1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của truyền thông trong việc bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví giặm nghệ tĩnh

105 58 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Truyền Thông Trong Việc Bảo Tồn Và Phát Huy Làn Điệu Dân Ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả Nguyễn Thị Hằng
Người hướng dẫn GV: Nguyễn Tiến Dũng
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA NỘI KHOA VĂN HÓA HỌC VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LÀN ĐIỆU DÂN CA VÍ, GIẶM

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU

LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA NỘI

KHOA VĂN HÓA HỌC

VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LÀN ĐIỆU DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hằng Người hướng dẫn khoa học: Gv: Nguyễn Tiến Dũng

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

vụ cho sự nghiệp văn hóa mà em đang theo đuổi sau này

Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới giảng viên Nguyễn Tiến Dũng đã

hướng dẫn tận tình cũng như có những định hướng, chỉnh sửa nội dung cụ thể và đưa ra những cơ sở khoa học, hướng phát triển cho đề tài nghiên cứu này Xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Văn hóa học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tạo điều kiện và góp ý trong khi tiến hành khảo sát thực tế cho đề tài

Xin gửi lời cảm ơn tới TTVH Tỉnh Nghệ An, Trường Đại Học Vinh và Thư Viện Tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm tài liệu và đặc biệt xin gửi lời cảm ơn tới PGĐ Nguyễn Hoài Nam và NS.Thanh Hoan –Trung Tâm Văn Hóa Tỉnh Nghệ An đã đóng góp những ý kiến hay cho em trong quá trình khảo sát thực tế để em có thể hoàn thành khóa luận này một cách tốt nhất

Dù đã cố gắng nhưng đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em mong thầy, cô và các bạn có thể góp ý thêm để đề tài được hoàn thiện hơn

Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Hằng

Trang 3

3

DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

2 IUCN : Tiếng anh: International Union for Conservation

of Nature and Natural Resources

Tiếng việt: Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế

8 TTVH : Trung tâm văn hóa

9 UNESCO : Tiếng anh: United Nations Educational Scientific

and Cultural Organization

Tiếng việt: Tổ chức giáo dục, khoa học của Liên Hợp Quốc

Trang 4

4

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH 12

1.1 Một số khái niệm 12

1.1.1 Khái niệm về truyền thông 12

1.1.2 Khái niệm bảo tồn di sản văn hóa 16

1.1.3 Khái niệm phát huy di sản văn hóa 18

1.2 Một số lý thuyết cơ bản về vấn đề truyền thông 21

1.2.1 Đặc điểm của truyền thông 21

1.2.2 Các yếu tố của truyền thông 22

1.2.3 Chức năng của truyền thông 24

1.3 Đôi nét về làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh 24

1.3.1 Lịch sử ra đời 24

1.3.2 Tên gọi 27

1.3.3 Tính chất của điệu hát ví, giặm 29

1.3.4 Một số làn điệu ví, giặm 32

1.4 Tiểu kết chương 1 39

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LÀN ĐIỆU DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH 40

2.1 Một số loại hình truyền thông cơ bản dân ca của ví, giặm Nghệ Tĩnh 40

Trang 5

5

2.1.1 Qua những lời ru của bà của mẹ 40

2.1.2 Truyền thông qua phát thanh 45

2.1.3 Truyền thông qua internet (báo mạng điện tử; facebook; youtube….) 50

2.1.4 Truyền thông qua truyền hình 55

2.1.5 Truyền thông qua báo in 57

2.1.6 Truyền thông qua việc tổ chức các sự kiện lớn 59

2.2 Vai trò của truyền thông trong việc bảo tồn và quảng bá làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh 61

2.2.1 Vai trò truyền bá 61

2.2.2 Vai trò định hướng 62

2.2.3 Vai trò phát triển kinh tế 62

2.3 Ưu, nhược điểm của truyền thông đến với việc bảo tồn và quảng bá làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh 64

2.3.1 Ưu điểm 64

2.3.2 Nhược điểm 66

2.4 Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CỦA TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH 71

3.1 Biện pháp bảo tồn làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh 71

3.1.1 Thành lập câu lạc bộ làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh 71

3.1.2 Đưa dân ca ví, giặm vào sinh hoạt đời sống của cộng đồng 72

3.1.3 Bảo tồn với hình thức lưu trữ, tư liệu hoá bằng hình ảnh, âm thanh 73

Trang 6

6

3.1.4 Duy trì chương trình dạy hát dân ca trên sóng truyền hình ở Nghệ An và

Hà Tĩnh 74

3.2 Biện pháp phát huy làn điệu làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh 74

3.2.1 Đưa dân ca vào chương trình dạy học, Phát thanh truyền hình 74

3.2.2 Đẩy mạnh hoạt động đi lưu diễn ở trong và ngoài nước 75

3.2.3 Đào tạo đội ngũ nghệ nhân 76

3.2.4 Quảng bá tuyên truyền làn điệu dân ca 77

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 85

Phụ lục 1 85

Phụ lục 2 91

Phụ lục 3 98

Trang 7

đã được UNESCO công nhận là những di sản văn hóa của nhân loại như: Quần thể di tích Cố đô Huế (1993), Thánh địa Mỹ Sơn (1999), Dân ca quan họ Bắc Ninh (2009), Hoàng thành Thăng Long (2010), Thành nhà Hồ (2011) … Và gần đây nhất vào ngày 27/11/2014, làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được thế giới vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Đây được xem là một niềm tự hào của người dân Nghệ Tĩnh nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Một niềm hãnh diện tô điểm cho bức tranh văn hóa nước nhà với những làn điệu dân ca đã đi vào lòng người, giờ đây đã được thế giới biết đến và vinh danh trên toàn thế giới

Dọc theo chiều dài của đất nước, dừng lại ở mảnh đất miền Trung đầy nắng và gió để đến với xứ Nghệ ân tình, khúc ruột của miền Trung để cùng tìm hiểu về truyền thống văn hoá - lịch sử, những làn điệu dân ca vô cùng đằm thắm

mà sâu lắng của con người và mảnh đất nơi đây Nếu ai chưa từng đến xứ Nghệ chắc hẳn cũng hình dung được phần nào về mảnh đất này qua câu thơ

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh, nước biếc như tranh họa đồ”

Trang 8

8

Nghệ An đã đi vào thơ ca như vậy Với những con đường quanh quanh khúc khuỷu, với cảnh núi non sông nước hòa quyện một màu, với những con người chất phác cần mẫn, chịu thương chịu khó Hôm nay, chúng ta lại được trở

về với cội nguồn, quay trở về với mảnh đất xứ Nghệ yêu thương, một mảnh đất địa linh nhân kiệt, mảnh đất với những làn điệu dân ca sâu lắng tình người, mảnh đất có truyền thống hiếu học, anh hùng trong kháng chiến

Nói đến xứ Nghệ không ai là không nhớ đến những câu ca ví, giặm ân tình

mà sâu lắng, mênh mang, thiết tha đằm thắm mà trước kia các danh sĩ tài ba như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu và bao thế hệ này đã từng đắm say, mê mẩn Khi làn điệu dân ca ví, giặm đã được thế giới biết đến và trở thành món ăn tinh thần dân dã và không thể thiếu trong đời sống cộng đồng thì những đòi hỏi của người thưởng thức cũng ngày một cao hơn Việc phát triển theo hướng cải biến và sân khấu hóa làn điệu dân ca ví, giặm để đáp ứng nhu cầu ấy

là một tất yếu nó đòi hỏi người nghệ sỹ phải suy tư trăn trở và dày công sáng tạo Bên cạnh đó, những thay đổi từ các phương tiện truyền thông đã mang đến một làn gió mới cho làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh Ngoài ra, để dân ca ví, giặm tồn tại và lưu truyền theo thời gian đó là một vấn đề lớn trong công tác bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa mà Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương phải nắm bắt được để hoàn thiện thêm nhằm đưa làn điệu dân ca ví, giặm đến với bạn

bè thế giới

Từ những lí do trên, chúng tôi nhận thấy rằng truyền thông có vai trò rất lớn trong việc bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, và xem đây chính là một để tài thú vị đang được mọi người tìm hiểu vì nó vừa được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại nên rất nhiều

