hồi, theo quan niệm của đồng bào thì mỗi thực thể sẽ luân hồi, đầu thai 100 lần với các vai trò khác nhau rồi lại trở lại làm người, mỗi lần đầu thai là một kiếp Kiếp trước và kiếp sau là quy luật nhân quả của nhau vì thế mọi người thường khuyên nhau sống thiện ở kiếp này để kiếp sau được sung sướng
Đồng bào Sáu Dìu quan niệm tang ma là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau, là quy trình từ khi con người ốm, chết đi, mai táng gọi là làm tang và sau đó người sống sẽ làm ma cho người chết để phá ngục giải oan cho linh hồn người chết được siêu thoát và sẽ về trời hưởng lộc
Trang 22Mỗi dân tộc, cộng đồng người đều có những phong tục tập quán gắn với chu kỳ đời người, với cuộc đời mỗi con người, nghi lễ tang ma là nghi lễ quan trọng thể hiện sự chu đáo, tình cảm của những người sống với người đã khuất, người Sáu Dìu khi có người mất, tuy là người của một gia đình nhưng ở đó thể hiện rất sâu sắc tính cộng đồng Nghi lễ tang ma của người Sáu Dìu có rất nhiều bước: Nghi lễ tắm rửa cho người chết, nghi lễ cho tiền vào miệng người chết, lễ báo tang và phát tang, nghi lễ đón thầy cúng, lễ cúng áo quan, nghi lễ dâng cơm cho người chết, lễ chọn đất làm huyệt mộ, lễ khâm niệm trước khi đưa tang, nghi lễ bắc cầu, nghi lễ làm nhà táng, lễ đưa tang, lễ ấp mộ tất cả những nghi lễ đó đều thể hiện tình cảm của người sống với người
đã chết, thể hiện nét đẹp, nét nhân văn trong lối sống của người Sáu Dìu nơi
Trong nhà phân chia thành các gian, phòng cho vợ chồng, con cái ngủ riêng
Nhà thường tựa lưng vào sườn đồi, mặt quay ra cánh đồng, trước mặt có dòng nước chảy qua tiện cho sinh hoạt và sản xuất
Nhà có tường và liếp bằng tre đan, đắp đất, mái nhà bằng rơm rạ, nhà chính thường có hai gian nhô ra, một hàng hiên trước hiên nhà chính chạy dài giữa hai gian nhô này Trong nhà nhô ra bên phải có buồng ngủ của chủ nhà, gian nhà nhô ra bên trái là bếp, hai gian này chiếm hết bề rộng của nhà nhưng gian chính được cất theo bề dài một tấm liếp Như vậy người ta đã tạo được
Trang 23một thứ hành lang và người ta đi vào bằng lối bếp, vào phòng của người chủ gia đình, hành lang này được ngăn cho tới khoảng giữa của bề rộng thành những buồng nhỏ để cho con trai, con gái, con dâu nằm…
Nhà ba gian rộng xây bằng ghạch mộc, mái lợp ngói móc, 2 gian đầu hồi nhô ra phía trước, gian giữa thụt vào và có hiên phía trước, có thêm hai mái vẩy
Một kiểu nhà khác là tổ hợp ba nhà: nhà chính là nhà giữa, hai nhà phụ hai bên Nhà phụ cách nhà chính hai hành lang hẹp, ba nhà liên kết với nhau bằng tường hậu
Nhà chính ba gian, gian giữa thụt vào và có hiên hẹp ở phía trước, gian giữa đặt bàn thờ và tiếp khách, giân bên phải giành cho vợ chồng nhà chủ, gian bên trái giành cho con trai và khách
Hai nhà phụ mỗi nhà hai gian, nhà bên phải không có tường ngăn đôi dành cho sinh hoạt của con trại chủ nhà, nhà bên trái có tường ngăn đôi, nửa bên trong dành cho con dâu, bên ngoài đặt bếp
Hiện nay nhà ở của người Sán Dìu cũng đã có những biến đổi nhất định phù hợp với địa hình, khí hậu, và kinh tế của mỗi gia đình
Trang phục (xem nội dung chương 2)
Ẩm thực
Trước kia, đời sống của người Sán Dìu ở xã Đạo Trù rất kham khổ, thiếu thốn, chủ yếu là ăn cơm độn với khoai, sắn, ngô… mỗi năm thiếu đói khoảng
2 đến 3 tháng phải ăn khoai, sắn, rau xanh trừ bữa
Ngoài cơm độn, người Sán Dìu còn có món cháo loãng, không nêm gia
vị, người dân thường ăn cháo loãng thay uống nước “ kéng hót slêch chốc,
mạo slệch slang slui”
Trang 24Hàng ngày, người Sán Dìu thường ăn 2 bữa chính và 2 – 3 bữa phụ, bữa
chính buổi trưa (slệch an chịu ) thường ăn vào 11h, buổi tối (slệch an bu)