Trang 9

9

người dân Việt Nam và thế giới muốn quan tâm về công tác bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví, giặm như thế nào Bên cạnh đó, cũng qua đề tài nghiên cứu này, chúng tôi muốn đưa đến cái nhìn cụ thể hơn cho người đọc về những vấn đề truyền thông để làn điệu dân ca ví, giặm được thế giới vinh danh như ngày hôm

nay Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Vai trò của truyền thông trong việc bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” làm đề tài Khóa

luận tốt nghiệp Đại học của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

So với các nghiên cứu về làn điệu dân ca ví, giặm thì những đề tài nghiên cứu về vai trò của truyền thông trong việc bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn chưa nhiều Cùng với sự phát triển của đất nước và xu hướng toàn cầu hóa thế giới, thì vấn đề của truyền thông có vai trò hết sức quan trọng nhằm quảng bá làn điệu đến với bạn bè thế giới Vì thế, hiện nay có rất nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu về làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

như: Bảo tồn và phát huy các giá trị làn điệu dân ca ví, giặm xứ Nghệ - Tác giả: Cao Đăng Vĩnh, Phạm Tiến Dũng, Tạ Quang Tâm; Sông Lam – ngược lường câu

ví, giặm – tác giả: Võ Thanh Hải Nhưng rất ít các công trình nghiên cứu về vấn

đề truyền thông Vì vậy, tôi chọn đề tài này nhằm giới thiệu cho bạn bè trong nước và thế giới hiểu thêm về yếu tố truyền thông để đưa những làn điệu dân ca

ví, giặm đến gần với bạn bè thế giới hơn nữa

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu “Vai trò của truyền thông trong việc bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” được triển khai với những mục đích sau:

Trang 10

- Đưa ra những vấn đề ưu và nhược điểm trong vấn đề truyền thông

- Đưa ra những vai trò của truyền thông trong việc bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

- Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

4 Đ ỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò truyền thông trong việc đưa làn điệu dân ca ví, giặm đến bạn bè thế

giới trong và ngoài nước biết đến

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thực trạng dân ca ví, giặm hiện đang được lưu giữ tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

- Không gian: Người dân ở Huyện Hưng Nguyên - Nghệ An

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến nay

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã dựa vào một số phương pháp nghiên

cứu như sau:

Trang 11

- Phương pháp thu thập tài liệu: Để lập đề cương cho đề tài cần tìm hiểu các tài liệu qua sách, báo, tạp chí; đồng thời cũng tìm hiểu các thông tin qua mạng internet nhằm thu thập thông tin làm cơ sở lí thuyết cho đề tài

Tất cả các phương pháp trên được tiến hành trong một thời gian nhất định

và có sự hỗ trợ, phối hợp với nhau để hình thành các cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho đề tài

Chương 2 Thực trạng vấn đề truyền thông trong việc bảo tồn và quảng bá làn

điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Chương 3 Một số biện pháp tăng cường hiệu quả của truyền thông trong việc

bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Trang 12

12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ DÂN CA VÍ,

GIẶM NGHỆ TĨNH 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.1.1 Khái niệm về truyền thông

Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin, một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm, biểu tượng và học được cú pháp của ngôn ngữ

Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người hoặc tổ chức gửi đi thông tin

Có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và tông giọng 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được Truyền thông

Trang 13

13

bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia

Hội thoại giữa các cá nhân thường xuất hiện theo cặp hoặc từng nhóm với qui mô khác nhau Qui mô của nhóm tham gia thường tác động tới bản chất của cuộc hội thoại Truyền thông trong nhóm nhỏ thường diễn ra giữa ba đến mười hai cá nhân và khác biệt với trao đổi qua lại giữa các nhóm lớn hơn như công ty hay cộng đồng Hình thức truyền thông này được hình thành từ một cặp hay nhiều hơn, thông thường được đề cập tới như một mô hình tâm lý học trong đó thông điệp được truyền từ người gửi đến người nhận qua một kênh thông tin Ở cấp độ lớn nhất, truyền thông đại chúng chuyển các thông điệp tới một lượng rất lớn các cá nhân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

Quá trình truyền thông diễn ra liên tục Khi bạn ngồi yên lặng trong góc phòng, mặc cho mọi người xung quanh nói hay làm gì thì cũng đang gửi những tín hiệu truyền thông không bằng lời cho những người xung quanh (cho dù vô tình hay cố ý) Bởi truyền thông là quá trình gửi và nhận thông tin, các mốc phát triển truyền thông thường gắn liền với tiến bộ công nghệ Truyền thông là một hoạt động gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng La - tinh “Commine” có nghĩa là cộng đồng, chung Nội hàm của nó

là cách thức, nội dung, phương tiện để đạt tới sự hiểu biết với nhau, giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng - xã hội Cũng chính nhờ quá trình truyền thông, giao tiếp mà con người tự nhiên trở thành con người xã hội Và có

lẽ nếu không có quá trình truyền thông thì con người mãi chỉ là con người sinh học không thể có khái niệm “con người viết hoa” theo đúng nghĩa của nó Các

Trang 14

14

nhà khoa học đã kể lại nhiều câu chuyện về việc con người được một số loài vật nuôi từ khi con khá nhỏ, và cho đến khi phát hiện ra và cứu chữa để hoà nhập với môi trường xã hội thì không thể thực hiện được điều đấy và thậm chí những biểu hiện của họ chỉ là những hoạt động của con thú hoang dã

Như vậy, nếu thiếu quá trình truyền thông giao tiếp, con người xã hội khó hoàn thành và từ khi xuất hiện đã gắn liền với quá trình truyền thông Những thành viên của bộ lạc sử dụng truyền thông để thông báo cho nhau nơi săn bắn, cách thức săn bắn Đó là điều kiện tạo nên mối quan hệ xã hội Con người từ xa xưa sống trong cộng đồng phải hiểu nhau và thông cảm cho nhau, đồng thời họ

sử dụng truyền thông để báo cho nhau những mối hiểm nguy từ cuộc sống Ngay

từ khi còn rất sớm, ta đã thấy họ xây dựng các trạm ngựa để phục vụ thông tin, truyền đạt thông tin, hay việc đốt lửa trên núi cao trong những trận chiến đấu Bắt đầu từ những tín hiệu đơn giản như những người đi rừng thường dùng lá cây rải lên đường hay dùng đá đánh dấu cho người đi sau được sử dụng với mục đích đơn thuần là để thông báo cho nhau mục đích, phương tiện cách thức để taọ nên hiệu quả công việc Rồi trong quá trình lao động sản xuất, con người tạo ra nhiều công cụ sản xuất, tích luỹ đựơc nhiều kinh nghiệm, phát hiện ra nhiều điều mới

mẻ từ công cuộc chinh phục tự nhiên Và từ đó cũng xuất hiện nhu cầu con người truyền đạt những hiểu biết, những khám phá mới, những kinh nghiệm và