thường ăn vào 18h, bữa phụ: Bữa sáng (slệch chào thoi) ăn cháo, sắn thường
vào 6h và 13h , 22h đêm
Thức ăn trong mâm chỉ có cơm độn và rau, tương cà là món ăn phổ biến,
người Sán Dìu ít ăn thịt, họ ăn cá nhiều hơn do gần suối, khe lạch, khi có
khách mới có thêm thịt, cá…
Hiện nay đời sống của người sán Dìu đã được cải thiện đáng kể, trong
bữa ăn hàng ngày của họ những món ăn thịt, cá được tăng lên nhiều
Người Sán Dìu có món xôi truyền thống với nhiều loại như: Xôi đen,
xanh, đỏ, kiến…Tập quán uống nước chè, rượu trắng, nhất là trong các dịp lễ
tết, cưới xin hay vào nhà mới
Người Sán Dìu ít ăn thịt trâu, bò, chó…Những gia đình thờ phật bà quan
âm hoặc có người làm nghề thầy cúng thì cấm kỵ, không những không được
ăn, mà còn không được đem thịt vào nhà
Phương tiện vận chuyển
Ngoài việc củng cố mở rộng và phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông
người Sán Dìu thiết kế tạo ra những phương tiện vận chuyển hàng hóa phù
hợp với địa bàn cư trú Đặc biệt người Sán Dìu đã thiết kế ra một phương tiện
vận chuyển truyền thống của dân tộc mình để chuyên trở sản phẩm nông
nghiệp như lúa, ngô, khoai, sắn…đó là chiếc xe quyệt, xe không có bánh, đây
là phương tiện vận chuyển chính của đồng bào
1.4.3 Văn hóa phi vật thể
Ngôn ngữ, chữ viết
Ngôn ngữ Sán Dìu khá thống nhất ở tất cả mọi nơi Trong ngôn ngữ của
họ có 95% là chữ Hán được đọc theo âm Sán Dìu
Trang 25Ngôn ngữ Sán Dìu đơn âm tiết ngữ pháp có ảnh hưởng của tiếng Hoa, ví
dụ: họ gọi “ Người Sán Dìu” thành “ Sán Dìu Nhín”
Người Sán Dìu dùng ngôn ngữ thường ngày đồng thời đó cũng là tiếng
hát dao duyên, cùng thần linh, cùng tổ tiên khi có đám ma chay
Chữ viết người Sán Dìu là chữ Hán Nôm, nhưng ngày nay nguy cơ mất chữ viết của người Sán Dìu đang cận kề Hiện nay trong bản làng của người Sán Dìu rất ít người viết chữ Hán Nôm, nếu lớp người già biết chữ và các nhà quản lý văn hóa địa phương không có kế hoạch khuyến khích lớp trẻ học kế tiếp cùng với tiến hành giảng dạy trong nhà trường thì chữ của người Sán Dìu
sẽ biến mất trong tương lai không xa
Tôn giáo tín ngưỡng
Người Sán Dìu tin vào nhiều thần, nhiều ma có tập quán thờ cúng tổ tiên thần thánh ma quỷ, đời sống của dân tộc chịu ảnh hưởng của Nho, Phật, Đạo,
họ có nghi lễ đặc trưng liên quan đến chu kỳ đời người, dòng họ, cộng đồng ,
nông nghiệp…
Bàn thờ tổ tiên được đặt ở giữa nhà chính, kê sát vào tường, trên bàn thờ đặt một chiếc ngai, được làm bằng gỗ mít, có mùi thơm và được sơn son thiếp vàng, hai tay ngai hình rồng, trên chính giữa ngai là một bát hương làm bằng
sứ để cắm hương khi cúng lễ Người Sán Dìu chỉ cúng sinh nhật chứ không cúng giỗ
Người Sán Dìu ảnh hưởng của Đạo giáo khá sâu sắc với những hình thái như: làm lễ cấp sắc, làm thầy cúng…người Sán Dìu tin rằng khi được làm lễ cấp sắc có thể cúng bái, không những bản thân họ không sợ ma quỷ mà họ còn có thể bảo vệ được những người trong gia đình và làm an khang thịnh vượng, người được cấp sắc chết đi không mất tên tuổi và sẽ được thờ cúng từ đời này qua đời khác
Trang 26Những vị thần chính người Sán Dìu tôn thờ: Thờ tổ tiên, thờ thành hoàng thổ địa, thần bà mẹ, vật linh, mộc linh, địa linh
Nguời Sán Dìu còn thờ ma Bà mụ, ma này có trách nhiệm nặn người đưa xuống trần gian và trông trẻ nhỏ khi chưa khôn lớn Bàn thờ ma mụ đơn giản, người ta lấy một tấm ván đóng lên tường và đặt một bát hương vào đó
Ngoài ra trong gia đình người Sán Dìu còn thờ ma thổ công giữ của để bảo vệ gia súc ở chuồng gà, chuồng lợn, chuồng trâu…họ không làm bàn thờ
mà chỉ cắm hương vào chuồng gia súc
Bên cạnh đó họ cũng sợ hãi những loại ma quỷ, ma sống làm hại con người
Người Sán Dìu có nhiều tập tục kiêng kỵ: một năm gia đình không được thêm hai người, nếu đẻ con thì không được cưới dâu, nếu cưới dâu thì phải đẻ
ở ngoài; với nhà bếp không được phơi quần áo kể cả quần áo nam giới; không đun củi bẩn hoặc dính tiết gà, lông gà lông vịt không được cho vào bếp
Tín ngưỡng tôn giáo Sán Dìu có đặc điểm là các nghi lễ liên quan đến cộng đồng, gia đình, niềm tin tôn giáo mang tính chất thực tế: luôn tin vào tín ngưỡng nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc của cuộc sống
Tôn giáo tín ngưỡng tâm linh của người Sán Dìu mang nét riêng độc của tộc người
Người Sán Dìu có nhiều lễ hội ,tết :
Tết to nhất là tết cả, tết tháng riêng ( chong nhọt niên) ,
Trang 27 Văn nghệ dân gian
Người Sán Dìu có nhiều truyền thuyết cổ tích về con người, nhân thần, thiên nhiên, thủy thần địa thần, những sự tích về vùng đất con người, cây cỏ…cũng có nhiều chuyện kể về quá trình di cư của người Sán Dìu sang Việt Nam, đến Tam Đảo Vĩnh phúc…các tác phẩm này do nhân dân sáng tạo ra trong quá trình lao động và lưu hành bằng hình thức truyền miệng
Văn hóa dân gian có hình thức hát đối đáp nam nữ rất độc đáo là Soọng
cô, về hình thức diễn xướng như hát xoan, quan họ của người Kinh Trẻ em người Sán Dìu từ 12- 13 tuổi là theo các anh chị đi tập hát, đến khoảng 14-15 tuổi đã hát thành thạo các bài hát soọng cô
Lời Soọng cô là thơ 7 chữ tình tứ êm ái ví von, thường được diễn xướng trong các ngày lễ hội, tết, ngày mừng nhà mới, đi làm đồng…hát để làm quen, chúc tụng, giãi bày tâm sự, thổ lộ tình yêu… hiện nay lối văn nghệ ấy vẫn được lưu giữ và diễn xướng trong các ngày quan trọng
-Trò chơi dân gian
Ngày lễ tết họ thích đánh cầu, cầu được làm bằng lông gà sống thiến màu sắc, đế cầu bằng dừa hoặc mo tre
Đi cà kheo cũng là một trò chơi thu hút được đông đảo mọi người tham gia và mọi người đến xem, cà kheo gồm hai đoạn tre già có mấu hoặc hai thanh gỗ nhỏ có đẽo lõm tạo thành mấu để đặt chân
Ngoài ra còn có đánh khăng, đánh quay, kéo co, đẩy gậy…
Bên cạnh đó có nhiều tranh thờ mang mô típ Ngọc Hoàng Thượng Đế,Thái Thanh, Ngọc thanh , Thượng Thanh
Tri thức dân gian:
-Dự đoán thời tiết
Trang 28Măng tre mọc tháng 9 ÂL, nếu vươn cao suốt đỉnh núi thì có mưa to gió lớn
Trời nắng mà cỏ voi đổ màu lám tấm trắng thì sắp có bão
Cây bồ đề bị gió thổi trắng lá thì sắp có giông lớn
Vào tháng 4 ÂL khi trên rừng cây cóc mạ nảy lộc non đỏ rờn thì phải gieo mạ ngay kẻo muộn
-Tri thức về y học
Lấy cây vối, sa nhân, hà thủ ô đun nước uống hoặc ngâm rượu xanh tóc,
đỏ da, tăng tuổi thọ…
Khi trẻ còi cọc, gầy yếu tìm cây thuốc trên rừng giã ra thành bột tẩm với thịt cho trẻ ăn sẽ mau chóng khỏe lại và ăn được nhiều hơn…
Trang 29Tiểu kết
Đạo Trù là xã miền núi, trong truyền thống đời sống kinh tế khá khó khăn, cả về đời sống vật chất và tinh thần đều ở mức thấp, người dân với hoạt động chính là trồng trọt và chăn nuôi, nền kinh tế chủ yếu mang tính tự cung
tự cấp không có trao đổi với bên ngoài
Địa bàn xã chủ yếu là người Sán Dìu sinh sống nên đây được coi là nơi
có văn hóa mang đậm chất Sán Dìu nhất so với cả huyện về cả trang phục, ẩm thực, tôn giáo, tín ngưỡng…
Xã có địa hình mở, nền kinh tế nhanh chóng hòa nhập với bên ngoài từ
đó giúp cho đời sống vật chất của người dân được nâng cao lên, kéo theo đó
là đời sống văn hóa tinh thần cũng được nâng lên một mức mới trong giai đoạn hiện nay
Trang 30CHƯƠNG 2 TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI SÁN DÌU XÃ ĐẠO TRÙ, HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