để lại cho giai đoạn sau Sự ra đời của tiếng nói là nấc thang đầu tiên quan trong cho việc hình thành, tăng cường quá trình truyền thông - giao lưu trong xã hội loài người

Cùng với sự phát triển của tư duy loài người, sự khám phá tìm tòi của con người về thế giới ngày càng được mở rộng nên cách thức truyền thông của con

Trang 15

15

người cũng được phát triển Từ cách truyền thông đơn giản đến những cách truyền thông hiện đại như: truyền hình, vệ tinh, mạng internet ; các phương tiện thông tin liên lạc trở thành những cái không thể thiếu để cho nền kinh tế được phát triển cũng như cho nhà nước quản lí

Người ta có thể đưa ra rất nhiều cách hiểu khác nhau về truyền thông vì chính sự đa dạng phức tạp của nó Như vậy, khái niệm có ngoại diên vô cùng rộng lớn Danh từ truyền thông có nghĩa là làm thành cái chung, liên lạc, giao tiếp (communication) Truyền thông là cố gắng tạo lập sự hiểu biết chung của con người với mục đích làm thay đổi nhận thức và hành vi

Như vậy, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm truyền thông hoàn chỉnh như sau: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái

độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội” [2; 81]

Về bản chất truyền thông là một quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn

ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Quá trình chia

sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông

Trang 16

16

1.1.2 Khái niệm bảo tồn di sản văn hóa

Có nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” Theo định nghĩa

của Liên minh Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế viết tắt là IUCN (1991): “Bảo tồn

là sự quản lý, sử dụng của con người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai” – [ trích Tạp chí Di sản văn hóa số

1 - 2006] Để làm rõ hơn khái niệm về bảo tồn ta có thể hiểu như sau: Bảo tồn di

sản được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó

Quan điểm về bảo tồn di sản văn hóa

- Bảo tồn di sản văn hóa là bảo tồn nguyên dạng giá trị gốc của di sản văn hóa: Một số quan điểm cho rằng, bảo tồn di sản văn hóa cần phải bảo tồn nguyên vẹn các yếu tố gốc của từng loại hình văn hóa bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Với những di sản “chết” như Cố đô Huế hoặc Thánh địa Mỹ Sơn thì quan điểm này phù hợp, bởi vì những di sản này không có cư dân sinh sống trong lòng di sản Việc bảo tồn các di sản này là làm thế nào để gìn giữ tính nguyên gốc của di sản, không được tác động đến di sản với những yếu tố hiện đại, mà chỉ chống đỡ hoặc gia cố nếu xuống cấp khi nào thật sự cần thiết Còn di sản văn hóa phi vật thể Làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản mà nơi con người đang sống trong từng điệu hò, trong từng hơi thở và họ đang từng ngày, từng giờ tiếp nhận những lối sống mới, nhu cầu mới trong thời đại mới thì quan điểm bảo tồn của làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh phải được hiểu như là những nỗ lực nhằm bảo tồn nguyên dạng giá trị gốc của di sản hay “gìn giữ sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó” Bảo tồn nguyên dạng giá trị gốc

Trang 17

17

có nghĩa là chỉ cố gắng giữ lại những yếu tố gốc khi có thể và có thể thay thế nó bằng những yếu tố mới khi cần thiết nhưng không đánh mất đi giá trị của nó, hài hòa giữa cũ và mới và đáp ứng được nhu cầu sống của người dân đương đại

- Bảo tồn di sản văn hóa là phải gắn kết giữa bảo tồn văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể: Không ai có thể phủ nhận được sự phức tạp trong việc phân chia ranh giới giữa di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Giữa di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể luôn có mối quan hệ gắn bó hữu

cơ với nhau, đôi lúc khó phân biệt một cách rạch ròi Việc phân chia văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể chỉ mang ý nghĩa tương đối

- Bảo tồn di sản văn hóa gắn với công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục cộng đồng: Công tác bảo tồn di sản văn hóa không thể tách rời công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục cộng đồng Nếu bảo tồn di sản văn hóa mà không có những công trình nghiên cứu đi trước làm cơ sở khoa học thì việc bảo tồn sẽ đi chệch hướng, dễ dàng đánh mất tính chuẩn xác của di sản Nếu bảo tồn

di sản văn hóa mà không giáo dục cộng đồng để cộng đồng không nhận diện được giá trị của di sản thì chính cộng đồng sẽ là người đánh mất di sản Vì vậy, hai vấn đề này đều gắn kết hữu cơ với nhau

- Bảo tồn di sản văn hóa trước hết phải chú ý đáp ứng các nhu cầu của cộng đồng: Bảo tồn di sản văn hóa phải gắn với sự nỗ lực chung của cả cộng đồng về mọi mặt bao gồm ý thức, tài lực, vật lực… Từng chủ di tích phải biết bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích, không được phép thờ ơ, vô trách nhiệm hoặc ỷ lại, dựa dẫm vào nhà nước, tập thể thì công tác bảo vệ và gìn giữ di sản của cha ông để lại mới thành công Nhưng để thực hiện được điều này thì công tác bảo tồn di sản văn hóa phải quan tâm đến việc đáp ứng nhu cầu bao

Trang 18

18

gồm nhu cầu vật chất và tinh thần cho cộng đồng và cộng đồng phải được hưởng lợi từ di sản Những sinh hoạt văn hóa, phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng của cộng đồng cũng phải được đầu tư, quan tâm và gắn kết thật sự với cộng đồng để cộng đồng cảm thụ được những giá trị văn hóa, sống cùng với những giá trị văn hóa

đó Từ đó họ thấy thêm yêu di sản của mình và ra sức chung tay bảo tồn di sản văn hóa

Vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đã khó nhưng còn khó khăn hơn vạn lần nếu đó là một “di sản sống”, bởi nó gắn liền với cuộc sống hàng ngày của cộng đồng dân cư, của làng xã và có mối quan hệ qua lại giữa một bên là người chủ di sản, và một bên là các di sản và cơ quan quản lý Làn điệu dân ca ví, giặm là một “di sản sống” và thực sự “sống” được khi kết hợp hài hòa lợi ích của cộng đồng dân cư vào vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản Những thành quả của làn điệu dân ca ví, giặm hôm nay là biết gắn liền giữa bảo tồn di sản và đáp ứng nhu cầu cho cộng đồng Ở đâu có thể “sống” thực sự với danh hiệu di sản, ở đâu có sự đồng thuận cao giữa cộng đồng đối với các chính sách quản lý, bảo tồn di sản thì ở đó di sản mới tồn tại với thời gian

1.1.3 Khái niệm phát huy di sản văn hóa

“Phát huy di sản (heritage promotion) có nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội”[trích nguồn internet, http://hoianheritage.net/vi/trao-doi-chuyen- nganh/trong-nuoc/Mot-so-quan-diem-ve-bao-ton-va-phat-huy-di-san-van-hoa- Hoi-An-185/]

Trang 19

19

Quan điểm về phát huy giá trị di sản văn hóa

Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là cất giữ cho khỏi mất tài sản, để giữ gìn bản sắc dân tộc một cách hình thức hoặc tự ca ngợi mình mà ý nghĩa hơn thế rất nhiều, bảo tồn là để phát triển, khai thác các giá trị văn hoá truyền thống là làm cho nó có thể sống lại, làm cho các giá trị đó tồn tại trong đời sống thực, năng động hoá các hình thức tồn tại của di sản văn hoá trên cơ sở thu hút sự quan tâm của các tầng lớp xã hội, nhờ đó mà các giá trị được vận hành, thâm nhập vào cuộc sống hiện tại Và ngược lại, phát huy các giá trị di sản là để đưa giá trị văn hóa đến với cộng đồng, giúp cộng đồng phát triển kinh tế và đáp ứng cho công tác bảo tồn di sản văn hóa hoàn thiện hơn

- Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của đời trước để lại, làm cho các giá trị của di sản văn hóa thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng xã hội

Xét về bản chất, mỗi di tích hay mọi sinh hoạt nghệ thuật, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, lối sống nếp sống, hoặc các tri thức dân gian về ngành nghề thủ công, y học, ẩm thực, tất cả đều là những giá trị tồn tại dưới những dạng cái vật chất cụ thể ẩn chứa phía sau những hoạt động hoặc kết quả của các hoạt động tinh thần của con người trong mọi mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân mình Những giá trị ấy chính là cái

“hồn”, một nơi thể hiện rõ nhất những thành tựu, trình độ và bản sắc văn hóa của một cộng đồng tại một không gian và ở một thời gian nhất định Tích lũy trong quá khứ, qua trường kỳ lịch sử các giá trị đó có thể trở thành một bộ phận quan trọng hợp thành vốn di sản văn hóa quý báu của dân tộc và có thể cũng là của cả nhân loại Vì vậy, phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết kế thừa có chọn

Trang 20

ra thêm nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng giúp phát triển kinh tế bền vững cho địa phương

- Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết mở rộng giao lưu văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa

Từ xưa đến nay không có nền văn hóa nào tự thân phát triển bằng sự

“đóng kín” mà muốn phát triển phải luôn được bồi đắp bởi nhiều nền văn hóa khác Vì vậy, việc giao lưu, mở rộng văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa, đồng thời làm thăng hoa và lan tỏa văn hóa của mình đến khắp nơi luôn là khuynh hướng của mọi cộng đồng, mọi dân tộc, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Tuy nhiên, giao lưu, tiếp nhận những luồng văn hóa khác là cần thiết nhưng tiếp nhận những cái gì và biến đổi như thế nào để không đánh mất đi giá trị văn hóa của địa phương là việc không đơn giản

Trang 21

21

- Phát huy các giá trị di sản văn hóa nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững, phục vụ tích cực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa Việc phát huy các giá trị di sản văn hóa ấy sẽ thu hút mạnh mẽ khách du lịch trong và ngoài nước đến với di sản, giúp cho ngành du lịch phát triển bền vững, giúp cho nền kinh tế của địa phương ổn định Và điều tất nhiên, để du lịch phát triển bền vững thì những giá trị văn hóa phải được nuôi dưỡng, bồi đắp, luôn được tỏa sáng thật sự

Và muốn làm được điều đó thì mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy luôn được gắn kết với nhau Bảo tồn phải giữ gìn được giá trị của di sản và khai thác, phát huy phải đáp ứng lại việc bảo tồn theo một quy trình bảo tồn → phát huy → bảo tồn Việc khai thác quá mức tài nguyên du lịch này sẽ dẫn đến cạn kiệt và đánh mất giá trị di sản và điều đó sẽ dẫn đến sự phát triển không bền vững Mối quan

hệ giữa bảo tồn và phát huy luôn đặt ra trong tiến trình này

Di sản văn hóa có vai trò to lớn đối với sự phát triển lành mạnh và bền vững của cuộc sống đương đại Vì vậy, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

là nền tảng, là nguồn động lực cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển của địa phương, của đất nước, là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người và của cả cộng đồng

1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG

1.2.1 Đặc điểm của truyền thông

Đặc điểm của truyền thông trước hết, nó là một quá trình, không phải sự trao đổi truyền đạt nhất thời, mang tính thời điểm hoặc mùa vụ mà đó là cả một thời gian rộng lớn Và quá trình truyền thông này không mang tính thời vụ, nó không chỉ kết thúc ở việc ta chuyển tải hết nội dung sự kiện đó mà có lẽ lúc nó

Trang 22

22

kết thúc cũng là lúc bắt đầu của một quá trình trao đổi hoặc chia sẻ, có nghĩa là trong quá trình truyền thông phải có hai thực thể tham gia

1.2.2 Các yếu tố của truyền thông

- Đầu phát: Là yếu tố thông tin tiềm năng và khởi xướng việc thực hiện

truyền thông, có thể đó là một cá nhân nói, viết, vẽ hay làm động tác Yếu tố khởi xướng có thể là một nhóm người, một tổ chức truyền thông như Đài PTTH, một tờ báo, rạp chiếu phim… Đầu phát chính là chủ thể quá trình truyền thông,

là yếu tố đầu tiên quyết định hiệu quả của quá trình truyền thông

- Thông điệp: Là nội dung thông tin được chia sẻ, trao đổi từ nguồn phát

đến đối tượng tiếp nhận Có thể bằng tín hiệu, mã số, lời nói, cử chỉ, thái độ, chữ viết… hoặc bất cứ tín hiệu nào mà con người có thể hiểu được và trình bày một cách có ý nghĩa Diễn tả bằng thứ ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận có thể hiểu được

- Kênh (phương tiện truyền thông): Là sự thống nhất của phương tiện, con đường, cách thức truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Muốn chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận phải có kênh truyền thông Đó chính là phương tiện kỹ thuật và phương thức chuyển tải thông tin tương ứng, trong đó những phương thức chuyển tải thông tin hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào việc đối tượng tiếp nhận thông tin bằng giác quan: Thị giác; thính giác; khướu giác; vị giác

- Người nhận (công chúng): Là khối độc giả, khán thính giả đại chúng, tức

là khối mà các phương tiện truyền thông muốn tiếp cận Đây là yếu tố cuối cùng trong quá trình truyền thông, cũng là khâu cuối cùng quyết định hiệu quả, biến mục đích của truyền thông từ khả năng thành hiện thực Đó là việc tạo ra thay

Trang 23

23

đổi về nhận thức để dẫn tới thay đổi về hành vi của đối tượng tiếp nhận, phù hợp với qui mô, tính chất, khuynh hướng của thông điệp

- Đối tượng tiếp nhận báo in: Xem lướt và quyết định lựa chọn

- Đối tượng tiếp nhận phát thanh và truyền hình: Người nghe có quyền lựa chọn mở - tắt máy, tìm các sóng khác nhau để thưởng thức; người nghe chỉ hiểu được những gì ngắn gọn và dễ hiểu; người nghe có cảm giá thông qua nghe mà nhìn thấy được nên cần tạo một bức tranh sinh động Thông thường người ta có thể nghe với các trạng thái: nghe như một hoạt động tự thân; nghe có chú ý chọn lọc, có sự ghi nhận, nghe có sự kết hợp với lao động khác Toàn bộ thông tin được truyền đạt qua lời nói Có nhiều khả năng hạn chế, gián đoạn thông tin

-Hiệu quả: Là những vận động xã hội được hình thành dưới tác động của truyền thông, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát

-Nhiễu: Là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trong quá trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật…) dẫn đến tình trạng thông tin, thông điệp sai lệch Nhiễu ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình truyền thông, càng qua nhiều khâu chuyển tiếp trong thông tin thì nhiễu càng lớn Nhiễu

do tính chất cơ học, do sự nhận thức khác nhau Và để giải quyết nhiễu cần tăng cường sức mạnh ở những điểm quan trọng để truyền thông đạt hiệu quả cao nhất bằng cách nâng cao lập trường chính trị đối với phóng viên