2.1 Khái quát chung về trang phục
Trang phục là một trong những yếu tố văn hóa vật chất, bao gồm y phục, trang sức được con người sử dụng trong sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu và các hoạt động văn hóa xã hội khác Trang phục thể hiện cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhằm thỏa mãn chức năng sinh học, xã hội và thẩm mỹ của con người
Trong cuốn sách “Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam” tác giả
Ngô Đức thịnh đã viết “Trang phục - bản sắc văn hóa dân tộc” Bản sắc văn hóa dân tộc được biểu hiện ở nhiều khía cạnh của đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người, tùy theo từng lĩnh vực văn hóa mà bản sắc dân tộc ẩn bên trong hay biểu hiện bên ngoài
Có thể nói trong văn hóa dân tộc, trang phục là phương tiện mà ở đó bản sắc dân tộc được biểu hiện một cách rõ rệt, thường xuyên và tiêu biểu nhất Tùy theo từng điều kiện môi trường tự nhiên, quá trình phát triển của xã hội mà ở mỗi tộc người, mỗi vùng miền lại có những nguyên liệu, những cách thức riêng tạo ra bộ trang phục của riêng tộc người mình thể hiện tâm lý truyền thống, thẩm mỹ của mình, và có ý thức rõ rệt là thông qua trang phục phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác
Ở hầu khắp các dân tộc trên hành tinh này trang phục vốn là những sáng tạo văn hóa của tộc người, có thể nói rằng trang phục chính là một trong những yếu tố văn hóa vật chất nổi bật nhất của văn hóa dân tộc
Trang 312.2 Nguyên liệu và cách thức nhuộm vải
Người Sán Dìu không giống nhiều tộc người khác trên cùng khu vực Đông Bắc như Tày, Nùng…hay một số tộc người khác vùng Tây Bắc như người Thái, Mường… tạo ra trang phục của mình từ những cây trồng thiên nhiên bông, lanh, đay… Người Sán Dìu không trồng cây để lấy nguyên liệu dệt vải, họ mua vải của tộc người khác hoặc do nhà nước cấp, họ chỉ tạo ra trang phục của tộc người mình từ khâu nhuộm vải, nhưng cũng không vì thế
mà trang phục của họ mất đi bản sắc riêng của tộc người mình, trang phục Sán Dìu mang những nét độc đáo không bị lẫn với bất cứ dân tộc nào trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bộ trang phục tuy bên ngoài nhìn có phần đơn giản nhưng để tạo ra nó là cả một quá trình khổ công và phải có sự khéo léo của những bàn tay thiếu nữ Sán Dìu
Vải người Sán Dìu được phát hoặc đi mua về gọi là vải tấm ( nẹm bụ/len
khun), có màu trắng, vải bằng sợi bông không có chất hóa học, dài khoảng
4m, rộng 50cm Sau khi lấy vải về họ chuẩn bị nguyên liệu để nhuộm vải Nguyên liệu để nhuộm vải là cây thiên nhiên có tên gọi là Chàm, cây được trồng vào khoảng tháng 1, tháng 2 và thu hoạch vào tháng 7, tháng 8 Cây có thân, lá và quả nhỏ, trung bình đến khi thu hoạch cây cao khoảng 60-70cm, cây có nhiều quả nhỏ, quả có ở trên khắp thân cây Sau khi thu hoạch
về họ lấy cả thân cây bẻ gập làm 3 hoặc 4 lần cho vào vại sứ ngâm, cho đầy nước, ngâm trong vòng một đến ba ngày thì có thể vớt được, khi đó màu nước trong vại đã chuyển sang màu xanh, đen
Tiếp đó lấy một ít vôi bột và tro bếp cho vào ca, cho nước vào khoắng rồi
để cho nước vôi đó lắng, chắt bỏ nước đi và lấy vôi bên dưới ca cho vào nước chàm khuấy đều lên, đợi để cho nước lắng thì chắt bỏ nước trong đi, cặn còn
Trang 32lại trong vại sứ dùng để nhuộm vải, khi này nước có màu hơi vàng, đem phơi khô chất này sau dùng để nhuộm vải
Để cho màu được bền đẹp lâu phai, người Sán Dìu lên rừng tìm cây chỉ
thiên (chu chăm thoi), cây lau sau (bêng méo), cây dáp thanh (tạp thanh) và
vỏ cây núc nác, cùng với củ nâu đỏ, sau khi tìm đủ mang về ngâm cùng cốt chàm khô, sau một tuần thì bắt đầu thả vải vào ngâm cho nước ngấm đều khắp tấm vải, sau đó vớt vải ra phơi trên hai thanh cây dài, vải nhuộm một lần
có màu xanh nhạt dễ phai, cho vải vào ngâm lại nhiều lần nữa rồi đem phơi đến khi vải khô, nước chàm ngấm vào vải chuyển thành màu xanh đen, nhìn rất đẹp
Công đoạn nhuộm vải là công đạo khá công phu và mất nhiều thời gian,
từ khâu lấy hạt giống cây chàm về ươm trồng, đến chăm sóc cho cây lớn lên, rồi thu hoạch cây mang về lấy làm nguyên liệu nhuộm, nhưng có lẽ vất vả hơn cả là việc lên rừng tìm những cây thuốc rừng về chộn lẫn chất nhuộm để màu của những tấm vải nhuộm được bền lâu phai
Nhuộm vải nói ra thì có thể đơn giản, nhưng đó là cả một sự học tập, rèn luyện những kinh nghiệm của những thế hệ đi trước Qua nhuộm vải thể hiện
sự khéo léo tỉ mỉ của những người phụ nữ Sán Dìu trong truyền thống nơi đây
Khi tấm vải đã không còn là màu trắng mà đã chuyển sang xanh đen thì công việc đầu tiên cho việc tạo ra bộ trang phục là nhuộm vải đã hoàn thành, cùng với những tấm vải màu xanh ánh lên dưới ánh nắng mặt trời, những đôi bàn tay của những người phụ nữ cũng xanh màu chàm, đây là dấu ấn của những lần nhuộm chàm, những lần tô điểm cho bản thân, gia đình và xã hội
Trang 332.3 Trang phục nữ giới
Có thể nói trang phục là yếu tố thể hiện bản sắc văn hóa tộc người cao nhất ở tất cả các dân tộc, trên những bộ trang phục đó những đôi bàn tay khéo léo của các bà, các mẹ, các chị…đã để lại những dấu ấn nhất định dù trải qua bao thời gian thăng trầm của lịch sử, mỗi bộ trang phục lại thể hiện những quan điểm thẩm mỹ riêng của tộc người Nhìn vào trang phục của hầu khắp các tộc người trên dải đất hình chữ S ta thấy bộ trang phục nữ bao giờ cũng cầu kỳ và đẹp hơn cả Với người Sán Dìu cũng vậy, trong tất cả những bộ trang phục của tộc người mình bộ trang phục nữ được coi là đẹp nhất, thể hiện được vẻ đẹp và sự khéo léo của những người phụ nữ Sán Dìu
Người phụ nữ Sán Dìu có bộ trang phục bao gồm: áo dài bên ngoài, áo ngắn bên trong, váy, xà cạp chân, khăn, thắt lưng, túi đựng trầu, các đồ trang sức như : bông tai, vòng tay, vòng cổ…tất cả tạo nên bộ trang phục độc đáo của người phụ nữ Sán Dìu không nhầm lẫn với bộ trang phục nào của các tộc người khác
2.3.1 Trang phục ngày thường
Trang phục ngày thường là chỉ loại trang phục gắn với cuộc sống thường nhật của con người, nó phù hợp với hoàn cảnh lao động sinh hoạt hàng ngày của con người
Người Sán Dìu xã Đạo Trù huyện Tam Đảo sống trong vùng địa hình đồi núi xen kề đồng ruộng, người dân sinh sống bằng nghề nông là chủ yếu, với hoạt động chính là trồng trọt và chăn nuôi, người Sán Dìu có bộ trang phục phù hợp với hoạt động sinh hoạt hàng ngày của tộc người mình
Ngày thường công việc của người phụ nữ Sán Dìu thường là lên rừng hái rau rừng về phục vụ bữa ăn hoặc ra đồng ruộng chăm sóc cây trồng, hoa màu…bộ trang phục của người phụ nữ thường mặc khi đi làm có một cặp áo,
Trang 34váy, xà cạp chân, khăn đội đầu, túi đựng trầu, thắt lưng màu và một số trang sức đơn giản
Áo của người phụ nữ Sán Dìu gồm áo ngắn và áo dài:
Áo ngắn : yếm (theo yếm)
Áo yếm của người phụ nữ Sán Dìu là một mảnh vải hình thoi, gồm có bốn cạnh, trên đầu mỗi cạnh là một dây dài dùng để buộc khi mặc, hai dây trên buộc lên cổ, hai dây ngang eo buộc sau lưng