- Phản hồi: Mã hóa nghĩa là tìm tòi một hệ thống và tín hiệu hoặc ngôn ngữ nào đó để diễn đạt nội dung thông điệp như sáng tác tác phẩm, kết nối tác phẩm Giải mã là quá trình từng cá nhân bằng con đường riêng của mình làm rõ rang, rành mạch thông điệp được chuyển đến Mỗi thông điệp chuyển đến có thể được chấp nhận và hiểu biết khác nhau tùy theo kiến thức, thái độ của người tiếp nhận, đồng thời tùy thuộc vào người cung cấp thông điệp

Trang 24

24

1.2.3 Chức năng của truyền thông

Truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng giá trị cho công chúng Chính yếu tố truyền thông đã tác động đến các khía cạnh mọi mặt của đời sống, làm cho vấn đề ngày càng đa dạng và phong phú hơn

1.3 ĐÔI NÉT VỀ LÀN ĐIỆU DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH

1.3.1 Lịch sử ra đời

Ngày nay, chúng ta ai cũng biết rằng ví, giặm là nét văn hóa đặc sắc trong lòng người dân Nghệ Tĩnh nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Nó đã đi sâu vào từng nếp sống, nét sinh hoạt hàng ngày của từng cá nhân, gia đình và toàn xã hội Nhưng để tìm ra nguồn gốc và làn điệu phát sinh của nó thì không phải là dễ bởi không có một truyền thuyết hay sự tích nào lưu truyền đến ngày nay lí giải về vấn đề này Khi hỏi người dân về vấn đề “Theo anh/ chị dân ca ví, giặm ra đời từ khi nào?” Thì có tới 68% người cho rằng dân ca ví, giặm ra đời cách đây khoảng 200-300 năm Điều này cho thấy, người dân cũng biết sơ qua

về quá trình hình thành và phát triển một cách tương đối về làn điệu dân ca ví, giặm này

Trang 25

kì này ví, giặm đã có mặt hầu hết mọi không gian sinh hoạt ở vùng đất Nghệ An – Hà Tĩnh Hễ ở đâu có phường, hội, có sinh hoạt đông người là ở đó có hát ví, giặm Phần lớn các đôi trai gái trong làng cùng nhau hát đối đáp trao duyên với nhau làm cho cuộc hát ngày càng đa dạng và phong phú thêm Bởi vậy cho đến ngày nay, vấn đề lịch sử, nguồn gốc của ví, giặm vẫn có là một ẩn số buộc các nhà nghiên cứu, các nhà văn hóa dân gian, các NSND ngày công tìm tòi và nghiên cứu thêm

Trang 26

26

Có một nét độc đáo, khác biệt là ví, giặm tuy duy trì tồn tại lâu đời nhưng

nó không được phát triển mạnh mẽ như dân ca các vùng khác mà ví, giặm Nghệ Tĩnh chỉ tồn tại bền chặt và lâu dài trong nét sinh hoạt hàng ngày của đời sống người dân xứ Nghệ nơi đây

Về không gian, có thể độ đậm nhạt ở mỗi địa phương khác nhau nhưng hầu hết khắp các địa bàn sinh hoạt của người kinh xứ Nghệ thì đều hát ví, giặm Điều đặc biệt là hát ví, giặm tuy tồn tại lâu đời nhưng nó cũng chỉ phổ biến ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh mà không đi ra ngoài tỉnh thành nào khác Bởi vậy có thể thấy làn điệu dân ca ví, giặm chính là “thổ sản” đặc biệt của người dân xứ Nghệ nơi đây

Hiện nay, dân ca ví, giặm đang ngày càng được sân khấu hóa một cách rộng rãi Khuynh hướng trong những năm gần đây, nhiều nhạc sĩ đã sử dụng chất liệu dân ca để sáng tác những tác phẩm mới Đã có những bài hát nổi tiếng và phổ biến rộng rãi trong toàn quốc như: Giận mà thương, Phụ tử tình thâm, Em yêu anh như yêu câu ví, giặm…

Bên cạnh đó sự hình thành sân khấu kịch hát được manh nha và phát triển ngay trong cấu trúc làn điệu, nhạc tĩnh dân gian và hình thức diễn xướng của dân

ca Nghệ Tĩnh Một số vở kịch hát rất thành công trong đó có sự góp phần rất quan trọng của dân ca Nghệ Tĩnh là: “Cô gái sông Lam” của Nguyễn Trung Phong; “Cảm xúc từ câu hò điệu ví”, “Ai vô xứ Nghệ”… Đồng thời, một số làn điệu dân ca mới đã đi sâu vào lòng người dân ca Nghệ Tĩnh mà không ai còn biết đến tác giả nữa: Giận mà thương, Ai có thương ai, Đêm nghe hát đò đưa nhớ bác…

Trang 27

dễ chấp nhận hơn Nhưng nhiều nhà văn hóa văn nghệ dân gian cho rằng, nó do

từ “ví” mà ra Ví là ví von, so sánh:

Ví dụ như câu:

“Cổ tay em trắng như ngà

Mắt em sắc như là dao câu

Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”

Như vậy, nó xuất phát từ lời ca, từ mặt văn học của làn điệu dân ca mà dân

ca Việt Nam đâu chỉ hát ví mới có ví von, so sánh Sa mạc cò lả, trống quân, quan họ, lý ngựa ô, lý con sáo… lời ca của những làn điệu ấy đều có ví von, so sánh, tại sao không gọi là hát ví ở Nghệ Tĩnh, nói tới hát ví là nói tới một loại

Trang 28

28

dân ca mà làn điệu dân ca này chỉ xuất hiện ở Nghệ Tĩnh, lưu truyền ở Nghệ Tĩnh Ra Thanh Hóa, vào Quảng Bình, chúng ta không nghe làn điệu dân ca này Trong các sách viết về dân ca đã xuất bản trước tới nay, chúng ta cũng không thấy sách nào nói địa phương nào có loại dân ca này Vì thế, chúng tôi cũng cho rằng hát ví là một trong những “thổ sản” đặc biệt của người dân xứ nghệ

PGS Ninh Viết Giao đã cho rằng, “Ví là với hát ví là hát với và ví là vói Bên nam đứng ngoài ngõ, ngoài đường hát vói vào sân, vào nhà với bên nữ, hoặc đám con gái đang cấy lúa ở lối ruộng này hát vói sang khu ruộng bên cạnh với đám con trai đang nhổ mạ” [6; 242] Tuy nhiên, đó là ý kiến cần phải nghiên cứu

Giặm là gì? Tên gọi này đã có rất nhiều người cắt nghĩa, mỗi người hiểu theo một cách khác nhau Có người cho rằng “giặm” là dẫm chân và hát giặm là lối hát có đánh nhịp bằng chân Có người lại nói “giặm” xuất phát từ tính chất phân đoạn của bản thân lời hát Có người lại hiểu loại hình dân ca này theo nghĩa của từ giặm- có nghĩa là đem một vật gì có thêm vào, điền vào, chắp vào một cái

gì đó còn khuyết, còn thiếu Hát giặm là lối hát chắp vần, thêm vào, dựa vào hiện tượng láy câu, chắp câu trong lời hát giặm Giặm được sáng tác theo thể thơ ngụ ngôn (mỗi câu 5 chữ, mỗi bài có 5 câu) Giặm là dắm vào (ví dụ như dắm cây lúa) Nhìn chung ngày nay nhiều người không còn để ý đến việc cắt nghĩa từ giặm là gì nữa Dừng như nó trở thành một tiếng mơ hồ, không có nghĩa Dù hiểu theo nghĩa nào, chúng ta cũng có thể khẳng định hát giặm là một hình thức dân ca đặc biệt của xứ Nghệ với những câu hát gồm 5 chữ, lặp lại với nhau có vần và nhịp điệu

Trang 29

29

Dù cho cách hiểu như thế nào thì chúng ta cũng cần khẳng định hát ví là hát đối đáp nam nữ, các câu hát được ứng tác ngay tại chỗ, người hát vừa cất giọng, vừa suy nghĩ, sáng tạo ra câu hát đối lại sao cho thật hay tùy vào đối tượng hát, hoàn cảnh hát

1.3.3 Tính chất của điệu hát ví, giặm

Dân ca Nghệ Tĩnh (ví, giặm) là một trong những di sản văn hóa quý báu của dân tộc và là “đặc sản” văn hóa của nhân dân địa phương Những âm điệu gần gũi thân quen ấy mỗi khi vang lên , bỗng dưng trong ta như khơi dậy những tình cảm bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình, lòng ta thêm yêu mến quê hương - non nước - con người xứ Nghệ Chẳng thế nhà thơ Huy Cận đã từng thổ

lộ

Càng lắng lại càng sâu Như sông Lam chảy mãi Đọng bao thuở vui sầu”

Ai đã vào xứ Nghệ, cư trú ở xứ Nghệ, dù chỉ một thời gian ngắn thôi là được thưởng thức hai “thổ sản” đặc biệt của xứ Nghệ về dân ca đó là hát ví và hát giặm Hai “thổ sản” đặc biệt này là “thổ sản” đặc biệt của nhân dân xứ Nghệ trong quá khứ, tồn tại bền vững theo lịch sử, được nâng cao dần và đến một lúc nào đó là ổn định, ổn định đời đời như đất trời, như sông núi như nhân dân xứ nghệ Không ai, không một địa phương nào có thể tranh quyền tác giả hai loại dân ca hát ví và hát giặm cất lên biết ngay đó là dân ca của quê hương mình

Trang 30

hệ xa gần với các bài ca gắn liền với cuộc sống nghệ nghiệp của người lao động

Qua thời gian, hát ví được nâng lên thành một loại dân ca sinh hoạt trữ tình Đã được nhiều công trình nghiên cứu về hát ví Nghệ Tĩnh trước khi đi sâu vào mặt âm nhạc, xin nêu tóm tắt các đặc điểm của hát ví xứ Nghệ như sau:

1 Không như hát quan họ bắc Ninh, hát ghẹo ở phú thọ, hát cửa đình ở một số nơi khác, nhân dân Nghệ Tĩnh hát ví không hề tính đến thời gian Quanh năm trên đất nghệ, lúc nào cũng có thể nghe tiếng hát ví, không phải ví phường vải thì ví phường củi hoặc phường đan…

2 Hát ví nhất là ví phường vải, ví phường đan có nho sĩ tham gia Phần lớn các nho sĩ này là các trí thức bình dân, xuất than từ quần chúng lao động, nhưng cũng có người là quần chúng con nhà dòng dõi, con nhà khoa bảng nhiều khi chính họ là những người có tên trong bảng vàng Tham gia hát ví, họ thường làm thầy bày, thầy gà cho bên nam và bên nữ Chính vì có nho sĩ tham gia mà hát ví Nghệ Tĩnh đã để lại những lời ca óng ả, cô đọng, màu mè và nhiều giai thoại mà đến giờ đây, nhân dân xứ Nghệ còn truyền tụng

Trang 31

4 Câu văn hát ví hầu hết được sáng tác theo thể lục bát và lục bát biến thể

Vì hát ví đã trải qua một thời gian dài lại có nho sĩ tham gia nên như vừa nói ở trên, câu hát khá chải chuốt, khá điêu luyện thể hiện tình cảm phong phú, phức tạp nhiều vẻ Nhiều câu hát ví hàm súc mang chất trí tuệ ở logic diễn đạt ở trí thức sách vở và trí thức thực tiễn Bên cạnh đó cũng không ít câu mang tính chất chơi chữ và tính chất trạng

5 Về cách hát, trước khi hát một câu, bên nam hoặc bên nữ phải xướng lên một câu Ví dụ: Hát ví phường vải bên nam gọi bên nữ: “ơ, này chị em phường vải ơi!” - Bên nữ thưa rồi bên nam mới hát

6 Về mặt âm nhạc, PGS Ninh Viết Giao đã nhận xét “Âm nhạc hát ví thuộc hệ thống dân ca cổ” Ví là để hát đơn, hát trên lời thơ lục bát, song thất lục bát hoặc biến thể nhưng đến khi có hội có phường thì có thể cả tốp cùng hát theo, hoặc 2-3 người cùng hát để hỗ trợ giọng cho nhau như hát ví phường vải hát trong lúc kéo xa con cúi Hát ví ngoài những người lao động, nhiều người khác trong tứ dân (sĩ, nông, công, thương) trẻ già, trai, gái đều cùng nhau tham gia hát ví

Về văn học của hát ví, các nhà nghiên cứu sưu tầm văn nghệ dân gian như PGS Ninh Viết Giao, GS Nguyễn Đổng Chi, nhà thơ Nguyễn Hữu Thung… đã

Trang 32

Cũng như hát ví, hát giặm được xem là một thổ sản đặc biệt của nhân dân Nghệ Tĩnh Trong khi hát ví thịnh hành khắp xứ Nghệ thì hát giặm chỉ thịnh hành ở một số địa phương, đáng kể nhất là các huyện Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh thuộc tỉnh Hà Tĩnh hiện tại Hát giặm cũng có cuộc sống độc lập, nghĩa là có phát sinh, phát triển, lưu hành nhưng bị thu hẹp

Do câu hát và cách hát, nên hát giặm Nghệ Tĩnh vừa dùng vào việc phô diễn tình yêu trai gái, vừa dùng để kể chuyện cho công chúng nghe, vừa để tụng

thần, mặc dù ngày nay không thấy nơi nào dùng hát giặm vào việc tụng thần

1.3.4 Một số làn điệu ví, ngiặm

- LÀN ĐIỆU VÍ

Những bài hát ví ở Nghệ Tĩnh đã sưu tầm như: Ví phường vải: Nam Đàn,

Đô Lương, Can Lộc, Đức Thọ; Ví đò đưa sông La: Đức Thọ, Hương Sơn; Ví đò

Trang 33

Xin giới thiệu một số làn điệu ví tiêu biểu:

1 Ví Đò Đưa Sông La

Nghệ Tĩnh có nhiều sông nhiều rào, đó cũng là nguồn giao thông đặc biệt trong Tỉnh Trên dòng sông thường có thuyền buôn, thuyền chợ, đò dọc, đò ngang, bè gỗ, bè nứa…Ngay trong khi thuyền bè xuôi ngược dòng sông, giữa thuyền này với thuyền kia khi xuôi dòng khi ngược dòng, với mênh mông trời nước, đó là sự cách trở để hai thuyền khó tâm tình với nhau, muốm giao duyên người bạn, thuyền bên tả ngạn hát ví, để bên hữu ngạn biết có người muốn tỏ tình Câu ví hình thành trong khoảng không gian bao la đó, chữ “người ơi” vút cao trong sáng nghe man mác:

“Người ơi thuyền anh xuôi chế sáu chèo Thuyền em ngược lạng cheo leo một mình”

2 Ví phường vải

Ở Nghệ Tĩnh việc làm ăn có hội có phường là truyền thống lâu đời Nghề thủ công dệt vải, tơ lụa nuôi tằm nổi tiếng như đất Đồng Môn dệt vải, lụa hạ Châu Phong, các làng ở Nam Đàn, ở Can Lộc… đều có phường vải