Yếm có thể có nhiều màu như màu xanh, trắng, hồng, vải hoa…nhưng thông thường màu sắc yếm được nhiều người dùng nhất là yếm có màu trắng Trên hai dây buộc cổ, cuối mỗi đầu dây người phụ nữ Sán Dìu thường thêu hình hoa màu xanh, đỏ để trang trí, thường người phụ nữ thêu hình hai cành hoa dây, với thân cây màu xanh và những bông hoa chúm chím màu đỏ, nhìn vào đó ta thấy được sự khéo léo, tỉ mỉ của người phụ nữ, cũng như thấy được cách họ đã biết trang trí làm đẹp cho bản thân và cộng đồng như thế nào Yếm tạo cho người mặc gọn gàng hơn cùng với một vẻ đẹp e lệ thẹn thùng nhưng cũng đầy kín đáo, tạo nên vẻ đẹp riêng biệt và không bị che đi bởi áo dài bên ngoài
Áo dài (xam/ nhón cam):
Áo dài là áo được người phụ nữ khoác bên ngoài yếm, áo có màu chàm, được tạo thành từ bốn mảnh vải, cổ cao nẹp trơn, hình chữ V, không đính khuy, xẻ tà hai bên
Cổ áo (xam lẹm) có may ba đường chỉ màu trắng, đường chỉ màu trắng
dưới cùng có chèn một đường chỉ màu đỏ nhìn rất sống động, kết hợp với cổ
áo hình chữ V làm tăng thêm vẻ đẹp của áo Cổ áo là một điểm nhấn của cả
áo với hai chiếc khuy áo (xam lọng) bằng bạc, với tua rua xanh đỏ ở đuôi
khuy đẹp mắt, chiếc khuy áo là vật trang trí của trang phục thể hiện quan
Trang 35điểm thẩm mỹ của người phụ nữ Sán Dìu, nhìn vào cổ áo ta thấy một vẻ đẹp đơn giản, thuần khiết, thanh thoát toát ra từ chiếc áo, nó không cầu kỳ, nhiều chi tiết như cổ áo của một số tộc người khác nhưng vẫn tạo cho người mặc một vẻ đẹp mộc mạc, thân thiện
Hai bên mép áo phụ nữ Sán Dìu đã tinh tế may nẹp màu trắng, ở đó không có khuy mà nổi bật lên màu trắng, khi mặc người phụ nữ bẻ mép áo sang hai bên để hai đường nẹp trắng đó lộ ra bên ngoài, cách may, cách mặc tuy đơn giản nhưng thật đẹp, thể hiện sự kết hợp độc đáo giữa những màu sắc
từ thiên nhiên mà con người tạo ra, đồng thời thể hiện quan niệm thẩm mỹ của người Sán Dìu, tuy đơn giản nhưng trang nhã, cuốn hút
Hai cánh tay áo dài ngang mép áo bên dưới, tay áo rộng từ nách khâu hẹp dần, dưới mỗi vạt ống tay là nẹp màu trắng, khi mặc người phụ nữ thường
bẻ một gấu tay áo lên để lộ đường viền nẹp trắng đó, viền trắng đó có thể là một đường hoặc hai đường song song với nhau, tạo điểm nhấn ở tay áo cho người mặc bộ trang phục
Có thể nói một điểm đặc biệt của áo nữ Sán Dìu đó là họ thêu trang trí bằng chỉ màu xanh đỏ đằng sau cổ áo, hai bên xẻ tà của áo nhìn rất thú vị và thêm phần phong phú cho chiếc áo đơn giản mà trang nhã này
Váy “váy lá” ( theo khun):
Váy là một bộ phận quan trọng trong y phục cổ truyền của người Sán
Dìu Váy của người phụ nữ Sán Dìu còn được gọi là váy lá (theo khun) xòe ra
như những cánh bướm màu đen huyền bí
Váy gồm 6 đến 8 mảnh vải ghép lại với nhau, không khâu, cùng đính trên cạp váy, mảnh này chớm đến mảnh kia từ 15 đến 20cm, trên thân váy thường có nhiều nét gấp hình sóng biển ở chỗ đính vải trên cạp váy, tạo cho người mặc vẻ đẹp hơn nhất là khi những nét gấp đó nhịp nhàng theo bước
Trang 36chân của những người phụ nữ Sán Dìu Với kiểu váy này người phụ nữ luôn phải ý tứ trong lao động và sinh hoạt hàng ngày, trong giao tiếp cũng như khi
đi trên đường, đặc biệt là khi trời lộng gió, và cũng với đó là lối ứng xử nhẹ nhàng, đi đứng duyên dáng của người phụ nữ được rèn luyện qua trang phục của mình, ví như khi đi chợ mua hàng người phụ nữ không thể cúi xuống xem
mà phải quỳ gối xuống mới xem được
Váy không chỉ có kiểu 6 đến 8 mảnh mà còn có kiểu váy hai mảnh, váy bốn mảnh Nếu là váy hai mảnh thì mỗi mảnh có từ ba đến bốn bức can lại với nhau, khi mặc một mảnh ở phía trước, một mảnh ở phía sau, khi mặc tạo thành hai đường viên hở dọc theo hai bên chân Nếu là váy bốn mảnh thì một mảnh phía trước, một mảnh phía sau, một mảnh bên phải, một mảnh bên trái Với những kiểu váy này người phụ nữ cũng phải thật ý tứ trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của mình