Trang 34

34

Từ đó những điệu ví phường vải được vang lên bên lũy tre xanh, từ trong mái nhà tranh ấm cũng hay dưới đêm trăng bên thềm nhà, các chị em tay quay xa tay cầm con cúi rút sợi Tay quay xa khi quay khi dừng, lên lên xuống xuống, khi đưa ra khi đưa vào, nhịp nhàng mềm mại, tiếng xa xè xè, hòa với tiếng quay vo

vo êm ả, tiếng hát cũng trong hoàn cảnh đó được cất lên, êm ả, thiết tha nồng hậu, biểu hiện ở chỗ bắt đầu là chữ “người ơi” nhẹ nhàng tha thiết Hát phường vải khác với các ví khác là có thủ tục một cuộc hát: đầu tiên chỉ nhóm em phường vải nữ ca hát với nhau Sau đó có sự tham gia của nhóm nam

3 Ví đò đưa sông Lam

Đặc điểm của ví này chỉ hát trên sông lúc đò đang đi xuôi hoặc ngược dòng còn khi neo đậu không ai hát nữa Khi thuyển trôi trên sông, người chống

đò cầm sào đi lên phía mũi thuyền, bỏ sào chống xuống nước, tay cầm đầu sào tỳ vào phía trước bả vai, rồi lấy sức chống con sào đi ngược với con thuyền, lúc nhổ sào người chống sào đi thong thả về vị trí cũ là hết một cội sào, lúc đó họ nghỉ ngơi và cất lên tiếng hát - có khi người ngồi bên mạn thuyền hát một câu ví tâm tình:

“Người ơi! Ai biết nước sông lam răng là trong là đục Thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh”

Âm điệu của ví đò đưa sông lam: Man mác, bao la, sâu lắng”

4 Ví phường cấy

Người nông dân Nghệ Tĩnh đã chịu đựng biết bao cơ cực với thiên nhiên

hà khắc, nào gió lào hạn hán, lụt bão triền miên Trong chế độ phong kiến cuộc sống làm thuê một nắng hai sương, người nông dân đi cày cấy trước khi trời

Trang 35

35

chưa sáng trong màn sương mai dày đặc Để biểu lộ tâm tình với nhau trên đồng ruộng, câu hát ví được hình thành trong hoàn cảnh đó, nó mang tính chất bàn bạc, u uất bang khuâng, điển hình là câu “ người ơi” bắt đầu cuộc hát ví:

Người ơ ơi! Rồi mùa tóc rạ rơm khô

Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm

5 Ví trèo non

Rừng núi Nghệ Tĩnh khá rộng và có những mỏm núi cao vun vút, nằm trên dãi trường sơn trùng điệp, có vùng đồi núi gần thượng du mà trung du, đồng bằng ven biển đều có núi đồi Người dân xứ Nghệ thường hay đi kiếm củi ở rú gần làng như rú Hống, rú Thành, rú Đại Huệ… có vùng núi đá, có vùng núi đất, cây cối có nơi lè tè hoang dại, có nơi sầm uất xanh tươi Mỗi lần đi kiếm củi, họ thường trèo lên cao mới có củi tốt Những bàn chất đất, đòn gánh đè dạn hai vai, vất vả gian nan là thế nhưng câu hát ví vẫn người xứ Nghệ lên non Họ gọi đó là

“hát ví trèo non”, âm điệu câu hát mang màu sắc không gian đồi núi Thường thường người dân đi hái củi này hat dùng tiếng “hú” làm tín hiệu để liên lạc với nhau, cho nên hát ví lúc này không thể hát ngay chữ “người ơi”, mà vào đầu là chữ “ơ” rồi mới hát “là người ơi”, có như thế người bạn bên núi kia mới biết có người ở bên này đang hát với mình Một đặc điểm khác là cuối câu ví không kéo dài, vì do gánh nặng hoặc leo trèo, mệt nhọc nên dừng lại một chữ có âm ngắt:

Trang 36

36

- LÀN ĐIỆU GIẶM

Giặm có khoảng gần 10 điệu như: Giặm kể, giặm cựa quyền, giặm vè, giặm

ru, giặm xẩm, giặm giật….khác với ví, hát giặm có hai hình thức:

- Hát giặm nam nữ

- Hát giặm vè (tức vè sáng tác theo thể hát giặm)

1 Hát giặm nam nữ

Đây là một hình thức văn nghệ tự túc của nhân dân lao động địa phương

xứ nghệ Từ một dân ca lao động - nghề nghiệp tiến lên thành một dân ca sinh hoạt - trữ tình, nó cũng có quá trình được thử thách

Hát giặm nam nữ ở Nghệ Tĩnh có các đặc điểm sau:

- Khác với hát giặm ở Hà Nam (ở làng quyền sơn, huyện Kim Bảng), hát giặm này kết hợp hát, múa và gõ nhịp thường được biểu diễn trong những dịp tế thần vào những ngày nhất định mỗi năm khi mùa xuân về Hát giặm Nghệ Tĩnh

là hát của trai gái trong khi trao đổi tình cảm, thường là để tỏ tình Cũng như hát

ví, họ hát giặm quanh năm, không phân biệt mùa xuân hay mùa thu mà hễ mỗi khi có dịp là cùng nhau lao động, cùng gặp gỡ giữa trai và gái là có hát giặm nam nữ

- Như hát ví, hát giặm nam nữ cũng có phường có cuộc, song thủ tục một cuộc hát giặm nam nữ không chặt chẽ như thủ tục một cuộc hát ví, nhất là hát phường vải Nó chỉ có ba chặng cơ bản là chặng hát dạo, chặng hát đố hát đối và chặng hát xe kết Các bước trong mỗi chặng không nhất luật phải tuân theo tùy phường hát, người đi hát và cuộc hát mà gia giảm

Trang 37

37

- Khác với loại hát dân ca khác, ngay cả với hát ví, là khi hát giọng hát nghe uyển chuyển, êm ái, nhạc điệu phong phú và phức tạp… còn hát giặm Nghệ Tĩnh, giọng hát nghe thô sơ, nhạc điệu đơn giản, tưởng như còn giữ được ít nhiều hình thức nguyên thủy và tính chất hùng dũng vốn có xưa kia của nó

- Các lối hát nam nữ khác, mỗi lần diễn xướng, người hát chỉ hát 2 câu, 4 câu nhiều nhất mươi câu là cùng Còn hát giặm nam nữ Nghệ Tĩnh, mỗi lần hát thường đến mươi lăm câu, có khi ba buốn chục câu… mà toàn ứng khẩu Do khả năng kéo dài như vậy, nên có người đã cho hát giặm nam nữ là sự tỏ tình bằng văn bản xuôi

- Lời hát giặm nam nữ do thổ ngữ từng vùng mà hát theo vần tiết của thơ năm chữ và thêm những chữ đệm để lấy đà hoặc lót như: Rứa mới, rồi, mì, a là ơ… Về âm nhạc, có nhiều nhà nghiên cứu sưu tầm cho hát giặm giữa nam nữ làn điệu cũng khá phong phú, nhưng cấu trúc hát giặm có đặc điểm cơ bản là hát theo thể thơ 5 chữ , vần nằm cuối câu, giữa đoạn thỉnh thoảng có một câu láy lại