Cạp váy (phun thoi) : Cạp váy thường màu trắng, không trang trí hoa
văn, dùng để đính các mảnh vải lại với nhau, hai bên đầu cạp có hai dây buộc, ngày thường người phụ nữ mặc váy chỉ buộc hai dây đó lại với nhau không trang trí thêm gì
Gấu váy nữ Sán Dìu thường được các bà, các mẹ, các chị khâu gấp lên, những nét chỉ nổi lên trên nền váy, nó không cầu kỳ nhưng nó thể hiện sự khéo léo của những bàn tay Gấu váy được khâu gấp lên với quan niệm như vậy phần bên dưới của váy sẽ không bị tuột, rút sợi vải khi mặc lâu, chiếc váy
sẽ bền hơn
Thắt lưng (nem bụ/ len khun)
Đây là bộ phận không thể thiếu được trong bộ y phục của phụ nữ Sán
Dìu Thắt lưng của người phụ nữ Sán Dìu là những tấm vải màu (nem bụ/ len
khun) thường là màu xanh (xeng khăn), màu đỏ (hông khăn)…khăn dài
Trang 37khoảng 1m, rộng 30cm dùng để thắt vào ngang lưng, giữa cạp váy và áo, khi thắt buộc bên cạnh sườn, để rủ hai đầu thắt lưng xuống dưới theo thân váy Ngày thường phụ nữ thường thắt một chiếc khăn màu, thắt khăn vừa tạo
vẻ đẹp duyên dáng cho người phụ nữ, tạo điểm tựa cho váy xòe ra bên dưới, tạo cho người mặc cảm giác thoải mái, chắc chắn hơn
Xà cạp chân ( kiọoc xèn):
Xà cạp thường màu chàm hoặc màu trắng, là hai mảnh vải chéo hình tam giác, khổ 15-20cm, dài 1,5-2m Đường viền được các mẹ, các chị khéo léo may những nét gấp bằng chỉ cùng màu nền của xà cạp, khi đó xà cạp sẽ không bị tua rua nhanh hỏng
Khi lao động mang xà cạp người phụ nữ có thể bảo vệ đôi chân của mình tốt hơn như tránh bị gai cào vào chân hay tránh bị côn trùng đốt, mang
xà cạp cũng tạo thêm nét đẹp cho trang phục và cho bản thân người phụ nữ
Khăn đội đầu (pao thoi khăn)
Trong trang phục nữ các hình thức đội khăn, đội mũ, vấn tóc rất được chú ý làm đẹp, mỗi tộc người mỗi địa phương lại có những phong cách riêng độc đáo
Người Sán Dìu cũng đội khăn, khăn để đội đầu, che nắng gió, làm ấm đầu khi mùa lạnh, mát khi mùa hè về, giúp người phụ nữ thuận tiện trong lao động sinh hoạt
Khăn là một mảnh vải hình vuông, màu chàm, bên trong là khăn vấn tóc, sau khi vấn tóc người phụ nữ chùm khăn bên ngoài, tạo thành hình mỏ quạ như cách đội khăn của người Kinh Đội khăn vừa để giữ tóc không cho tóc xõa xuống mặt khi lao động vừa tạo nên sự duyên dáng cho người phụ nữ
Trang 38Trang sức
Ngày thường người phụ nữ ít mang trang sức như vòng tay, vòng cổ… nhưng dường như trong y phục của người phụ nữ Sán Dìu vật trang trí và cũng là vật dùng thường xuyên mang theo, và có thể gọi là vật bất ly thân của
người phụ nữ Sán Dìu là túi đựng trầu ( loi thoi / loi bao / thếnh thoi) túi có
một ngăn may như hình múi bưởi và được thêu phong phú, có lẽ tài sử dụng đường kim mũi chỉ của người phụ nữ Sán Dìu được thể hiện rõ nét ở đây Túi được may từ loại vải mềm, thường có hai màu trắng, đen Túi được thêu bằng chỉ nhiều màu với nhiều họa tiết trang trí đẹp, thường trang trí xung quanh đường viền túi, miệng túi được luồn bằng bốn đến tám sợi dây tết bằng chỉ nhiều màu, đầu dây dài được tết núm kéo dài xuống đến chỗ đeo một chuỗi đồng xu, thường có bốn hoặc sáu đồng xu, mỗi bên hai hoặc ba đồng, dưới chuỗi đồng xu là những sợi dây tua dua màu kéo dài đến thân váy Khi đeo túi đựng trầu người phụ nữ để túi sau gáy, kéo hai bên dây tua dua ra phía trước ngực để giữ túi, hoặc đeo túi vào sau thắt lưng, buộc dây ra phía trước
Ngày thường phụ nữ Sán Dìu ít đi dép mà chỉ có guốc mộc (kheng) đẽo
bằng gỗ hoặc tre, có hai vết lõm nơi ngón chân thứ hai đặt vào, để chân có thể bám chặt vào guốc khi leo dốc