2 Hát giặm vè

Hát giặm vè là một loại sáng tác có chuẩn bị nội dung, có bố cục, có trau truốt về mặt câu chữ, nghĩa là nó được sáng tác ra với mục đích kể về sự việc, thường là sự việc mới xảy ra trong vùng Có khi nội dung lời bài hát là kể chuyện lịch sử hay tuyên truyền cổ động một điều gì, chẳng hạn như tuyên truyền cho việc xuất động một điều gì, chẳng hạn như tuyên truyền việc xuất dương du học, cổ động chống thuế năm 1908, tuyên truyền cách mạng trong hai năm 1930-1931,… nhiều bài cũng có nội dung trữ tình như tình yêu trai gái, tình

vợ chồng, tình cha con, nhiều bài nói về phong tục tập quán cũ và đấu tranh trong làng xã…loại này tập trung ý nghĩa vào lời văn hơn là giọng hát Bài đặt

Trang 38

38

xong, phổ biến một lần, nếu đặc sắc sẽ được nhiều người học thuộc rồi phổ biến

rộng rãi ra Đó là hát giặm vè

Đặc tính chung của hát giặm vè

Về văn học, hát giặm vè là những bài hát miêu tả sự việc có thực, ít hư cấu, ít cường điệu Hát giặm vè là phương tiện để giáo dục, phê phán thói hư tật xấu trong xã hội, có tính chất đả kích và trào phúng, cũng có những bài hát giặm

vè mang tính chất biểu dương người tốt việc tốt

Về lời ca, hát giặm vè thường có lối ẩn dụ nhưng cũng có nhiều bài tả thực mộc mạc chân thành, sinh động mà hấp dẫn Hát giặm vè Nghệ Tĩnh có khi chỉ lưu truyền trong một làng hay một vài xã, nhưng cũng có những bài được lưu truyền rộng rãi, có giá trị về tư tưởng và giá trị về văn học, lịch sử Ở Hà Tĩnh, trong sinh hoạt gia đình có khi mẹ hát vè để dạy con muối cà, muối dưa, rửa bát…

Ví dụ:

“Em ăn tứ mùa em nhớ em bưng Đừng cho con dán con giun lọt vào

Rửa đọi thì chớ trồng cao”

Trong hát giặm vè ngữ điệu địa phương rất phong phú Thực ra vè hát giặm là một kiểu nói lối - hát nói Cách mở đầu kết thúc đều dựa vào lời ca văn học dài hay ngắn khác nhau Hát giặm vè do dựa vào thơ 5 chữ, 4 chữ hoặc song thất lục bát biến thể hoặc nguyên dạng, nên âm nhạc của nó không cố định một truyền luật nhất định Hát giặm vè thông qua những người hát rong, hát dạo như

Trang 39

miền quê nào những làn điệu ân tình đến thế

1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Có thể thấy, ở chương một phần lớn tập trung lý giải những lý luận cơ bản

về truyền thông và những vấn đề liên quan đến làn điệu dân qua ví, giặm Nghệ Tĩnh để giúp cho mọi người hiểu biết hơn về truyền thông và những làn điệu dân

ca ví, giặm Nghệ Tĩnh Qua những phân tích ở trên phần nào chúng ta có thể hiểu được truyền thông chính là yếu tố cần thiết nhất trong việc bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví, giặm của mình Truyền thông mang đến những tri thức mới cho con người, giới thiệu cho mọi người hiểu sâu hơn về làn điệu dân ca ví, giặm và giới thiệu những nét văn hóa vốn có này đến với bạn bè trong và ngoài nước Chính quá trình truyền thông đã gắn kết con người lại với nhau hơn và hoạt động truyền thông giúp con người nhận biết được nhiều cái mới và tiếp cận thông tin hiệu quả hơn

Trang 40

40

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ

PHÁT HUY LÀN ĐIỆU DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH

2.1 MỘT SỐ LOẠI HÌNH TRUYỀN THÔNG CƠ BẢN DÂN CA CỦA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH

2.1.1 Qua những lời ru của bà của mẹ

Xứ Nghệ, một miền quê nổi tiếng văn vật Từ xa xưa đã sản sinh một nền văn hóa vô cùng đặc sắc Trong đó làn điệu dân ca ví, giặm được xem là một loại hình tiêu biểu mang nhiều giá trị và ý nghĩa Được biết, người dân Nghệ Tĩnh đều biết đến những làn điệu ví, giặm Và khi được hỏi về “Anh/ chị có thường xuyên nghe những câu dân ca ví, giặm không?” thì có tới 50% người thường xuyên nghe và 38% người thỉnh thoảng nghe, ít khi nghe chỉ chiếm 10% và số lượng người chưa bao giờ nghe chỉ chỉ chiếm 2% Điều này cho thấy những làn điệu dân ca ví, giặm rất phổ biến đối với người xứ Nghệ nơi đây

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Nhã Bản (2001), “Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh”, Nxb. Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb. Nghệ An
Năm: 2001
2. Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng (2012), “Truyền thông – lý thuyết và kỹ năng căn bản”, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông – lý thuyết và kỹ năng căn bản”
Tác giả: Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
3. Hà Minh Đức (2000), “Cơ sở lí luận báo chí- đặc tính chung và phong cách”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở lí luận báo chí- đặc tính chung và phong cách”
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
4. Nguyễn Văn Hà (9-2011), “Giáo trình cơ sở lý luận báo chí”, Nxb Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình cơ sở lý luận báo chí”
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
5. Hội văn nghệ dân gian Nghệ An (2000), “Âm nhạc dân ca xứ nghệ”, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Âm nhạc dân ca xứ nghệ”
Tác giả: Hội văn nghệ dân gian Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2000
6. Ninh Viết Giao (1993), “Hát phường vải”, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hát phường vải”
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1993
7. Thanh Lưu- Lê Hàm- Vi Phong (1994), “Âm nhạc dân gian xứ Nghệ”, Nxb Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Âm nhạc dân gian xứ Nghệ”
Tác giả: Thanh Lưu- Lê Hàm- Vi Phong
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 1994
8. Thanh Lưu (2000), “Xứ nghệ quê tôi”, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: “X"ứ nghệ quê tôi
Tác giả: Thanh Lưu
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2000
9. Pierre albert (2003), “Lịch sử Báo chí”, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử Báo chí”
Tác giả: Pierre albert
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2003
10. Phan Quang (22/2/2012), “Bài tham luận tại Hội thảo về Văn hóa truyền thông trong thời kỳ hội nhập” - Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bài tham luận tại Hội thảo về Văn hóa truyền thông trong thời kỳ hội nhập”
Nhà XB: Nxb Hà Nội
11. Dương Xuân Sơn, Đinh Hường, Trần Quang (2011), “Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông”, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông”
Tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Hường, Trần Quang
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2011
12. Tạ Ngọc Tấn (2000), “Cơ sở lý luận báo chí”, Nxb lý luận chính trị, Hà Nội Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở lý luận báo chí”
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn
Nhà XB: Nxb lý luận chính trị
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

(Biểu đồ thể hiện hình thức người dân tiếp cận dân ca ví giặm – Nguồn: khảo sát tháng 4/2015)  - Vai trò của truyền thông trong việc bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví giặm nghệ tĩnh
i ểu đồ thể hiện hình thức người dân tiếp cận dân ca ví giặm – Nguồn: khảo sát tháng 4/2015) (Trang 42)
BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ PHIẾU QUA KHẢO SÁT “VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LÀN ĐIỆU DÂN CA VÍ,  - Vai trò của truyền thông trong việc bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví giặm nghệ tĩnh
BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ PHIẾU QUA KHẢO SÁT “VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LÀN ĐIỆU DÂN CA VÍ, (Trang 91)
(Chương trình dạy hát dân ca ví,giặm trên sóng truyền hình NTV – Nguồn Internet)  - Vai trò của truyền thông trong việc bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca ví giặm nghệ tĩnh
h ương trình dạy hát dân ca ví,giặm trên sóng truyền hình NTV – Nguồn Internet) (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w