Như vậy trang phục ngày thường của người phụ nữ Sán Dìu là bộ trang phục đơn giản nhưng độc đáo, qua bộ trang phục người phụ nữ hiện lên nhẹ nhàng, thanh tao, với lối ứng xử được rèn qua chính phong cách của tộc người mình Không cầu kỳ với nhiều họa tiết trang trí, không nhiều màu sắc nhưng trang phục nữ Sán Dìu vẫn độc đáo với những nét riêng vốn có mang hồn dân tộc, mà không thể lẫn với bất cứ tộc người nào trên mảnh đất Việt thân yêu
Trang 392.3.2 Trang phục trong ngày lễ hội và cưới xin
Trang phục trong lễ hội và cưới xin là thuật ngữ chỉ trang phục đẹp nhất, mới nhất, ngoài tác dụng che thân bảo vệ con người còn biểu thị thái độ nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm cao với cộng đồng trong những sự kiện quan trọng của xã hội hay liên quan đến những mốc thời gian quan trọng của các thành viên trong cộng đồng
Trang phục nữ Sán Dìu có thể nói ngày lễ hội và ngày cưới không khác ngày thường là mấy, điều khác ở đây có thể chỉ là trang phục của họ mới hơn
và nhiều đồ trang sức hơn
Ngày lễ hội và cưới xin người phụ nữ mặc bộ đồ mới nhất của mình, mang nhiều trang sức bằng bạc
Trong ngày cưới người phụ nữ thường có hai chiếc khăn màu hồng chùm đầu và một chiếc nón mới mới mang về nhà chồng, bất kể một cô gái nào khi
đi lấy chồng cũng đều phải có nón mới
Cùng với y phục đồ trang sức tạo nên tổng thể trang phục, cũng như nhiều tộc người khác trên đất nước ta, phụ nữ Sán Dìu từ rất lâu đã ý thức trong việc dùng đồ trang sức Trang sức phụ nữ hay dùng gồm có vòng cổ
(kéng lẹng), vòng tay (ác), vòng tai (mấm chấy)…
Trong đám cưới truyền thống có tục lệ trao vòng cho cô dâu, chú rể phải
có vòng này tặng cho người vợ của mình để tỏ lòng yêu mến, vòng là “bảo vật” mà cô dâu sẽ mang theo suốt cuộc đời
Vòng cổ phụ nữ Sán Dìu được làm bằng bạc, thường được uốn cong thành hình tròn, vòng luôn có chu vi rộng hơn vòng cổ bình thường của người đeo, vòng không có khóa mà thay vào đó là hai núm tạo móc hình mỏ vịt để khi đeo móc lại với nhau, trên thân vòng ở phía trước ngực thường được khắc họa tiết hoa văn nhỏ, nhìn rất đẹp mắt
Trang 40Vòng tay nhỏ, không trang trí hoa văn, không có núm khóa như vòng cổ, làm vừa với từng tay của người đeo
Vòng tai thường là những núm( nấm) nhỏ, hoặc cũng có thể là những
núm kéo hơi dài xuống phía dưới, được làm bằng bạc Hầu hết phụ nữ Sán Dìu ngay từ nhỏ đã có tục xâu lỗ tai, khi có điều kiện họ đều đeo hoa tai hoặc khuyên tai để trang điểm cho mình Khi đeo họ lách đầu nhỏ qua lỗ tai và xoay cho phần thu nhỏ của hoa tai nằm gọn trong dái tai, hai đầu xòe nằm phía ngoài dái tai để hoa tai không bị rơi
Trên trang phục ngày hội người phụ nữ đeo xà tích (khen thu/ sân thu)
bằng bạc trang trí rất đẹp, được đeo ở eo, gần đai váy Xà tích là một chuỗi dây dài làm bằng bạc, chiều dài của xà tích khoảng 80 đến 100cm
Khi đeo xà tích rũ xuống dưới váy, hai đầu dây xà tích được giắt vào thắt lưng, lệch về phía bên phải hay bên trái tùy theo ý thích của mỗi người, theo nhịp đi nhịp nhàng của đôi chân xà tích va chạm vào nhau như tiếng nhạc, bên cạnh còn có con dao nhỏ dùng để bổ cau, với vỏ gỗ được chạm khắc rất phong phú tinh tế, kết hợp với bộ trang phục làm tăng thêm vẻ đẹp vốn có của nó
Trong ngày cưới, hội người phụ nữ thường thắt hai dải khăn ở thắt lưng, màu xanh, đỏ, tím tùy thích, làm tăng thêm màu sắc cho bộ trang phục của tộc người mình
Ngày hội và ngày cưới người phụ nữ thường đi dép cao su (hai) màu
đen, tám quai, hoặc là guốc gỗ phổ biến thường ngày
2.4 Trang phục nam giới
2.4.1.Trang phục ngày thường
Có một nét chung ở trang phục các dân tộc là trang phục nam giới bao giờ cũng đơn giản hơn trang phục của phụ nữ Trang phục người Sán Dìu